Hiện nay, sử dụng nấm ký sinh côn trùng là một trong những biệnpháp sinh học bước đầu nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học trênthế giới.. Cho đến nay, nước ta chỉ nghiên
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ
- -SỬ DỤNG NẤM BEAUVERIA AMORPHA VÀ
PAECILOMICES SP1 PHÒNG TRỪ SÂU TƠ HẠI RAU THẬP
TỰ TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC NGHIỆM
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH NÔNG HỌC
Người thực hiện: Bùi Thị Long Lớp : 45K – Nông học Người hướng dẫn: Ths Nguyễn Thị Thanh
VINH – 1.2009
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Những cây rau họ thập tự (Crucirea) là nhóm thực phẩm quan trọng cho loàingười, chúng chiếm 50% tổng sản lượng rau (Hồ Thị Thu Giang, 2002) [3] Rauthập tự có thời gian sinh trưởng ngắn, được trồng gối vụ liên tục và thu hoạch rải rácthành từng đợt, mặt khác nhóm rau này có thân, lá mềm yếu và chứa nhiều chất dinhdưỡng Kết hợp với điều kiện khí hậu nóng ẩm, rau họ hoa thập tự ở nước ta bịnhiều loài sâu phá hại như sâu tơ, sâu khoang, sâu xanh bướm trắng, rệp muội, bọnhảy, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và phẩm chất rau (Phạm ThịNhất, 1993, Nguyễn Quý Hùng, 1995, Lê Văn Trịnh, 1995) (dẫn theo Hồ Thị thuGiang, 2002) [3]
Cây rau có thời gian sinh trưởng ngắn, có thể gieo trồng nhiều vụ trong năm, do
đó làm tăng sản lượng trên đơn vị diện tích, cho hiệu quả kinh tế cao (giá trị sản xuất
1 ha gấp 2 - 3 lần 1 ha lúa) Hiện nay, rau được trồng rộng rãi khắp nơi trên thế giới
Ở Việt Nam, cùng với sự hình thành và phát triển các thành phố, khu công nghiệp,khu dân cư đông đúc,… thì những vùng trồng rau chuyên canh cũng được hình thành
và phát triển nhằm cung cấp thực phẩm cho người tiêu dùng [1] Ở Nghệ An, rau làcây trồng chính cho nhiều vùng như Diễn Châu, Quỳnh Lưu, thành phố Vinh,… vớitổng diện tích rau của cả tỉnh là 7557,5 ha Trong các vùng sản xuất rau chuyên canhcủa Nghệ An, xã Đông Vĩnh, thành phố Vinh là được đầu tư lớn nhất Ở đây rau đượcsản xuất quanh năm và là cây trồng chủ lực đem lại nguồn thu nhập chính cho ngườinông dân
Trong tập đoàn sâu hại rau họ hoa thập tự, sâu tơ là loài gây hại nguy hiểm khắpnơi trên thế giới Với đặc tính vòng đời rất ngắn 12 - 15 ngày, khả năng sinh sản cao
và đặc biệt là tính kháng thuốc của sâu phát triển rất nhanh khiến cho công tác phòngtrừ gặp nhiều khó khăn (Dương Thành Tài và nnk, 1995) [6]
Trang 3Để phòng trừ sâu hại rau họ hoa thập tự nói chung và sâu tơ nói riêng cho đếnnay người nông dân chủ yếu dựa vào biện pháp hoá học trong đó có những loại thuốcrất độc hại làm mất cân bằng sinh thái, tạo nên tính chống thuốc cho các loài sâu hại,đặc biệt ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ của người trồng và người sử dụng rau(Hoàng Anh Cung, 1997), (dẫn theo Hồ Thị Thu Giang, 2002) [3]
Vấn đề bức xúc hiện nay là phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệtđối với rau xanh Do vậy, các nhà khoa học bảo vệ thực vật đã và đang tập trungnghiên cứu biện pháp sinh học, coi đây là biện pháp cốt lõi trong hệ thống quản lýdịch hại tổng hợp Hiện nay, sử dụng nấm ký sinh côn trùng là một trong những biệnpháp sinh học bước đầu nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học trênthế giới Tại Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu sử dụng nấm kí sinh côntrùng để phòng trừ sâu hại trên cây trồng và cho hiệu quả phòng trừ cao, như
Metarhizium anisopliae Sorok, Metarhizium flavoviride phòng trừ châu chấu (Nguyễn
Văn Cảm, 1993), Metarhizium anisopliae phòng trừ bọ xít đen hại lúa (Manisay Udom và nnk, 1994), Beaveria bassiana Vuill và Metarhizium anisoplide phòng trừ
rầy nâu hại lúa, sâu đo xanh hại đay, châu chấu hại ngô (Phạm Thị Thuỳ và nnk,
1998), Metarhizium anisoplide, Beauveria bassiana, Entomọpthorales phòng trừ bọcánh cứng hại dừa (Nguyễn Xuân Niệm, 2004) Đây là những bước đầu tiên mở ramột hướng phòng trừ sâu hại cây trồng mới vừa mang lại hiệu quả phòng trừ cao lạivừa đảm bảo an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường và sản xuất rau an toàn Tuynhiên, ở nước ta chưa có nghiên cứu thực nghiệm sử dụng nấm ký sinh côn trùng
phòng trừ sâu tơ hại rau cải Do vậy, tôi tiến hành đề tài: “Sử dụng nấm Beauveria amorpha và Paecilomyces sp1 phòng trừ sâu tơ hại rau thập tự trong điều kiện
thực nghiệm”
Trang 42 Mục đích nghiên cứu
Sâu tơ Plutalla maculipennis Curtis là đối tượng gây hại nguy hiểm cho rau họ
hoa thập tự (HTT) và có tính kháng thuốc cao Do vậy, việc nghiên cứu và sử dụng
hai loài nấm ký sinh côn trùng Beauveria Amorpha và Paecilomyces sp1 góp phần
xây dựng thành công biện pháp quản lí tổng hợp sâu tơ (IPM), làm giảm thiệt hại dochúng gây ra, tạo ra sản phẩm rau an toàn, hiệu quả kinh tế cao đáp ứng nhu cầu củangười sản xuất và tiêu dùng hiện nay, đồng thời bảo vệ được đa dạng sinh học vàgiảm thiểu ô nhiễm môi trường
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Sâu tơ hại rau họ hoa thập tự Plutella maculipennis Curtis (Lepidoptera,
Plutellidae)
- Hai loài nấm ký sinh côn trùng Beauveria amorpha và Paecilomyces sp1.
- Các nghiên cứu được tiến hành trong phòng thí nghiệm Vi sinh - công nghệsinh học nông nghiệp, phòng thí nghiệm bảo vệ thực vật, tổ Bộ môn Nông học, KhoaNông Lâm Ngư, Trường Đại học Vinh
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu hiệu quả phòng trừ của nấm Beauveria amorpha và Paecilomyces
sp1 trên sâu tơ sẽ cung cấp thêm dữ liệu làm cơ sở khoa học cho những nghiên cứu
về nấm ký sinh côn trùng, cho biện pháp quản lí dịch hại tổng hợp (IPM) sâu tơ, gópphần bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe cho người sản xuất và tiêu dùng, tăng năngsuất cây trồng
Nghiên cứu thành công biện pháp phòng trừ sâu tơ sẽ là cơ sở quan trọng để ápdụng và tiến hành phòng trừ các loài sâu hại rau họ HTT khác như sâu xanh bướmtrắng, sâu khoang, rệp,
Trang 5CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Các nghiên cứu trong và ngoài nước về sâu tơ (P maculipennis Curtis)
Sâu tơ Plutalla maculipennis Curtis (Lepidoptera, Plutellidae) là một trong số
các loài sâu hại cây trồng được nhiều người nghiên cứu do tính chất nguy hại với sảnxuất và khả năng kháng thuốc của nó Chúng được xem là một trong các loài sâu hạichính nguy hiểm có mặt hầu hết ở các nước châu lục trên thế giới (Waterhoaise, 1987)(dẫn theo Hồ Thị thu Giang, 2002) [3]
Đặc điểm sinh học của loài sâu hại này được nhiều nhà khoa học nghiên cứu vàcho thấy tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường ở từng nước khác nhau mà vòng đời sâucũng khác nhau: Ở Canada vòng đời sâu từ 14 - 21 ngày, Hồng Kông 22 - 37 ngày,Malaysia 10,8 - 27 ngày Ở nhiệt độ 200C vòng đời sâu là 23 ngày nhưng 250C thì vòngđời rút ngắn lại 16 ngày (Koshihara, 1985) (dẫn theo Đinh Thị Hiền, 2007) [8]
Trong khoảng từ 10 - 300C, nhiệt độ càng tăng thì vòng đời càng ngắn lại(Chen và Sun, 1986) (dẫn theo Hồ Thị Thu Giang) [3] Phạm vi nhiệt độ cho quátrình phát triển của sâu tơ dao động trong khoảng 17,5 - 27,50C (dẫn theo Đinh ThịHiền, 2007) [8] Tuy nhiên, sâu vẫn sống và phát triển được trong khoảng nhiệt độ
10 - 400C, sâu non và trưởng thành có thể sống nhiều tháng ở 00C, riêng trứng vànhộng có thể sống ở trong điều kiện trên chỉ từ 2 - 6 tuần (Dương Thành tài và nnk,1995) [6] Ngưỡng nhiệt độ của trứng khoảng 7,20C - 9,20C, sâu non 7,3 - 9,20C,nhộng 8,2 - 9,80C Trong điều kiện ngưỡng sự phát triển trứng và sâu non đòi hỏi
174 - 283 ngày, nhộng 65 - 91 ngày (Koshinara, 1986) (dẫn theo Dương Thành tài
và nnk, 1995) [6]
Thời gian sống của trưởng thành thay đổi rất nhiều tuỳ địa phương và tuỳ điềukiện ngoại cảnh nơi nghiên cứu: Ở Canada, bướm đực sống từ 3 - 58 ngày, bướm cáisống từ 7 - 47 ngày, nếu không có cây chủ bướm sống từ 11 - 27 ngày (Harcourt,
Trang 61957) Trong điều kiện nhiệt độ trung bình 180C, ở Venezuela, bướm đực có thể sốngtrung bình 39,3 ngày, bướm cái sống trung bình là 30,6 ngày Tuy nhiên, nếu trongđiều kiện nhiệt độ cố định 200C thì thời gian sống trung bình của bướm chỉ có 17,7ngày (Salinas, 1976) Peter và Ooi (1986) nghiên cứu ở Malaysia công bố thời giansống của bướm đực trung bình là 13 ngày và bướm cái là 16 ngày dẫn theo DươngThành tài và nnk, 1995) [6]
Khả năng sinh sản của sâu tơ có sự sai khác rất lớn giữa các tác giả, tại Mỹ sốtrứng đẻ trung bình mỗi bướm cái ở điều kiện 260C khoảng 139 trứng (Biever vàBoldt, 1971) Salinas và Pena (1976) nuôi tại Venezuela ở điều kiện 180C trung bìnhmỗi bướm cái đẻ 162,6 trứng Ở Anh, điều kiện nuôi 200C, số trứng đẻ thay đổi từ 95
- 602 trứng trên một bướm cái Tại châu Á, ở Malaysia kết quả nghiên cứu của Ho(1965) công bố bướm có thể đẻ 81 - 397 trứng trên một bướm cái, Wan (1970) cho kếtquả nghiên cứu là 7 - 318 trứng trên một trưởng thành cái, Ooi và Kelderman (1986)ghi nhận bướm đẻ trung bình 280 trứng trên một trưởng thành cái Ở Ấn Độ, theo Patil
và Pokhatan (1991) bướm đẻ từ 71 - 203 trứng trên một bướm cái, theo Rhalla vàDubaey (1986) bướm đẻ trung bình 284 trứng trên một bướm cái ở lứa 1 và 242,8 trứng
ở lứa 2 (dẫn theo Dương Thành Tài và nnk, 1995) [6]
Các nghiên cứu về sinh thái của sâu tơ cho biết sâu tơ tồn tại quanh năm trênđồng ruộng, song số lứa sâu hình thành quanh năm rất khác nhau giữa các nước như:
Ở Canada có từ 4 - 6 lứa trên năm, Brazin 6 lứa trên năm (dẫn theo Hồ Thị ThuGiang, 2002) [3] Tuy vậy, chỉ có một số lứa có mật độ cao và gây hại nặng cho rau
Trang 7trình nghiên cứu đều cho rằng quần thể sâu tơ chỉ đạt đỉnh cao về số lượng vào cáctháng ít mưa và mát, hơn nữa đây là điều kiện thích hợp cho rau họ hoa thập tự pháttriển, tạo nguồn thức ăn dồi dào cho sâu tơ sinh trưởng và phát triển, mưa là nguyênnhân sâu non bị chết đuối, bị rửa trôi, đồng thời mưa còn hạn chế khả năng giao phối
và đẻ trứng của trưởng thành, do đó số lượng sâu suy giảm đáng kể vào mùa mưa.Theo Wakisaka et al, 1992 thì tỷ lệ chết của sâu tuổi nhỏ còn liên quan đến ẩm độkhông khí Khi ẩm độ cao bằng 100% sâu non chết tới 70%, nhưng ẩm độ dưới 90%thì tỷ lệ chết còn 30% (dẫn theo Đinh Thị Hiền, 2007) [8]
Ở nước ta mối quan tâm đến sâu tơ trên rau họ hoa thập tự được đặt ra từnhững năm 60, Theo Nguyễn Đình Đạt và cộng tác viên (1980), vòng đời sâu tơtrung bình 23,6 ngày, trong đó thời kỳ sâu non khoảng 8 - 9 ngày, khả năng sinhsản của sâu tơ cao, một bướm cái đẻ bình quân khoảng 150 trứng, biến động từ 80
- 250 trứng [8]
Các tài liệu công bố đều chỉ rõ ở Việt Nam, sâu tơ phát sinh gây hại liên tụctrong năm với mức độ khác nhau giữa các vụ gieo trồng Kết quả theo dõi củaNguyễn Đình Đạt và cộng tác viên trên cải bắp vùng Hà Nội từ tháng 8 năm trướcđến tháng 8 năm sau có khoảng 9 lứa sâu tơ phát sinh Trong đó, từ lứa thứ 6 đếnlứa thứ 9 hình thành vào thời gian từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau vàthường có mật độ cao 463,3 - 486,9 con/cây (Nguyễn Đình Đạt và nnk, 1980) (dẫntheo Đinh Thị Hiền, 2007) [8]
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Qúy Hùng và cộng tác viên ở thành phố
Hồ Chí Minh, trong tháng 9 - 10 vòng đời sâu tơ là 15 - 17 ngày, nhưng thời gian sâunon vẫn tới 8,4 - 8,8 ngày Số trứng đẻ của một bướm cái là 100 - 150 trứng Nếutrứng hình thành từ sâu non ăn lá cải non 30 ngày tuổi cho số trứng đẻ 169,7trứng/bướm, nhiều hơn số trứng đẻ từ sâu non ăn lá già 45 ngày tuổi (98,8trứng/bướm) Sâu tơ gây hại làm giảm 30 - 40% năng suất, chi phí cho việc phòng trừsâu hại chiếm 46,7% vốn đầu tư, từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau có 7 - 8 lứa sâu rộ,
Trang 8thời điểm sâu đạt đỉnh cao về mật độ là tháng 12 và tháng 3, ở cải vụ muộn sâu tơ hạinặng hơn vụ sớm (dẫn theo Đinh Thị Hiền, 2007) [8].
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Văn Trịnh và Trần Huy Thọ (1995), trong thờigian từ tháng 3 đến tháng 9 năm 1991 xuất hiện 10 đợt sâu tơ phát sinh rộ trên đồngruộng, mật độ giảm từ 24,1 con/cây xuống còn 0,2 con/cây Khoảng cách giữa hai đỉnhcao sâu rộ giảm từ 25 - 26 ngày trong tháng 3 còn 15 - 16 ngày trong tháng 8 Qua đócho thấy mật độ và vòng đời sâu hại có quan hệ mật thiết với điều kiện tự nhiên Cũngtheo Lê Văn Trịnh và cộng tác viên, giai đoạn phát dục và vòng đời sâu tơ chịu ảnhhưởng nhất định của các yếu tố nhiệt độ không khí, ở 21,70C vòng đời là 20,8 ngày.Khi nhiệt độ xuống 17,20C thì vòng đời tăng là 33,3 ngày Thời gian sống, đẻ trứng, tỷ
lệ trứng hữu hiệu bị ảnh hưởng nhất định của chất lượng thức ăn và thuốc Monitorphun hai lần trong thời kỳ sâu non (dẫn theo Đinh Thị Hiền, 2007) [8]
Ở vùng ven thành phố Hồ Chí Minh, ước tính khoảng hơn 20 lứa sâu tơ gây hại.Bất kỳ thời gian nào trong năm nếu có cây họ thập tự đều thấy sâu tơ hiện diện Tuynhiên, trong mùa khô mật độ thường cao hơn trong mùa mưa (Dương Thành Tài vànnk, 1995 [6] Kết quả nghiên cứu 3 năm tại Hooc Môn, Bình Chánh (thành phố HồChí Minh) trên vụ bắp cải chính ở mùa khô cho kết quả từ tháng 10 đến tháng 3 có 7 -
8 lứa sâu non rộ trung bình 14 - 16 ngày có 1 đỉnh cao Hai thời điểm sâu nhiều nhấttrong năm gồm:
- Thời gian cuối tháng 11, đầu tháng 12 ở vụ bắp cải sớm đang giai đoạn cuốnbắp - mật độ có thể tới 50 - 60 sâu non/cây
- Thời điểm cuối tháng 2 đến đầu tháng 3 ở vụ cải bắp muộn thu hoạch sau tếtmật độ có thể trên 100 sâu/1 cây Đỉnh cao này thường gây thiệt hại lớn cho cải, nhiềuruộng không cho thu hoạch
Đứng trước sự bất lực của thuốc hoá học để trừ sâu tơ trong một số trường hợp
và hiệu quả của chúng khi sử dụng, nên biện pháp sinh học ngày càng được chú ý
Trang 9Các tài liệu đã thể hiện rõ 3 định hướng nghiên cứu và phát triển biện pháp sinh họctrong phòng trừ tổng hợp sâu hại rau họ hoa thập tự đó là:
- Duy trì, bảo vệ, tạo điều kiện để các thiên địch tự phát triển
- Sử dụng rộng rãi các chế phẩm sinh học: Bacillus thuringiencis (Bt), Beaveria
Thành công lớn nhất của biện pháp sinh học trong phòng trừ sâu hại rau họ hoathập tự là việc nghiên cứu, sản xuất quy mô công nghiệp và sử dụng rộng rãi các chếphẩm sinh học, nhất là chế phẩm Bt Với sự phát hiện sâu tơ kháng Bt của Tabashnik
et al (1990 - 1992), đã nảy sinh vấn đề về phương thức sử dụng Bt trong hệ thốngphòng trừ tổng hợp, sao cho không tạo nên sức ép chọn lọc, làm cho sâu tơ phát triểntính kháng Bt Như thế mới phát huy được ưu thế của chế phẩm, không gây độc hạivới môi trường, đảm bảo chất lượng sản phẩm [8]
1.2 Những nghiên cứu trong và ngoài nước về nấm ký sinh côn trùng
1.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới về nấm ký sinh côn trùng
Theo Steinhaus (1956), minh hoạ đầu tiên về nấm gây bệnh côn trùng đượcReaumur công bố năm 1726 với một loài nấm thuộc giống Cordyceps gây bệnh chosâu non họ Noctuidae Turrubia (1749) đã ghi nhận một loại cánh màng (có thể là
Polistes) bị chết do nấm Cordyceps shecocephala [12] Nhưng Agostino Bassi (người
Italia) mới được coi là “ông tổ” của bệnh lí côn trùng với công trình nghiên cứu vềbệnh nấm bạch cương ở tằm vào năm 1835 Agostino Bassi đã gợi ý dùng vi sinh vật
để diệt sâu hại (dẫn theo Phạm Văn Lầm, 2002) [12] Sau công bố của Bassi thì ngàycàng có nhiều công trình nghiên cứu sử dụng nấm trừ côn trùng
Trang 10Andouin (1837), đã đề xuất có thể dùng nấm bạch cương gây bệnh tằm để trừmột số loài côn trùng khác Những thí nghiệm nghiên cứu của Pasteur về nấm bạchcương trên tằm đã mở đường cho việc nghiên cứu dùng nấm trừ sâu hại ChínhPastuer (1874) đã đề xuất tìm kiếm nấm côn trùng thích hợp để trừ rệp hại rễ nhoPhulloxera (Weiser, 1966) [12] Metschnikov (1879) đã tiến hành nghiên cứu dùng
nấm Metarhizium anisopliae để trừ sâu bọ hung hại lúa mì Anisoplia austrisca Thí
nghiệm của Metschnikov thành công trên đồng ruộng đã khích lệ nhiều nhà nghiêncứu về nấm cũng như các vi sinh vật khác để trừ sâu hại (dẫn theo Phạm Văn Lầm,2002) [12]
Thông thường nấm được tìm thấy trên sâu non, nhưng đôi khi nhộng cũng bịhại Sâu bị bệnh bị dính chặt vào mặt lá bởi những khuẩn ty mọc ra từ mặt bụng củasâu Nấm bệnh cũng có thể tạo thành đám, những cuống bào tử mọc bao trùm lên thânsâu, khiến không thể nhận dạng được Robertson (1939) cho rằng tỷ lệ sâu chết donấm phụ thuộc nhiều vào ẩm độ môi trường và mật độ sâu tơ [5] Quan sát tại
Malaysia, Ooi (1986) thấy rằng nấm Zoophthora radicans là một trong những tác
nhân quan trọng gây chết sâu tơ ở cao nguyên Cameron, nguồn bệnh thường xuyênhiện diện trên đồng, số sâu bị bệnh có khuynh hướng gia tăng khi mật độ sâu gia tăng.Tác giả cũng cho rằng dịch bệnh có khả năng phát triển ổn định trong môi trường có
vũ lượng và nhiệt độ trung bình tương đối cao [6]
Một loài nấm cũng được các nhà khoa học nhắc đến nhiều là Erynia blunckii,
loài nấm này xuất hiện không thường xuyên, có phổ phân bố hẹp hơn, được nghinhận tại Đức, Liên Xô, Phần Lan, Nhật Bản và có kí chủ duy nhất là sâu tơ(Wilding, 1986), [6]
Ở Philippin, theo điều tra của các nhà khoa học về tình hình phổ biến của hai
loại nấm Zoophthora radicans và Erynia blunckii tại vùng cao nguyên Baguio Tại
đây, hiện tượng nhộng và sâu non nhiễm nấm trên đồng ruộng được nghi nhận từ 6tuần và 7 tuần sau khi trồng theo thứ tự là trên 90% sâu non và 70% nhộng bị nhiễm
Trang 11nấm Nấm Erynia blunckii là tác nhân chính gây chết sâu tơ trong khoảng thời gianthừ tháng 11/1989 đến tháng 1/1990 (Reiethmacher và nnk, 1990) [6].
Ở Jamaica Alam (1990) cho biết thành phần nấm bệnh sâu tơ gồm Beauveria
bassiana (trên sâu non và trên nhộng), Hirsutella sp (trên sâu non) và Paecilomyces
sp (trên nhộng) Nấm kí sinh côn trùng phát triển mạnh trong mùa mưa Nguồn nấm
Beauveria được sản xuất thành chế phẩm thử nghiệm đạt hiệu quả cao ngoài đồng,
tuy nhiên tỷ lệ sâu chết trong lô xử lý chỉ đạt 12,5 - 54,5% và trong lô đối chứng là10,7 - 46,9%, không khác biệt nhiều Tác giả cho rằng có thể trong thời gian xử lýthuốc, gió tương đối mạnh đã di chuyển thuốc đến những lô không xử lý kế cận Dù
vậy, kết quả sử dụng nguồn nấm bệnh tại chỗ như Beauveria để phòng trừ sâu tơ đã
mở ra phương hướng phòng trừ sinh học sâu tơ trong tương lai [2]
Đến năm 1987, trên thế giới đã mô tả được hơn 750 loài nấm gây bệnh côntrùng trong tổng số 100.000 loài nấm (Parlyuskin, 1987) [11] Hiện nay, có khoảng
700 loài nấm kí sinh côn trùng đã được xác định Theo đánh giá của DavidHawksworth trong tự nhiên có khoảng 1,5 triệu loài nấm kí sinh côn trùng đang chờcác nhà khoa học khám phá (Janet Jennier Luangsa-ard và nnk, 2006) (dẫn theo TrầnNgọc Lân và nnk, 2007) [11] Mặc dù đã có khoảng 700 loài nấm gây bệnh côn trùng
đã được biết nhưng các nghiên cứu chỉ tập trung vào một số ít các loài hại côn trùngtrong hệ sinh thái nông nghiệp ở vùng nhiệt đới [11] Những nấm đã được nghiên cứu
và sử dụng trừ sâu hại như: Metarhizium anisopliae, Metarhizium flavoviride,
Beauveria bassiana, Beaveria globulifera, Verticillium lecanii, Aschersonia aleyrodes, Paecilomyces farrinosus, Hirsutella thompsonii, Nomurea rileyi, Enthomophaga grylli, Erynia phytonomii, Lagenidiu gigantium, Coelomomyces sp.
(dẫn theo Phạm Văn Lầm, 2002) [12]
Lớp nấm bậc thấp Phycomycetes: các nấm ký sinh côn trùng tập trung ở các bộChytridiales, Blastocladiales và Entomophthorales Những gống quan trọng như:Coelosporidium, Chytridiypsis, Coelomomyces, Entomophthore,
Trang 12Lớp nấm túi Ascomycetes: Nấm kí sinh côn trùng ở các bộ Eurotiales,Myriangiales, Hypocreales, Laboulbeniales Những nấm quan trọng như Cordycep,Ascosphaeia.
Lớp nấm đảm Basdiomycetes: Trong lớp này chỉ có hai giống là Septpbasidium
và Uredinella
Lớp nấm bất toàn Deuteromycetes: Phần lớp nấm bất toàn kí sinh côn trùng đềuthuộc bộ Moniliales, các giống phổ biến là Beauveria, Paecilomyces, Spicaria,Metarhizium, Hirsutella, [12]
1.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam về nấm ký sinh côn trùng
Việt Nam là một nước thuộc vùng nhiệt đới có nguồn đa dạng sinh học rấtphong phú, nhưng việc nghiên cứu về nấm ký sinh côn trùng cũng như khả năng sửdụng các loài nấm ký sinh côn trùng trong việc kiểm soát dịch hại còn hạn chế
Như chúng ta đã biết, côn trùng thường bị chết bởi các loại bệnh khác nhau donhiều loại vi sinh vật gây nên như nấm, vi khuẩn, virus, nguyên sinh động vật, tuyếntrùng, bệnh do vi sinh vật có khi gây chết côn trùng chiếm 80 - 90% (Nguyễn VănĐĩnh và nnk, 2007) (dẫn theo Trần Ngọc Lân và nnk, 2007) [11] Trong đó nấm gâybệnh côn trùng có vai trò quan trọng trong việc hạn chế số lượng côn trùng gây hại
Nó được xem như một phương thức kiểm soát dịch hại
Cho đến nay, nước ta chỉ nghiên cứu về một vài loài nấm ký sinh côn trùng ởhướng nghiên cứu sử dụng phòng trừ sâu hại cây trồng và chỉ tập trung nghiên cứuứng dụng hai loài nấm Beauveria và Metarhizium, được tiến hành từ năm 1995 Cáccông trình nghiên cứu và sử dụng hai loài nấm trên để phòng trừ sâu hại đã và đangđược ứng dụng rộng rãi và tiếp tục được nghiên cứu Vụ hè thu năm 2003, tại HàTĩnh, sử dụng Beauveria và Metarhizium với nồng độ 5.108 bào tử/ml để phòng trừsâu xanh đục quả đậu xanh 123 cho tỷ lệ chết là 69,8% đối với Beauveria và 71,7%đối với Metarhizium Sử dụng hai loại nấm trên để phòng trừ sâu khoang và sâu keo
da láng ăn đậu tương DT84 cho tỷ lệ chết là 61,1% đối với Beauveria và 68% đối với
Trang 13Metarhizium (Phạm Thị Thuỳ và nnk, 2005) [17] Sử dụng nấm Metarhizium để
phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa Brontispa sp ở Hải Phòng năm 2004, cho tỷ lệ chết ở
pha sâu non là 76,5 - 85,8% 30 ngày sau phun và ở pha trưởng thành trong điều kiệnnhiệt trung bình 31,10C, độ ẩm là 78,5 - 89,6% sau 10 ngày thử nghiệm và 85,4 -95,4% sau 30 ngày thí nghiệm (Phạm Thị Thuỳ và nnk, 2004) [18]
Qua điều tra, thực tế ngoài đồng ruộng tại ruộng rau cải và cải bắp thuộc xãMai Dịch, huyện Từ Liêm, Hà Nội cho thấy tỷ lệ nhiễm tự nhiên nấm Materhiziumtrên sâu tơ là 5,5 - 6,6%, sâu xanh bướm trắng là 12,5 - 14,5% Trong điều kiệnphòng thí nghiệm dịch bào tử nấm Materhizium có hiệu quả diệt sâu tơ là 83,4%
sau 8 ngày phun sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae Linn) là 70,3% sau 12 ngày phun, bọ xít đen (Scotinophora lurida Burm) là 69,2% sau 15 ngày phun và mối nhà (Coptotermes formosanus Shizaki) là 100% sau 7 ngày thí nghiệm Trong điều
kiện chậu vại đối với sâu tơ là 60 - 76% sau 12 ngày xử lí (Phạm Thị thuỳ và nnk,
2005) [19] Sử dụng nấm Metarhizium để phòng trừ mối nhà Coptotermes
formosanus shizaki cho tỷ lệ chết 88% ở hàm lượng chế phẩm 0,005; 92% ở hàm
lượng 0,01; 96% ở hàm lượng 0,02 trong điều kiện phòng thí nghiệm rắc trên mặtđất cho tỷ lệ chết là 86,9% ở hàm lượng 0,005; 91,3% ở hàm lượng 0,01; 96% ởhàm lượng 0,02 Ngoài tự nhiên tỷ lệ chết là 95,8% ở hàm lượng 0,02 (Trịnh VănHạnh và nnk, 2005) [4] Sử dụng nấm Metarhizium phòng trừ bọ cánh cứng hạidừa có tỷ lệ chết ở sâu non là 89,3%, ở trưởng thành là 76,6% sau 10 ngày phun(Phạm Thị Thuỳ và nnk, 2005) [20] Khoa nông nghiệp trường đại học Cần Thơ đãđưa 3 loại nấm là Metarhizium, Paecilomyces và Verticillium thử nghiệm trong hainăm, nấm Metarhizium diệt được 50% trở lên đối với ấu trùng sâu ăn tạp trên hoamàu, 80% rầy mềm trên bí, nhiều loại dưa; 80% bọ cánh cứng phá hại trên câydừa Nấm Paecilomyces và Verticillium diệt được 70% ấu trùng sâu bệnh gây hạitrên cây trồng [23]
Trang 14Sử dụng nấm Metarhizium phòng trừ trưởng thành bọ nhảy ở 3 nồng độ trongđiều kiện phòng thí nghiệm cho tỷ lệ chết và mọc nấm theo mức tăng của nồng độ vàthời gian xử lí Ở nồng độ 3% bào tử/ml tác giả thu được 22,22% số bọ nhảy bị chết và16,05% số bọ nhảy mọc nấm sau 7 ngày phun Nồng độ 5% bào tử/ml cho kết quả là30,86% bọ nhảy bị chết và 23,46% bọ nhảy mọc nấm Nồng độ 7% bào tử/ml cho tỷ lệchết là 33,33%, tỷ lệ mọc nấm là 25,93% Tác giả Đinh Thị Hiền xử lí nấm
Metarhizium sp Trên sâu non bọ nhảy thu được kết quả khả quan hơn trên trưởng
thành rất nhiều Nồng độ 3% bào tử/ml cho tỷ lệ chết là 44,44%; tỷ lệ mọc nấm là28,40% Nồng độ 5% bào tử/ml có tỷ lệ chết là 62,96%; tỷ lệ mọc nấm là 42,42%.Nồng độ 7% bào tử/ml cho tỷ lệ chết là 70,37%; tỷ lệ mọc nấm là 62,96% [8]
Bên cạnh đó Đinh Thị Hiền còn dùng nấm Metarhizium sp Để phòng trừ sâu tơ
trong điều kiện nhiệt độ phòng bán tự nhiên trung bình là 22,50C, ẩm độ trung bình là82,5%, kết quả thu được rất khả quan Nồng độ 2.108 cho tỷ lệ chết là 50%, tỷ lệ mọcnấm là 20,99% Nồng độ 4.108 tỷ lệ chết là 66,67%; tỷ lệ mọc nấm là 30,77% Nồng
độ 6.108 tỷ lệ chết là 71,79%; tỷ lệ mọc nấm là 39,74% tất cả số liệu đều là kết quảtheo dõi trong 7 ngày [8]
Phạm Văm Khang (2007) sử dụng Metarhizium sp Phòng trừ sâu tơ cho tỷ lệ chết
66,67% và tỷ lệ mọc nấm 33,33% ở nồng độ 8.1010bt/ml sau 7 ngày theo dõi [6]
1.3 Biện pháp phòng trừ sâu tơ hại rau thập tự trên thế giới và ở Việt Nam 1.3.1 Biện pháp phòng trừ sâu tơ hại rau thập tự trên thế giới
Sâu tơ Plutella maculipenis Curtis được xem là một trong những loài gây hại
nghiêm trọng trong tập đoàn sâu hại rau họ hoa thập tự ở khắp các nước trên thế giới.Một trong các biện pháp đã và đang áp dụng phổ biến nhất ở các nước để phòng trừsâu tơ là biện pháp hóa học Hàng trăm loại chế phẩm thuốc trừ sâu đã được khảonghiệm, sử dụng rộng rãi Để trừ sâu tơ, mỗi vụ rau nông dân Philippin đã phun 7 - 10lần, nông dân Costarica phải phun tới 16 lần Ở vùng Rio Grande Valley thuộc TâyNam Hoa Kỳ, vào những năm 1986 mỗi vụ nông dân thường phun thuốc bình quân 8
Trang 15lần để trừ sâu tơ, nhưng tới năm 1989 - 1990, số lần phun thuốc trừ sâu tơ trong mỗi
vụ bắp cải đã lên tới 8 - 15 lần, đôi khi có tới 20 lần/vụ (Cart Wright B và nnk, 1990)
Do quá lệ thuộc vào thuốc đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng như hiện tượng táiphát tạo ra những chủng sâu tơ kháng thuốc trên đồng ruộng, gây hại đến sinh vật cóích, gây ô nhiễm môi trường sống, gây độc hại cho người sử dụng và người trồng rau
Để hạn chế việc sử dụng thuốc hóa học thì nhiều biện pháp kỹ thuật phòng trừsâu tơ khác đã được nghiên cứu và tiến hành ở nhiều nước trên thế giới: Như việc kiềmchế số lượng sâu tơ bằng các loài ký sinh, loài bắt mồi ăn thịt Ở Nam Á, Indonesia lànước đi tiên phong trong lĩnh vực du nhập và nhân thả các loài ong ký sinh trên sâu tơ.Vào đầu thập niên 50, của thế kỷ XX Indonesia du nhập thành công loài
Diadegmasseni clausum Hellen từ New Zealand vào Pacet, tây đảo Java (Voc, 1953).
Sau đó, loài này được nuôi thả ở nhiều vùng trồng bắp cải ở Indonesia Loài ký sinhnày đã sinh sản và phát triển được trong thời gian từ năm 1965 - 1970 mức ký sinh thấphơn 60% và không kiềm chế hữu hiệu sâu tơ Mãi đến năm 1971 - 1975 ở Java và nhiềuvùng của đảo Sumatra mức ký sinh đạt được trên 60%, kiềm chế hiệu quả sâu tơ(Sudarwohadi và Evenlens, 1977) (dẫn theo Đinh Thị Hiền, 2007) [8]
Ở Đài Loan, ngoài loài ký sinh bản địa C plutellae, loài du nhập D.
semiclausum cũng phát triển được trên vùng cao nguyên trồng rau thập tự (Talekar,
1990) Ở những vùng này nông dân cho biết thiệt hại do sâu tơ gây ra giảm đi đáng
kể, nông dân ít dùng thuốc trừ sâu, việc du nhập và nuôi thả ký sinh đã tiết kiệm choĐài Loan 365 000 USD/năm
Các loài bắt mồi ăn thịt cũng là tác nhân quan trọng để kiềm chế quần thể sâu
tơ Wemoto et al (1985) cho rằng mật độ sâu tơ cao hơn trong ruộng có phun thuốctrừ sâu là do mật độ các loài ăn thịt bị giảm thấp Trong thí nghiệm của Keim neesuke(1988) thì hơn 68% sâu tơ chết do các loài bắt mồi ăn thịt được coi là yếu tố cân bằngquần thể sâu tơ nhưng chúng ít được quan tâm, cần có nhiều nghiên cứu sâu hơn vềchúng
Trang 16Ngày nay, con người nhận thấy rằng có hàng loạt biện pháp hạn chế được mật
độ và tác hại của sâu tơ, trong đó biện pháp canh tác thể hiện vai trò rõ rệt Tuy nhiên,hiệu quả của biện pháp này đối với dịch hại còn phụ thuộc vào đặc điểm của hệ thốngtrồng trọt như sự đa dạng hóa cây trồng, cây hàng năm, cây lâu năm,…
Để phòng trừ sâu tơ Nakahara và nnk (1985) đã dụng biện pháp tưới phun mưa,thực hiện trên nông trại trồng xà lách xoong ở Hawaii năm 1982 - 1983 Hệ thốngtưới phun mưa phòng trừ sâu tơ đem lại hiệu quả kinh tế rất cao, chi phí phun thuốchóa học giảm 89% và năng suất cải xà lách xoong tăng thêm 93% Tưới phun mưa đãtạo nên một môi trường mới hạn chế sự phát triển của quần thể của quần thể sâu tơ dolàm trôi sâu non xuống mặt nước rồi bị chết
Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới cũng quan tâm về giống rau họ thập
tự có khả năng kháng sâu tơ Tại New York thì Eckenrode và nnk (1985) đã đánh giá
và nghiên cứu 52 giống/dòng rau thập tự, các thí nghiệm được tiến hành trong nhàlưới và ngoài đồng ruộng Kết quả cho thấy giống cải bông PI 234599, G9, 01, giốngcải bắp G8329, G9619 hoàn toàn sạch sâu và không bị thiệt hại gì Những giống cải họthập tự có màu xanh đậm ít bị sâu tơ tấn công hơn, còn những nhóm cải bông có màuxanh bình thường bị hại nặng hơn
Gần đây, tình trạng kém hiệu lực của thuốc hóa học đối với sâu tơ đã khiến cácnhà nghiên cứu BVTV phải nhìn lại vấn đề phòng trừ sâu hại một cách toàn diện và
hệ thống hơn Do đó, xu hướng áp dụng quản lý tổng hợp dịch hại (IPM) cho sâu tơngày càng được quan tâm Nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu các biện phápthành phần như biện pháp sinh học, vi sinh vật, biện pháp canh tác, giống kháng,… vàđạt được nhiều kết quả khả quan Hầu hết các thử nghiệm bước đầu về IPM trên sâu
tơ đều cho hiệu quả tốt, hứa hẹn nhiều triển vọng Song các hệ thống IPM hoàn chỉnhcòn hiếm và việc triển khai cho nông dân còn rất chậm chạp
Trang 171.3.2 Biện pháp phòng trừ sâu tơ hại rau thập tự ở Việt Nam
Cho đến nay có nhiều công trình nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ sâu tơhại rau họ hoa thập tự đã được công bố Trong hàng loạt các biện pháp được đưa rathì hầu hết người dân ở địa phương đều sử dụng biện pháp hóa học là chủ yếu Bởiđây là biện pháp dễ sử dụng, tiêu diệt nhanh, dễ cơ giới hóa,… Những ưu điểm nàygiúp người dân tiêu diệt sâu hại kịp thời, hiệu quả Tuy nhiên, tác hại của nó là khôngthể lường trước được
Theo điều tra của Lê Trường vào những năm 1969 cho thấy toàn bộ nông dâncác hợp tác xã chuyên canh về rau họ hoa thập tự ở ngoại thành Hà Nội và Hải Phòngđều sử dụng thuốc hóa học phun nhiều lần trong mỗi vụ để phòng trừ sâu tơ Tại các
xã thuộc huyện Hooc Môn, Củ Chi (ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh) không có
hộ nông dân nào trồng cải mà không phun thuốc trừ sâu tơ Mỗi vụ rau muộn (cấy vàosau tết âm lịch) nông dân thường phun thuốc trừ sâu trên 20 lần, chi phí cho công táctrừ sâu trên bắp cải lên tới 46,9% tổng vốn đầu tư [19]
Theo Nguyễn Thị Lan (2001) ở hợp tác xã (HTX) Văn Đức, Đông Dư (GiaLâm, Hà Nội) và HTX Ninh Sơn (Hoa Lư, Ninh Bình) (2003) và hiện trạng dùngthuốc BVTV cho thấy người dân đã sử dụng 27 loại thuốc hóa học để trừ sâu trong
đó có một số loại thuốc bị cấm như Wofatox và Niniton, thuốc định kỳ được phuntrong rau từ khi cây còn bé [10] Tại HTX Văn Đức năm 1999 trên rau bắp cải có hộphun 10 - 14 lần trong một vụ rau Bên cạnh đó nông dân còn sử dụng tùy tiện thuốcbảo vệ thực vật nhập lậu từ Trung Quốc Vì theo họ giá thuốc nhập lậu rẻ và có thểdiệt sâu rộng Điều này đã làm tăng tác hại do thuốc hóa học gây ra được tích lũytrong các chuỗi dinh dưỡng, đất, nước, hình thành các quần thể gây hại có tínhchống chịu, xuất hiện các loài sâu hại có ý nghĩa kinh tế mới, đe dọa sức khỏe conngười, phá vỡ cân bằng các quần thể sinh vật tự nhiên và nhiều hiện tượng kháccũng có thể có nhiều hậu quả chưa lường trước được dưới ảnh hưởng của thuốc hóahọc lên con người, động vật, thực vật trong đó có nhiều hậu quả về di truyền Có thể
Trang 18nói thời hoàng kim của biện pháp hóa học vào những năm 1959 - 1960 đã làm chonhiều người tin tưởng tuyệt đối vào thuốc hóa học Sự phát triển mạnh mẽ của biệnpháp hóa học đã bộc lộ ngày một rõ các mặt tiêu cực của nó (Nguyễn Thị Thanh,2002) [16].
Trong tương lai, biện pháp hóa học vẫn giữ một vai trò rất quan trọng, tấtnhiên nó không phải độc tôn như trước mà là một mắt xích quan trọng trong phươngpháp điều khiển dịch hại tổng hợp Chính từ những khuyết điểm của biện pháp hóahọc trong bảo vệ thực vật đã thôi thúc các nhà khoa học cần phải nhanh chóng tìm racác biện pháp thích hợp bảo vệ cây trồng không những về mặt kinh tế mà còn vềmặt vệ sinh môi trường, cân bằng sinh thái Vấn đề bảo vệ kẻ thù tự nhiên khi dùngthuốc hóa học mang ý nghĩa rất lớn trong việc duy trì cân bằng môi sinh Tuy nhiên,trong thời điểm hiện nay, việc từ bỏ hoàn toàn biện pháp hóa học diệt trừ sâu hại vàchỉ dựa vào quá trình tự nhiên để điều hòa số lượng quần thể sâu hại dưới ngưỡnggây hại kinh tế nhìn chung khó thực hiện Vì vậy, cần thiết phải xây dựng hệ thốngquản lý dịch hại tổng hợp bảo vệ cây trồng, bao gồm: Kỹ thuật canh tác, sinh học vàhóa học
1.4 Những tồn tại khi sử dụng thuốc hóa học phòng trừ sâu tơ
Từ nhiều năm nay ngành trồng rau thập tự ở thành phố Vinh và các vùng khác
trong cả nước thường xuyên phải đối phó với sự phá hoại của sâu tơ Plustella
maculipennis Curtis, chúng gây hại nghiêm trọng cho rau họ hoa thập tự hầu như
khắp vùng trồng rau trong nước và trên thế giới
Với đặc tính vòng đời rất ngắn 12 - 15 ngày, khả năng sinh sản cao, tính khángthuốc mạnh, công tác phòng trừ sâu tơ đã và đang gặp không ít khó khăn Thiệt hạihàng năm do sâu tơ gây ra khoảng 30 - 50% năng suất, chi phí cho việc phòng trừchiếm 20 - 40% tổng chi phí đầu tư cho cây bắp cải Ở Việt Nam, theo số liệu điều tracủa bộ môn bảo vệ thực vật - Viện khoa học Miền Nam (1991 - 1994), chi phí choviệc phòng trừ tại thành phố Hồ Chí Minh chiếm khoảng 46,7% tổng số vốn đầu tư
Trang 19cho cây bắp cải, có gia đình chi phí 2 triệu đồng cho tiền thuốc trừ sâu để phun trên1000m2 mà vẫn bị sâu hại Ở vụ bắp cải thu hoạch sau tết, thường nông dân cứ 2 - 3ngày phun thuốc 1 lần (20 - 30 lần phun/vụ/2 tháng) và thường pha gấp 10 - 20 lầnnồng độ khuyến cáo Không những thế nông dân còn hòa trộn 2 - 4 loại thuốc trong 1bình phun (có khi 6 - 7 loại) để phun (dẫn theo Lê Xuân Bảo, 2008) [2] Tình trạng sửdụng thuốc trừ sâu tùy tiện, không đúng phương pháp đã dẫn đến việc sâu tơ khángthuốc ngày càng cao, các loài động vật có ích bị chết, lượng thuốc tồn tại trên cây rauvượt quá giới hạn cho phép đã ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe người tiêu dùng.Nhiều vụ ngộ độc hàng loạt do ăn phải rau có phun thuốc trừ sâu đã xảy ra Nhữngcon số điều tra về các ca ngộ độc thức ăn do rau có phun thuốc trừ sâu ở Bà Rịa -Vũng Tàu là 123 ca vào tháng 3/1994 và 34 ca vào tháng 4/1995 Có nhiều vùng sửdụng thuốc trừ sâu, trong sữa mẹ hàm lượng DDT đến 80µg (Phan Rang) và 84 µg(Nha Trang) (dẫn theo Lê Thị Kim Oanh, 2002) [15].
Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, đời sống nhân dân ngày càng đượcnâng cao thì rau an toàn đang là vấn đề quan tâm lớn trên thế giới cũng như ở ViệtNam Trong tổng số các khâu để sản xuất rau an toàn thì phòng trừ sâu hại là mộtkhâu quan trọng đối với năng suất và chất lượng rau sạch Phòng trừ sâu hại bằngbiện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trong đó có việc sử dụng chế phẩm nấm,thảo mộc, sử dụng thiên địch, giảm thuốc hóa học rất có ý nghĩa và cần được quantâm nghiên cứu để bảo vệ và duy trì kẻ thù tự nhiên, đảm bảo an toàn chất lượng rau,
có hiệu quả kinh tế cao và bảo vệ môi trường
Trang 20CHƯƠNG II
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Định nghĩa nấm ký sinh côn trùng
Tổ chức Đấu tranh sinh học thế giới đã định nghĩa: “Phòng trừ sinh học là việc
sử dụng những sinh vật sống hay các sản phẩm hoạt động sống của chúng nhằm ngăn ngừa hoặc làm giảm bớt tác hại do các sinh vật gây ra” (IOBC, 1971) (Dẫn
theo Phạm Văn Lầm, 1995) [13]
Thuật ngữ “nấm côn trùng” là viết tắt của “nấm gây bệnh côn trùng” hay “nấm
ký sinh côn trùng” Các nhà khoa học thường sử dụng thuật ngữ này Nấm ký sinhcôn trùng được phân thành 4 nhóm:
(1) Nhóm sinh vật cộng sinh phụ thuộc lẫn nhau, là nhóm sinh vật mà cả nấm vàvật chủ côn trùng của nó đều có lợi trong mối quan hệ qua lại giữa chúng
(2) Nhóm ký sinh trong bị giới hạn bên trong lớp biểu bì ruột của vật chủ
(3) Nhóm ký sinh ngoài là những nhóm nấm thường phát triển trên bề mặt ngoàicủa côn trùng và gây hại không đáng kể đến vật chủ của chúng
(4) Nhóm sinh vật gây bệnh là những sinh vật mà trực tiếp hoặc gián tiếp gâybệnh cho vật chủ của chúng
Sau đó, nấm côn trùng có thể được phân thành 2 nhóm: nhóm gây bệnh sơ cấp
và nhóm gây bệnh thứ cấp
Nhóm gây bệnh sơ cấp thường làm yếu vật chủ côn trùng trước khi giết chếtchúng Trong khi đó, nhóm gây bệnh thứ cấp chỉ có thể xâm nhiễm gây yếu hoặc làmtổn thương vật chủ
Gây bệnh hay ký sinh ở những vật chủ già hoặc yếu được gọi là gây bệnh tựnhiên hay gây bệnh chủ động Gây bệnh chủ động có thể xâm nhiễm vào vật chủ bịbệnh của chúng bằng cách xuyên sâu qua lớp vỏ cuticun của vật chủ Gây bệnh được
Trang 21kết hợp với làm tổn thương vật chủ gọi là gây bệnh qua vết thương Khác với gâybệnh chủ động, gây bệnh qua vết thương chỉ có thể xâm nhiễm gây độc cho cơ thểvật chủ côn trùng của chúng qua vết thương Thuật ngữ nấm côn trùng được sử dụng
để diễn tả nấm ký sinh trong hoặc ngoài cơ thể vật chủ côn trùng của chúng (Dẫntheo Le Tan Hung, 2006) [26]
2.1.2 Phương thức xâm nhập của nấm vào cơ thể côn trùng
Hầu hết các trường hợp nấm gây bệnh côn trùng xâm nhập vào cơ thể vật chủkhông phải qua đường miệng mà chủ yếu qua lớp vỏ cơ thể, tức là phải có sự tiếpxúc của nguồn nấm với bề mặt cơ thể vật chủ Bào tử nấm bám vào bề mặt cơ thểvật chủ, đủ điều kiện ẩm độ, bào tử mọc mầm và xâm nhiễm vào bên trong cơ thểcôn trùng qua lớp kitin Để vượt qua lớp biểu bì ngoài là nhờ áp lực cơ giới, còn qualớp biểu bì trong là do hoạt động men của nấm (Evlakhova, 1974) (dẫn theo PhạmVăn Lầm, 1995) [13] Nấm tiết ra các loại men làm mềm lớp vỏ kitin và tạo thànhmột lỗ thủng tại nơi bào tử mọc mầm qua lỗ thủng đó mầm của bào tử xâm nhập vàobên trong cơ thể côn trùng Vì nấm có khả năng xâm nhập vào bên trong cơ thể côntrùng qua lớp vỏ cơ thể nên nấm có thể ký sinh được côn trùng chích hút và ký sinhđược những pha phát triển mà các vi sinh vật khác không ký sinh được như trứng,nhộng
Nấm có thể xâm nhập vào bên trong cơ thể côn trùng qua đường miệng và từ miệngbào tử tới ruột và qua thành ruột xâm nhiễm vào các tế bào nội quan để gây bệnh Xâmnhập kiểu này chủ yếu là bào tử của các loài nấm ở nước Trong một số trường hợp tìmthấy rất nhiều bào tử nấm ở ruột của côn trùng Dưới tác động của các độc tố do bào tửnấm tiết ra có thể dẫn đến hiện tượng ngừng nhu động ruột của vật chủ
Bào tử nấm có thể xâm nhập qua lỗ thở hoặc cơ quan sinh dục để vào bên trong
cơ thể côn trùng, những trường hợp này rất ít [14]
2.1.3 Sự xâm nhiễm và phát triển của nấm trong cơ thể côn trùng
Đây là một quá trình phức táp gồm ba giai đoạn chính sau đây:
Trang 22+ Giai đoạn xâm nhập: Từ khi bào tử nấm mọc mầm đến khi hoàn thành việcxâm nhập vào trong xoang cơ thể côn trùng.
+ Giai đoạn phát triển của nấm trong cơ thể côn trùng đến khi côn trùng chết:Đây là giai đoạn sống ký sinh của nấm, trong giai đoạn này nấm thường tạo ra rấtnhiều sợi nấm ngắn Những sợi nấm ngắn này được phân tán đi khắp cơ thể theo dịchmáu Về phía vật chủ có phản ứng tự vệ như sự thực bào, xuất hiện tế bào bạch huyết,
… phản ứng tự về này chỉ trong một thời gian ngắn kìm hãm sự xâm nhập của nấmvào các nội quan Khi các sợi nấm xâm nhập vào tất cả các bộ phận thì chúng đồngthời gây chết vật chủ
+ Giai đoạn sinh trưởng phát triển của nấm sau khi vật chủ chết: Đây là giaiđoạn hoại sinh của nấm ký sinh côn trùng Trong giai đoạn này nấm hình thành cácbào tử hoặc conidi, hoặc nấm mọc thành sợi ra bên ngoài bề mặt cơ thể vật chủ Sau
đó các bào tử được tạo thành trên lớp sợi nấm ở bề mặt cơ thể vật chủ
Các nấm gây bệnh cho côn trùng chỉ sinh trưởng phát triển để hoàn thành mộtchu kỳ sống của chúng: Từ mọc mầm bào tử đến hình thành bào tử mới Nấm gây bệnhcôn trùng có thể là chuyên tính hẹp, chỉ ký sinh một vật chủ hoặc một giai đoạn nhấtđịnh của vật chủ Nhưng nhiều trường hợp chúng là ký sinh có tính chuyên hóa thức ănrộng, có thể ký sinh nhiều loài côn trùng thuộc các giống, họ, bộ khác nhau
2.1.3 Giả thuyết khoa học
Khi tiến hành nghiên cứu tôi đưa ra một số giả thuyết sau:
Giả thuyết 1: Thử nghiệm hiệu quả phòng trừ của nấm Beauveria amorpha với
nồng độ 106, 109 và 1012bt/ml trên sâu tơ trong phòng thí nghiệm thì nồng độ 109 chohiệu quả phòng trừ sâu tơ cao nhất
Giả thuyết 2: Xử lí nấm Paecilomyces sp1 trên sâu tơ ở nồng độ 105, 107 và
109bt/ml thì nồng độ 107 cho tỷ lệ chết và mọc nấm cao nhất
Giải thuyết 3: Khi phun Beauveria amorpha trên các độ tuổi khác nhau ở giai đoạn
sâu non của sâu tơ tuổi 3 sẽ là tuổi mẫn cảm với nấm nhất, cho tỷ lệ mọc nấm cao nhất
Trang 23Giả thuyết 4: Khi xử lí hai loài nấm Beauveria amorpha và Paecilomyces sp1 trên sâu tơ trong điều kiện bán tự nhiên thì Beauveria amorpha cho hiệu quả phòng trừ cao
hơn
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: 18/12/2007 đến tháng 9/2008
- Địa điểm nghiên cứu: Phòng thí nghiệm Vi sinh - công nghệ sinh học nôngnghiệp, phòng Bảo vệ thực vật và không gian xung quanh phòng thí nghiệm
2.3 Vật liệu nghiên cứu
- Sâu tơ hại rau họ hoa thập tự (Plutella maculipennis Curtis) (Lepidoptera,
Phân lập và nhân nuôi
Phân lập và nhân nuôi sơ cấp chủng nấm Beauveria amorpha (Hohnel) Samson
& H.C Evans và Paecilomyces sp1 trên môi trường PDA theo phương pháp của
Luangsa - ard J.J.et al (2006)
Nhân nuôi thứ cấp để sản xuất chế phẩm theo phương pháp lên men xốp của LiPei - Jung và Shen Chung - Guang (2003)
Xác định nồng độ bào tử của chế phẩm bằng buồng đếm hồng cầu
Thử nghiệm trong phòng
Sâu tơ (Plutella maculipennis Curtis) được bắt trực tiếp trên ruộng rau cải tại
Trại thực nghiệm Nông nghiệp Khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại học Vinh
Trang 24Thí nghiệm về hiệu quả phòng trừ của chủng nấm Beauveria amorpha (Hohnel)
Samson & H.C Evans được bố trí theo 3 công thức với nồng độ dịch phun thửnghiệm là 106, 109, và 1012 bào tử/ml)
Thí nghiệm về hiệu quả phòng trừ của chủng nấm Paecilomyces sp1 được bố
trí theo 3 công thức với nồng độ dịch phun thử nghiệm là 105, 107, và 109 bào tử/ml.Mỗi công thức thí nghiệm ở 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại 30 con sâu tơ và 1đối chứng, được phun bằng nước cất
Sau khi thử nghiệm nồng độ, tiến hành thử nghiệm tuổi sâu mẫn cảm bằng cáchchọn nồng độ cho hiệu quả phòng trừ cao nhất phun trên 4 tuổi ở pha sâu non, phanhộng và trưởng thành của sâu tơ Mỗi công thức 3 lần lặp lại và 1 đối chứng
Thử nghiệm trong điều kiện bán tự nhiên
Sử dụng hai nồng độ chuẩn của hai loài nấm đã nghiên cứu được ở phần trước vàthả tuổi sâu mẫn cảm nhất trong các thùng xốp đã trồng rau họ hoa thập tự Chia ra cáclần tưới rau khác nhau để thử nghiệm hiệu quả của nấm ở các độ ẩm khác nhau
Thử nghiệm thứ nhất tiến hành tưới nước cho rau 2 lần/ngày
Thử nghiệm thứ hai tưới nước cho rau 1 lần/ngày
Thử nghiệm thứ ba tưới nước cho rau 2 ngày/lần
Trong đó: M là tỷ lệ (%) chết của sâu hại
Ca là số lượng sâu sống ở công thức đối chứng
Ta là số lượng sâu sống ở công thức phun dịch bào tử nấm
Xử lý số liệu theo phần mềm xử lý STATISTIX và IRISTART
Trang 25CHƯƠNG III
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Hiệu lực trừ sâu tơ của nấm Beauveria amorpha và Paecilomyces sp1 trong
phòng thí nghiệm
3.1.1 Hiệu lực trừ sâu tơ của nấm B.amorpha ở 3 nồng độ bào tử khác nhau
Nấm Beauveria amorpha đã được nghiên cứu ở một số nước trên thế giới và ở
Việt Nam Tuy nhiên, mới chỉ có những nghiên cứu về đặc điểm của nấm mà chưa cónghiên cứu nào về phòng trừ Sâu tơ là một loài gây hại nghiêm trọng trên rau họ hoathập tự, việc nghiên cứu sử dụng loài nấm này diệt trừ sâu tơ đang là một hướngnghiên cứu mới có ý nghĩa trong khoa học và thực tiễn sản xuất
Trong phòng thí nghiệm, tiến hành phun Beauveria amorpha ở 3 mức nồng độ
106, 109, 1012bt/ml, ở điều kiện nhiệt độ 23,70C, độ ẩm 83,9%RH cho kết quả ở 3 bảng3.1, bảng 3.2, bảng 3.3
Bảng 3.1. Hiệu lực phòng trừ sâu tơ của nấm B amorpha trong phòng thí nghiệm
Ngày thứ 2 sau phun, hiệu lực phòng trừ của Beauveria amorpha trên sâu tơ đã
xảy ra sai khác có ý nghĩa giữa công thức phun nấm và công thức đối chứng, giữanồng độ 106bt/ml, 109bt/ml với 1012bt/ml Nồng độ 1012bt/ml cho hiệu lực phòng trừcao nhất đạt 27,59%
Trang 26Ngày thứ 4 sau phun, hiệu lực phòng trừ càng thể hiện rõ, giữa các côngthức có sai khác rõ rệt về mặt thống kê Công thức I có sự sai khác lớn nhất sovới công thức đối chứng và 2 công thức còn lại, tỷ lệ chết ở công thức này đạtcao nhất là 64,10%.
Ngày thứ 6 sau phun, sự sai khác giữa các công thức không có gì thay đổi,nồng độ 106 vẫn chiếm ưu thế, cho tỷ lệ chết 74,36% cao hơn 58,8% so với côngthức đối chứng
Ngày thứ 8 sau phun, giữa nồng độ 106bt/ml và 109bt/,ml cho tỷ lệ chết tươngđương nhau, nhưng chúng sai khác có ý nghĩa với nồng độ 1012bt/ml và đối chứng,
109bt/ml cho hiệu quả phòng trừ cao nhất đạt 83,33%
Đến ngày thứ 10 sau phun, công thức I và II không xảy ra sai khác có ý nghĩa,
sự sai khác giữa chúng và công thức III không lớn Nhưng cả 3 công thức đều có sựsai khác lớn với đối chứng Tỷ lệ chết cao nhất là 89,86% ở nồng độ 106bt/ml (côngthức I), thấp nhất là 74,60% ở nồng độ 1012bt/ml(công thức III)
Trên cùng loài nấm Beaveria, Phạm Thị Thùy xử lí trên sâu xanh đục quả đậuxanh cho tỷ lệ chết chỉ đạt 69,8%, trên đối tượng sâu keo da láng ăn đậu tương chohiệu quả đạt 61,10% [16]
Kết quả trên cho thấy hiệu lực phòng trừ sâu tơ của Beauveria amorpha rất có triển vọng, tỷ lệ này cao hơn hẳn so với thử nghiệm của Đinh Thị Hiền sử dụng Metarhizium sp.
Trừ sâu tơ ở nồng độ 6.108bt/ml đạt 71,79% (Đinh Thị Hiền, 2007) [8]
Sự biến đổi về tỷ lệ chết giữa các công thức phun nấm Beauveria amorpha trên
sâu tơ được thể hiện rõ ở biểu đồ 3.1, qua đó cho thấy tỷ lệ chết ở đối chứng thấp hơnhẳn các công thức xử lí thuốc nấm, có sự biến động tương đối đều Nồng độ 106bt/mlngày thứ hai đến ngày thứ tư sau phun có sự biến động lớn, cho tỷ lệ chết vượt trộihơn hẳn hai nồng độ còn lại, các ngày tiếp theo sự biến động không lớn, tăng dần đều
Trang 27Biểu đồ 3.1 Hiệu lực phòng trừ sâu tơ của nấm B amorpha trong phòng thí nghiệm
Ở nồng độ 109bt/ml từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 4 và ngày thứ 6 đến ngày thứ
8 sau phun, có sự biến động lớn về tỷ lệ chết, đến ngày thứ 8, tỷ lệ chết vượt trênnồng độ 106bt/ml
Ở nồng độ 1012bt/ml ngày thứ hai đến ngày thứ 6, sự biến động tỷ lệ chết thấp,nhưng đến ngày thứ 8 có sự vượt trội, song hiệu lực phòng trừ thấp hơn hai nồng độcòn lại rõ rệt
Theo thời gian, tỷ lệ mọc nấm Beauveria amorpha cũng tăng lên và ngày càng
có sự sai khác rõ rệt giữa các công thức Kết quả thể hiện cụ thể ở bảng 3.2
Ngày thứ 2 sau phun, tỷ lệ mọc nấm giữa các công thức chưa có sự sai khác, sâunon mới bắt đầu có hiện tượng mọc nấm
Bảng 3.2 Tỷ lệ mọc nấm B amorpha trên sâu tơ trong phòng thí nghiệm
Trang 28thức lí (bt/ml) 2 4 6 8 10
Ngày thứ 4 sau phun, tỷ lệ mọc nấm ở cả 3 công thức đều tăng tương đốiđồng đều, cao nhất ở nồng độ 1012 với 15,56%, giữa 3 công thức chưa có sự saikhác về mặt thống kê
Ngày thứ 6 sau phun, công thức I và II không sai khác song cả hai đều biểu hiện
sự sai khác với công thức III Tỷ lệ mọc nấm cao nhất vẫn nồng độ 1012 đạt 35,56%,thấp nhất là 20% ở nồng độ 109bt/ml
Tám ngày sau phun, tỷ lệ mọc nấm ở 3 nồng độ đã có sự sai khác rõ rệt, có ýnghĩa về mặt thống kê nồng độ 106bt/ml biểu lộ sự sai khác rõ rệt với hai nồng độ cònlại và cho tỷ lệ mọc nấm đạt 52,22%, tỷ lệ thấp nhất là 33,33% ở 109bt/ml
Mười ngày sau phun, sự sai khác giữa các nồng độ không thay đổi so với ngàythứ 8 Nồng độ 106bt/ml vẫn cho tỷ lệ mọc nấm cao nhất đạt 72,22%, thấp nhất vẫn là
109bt/ml đạt 51,11% Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn cao hơn so với nấm Metarhizium sp.
Chỉ đạt 39,74% (Đinh Thị Hiền, 2007) [8]
Sự biến động tỷ lệ mọc nấm trên sâu tơ giữa các nồng độ thể hiện rõ ở biểu
đồ 3.2 Ta thấy rằng, có sự biến động tương đối đồng đều giữa các nồng độ, ngàythứ 6 đến ngày thứ 8 sau phun có sự biến động lớn ở nồng độ 106bt/ml, tỷ lệ mọcnấm vượt trội so với hai nồng độ còn lại, đạt trên 50% Ngày thứ 10 sau phun, sựbiến động về tỷ lệ mọc nấm đều nhau giữa các nồng độ, tạo nên 3 đường songsong trên biểu đồ
Trang 29Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ mọc nấm B amorpha các pha phát triển của sâu tơ trong phòng
thí nghiệmKhả năng phòng trừ của nấm không chỉ có tác dụng tại thời điểm phun và thờigian ngắn sau phun mà nó có thể kéo dài rất lâu qua các pha phát triển của sâu hại Cụthể ở bảng 3.3
Khi tiến hành xử lí chế phẩm nấm trên sâu non với mỗi lần lặp lại 30 con, lấyngẫu nhiên từ tuổi 2 đến tuổi 4, sau 10 ngày phun ta thấy rằng nấm không chỉ mọc ởpha sâu non mà còn cả ở pha nhộng và trưởng thành Thời gian đầu sau phun một sốsâu non vẫn phát triển bình thường cho đến pha nhộng bắt đầu biểu hiện sự xâmnhiễm của nấm, bên trong lớp màng mỏng các sợi nấm màu trắng bông xuất hiện vàdần đân bao phủ lấy nhộng Có những nhộng vẫn phát triển và vũ hóa bình thường,song 1 - 2 ngày sau khi vũ hóa thì trưởng thành chết và mọc nấm Ở nồng độ 106bt/ml
Trang 30pha nhộng đạt cao nhất với 35,55%, pha trưởng thành đạt 10%, nồng độ 1012bt/ml cho
tỷ lệ mọc nấm ở pha sâu non cao nhất đạt 32,22%
Bảng 3.3 Tỷ lệ mọc nấm B amorpha các pha phát triển của sâu tơ trong phòng thí
3.1.2 Hiệu lực phòng trừ của nấm B.amorpha trên các pha phát triển sâu tơ
Qua các kết quả thí nghiệm trên ta đã thấy được tính ưu việt của nấm kí sinhcôn trùng trong phòng trừ sâu hại Để tăng hiệu quả phòng trừ cần phải xác định đượctuổi sâu mẫn cảm với nấm nhất nhằm chọn thời điểm phun hợp lí
Sâu hại thường phát triển theo lứa, do vậy trên đồng ruộng tuổi sâu mang tínhđặc trưng, việc xác định tuổi sâu mẫn cảm với nấm rất có ý nghĩa trong phòng trừ,đặc biệt khi mật độ sâu có xu hướng tăng nhanh trên đồng ruộng
Sâu tơ có 4 tuổi ở pha ấu trùng, pha nhộng và pha trưởng thành Tiến hành
xử lí nấm Beauveria amorpha trên 4 tuổi, tuổi 1 phun 50 con/lần lặp lại, tuổi 2, 3,
4 phun 30 con/lần lặp lại, trong điều kiện 27,90C, độ ẩm 89%RH Thu được kếtquả ở bảng 3.4
Bảng 3.4 Hiệu lực trừ sâu tơ bằng nấm B.amorpha trên sâu tơ theo tuổi
(mm)
Tỷ lệ sâu chết theo thời gian (%)
Trang 31ĐC - 12,17ab 17a 22,67a 25,67a 33,50a
Ngày thứ 4 sau phun, giữa các tuổi có sự sai khác rõ rệt hơn, tuổi 2 và tuổi 3 saikhác với tuổi 1, tuổi 4 sai khác so với tuổi 2 và tuổi 3 và chúng đều sai khác so vớicông thức đối chứng Tỷ lệ chết ở tuổi 2 và tuổi 3 gần như tương đương Giai đoạnnày hiệu quả phòng trừ cao nhất vẫn là tuổi 1 đạt 55,56%, thấp nhất trong bốn côngthức phun thuốc là tuổi 4 đạt 29,63%
Sáu ngày sau phun, tuổi 4 và tuổi 2 không sai khác có ý nghĩa, các công thứccòn lại đều sai khác lẫn nhau Tỷ lệ chết cao nhất đạt 70,83% ở tuổi 3, đây là mộtbước nhảy lớn cho thấy hiệu quả phòng trừ tăng mạnh ở tuổi này, tăng 29,8% so vớingày thứ 4, thấp nhất là tuổi 2 đạt 51,39%
Ngày thứ 8 sau phun, hiệu lực phòng trừ ở các tuổi tăng đều, sự sai khác giữacác công thức không thay đổi Tỷ lệ chết cao nhất đạt 81,16% ở tuổi 3, thấp nhất là56,94% ở tuổi 4 So với thí nghiệm thử nghiệm nồng độ không có sự khác biệt, cùngnồng độ 106 thí nghiệm nồng độ cho tỷ lệ chết là 80,56%
Mười ngày sau phun, sự sai khác của các công thức như ở ngày thứ 6,nhưng hiệu lực phòng trừ tăng lên rất nhiều, tỷ lệ chết cao nhất là 93,65% ởtuổi 3, thấp nhất là 60,32% ở tuổi 4 Thử nghiệm nồng độ cho tỷ lệ chết 89,86%
Trang 32cho thấy tỷ lệ chết ở tuổi 3 vượt trội, cho thấy tính ưu việt khi lựa chọn tuổiphòng trừ phù hợp.
Sự biến động về tỷ lệ sâu chết ở các độ tuổi khác nhau khi xử lí nấm
Beauveria amorpha ở nồng độ 106bt/ml được thể hiện rõ ở biểu đồ 3.3
Biểu đồ 3.3 Hiệu lực trừ sâu tơ của nấm B amorpha trên sâu tơ theo tuổi
Qua biểu đồ ta thấy tuổi 1 hai ngày đầu có tỷ lệ chết rất cao, nhưng 8 ngàytiếp theo sự biến động về tỷ lệ chết lại ở mức rất thấp Ở tuổi 2, trong khoảng bốnngày đầu độ biến động về hiệu quả phòng trừ là rất lớn, sau đó tăng dần đều Hiệuquả phòng trừ ở tuổi 3 là cao nhất, độ biến động trong sáu ngày đầu sau phun là rấtlớn, vượt trội so với các tuổi khác
Sâu tơ là loài gây hại mạnh, vòng đời của chúng rất ngắn bao gồm 4 tuổi,
ở mỗi tuổi có đặc điểm sinh học sinh thái và khả năng thích nghi, gây hại khácnhau do vậy khả năng mọc nấm ở các độ tuổi là khác nhau Điều đó được thểhiện rõ ở bảng 3.5
Trang 33Bảng 3.5 Tỷ lệ mọc nấm Beaveria amorpha trên sâu tơ theo tuổi
Hai ngày sau phun, chưa có sâu mọc nấm ở tuổi 1 và tuổi 4, tuổi 2 và tuổi 3 đã
có sâu mọc nấm nhưng tỷ lệ còn rất thấp, chỉ đạt cao nhất là 2,22%, giữa các côngthức chưa có sự sai khác
Ngày thứ 4 sau phun tỷ lệ mọc nấm đã tăng lên rất nhiều ở các độ tuổi, giữa cáccông thức đã sai khác có ý nghĩa, tuổi 2 cho tỷ lệ mọc nấm cao nhất đạt 20%, tăng18,89% so với ngày thứ 2 Tuổi 4 có tỷ lệ mọc nấm thấp nhất, chỉ đạt 7,78%
Ngày thứ 6 sau phun, sự biến động về tỷ lệ mọc nấm ở các độ tuổi khác nhau rõrệt, tuổi 3 có tỷ lệ mọc nấm tăng cao nhất, tăng thêm 43,33% so với ngày thứ 4, tuổi 1
có tỷ lệ mọc nấm tăng thấp nhất, chỉ tăng 7,33%
Ngày thứ 8 sau phun, giữa các công thức có sự sai khác rất lớn về mặt thống kê, sựkhác biệt về hiệu lực phòng trừ ở các độ tuổi biểu hiện rất rõ ràng Tỷ lệ mọc nấm thấpnhất là tuổi 1 đạt 36,67%, cao nhất là tuổi 3 đạt 70%, cao hơn tuổi 1 là 33,33%
Sau phun 10 ngày, sự sai khác giữa các công thức không thay đổi so với ngàythứ 8, tuy nhiên tỷ lệ mọc nấm tăng rõ rệt và đạt 81,11% ở tuổi 3, càng khẳng định
hiệu quả phòng trừ của Beauveria amorpha đối với tuổi 3 Trong khi đó tỷ lệ mọc
nấm khi thử nghiệm nồng độ đạt 72,22% cùng thời gian theo dõi, tỷ lệ mọc nấm thấpnhất là 38,67% ở tuổi 1
Trang 34Như vậy, tuổi 3 là tuổi mẫn cảm nhất của sâu tơ đối với nấm Beauveria
amorpha Mức độ tác động khác nhau của nấm lên sâu tơ ở các độ tuổi được thể hiện
rõ ở biểu đồ 3.4
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ mọc nấm Beauveria amorpha trên sâu tơ theo tuổi
Qua biểu đồ cho thấy sau bốn ngày xử lí nấm tỷ lệ mọc nấm bắt đầu tăngcao ở các công thức, đặc biệt ở tuổi 3, từ ngày thứ tư đến ngày thứ sáu sự biếnđộng về tỷ lệ mọc nấm ở tuổi này rất lớn, vượt trội nhất trong bốn công thức.Trong khoảng ngày thứ 6 đến ngày thứ 10 tỷ lệ mọc nấm ở tuổi 3 vẫn tăngmạnh và đều, tạo thành một đường thẳng trên biểu đồ Trong khi đó tuổi 1,tuổi 2, tuổi 4 từ ngày thứ 8 đến ngày thứ 10 tỷ lệ mọc nấm gần như khôngtăng, đường biểu diễn ở đoạn này gần như là một đường nằm ngang
Sau phun 10 ngày, trên tuổi 1 Beauveria amorpha chỉ tác động lên giai
đoạn sâu non, những con đã chuyển sang giai đoạn nhộng và trưởng thànhkhông có sự phát triển của nấm Tuổi 2 và tuổi 3 phần sâu non bị mọc nấm,những con chuyển sang pha nhộng bị nấm gây hại rất ít, còn trưởng thành phát
Trang 35triển bình thường và không chịu tác động của nấm, tỷ lệ mọc nấm trên sâu noncủa tuổi 2 là 53,33%, trên nhộng là 12,22% Tỷ lệ mọc nấm trên sâu non củatuổi 3 là 65,55%, trên nhộng là 15,56% Đối với tuổi 4, nấm phát triển trên cả 3pha phát triển, cao nhất là nhộng với 26,67%, tiếp đến là sâu non 20% và cuốicùng là trưởng thành với 8,89% Kết quả cụ thể biểu hiện ở bảng 3.6.
Bảng 3.6 Tỷ lệ mọc nấm B.amorpha trên các pha phát triển của sâu tơ
nó giúp giảm thiểu đáng kể số lượng sâu ở lứa tiếp theo, thậm chí nếu tiến hành tiêu diệthiệu quả nhộng và trưởng thành thì có thể kìm hãm được quần thể sâu tơ dưới ngưỡng
kinh tế và do đó không cần các biện pháp để tiêu diệt sâu non Khi xử lí Beauveria
amorpha trên nhộng và trưởng thành cho được kết quả ở bảng 3.7.
Bảng 3.7 Tỷ lệ chết và mọc nấm B.amorpha trên nhộng và trưởng thành sâu tơ
Trang 36CT là công thức ; XLT là xử lý thuốc
Sau 7 ngày theo dõi tỷ lệ nhộng không vũ hóa đạt 37,78%, tỷ lệ mọc nấm35,56% đối với nhộng, 21,11% đối với trưởng thành Tỷ lệ này rất thấp so vớinghiên cứu phòng trừ trưởng thành sâu tơ của Michael j Furlong và Judith K
Pell sử dụng nấm Beauveria bassiana đạt tỷ lệ chết 100% và nấm Zophthora
radicans đạt 85% [23].
3.1.3 Hiệu lực trừ sâu tơ của nấm Paecilomyces sp1 ở 3 nồng độ bào tử khác nhau
Trên thế giới và ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về Paecilomyces trong
phòng trừ sâu hại như ở trường Đại học Cần Thơ, người ta đã nghiên cứu và chếthành sản phẩm sinh học phun trên nhiều loại cây trồng, song chỉ mới nghiên cứu sơ
bộ chưa đưa ra ngoài thực tiễn [21] Việc nghiên cứu nấm Paecilomyces sp1 phòng
trừ sâu tơ rất có ý nghĩa nhằm nâng cao hiệu quả phòng trừ sinh học, giảm ô nhiễmmôi trường và an toàn cho người sử dụng sản phẩm rau
Tiến hành phun Paecilomyces sp1 ở 3 nồng độ 105, 107, 109bt/ml với điều kiệnnhiệt độ 27,190C, 89%RH cho hiệu quả phòng trừ thể hiện ở bảng 3.8
Bảng 3.8 Hiệu lực trừ sâu tơ của nấm Paecilomyces sp1 trong phòng thí nghiệm
Hai ngày sau phun, hiệu quả phòng trừ ở nồng độ 105bt/ml và 109bt/ml đã có sựsai khác so với công thức đối chứng và sai khác rõ rệt với nồng độ 107bt/ml, nồng độ
107bt/ml có sự sai khác so với đối chứng cho tỷ lệ chết thấp nhất chỉ đạt 2,47%, thấphơn cả đối chứng, tỷ lệ chết cao nhất ở 105bt/ml đạt 22,62%
Trang 37Ngày thứ 4 sau phun, giữa các công thức đã có sai khác rõ rệt, nồng độ
109bt/ml cho hiệu quả phòng trừ cao nhất đạt 34,57% sai khác lớn với đối chứng
và 107bt/ml, 105bt/ml Tuy nhiên, hiệu quả này thấp hơn nhiều so với nấm
Beauveria amorpha cùng thời gian theo dõi cho tỷ lệ chết 64,10% ở nồng độ
106bt/ml Như vậy, khả năng phòng trừ của Beauveria amorpha cao hơn rất nhiều
Paecilomyces sp1 ở cùng thời điểm xét cả về nồng độ lẫn tỷ lệ chết
Ngày thứ 6 sau phun, giữa 4 công thức mang sự sai khác có ý nghĩa, số sâu chết
tỷ lệ thuận với nồng độ phun, thấp nhất là 105bt/ml đạt 38,46%, cao nhất là 60,49% ởnồng độ 109bt/ml, song tỷ lệ này vẫn thấp hơn Beauveria amorpha cùng thời điểm ở
nồng độ 106 đạt 74,36%, tức là thấp hơn 13,87%
Ngày thứ 8 sau phun, cả 4 công thức đều sai khác có ý nghĩa với nhau, thấp nhấtvẫn là nồng độ 105bt/ml đạt 47,44% nhưng hiệu quả phòng trừ cao nhất ở nồng độ
107bt/ml, cho tỷ lệ chết là 73,61% Trong khi ở cùng thời điểm Beauveria amorpha
cho hiệu quả phòng trừ cao nhất đạt 83,83% ở nồng độ 109bt/ml
Ngày thứ 10 sau phun, hiệu quả phòng trừ thể hiện rõ rệt ở nồng độ 107bt/ml, tỷ
lệ chết tăng vượt trội hơn 2 nồng độ còn lại, đạt 98,25%, tăng 24,64% so với ngày thứ
8 Cùng thời điểm, nấm Beauveria amorpha cho hiệu quả cao nhất là 89,96% ở nồng
độ 106, thấp hơn Paecilomyces sp1 là 8,29% Giữa các nồng độ xảy ra sự sai khác lớn
có ý nghĩa về mặt thống kê Sự biến động về số lượng sâu chết khi xử lí nấm
Paecilomyces sp1 được thể hiện ở biểu đồ 3.5.
Trang 38Biểu đồ 3.5 Hiệu lực phòng trừ sâu tơ bằng nấm Paecilomyces sp1 trong
phòng thí nghiệmQua biểu đồ cho thấy 4 ngày đầu sau phun, hiệu lực phòng trừ chưa biến độnglớn Ở nồng độ 105, tỷ lệ chết biến động rất thấp Ngược lại, nồng độ 107bt/ml thể
hiện rõ khả năng phòng trừ vượt bậc của Paecilomyces sp1 đặc biệt là trong khoảng
ngày thứ tư đến ngày thứ sáu sau phun, có độ biến động rất lớn, đây cũng là nồng độ
có biến động về tỷ lệ chết lớn nhất trong hai loài nấm thử nghiệm
Sự khác nhau về hiệu lực phòng trừ của hai loài nấm Beauveria amorpha và
Paecilomyces sp1 được thể hiện ở biểu đồ 3.6.