Định hớng đổi mớiphơng pháp dạy học đợc nghị quyết TW lần 2 Ban chấp hành Trung ơng khoá VIII khẳng định : "Đổi mới mạnh mẽ phơng pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một c
Trang 1Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay ở nớc ta, vấn đề đổi mới phơng pháp dạy học diễn ra một cáchsôi động trên bình diện cả về lý luận cũng nh về thực tiễn Định hớng đổi mớiphơng pháp dạy học đợc nghị quyết TW lần 2 Ban chấp hành Trung ơng khoá
VIII khẳng định : "Đổi mới mạnh mẽ phơng pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp t duy sáng tạo của ngời học, từng bớc áp dụng phơng pháp tiên tiến, các phơng tiện dạy học hiện đại vào quá trình dạy học đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh" [32, Tr
Khoa học là phân môn chiếm vị trí quan trọng trong môn Tự nhiên - Xãhội Đây là phân môn tích hợp kiến thức của nhiều ngành khoa học thựcnghiệm nh : Vật lý, hoá học, sinh học Vì vậy, phân môn này có nhiều thuận lợi
để vận dụng các phơng pháp dạy học tiên tiến, hiện đại vào quá trình dạy học
để bớc đầu hình thành cho học sinh phơng pháp học tập mang tính chất tìm tòinghiên cứu, rèn luyện nếp t duy sáng tạo cho họ
Thực tiễn dạy phân môn Khoa học ở trờng tiểu học cho thấy, giáo viêncòn gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng phơng pháp dạy học Các phơngpháp dạy học truyền thống vẫn chiếm u thế, học sinh học tập còn thụ động Cácthí nghiệm khoa học trong bài còn mang tính chất minh họa Giáo viên còn tựmình trình bày, biểu diễn các thí nghiệm thực hành để minh hoạ cho kiến thứccủa bài học mà ít tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động này để các emchiếm tri thức khoa học một cách chủ động, thoả mãn đợc nhu cầu tìm tòi hiểubiết, óc tò mò khoa học của học sinh tiểu học Vì vậy các giờ học còn mangtính áp đặt, kiến thức mà học sinh chiếm lĩnh trong giờ học cha cao, học sinh ít
đợc tham gia vào quá trình dạy học
Việc tìm kiếm vận dụng những phơng pháp tiên tiến vào quá trình dạy học
ở tiểu học nói chung phân môn Khoa học nói riêng là vấn đề quan trọng đểhình thành cho học sinh những phơng pháp học tập độc lập, sáng tạo, qua đó để
Trang 2nâng cao chất lợng dạy học Một trong những phơng pháp có nhiều u điểm, đápứng đợc mục tiêu trên và có thể vận dụng tốt vào quá trình dạy học phân mônKhoa học ở tiểu học là phơng pháp "Bàn tay nặn bột" Trong những năm gần
đây, phơng pháp "Bàn tay nặn bột" bớc đầu đợc thử nghiệm vào quá trình dạyhọc phân môn Khoa học ở một số trờng tiểu học Việt Nam Tuy nhiên, việcnghiên cứu chỉ ở mức độ hạn hẹp, mang tính chất thử nghiệm ở một số bài họcthuộc chủ đề về không khí trong chơng trình khoa học lớp 4 Việc nghiên cứu
áp dụng phơng pháp này vào quá trình dạy học sao cho phù hợp với điều kiện
cụ thể của nhà trờng tiểu học Việt Nam là vấn đề hết sức cần thiết để góp phần
đổi mới phơng pháp dạy học Có nh vậy mới hình thành đợc cho học sinh
ph-ơng pháp học tập đúng đắn, giúp họ thực sự trở thành "chủ thể" tìm kiếm trithức Vì những lý do trên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu của mình là: Sửdụng phơng pháp "Bàn tay nặn bột" trong quá trình dạy học phân môn Khoahọc (môn Tự nhiên và Xã hội) ở bậc tiểu học"
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Phơng pháp "Bàn tay nặn bột" đợc đa vào giảng dạy ở trờng tiểu học ở Mỹ
từ những năm 90, là ý tởng sáng tạo của nhà vật lý ngời Mỹ từng nhận giảiNobel năm 1988 Leon Ledeman Tiếp đó Georges Charpak - nhà vật lý có têntuổi ngời Pháp đã kế tục và triển khai phơng pháp này tại một số trờng học ởParis và đã đạt đợc những thành công nhất định Họ chủ trơng cho học sinh tiểuhọc tiếp xúc với khoa học và cách nghiên cứu một vấn đề khoa học bằng việc
để chính các em tự tiến hành thí nghiệm dới sự định hớng, giúp đỡ của thầy côgiáo, tránh đợc tình trạng thầy cô giáo dạy học bằng cách thông báo cho họcsinh một cách đơn giản "chân lý là thế đấy" và bắt các em phải chấp nhận Một
số nớc Châu á, gần đây nhất là Trung Quốc cũng đã đa phơng pháp này vàocác trờng mẫu giáo và tiểu học ở Việt Nam, nhóm giảng viên ngành vật lý Tr-ờng Đại học s phạm Hà Nội gồm: PGS-TS Nguyễn Thị Thanh Hơng, PGS - TS
Lê Trọng Tờng, PGS - TS Đỗ Hơng Trà và cùng với nhóm sinh viên Khoa Vật
lý của trờng đã đa phơng pháp "Bàn tay nặn bột" vào thử nghiệm ở một số ờng tiểu học ở Hà Nội nh: Trờng Tiểu học Đoàn Thị Điểm, trờng cho làng trẻSOS và bớc đầu tổ chức các chuyên đề sinh viên khoa giáo dục tiểu học ở Đạihọc s phạm Hà Nội Tuy nhiên việc nghiên cứu chỉ ở mức độ thử nghiệm ở một
tr-số bài thuộc chủ đề không khí trong chơng trình khoa học lớp 4 mà cha đa ra
đ-ợc quy trình sử dụng phơng pháp này phù hợp với trờng tiểu học Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu :
Trang 3Chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu này nhằm góp phần vào việc đổi mới
ph-ơng pháp dạy học, qua đó nhằm nâng cao chất lợng dạy học phân môn Khoahọc ở nhà trờng tiểu học
4 Khách thể nghiên cứu và đối tợng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu : Phơng pháp dạy học phân môn Khoa học ở
bậc tiểu học
4.2 Đối tợng nghiên cứu : Sử dụng phơng pháp "Bàn tay nặn bột" trong
quá trình dạy học phân môn Khoa học ở nhà trờng tiểu học
5 Giả thiết khoa học : Nếu trong quá trình dạy học phân môn Khoahọc giáo viên biết sử dụng phơng pháp "Bàn tay nặn bột" theo một quy trìnhhợp lý, phù hợp với điều kiện cụ thể của trờng tiểu học Việt Nam thì sẽ pháthuy đợc tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh Qua đó, góp phân nângcao chất lợng dạy học phân môn này ở bậc tiểu học
6 Nhiệm vụ nghiên cứu :
6.1 Tìm hiểu cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
6.2 Điều tra thực trạng sử dụng phơng pháp dạy học phân môn Khoa họccủa giáo viên ở một số trờng tiểu học
6.3 Đề xuất và thực nghiệm quy trình sử dụng phơng pháp "Bàn tay nặn bột"
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu :
Trên loại bày trình bày tài liệu mới, với hình thức dạy học trên lớp phânmôn Khoa học lớp 4, 5
8 Phơng pháp nghiên cứu :
Khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng đồng bộ các phơng pháp sau:
8.1 Phơng pháp nghiên cứu lý thuyết : Tổng kết các tài liệu liên quan
đến đề tài nghiên cứu
8.2 Phơng pháp thực tiễn :
* Tổng kết kinh nghiệm dạy và học ở giáo viên và học sinh
* Phơng pháp quan sát việc dạy và học của giáo viên và học sinh ở trờngthực nghiệm
* Phơng pháp điều tra Ankét trên các đối tợng của giáo viên và học sinh
* Phơng pháp trò chuyện phỏng vấn giáo viên và học sinh
* Phơng pháp thực nghiệm s phạm
* Phơng pháp thống kê toán học để chứng minh độ tin cậy của các kết quảnghiên cứu
9 Những đóng góp của đề tài
Trang 4Đề tài của chúng tôi có những đóng góp sau : Đã làm sáng tỏ một số vấn
đề lý luận về phơng pháp "Bàn tay nặn bột" Đã xây dựng quy trình sử dụng
ph-ơng pháp "Bàn tay nặn bột" và tiến hành thử nghiệm ở một số bài học Đồngthời đã biên soạn một số giáo án mẫu sử dụng phơng pháp "Bàn tay nặn bột"vào quá trình dạy phân môn Khoa học
Chơng 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của
đề tài nghiên cứu
1 Cơ sở lý luận
1.1 Lý luận về phơng pháp "Bàn tay nặn bột" trong quá trình dạy học phân môn Khoa học ở tiểu học
1.1.1 Khái niệm phơng pháp dạy học tiểu học
Phơng pháp là một phạm trù hết sức quan trọng có tính chất quyết định
đối với mọi hoạt động Phơng pháp tồn tại gắn bó với mọi hoạt động của conngời A.N Krlốp đã nhấn mạnh tầm quan trọng của phơng pháp: "Đối với contàu khoa học, phơng pháp vừa là chiếc la bàn, lại vừa là bánh lái nó chỉ phơnghớng và cách thức hoạt động" [28] Về phơng diện triết học, phơng pháp đợchiểu là cách thức, con đờng, phơng tiện để đạt đợc mục đích nhất định
Trên cơ sở các khái niệm về phơng pháp nói chung, ngời ta đã xây dựngcác khái niệm về phơng pháp dạy học Cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều ýkiến, nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm phơng pháp dạy học
Iu.K Babanxki cho rằng : "Phơng pháp dạy học là cách thức tơng tác giữathầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục, giáo dỡng và phát triểntrong quá trình dạy học" Nhng một số tác giả lại quan niệm khác
Theo Dverep I.D "Phơng pháp dạy học là cách thức tơng tác giữa thầy vàtrò nhằm đạt đợc mục đích dạy học Hoạt động này đợc sử dụng trong cácnguồn nhận thức, các thủ thuật logic, các hoạt động độc lập của học sinh vàcách thức điều khiển quá trình nhận thức của thầy giáo [16]
I.I Lecne "Phơng pháp dạy học là hệ thống những hành động có mục đíchcủa giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh,
đảm bảo học sinh lĩnh hội học vấn [30]
Theo giáo s Nguyễn Ngọc Quang : "Phơng pháp dạy học là cách thức thựchiện của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất và lĩnh hội của thầy nhằmlàm cho trò tự giác, tích cực, tự lực đạt tới mục đích dạy học [28]
Trang 5Ngoài ra còn có nhiều cách định nghĩa khác nhau về phơng pháp dạy họcnhng chúng tôi cha có điều kiện đề cập đến Khi định nghĩa, các tác giả đã xéttrên nhiều mặt khác nhau của quá trình dạy học, có tác giả chú trọng tới nhậnthức của học sinh, có tác giả lại xét về mặt điều khiển học Tuy cha có địnhnghĩa thống nhất về phơng pháp dạy học nhng các tác giả đều thừa nhận rằng :phơng pháp dạy học có những đặc trng sau :
* Phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của học sinh, nhằm đạt
đ-ợc mục đích đề ra
* Phản ánh sự vận động của nội dung học vấn đã đợc nhà trờng quy định
* Phản ánh cách thức trao đổi thông tin giữa thầy và trò
* Phản ánh cách thức điều khiển nhận thức, kích thích và xây dựng độngcơ, tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra đánh giá kết quả
Từ sự phân tích các quan điểm trên, chúng tôi hiểu về phơng pháp dạy học
nh sau : Phơng pháp dạy học là cách thức hoạt động tơng tác giữa giáo viên
và học sinh, trong đó, giáo viên là ngời tổ chức, hớng dẫn trong phơng pháp dạy, học sinh là "ngời thợ chính" trong phơng pháp học, nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học.
Iu.K.Babanxki đề xuất một hệ thống phơng pháp dạy học gồm : Các
ph-ơng pháp tổ chức và hoạt động nhận thức, các phph-ơng pháp kích thích và xâydựng động cơ học tập, các phơng pháp kiểm tra, các phơng pháp này bao gồmcác phơng pháp dạy học cụ thể
N.V Savin đã đa ra các phơng pháp dạy học ở tiểu học, hệ thống đó gồmcác phơng pháp :
* Phơng pháp dùng lời nói : kể chuyện, giải thích, đàm thoại, làm việc
với sách giáo khoa
* Phơng pháp trực quan : quan sát, trình bày tài liệu trực quan, phim
đèn chiếu
* Phơng pháp thực hành luyện tập : miệng, viết, làm thí nghiệm.
Trang 6Các tác giả ở Việt Nam : Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ, Phó Đức Hoà đã đa
ra hệ thống các phơng pháp dạy học ở tiểu học bao gồm :
* Nhóm các phơng pháp dạy học dùng lời : Thuyết trình, đàm thoại,
làm việc với sách giáo khoa
* Nhóm các phơng pháp dạy học thực hành : Luyện tập, ôn tập, làm thí
nghiệm
* Nhóm các phơng pháp kiểm tra đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh:
Trên cơ sở các phơng pháp dạy ở tiểu học, căn cứ vào đặc điểm nhận thức,
đặc điểm phân môn Khoa học Bùi Phơng Nga và một số tác giả đã đa ra hệthống các phơng pháp dạy học phân môn Khoa học là : quan sát, hỏi đáp, thínghiệm, kể chuyển, điều tra, thảo luận và trò chơi
Đối với phân môn Khoa học, các phơng pháp nh : Thí nghiệm, quan sát,thảo luận là những phơng pháp chiếm u thế, đợc sử dụng nhiều nhất Tuy đây lànhững phơng pháp dạy học tích cực, nhng trong quá trình sử dụng chỉ dừng lại
ở mức độ giúp học sinh lĩnh hội kiến thức của từng bài Nhìn chung vẫn chaphát huy hết tính tích cực chủ động trong học tập của học sinh Việc hình thànhcho học sinh phơng pháp học, lối t duy, lập luận khoa học cha đợc quan tâm
Điều này cho chúng ta thấy giữa lý luận và thực tiễn áp dụng phơng pháp dạyhọc mới còn là một khoảng cách khá xa Làm thế nào để đa phơng pháp dạyhọc mới vào trờng tiểu học một cách sâu rộng, để có kết quả cao trong giảngdạy phân môn Khoa học là cả một vấn đề, mà giải quyết vấn đề này liên quan
đến nhiều yếu tố, trong đó có việc nghiên cứu sử dụng các phơng pháp dạy họcmới vào các môn học Vì vậy, chúng tôi khẳng định rằng : Việc nghiên cứu vấn
đề sử dụng phơng pháp "Bàn tay nặn bột" vào dạy học phân môn Khoa học, sẽgóp phần nâng cao chất lợng dạy học phân môn này và góp phần tích cực vàoquá trình đổi mới phơng pháp dạy học trong nhà trờng tiểu học
1.1.2 Khái niệm phơng pháp "Bàn tay nặn bột"
Phơng pháp "Bàn tay nặn bột" (Tiếng Anh gọi là "Hands on", tiếng Pháp
là La Main à la Pâte, dịch sang tiếng Việt Nam là "Bàn tay nặn bột") là cáchthức tổ chức cho học sinh tự nghiên cứu tìm ra cách lý giải thuyết phục chonhững kiến thức trong chơng trình học, thông qua các hình thức thảo luận, đềxuất và thực hiện phơng án thí nghiệm [31]
Ta cũng có thể hình dung phơng pháp "Bàn tay nặn bột" cũng giống nhcách ngời ta làm bánh, phải tự tay nặn bột làm ra cái bánh Nhng khác ở chỗ,
Trang 7ngời làm bánh chỉ làm ra những cái bánh theo một khuôn mẫu Còn ở phơngpháp này, ngời học sinh phải tự làm ra cái bánh theo ý nghĩa của riêng mình.Nghĩa là cho học sinh các dụng cụ thí nghiệm, đồ dùng học tập, học sinh tiếnhành vạch kế hoạch thực nghiệm để đi tìm tri thức, chân lý khoa học Nh vậy,phơng pháp này đặt học sinh vào vị trí của một nhà khoa học, các em có thể tựmình tìm tòi, khám phá ra kiến thức bài học thông qua việc độc lập tiến hànhcác thí nghiệm khoa học - dới sự giúp đỡ của giáo viên Vì vậy, việc tiên đoánhiện tợng và thiết kế phơng án thí nghiệm để kiểm tra tiên đoán đợc coi trọng và
đợc lặp đi lặp lại trong nhiều tình huống Đó là cách để các em bộc lộ quan điểmcủa mình Vì vậy, trong giờ học cần tạo những cơ hội để các em đa ra tiên đoán
và bộc lộ các lỗi của mình để sửa chữa Đó là sự vận động trí tuệ th ờng xuyêncho phép trẻ đa ra các quan niệm từ kinh nghiệm hàng ngày
1.1.3 Đặc điểm của phơng pháp "Bàn tay nặn bột".
* Phơng pháp "Bàn tay nặn bột" là một trong những con đờng nhằm tíchcực hoá hoạt động nhận thức của học sinh
* Là phơng pháp hoàn toàn mới, có mục đích làm tăng cờng khả năng độclập tự khám phá, tìm tòi, tự nghiên cứu trong quá trình lĩnh hội tri thức và đồngthời nâng cao khả năng tự học, phơng pháp học đúng đắn cho học sinh
* Phơng pháp này phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động học
và hoạt động dạy Thể hiện tính đúng đắn của lý luận về đặc điểm tâm sinh lýcủa lứa tuổi học sinh tiểu học
* Thể hiện sự hoạt động độc lập và hợp tác trong quá trình lĩnh hội tri thứccủa ngời học
* Phơng pháp này góp phần tích cực vào việc đổi mới phơng pháp dạy họchiện nay ở trờng tiểu học
1.1.4 ý nghĩa của phơng pháp "Bàn tay nặn bột"
Phơng pháp "Bàn tay nặn bột" là phơng pháp có nhiều u điểm, đóng vaitrò to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh Mở ranhiều triển vọng tốt đẹp nếu thực hiện lâu dài và có hệ thống đối với phơngpháp này Cụ thể :
a) Phát triển tri giác cho học sinh.
Đặc điểm tri giác của học sinh tiểu học là khi tri giác sự vật, hiện tợng ờng chỉ chú ý đến các đặc tính bên ngoài nh : kích thớc, hình dáng, màu sắc vàquan tâm đến các chi tiết riêng lẻ, cha phát triển khả năng t duy tổng hợp Khi
th-sử dụng phơng pháp "Bàn tay nặn bột" học sinh sẽ quan sát sự vật, hiện tợng
Trang 8một cách tỉ mỉ chính xác hơn, cùng lúc quan sát nhiều chi tiết và bắt đầu xuấthiện nhu cầu giải thích hiện tợng Qua sự độc lập, quan sát học sinh tự ghi chépnhững gì mình quan sát đợc Trình độ nhận thức của các em đợc nâng cao, các
em phát huy khả năng t duy sáng tạo trong học tập Mỗi thí nghiệm, mỗi vấn
đề khoa học các em suy nghĩ ra nhiều phơng án mới, đồng thời có khả nănglàm ra các dụng cụ thí nghiệm khác để chứng minh cho một chân lý
b) Phát triển trí tởng tợng.
Trí tởng tợng có vai trò rất quan trọng của mỗi một con ngời Trong hoạt
động khoa học, trí tởng tợng lại càng quan trọng hơn Đối với các nhà khoa họctrí tởng tợng góp phần to lớn trong việc khám phá, sáng chế phơng tiện, dụng
cụ, … phục vụ cho cuộc sống của con ng phục vụ cho cuộc sống của con ngời
Tởng tợng bắt nguồn từ hiện thực khách quan Trong dạy học giáo viêncần chú ý đến việc phát triển trí tởng tợng cho học sinh Dạy học theo phơngpháp "Bàn tay nặn bột" đáp ứng đợc yêu cầu trên qua việc tập cho học sinh t-ởng tợng dựa trên sự mô tả của ngôn ngữ, xây dựng nên biểu tợng mà khôngcần phải có sự vật thật đặt trớc mắt, nâng tởng tợng của học sinh từ chỗ dựa vàotrực quan cụ thể lên tởng tợng dựa vào ngôn ngữ, thông qua ngôn ngữ
Trong quá trình học sinh thao tác với dụng cụ thí nghiệm, hình ảnh sự vậthiện tợng đợc thể hiện có tính chất đầy đủ hơn và trọn vẹn hơn Sự sắp xếp cáchiện tợng khá chặt chẽ, đồng thời các em có khả năng gọt dũa những biểu tợng
cũ và sử dụng chúng để tạo biểu tợng mới Trí tởng tợng dựa trên ngôn ngữ củahọc sinh đã đợc phát triển
c) Rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo thực hành, thói quen tự tìm tòi và phát triển ngôn ngữ khoa học cho học sinh :
ở bậc học tiểu học, việc rèn luyện tốt kỹ năng, kỹ xảo, sử dụng khéo léonhững dụng cụ thí nghiệm đơn giản là một nhiệm vụ quan trọng Điều nàycũng có nghĩa, đi đôi với việc cung cấp kiến thức, cần phải hình thành cho họcsinh phơng pháp học Chẳng hạn, việc sử dụng các dụng cụ thí nghiệm khéoléo chính xác, hiệu quả là điều không thể thiểu đợc trong việc học tập các mônkhoa học thực nghiệm nh : Vật lý, hoá học, sinh học … phục vụ cho cuộc sống của con ng Trong dạy học, để rènluyện cho học sinh những kỹ năng này, tránh tình trạng đa các em vào thế bị
động, máy móc cần phải để các em chủ động nhận thức thế giới xung quanh
Sự tích cực sẽ làm cho t duy của các em phát triển nhanh hơn Khi học tập theophơng pháp này, những thao tác vụng về, bỡ ngỡ, thiếu linh hoạt, cha có thóiquen ghi các hiện tợng, các quá trình làm thí nghiệm vào vở của mình sẽ đợc
Trang 9học sinh nhanh chóng khắc phục bằng sự nhiệt tình tham gia công việc, thíchthú sáng tạo và phát hiện ra các bài thí nghiệm mới
Học sinh tiểu học tiếp cận với các hiện tợng, sự kiện khoa học qua sự biến
đổi các đặc tính bên ngoài của sự vật, hiện tợng và ngay cả các hoạt động hằngngày của các em nh : khi học, khi ăn, khi vui chơi giải trí, … phục vụ cho cuộc sống của con ng Vì vậy, các emtiếp thu các hiện tợng khoa học theo cách nhìn đơn giản và giải thích các hiệntợng đó bằng ngôn ngữ đời thờng Chẳng hạn, khi các em quan sát, nghiên cứumột sự vật hay một hiện tợng, nếu phát hiện ra một điều mới lạ thì các em sẽxuất hiện nhu cầu giải thích hiện tợng Để giải thích đợc hiện tợng đó cho ngờikhác nghe, buộc các em phải sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt, các em phải viết,phải có sự lập luận thuyết phục bằng ngôn ngữ khoa học, Đồng thời phải biếttrao đổi và lắng nghe ý kiến của ngời khác và biết bảo vệ ý kiến của mình trớctập thể, … phục vụ cho cuộc sống của con ng
Ví dụ : Quan sát các hạt vừng trên mặt trống lúc gõ trống, có em nói bằngngôn ngữ rất đời thờng : "Hạt vừng nhảy lên, nhảy xuống", em khác lại nói
"Hạt vừng rung rinh" … phục vụ cho cuộc sống của con ng Khi giải thích về sức cản không khí lên các vật rơi nh
dù, tờ giấy mỏng, học sinh đã nói : "Không khí đập vào dù không chui ra đợcnên cản không cho dù rơi", "vải có nhiều lỗ thủng thì không khí chui ra làm dùrơi nhanh hơn" Đó là cách mà các em nói về các hiện tợng vật lý bằng ngônngữ mà các em đã có và hiểu rõ Các em cũng đã sử dụng các thuật ngữ, cáckhái niệm khoa học đã đợc nghe, đợc nói đến để diễn tả các hiện tợng khoa họctheo cách mà các em cho là đúng, các em dùng khái niệm "nửa vòng tròn" đểmô tả hình bán cầu là hình dáng của chiếc dù khi đang rơi, còn khi làm thínghiệm với cái chai bịt cắt đáy, trên miệng chai lồng một quả bóng bay chabơm hơi, khi chai đợc nhấn từ từ vào bình, nớc làm ra lực cản, làm cho quảbóng phình to lên"
Học tập theo phơng pháp "Bàn tay nặn bột", học sinh là ngời chủ động đềxuất các phơng án, tìm cách giải quyết các phơng án và giải thích kết quả đãthu đợc Điều này có nghĩa là, học sinh phải tự tìm cách trình bày ý tởng, ph-
ơng án tiến hành thật rõ ràng, cụ thể để thuyết phục ngời nghe Trớc nhiệm vụ
đó học sinh phải vận dụng ngôn ngữ và khả năng sử dụng sắp xếp từ ngữ đểdiễn đạt
Những lúc "bí", các em biết nhờ sự giúp đỡ của bạn bè, thầy cô giáo Trớckhi nhờ giúp đỡ về một khái niệm hay một hiện tợng nào đó mà các em không
đủ vốn từ để diễn đạt, các em đã hiểu rất kỹ về sự vật, hiện tợng đó Vì vậy, khi
Trang 10tiếp nhận thuật ngữ, do ngời khác truyền đạt lại, các em đã có sẵn hình ảnh về
sự vật, hiện tợng nên nhanh chóng xây dựng mối quan hệ sâu sắc giữa thuậtngữ khoa học và nội hàm của nó Thông qua những hoạt động do mình tiếnhành, các em nhận ra trớc đây nhiều khái niệm còn hiểu lơ mơ hay thậm chíhiểu sai
Ví dụ về sự rơi trong không khí, các em cho rằng "Vật có dù thì sức rơinhẹ, vật không có dù thì sức gió đẩy xuống nên vật rơi nhanh hơn" Sau khi đãlàm thí nghiệm chế tạo dù, rồi tự quan sát khi thả, các em nhận thấy dù phồnglên, hay với tờ giấy mỏng đợc thả thì mặt giấy cong lên các em đã phát biểu lại
"không khí làm phồng cái dù, tờ giấy cản không cho rơi nhanh"
Nh vậy : Qua phơng pháp "Bàn tay nặn bột" ngôn ngữ của học sinh đợcphát triển nhanh
Cụ thể : Trong quá trình học tập bằng phơng pháp này đã khuyến khíchhọc sinh trao đổi về ngôn ngữ nói về những quan sát, những giả thuyết, nhữngthí nghiệm và những giải thích Một số trẻ khó khăn về ngôn ngữ trong một sốlĩnh vực nào đó đã phát biểu ý kiến một cách tự giác hơn Các thao tác tronghoạt động khoa học bắt buộc chúng phải làm việc tập thể mà phải đối mặt vớicác hiện tợng tự nhiên
Việc học tập theo phơng pháp "Bàn tay nặn bột" còn hình thành cho trẻtính độc lập, biết phê phán trớc những quan điểm phi khoa học Trẻ học cáchbảo vệ quan điểm của mình, biết lắng nghe ngời khác, biết thừa nhận trên cơ sởcủa lý lẽ, biết làm việc cho mục đích chung trong một khuôn khổ nhất định.Trong quá trình học tập phơng pháp này, học sinh có một quyển vở thựchành, lối viết, cách trình bày của học sinh rõ ràng hơn, chính xác hơn khi ta sửdụng phơng pháp này Nhìn vào quyền vở thực hành ta sẽ thấy rõ sự tiến bộ củahọc sinh trong cách viết nh thế nào Ban đầu có một số em cha biết cách ghichép những gì mình thấy, quan sát đợc Sau đó, khi đợc học vài ba buổi các em
đã biết cách ghi, lập luận rất có khoa học
d) Việc giảng dạy khoa học bằng phơng pháp "Bàn tay nặn bột"
sẽ hình thành cho học sinh phơng pháp học tập tích cực.
Nh chúng ta đã biết, tình trạng việc giảng dạy hiện nay ở nhà trờng tiểuhọc, ngời ta chỉ chờ đợi, chú ý đến việc nhồi nhét kiến thức cho học sinh.Những kiến thức bùng nổ trong thế kỷ XX phải đợc nhồi nhét trong suốt ngần
ấy năm học Chẳng hạn, chúng tôi chỉ đơn cử trong việc củng cố bài học chohọc sinh, những câu hỏi củng cố thờng là những câu hỏi nhắc lại kiến thức,
Trang 11kiểm tra kiến thức, ít khi ngời ta chú ý đến việc hỏi các câu hỏi nh: Làm thếnào để em biết đợc điều đó ? Làm cách nào để em biết đợc điều đó ?
Khi học bài về "Nớc" giáo viên củng cố bài chỉ hỏi nớc sôi ở nhiệt độ baonhiêu Nhng giáo viên rất ít khi hỏi làm thế nào để em biết đợc nớc sôi ở
1000C Hoặc khi học bài không khí cần cho sự cháy, củng cố bài giáo viên chỉhỏi không khí có vai trò nh thế nào đối với sự cháy, nhng giáo viên ít khi hỏilàm thế nào mà em khẳng định đợc "Không khí cần cho sự cháy" Rồi baonhiêu kiến thức khác buộc học sinh phải công nhận, không hiểu rõ đợc bảnchất hoặc không giải thích đợc : Rằng cây nến cần đến nớc, rằng vật chất cóthể chuyển từ dạng rắn sang dạng lỏng, từ thể lỏng sang thể khí; rằng cá voi làloài có vú, rằng trái đất tròn và quay quanh Mặt trời,… phục vụ cho cuộc sống của con ng Nh vậy, chỉ chú trọng
đến việc truyền thụ kiến thức mà quên đi một yếu tố hết sức quan trọng đó là :Bậc học tiểu học là bậc học phơng pháp, trong quá trình dạy học phải hìnhthành cho học sinh một phơng pháp học là điều quan trọng Phải xác định rằng
"Một cái đầu khôn ngoan còn hơn là một cái đầu nhồi nhét cho đầy" Việc "họcgiỏi" còn hơn là "giỏi học" Sử dụng phơng pháp "Bàn tay nặn bột" sẽ khắcphục đợc tình trạng trên Phơng pháp này sẽ giúp học sinh cách học, khả năng
tự học, tự nghiên cứu để thu thập thông tin trong mọi lĩnh vực của đời sống xãhội, có khả năng ứng xử mọi tình huống, độc lập suy nghĩ, giải thích hiện tợng
ở mọi góc cạnh mà không cần sự đỡ đầu của ngời khác, nghĩa là các em khámphá thế giới xung quanh ở mọi lúc, mọi nơi Khi trình bày một vấn đề nào đó sẽ
có sự lập luận rõ ràng, chặt chẽ, … phục vụ cho cuộc sống của con ng Có nh vậy mới tạo đợc nền s phạm lànhmạnh
e) Phơng pháp "Bàn tay nặn bột" sẽ hình thành cho học sinh thế giới quan khoa học đúng đắn.
Khi học tập theo phơng pháp, này học sinh có đợc vốn tri thức khoa họcphong phú và đa dạng, giúp học sinh giải thích đợc các hiện tợng tự nhiên, cócái nhìn đúng đắn về hiện tợng tự nhiên Nghĩa là nhìn thế giới tự nhiên mộtcách duy vật biện chứng
Ngoài ra, việc học tập theo phơng pháp "Bàn tay nặn bột" sẽ rèn luyện chohọc sinh đức tính tốt đẹp: cần cù, chịu khó, lòng kiên nhẫn, tính cẩn thận
Nh vậy, qua phân tích trên, chúng ta thấy phơng pháp "Bàn tay nặn bột"
có nhiều u điểm đối với việc dạy phân môn Khoa học cho trẻ Khi ở vai trò
ng-ời chủ động thiết kế và thực hiện công việc, học sinh có điều kiện nâng cao trigiác, học đợc cách quan sát sự vật hiện tợng một cách hoàn thiện, phát triển trí
Trang 12tởng tợng, lối t duy sáng tạo, hình thành các kỹ năng, kỹ xảo, hoàn thiện ngônngữ cũng nh có cách nhìn đúng đắn về thế giới quan khoa học, khả năng lậpluận và trình bày ý tởng, suy nghĩ của mình,
1.1.5 Các nguyên tắc của phơng pháp "Bàn tay nặn bột"
1 Học sinh quan sát một vật hoặc một hiện tợng của thế giới thực tại, phảigần gũi, có thể cảm nhận đợc và tiến hành thực nghiệm về chúng
2 Trong quá trình học tập, phải để cho học sinh độc lập suy nghĩ, trao đổi,tìm tòi để xây dựng kiến thức cho mình, là một hoạt động chỉ dựa trên sách vở
là không đủ
3 Các hoạt động của giáo viên đề ra cho học sinh đợc tổ chức theo các giờhọc nhằm đa đến một sự tiến bộ trong học tập, các hoạt động này gắn với ch-
ơng trình và ngành phần lớn là quyền tự chủ của học sinh
4 Dành thời gian thích hợp cho việc nghiên cứu một vấn đề khoa học,phải đảm bảo tính liên tục của các hoạt động và những phơng pháp s phạmtrong toàn bộ hoạt động của nhà trờng
5 Mỗi học sinh có một quyển vở thí nghiệm và họ trình bày trong đóbằng ngôn ngữ riêng của mình
6 Mục đích hàng đầu, đó là làm cho học sinh tiếp cận dần dần với cáckhái niệm khoa học và kỹ thuật, kèm theo một sự vững vàng trong diễn đạt nói
và viết, hình thành cách học
7 Gia đình, khu phố, phờng xã ủng hộ các hoạt động này của nhà trờng
8 Các nhà khoa học (ở các trờng đại học, viện nghiên cứu) tham gia cáccông việc ở lớp học bằng khả năng của mình
9 Có viện đào tạo giáo viên, giúp giáo viên về kinh nghiệm s phạm để dạyhọc
10 Giáo viên có thể trao đổi, học hỏi về các đề tài khoa học, vấn đề khoahọc những câu trả lời cho các câu hỏi, với các đồng nghiệp, các giảng viên vàcác nhà khoa học
1.1.6 Vai trò của giáo viên và học sinh trong việc sử dụng phơng pháp
"Bàn tay nặn bột".
a Vai trò của giáo viên
Ngời giáo viên ở đây không phải là truyền thụ những kiến thức dới dạngthuyết trình, trình bày mà là giúp học sinh xây dựng kiến thức bằng cách cùnghành động với họ
Trang 13Vì vậy, giáo viên có vai trò là ngời hớng dẫn, lãnh đạo, tổ chức cho họcsinh hoạt động, làm việc để chiếm lĩnh tri thức khoa học Giáo viên phải đa ranhững tình huống, các hoạt động, quyết định hành động đi liền với những chẩn
đoán về sự tiến bộ của học sinh, thu hẹp những cái có thể và chỉ ra các thôngtin nếu thấy cần thiết Làm cho học sinh học tập một cách tích cực trong giờhọc,… phục vụ cho cuộc sống của con ng Giáo viên là ngời trung gian giữa khoa học và học sinh, là ngời đàmphán với học sinh những thay đổi nhận thức liên quan đến những câu hỏi đợc
xử lý, với các thiết bị thực nghiệm thích đáng, với mô hình giải thích hợp lý,phải đảm bảo sự đón trớc và giải quyết các xung đột nhận thức hành động vớimỗi cá nhân học sinh cũng nh với mỗi nhóm học sinh và cả lớp Khi làm việcvới học sinh, giáo viên có thể đặt câu hỏi, gợi ý nhng không đợc phép áp đặthọc sinh làm theo, hiểu theo ý chủ quan của mình, câu hỏi phải là câu hỏi mở.Tuy nhiên, thế giới tự nhiên muôn hình muôn vẻ, sự tò mò ham hiểu biếtcủa học sinh, những thắc mắc, chúng sẽ đặt ra cho giáo viên những câu hỏi bấtngờ, khó giải thích nổi, thì ở một mức độ nào đó không phải yêu cầu giáo viênphải biết tất cả Họ có thể nói "Tôi không biết, chúng ta hãy quan sát và cũngthử tìm xem"
b Vai trò của học sinh.
Phơng pháp dạy học này đặt học sinh vào vị trí của nhà nghiên cứu, tíchcực, chủ động, tự khám phá, phát hiện ra tri thức, chân lý khoa học
Học sinh sẽ học cách trả lời và tổ chức hành động của họ để có thể đa racâu trả lời thích đáng Công việc này đòi hỏi học sinh phải mày mò việc nghiêncứu thông tin Nghiên cứu những phơng tiện có sẵn để trả lời, chính nó đã đềcập đến việc tập làm khoa học
Trớc một vấn đề khoa học đợc nêu ra, dới sự gợi ý tuỳ theo mức độ củagiáo viên, học sinh sẽ chia nhóm, đề xuất quan điểm riêng trong nhóm, thảoluận, đa ra quan điểm, phơng án thí nghiệm nhằm lý giải tiên đoán của mình.Mỗi học sinh, mỗi nhóm có một quyển vở để tự phác hoạ, thiết kế thí nghiệmcủa mình và tự rút ra kết luận, có thể diễn đạt bằng những sơ đồ, hình vẽ haylời văn diễn giải Quyển vở này sẽ đợc học sinh lu lại và học sinh sẽ tự điềuchỉnh quan điểm, phơng án thực hiện khi tìm đợc câu trả lời có lý hơn Thiết bị
để làm thí nghiệm cũng có thể do học sinh tự lựa chọn theo ý đồ của riêngmình, của nhóm Có thể chọn một vài thứ trong số đồ dùng thí nghiệm có sẵntrong phòng thí nghiệm, hoặc va li đồ dùng thí nghiệm nhng học sinh cũng cóthể tự su tầm, tự tạo thiết bị thí nghiệm từ các nguyên vật liệu có sẵn trong đời
Trang 14sống Với cách này, không nhất thiết học sinh chỉ có một phơng án thống nhất
mà có thể bằng phơng án để tìm ra kết luận
Nh vậy, việc học tập theo phơng pháp này đã phát huy tối đa sự hoạt động
độc lập nhận thức của học sinh tiểu học
1.1.7 Việc sử dụng đồ dùng dạy học ở phơng pháp "Bàn tay nặn bột".
Dạy học theo phơng pháp "Bàn tay nặn bột" không đòi hỏi phải sử dụng
đến những đồ dùng thí nghiệm phức tạp, hiện đại, đắt tiền mà đồ dùng ở đâykhông quá tốn kém, đa số là các vật dụng rẻ tiền, dễ kiếm, dễ sử dụng : vàiloại hoa của cây cam, cây bởi, cây hồng … phục vụ cho cuộc sống của con ng và một con dao mỏng, các em cóthể xác định đợc các cơ quan sinh sản và sự thụ phấn của cây nh thế nào; mộtngọn nến, một cốc thuỷ tinh và một chậu nớc các em xác định đợc các thànhphần của không khí; một miếng đất trồng, một ống bơ, một tấm thuỷ tinh, mộtngọn lửa các em có thể xác định đợc các thành phần của đất; một song nớc,một bếp lửa các em có thể hình dung vòng tuần hoàn của nớc trong thiên nhiên;một loài cây nào đó đợc đặt trong phòng kín có lỗ để ánh sáng lọt vào, quan sátcác em có thể thấy đợc tính hớng dơng của thực vật, rồi que diêm, hạt vừng,con chuột, tấm ni lông, con ếch … phục vụ cho cuộc sống của con ng Miễn là giáo viên biết tận dụng và huy độngmọi ngời cùng làm, cùng kiếm Đặc biệt là huy động học sinh tìm kiếm, tự làm
đồ dùng thí nghiệm
Chúng ta có thể thấy : Một cái chuồng của một gia đình nào đó bỏ đi cóthể dùng để nuôi chuột nhắt, chuột hang, chuột bạch hay chim Một bể kínhtrong ấy ngời ta lót một lớp sỏi nhỏ rồi một lớp đất, đóng lại bằng một tấm ván,một tấm kệ cũ, có thể trở thành nơi để nuôi sâu bọ, giun đất, ốc sên mà họcsinh tìm thấy ở góc sân trờng, sân vận động, trên đờng đi đến trờng hay mộtbuổi đi chơi.… phục vụ cho cuộc sống của con ng
Ta cũng có thể cho các em nuôi sâu trong những đáy chai bằng nhựa bịtbằng một miếng vải hay chất dẻo Các em sẽ thú vị tạo ra môi trờng thiên nhiêncho những con vật mà mình nuôi và tìm cách cho chúng ăn một cách đúng đắn.Những dụng cụ thí nghiệm dễ kiếm, dễ làm đồng nghĩa với việc tiến hànhthao tác thí nghiệm cũng hết sức đơn giản không cần phải có sự hiểu biết kỹthuật gì đặc biệt
Việc chăn nuôi cho phép trả lời rất nhiều câu hỏi Con vật di chuyển nhthế nào? Làm sao nó nhảy đợc? Chân nó gập lại nh thế nào? Các em có thể sosánh cách đi lại với chính bản thân mình có chỗ nào giống nhau Con vật ăn nhthế nào? Bộ răng của nó giống với bộ răng của các con vật khác không?
Trang 15Nó có thể thực hiện một số thí nghiệm đơn giản mổ đùi của một con ếch
có thể cho nó thấy các bắp thịt, các gân, vai trò của các dây chằng Mô hìnhcủa cánh tay và cẳng chân, có thể giúp nó thấy vai trò đối kháng của bắp thịt vàchỉ rõ những điểm mới chính xác của gân và dây chằng Trong các bể kính vàchuồng thú, trẻ có thể quan sát đợc sự đẻ trứng, sinh con và các hành vi kháccủa con vật (ăn mồi, chạy trốn, chăn sóc con,… phục vụ cho cuộc sống của con ng) Các em có thể thử nghiệmnhu cầu của cây bằng cách làm thay đổi các thông số: đất, nớc, ánh sáng, nhiệt
độ, không khí, bằng cách so sánh và phân tích kết quả thực nghiệm Các em sẽphát hiện ra rằng: chỉ cần thay đổi mỗi lần một thông số là có thể kết luận khácnhau Và trong quá trình ấy, học sinh sẽ đặt ra các câu hỏi thắc mắc Tại saovẫn có những loại cây sống bám trên cây khác mà không cần đến yếu tố đất?Tại sao sự nảy mầm không chỉ xẩy ra trong đất mà còn cả trên chất nhựa, từgiấy? Nh vậy trong hạt có gì? Cây trồng có ăn đất không? Tại sao lại phải bónphân cho cây?
ở đây chỉ cần vài thao tác là ta có thể chứng minh hiện tợng hớng đấtbằng cách cho hạt nẩy mầm ở những vị trí khác nhau Quan sát một đám lámục trong rừng, cho phép trẻ phát hiện sự phân huỷ và biết chu trình biến đổicủa các chất Trong quá trình thực nghiệm, thầy giáo không định hớng các giảthuyết mà để cho các em tự nghĩ ra các giả thuyết, các thí nghiệm làm sao đểcác em tự thực hiện đợc cái mà mình đi tìm Sau đấy, bằng cuộc tranh luận đầy
lý lẽ, các em đi đến kết luận chặt chẽ hơn, thuyết phục hơn,… phục vụ cho cuộc sống của con ng
1.2 Đặc điểm của phân môn Khoa học và việc sử dụng phơng pháp
"Bàn tay nặn bột" trong dạy học môn học này.
Từ năm học 1995 - 1996, môn Tự nhiên - Xã hội nói chung và phân mônKhoa học nói riêng đợc đa vào dạy đại trà ở các trờng tiểu học trong toàn quốc
Đây là phân môn có vị trí quan trọng ở bậc tiểu học Mục tiêu của phân môn làcung cấp những kiến thức cơ bản, ban đầu về thế giới tự nhiên, gần gũi với đờisống hằng ngày của các em Bao gồm các lĩnh vực: Vật lý, hoá học, sinh học,Một số ứng dụng thực tế nhằm giúp học sinh tiếp cận với các môn khoa học
… phục vụ cho cuộc sống của con ng
tơng ứng với các lớp trên và có vốn kiến thức để vào đời Trên cơ sở cung cấp
hệ thống những kiến thức về khoa học tự nhiên, sẽ hình thành cho các em
ph-ơng pháp học tập các môn khoa học thực nghiệm, khám phá những dấu hiệucủa sự vật, hiện tợng trong thế giới tự nhiên, hình thành cho các em kỹ năngquan sát, trí tởng tợng, làm thí nghiệm, thực hành kỹ năng phán đoán rút ranhững kết luận khoa học Qua đó, giáo dục cho các em tình yêu thiên nhiên,
Trang 16đất nớc và con ngời Khơi dậy ở học sinh lòng say mê, ham hiểu biết khoa học,bớc đầu hình thành cho các em thế giới quan khoa học Biết vận dụng nhữngkiến thức khoa học vào cuộc sống hàng ngày, giúp học sinh nhận thức đợc rằngmình cũng chính là một thực thể, một bộ phận của thế giới tự nhiên và ý thức
đợc với chính bản thân mình
Mục tiêu của phân môn Khoa học nh vậy là phù hợp với thực tiễn dạy học
ở bậc tiểu học, đáp ứng đợc yêu cầu của xã hội hiện đại ngày nay Đồng thờicũng góp phần đáp ứng mục tiêu đào tạo kép của giáo dục tiểu học (vừa có thểhọc lên lớp trên, vừa có thể ra đời hoà mình vào đời sống cộng đồng xã hội)
Để đáp ứng mục tiêu trên, nội dung kiến thức khoa học đợc đa vào giảngdạy trong nhà trờng tiểu học thuộc về các lĩnh vực chủ yếu nh vật lý, hoá học,sinh học, … phục vụ cho cuộc sống của con ng Tuy nội dung kiến thức đợc đa vào chơng trình rất cơ bản, ban
đầu, nhng chơng trình khoa học đã đề cập đến những vấn đề mà các cấp họckhác cũng đã đặt ra nh : nghiên cứu về chất, nghiên cứu về những quá trình màtrong đó những trạng thái của chất bị biến đổi (tính chất lý học, nghiên cứu vềnhững quá trình mà trong đó có sự biến đổi từ chất này sang chất khác) Mặc
dù đơn giản, nhng kiến thức khoa học vẫn là những kiến thức đợc lựa chọnthuộc các khoa học khác nhau trong cùng một ngành khoa học nh : cơ học, âmhọc, nhiệt học, điện học, quang học, … phục vụ cho cuộc sống của con ng thuộc ngành khoa học vật lý; ngànhkhoa học hoá học nh cả hoá hữu cơ và hoá vô cơ
Do đặc điểm nhận thức của học sinh, kiến thức khoa học chỉ dừng lại ởmức độ vĩ mô mà cha đi sâu vào cấu trúc vi mô của các chất, các mối quan hệ
có tính quy luật của sự vật hiện tợng trong tự nhiên, chỉ nghiên cứu về mặt địnhtính mà cha đi sâu về mặt định lợng Trọng tâm kiến thức đợc tập trung chủ yếuvào những vấn đề chủ yếu sau : Cấu tạo chất, tính chất lý học của các vật thể;tính chất hoá học của các chất Một số chất cơ bản gần gũi với học sinh nh :Than mỏ, dầu mỏ, kim loại hợp kim, sành sứ, thuỷ tinh, vôi, xi măng; về thếgiới hữu sinh nh : động thực vật và con ngời; ảnh hởng của các nhân tố vô sinh
đối với sự sinh sản và phát triển ở động thực vật Quá trình trao đổi chất củacon ngời với môi trờng bên ngoài; sự sinh sản và phát triển của con ngời; mốiquan hệ tác động qua lại giữa con ngời và môi trờng
Từ những phân tích đặc điểm trên, chúng tôi nhận thấy, đây là một phânmôn mà giáo viên có cơ hội để đổi mới phơng pháp dạy học, đa phơng phápdạy học mới, tích cực vào giảng dạy, đặc biệt là phơng pháp "Bàn tay nặn bột".Việc vận dụng phơng pháp này vào quá trình dạy học phân môn Khoa học ở
Trang 17nhà trờng tiểu học Việt Nam là hoàn toàn hợp lý, là một trong những phơng ớng đổi mới phù hợp Hớng đổi mới này không những phát huy đợc vốn sống,vốn kinh nghiệm, phát triển cá tính, trí thông minh, óc phê phán, tạo nên mốiquan hệ với thế giới mà còn phù hợp với xu hớng đổi mới phơng pháp dạy học
h-và yêu cầu đào tạo con ngời trong giai đoạn hiện nay Khi sử dụng phơng phápdạy học này sẽ khắc phục đợc tình trạng giáo viên truyền thụ kiến thức mộtchiều, theo lối áp đặt, bắt buộc học sinh phải nhớ, phải thuộc; sử dụng phơngpháp dạy học này giáo viên trở thành ngời tổ chức, lãnh đạo, định hớng, tạo
điều kiện tốt ta cho các em tiếp cận với đối tợng học tập, đợc tham gia, trao đổi,bàn bạc, sửa chữa để rút ra tri thức; học sinh đóng vai trò là một chủ thể nhậnthức, các em tiếp nhận nhiệm vụ học tập thông qua việc tích cực hoạt động
Tóm lại : Sử dụng phơng pháp "Bàn tay nặn bột" vào dạy học phân môn
Khoa học thực chất là giáo viên chuyển nội dung kiến thức khoa học thànhnhiệm vụ học tập cho học sinh, tổ chức cho các em vạch kế hoạch, tự tìm tòikhám phá huy động vốn kiến thức của bản thân, của tập thể để tìm kiếm trithức bằng chính việc độc lập tiến hành các thí nghiệm, thực hành khoa học, qua
đó để rút ra những kiến thức của bài học
1.3 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học.
Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học có nhiều đặc điểm Nhng ở
đây chúng tôi chỉ phân tích một số đặc điểm mà đề tài chúng tôi quan tâm
* Đặc điểm về tri giác : Tri giác của học sinh tiểu học có đặc điểm là tơi
sáng, sắc bén, "tò mò, ham hiểu biết và có tính chất trực quan" [2], [15] vàtrong hoạt động của hệ thần kinh cấp cao, hệ thống tín hiệu thứ nhất chiếm uthế Tri giác của học sinh trong những năm đầu của bậc tiểu học thờng gắn vớihành động, với hoạt động thực tiễn Tri giác sự vật có nghĩa là làm một cái gì
đó với sự vật, cầm nắm, sờ mó vật ấy
Tri giác của trẻ (đặc biệt là ở đầu bậc tiểu học) thờng đợm màu sắc cảmxúc Trẻ quan sát trớc hết những sự vật, hiện tợng rực rỡ, sinh động Số lợng chitiết quan sát đợc còn ít, tri giác còn chung chung, mang tính chất đại thể,không chủ định Học sinh cũng thờng dễ quên mục đích quan sát ở giai đoạn
2 có phát triển hơn
Từ những đặc điểm tri giác trên cho thấy khi tổ chức cho học sinh quansát trong quá trình dạy học phân môn Khoa học, giáo viên cần phải tạo điềukiện cho học sinh đợc tiếp xúc trực tiếp các sự vật, hiện tợng, đợc quan sátchúng bằng các giác quan của mình
Trang 18Mặt khác, cần phải dạy cho trẻ biết phát hiện những dấu hiệu thuộc tínhbản chất của sự vật và hiện tợng, từ đó, phát triển óc quan sát và năng lực quansát cho các em.
* Đặc điểm t duy: T duy của trẻ mới đến trờng chủ yếu là t duy cụ thể
mang tính hình thức, dựa vào những bề ngoài của sự vật và hiện tợng TheoPeopiagie "T duy của trẻ đến 10 tuổi về cơ bản còn ở giai đoạn những thao tác
cụ thể, dựa trên cơ sở có thể diễn ra quá trình hệ thống hoá các thuộc tính, tàiliệu trong kinh nghiệm trực quan" [7]
Trong hoạt động phân tích tổng hợp : Hoạt động phân tích của học sinh
đầu bậc tiểu học (lớp 1, 2, 3) về hình thức cũng nh nội dung rất đơn giản nênkhi tiến hành phân tích tổng hợp các em thờng căn cứ vào những đặc điểm bênngoài mang tính cụ thể Lên lớp 4, 5 phân tích tổng hợp trong óc phát triểnmạnh, với khái niệm dễ hiểu các em phân tích trong óc một cách tơng đối tốt.Trong hoạt động trừu tợng khái quát hoá : Học sinh lớp 1, 2, 3 chủ yếudựa trên dấu hiệu bên ngoài dễ nhận thấy, dễ xúc động, lên lớp 4, 5 mới có thểdựa vào những dấu hiệu bên trong (bản chất)
Trong phán đoán suy luận : Học sinh ở những lớp đầu bậc tiểu học thờngphán đoán vào những dấu hiệu duy nhất, nên hay phán đoán khẳng định mà chasuy nghĩ xem khả năng nào là hiện thực, nguyên nhân nào là đúng hơn cả, cònvới học sinh lớp 4, 5 đã có thể chứng minh lập luận, phán đoán cho mình vềtrình độ suy luận có thể dựa trên các tài liệu trừu tợng hơn Song, để học sinhsuy luận có thể dựa trên các tài liệu trừu tợng hơn và vẫn cần có tài liệu trựcquan
Chính từ đặc điểm t duy nêu trên, khi thiết kế bài học có sử dụng phơngpháp "Bàn tay nặn bột" cần chú ý đến việc gắn điều trông thấy với hoạt độngthực tiễn và nội dung của bài học
* Đặc điểm tởng tợng : Tởng tợng là một trong những quá trình nhận thức
quan trọng, tởng tợng của học sinh tiểu học đợc hình thành và phát triển tronghoạt động học và các hoạt động khác của các em Theo các công trình nghiêncứu về tâm lý học, ở các lớp đầu bậc tiểu học hình ảnh của tởng tợng còn đơngiản cha bền vững Nhng càng về các lớp cuối cấp, hình ảnh tởng tợng của các
em càng bền vững và gần thực tế hơn, đặc biệt lúc này các em đã bắt đầu cókhả năng tởng tợng dựa trên những tri giác đã có từ trớc và dựa trên ngôn ngữ[2, 15]
Đối với học sinh tiểu học, tình cảm chiếm vị trí đặc biệt, vì nó là khâutrọng yếu gắn liền nhận thức với hành động của các em Đối tợng gây xúc cảm
Trang 19cho học sinh tiểu học thờng là những sự vật, hiện tợng cụ thể, những câuchuyện sinh động Do đó, những bài giảng khô khan, khó hiểu, nặng nề về lýluận không gây cho học sinh những cảm xúc tích cực, thậm chí làm cho các emmệt mỏi, chán chờng Nói chung hoạt động trí tuệ của các em đợm màu sắcxúc cảm, các em suy nghĩ bằng "hình thức", "xúc cảm", "âm thanh", các quátrình nhận thức, hoạt động của các em đều chịu sự chi phối mạnh mẽ của cảmxúc, và đều đợm màu cảm xúc [2, 15, 19] Từ đặc điểm này ta thấy, trong quátrình dạy học, có thể khơi dậy ở trẻ xúc cảm qua việc tổ chức các hoạt độngcho học sinh để các em tích cực chủ động tìm hiểu khám phá tri thức, nâng caohiệu quả học tập.
* Sự tò mò, hứng thú và lòng khát khao khám phá thế giới, ham hiểu
biết khoa học : Thế giới tự nhiên mang đến cho các em bao điều bí ẩn Sự tác
động trực tiếp của thế giới hàng ngày qua mắt trẻ làm cho trẻ nhìn dới con mắtcủa sự lạ lẫm mà các em cần phải học, cần phải biết về chúng Các em khôngchỉ bằng lòng với việc quan sát mà còn thao tác để hiểu biết, khám phá thế giới
tự nhiên Các em sẽ sung sớng đến cuồng nhiệt khi mình phát hiện ra một điềugì mới lạ liên quan đến thực tế và thể hiện trên vẻ mặt vui tơi khi tìm ngời thân
để chia sẻ niềm vui của mình Thậm chí có những em hứng thú đến mức cứ lặp
đi lặp lại nhiều lần một thí nghiệm
ở nhà trờng tiểu học, hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo Do đó, nhucầu học tập của học sinh ngày càng có ý nghĩa quan trọng hơn đối với sự pháttriển trí tuệ Chính nhu cầu học tập, lòng ham hiểu biết khoa học đã trở thành
động cơ thúc đẩy các em tự giác tích cực học tập Theo các nhà tâm lý học "ởbậc tiểu học phần lớn học sinh cha hứng thú chuyên biệt với từng môn học, các
em cũng cha chú ý đi sâu với môn học Việc các em học sinh tiểu học thíchmôn nào, bài nào phụ thuộc vào khả năng s phạm của ngời giáo viên" [12].Các nhà nghiên cứu còn cho thấy "Động cơ học tập không có sẵn, cũng khôngthể áp đặt từ ngoài vào mà phải hình thành dần trong quá trình học sinh ngàycàng đi sâu và chiếm lĩnh đối tợng học tập dới sự hớng dẫn của giáo viên Nếutrong tiết học, giáo viên tổ chức tiết học cho học sinh phát hiện ra những điềumới lạ thì dần dần quan hệ thân thiết giữa các em với tri thức khoa học sẽ đợchình thành, học tập dần dần trở thành một nhu cầu không thể thiếu đợc của các
em và sẽ thúc đẩy các em vơn tới dành lấy tri thức
Nh vậy, trong quá trình tổ chức cho học sinh theo phơng pháp "Bàn taynặn bột", giáo viên phải biết đợc nhu cầu, khêu gợi óc tò mò và hình thành
động cơ, hứng thú học tập cho học sinh
Trang 20Tóm lại : Từ việc phân tích những đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học,
chúng tôi có thể rút ra kết luận rằng, việc tổ chức cho học sinh học tập theo
ph-ơng pháp "Bàn tay nặn bột" là biện pháp quan trọng nhằm tích cực hoá hoạt
động nhận thức của học sinh, góp phần nâng cao chất lợng hiệu quả dạy phânmôn Khoa học ở nhà trờng tiểu học
2 Cơ sở thực tiễn
Trong khuôn khổ của một luận văn tốt nghiệp đại học, chúng tôi tiến hành
điều tra, khảo sát thực trạng sử dụng phơng pháp dạy học của giáo viên trongquá trình dạy phân môn Khoa học ở trờng tiểu học, và điều tra về kết quả họctập của học sinh
- Mục đích điều tra : Nhằm đánh giá thực trạng sử dụng phơng pháp dạyhọc của giáo viên từ đó xác lập cơ sở thực tiễn cho việc sử dụng phơng pháp
"Bàn tay nặn bột" trong dạy học phân môn Khoa học
- Đối tợng điều tra :
* Ban giám hiệu trờng tiểu học Lê Lợi, trờng tiểu học Hồng Sơn, trờngtiểu học Kỳ Lâm (Kỳ Anh) : gồm 7 ngời
* Giáo viên tiểu học gồm có 50 ngời, ở Trờng tiểu học Lê Lợi, Trờng tiểuhọc Hồng Sơn, Trờng tiểu học Kỳ Lâm
Học sinh tiểu học : 100 ngời, ở Trờng tiểu học Lê Lợi, Trờng tiểu học KỳLâm
- Nội dung điều tra :
Chúng tôi tiến hành điều tra trên một số vấn đề sau :
* Thực trạng sử dụng phơng pháp dạy học của giáo viên trong dạy họcphân môn Khoa học (phân tích, đánh giá việc sử dụng phơng pháp của giáoviên, đã sử dụng những phơng pháp dạy học mới nào, mức độ)
* Hiểu biết của giáo viên về phơng pháp "Bàn tay nặn bột"
* Kết quả học tập của học sinh tiểu học
2.1 Thực trạng sử dụng phơng pháp dạy học của giáo viên trong phân môn Khoa học
Bảng 1 : Các phơng pháp dạy học giáo viên sử dụng trong dạy học phân
Trang 217 Phơng pháp "Bàn tay nặn bột" 0 0
Qua bảng 1 ta thấy : Các phơng pháp có tỷ lệ giáo viên thờng hay sử dụngcao đó là : Phơng pháp hỏi đáp 100%, phơng pháp giảng dạy 96%, phơng phápquan sát 60% Các phơng pháp đặc trng của dạy phân môn Khoa học lại chiếm
tỷ lệ ít nh phơng pháp thí nghiệm 12%, phơng pháp thảo luận nhóm 12%,
ph-ơng pháp nêu vấn đề 4% Điều này phản ánh thực trạng việc đổi mới phph-ơngpháp dạy học ở bậc tiểu học hiện nay cha đợc triển khai mạnh mẽ Qua phỏngvấn, trò chuyện với giáo viên có một số ngời tâm sự rằng : "Vì chúng tôi chanắm vững về mặt lý luận của các phơng pháp dạy học mới, do những điều kiệncơ sở vật chất còn thiếu thốn,… phục vụ cho cuộc sống của con ng" Nhng cũng không ít giáo viên nắm chắc vềmặt lý luận các phơng pháp dạy học mới nhng lại cho rằng: "Chúng tôi ngại sửdụng, bởi vì sử dụng thì phải chuẩn bị nhiều thứ, mất thời gian Chúng tôi chỉ
sử dụng chúng khi có ngời dự giờ đánh giá, còn nếu không thì cứ cho học sinh
đọc sách giáo khoa rồi trình tự trả lời lần lợt các câu hỏi của mình là đợc" vàcũng có ngời lại cho rằng : "Sở dĩ chúng tôi ít sử dụng phơng pháp thí nghiệm
là vì kiến thức khoa học, chân lý khoa học đã đợc các nhà khoa học tiến hànhthí nghiệm, nghiên cứu và đã rút ra kết luận Chúng ta cứ cho học sinh đọc kếtluận đó cho thuộc, không cần phải tiến hành thí nghiệm lại, làm mất thời gian
và thêm phức tạp" Nh vậy, tuy hiểu đợc cơ sở lý luận nhng việc vận dụng trênmỗi bài dạy cụ thể thì cha đợc bao nhiêu, cha sử dụng đúng phơng pháp đặc tr-
ng của phân môn Nếu sử dụng thì chỉ mang tính chất hình thức đối phó Nhvậy, các phơng pháp dạy học tích cực còn cha đợc chú ý, vấn đề đổi mới phơngpháp dạy học cha đợc họ chú tâm Vì vậy, cần phải xúc tiến sử dụng các phơngpháp dạy học mới vào giảng dạy, để nâng cao chất lợng dạy học phân mônKhoa học, tránh sự ảnh hởng, thiệt thòi đến chất lợng của học sinh
2.2 Sự hiểu biết về phơng pháp "Bàn tay nặn bột" của cán bộ, giáo viên ở một số trờng tiểu học.
Qua tìm hiểu về sự hiểu biết của cán bộ quản lý, giáo viên về phơng pháp
"Bàn tay nặn bột" chúng tôi đã thu đợc kết quả sau :
Bảng 2 : Sự hiểu biết của cán bộ, giáo viên về "Bàn tay nặn bột"
Trang 22Nhìn vào bảng 2 ta thấy : Hầu nh 100% các cán bộ, giáo viên ở một số ờng tiểu học cha có sự hiểu biết về phơng pháp "Bàn tay nặn bột" Chỉ có một
tr-số ngời đọc trên sách báo về một tr-số vấn đề về phơng pháp này nhng cha hiểumột cách sâu sắc, kỹ càng Họ tâm sự "Chúng tôi nghe nói về phơng pháp "Bàntay nặn bột" nhng không hiểu nó đợc sử dụng nh thế nào Chúng tôi rất muốnbiết và tìm hiểu để vận dụng vào việc giảng dạy để xem tính khả thi của ph ơngpháp dạy ở chỗ nào" Đây cũng là một điều kiện thuận lợi để chúng ta đ a phơngpháp "Bàn tay nặn bột" vào nhà trờng tiểu học để họ tìm hiểu và áp dụng vàothực tiễn dạy học phân môn Khoa học
2.3 Thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học hiện nay của giáo viên tiểu học.
Bảng 3 : Thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học trong phân môn Khoa học
TT Các đồ dùng dạy học Số giáo viên sử dụng Tỷ lệ (%)
ít (vật thật : 8%) (thí nghiệm : 16%) Theo chúng tôi, giáo viên ngại sử dụng,cha tâm huyết với nghề nghiệp, cha thực sự nhiệt tình với học sinh Cha nhậnthức đợc vai trò quan trọng của đồ dùng dạy học, đặc biệt là các đối tợng, cácvật thật
Nh vậy, tình trạng sử dụng đồ dùng dạy học có nhiều u điểm đang còn ít,chủ yếu là dạy chay, trong khi đó phân môn này rất cần đến đồ dùng dạy học,
và phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh Chủ yếu là theo lời thuyếttrình, áp đặt, cha áp dụng một cách có hiệu quả các phơng pháp dạy học mới đểhọc sinh hứng thú làm việc với đồ dùng học tập, tự tìm ra tri thức của bài học
2.4 Thực trạng sử dụng các hình thức tổ chức dạy học của giáo viên trong dạy học phân môn Khoa học
Bảng 4 : Mức độ sử dụng các hình thức tổ chức dạy học của giáo viên
trong dạy học phân môn Khoa học
Trang 23Qua bảng 3 cho chúng ta thấy : Hình thức tổ chức dạy học cả lớp đợc tấtcả các giáo viên thờng xuyên sử dụng Các hình thức tổ chức dạy học khác nh :Dạy học theo nhóm, dạy học cá nhân, dạy học hoạt động ngoại khoá ít đợcgiáo viên sử dụng hoặc không sử dụng Qua điều tra, chúng tôi đã tìm thấy đợcnguyên nhân, sở dĩ giáo viên sử dụng hình thức tổ chức dạy học cả lớp là chủyếu, không sử dụng hoặc ít sử dụng các hình thức khác là vì : Do điều kiện cơ
sở vật chất cha cho phép, do năng lực tổ chức của giáo viên còn hạn chế, dolòng nhiệt huyết với nghề cha cao, … phục vụ cho cuộc sống của con ng Nên việc sử dụng các hình thức tổ chứcdạy học tích cực chỉ đợc một số giáo viên tận tâm với nghề, chịu khó tìm tòi,học hỏi vận dụng chúng vào giảng dạy
Việc vận dụng các hình thức dạy học tích cực vào việc giảng dạy phânmôn Khoa học là một vấn đề cấp bách và cần thiết rất phù hợp với phân mônnày Ngoài hình thức tổ chức dạy học cá nhân, theo nhóm Hình thức tổ chứcdạy học ngoại khoá, hình thức tổ chức dạy học ngoài hiện trờng cũng rất cầnthiết, bởi đây là một phân môn mà kiến thức chuyển tải đến cho học sinh chủyếu là từ môi trờng tự nhiên Đây là một phân môn có tên là khoa học, để giảiquyết có một vấn đề khoa học có hiệu quả, chất lợng cao thì không chỉ bó hẹptrong 1 tiết mà có khi kéo dài 2 - 3 tiết, trong khi đó chơng trình giảng dạy ởtiểu học là một chơng trình cứng, cho nên tổ chức theo hình thức hoạt độngngoại khoá cũng rất cần thiết cho phân môn Khoa học và đặc biệt là khi ápdụng phơng pháp "Bàn tay nặn bột" vào dạy học
Nh vậy, từ sự phân tích ở bảng 3 cho chúng ta thấy : Hiện nay, vẫn chanhiều giáo viên sử dụng phơng pháp dạy học mới Bởi các phơng pháp dạy học
Trang 24mới gắn bó mật thiết với việc sử dụng đồ dùng dạy học và các hình thức tổchức dạy học trong mỗi tiết dạy khoa học.
2.5 Chất lợng học tập phân môn Khoa học của học sinh tiểu học.
Bảng 5 : Kết quả học tập của học sinh sau khi học các bài "Tính chất của
nớc", "Không khí cần cho sự cháy", "Đất trồng" (KH - 4)
TT Tên bài Giỏi (%) Khá (%)Kết quả kiểm traTB (%) Yếu (%)
có điều đó ? Hầu nh các em không trả lời đợc
2.6 Đánh giá chung về thực trạng sử dụng phơng pháp dạy học hiện nay của giáo viên tiểu học.
Từ những phân tích các kết quả trên, chúng tôi rút ra một số nhận xét nhsau :
Vấn đề về sử dụng phơng pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học mới
đợc giáo viên đa vào thực tiễn dạy học Tuy nhiên, số giáo viên sử dụng chanhiều nhng cũng đã nói lên rằng, xu hớng dạy học theo hớng đổi mới đã và
đang xâm nhập vào nhà trờng tiểu học, nhiều giáo viên tâm huyết với nghề họ
đã tích cực tìm tòi sử dụng Chị Văn Thị Lý - Giáo viên Trờng tiểu học Lê Lợi
đã tâm sự "Khi sử dụng phơng pháp dạy học mới tôi thấy chất lợng dạy học đợcnâng cao rõ rệt, bản thân chúng tôi tránh đợc hiện tợng nói nhiều, làm việcnhiều, học sinh tích cực tự giác, say sa học tập Nh vậy theo tôi, dạy học theohớng đổi mới sẽ hình thành cho học sinh phơng pháp học giúp học sinh sớmtiếp cận với tri thức khoa học, các khái niệm khoa học và đó chính là điều quantrọng và còn hơn là việc dạy cho các em cái gì"
Nhng số giáo viên nhận đợc vấn đề trên chỉ là ít ỏi so với yêu cầu của cáccấp bộ ngành, yêu cầu của xã hội ,phần đa vẫn còn nặng nề về sử dụng phơngpháp dạy học truyền thống theo lối giảng giải, áp đặt, bắt học sinh phải nhớ,
Trang 25phải thuộc, nhồi nhét kiến thức, cha có sự gợi mở, giao việc cho các em tíchcực hoạt động, tự giác khám phá tri thức Điều này thể hiện rõ qua ba bảng sốliệu (bảng 1, 3, 4) Bởi giữa phơng pháp dạy học, đồ dùng dạy học và các hìnhthức tổ chức dạy học có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, cho nên ta cóthể nhìn vào đó để có thể biết đợc giáo viên đã có sử dụng phơng pháp dạy họcmới hay không Nếu một giờ dạy khoa học mà thiếu đi đồ dùng dạy học thì giờhọc đó sẽ không có hiệu quả Bởi đồ dùng dạy học vừa là đối tợng chứa đựngthông tin vừa là phơng tiện để giúp học sinh tự tìm tòi phát hiện ra tri thức.Chúng tôi cha nói đến vai trò của đồ dùng dạy học đối với phơng pháp màchúng tôi đang nghiên cứu quan trọng đến mức nào Nh vậy, ta cũng có thể nóirằng thực trạng sử dụng phơng pháp hiện nay của giáo viên tiểu học còn nặng
nề về việc sử dụng các phơng pháp truyền thống Cho nên, đã ảnh hởng đếnchất lợng học tập của học sinh
Tóm lại : Trong chơng 1, chúng tôi đã phân tích, trình bày cơ sở lý luận
và cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu Đây là cơ sở quan trọng để chúng tôixây dựng quy trình sử dụng phơng pháp "Bàn tay nặn bột" vào quá trình dạyhọc phân môn Khoa học cho phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trờng tiểuhọc Việt Nam
Chơng 2 Quy trình sử dụng phơng pháp dạy học
"Bàn tay nặn bột" trong quá trình dạy học phân môn khoa học ở trờng tiểu học
2.1 Các nguyên tắc xây dựng quy trình
Quy trình là trình tự phải tuân theo để tiến hành một công việc nào đó[27] Quy trình tổ chức cho học sinh học tập theo phơng pháp "Bàn tay nặnbột" trong dạy học phân môn Khoa học là một trình tự bao gồm các bớc, các
Trang 26giai đoạn, đợc sắp xếp theo một trật tự tuyến tính từ khi bắt đầu cho đến khi kếtthúc một vấn đề khoa học.
Sử dụng phơng pháp "Bàn tay nặn bột" không chỉ đề cao tính tích cực, chủ
động trong học tập của học sinh mà còn đề cao đến vai trò tổ chức, lãnh đạocủa giáo viên
Để sử dụng phơng pháp dạy học này một cách dễ dàng và có hiệu quả,chúng tôi chúng tôi đã đa ra một số nguyên tắc để xây dựng quy trình nh sau:
* Nguyên tắc đa dạng : Nghiên cứu thực hiện bởi học sinh có thể dựa trên
những phơng pháp khác nhau ngay trong cùng một giờ học : Thực nghiệm trựctiếp, thực hiện với các vật liệu (xây dựng trực tiếp nghiên cứu một giải pháp kỹthuật), quan sát trực tiếp thông qua một thiết bị, nghiên cứu tài liệu, điều tra vàtham quan Sự bổ sung giữa các phơng pháp này sẽ đi tới kiến thức cân bằngphụ thuộc vào đối tợng nghiên cứu Mỗi khi có thể về vật liệu và các phơngpháp, cần u tiên cho học sinh có thể thực nghiệm và hành động trực tiếp trên
đối tợng thực tế
* Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, tính toàn vẹn và cụ thể : Quy trình
là trình tự phải tuân theo để tiến hành một hành động, vì vậy quy trình là sự tổhợp các bớc, các khâu, các giai đoạn mà chủ thể phải hoạt động, phải tiến hànhnhằm đạt mục đích đề ra Quy trình tổ chức cho học sinh học tập theo phơngpháp "Bàn tay nặn bột" gồm một tổ hợp các bớc, các khâu tiến hành theo mộttrình tự nhất định hay nói cách khác phải đảm bảo tính hệ thống và toàn vẹn
* Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn, tính khả thi :
Quy trình đề xuất phải xuất phát từ thực tiễn dạy học phân môn Khoa học
và có thể áp dụng vào dạy học phân môn này để nâng cao chất lợng dạy học
* Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả : Phải đảm bảo hiệu quả nhận thức,
phát huy đợc tính tích cực nhận thức của học sinh, học sinh chủ động chiếmlĩnh tri thức bằng hành động của chính mình, có nh vậy hiệu quả giờ dạy đợcnâng cao
2.2 Quy trình tổng quát
Trang 27Sơ đồ : Quy trình sử dụng phơng pháp "Bàn tay nặn bột"
vào dạy học phân môn Khoa học ở tiểu học.
Giáo viên Các bớc tiến hành Học sinh
Báo cáo kết quả
Thu thập, đối chiếu kết quả
Trao đổi để tìm ra kết quả đúng
Sửa chữa để diễn đạt biểu ợng mới và hoàn chỉnh
t-Bớc 1 Chuẩn bị
Bớc 2 Khởi động tình huống
Bớc 3 Nêu giả thuyết và kiểm tra giả thuyết
Bớc 5 Báo cáo kết quả và tìm
ra kết quả chung
Chuẩn bị bài dạy
Nêu lên tình huống
có vấn đề
Tổ chức cho học sinh đa
ra giả thuyết và kiểm tra
giả thuyết
Cho học sinh báo cáo
kết quả, thảo luận để đa
ra tìm kết quả đúng
Tổ chức cho học sinh
làm thí nghiệm
Bớc 4 Tiến hành thí nghiệm
Trang 282.3 Quy trình cụ thể
* Bớc 1 : Chuẩn bị.
- Giáo viên : Chuẩn bị một cách kỹ càng về bài dạy
+ Tìm hiểu, tham khảo tài liệu để khắc sâu kiến thức
+ Xác định đợc nội dung kiến thức cần đạt đến cho học sinh
+ Dự kiến đợc những vấn đề có thể xẩy ra trong tiến trình học tập của họcsinh nh các câu hỏi tự phát, các phơng án giải quyết vấn đề, … phục vụ cho cuộc sống của con ng
+ Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng học tập
+ Tiến hành làm thử thí nghiệm trớc khi lên lớp, một mặt là để nắm bắt
đ-ợc các bớc thí nghiệm một cách rõ ràng, mặt khác để kiểm tra mức độ đảm bảocủa thí nghiệm, bởi vì nếu dụng cụ thí nghiệm không đảm bảo sẽ dẫn tới thínghiệm không thành công và phản khoa học, điều này sẽ xẩy ra hiện tợng mấtlòng tin ở học sinh
- Học sinh : Chuẩn bị bài học, hoàn thành những nhiệm vụ đợc giao củagiáo viên
* Bớc 2 : Khởi động tình huống.
- Giáo viên : Bớc này giáo viên phải nêu lên một tình huống có vấn đềtrong khoa học, tình huống này phải đảm bảo :
+ Kích thích, khêu gợi trí tò mò và lòng ham hiểu biết của học sinh, phải
có sức hấp dẫn lôi cuốn để học sinh tự dấn thân mình vào hành động
+ Phù hợp với nội dung kiến thức bài học, nghĩa là phải đánh vào trọngtâm của bài, để trên cơ sở đó học sinh tiến hành tìm tòi nghiên cứu, thao tác đểhiểu biết trong sự tò mò mà tình huống có vấn đề đặt ra trớc chúng, đồng thờiquá trình học sinh đi tìm và tìm đợc cũng chính là nội dung trọng tâm của bàihọc đợc phơi bày
Chính vì vậy, việc tạo ra tình huống có vấn đề trong khoa học là một việclàm rất quan trọng và đặc biệt trong giảng dạy khoa học cho học sinh tiểu họclại càng quan trọng hơn, là một trong những yếu tố góp phần không nhỏ vào sựthành công của bài dạy
Hoàn thành kiến thức bài học : đầy đủ, chính xác
Nhận thức rõ kiến thức, khả năng và sự tiến bộ của mình
Bớc 6 Kết luận
Trang 29Sau đây chúng tôi nêu ra một số ví dụ :
Ví dụ 1 : "Vòng tuần hoàn của nớc trong thiên nhiên" (KH4) có thể
nêu tình huống nh sau : Khi ma thì có nớc rơi xuống Vậy, tại sao lại có nớc ởtrên trời ?
Ví dụ 2 : "Thành phần của đất trồng, bảo vệ đất trồng" (KH4) ta cũng
có thể nêu : Giáo viên cầm một mẫu đất trồng và hỏi : Trên tay thầy cầm vậtgì ? Học sinh trả lời : Đất trồng (Trớc đó các em đã học bài về đất trồng) Vậytheo em trong đất trồng có những thành phần nào ?
- Học sinh : Khi giáo viên nêu lên một tình huống có vấn đề trong khoahọc, học sinh tiến hành thảo luận, trao đổi, đa ra các tiên đoán, những hiểu biếtban đầu (biểu tợng ban đầu) về sự vật hiện tợng
Giáo viên phải để cho học sinh nói lên những suy nghĩ của mình, (lu ý chanhận xét lời tiên đoán đó đúng hay sai), những hiểu biết ban đầu của học sinh
có thể đúng nhng cha đầy đủ, hoặc có thể sai
Ví dụ qua bài : "Vòng tuần hoàn của nớc trong thiên nhiên" (KH4).
Học sinh có thể đa ra những hiểu biết, hình thành nên biểu tợng ban đầu
- Do sông, suối có ở trên trời
- Do nhiều mây nặng nên nớc rơi xuống
- Do có ông thần ở trên trời phun nớc xuống
- Do nớc ở sông, ao, hồ, biển, … phục vụ cho cuộc sống của con ng nóng rồi bốc hơi lên cao gặp lạnh hơi n
-ớc ngng tụ lại những giọt n-ớc nhỏ, rồi rơi xuống và cứ nh thế trở thành mộtvòng tuần hoàn
Hay trong bài "Sự sinh sản của ếch" (KH5) Giáo viên nêu câu hỏi : Em
hiểu biết gì về sự sinh sản của ếch ? Học sinh đa ra hiểu biết của mình nh sau :
Trang 30+ Khi ta thở, con chim bay, … phục vụ cho cuộc sống của con ng tạo ra không khí
+ Khi các vật chuyển động tạo thành gió
+ Khi quả bóng xì hơi
Trên đây, chúng tôi đã lấy một số ví dụ về dự kiến mà học sinh có thể phátbiểu lên, hiểu về một số biểu tợng ban đầu, giáo viên phải biết lắng nghe, biếtkhêu gợi tạo điều kiện cho học sinh phát biểu, cũng xuất phát từ những quanniệm hiểu biết ban đầu, giáo viên tổ chức cho học sinh tiến hành hoạt động vàtổng hợp thành một biểu tợng hoàn chỉnh về một sự vật hay một hiện tợng nào
đó Nghĩa là từ điểm xuất phát nền tảng mà trên xử lý đó kiến thức đợc thiếtlập
* Bớc 3 : Đa ra các giả thuyết và kiểm tra giả thuyết.
- Giáo viên : Khi học sinh hình thành đợc biểu tợng ban đầu, giáo viên tổchức cho học sinh tiến hành đa ra các giả thuyết khoa học và cũng cơ sở để họcsinh vạch kế hoạch thực nghiệm
Ví dụ : Khi học về bài "Các thành phần của đất trồng, bảo vệ đất
trồng" (KH4) học sinh có thể đa ra các giả thuyết.
- Nhóm những em cho rằng trong đất có không khí :
+ Trong đất có không khí, bởi vì nếu ta lấy một mẫu đất trồng bỏ vàotrong một chậu nớc thì thấy bong bóng nổi lên
+ Trong đất có không khí vì nếu không có không khí thì một số sinh vậttrong đất không thể sống đợc
+ Trong đất có không khí vì chúng tôi đã đọc đợc trên sách vở, báo chí
- Nhóm những em quan niệm trong đất có nớc :