Nếu nội dung và phơng pháp dạy nghĩa từ đợc thiết kế và thực hiện bằng phơngpháp dạy học giao tiếp thì chất lợng dạy học từ ngữ ở Tiểu học sẽ đợc nâng cao, việc hiểunghĩa từ và kỹ năng s
Trang 1mục lục
Trang
Phần mở đầu 2
I Lí do chọn đề tài 2
II Lịch sử vấn đề 2
III Mục đích nghiên cứu 3
IV Đối tợng nghiên cứu 3
V Nhiệm vụ nghiên cứu 3
VI Giả thuyết khoa học 3
VII Phơng pháp nghiên cứu 4
Phần nội dung 6
Chơng I: Cơ sở lí luận 6
I Quan điểm giao tiếp trong dạy tiếng và 6
phơng pháp dạy học giao tiếp
1 Quan điểm giao tiếp trong dạy tiếng 9
2 Phơng pháp dạy học giao tiếp 18
II Vấn đề nghĩa từ và dạy nghĩa từ 18
1 Nghĩa của từ 21
2 Dạy nghĩa từ 24
III ý nghĩa của việc dạy nghĩa từ bằng 35
phơng pháp dạy học giao tiếp Chơng II: Sử dụng phơng pháp dạy học 36
giao tiếp vào việc dạy nghĩa từ ở Tiểu học
I Những vấn đề chung 41
II Xây dựng hệ thống bài tập về dạy nghĩa từ 41
1 Biện pháp dạy nghĩa từ bằng cách đặt học sinh 46
vào tình huống giao tiếp 2 Dạy nghĩa từ thông qua việc hớng dẫn học sinh sử dụng từ 52
3 Phối hợp phơng pháp dạy học giao tiếp với các hình thức 71
dạy học của phơng pháp dạy học tích cực Chơng III: Thực nghiệm và kết quả thực nghiệm 72
A Mục đích thực nghiệm 75
B Kết quả và phân tích kết quả thực nghiệm 83
Phần kết luận 85
Tài liệu tham khảo 86
Tài liệu trích dẫn 87
Phụ lục 88
Trang 2Lời cảm ơn
Đề tài “Sử dụng phơng pháp dạy học giao tiếp trong việc dạy nghĩa từ ở Tiểuhọc” đợc hoàn thành trong một thời gian ngắn , điều kiện gặp không ít khó khănnên khó tránh khỏi những sai sót Những kết quả mà chúng tôi đạt đợc là nhờ sựhớng dẫn , góp ý tận tình , chu đáo và khoa học của cô giáo Chu Thị Thủy Ancùng các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học - Trờng Đại Học Vinh Nhândịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
Tác giả
Trang 3đợc nghĩa của các từ: nhà, cửa, trời, mây, núi, sông, đi, đứng, chạy, đỏ, đen nhng giảinghĩa chúng thành lời nh định nghĩa trong từ điển thì quả thực không dễ Vấn đề đặt ra là:
Có cách nào để giúp các em hiểu đợc nghĩa từ và sử dụng đúng nghĩa của từ nào đó haykhông Bên cạnh đó giáo viên Tiểu học còn rất ngại dạy giờ Từ ngữ, giáo viên gặp khókhăn khi giải nghĩa từ, khi tìm các biện pháp giải nghĩa dễ hiểu và phù hợp
Chính những mâu thuẫn trên là lí do thôi thúc chúng tôi chọn đề tài “Sử dụng phơngpháp dạy học giao tiếp trong dạy nghĩa từ ở Tiểu học”
định nghĩa Tuy nhiên, dạy nghĩa từ bằng các biện pháp nh thế cũng chỉ là tơng đối Trênthực tế khi giải nghĩa từ ngời ta thờng dùng kết hợp nhiều biện pháp khác nhau: Vừa dùngtrực quan vừa dùng từ đồng nghĩa, vừa dùng ngữ cảnh vừa dùng biện pháp định nghĩa -Tác giả Phan Thiều [ 15 ] đã đề cập đến phơng pháp dạy nghĩa từ ở trờng học Nóichung: Ông cho rằng: Trong nội dung dạy nghĩa từ ở Tiểu học việc giải nghĩa từ cho họcsinh và hớng dẫn học sinh tập giải nghĩa từ là công việc then chốt trọng yếu Sau khi phântích cơ chế của việc học nghĩa từ để tiến tới hiểu đúng nghĩa từ và sử dụng từ đúng nghĩa
Ông nhận thấy rằng quá trình đi từ hiểu nghĩa từ đến việc giải nghĩa từ và sử dụng nghĩa từ
đúng hoàn cảnh giao tiếp có ý nghĩa quan trọng ở chổ: Nó cung cấp cho học sinh nhữngnghĩa mới của từ đã biết, những từ mới với những nghĩa mới để học sinh nói, viết đúngthực hiện thành công mục đích giao tiếp Và hơn nữa nhằm rèn luyện, biểu đạt sử dụngtrong ngôn ngữ cụ thể
-Tác giả Nguyễn Đức Tồn [ 16 ] cũng quan tâm đến vấn đề dạy nghĩa từ trong nhàtrờng, Ông đa ra hệ phơng pháp giải nghĩa từ dựa trên hệ phơng pháp thực nghiệm tâm lýngôn ngữ học
-Tác giả Đỗ Hữu Châu [ 5 ] lại cho rằng việc dạy nghĩa từ cho học sinh nói chung
và cho học sinh Tiểu học nói riêng là điều rất quan trọng và cần thiết Ông đ a các cáchgiảng nghĩa đó là: Giảng nghĩa theo cách định nghĩa khái quát; giảng nghĩa theo lối sosánh từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa; giảng nghĩa theo cách miêu tả
Trang 4-Tác giả Bùi Minh Toán [ 13 ] có đề nghị nên đa từ vào trong hoạt động giao tiếp đểgiảng nghĩa cho học sinh Nh vậy tác giả đã không đồng ý với nội dung kiến thức đa vàosách giáo khoa, có nhiều chổ cha hợp lí làm hạn chế khả năng giao tiếp của học sinh Chonên tác giả đã đề xuất đa từ vào trong giao tiếp để dạy ở trờng Tiểu học
Về phơng pháp dạy học giao tiếp còn rất ít công trình đề cập đến:
-Tác giả Lê Phơng Nga [ 6 ] cho rằng phơng pháp giao tiếp là phơng pháp dạy tiếngdựa vào lời nói, vào những thông báo sinh động Phơng pháp này gắn liền với phơng phápluyện tập theo mẫu Cơ sở của phơng pháp này là chức năng giao tiếp của ngôn ngữ
-Các tác giả Chu Thị Thuỷ An, Bùi Thị Thu Thuỷ [ 1 ] cho rằng: Phơng pháp dạyhọc giao tiếp là phơng pháp hớng dẫn học sinh vận dụng lí thuyết đợc học vào thực hiệncác nhiệm vụ giao tiếp cụ thể bằng tiếng Việt
Điểm qua các công trình nghiên cứu, các bài viết của các tác giả chúng ta thấy rằng Vấn đề dạy nghĩa từ đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, tuy nhiên những phơngpháp dạy từ lâu nay đợc đề xuất có nhiều điểm hạn chế: Đó là cha chuyển hoá đợc từ khảnăng hiểu, nhớ nghĩa từ sang khả năng sử dụng từ vì hầu nh học sinh chỉ mới nắm đợcnghĩa đen của từ
Thứ hai: Mặc dù khái niệm phơng pháp dạy học giao tiếp đã đợc đề cập đến trongcác giáo trình lí luận dạy học tiếng Việt từ mấy năm lại đây nhng ít có các công trìnhnghiên cứu cách ứng dụng phơng pháp này vào dạy ở một phân môn, một kiểu bài cụ thể ởTiểu học, khái niệm phơng pháp dạy học giao tiếp còn là một khái niệm mơ hồ, cha rõràng
Luận văn của chúng tôi hớng đến giải quyết những vấn đề còn bỏ ngỏ nêu trên
III mục đích nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi mong muốn thực hiện đợc các mục đích sau:
Thứ nhất: Làm rõ khái niệm phơng pháp dạy học giao tiếp trong dạy tiếng.
Thứ hai: Góp phần áp dụng phơng pháp giao tiếp vào dạy môn tiếng Việt nói chung và
dạy nghĩa từ nói riêng
Thứ ba: Giúp học sinh phát huy đợc khả năng sử dụng từ ngữ trong giao tiếp ở mọi tình
huống
IV đối tợng nghiên cứu
Để đạt đợc mục đích trên đối tợng nghiên cứu của đề tài là:
- Mục đích và phơng pháp dạy nghĩa từ theo hớng giao tiếp ở Tiểu học
V nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích và đối tợng nghiên cứu nh trên, chúng tôi đặt ra cho mình nhiệm vụ:
Trang 51 Làm rõ khái niệm phơng pháp dạy học giao tiếp, nghĩa của từ và các phơng pháp dạynghĩa từ.
2 Sử dụng phơng pháp dạy học giao tiếp vào dạy nghĩa từ cho học sinh Tiểu học
3 Thiết kế một số bài tập dạy nghĩa từ trong giao tiếp
VI giả thuyết khoa học
Nếu nội dung và phơng pháp dạy nghĩa từ đợc thiết kế và thực hiện bằng phơngpháp dạy học giao tiếp thì chất lợng dạy học từ ngữ ở Tiểu học sẽ đợc nâng cao, việc hiểunghĩa từ và kỹ năng sử dụng từ của học sinh Tiểu học sẽ chính xác, tinh tế hơn hiện nay
VII phơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, để hoàn thành đề tài này, chúng tôi đã sử dụng phốihợp các phơng pháp sau:
1 Phơng pháp nghiên cứu lý thuyết: Nhằm nghiên cứu về các khái niệm: phơng pháp
giao tiếp: nghĩa từ; các biện pháp dạy nghĩa từ
2 Phơng pháp quan sát: Nhằm nghiên cứu thực tiễn dạy nghĩa từ ở các Trờng Tiểu
học hiện nay
3 Phơng pháp thực nghiệm: Nhằm kiểm tra chất lợng dạy nghĩa từ theo phơng pháp
dạy học giao tiếp
4 Phơng pháp so sánh, đối chiếu: Nhằm phát hiện ra các đăc điểm chung của phơng
pháp dạy học giao tiếp và phơng pháp dạy học tích cực
1 Quan điểm giao tiếp trong dạy tiếng.
Quan điểm của triết học Mác-Lênin cho rằng “Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quantrọng nhất của loài ngời” Con ngời dùng ngôn ngữ để tổ chức toàn bộ cuộc sống của họtrong xã hội, thông qua ngôn ngữ con ngời xác lập và điều chỉnh những mối quan hệ tơngtác nhiều mặt làm nên sự hài hoà và sự chuyển biến của cộng đồng dân tộc Vì thế trongmấy năm gần đây ngôn ngữ luôn luôn đặt ra trong quan hệ với hoàn cảnh giao tiếp và ngời
Trang 6giao tiếp khi nghiên cứu Bên cạnh đó việc dạy ngôn ngữ trong nhà trờng cũng đợc nhìnnhận theo một quan điểm mới: Dạy tiếng là dạy một công cụ giao tiếp Mục tiêu chính củamôn học tiếng mẹ đẻ trong nhà trờng là rèn luyện cho học sinh các kĩ năng hoạt động lờinói: đọc, nghe, nói, viết, nhằm tạo ra cho học sinh khả năng đạt hiệu quả cao trong học tập
và giao tiếp ở nhà trờng, gia đình và ngoài xã hội Quan điểm này không chỉ đợc đề caotrong nớc mà cả trên thế giới
Ví dụ nh chơng trình dạy học của Malaysia đã xem tiếng Malaysia có vai trò quantrọng trong việc lĩnh hội kiến thức, giao tiếp và thống nhất đất nớc “Sự thành thạo ngônngữ đợc coi trọng ở Tiểu học Khi học xong Tiểu học, học sinh biết sử dụng ngôn ngữ phùhợp với trình độ phát triển của mình”
Chơng trình giáo dục của Thái Lan lại quy định tiếng Thái là quốc ngữ, việc dạy tiếngThái phải nhằm trau dồi cho học sinh kỹ năng nghe, đọc, nói, viết và khả năng dùng ngônngữ để thông báo ý định và bày tỏ tình cảm một cách có hiệu quả cao, có ấn t ợng sâu sắc,
có tổ chức, chủ động, sáng tạo, phơng tiện để giao tiếp Mặt khác nó là đối tợng để họcsinh chiếm lĩnh quá trình học tập và rèn luyện, điều này có nghĩa là: tiếng Pháp mang đếncho học sinh Pháp chìa khoá mở mang cánh cửa bớc vào lâu đài tri thức văn hoá của nhânloại Nó còn là điều kiện, phơng tiện phát triển mọi năng lực cá nhân và sự tự do giao lutrong cộng đồng
Còn ở Việt Nam, quan điểm này cũng đã đợc các nhà ngôn ngữ học và các nhà giáodục quan tâm, đánh giá cao và đang đi vào nghiên cứu
Vậy quan điểm giao tiếp trong dạy tiếng có nội dung nh thế nào? Đó là phải đặc biệtchú trọng nhiệm vụ hình thành và phát triển bốn kỹ năng sử dụng tiếng Việt là đọc, nghe,nói, viết trong học tập và giao tiếp của học sinh Mà mục đích cuối cùng của giáo dục là
đào tạo những con ngời có năng lực thực tiễn Năng lực thực tiễn bao gồm năng lực t duy
và năng lực hoạt động Năng lực t duy chỉ đờng dẫn lối cho hoạt động, còn năng lực hoạt
động là biểu hiện của năng lực tiếp thu lĩnh hội văn bản thể hiện ở kỹ năng nghe, đọc, vànăng lực sản sinh văn bản thể hiện ở các kỹ năng nói, viết
Dạy tiếng Việt phải qua hoạt động giao tiếp vì nói, nghe, đoc, viết là bốn kỹ năng giaotiếp chỉ đợc hình thành và phát triển qua giao tiếp mà không thể qua con đờng nàokhác.Tuy nhiên việc rèn luyện kỹ năng nhất là rèn luyện theo con đờng nhà trờng thì phảilấy kiến thức làm nền tảng Do đó ngoài việc rèn luyện các kỹ năng đọc, nghe, nói, viếtchúng ta còn phải truyền thụ cho học sinh các kiến thức về cấu trúc bên trong của ngônngữ Đó là cấu trúc từ, cấu trúc câu
Điều đó có nghĩa là ngoài việc cung cấp cho học sinh những kỹ năng nh đọc, nghe,nói, viết chúng ta cần cung cấp cho học sinh cả những tri thức, hai yếu tố này có mối quan
hệ khăng khít, tác động qua lại lẫn nhau
Nắm vững các tri thức sẽ nhanh chóng giúp học sinh hình thành nhanh hơn các kỹnăng Ngợc lại thông qua các kỹ năng đọc, nghe, nói, viết, con ngời giao tiếp với nhau vàchiếm lĩnh đợc những tri thứcngày càng phong phú hơn nhờ đó mà phát triển đợc năng lựcgiao tiếp ở các em
Trang 7Nh vậy, phát triển bốn kỹ năng lời nói làm cơ sở để phát triển t duy cho học sinh vàgiúp học sinh sử dụng tốt tiếng Việt trong giao tiếp là làm cho việc dạy tiếng Việt hoànhập chung với xu hớng của việc dạy tiếng trên thế giới, là hớng vào việc chuẩn bị chocon ngời Việt Nam của thế kỷ XXI, thích ứng với đời sống xã hội ngày càng hiện đại Để đảm bảo quan điểm giao tiếp trong dạy tiếng nêu trên trong quá trình dạy học tiếngViệt ở Tiểu học chị sự chỉ đạo của Nguyên tắc hớng vào hoạt động giao tiếp.
Nguyên tắc hớng vào hoạt động giao tiếp là nguyên tắc chung cho việc dạy tiếng.Ngôn ngữ là một hệ thống hoạt động chức năng phục vụ cho t duy và hoạt động giao tiếp.Tất cả mọi đơn vị và quan hệ giữa các đơn vị trong hệ thống tiếng Việt đều nhằm hớngvào mục đích là hoàn thành chức năng, là công cụ để giao tiếp xã hội tiếng Việt chỉ cósức sống khi nó đợc đặt vào giao tiếp với t cách là một công cụ Tách khỏi hoạt động chứcnăng nó sẽ trở thành hệ thống khô cứng, một hệ thống chết Mọi từ ngữ, mọi câu chỉ bộc
lộ hết giá trị khi chúng tham gia vào hoạt động giao tiếp
Nói cách khác, ngôn ngữ phải đợc vận dụng để tạo ra các dạng lời nói khác nhau, mọiquy luật cấu trúc và hoạt động của nó chỉ đợc rút ra trên cơ sở nghiên cứu lời nói sinh
động, cụ thể: Âm phải kết hợp với nhau để tạo thành tiếng, tiếng kết hợp với nhau để tạothành từ, từ phải kết hợp với nhau để tạo thành câu, các câu kết hợp với nhau để tạo thành
đoạn và những đơn vị lớn hơn nhằm không ngừng thoả mãn nhu cầu giao tiếp của xã hội
Điều đó có nghĩa là giao tiếp không chỉ là mục đích mà còn là phơng tiện để dạy học tiếngViệt Chỉ có bằng hoạt động giao tiếp học sinh mới thực sự hiểu tiếng Việt, mới hìnhthành đợc các thói quen và kỹ năng sử dụng tiếng Việt Muốn hình thành các kỹ năng và
kỹ xảo ngôn ngữ, học sinh phải trực tiếp tham gia vào hoạt động giao tiếp bằng cách vậndụng nhiều kiến thức đã học vào để hiểu lời nói của ngời khác, để phô diễn t tởng và tìnhcảm của mình Nh vậy, việc lĩnh hội lời nói sản sinh ra lời nói vừa là phơng tiện vừa làmục đích của bộ môn tiếng Việt ở nhà trờng phổ thông
Nguyên tắc dạy tiếng Việt hớng vào hoạt động giao tiếp đòi hỏi cần phải lu ý một số
Hoặc: Nói đến câu nhiều ngời nghĩ ngay đến tính độc lập, tính hoàn chỉnh của đơn vịnày Tuy vậy, tính hoàn chỉnh và độc lập của nó cũng chỉ là tơng đối, nếu xét câu với tcách là một thành tố cấu tạo nên đơn vị lớn hơn; đoan văn
-Phơng hớng tốt nhất để dạy các đơn vị ngôn ngữ trong hệ thống hành chức là phải tìmmọi cách hớng học sinh vào hoạt động nói năng Muốn thực hiện đợc điều này cần phảitạo đợc tình huống giao tiếp khác nhau để kích thích động cơ giao tiếp cho các em họcsinh Các hình thức hoạt động ngoại khoá, vui chơi, hoạt động học tập các bộ môn khácchính là điều kiện thuận lợi để tạo ra nhiều tình huống giao tiếp khac nhau
-Nguyên tắc dạy tiếng Việt hớng vào hoạt động giao tiếp sẽ chi phối trực tiếp việcchọn và sắp xếp nội dung cần dạy Kiến thức về tiếng Việt chỉ có ý nghĩa khi chúng gópphần hình thành các kỹ năng giao tiếp (đọc, nghe, nói, viết) cho các em học sinh
Trang 8Nh vậy để đáp ứng đợc mục tiêu "dạy tiếng là dạy một công cụ giao tiếp” nh đã đề cập
ở trên thì chúng ta phải đặc biệt chú trọng đến việc dạy nghĩa từ ở tiểu học, bởi từ là đơn vịnhỏ nhất cơ bản nhất để cấu tạo nên câu và câu dùng để giao tiếp
2 Phơng pháp dạy học giao tiếp.
a Sống trong xã hội, con ngời luôn luôn cần giao tiếp với nhau Đó là một nhu cầu tấtyếu Không ai có thể sống cô độc, lẻ loi một mình mà không cần sự giao tiếp với ngờikhác
Giao tiếp chính là sự tiếp xúc, giao lu giữa ngời và ngời trong xã hội, qua đó con ngờibộc lộ và truyền đạt cho nhau những nhận thức, t tởng và cả những tình cảm, thái độ đốivới nhau và đối với điều đợc truyền đạt
Con ngời có thể dùng nhiều phơng tiện để giao tiếp có phơng tiện thô sơ, đơn giản nh
cử chỉ, điệu bộ, nét mặt; có phơng tiện kỹ thuật tinh vi, hiện đại: nh dùng các tín hiệu vôtuyến viễn thông Trong đó, ngôn ngữ là phơng tiện giao tiếp quan trọng nhất Với t cách
là phơng tiện giao tiếp, ngôn ngữ có thể tồn tại dới hai dạng: nói và viết
Giao tiếp nói chung và giao tiếp ngôn ngữ nói riêng luôn luôn là một hoạt động có tínhxã hội Không thể có sự giao tiếp nếu chỉ có một cá nhân Nó giả định ít nhất có sự thamgia của hai nhân vật giao tiếp: ngời nói- ngời nghe (hay ngời viết-ngời đọc)
Trong hoạt đông giao tiếp ngôn ngữ, các nhân vật giao tiếp dùng phơng tiện ngôn ngữ,tạo nên các ngôn bản (văn bản) để phục vụ cho sự giao tiếp Với hoạt động giao tiếp, cácngôn bản này, vừa là phơng tiện giao tiếp (để biểu hiện và truyền đạt nội dung) vừa là sảnphẩm của hoạt động giao tiếp Ngời nói (hay ngời viết) tạo ra các ngôn bản đó, còn ngờinghe (hay ngời đọc) tiếp nhận và lĩnh hội chúng Đây chính là hai mặt của quá trình hoạt
động giao tiếp
Nh vậy giao tiếp ngôn ngữ là một lẽ sống còn của xã hội
b Từ chức năng của ngôn ngữ là phơng tiện giao tiếp quan trọng nhất và mục đích củalời nói là thực hiện việc giao tiếp, phơng pháp giao tiếp trở thành phơng pháp quan trọngtrong quá trình dạy học tiếng Việt:
-Phơng pháp giao tiếp là phơng pháp dạy tiếng dựa vào lời nói, vào những thông báosinh động, vào giao tiếp bằng ngôn ngữ, là phơng pháp hớng dẫn học sinh vận dụng lýthuyết đợc học vào thực hiện các nhiệm vụ giao tiếp cụ thể bằng tiếng Việt
-Phơng pháp dạy học giao tiếp có tác dụng khắc sâu tri thức và rèn luyện kỹ năng Đây
là phơng pháp chủ yếu để phát triển lời nói cho từng cá nhân học sinh Nếu ngôn ngữ đợccoi là phơng tiện giao tiếp thì lời nói đợc coi là bản thân sự giao tiếp bằng ngôn ngữ Dạytiếng Việt bằng phơng pháp giao tiếp tức là dạy phát triển lời nói cho từng cá nhân họcsinh Con đờng tốt nhất để rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ cho học sinh tiểu học làdạy trong giao tiếp
Phơng pháp giao tiếp coi trọng sự phát triển lời nói còn những kiến thức lý thuyết thì
đợc nghiên cứu trên cơ sở phân tích các hiện tợng đa ra trong bài khoá
Với phơng pháp dạy học giao tiếp học sinh không chỉ đợc học ở các tài liệu học tậpcủa nhà trờng mà học trong khi giao tiếp ở nhà, ở trờng, để thoả mãn nhu cầu về hiểu biết,
về học tập, về lao động của các em
Trang 9Việc đa ra những ngữ cảnh giả định và đa ra định hớng về đích về trình bày cảm xúc, ýkiến riêng của các em về ngời đọc, ngời nghe khi tổ chức cho các em thực hành ở lớp làthực sự cần thiết.
Nh vậy: Phơng pháp dạy học giao tiếp là phơng pháp dạy học chú trọng đến việc hớngdẫn học sinh thực hiện hoạt động giao tiếp bằng Tiếng Việt Chính vì thế phơng pháp dạyhọc giao tiếp có những điểm khác biệt so với phơng pháp dạy học truyền thống
c Nh trên đã phân tích để thực hiện hoạt động giao tiếp ít nhất có sự tham gia của hainhân vật giao tiếp: ngời nói - ngời nghe Trong phơng pháp dạy học giao tiếp mối quan hệgiữa ngời dạy và ngời học là mối quan hệ giữa hai nhân vật giao tiếp Trong phơng phápdạy học giao tiếp mối quan hệ giữa ngời dạy và ngời học là mối quan hệ bình đẳng, tơngtác lẫn nhau Ngời học và ngời dạy đều là những nhân tố giao tiếp chính là những nhân tốtạo nên hoạt động giao tiếp nhất định Không có những nhân tố này, hoạt động giao tiếpkhông thể tiến hành đợc Đây là nhân tố đóng vai trò chủ động, tích cực trong hoạt độnggiao tiếp ở hoạt động giao tiếp hội thoại, ngời học và ngời dạy cùng có mặt và luôn phiênnhau đóng vai ngời nói, rồi ngời nghe: mỗi ngời lúc đóng vai ngời nói, lúc đóng vai ngờinghe Đồng thời giữa ngời học với ngời học cũng diễn ra quá trình trên
Nh vậy với phơng pháp dạy học giao tiếp mối quan hệ giữa ngời học và ngời dạy làmối quan hệ qua lại, bình đẳng, luôn luôn chi phối , chế định các yếu tố ngôn ngữ tronghoạt động, đồng thời chúng để lại dấu ấn trong sản phẩm giao tiếp - ngôn bản
Từ đặc điểm riêng trên nảy sinh những đặc điểm khác của phơng pháp dạy học giaotiếp:
-Nội dung dạy học xuất phát từ bốn kỹ năng hoạt động giao tiếp Xuất phát điểm đểlựa chọn các kiến thức ngôn ngữ cần cung cấp cho học sinh là hệ thống bốn kỹ năng: đọc,nghe, nói, viết Các ngữ liệu của phơng pháp giao tiếp phải đa ra những đề tài tự nhiên, xãhội xung quanh các em, các vấn đề bức xúc của thời đại mà các em rất cần biết (dân số,môi trờng, hoà bình và hợp tác, ma tuý ) để học sinh đọc thông viết thạo, nghe tốt nóihay đồng thời tích luỹ đợc các tri thức cần thiết cho cuộc sống, không bỡ ngỡ khi đi vàocuộc sống
-Đối với phơng pháp dạy học giao tiếp thì điều quan trọng là tìm mọi cách hớng họcsinh vào hoạt động nói năng Điều này có nghĩa là trong quá trình dạy học, giáo viên phảitạo ra đợc các tình huống giao tiếp khác nhau để kích thích động cơ giao tiếp cho các emhọc sinh Để trong quá trình giải quyết các tình huống giao tiếp học sinh tìm kiếm, pháthiện và chiếm lĩnh tri thức mới, chứ không phải là giáo viên truyền đạt cho học sinh những
định luật, quy tắc bằng phơng pháp giảng giải và học sinh tiếp thu một cách máy móc, thụ
động Nh thế sẽ làm cản trở khả năng giao tiếp, khả năng suy nghĩ, sáng tạo của học sinhtrong quá trình giải quyết các tình huống giao tiếp Với phơng pháp dạy học mới hay còngọi là phơng pháp dạy học giao tiếp thì lại coi trọng khả năng giao tiếp, sự sáng tạo củahọc sinh, kích thích động cơ giao tiếp của học sinh Chính vì thế mà nhiều khi cùng mộtvấn đề nhng lại có nhiều ý kiến khac nhau do nhìn từ nhiều khía cạnh khác nhau của mỗicá nhân học sinh
-Phơng pháp dạy học giao tiếp tạo ra những giờ học không chỉ có giao tiếp một chiều:thầy phát trò nhận thầy yêu cầu-trò làm theo mà còn có giao tiếp nhiều chiều: thầy-trò,trò-thầy, trò-trò Nó sẽ tạo ra những giờ học có sự hợp tác tốt giữa thầy và trò và giữanhững ngời học với nhau khiến cho việc học tập trong trờng gần với việc lao động ở cộng
đồng, tạo cho ngời học nhiều cơ hội để vận dụng những điều đã học vào cuộc sống
-Hình thức lên lớp của phơng pháp dạy học giao tiếp có những đặc điểm riêng Thầygiáo là ngời tạo ra các tình huống, môi trờng giao tiếp đồng thời là ngời trực tiếp cùng vớingời học tham gia giải quyết các tình huống giao tiếp để tìm ra tri thức mới Từ đó sẽ thay
Trang 10đổi cách tổ chức lớp học theo hớng cho phép học sinh tự do hơn Học sinh có quyền trao
đổi, nói năng giao tiếp với nhau, học sinh có thể di chuyển chỗ ngồi Mặt khác, giáo viênkhuyến khích học sinh mạnh dạn tự tin trình bày t tởng, tình cảm của mình, giáo viên
động viên những học sinh nhút nhát trong giao tiếp đợc nói năng nhiều hơn
Nh vậy phơng pháp dạy học giao tiếp có nhiều u điểm vợt trội so với các phơng phápdạy học truyền thống Cụ thể:
Phơng pháp dạy học giao tiếp về cơ bản và chủ yếu là phơng pháp nhằm làm cho ngờihọc hình thành và dần dần thành thạo các thao tác, các hành động giao tiếp
Phơng pháp dạy học giao tiếp làm cho ngời học đợc thực hành giao tiếp, tức là đợcthực hành: đọc, viết, nghe, nói
Để có thể thực hiện phơng pháp dạy học giao tiếp cần phải lựa chọn những hình thức
tổ chức dạy học theo kiểu tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh Hoạt động để nhậnbiết các quy tắc kết hợp, quy tắc sử dung Tiếng Việt; hoạt động để lĩnh hội và tạo lập đ ợclời nói đáp ứng đợc nhu cầu giao tiếp của bản thân học sinh và đáp ứng yêu cầu về giaotiếp mà xã hội đặt ra với ngời lao động mới
Những thao tác cơ bản của phơng pháp dạy học giao tiếp:
Để tiến hành dạy học tiếng Việt bằng phơng pháp dạy học giao tiếp, tuỳ theo từngphân môn cụ thể, cần có những thao tác phù hợp Tuy vậycần nắm đợc các thao tác cơ bảnsau:
-Thao tác thứ nhất : Tạo các tình huống kích thích nhu cầu giao tiếp ở học sinh.
Hoạt động nói năng bao giờ cũng bắt nguồn từ một nhu cầu giao tiếp nhất định Đểhọc sinh không cảm thấy việc nói và viết là công việc bắt buộc thi việc tạo ra nhu cầu giaotiếp cho các em là hết sức cần thiết Khi các em có nhu cầu biểu đạt, các em sẽ mạnh dạn
và hứng thú hơn trình bày một cách chân thật những suy nghĩ riêng của mình về đề tài
đang đợc bàn đến, tránh đợc tình trạng nói (viết) lại hoặc mợn lời ngời khác để làm lời củamình
Để tạo ra đợc những nhu cầu giao tiếp cho học sinh, giáo viên phải tạo ra đợc nhữngtình huống giao tiếp giả định Các tình huống này cần phải là tình huống vừa chân thật,không gợng ẹp khô cứng lại vừa có sức lôi cuốn hấp dẫn kích thích đợc nhu cầu nói (viết)của các em Khi đợc hòa mình vào hoàn cảnh, đã nhập đợc vai giao tiếp thì lúc đó các em
sẽ muốn thể hiện hết mình, muốn thực sự đợc nói (viết) Tình huống kích thích nhu cầugiao tiếp ở học sinh đợc tạo ra từ ba yếu tố cơ bản sau: Mục đích của kiến thức hoặc kỹnăng cần trang bị, dự báo khả năng nắm đợc kiến thức hoặc kỹ năng đó của học sinh Để
đa ra đợc tình huống kích thích nhu cầu giao tiếp, giáo viên cần phải cho học sinh biết:Trong bài học này các em có điều gì cha biết, các em có khả năng khám phá điều cha biết
đó và đa nó vào vốn tri thức và kinh nghiệm của bản thân
Giáo viên phải giúp học sinh tìm ra đợc các việc làm cụ thể, thứ tự của các việc làm đó
để giải quyết đợc vấn đề đã đặt ra và hoàn thành nhiệm vụ của bài học
-Thao tác thứ hai: Học sinh phải định hớng giao tiếp: nói với ai, nói về những cái gì,
nói và viết trong hoàn cảnh nào?
+ Nói với ai: Đây chính là một trong những nhân tố giao tiếp, cụ thể đây chính là nhân
vật giao tiếp Đây là nhân tố đóng vai trò chủ động, tích cực trong hoạt động giao tiếp Cácnhân vật giao tiếp với tất cả những đặc điểm về cá tính, về nghề nghiệp, về vốn sống, vềtrình độ văn hóa, về các đặc điểm do hoàn cảnh sống tạo nên luôn luôn chi phối ngôn
Trang 11ngữ trong hoạt động giao tiếp và để lại dấu ấn cá nhân trong các sản phẩm ngôn ngữ đó.Hơn nữa, trong mỗi hoạt động giao tiếp, mỗi cá nhân còn xuất hiện trong một vai trò nhất
đinh, khác biệt với vai trò mà họ đóng góp trong hoàn cảnh giao tiếp khác Mỗi vai trò nhthế đợc xác định theo vị thế, theo quan hệ tơng ứng với nhân vật cùng tham gia hoạt độnggiao tiếp
+ Hoạt động giao tiếp nh mọi hoạt động khác của con ngời bao giờ cũng diễn ra trongmột hoàn cảnh nhất định
Hoàn cảnh giao tiếp chính là môi trờng diễn ra hoạt động giao tiếp Nó là hoàn cảnhkhông gian, thời gian diễn ra hoạt động giao tiếp Nhng nó còn là hoàn cảnh rộng-là hoàncảnh xã hội lịch sử, là hoàn cảnh văn hóa mà các nhân vật giao tiếp tồn tại và thực hiệnhoạt động giao tiếp Chúng ta đã biết, muốn tạo nhu cầu giao tiếp cần tạo ra các hoàn cảnhgiao tiếp tốt, hoàn cảnh giao tiếp đặc biệt ảnh hởng tới các giờ học tiếng Việt Hoàn cảnh
ở đây đợc hiểu là lớp học trong thời điểm luyện nói, đặc biệt là các tình huống giao tiếp cụthể:
Trớc tiên là các tình huống giao tiếp Để học sinh có động cơ, nhu cầu với việc xác
định nội dung nói, chúng phải tạo ra đợc các tình huống giao tiếp gần gũi, hợp với sở thíchcủa học sinh Ví dụ nh các tình huống chào hỏi, tự giới thiệu, cảm ơn, xin lỗi, gọi điệnthoại cho bạn
Hoàn cảnh ở đây còn có thể là điều kiện lớp học trong thời điểm luyện nói nh trên đãnhắc đến Điều kiện này bao gồm: Không khí lớp học, nét mặt, cử chỉ của giáo viên, cáchoạt động nghe của học sinh, trật tự lớp học và những hoạt động khác có ảnh hởng trựctiếp hay gián tiếp đến việc nói năng của học sinh
Học sinh không thể hoặc sẽ không muốn nói trong điều kiện cả lớp ồn ào hoặc có thái
độ thiếu tôn trọng ngời nói Bởi vậy khi giao tiếp, giáo viên cần chú ý tới hoạt động chung
về mọi mặt của lớp
Một lời động viên kịp thời của giao viên, một ánh mắt trìu mến khuyến khích của côgiáo, sự chú ý lắng nghe nghiêm túc của cả lớp là niềm động viên khích lệ lớn đối với ngờinói Giáo viên cần chú ý không nên ngắt lời các em một cách tùy tiện Sự đứt mạch trongsuy nghĩ sẽ làm các em lúng túng và nhiều khi không muốn và không thể tiếp tục nói lạigiao tiếp đợc nữa Do đó, giáo viên cần phải bình tĩnh, tôn trọng học sinh, chỉ nên uốn nắnrút kinh nghiệm trong những trờng hợp tối cần thiết, hoặc sau khi các em đã kết thúc lờinói của mình
+ Nội dung giao tiếp chính là điều đợc đề cập đến trong giao tiếp Nó bao gồm mộtphạm vi khái quát, bao trùm (đề tài) và những nội dung cụ thể Nội dung giao tiếp có thể
là hiện thực của thế giới khách quan ngoài ngôn ngữ (những sự vật, hiện tợng, đặc điểm,tính chất ), có thể là những sản phẩm tinh thần của t duy con ngời, có thể là cả nhữngtình cảm, cảm xúc và thái độ của con ngời đối với điều đợc nói đến hoặc đối với ngờitham gia hoạt động giao tiếp, hay đối với chính hoạt động giao tiếp Nếu nh nhân tố nhânvật giao tiếp trả lời cho câu hỏi “ai nói ? ai viết ? và nói với ai ? viết cho ai ? ”, nhân tốhoàn cảnh giao tiếp trả lời cho câu hỏi: “ nói (viết) trong hoàn cảnh nào ? ” thì nhân tố nộidung giao tiếp trả lời cho câu hỏi: nói (viết) cái gì ? hoặc nói (viết) về cái gì ?
+ Hoạt động giao tiếp luôn luôn nhằm vào một mục đích nhất định Đó là mục đíchgiao tiếp hay đích giao tiếp
Trong phơng pháp dạy học giao tiếp để học sinh có đợc những định hớng giao tiếpgiáo viên cần hớng dẫn cho học sinh biết đợc mục đích giao tiếp Mục đích giao tiếp lànhân tố trả lời cho câu hỏi: nói (viết) để làm gì ? hoặc nói (viết) nhằm mục đích gì ?
Trang 12Mục đích của các hoạt động giao tiếp có thể khác nhau trong từng hoàn cảnh khácnhau Nhng có thể khái quát thành những mục đích chính nh sau:
-Giao tiếp nhằm mục đích thể hiện những hiểu biết, những nhận thức của ngời nói(viết) và truyền đạt nó đến ngời nghe (đọc) Đồng thời các nhân vật giao tiếp có thể trao
đổi thông tin để nâng cao hiểu biết về đối tợng đợc đề cập đến Có thể gọi đó là mục đíchthông tin hay mục đích nhận thức
-Giao tiếp cũng nhằm mục đích bộc lộ những tình cảm, thái độ của con ngời, xác lậphay củng cố những mối quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp Qua đó các nhân vật giao tiếp
có thể biến đổi về tình cảm, quan hệ đối với nhau hay đối với điều đợc nói đến, đồng thờikhơi gợi ở ngời nghe (đọc) những tình cảm, cảm xúc nào đó Có thể gọi đó là mục đíchbộc lộ và khơi gợi tình cảm-cảm xúc
-Giao tiếp nhằm mục đích tác động: Tác động đến ngời nghe (hay ngời đọc) làm chongời đó thực hiện những hoạt động cần thiết Có thể gọi đó là mục đích hoạt động hay tác
động
Mỗi hoạt động giao tiếp chỉ nhằm một mục đích nhất định, cũng có thể nhằm nhiềumục đích khác nhau
-Thao tác thứ ba: Học sinh căn cứ vào nhiệm vụ giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp mà vận
dụng các phơng tiện ngôn ngữ để tạo ra lời nói cụ thể
Đây là thao tác cơ bản, trọng tâm của phơng pháp dạy học giao tiếp Nếu học sinh
không biết căn cứ vào nhiệm vụ giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp để vận dụng phơng tiệnngôn ngữ tạo ra lời nói cụ thể thì xem nh phơng pháp dạy học giao tiếp không thực hiện đ-
ợc Bởi vậy sau khi đã đợc định hớng giao tiếp học sinh phải biết vận dụng các phơng tiệnngôn ngữ để tạo lời nói cụ thể thực hiện thành công một hoạt động giao tiếp mà buổi học
đặt ra
-Thao tác thứ t: Đánh giá, nhận xét, rút kinh nghiệm Đây chính là thao tác giáo viên
đa ra ý kiến của mình cùng với ý kiến góp ý của học sinh để đi đến một ý kiến đúng,thống nhất Đồng thời chỉ ra những sai sót trong lời nói của học sinh để sửa chữa và rútkinh nghiệm Qua thao tác này tri thức mới, kiến thức buổi học cần cung cấp cho học sinh
đợc khẳng định một cách chắc chắn
Nh vậy để thực hiện phơng pháp dạy học giao tiếp cần tạo cho học sinh nhu cầu giao
tiếp, nội dung giao tiếp, môi trờng giao tiếp, các phơng tiện ngôn ngữ và các thao tác giaotiếp
* Hiện nay trong lý luận dạy học hiện đại đang đề cao phơng pháp dạy học theo
ph-ơng pháp tích cực với các hình thức: Thảo luận nhóm; trò chơi học tập; phiếu giao việc, đồdùng dạy học Việc sử dụng phơng pháp giao tiếp trong dạy học tiếng Việt sẽ đạt hiệu quảcao nếu nh ta kết hợp sử dụng một số hình thức tổ chức dạy học, phát huy tính tích cực, tựgiác học tập của học sinh nh: Trò chơi học tập; phiếu giao việc; thảo luận nhóm; đồ dùngdạy học Bởi vì các hình thức này có khả năng phát huy tính tích cực tự giác hợp tác vàkhả năng giao tiếp cho học sinh Cụ thể:
* Trò chơi học tập:
Trò chơi học tập là một hình thức dạy học mới, nó bao gồm các hoạt động kết hợp giữahọc tập và vui chơi, tạo ra những tình huống học tập lý thú, hấp dẫn, lôi cuốn học sinhtham gia tích cực vào tiết học
Trang 13Cùng với những hình thức học tập khác, trò chơi tạo cơ hội để học sinh học bằng tựhoạt động, tự củng cố kiến thức và hoàn thiện kỹ năng
Sở dĩ phơng pháp dạy bằng trò chơi học tập là phơng pháp dạy học phát huy đợc tínhtích cực ở học sinh bởi thông qua trò chơi nó sẽ lôi cuốn các em say mê, là niềm tự dosung sớng các em tham gia vào hoạt động chơi một cách nhanh nhẹn sáng tạo
Chính vì thế trong quá trình dạy học nếu tổ chức tốt các trò chơi học tập sẽ giúp các
em nhanh chóng nắm đợc tri thức và nhớ lâu hơn vì chính các em tham gia hoạt động chơi
để chiếm lĩnh tri thức
* Thảo luận nhóm: Là một trong những hình thức dạy học phát huy tính tích cực
trong hoạt động học tập của học sinh Là hình thức dạy học đợc sử dụng xen kẽ trong cáctiết học, nó có tác dụng thay đổi vị thế của học sinh trong lớp học từ vị thế thụ động, tiếpnhận thông tin một chiều (kiến thức từ miệng giáo viên truyền đến tai học sinh và học sinhchỉ biết nghe và ghi nhớ một cách máy móc) trở thành vị thế chủ động, tích cực tiếp nhậnthông tin đa chiều
* Phiếu giao việc: Là một hệ thống những công việc mà học sinh phải tiến hành để có
thể tự mình chiếm lĩnh đợc kiến thức mới, tự mình hình thành những kỹ năng mới
Đây là một loại công cụ dạy học đợc giáo viên soạn thảo nhằm tạo điều kiện cho họcsinh hoạt động, làm việc một cách cụ thể, linh hoạt và hứng thú trên một trang giấy vớinhững vấn đề mà giáo viên đặt ra Phiếu bài tập tiếng Việt đợc sử dụng xen kẽ trong cáctiết học để rèn kỹ năng, để ôn tập và kiểm tra đánh giá những kiến thức đã học đối với họcsinh Chính vì vậy mà phiếu bài tập là một công cụ dạy học thuận tiện và góp phần đắc lựccho việc phát huy tính tích cực của học sinh
Phiếu giao việc chính là một phơng tiện để tổ chức các hình thức dạy học khác nh:
hoạt động thảo luận nhóm, trò chơi
II vấn đề nghĩa từ và dạy nghĩa từ
Ví dụ:Tâm sự là thổ lộ tâm t thầm kìn của mình với ngời khác
Nh vậy theo định nghĩa trên ta thấy có khá nhiều nhân tố liên quan tới việc hình thànhnghĩa của từ nh: Hình thức ngữ âm của từ, sự vật hiện tợng đợc gọi tên, khái niệm đợc từbiểu thị; những yếu tố thuộc hệ thống ngôn ngữ chi phối, liên quan đến nghĩa của từ; tìnhcảm, thái độ, ý thức, t tởng, cách cảm nghĩ của ngời sử dụng ngôn ngữ; văn cảnh mà từxuất hiện Trong các nhân tố nói trên, những nhân tố đợc coi là quan trọng nhất liên quantới việc hình thành nghĩa từ vựng của từ là sự vật, hiện tợng đợc gọi tên; khái niệm đợc từbiểu thị và những yếu tố thuộc hệ thống ngôn ngữ
Từ nào cũng có nghĩa Nếu chỉ có hình thức âm thanh mà không có nghĩa thì đó khôngphải là từ Nghĩa và hình thức âm thanh là hai mặt không thể thiếu của từ Đồng thời haimặt đó gắn bó với nhau nh hai mặt của một tờ giấy; tờ giấy không chỉ có một mặt, cũngkhông thể bóc mặt này khỏi mặt kia, hoặc cắt mặt này mà không cắt mặt kia
Trang 14Nghĩa của từ không phải là một khối không phân hoá, phân lập mà nó là một hợp thể,phức thể gồm một số thành phần Hiện nay ngữ nghĩa học hiện đại chia nhỏ nghĩa từ thànhcác thành phần sau:
Thành phần nghĩa biểu vật: (hay còn gọi là nghĩa biểu hiện sự vật) Đó là nghĩa ứng
với các đối tợng trong thực tế mà từ biểu hiện Chẳng hạn:
Từ “đầu” của Tiếng Việt trớc hết có nghĩa biểu vật: Chỉ bộ phận của cơ thể ngời hoặc
động vật (bộ phận trên cùng hay trớc hết của cơ thể, thờng chứa bộ não có chức năng điềukhiển cơ thể)
Từ “đầu” còn có các nghĩa biểu vật khác: chỉ bộ phận trớc hết có chức năng điều khiểncủa vật (đầu máy, đầu tàu hoả ), chỉ bộ phận ở vị trí trớc hết của vật thể (đầu nhà, đầubàn, đầu ngón tay ), chỉ vị trí trớc hết trong không gian (đầu làng, đầu sông, đầu chợ )hoặc trong thời gian (đầu tháng, đầu mùa, đầu năm ) Từ đó thấy rằng một từ có thể cónhiều nghĩa biểu vật
Nghĩa biểu vật phản ánh biểu tợng chung của sự vật Nó phản ánh ngoại diên của kháiniệm, tức biểu thị một chủng loại sự vật
Ví dụ: Nghĩa biểu vật của từ “cá” là biểu tợng chung của chúng ta về loài động vật
này, dù là cá chép, cá mè, cá trê, cá chuối hay cá đuối, cá thu đều là cá cả
Thành phần nghĩa biểu niệm: Đó là thành phần nghĩa có quan hệ tới các khái niệm
trong nhận thức của con ngời Con ngời nhận thức về sự vật và phân xuất ra các thuộc tínhcủa nó Các thuộc tính đó tập hợp lại thành các khái niệm, mỗi khái niệm bao gồm một sốthuộc tính Khi khái niệm đợc biểu hiện bằng từ thì các thuộc tính đó trở thành các nétnghĩa của từ
Vì thế nghĩa biểu niệm của từ là một cấu trúc bao gồm nhiều nét nghĩa, mỗi nét nghĩa
nh thế có mặt trong nghĩa biểu niệm của nhiều từ
Ví dụ: Các từ “cao, thấp, nông, sâu, rộng, hẹp, dài, ngắn ” ở nghĩa gốc bao gồm mộtcấu trúc biểu niệm với các nét nghĩa sau:
-Đăc điểm kích thớc của ngời hay vật
-Kích thớc đợc tính theo một phơng nhất định (phơng thẳng đứng: cao, thấp, nông,sâu: phơng nằm ngang: rộng, hẹp, dài, ngắn )
-Kích thớc đợc tính theo một hớng nhất định (từ dới lên: cao, thấp; từ trên xuống:nông, sâu; theo chiều dọc của vật: dài, ngắn theo chiều ngang của vật: rộng, hẹp)
-Độ đo (đợc coi là lớn: cao, sâu, rộng, dài: đợc coi là nhỏ: thấp, nông, hẹp, ngắn) Kết quả là nghĩa biểu niệm của từ “cao” chẳng hạn là một cấu trúc gồm nhiều nét
nghĩa nh sau: cao-là đặc điểm kích thớc của ngời hay vật, kích thớc này tính theo phơng
thẳng đứng, theo hớng từ dới lên và có độ đo đợc coi là “lớn” (nghĩa gốc)
Trong cấu trúc nghĩa biểu hiện có những nét nghĩa có tính khái quát cao, có tính chấtphạm trù, và những nét nghĩa chuyên biệt Nét nghĩa khái quát thờng là nét nghĩa có mặt ởnhiều từ Một từ cũng có thể có nhiều nghĩa biểu niệm nếu nó ứng với cấu trúc biểu niệm
Thành phần nghĩa tình thái: Đó là thành phần nghĩa biểu hiện thái độ, tình cảm, cảm
xúc của con ngời Thành phần nghĩa này có thể là một nét nghĩa trong cấu trúc biểuniệm của từ
Trang 15Ví dụ: So sánh các từ sau:
Cho: Hoạt động, mang vật sở hữu của mình để ngời khác dùng, mà không cần trả lại
hoặc đổi bằng vật khác, với sắc thái tình cảm trung hoà (bình thờng)
Biếu: Nghĩa nh từ cho cộng sắc thái tình cảm kính trọng, quý mến.
Thí: Nghĩa nh từ cho cộng sắc thái khinh miệt.
Nhng có những từ thiên về nghĩa tình thái mà không mang nghĩa biểu vật và nghĩa biểuniệm Đó là các từ tình thái
Ví dụ: ối là một tình thái từ không có nghĩa biểu vật và biểu niệm Nó chỉ là từ làm
dấu hiệu cho một cảm xúc (ngạc nhiên, sửng sốt, vui sớng hoặc đau khổ )
Ba thành phần nghĩa trên đây thờng đợc quan niệm là nghĩa từ vựng của từ để phânbiệt với thành phần nghĩa ngữ pháp của từ
Thành phần nghĩa ngữ pháp: Từ nào cũng có nghĩa ngữ pháp Trớc hết, đó là nghĩa
khái quát, chung cho tất cả các từ thuộc cùng một từ loại Nghĩa khái quát này dựa trên nétnghĩa phạm trù trong cấu trúc biểu niệm của từ
Ví dụ: Nghĩa sự vật ở danh từ nghĩa hoạt động trạng thái ở động từ, nghĩa đặc điểm,tính chất ở tính từ, nghĩa số lợng ở số từ Hoặc các nghĩa ngữ pháp của các kiểu loại, nhcác nghĩa ở động từ chỉ hoạt động ban phát, chỉ hoạt động tự giác, suy nghĩ nói năng
Có những từ chỉ có nghĩa ngữ pháp Đó là phần lớn các h từ Chẳng hạn: các quan hệ
từ là những từ làm dấu hiệu cho các quan hệ ngữ pháp Chúng là dấu hiệu cho các ý nghĩaquan hệ (quan hệ: nguyên nhân: vì, tại, bởi, do quan hệ sở hữu: của; quan hệ đối lập: nh-
ng, song, mà; quan hệ giả thuyết-điều kiện: nếu, giá hễ
Có những từ chuyên làm thành tố phụ để làm dấu hiệu cho một số ý nghĩa bổ sung: ý
nghĩa đồng nhất (đều, cũng, vẫn, cứ, còn, lại ) ý nghĩa phủ định (không, cha, chẳng ) ýnghĩa mức độ (rất, quá, lắm, vô cùng, cực kỳ ) Đó là các phụ từ
Nh vậy, nghĩa ngữ pháp là thành phần nghĩa luôn luôn có mặt trong từ, kể cả ở thực từ
và h từ Tất cả các thành phần ý nghĩa (nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa tình thái,nghĩa ngữ pháp) hợp thành nghĩa của từ, tồn tại bên trong từ Trong bình diện nghĩa từ, cácthành phần ý nghĩa đan quyện vào nhau, chế định lẫn nhau, chứ không phải tồn tại mộtcách biệt lập và không phải có một đờng ranh giới thật rõ ràng, dứt khoát Ngay cả sựphân biệt nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp cũng không có tính tuyệt đối, trong nhiều trờnghợp có thể thấy rõ: nghĩa ngữ pháp có cơ sở ngay trong nghĩa từ vựng của từ
Tất cả các rhành phần ý nghĩa kể trên hợp thành nghĩa của từ ý nghĩa của mỗi từ hoàntoàn có tính chất xác định và đợc cộng đồng ngôn ngữ thừa nhận nh một sự quy ớc chung.Chúng đợc các từ điển ghi nhận, còn mỗi cá nhân trong cộng đồng thì tích luỹ, sử dụng vàlĩnh hội theo nghĩa hoặc các nghĩa (đối với từ nhiều nghĩa ) đã xác định đó
Tuy nhiên, trong chính hoạt động giao tiếp ở từ thờng xuyên diễn ra quá trình biến đổi
và chuyển hoá ý nghĩa với các mức độ khác nhau Những sự biến đổi chuyển hoá đó cóthể dẫn đến sự hình thành các nghĩa mới Các nghĩa mới này nếu hình thành theo đúngquy luật, nếu đáp ứng nhu cầu t duy và giao tiếp của xã hội thì càng ngày càng đợc xã hộichấp nhận ở diện rộng lớn và trở thành một nghĩa ổn định của từ
2 Dạy nghĩa từ.
Trang 16a) Việc dạy nghĩa từ ở Tiểu học đặt ra hai nhiệm vụ chính đó là dạy lý thuyết và dạy
thực hành
Dạy lý thuyết là nhằm trang bị cho học sinh một số khái niệm lý thuyết về từ vựnghọc cơ bản nh vấn đề về cấu tạo từ, nghĩa của từ và các lớp từ Những khái niệm này sẽgiúp học sinh nắm nghĩa từ một cách sâu sắc và biết hệ thống hóa vốn từ một cách có ýthức
Dạy thực hành từ ngữ là nhiệm vụ chính yếu cuối cùng ở dạy từ ngữ ở Tiểu học Dạythực hành từ ngữ chính là dạy từ theo quan điểm giao tiếp, dạy từ trên bình diện phát triểnlời nói Đó chính là công việc làm giàu vốn từ cho học sinh Trong dạy thực hành từ ngữ ởTiểu học bao gồm các nhiệm vụ liên quan mật thiết với nhau Đó là: Dạy nghĩa từ, hệthống hoá vốn từ (hay trật tự hoá vốn từ ), tích cực hoá vốn từ, văn hóa hóa vốn từ Nh vậydạy nghĩa từ là một trong những việc làm giàu vốn từ cho học sinh
Có nhiều quan điểm khác nhau về dạy nghĩa từ, tuy nhiên có thể hiểu: Dạy nghĩa từtức là làm cho học sinh nắm nghĩa từ bao gồm việc thêm vào vốn từ của học sinh những từmới và những nghĩa mới của những từ đã biết, làm cho các em nắm đợc tính nhiều nghĩa
và sự chuyển nghĩa của từ Theo cách hiểu trên, dạy nghĩa từ làm hai công việc chính đólà: thêm vào vốn từ của học sinh những nghĩa mới, những từ mới, đồng thời làm cho họcsinh nắm đợc tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ Đây là hai việc làm rất quantrọng trong việc dạy nghĩa từ Bởi vì: Một đứa trẻ 5-6 tuổi đã nắm đợc tiếng mẹ đẻ mộtvốn liếng khá vững Các em có thể nói năng chính xác, trôi chảy, có thể tiếp nhận lời nóicủa ngời khác và hiểu đầy đủ những gì ngời khác diễn đạt Tuy nhiên, vốn từ ngữ của các
em còn nhiều hạn chế, các nghĩa từ mà các em nắm bắt đợc còn cha phong phú, đa dạng
và sâu sắc, số lợng từ các em có cha đủ để học tập và giao tiếp Bởi vậy thông qua dạynghĩa từ chúng ta giúp học sinh có thêm các từ mới những nghĩa mới của từ đã biết, nắm
đợc tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ
Hay nói cách khác, dạy từ phải hình thành ở học sinh những kỹ năng phát hiện ra từmới, cha biết trong văn bản cần tiếp nhận, nắm một số thao tác giải nghĩa từ, phát hiện ranhững nghĩa mới của từ đã biết, làm rõ những sắc thái nghĩa khác nhau của từ trong nhữngngữ cảnh khác nhau
ở Tiểu học hiện nay nghĩa từ ngoài việc dạy trong phân môn từ ngữ còn đợc dạy trêntất cả các giờ học của các môn học khác (toán, tự nhiên- xã hội) đặc biệt ở môn TiếngViệt, nghĩa từ đợc dạy ở các phân môn: Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Ngữ pháp, Tập làmvăn
ở mỗi môn học cách dạy nghĩa từ khác nhau Ví dụ: ở môn Tập đọc để dạy nghĩamột từ giáo viên nêu từ, yêu cầu học sinh giải nghĩa hoặc cũng có thể giáo viên treo tranh
ảnh minh hoạ Sau đó giải nghĩa cho học sinh hiểu ở hình thức nào cũng nhằm mục đíchgiải nghĩa từ cho học sinh
Sở dĩ phải dạy nghĩa từ là vì để tăng vốn từ cho học sinh phải cung cấp những từ mới,
do đó công việc đầu tiên của dạy từ là làm cho học sinh hiểu nghĩa từ Tầm quan trọng củacông việc dạy nghĩa từ cho học sinh đã đợc thừa nhận từ lâu trong phơng pháp dạy họctiếng Việt Nó là nhiệm vụ sống còn trong sự phát triển ngôn ngữ trẻ em Nh trên đã nóiviệc giải nghĩa từ đợc tiến hành trên tất cả các giờ học, bất cứ ở đâu có cung cấp từ ngữ,thuật ngữ, khái niệm thì ở đó có dạy nghĩa từ Ví dụ: Bất cứ một giờ Tập đọc nào cũng cầngiải nghĩa một số từ Nhiều bài có riêng cả mục ghi chú, giải nghĩa sẵn cho học sinh Mụcdạy nghĩa từ của giờ từ ngữ cũng nhằm mục đích đó
Vốn từ của một cá nhân là toàn bộ những từ mà ngời ấy biết và đợc lu giữ trong đầu
óc Biết một từ trớc hết phải nắm bắt đợc hình thức ngữ âm của từ cùng với nội dung biểu
đạt tơng ứng (nói cách khác, nắm đợc từ trong tính chỉnh thể âm-nghĩa của nó, tính chính
Trang 17thể giữa cái biểu đạt và cái đợc biểu đạt) Riêng về mặt nghĩa của từ, do không nắm chắcnghĩa của một số từ nên có nhiều ngời dùng từ thiếu chính xác Ví dụ: Để nói “những mặt
yếu kém” ngời ta dùng từ yếu điểm (trong khi yếu điểm có nghĩa là “điểm quan trọng”).
Loại lỗi dùng từ không chính xác về nghĩa này cũng có thể tìm thấy khá nhiều trong cácbài tập làm văn của học sinh, ví dụ: trong các câu sau đây:
-Tính tình anh ấy rất hiền lành nhng khi ra trận đánh giặc thì táo tợn vô cùng.
-Một không khí nhộn nhịp bao phủ lên thành phố.
Những từ “táo tợn, bao phủ” bị dùng sai do ngời viết không nắm chắcnghĩa các từ này
Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, với t cách là ngời nhận, khi nghe hoặc đọc,
gặp một từ mà ta không hiểu nghĩa của nó, ta sẽ không hiểu đợc đầy đủ điều mà ngời nói(hoặc viết) muốn diễn tả Còn khi bản thân mình nói hoặc viết cần biểu đạt một ý nào đó
mà không tìm đợc từ thích hợp hợp không nắm đợc nghĩa của từ mà mình sử dụng, ta sẽkhông diễn đạt đợc trọn vẹn rõ ràng điều mình muốn nói
Vì vậy, trong nhà trờng nhất là ở Tiểu học, việc dạy nghĩa từ cho học sinh đợc coi lànhiệm vụ quan trong của phân môn từ ngữ nói riêng, môn Tiếng Việt nói chung Trongnội dung dạy nghĩa từ ở Tiểu học, việc giải nghĩa từ cho học sinh và hớng dẫn học sinh tậpgiải nghĩa từ là công việc then chốt, trọng yếu
b) Các biện pháp dạy nghĩa từ hiện nay:
ở Tiểu học, ngời ta thờng nêu một số biện pháp giải nghĩa từ nh sau:
Biện pháp thứ nhất: Giải nghĩa bằng trực quan:
Biện pháp này xuất phát từ nguyên tắc trực quan trong dạy Từ ngữ ở Tiểu học
Những hình ảnh cảm tính, những biểu tợng của trẻ em về thế giới xung quanh là một
tổ hợp cần thiết cho bất kỳ việc dạy học nào Có một quy luật tâm lý là càng nhiều cơquan cảm giác tham gia vào việc tiếp nhận đối tợng (hiện tợng) thì càng ghi nhớ một cáchchắc chắn đối tợng ấy, có nghĩa là càng ghi nhớ cả từ mà nó biểu thị, do đó khi giải nghĩa
từ trong phạm vi có thể, cần sử dụng các phơng tiện tác động lên tất cả các giác quan.Thực hiện nguyên tắc trực quan trong việc dạy nghĩa từ cần làm sao trong giải nghĩa, việctiếp nhận của học sinh không phiến diện mà hình thành trên cơ sở của sự tác động qua lạicủa những cảm giác khác nhau: nghe-nhìn, phát âm, viết Khi giới thiệu cho học sinh một
từ mới, một mặt cần phải đồng thời tác động bằng cả kích thích vật thật và bằng lời Mặtkhác học sinh cần nghe, thấy, phát âm và viết từ mới, đồng thời phải để học sinh nói thànhtiếng hoặc nói thầm điều chúng quan sát đợc Giáo viên cần giúp các em biểu thị thànhlời, thành từ ngữ tất cả những gì chúng quan sát
Vận dụng nguyên tắc trực quan trong dạy nghĩa từ là biện pháp đa ra các vật thật,tranh ảnh, sơ đồ.v.v để giải nghĩa từ
Ví dụ: Thầy giáo đa ra bức tranh vẽ hình quả măng cụt, quả sầu riêng cho học sinh
miền Bắc xem và nói “Đây là quả măng cụt” “Đây là quả sầu riêng” Khi học bài: “Cái
cần cẩu” cô giáo cho học sinh xem tranh cái cần cẩu
Trực quan chiếm vị trí quan trọng trong giải nghĩa từ ở Tiểu học vì nó giúp cho họcsinh hiểu nghĩa từ một cách dễ dàng nhng đòi hỏi giáo viên phải chuẩn bị công phu vàkhông thể dùng để giải thích những từ trừu tợng Biện pháp này nên dùng ở các lớp đầucấp giúp học sinh hiểu nghĩa từ khá dễ dàng
Trang 18Tơng ứng với biện pháp giải nghĩa từ bằng trực quan có các bài tập giải nghĩa từ Loạibài tập này đợc giới thiệu trong một số bài từ ngữ của sách giáo khoa Tiểu học
Ví dụ : 1 Nhìn vào hình vẽ, em chỉ rõ: đỉnh núi, sờn núi, chân núi, đèo
từ cho học sinh hoặc hỗ trợ việc tập giải nghĩa từ của học sinh là việc làm có tác dụng rõrệt Quan sát vật thực hoặc tranh ảnh học sinh dễ dàng nhận ra các nét nghĩa trong cấutrúc nghĩa của từ Biện pháp giải nghĩa từ bằng trực quan rất thích hợp với học sinh lứatuổi Tiểu học Biện pháp này chủ yếu đợc sử dụng để giải nghĩa các từ có tính cụ thể, xác
định (các danh từ, động từ hoặc tính từ biểu thị các sự vật, hiện tợng, hoạt động tính chất mang tính vật chất, tính cụ thể, xác định) và khó có thể dùng để giải thích những từ trừu t -ợng
Biện pháp thứ hai: Biện pháp giải nghĩa bằng ngữ cảnh:
Là biện pháp để cho từ xuất hiện trong một nhóm từ, một câu, một bài để làm rõnghĩa của từ Giáo viên không cần giải thích, nghĩa của từ đợc bộc lộ nhờ ngữ cảnh Haynói cách khác giải nghĩa từ bằng ngữ cảnh là đặt từ vào trong cụm từ, câu để suy ra nghĩahoặc giải nghĩa bằng cách nêu nghĩa của cả cụm từ, câu chứa từ Cách giải nghĩa này th-
ờng đợc dùng để giải nghĩa các từ láy, ví dụ: “có thể nói cái gì nhấp nhô” hoặc “đặt câu
với từ nhấp nhô”
Để giải thích từ “náo nức” giáo viên đa ra câu: “chúng em náo nức đón tết”
Đặc biệt các từ lâm thời đợc sử dụng theo nghĩa khác với nghĩa vốn có của nó nhất
định phải đợc giải nghĩa bằng cách nêu nghĩa cả cụm từ, cả câu để dùng áp lực của ngữcảnh làm rõ nghĩa của từ
Ví dụ: Từ “ đa tình, đa mang” vốn có nghĩa biểu thái tiêu cực, có ý chê bai nhng trong
câu “Vừa độ lợng lại đa tình, đa mang” nói về cha ông trong bài Truyện cổ nớc mình(Tiếng Việt 5) thì hai từ này phải đợc hiểu theo nghĩa là giàu tình cảm và biết yêu thơng,quan tâm lo lắng cho mọi ngời Từ “trang trải” trong câu “chở tình thơng trang trải đêmngày” ( Vàm cỏ đông-Tiếng Việt 5) cũng phải đợc hiểu là trải ra mãi không dứt, khônghết
Nh vậy biện pháp giải nghĩa bằng ngữ cảnh tỏ ra rất có u thế trong việc giải nghĩanhững từ có sắc thái tinh tế, trừu tợng nh từ láy Đặc biệt đây là biện pháp rất phù hợp vớiviệc phát huy khả kết hợp từ tạo câu của từ Từ đợc đặt trong cụm từ, trong câu sẽ không
Trang 19chỉ hiểu đợc nghĩa đen ( nghĩa chính) mà còn hiểu đợc cả nghĩa bóng (nghĩa chuyển) nhngbiện pháp này còn sử dụng cha rộng rãi trong dạy nghĩa từ.
Biện pháp này ứng với một số loại bài tập nh: Đặt câu với từ hoặc bài tập điền từ
Ví dụ: Tìm từ thích hợp để điền vào chỗ trống trong các thành ngữ (đã học) sau đây:
Biện pháp thứ ba: Biện pháp giải nghĩa bằng cách đối chiếu, so sánh với từ khác
Biện pháp này có tác dụng song đôi làm học sinh hiểu hai từ một lúc Ví dụ: giải nghĩa từ
“đồi “ bằng cách so sánh “đồi” với “núi “ “đồi thấp hơn núi, sờn thoai thoải hơn” Giảinghĩa từ “sách vở ” bằng cách đối chiếu chúng với nhau “sách” có chữ in dùng để học, “
vở “ là tập giấy trắng đóng lại dùng để viết
Cách giải nghĩa này sẽ đợc xây dựng thành các bài tập giải nghĩa kiểu: “Sách, vở có gìkhác nhau”
(Tiếng Việt 2-tập1- tr28) Núi khác đồi thế nào ? Vịnh khác cảng thế nào ? Ruộng khác nơng thế nào ?
(Tiếng Việt 2-tập1-tr120) Công nhân, nông dân, xã viên khác nhau nh thế nào ?
(Tiếng Việt 3-tập1-tr120) Kênh và rạch khác nhau nh thế nào ? Kênh lớn hơn hay rạch lớn hơn ?
(Tiếng Việt 4-tập1-tr75) Loại bài tập này đợc xây dựng dựa trên nguyên tắc so sánh, đối chiếu hai hoặc hơnhai từ với nhau Qua sự so sánh, đối chiếu nghĩa của từng từ, nhất là những nét nghĩariêng, những sắc thái riêng của từng từ đợc bộc lộ khá rõ ràng Nh vậy ở loại bài tập này
có thể nhận thấy so sánh, đối chiếu là phơng tiện, là biện pháp còn việc nắm nghĩa từ mới
là mục đích Cách giải nghĩa từ, hiểu nghĩa từ bằng biện pháp so sánh, đối chiếu với từkhác là cách làm khá quen thuộc, thờng thấy Cách làm này đợc coi là rất thích hợp đốivới học sinh lứa tuổi Tiểu học
Khi hớng dẫn học sinh làm loại bài tập này, giáo viên cần vận dụng một cách thật tựnhiên, khéo léo quan điểm hệ thống, phơng pháp hệ thống vào việc xác lập nghĩa của từ,phân biệt nghĩa của các từ đợc đa ra so sánh Cụ thể, giáo viên coi các từ cần tìm hiểunghĩa là một hệ thống Giá trị (nghĩa) của một từ nào đó là do quan hệ giữa nó với các từkhác trong hệ thống quy định Muốn xác định nghĩa của một từ nào đó trong hệ thống, ta
Trang 20lần lợt xét quan hệ đồng nhất để tìm ra những đặc điểm chung về nghĩa giữa các từ Sau đóxét quan hệ đối lập (so sánh, đối chiếu) để tìm ra những đặc điểm riêng về nghĩa của từng
từ Tập hợp các nét nghĩa chung và riêng của một từ ta đợc cơ cấu nghĩa của từ đó, nóicách khác ta đợc toàn bộ nội dung ý nghĩa của từ đó
Ví dụ: Các từ cán bộ, chiến sĩ, binh lính, binh sĩ, sĩ quan có nghĩa giống nhau và khác
nhau nh thế nào ?
(Tiếng Việt 5-tập 2-tr28) Vận dụng phơng pháp hệ thống nói trên vào việc xác định phân biệt nghĩa của các từtrên.Trớc hết xét quan hệ đồng nhất, ta thấy các từ trên có nghĩa chung giống nhau là đềuchỉ những ngời phục vụ trong quân đội nhng không thuộc cấp chỉ huy Sau đó xét quan hệ
đối lập giữa các từ, ta thấy mỗi từ trên có những sắc thái nghĩa riêng, cụ thể: binh lính ờng dùng khi nói về quân đội phong kiến, đế quốc: binh sĩ thì chỉ chiến sĩ và hạ sĩ quan (chỉ huy cấp thấp) nói gộp lại: chiến sĩ là ngời lính trong quân đội cách mạng; cán bộ (nói
th-đầy đủ là cán bộ quân đội) là ngời có chức vụ, có quyền chỉ huy trong quân đội; sĩ quan là
ngời cán bộ từ cấp uý trở lên
Biện pháp thứ t: Giải nghĩa bằng các từ đồng nghĩa, trái nghĩa:
Với biện pháp này để giải nghĩa một từ ngời ta đa ra một từ trái nghĩa với từ đó để làm
rõ nghĩa từ cần giải nghĩa
Ví dụ: Thật thà là không dối trá (dùng trái nghĩa)
Hoặc có khi để giải nghĩa một từ ngời ta đa ra một từ đồng nghĩa với từ đó, trong đó
từ đòng nghĩa với từ cần giải nghĩa là từ dễ hiểu, học sinh đã hiểu nghĩa
Ví dụ: Siêng học, siêng làm tức là chăm học, chăm làm.
Tơng ứng với cách giải nghĩa này là các bài tập yêu cầu giải nghĩa bằng đồng nghĩa:
Ví dụ: Ngày khai trờng còn gọi là ngày gì ? Cha còn gọi là gì?
Bài tập thờng đa dới dạng để học sinh điền vào chỗ trống những từ đồng nghĩa hoặc
trái nghĩa: Ví dụ: Sạch sẽ là không
Đây là một biện pháp giải nghĩa từ thờng gặp ở dạy nghĩa từ ở Tiểu học Biện phápgiải nghĩa này tơng đối đơn giản dễ thực hiện nên cũng không thể giải nghĩa đợc những từ
có nghĩa khái quát trừu tợng Không thể giải nghĩa đợc những nghĩa bóng (nghĩa chuyển)của từ Biện pháp giải nghĩa này chỉ áp dụng đợc khi giải nghĩa những từ ngữ đơn giản,mặt khác học sinh buộc phải hiểu nghĩa từ đa ra để dùng đồng nghĩa, trái nghĩa trớc đó thìmới hiểu đợc nghĩa của từ cần giải nghĩa Nh vậy nếu học sinh không hiểu đợc nghĩa củacác từ dùng đồng nghĩa, trái nghĩa thì học sinh sẽ không hiểu đợc nghĩa của từ mới Điều
đó hạn chế rất lớn dến việc hiểu nghĩa từ của học sinh Nh vậy đây là biện pháp giải nghĩacha thực sự tối u trong việc dạy nghĩa từ cho học sinh Tiểu học
Biện pháp thứ năm: Giải nghĩa bằng cách phân tích từ thành các từ tố (tiếng).
Ví dụ: Tâm sự là một từ ghép gốc hán có nghĩa là nỗi lòng (tâm: là lòng, sự: là nỗi).
Uyên bác nghĩa là có kiến thức rộng (bác) và sâu (uyên)
Trang 21Qua các ví dụ ta thấy u thế của biện pháp giải nghĩa từ này so với các biện pháp giảinghĩa khác là có thể giải nghĩa đợc các từ có nghĩa trừu tợng; những từ ngữ mang yếu tốHán việt Giải nghĩa đợc những từ ngữ mang yếu tố Hán việt đối với học sinh Tiểu học làrất khó khăn
Biện pháp thứ sáu: Giải nghĩa bằng định nghĩa:
Là biện pháp giải nghĩa bằng cách nêu nội dung nghĩa bằng một định nghĩa
Ví dụ: Ông nội là cha của cha em Tổ quốc là đất nớc mình.
Đây là phơng pháp giải nghĩa phổ biến nhất, là biện pháp giải nghĩa làm cơ sở cho rấtnhiều bài tập dạy nghĩa khác nhau Hình thức giải nghĩa này có ba dạng bài tập, sắp xếp từ
dễ đến khó nh sau:
+ Mức thấp nhất là cho sẵn cả nội dung (nghĩa từ) và tên gọi (từ) chỉ yêu cầu học sinhphát hiện ra sự tơng ứng giữa chúng Hình thức bài tập này chỉ có ở trong vở bài tập, đó làkiểu bài tập yêu cầu nối một ô ở cột nọ (cột ghi các từ) sao cho hợp nghĩa (hoặc tạo thànhcâu hợp nghĩa) Khi hớng dẫn giải bài tập này giáo viên phải làm cho học sinh hiểu ýnghĩa của từng yếu tố ở hai cột để thấy sự tơng ứng của từng cặp Các em lần lợt lấy một
từ ở cột bên trái thử ghép với từng ô ở cột bên phải xem có tơng ứng, tức là tạo thành cáccâu đúng nghĩa không Cặp nào có sự tơng ứng sẽ đợc nối lại với nhau
+ Mức thứ hai: Cho sẵn nội dung từ (các nét nghĩa của từ) yêu cầu tìm tên gọi (từ)
Ví dụ: Bài tập yêu cầu điền tiếp vào chỗ trống trong các câu: “Ngời làm nghề cày
ruộng, trồng trọt trên đồng ruộng gọi là ” “Ngời lao động trong hợp tác xã gọi là ” Họcsinh phải trả lời đợc câu hỏi: Ngời làm nghề cày ruộng, trồng trọt trên đồng ruộng là gì ? v.v để ghi vào ô trống các từ “nông dân”, “xã viên” cho đúng
+ Mức cao nhất cho sẵn từ, yêu cầu học sinh xác lập nội dung tơng ứng Phổ biến nhất
là kiểu bài tập đa ra câu hỏi trực tiếp: “Sáng kiến là gì ?” “Tiết kiệm là gì ?” “Tổ quốc làgì ?” Đây là bài tập tơng đối khó đối với học sinh Tiểu học Để thực hiện loại bài tập nàyhọc sinh phải có kỹ năng định nghĩa, giải nghĩa bằng định nghĩa sẽ làm cho ngôn ngữ và tduy của học sinh trở nên rõ ràng và sâu sắc hơn “Càng bắt đầu dạy cho học sinh địnhnghĩa từ sớm bao nhiêu thì các em càng biết t duy chính xác và nói năng đúng đắn bấynhiêu”
Khi định nghĩa từ cần đảm bảo các yêu cầu sau: nghĩa của từ đợc định nghĩa cần dạytrên những nghĩa đơn giản hơn để tránh sự luẩn quẩn trong định nghĩa Các thành tố nghĩacủa từ đợc đinh nghĩa cần đầy đủ nhng tổ hợp các thành tố nghĩa không quá lớn
Mức thứ ba của bài tập định nghĩa từ ít đợc sử dụng ở lớp 2-3 và thờng đã có lời giải
ở một bài trớc đó
Ví dụ: Bài từ ngữ tuần 5 lớp 2 có bài tập: “Ngày khai trờng là ngày gì ? ” thì trên giờ
tập đọc trớc đó đã có lời giải và bài từ ngữ tuần 1 đã có bài tập điền từ “ngày là ngày mở
đầu năm học”
Hình thức định nghĩa vừa sức với học sinh Tiểu học là định nghĩa với sự giúp đỡ củacác câu hỏi Những câu hỏi này đợc đa ra một cách tuần tự, làm chỗ dựa cho việc mở ranghĩa của từ trong các câu hỏi đã gợi ý việc xác định các nét nghĩa, nghĩa là đã hàm chứa
một phần các câu trả lời.Ví dụ: “Lò cao dùng dể làm gì ? ” (Tiếng Việt 3-tập 2-tr32).
-Chỗ dòng suối hay dòng sông nớc chảy nh thế nào gọi là thác ?
Trang 22(Tiếng Việt 4-tập 1-tr71) -Tình thầy trò chỉ quan hệ giữa ai với ai ?
-Một ngời làm việc nh thế nào là tận tụy ?
-Phong cảnh nh thế nào đợc gọi là thắng cảnh ?
Khác với những câu hỏi trực tiếp về nghĩa của từ, những câu hỏi này ít nhất cũng xác định
sự vật (Hay tính chất, quá trình) của loại lớn hàm chứa loại nhỏ đợc biểu hiện bởi từ Thaycho câu hỏi trực tiếp “chào mào là gì ? ” ở Tiểu học đã dùng câu hỏi: “Chào mào là loạichim nh thế nào? Thay cho câu hỏi: Rẫy là gì ? Là câu hỏi” Chỗ đất đồi nh thế nào gọi làrẫy? ” Những câu hỏi này sẽ giúp cho học sinh xác định một định nghĩa lôgíc
Ví dụ: ở bài tập: “Lò cao dùng để làm gì ? ”-Tiếng Việt 3-tập2-tr32 Các từ ngữ
“dùng để làm gì ? ” Có tác dụng gợi ý cho học sinh tìm hiểu về chức năng của lò cao Dựavào gợi ý này, học sinh có thể dễ dàng trả lời: (Lò cao dùng dể luyện đúc gang )
Nếu chú ý vào các điều gợi ý về nghĩa của từ, học sinh sẽ dễ dàng tìm đợc câu trả lời thoả
đáng trong khi làm các bài tập này
Nh vậy chúng ta đã khảo sát lại các biện pháp giải nghĩa từ hiện nay thờng dùng ởTiểu học Qua đó chúng ta thấy: giải nghĩa từ là một biện pháp nêu rõ những đặc tính của
từ Bởi vậy trong khi giải nghĩa từ cần tách các dấu hiệu mà học sinh sẽ chú ý đến khi làmquen với từ Mặt khác, ở Tiểu học một từ nhiều khi đợc dạy nghĩa nhiều lần nên lần đầu cóthể không cần khám phá hết nội dung của nó, những lần sau sẽ mở ra tất cả nội dung của
từ
Các biện pháp giải nghĩa nêu trên chỉ phần nào dạy nghĩa đen của từ cha đi vào việcdạy nghĩa bóng, dạy học sinh sử dụng từ trong giao tiếp, trong hoạt động, nói năng Chỉ cóbiện pháp giải nghĩa từ bằng ngữ cảnh là biện pháp có tác dụng to lớn trong việc giúp họcsinh nắm nghĩa của từ ở biện pháp này chúng ta thấy, muốn hiểu nghĩa một từ nào đó, ta
đa từ ấy vào ngữ cảnh (ngữ cảnh có thể là một cụm từ, một câu hoặc một đoạn văn, bàivăn ) Nghĩa của từ từ bộc lộ nhờ ngữ cảnh, trong quan hệ với các t ngữ đứng trớc và sau
nó Nói cách khác ngữ cảnh có tác dụng hiện thực hoá nghĩa của từ, giúp học sinh dễ dàngnhận biết nghĩa một từ nào đó Ngữ cảnh có thể do giáo viên đa ra (sao cho phù hợp vớihọc sinh lớp dạy) hoặc có sẵn trong sách giáo khoa Ngữ cảnh có thể đ ợc giáo viên đọclên, nói lên trong giờ từ ngữ, hoặc đợc viết sẵn vào bảng phụ Giáo viên cần tăng cờng sửdụng biện pháp giải nghĩa từ bằng ngữ cảnh trong các tiết dạy từ ngữ ở trờng Tiểu học
Nh vậy để phát huy đợc mặt tích cực, hạn chế những khiếm khuyết của các biện phápgiải nghĩa từ, giáo viên phải biết vận dụng phối hợp các biện pháp giải nghĩa cho phù hợpvới học sinh, với đặc điểm của từ và vai trò của từ trong từng chủ đề Hay nói cách khác,việc lựa chọn biện pháp giải nghĩa và hình thức bài tập giải nghĩa tuỳ thuộc vào từng trờnghợp cụ thể Nó bị quy định bởi nhiệm vụ học tập (từ sẽ đa vào vốn từ tích cực hay tiêucực), bởi đặc điểm của từ (trừu tợng hay cụ thể, danh từ hay động từ, tính từ, thuần Việthay Hán việt), bởi trình độ của học sinh trớc đó đã đợc chuẩn bị nắm nghĩa từ nh thế nào?
* Với các biện pháp dạy nghĩa từ nêu trên cần có sự kết hợp với các phơng tiện vàhình thức dạy học khác
ở biện pháp giải nghĩa từ bằng ngữ cảnh: Để giải nghĩa từ cần có tranh ảnh, hình vẽ,hiện vật cụ thể, trực quan để minh hoạ Nếu không có hiện vật, có thể áp dụng thủ phápsau:
Trang 23Chuẩn bị giáo cụ gồm hai cỗ bài các tông có màu khác nhau Cỗ bài thứ nhất dùng đểghi, mỗi quân bài một từ-tên gọi Cỗ bài thứ hai gồm những con bài vẽ tranh ảnh về các sựvật, hiện tợng, quá trình, tính chất v.v Tơng ứng với các tên gọi đợc ghi ở cỗ bài thứnhất Khi dạy, chúng ta ghép cây bài ghi tên gọi có vai trò đợc coi nh là hình thức của từvới cây bài vẽ tranh ảnh tơng ứng-đợc coi với t cách nh là nghĩa của từ
Sau đó để giải nghĩa từ nào đó cho học sinh chúng ta thực hiện thao tác sau:
1 Đa ra từng cây bài có ghi từ-tên gọi và hỏi: “Từ này gọi tên cái gì?”, để trả lời giáoviên yêu cầu học sinh chọn cây bài có vẽ tranh ảnh tơng ứng với tên gọi ấy hoặc ngợc lại:
2 Đa ra từng cây bài có vẽ tranh ảnh về sự vật, hiện tợng nào đó và hỏi: “Cái này đợcgọi là gì? ” rồi yêu cầu các em chọn đúng cây bài có ghi tên gọi tơng ứng
Nếu nh học sinh chọn và ghép khớp đúng hai cây bài phù hợp với nhau thì điều này
có nghĩa là các em đã hiểu đúng ý nghĩa của từ
Nếu áp dụng phơng dạy nghĩa từ theo kiểu trên chúng ta có thể dạy cùng một lúc chohọc sinh ý nghĩa của hàng loạt từ thuộc nhiều nhóm chủ đề Nh vậy, trong một tiết họcchúng ta có thể dạy cho các em ý nghĩa của một lợng từ ngữ khá lớn, có hệ thống mà giờhọc vẫn diễn ra nhẹ nhàng, sinh động, hấp dẫn, lại mang tính vui chơi giải trí
Đối với các từ có nghĩa trừu tợng có thể giải nghĩa bằng các biện pháp nêu trên kêthợp với một số cải tiến về cách tiến hành
Với biện pháp giải nghĩa từ bằng ngữ cảnh, nên bổ sung cách đa từ vào ngữ cảnh cụthể nh sau:
Cách thứ nhất: Giải thích nghĩa từ cần dạy bằng cách đặt từ vào trong câu Nói cách
khác tự đặt câu (hay chọn ở trong tác phẩm văn học) câu có sử dụng từ ấy Bởi chúng ta
đều hiểu rằng: Dạy từ ngữ không phải là ở sự giải thích mà là ở sự tập luyện, ý nghĩa của
từ là cách sử dụng của nó trong ngôn ngữ
Ví dụ: Để dạy cho học sinh hiểu nghĩa từ “bao la” Chúng ta yêu cầu các em có thể tự
mình đặt (hay chon trong tác phẩm văn thơ đã học) những câu có chứa từ này, chẳng hạn:
Biển rộng bao la Trời cao đất rộng bao la Lòng mẹ bao la v.v.
Nếu nh các em tự đặt hoặc chọn đợc câu có sử dụng đúng từ cần dạy thì điều đó cónghĩa là các em đã hiểu và sử dụng đúng nghĩa của từ này
Cách thứ hai: Giáo viên đa ra một câu có để trống một số chỗ mà ý nghĩa của câu
cho phép chỉ điền từ cần dạy, yêu cầu học sinh tự nghĩ để tìm hoặc chọn từ ấy trong những
từ đã cho để điền vào chỗ trống Nếu học sinh chọn và điền đúng từ thì điều đó cũng cónghĩa là các em hiểu và sử dụng đúng nghĩa của từ mà chúng ta cần dạy
Ví dụ: 1 Điền các từ chỉ màu đen sau đây: mực, ô, thâm vào chỗ trống ở từng câu cho
thích hợp:
a Con ngựa đó phi rất nhanh
b Nhà hàng xóm có con chó rất dữ
c Ông tôi vẫn còn giữ chiếc áo the
2 Hãy chọn từ thích hợp để điền vào chỗ trống trong câu sau:
Trang 24Mai là một cô bé học rất giỏi nhng có đức tính , cha bao giờ tự kiêu, nên ai cũngquý mến (Điền từ “khiêm tốn”).
Cách thứ ba: Đa ra những câu khác nhau có sử dụng cùng một từ, trong đó chỉ có
một câu sử dụng đúng Yêu cầu học sinh chọn và đánh dấu vào câu ấy Chẳng hạn:
a Nghĩa vụ làm con là phải săn sóc, phụng dỡng cha mẹ.
b Nghĩa vụ nặng nề và vẻ vang của các thầy giáo, cô giáo là giáo dục học sinh
sử dụng từ
* Theo chúng tôi, trong các loại nghĩa của từ mà một số nhà Việt ngữ học gọi là
“nghĩa biểu vật” (nghĩa gắn liền với sự vật, hiện tợng đợc từ gọi tên) và “nghĩa biểuniệm” (nghĩa gắn liền với những đặc trng, những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện t-ợng ), chỉ nên yêu cầu học sinh (nhất là các lớp đầu Tiểu học) nắm “ nghĩa biểu vật” còngọi là “nghĩa thực tế”, “nghĩa trong lời nói” Còn “nghĩa biểu niệm” (có thể hiểu là nghĩa
đợc giải thích trong từ điển Tiếng Việt) thì cần lu ý các vấn đề sau:
Thứ nhất, chỉ nên đặt ra yêu cầu nắm loại nghĩa này đối với học sinh Tiểu học (lớp
4-5)
Thứ hai, không yêu cầu học sinh giải thích nghĩa của từ một cách thật chặt chẽ,
khoa học mang tính “Hàn lâm” nh cách giải nghĩa, định nghĩa của từ điển mà cần tôntrọng và ghi nhận, chấp nhận một cách giải nghĩa từ mang tính trực quan, theo lối khôiphục các biểu tợng, phản ánh cách nghĩ, cách nhìn các sự vật, hiện tợng trong thế giớikhách quan còn đơn giản, cảm tính nhng đôi khi rất bất ngờ, thú vị của học sinh
III ý nghĩa của việc dạy nghĩa từ bằng phơng pháp dạy học giao tiếp
Muốn hớng đến mục tiêu dạy tiếng là dạy một công cụ giao tiếp, hình thành nănglực hoạt động giao tiếp cho học sinh thì việc mới chỉ dạy cho học sinh giải nghĩa từ bằngcác biện pháp: Định nghĩa, trực quan, ngữ cảnh so sánh đối chiếu với từ khác, bằng các từ
đồng nghĩa hoặc trái nghĩa, phân tích từ thành các từ tố là cha đủ mà phải dạy nghĩa từ chohọc sinh bằng phơng pháp dạy học giao tiếp, đặt từ ngay trong hoạt động giao tiếp cụ thể
Nh chúng ta đã biết: “Từ là đơn vị ngôn ngữ có cấu tạo chặt chẽ, là đơn vị nhỏ nhấttrực tiếp dùng để tạo câu; từ bao giờ cũng có nghĩa”
Nếu dạy từ mà không cho học sinh hiểu từ, nắm nghĩa của từ sẽ là một việc làm vô
bổ bởi nh thế thì học sinh không thể sử dụng các từ đã đợc cung cấp Tức là học sinh sẽkhông biến những từ mình có thành một phơng tiện đê giao tiếp, trao đổi t tởng tình cảm
đợc
Muốn biết một từ nào đó có nghĩa nh trế nào không thể không đặt nó trong ngữcảnh và trong tình huống giao tiếp Những tri thức cho phép ngời bản ngữ thấy: trong hoàn
Trang 25cảnh nào thì ngời nói có thể dùng nghĩa nh thế này mà không dùng nghĩa nh thế kia Trong thực tế ở Tiểu học vấn đề này cha đợc đề cập đến
Vì thế cần phải có sự thay đổi trong khi xác định cách dạy nghĩa từ sao cho có hiệuquả cao trong giao tiếp Chúng tôi cho rằng khi dạy nghĩa từ cần đặt nó trong ngữ cảnh vàtình huống giao tiếp, dạy nghĩa từ trong hoạt động cấu tạo câu của nó Có nghĩa là chúng
ta đa từ vào những tình huống giao tiếp trong những hoàn cảnh cụ thể để xét từ trong mốiquan hệ giữa ngời nói, ngời nghe và hoàn cảnh giao tiếp
Việc dạy nghĩa từ nh thế sẽ tạo đợc cho học sinh một công cụ giao tiếp phong phú,
đa dạng, đồng thời thích ứng đợc với các hoạt động giao tiếp trong nhà trờng, gia đình vàngoài xã hội, đó là mục tiêu đặt ra hàng đầu đối với việc dạy nghĩa từ ở Tiểu học Cần xác
định rằng dạy nghĩa từ ở Tiểu học là triệt để phục vụ cho học tập và năng lực giao tiếp củahọc sinh Có nh vậy mới giúp cho học sinh sử dụng tốt ngôn ngữ giao tiếp trong từng hoàncảnh, tình huống cụ thể
Để dạy nghĩa từ theo xu hớng giao tiếp nh phân tích ở trên thì phơng pháp dạy họctốt nhất là phơng pháp dạy học giao tiếp
Phơng pháp dạy học giao tiếp và việc dạy nghĩa từ trong giao tiếp có mối quan hệgắn bó hữu cơ chặt chẽ tác động qua lại lẫn nhau Việc sử dụng phơng pháp dạy học giaotiếp vào dạy nghĩa từ là hết sức cần thiết và có ý nghĩa hết sức to lớn Điều này đ ợc thểhiện cụ thể nh sau:
Phơng pháp dạy học giao tiếp là nhằm đi đến việc hớng học sinh vào hoạt động nóinăng, học sinh không chỉ là ngời nghiên cứu tiếng Việt mà phải biết cách sử dụng thànhthạo vũ khí này vào t duy và giao tiếp Với phơng pháp dạy học giao tiếp học sinh là ngời
đóng vai nhân vật giao tiếp, là nhân vật giao tiếp chính trong quá trình hoạt động giaotiếp, thông qua hoạt động giao tiếp nói năng để lĩnh hội tri thức cho mình
Việc dạy nghĩa từ trong hoạt động giao tiếp cũng nh vậy Muốn phát huy đợc mọikhả năng giải nghĩa từ ở học sinh phải tìm mọi cách hớng các em vào hoạt động nói nănggiao tiếp trong một nhóm ngời, phải biết dùng những hình thức dạy học thích hợp nhằmkích thích hoạt động tạo lời và đáp lời ở học sinh đó chính là hoạt động giao tiếp
Trang 26Chơng II
Sử dụng phơng pháp dạy học giao tiếp vào việc dạy nghĩa Từ ở Tiểu học
Mặt khác cần phải thấy rằng: sự hình thành và phát triển nghĩa của từ chỉ xảy ratrong hoạt động Thông qua hoạt động lao động, hoạt động nhận thức và cải tạo hiện thựckhách quan, con ngời ngày càng nhận thức ra các sự vật, hiện tợng và đặc trng của chúng.Kết quả nhận thức này đợc biểu hiện trong tên gọi (nghĩa biểu vật) và quan niệm về chúng(nghĩa biểu niệm)
Về mặt nhận thức ý nghĩa của từ cũng vậy, để hiểu ý nghĩa của từ, con ngời cũngcần thông qua hoạt động giao tiếp và trong quá trình đó mới tiếp xúc, hiểu biết bản chấtcủa hiện thực, nắm vững các khái niệm và tên gọi của chúng-từ ngữ Không có hoạt độngthực tiễn và hoạt động giao tiếp, con ngời không thể nào chiếm lĩnh đợc nghĩa từ và theo
đó cũng không bao giờ có một từ cần thiết và khả năng sử dụng chúng
Hoạt động giao tiếp là hoạt động đặc trng cho con ngời, có quan hệ trực tiếp nhất
đến việc hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ nói chung, năng lực từ ngữ nói riêng.Con ngời học từ, trớc hết là học trong thực tiễn giao tiếp Trong giao tiếp, từ ngữ không
đứng riêng rẽ mà tồn tại trong phát ngôn, trong một ngôn bản nhất định, trong một liên hệvới các nhân tố của hoạt động giao tiếp Chính văn cảnh, hoàn cảnh trong đó từ mới xuấthiện sẽ là động cơ thúc đẩy ngời nghe, ngời đọc dần dần đoán nhận ra nội dung nghữnghĩa, qua đó mà “chiếm lĩnh” từ ngữ mới vào vốn liếng của mình Điều đó rất phù hợpvới phơng pháp dạy học giao tiếp Và nh vậy muốn dạy nghĩa từ cho học sinh tiểu học ph-
ơng pháp tốt nhất là phơng pháp dạy học giao tiếp
Chính vì vậy mà chúng tôi đề xuất việc dạy nghĩa từ bằng phơng pháp dạy họcgiao tiếp
2 Dạy nghĩa từ bằng phơng pháp dạy học giao tiếp là đặt từ cần giải nghĩa vàotrong hoạt động giao tiếp, cụ thể là đa từ vào những ngữ cảnh, những tình huống giao tiếp
cụ thể Trong ngữ cảnh, trong các tình huống giao tiếp nghĩa từ bộc lộ rõ hơn, học sinhhiểu đợc nghĩa từ ở tất cả các mặt: Nghĩa đen và nghĩa bóng, nghĩa văn chơng Đồng thờikhi tiếp nhận nghĩa từ trong ngữ cảnh học sinh sẽ học tập đợc cách sử dụng từ của ngờikhác từ đó phát triển đợc khả năng sử dụng từ trong giao tiếp nói năng
* Có thể hình dung một cách đại thể về dạy nghĩa từ theo phơng pháp giao tiếp là: Giáo viên đa ra một tập hợp các yếu tố thuộc ngôn ngữ (cụ thể ở đây là những từngữ cần giải nghĩa) rồi cho học sinh đặt những từ ngữ đó vào hoàn cảnh giao tiếp, đề tàigiao tiếp để các em chủ động đọc, nghe, nói viết sao cho đạt đợc mục đích của từng hoạt
động giao tiếp Đồng thời giáo viên cũng đa ra những tình huống giao tiếp yêu cầu họcsinh sử dụng những từ cần dạy nghĩa để giải quyết các tình huống đó
Ví dụ: Muốn dạy nghĩa từ: “Phát minh” trong chủ đề: “Nghiên cứu khoa học”
giáo viên đa ra tình huống sau:
Bạn A nói với B: “Phát minh khoa học là vấn đề mới đợc tìm hiểu, phát hiện ra đểcống hiến cho khoa học và loài ngời ” Theo em bạn A nói nh thế có đúng không? Emhãy kể tên một số phát minh khoa học mà em biết
Qua việc giải quyết tình huống giáo viên đa ra học sinh hiểu đợc nghĩa của từ
phát minh đồng thời sử dụng đợc từ phát minh khi kể tên các phát minh khoa học mà học
sinh biết
Ví dụ khác: Muốn dạy nghĩa của từ “xuân” chúng ta đặt từ “xuân” trong các ngữ
cảnh khác nhau và yêu cầu học sinh xét nghĩa của từ “xuân”
Trang 27trong từng ngữ cảnh để hiểu rõ của từ xuân hơn.
Trong các câu thơ dới đây của Bác Hồ, nghĩa của từ xuân có gì khác nhau:
a Xuân này kháng chiến đã năm xuân.
b Sáu mơi tuổi hãy còn xuân chán.
So với ông Bành vẫn thiếu niên
c Mùa xuân là tết trồng cây.
Làm cho đất nớc càng ngày càng xuân.
Yêu cầu của bài này học sinh chỉ cần chỉ ra đợc từ “xuân” nào mang nghĩa đen và từ xuân
nào mang nghĩa bóng là đợc Cha yêu cầu các em phân tích sâu nghĩa của các từ xuân
trên.Tuy nhiên học sinh nào phân tích kĩ đợc nghĩa bóng, nghĩa văn chơng tinh tế của từ
“xuân” thì tốt hơn
3 Vậy để thực hiện dạy nghĩa từ bằng phơng pháp dạy học giao tiếp chúng ta sẽthực hiện bằng phơng pháp nào, hình thức nào Với phạm vi đề tài cho phép chúng tôithiết nghĩ nên dạy nghĩa từ theo phơng pháp dạy học giao tiếp bằng một số biện pháp sau
đây:
a Dạy nghĩa từ bằng cách đặt học sinh vào tình huống giao tiếp.
Đây là biện pháp giáo viên đa những từ cần dạy nghĩa vào các tình huống sau đóyêu cầu học sinh giải quyết các tình huống trên Mục đích của biện pháp này giúp họcsinh giải nghĩa từ trong những tình huống giao tiếp ( từ trong sử dụng) giả định
Biện pháp này có thể dùng để giải nghĩa từ ở tất cả các loại bài của môn TiếngViệt, trong dạy nghĩa từ sử dụng biện pháp này để giải nghĩa những từ khó, trừu tợng Dạyhọc sinh sử dụng từ trong việc tạo lời nói, tạo câu
Muốn học sinh hiểu nghĩa từ bằng biện pháp đặt học sinh vào tình huống cần cóhai điều kiện cốt yếu cũng chính là hai bớc để thực hiện biện pháp:
Bớc 1: Giáo viên phải tạo ra đợc những tình huống có vấn đề (Tình huống chứa từ
cần giải nghĩa) trong quá trình học sinh chiếm lĩnh nghĩa của từ hoặc rèn luyện kĩ nănggiao tiếp ( nói lời xin lỗi, cảm ơn )
Bớc 2: Điều kiện thứ hai: Giáo viên phải giúp học sinh tìm ra đợc các việc làm cụ
thể, thứ tự của các việc làm đó để giải quyết đợc tình huống đã đặt ra và hoàn thành nhiệm
vụ của bài học
Dới đây là một ví dụ về tổ chức dạy nghĩa từ cho học sinh theo biện pháp giảinghĩa từ bằng cách đặt học sinh vào tình huống giao tiếp:
Phần II-Luyện tập bài “Nghiên cứu khoa học” tiết 27-tuần 26 Tiếng Việt 4-tập 2,mục tiêu của phần này là học sinh hiểu nghĩa của từ “Phát minh khoa học ”
-Giáo viên tạo tình huống có vấn đề:
+Yêu cầu học sinh đóng vai: học sinh thứ nhất vai ngời nói (Bạn A), học sinh thứ hai vaingời nghe (Bạn B)
Hớng dẫn các học sinh khác quan sát theo dõi xem sau khi học sinh A nói học sinh
B nói lại nh thế nào?
+Yêu cầu học sinh khác nhận xét xem học sinh B nói đã đúng cha Học sinh B thực hiệnyêu cầu thứ hai của tình huống
-Giúp học sinh tìm ra các việc làm để giải quyết tình huống:
+Xét câu nói của A-Đánh giá đúng sai trong câu nói của A
+Kể tên một số phát minh khoa học mà em biết (học sinh B trả lời)
Sau các bớc trên giáo viên cùng cả lớp nhận xét rút ra nghĩa của từ “phát minhkhoa học” mà bài học đa ra
b Dạy nghĩa từ thông qua việc hớng dẫn học sinh sử dụng từ.
Là biện pháp học sinh sử dụng những từ cho sẵn đặt câu, những từ cho sẵn để tạolời nói Để sử dụng những từ cho sẵn yêu cầu học sinh phải hiểu đợc nghĩa của các từ đó
đồng thời phải hiểu đợc nghĩa của nó khi đi vào câu cụ thể Đây là biện pháp cụ thể củabiện pháp giải nghĩa từ bằng ngữ cảnh tuy nhiên yêu cầu rộng hơn đó là học sinh phải biếtdùng từ đặt câu, biết tạo những lời nói trong đó sử dụng những từ có thể cho sẵn hoặc ch acho sẵn Biện pháp giải nghĩa này giúp học sinh hiểu nghĩa văn chơng tinh tế, nghĩa bóngcủa từ Thực hiện biện pháp giải nghĩa này chúng ta thực hiện đợc phơng pháp dạy họcgiao tiếp đa từ vào những những đơn vị lớn hơn để dạy nghĩa cho học sinh
Trang 28Biện pháp này cũng có thể dùng để giải nghĩa từ trong giờ tập đọc, trong giờ tập làm văn Đây cũng là biện pháp có thể giải nghĩa đợc rất nhiều từ khó, mà học sinh Tiểu học khó có thể nhận biết nghĩa khi từ đó đứng độc lập một mình
Để thực hiện biện pháp này cần thực hiện theo các bớc sau đây:
Bớc 1: Giáo viên giới thiệu từ và yêu cầu học sinh sử dụng từ đặt câu; yêu cầuhọc sinh tạo lời
Bớc 2: Học sinh thực hiện nhiệm vụ
Bớc 3: Nhận xét đánh giá rút ra bài học
Ví dụ: Phần II: Luyện tập-Bài Nghiên cứu khoa học (Tiếng Việt 4-Tập 2) mục tiêu của
phần này giúp học sinh hiểu nghĩa từ “Uyên bác”
Giáo viên: Cô có từ “Uyên bác” Các em hãy đặt một câu sử dụng từ “Uyên bác”
để nói về một ngời có kiến thức sâu rộng
Học sinh: Đặt câu
Giáo viên: Nhận xét đánh giá Vậy qua việc đặt câu em hiểu gì về từ “Uyên bác” ? Học sinh: trả lời: Uyên bác là có kiến thức sâu rộng
c Dạy nghĩa từ thông qua các giờ học khác
Nh chúng ta đã biết, tất cả các môn học và các phân môn Tiếng Việt đều có vai trò
to lớn trong dạy từ nói chung và dạy nghĩa từ nói riêng Dạy từ phải quán triệt nguyên tắc
đồng bộ Chơng trình tiểu học đã ghi rõ từ ngữ phải đợc dạy trên tất cả các giờ học khác.Dạy từ phải trở thành một bộ phận không thể thiếu đợc của mỗi giờ học ở Tiểu học
+Dạy nghĩa từ cho học sinh qua giờ Học vần:
Dạy học vần có mục đích trang bị cho học sinh một công cụ mới-chữ viết.Dạy họcvần là dạy đọc viết sơ bộ tức là giải quyết mối quan hệ âm thanh-chữ viết, nhng hứng thú
đọc viết sẽ đợc tăng lên nhiều lần khi ngời ta đọc viết những điều có nghĩa Chính vì vậytrên giờ dạy học vần có dạy nghĩa từ
Ví dụ; Khi dạy vần “oai” giáo viên đa chiếc máy điện thoại xem đó là đồ dùng trực
quan, kích thích hứng thú học vần Chính lúc đó, giáo viên đã làm thêm đợc nhiệm vụ dạynghĩa của máy điện thoại bằng biện pháp giải nghĩa trực quan
+Dạy nghĩa từ qua giờ Tập đọc: Mục đích cuối cùng của giờ tập đọc là thông hiểu
bài học Muốn hiểu một văn bản trớc hết phải hiểu nghĩa các từ tạo nên văn bản Nên dạynghĩa từ là việc làm không thể thiếu ở giờ tập đọc
Trên giờ Tập đọc, giáo viên phải làm cho học sinh hiểu nghĩa một số từ cần thiết,hiểu đợc nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa văn chơng của từ ngữ
Ví dụ: Khi dạy khổ thơ đầu bài Chùm hoa giẻ (Tiếng Việt 3) giáo viên phải dạy nghĩa các từ: hơng lạ, thơm hoài, xôn xao.Các từ này đợc dạy nghĩa theo những cách khác nhau: hơng lạ đợc dạy bằng biện pháp ngữ cánh: “Gió về đa hơng lạ” nghĩa là gió về đem
đến mùi hơng thơm một cách lạ lùng Thơm hoài đợc giải nghĩa (cho học sinh miền Bắc) bằng đồng nghĩa: thơm hoài là thơm mãi Xôn xao có thể đợc dạy nghĩa bằng ngữ cánh
(thơm xôn xao ở đây ý nói rất thơm) hoặc có thể dùng biện pháp đặt trong thế đối lập đểlàm nổi bật cái hay của cách dùng từ
+Dạy nghĩa từ cho học sinh trong giờ Tập làm văn: Chính là dạy nghĩa từ bằng
phơng pháp dạy học giao tiếp
+Dạy nghĩa từ cho học sinh qua môn Toán: Trớc hết môn Toán dạy nghĩa từ cho
học sinh theo cách riêng của mình: Cung cấp cho học sinh một trờng từ vựng Toán học
Điều đáng lu ý là những từ ngữ ở đây là những thuật ngữ do đó nghĩa của từ đợc hìnhthành cùng với việc hình thành khái niệm
Ví dụ: Khái niệm một chục (Đồng thời là từ một chục) cũng đợc dạy bằng trực
quan chuyển từ ngoài vào trong nh sau: Giáo viên cho học sinh đếm mời que tính từ một
đến mời Giáo viên lấy dây buộc mời que tính thành một bó và nói: “mời que tính gộpthành một chục que tính” Cuối cùng khái niệm một chục đợc nêu trong một định nghĩabằng lời: “Mời đơn vị gộp thành một chục” hoặc “Một chục bằng mời đơn vị”.Con đờng
đi cũng nh định nghĩa này cũng trùng khớp với việc dạy nghĩa từ bằng biện pháp địnhnghĩa
Nh vậy các biện pháp dạy nghĩa từ cho học sinh thông qua các môn học khác vẫn
là những biện pháp: trực quan, định nghĩa ngữ cảnh Nhng biện pháp đó không có gì làmới cả nhng chúng tôi vẫn đa vào là vì thiết nghĩ sử dụng các biện pháp này trên các môn
Trang 29học khác nhằm dạy nghĩa từ cho học sinh ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau tạonên sự phong phú đa dạng trong dạy nghĩa từ cho học sinh Để việc dạy nghĩa từ cho họcsinh không gây cảm giác khô khan, nhàm chán, chúng ta nên dạy nghĩa từ thông qua cácmôn học khác
II xây dựng hệ thống bài tập để dạy nghĩa từ
Tơng ứng với các biện pháp nêu ở mục I Chúng tôi tiến hành xây dựng một số bàitập để dạy nghĩa từ theo các biện pháp đó
1 Biện pháp dạy nghĩa từ bằng cách đặt học sinh vào tình huống giao tiếp.
Hệ thống bài tập này yêu cầu học sinh giải quyết các tình huống giao tiếp mà giáo viên đa
ra Mục đích của các bài tập này là giúp học sinh tìm ra những nghĩa khác nhau của từ,tìm ra từ cần thiết để dùng trong các tình huống đa ra
Bài tập hiểu nghĩa từ.
Bài tập 1: Cả nhóm hẹn nhau 7 giờ có mặt tại cổng trờng Mới 7 giờ kém 10 đã
thấy nam đến, Hào nói:
“A! Nam gia nhập quân đội từ khi nào vậy ? ”
Theo em trong câu nói của Hào từ “gia nhập quân đội ” có nghĩa là gì ?
Bài tập này nhằm mục đích dạy cho học sinh nghĩa của từ “quân đội”
Bài tập 2: Để dạy cặp từ “có-không” cho học sinh giáo viên cho học sinh tình
b Muốn hỏi xem Hà có hai bút không
Bài tập 3: Để dạy học sinh nói lời “cảm ơn”-trong giao tiếp nói năng hàng ngày
chúng ta có bài tập sau:
Điền lời của em vào chỗ trống :
a Cháu chào bác ạ ! Cháu xin phép bác cho cháu gặp bạn Dũng Cháu vào nhà đi, Dũng đang học bài đấy
-
b b Hà cho Lan mợn vở ghi bài Toán hôm qua với
-Đây Lan mang về, rồi chiều trả cho Hà nhé !
-
c Hạnh cho tớ mợn cái bút nhé !
c -ừ !
d -
Bài tập 4: Để dạy học sinh nghĩa của các thành ngữ, tục ngữ trong chủ đề: trò
chơi-đồ chơi-tuần16(Tiếng Việt 4-tập 2) Chúng ta có bài tập sau:
Bài tập 5: Để giải nghĩa từ “mùa màng” trong phần II-Luyện tập-Bài: Việc
đồng áng-Tiết 24 (Tiếng Việt 4-Tập 2)
Trang 30không”, dạy nghĩa của các thành ngữ, tục ngữ, dạy nghĩa từ tất cả đều đợc đặt trong cáctình huống cụ thể.
Để giải quyết đợc các tình huống đa ra, học sinh phải thực hiên theo các bớc
đã nêu trên mục 1 Thông qua việc giải quyết tình huống học sinh phải vận dụng đ ợcnghĩa của từ, nghĩa của thành ngữ, tục ngữ, những nghi thức đó vào thực tế giao tiếp ngônngữ của chính mình
Bài tập tìm từ.
Đây là loại bài tập đa ra những câu hỏi có từ cần giải nghĩa hoặc nhóm từ yêu cầuhọc sinh tìm những từ cùng nghĩa để thay thế hoặc điền tiếp Mục đích của loại bài tập nàygiúp học sinh hiểu đợc nghĩa của từ trong những ngữ cảnh nhất định đồng thời học sinhthông qua giải các bài tập chiếm lĩnh nghĩa của từ chứ không phải do giáo viên áp đặt.Học sinh tự chiếm lĩnh tự tìm ra sẽ lu giữ đợc lâu hơn việc giáo viên áp đặt Học sinh hiểucâu, từ đã cho nh thế nào thì các em tìm tiếp từ một cách phù hợp, giáo viên không áp đặtcách hiểu cho học sinh Để giải các bài tập này học sinh cần phải biết nghĩa của các từxung quanh từ cần tìm Sau đó thử chọn xem điền hoặc thay thế từ đã đúng cha Nói mộtcách khái quát để giải các loại bài tập tìm từ học sinh nên qua ba bớc:
Bớc thứ nhất: Phải đọc hiểu từ, câu đã cho
Bớc thứ hai: Tìm từ-đây là bớc quan trọng Học sinh phải có một tri thức nhất
định cũng nh khả năng liên tởng từ nhanh Đồng thời phải biết thử chọn để tìm ra từ phùhợp nhất
Bớc thứ ba: Kiểm tra đánh giá lại xem từ mình tìm đã đúng cha chính xác vàphù hợp cha
Sau đây là một số bài tập cụ thể:
+Bài tập 1: Em hãy tìm từ dùng sai trong các câu sau:
-Nhà bác học ngời ý Ga-li-lê đã phát minh ra những ngọn lửa trên mặt trăng.
-Nhà bác học, ngời Mỹ Ê-đi-xơn đã phát hiện ra bóng đèn điện.
-Các nhà khảo cổ đã phát minh ra những chiếc trống đồng Đông Sơn
-Kể từ khi phát minh ra ngọn lửa loài ngời đã tiến một bớc dài trên con đờng tới văn
minh
Mục đích của bài tập này giúp học sinh giải nghĩa từ phát minh, phát hiện,
trong bài Nghiên cứu khoa học-Tiết 27 (Tiếng Việt 4-Tập 2)
Cách giải: Học sinh tìm ra những từ dùng sai bằng cách thử-chọn những từkhông liên quan đến từ cần giải nghĩa ở câu thứ nhất từ dùng sai không phải từ nào khác
mà là từ “Phát minh” Ta thấy: từ phát minh không phù hợp với cách nói bởi “Ngọn lửa
trên mặt trăng” là một hiện tợng của tự nhiên con ngời không thể “Phát minh” ra đợc Vậy
từ dùng đúng ở đây phải là “Phát hiện” Tơng tự các câu sau tiến hành nh thế
+Bài tập 2: Em hãy tìm từ cùng nghĩa chỉ màu đen để điền vào chỗ trống trong các câu dới
đây:
-Bảng màu đen gọi là bảng
-Gạo (hoặc cơm) đã biến màu, không trắng gọi là gạo (hoặc cơm )
-Ngựa màu đen gọi là
-Gà màu đen gọi là gà
-Quả cà màu đen xỉn gọi là cà
-Mèo màu đen gọi là mèo
-Mắt màu đen gọi là mắt
-Đũa ăn cơm có màu đen gọi là đũa
-Chó màu đen gọi là chó
+Bài tập 3: Tìm và điền tiếp các từ cùng nghĩa vào mỗi nhóm từ dới đây và chỉ ra nghĩachung của từng nhóm:
Trang 31Trung thu trăng sáng nh gơng
Bác Hồ ngắm cảnh , nhớ thơng nhi đồng
(nhìn, xem, thơng nhớ, nhớ nhung, ngắm nghía, nhớ mong)
+Bài tâp 6: Bạn Oanh muốn chép đoạn văn của nhà văn Vũ Tú Nam tả giàn mớp Nhng cóvài chỗ bạn ấy không nhớ nhà văn dùng từ nào, đành để trong ngoặc đơn Em hãy giúpbạn tìm từ đúng, xoá những từ sai
Mấy bông hoa (vàng xuộm, vàng tơi, vàng ửng) đã nở ( sáng trng, sáng loáng, sángbóng) trên giàn mớp (xanh biếc, xanh lè, xanh mát) Cái giàn trên mặt ao ( soi, ngả, toả)bóng xuống làn nớc lấp lánh hoa vàng
+Bài tập 7: Tìm từ trong ngoặc đơn đồng nghĩa với mỗi từ sau:
h - Yêu trẻ, trẻ hay đến nhà Kính già già để tuổi cho
+Bài tập 9: Bằng việc giải nghĩa các từ : mới tinh, mới mẻ Hãy cho biết tại sao có thể nói:
- Quyển sách này mới tinh
- Công việc này còn mới mẻ với tôi
mà không thể nói:
-Quyển sách này mới mẻ
-Công việc này còn mới tinh với tôi
+Bài tập 10: “ Con đi trăm núi ngàn khe
Cha bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm”
(Tố Hữu)
Theo em trong câu thơ trên “trăm” có phải là 99 + 1 và “ngàn” có phải là 999 +1 haykhông ? Vì sao ?
+Bài tập 11: Em hãy cho biết ý nghĩa của việc dùng chữ một trong các câu thơ sau đây :
i Còn tôi tôi một gặp nàng mới thôi !
j Cũng ngời một hội, một thuyền đâu xa
k Bớc ra một bớc một dừng
l Một mình mình biết, một mình mình hay
2 Dạy nghĩa từ thông qua việc hớng dẫn học sinh sử dụng từ
Mục đích cuối cùng của dạy từ là để học sinh sử dụng từ trong hoạt động nóinăng.Các đo nghiệm cho thấy rằng có một số lợng từ rất lớn học sinh hiểu đợc nghĩa từnhng chúng không đi vào vốn từ tích cực, không đợc học sinh sử dụng trong giao tiếp củamình.Chính vì vậy dạy sử dụng từ rất quan trọng Nhiệm vụ cơ bản của dạy từ ngữ làchuyển vốn từ tiêu cực của học sinh thành vốn từ tích cực Mặt khác theo quan điểm dạytiếng Việt là dạy một công cụ giao tiếp, dạy học theo phơng pháp giao tiếp yêu cầu phảidạy học sinh sử dụng từ Chính vì vậy mà dạy sử dụng từ rất quan trọng Để thực hiệnnhiệm này, chúng tôi xây dựng hệ thống bài tập sử dụng từ
Những bài tập này nhằm làm giàu vốn từ của học sinh bằng cách hình thành ở các em
kĩ năng sử dụng từ Các bài tập này sẽ giúp học sinh nắm nghĩa và khả năng kết hợp của từ
Những bài tập sử dụng từ đợc dạy ở Tiểu học là: Bài tập chọn từ và điền từ; Bài tậpsắp xếp từ thành câu: Bài tập sắp xếp từ thành các nhóm vào bảng từ: Bài tập gạch chân:Bài tập đặt câu