Trờng đại học vinh Khoa giáo dục tiểu học Khoá luận tốt nghiệp Sử dụng đồ dùng trực quan trong qúa trình cho trẻ 3-4 tuổi làm quen với môi trờng xung quanh Giáo viên hớng dẫn: Th.sỹ Phạ
Trang 1
Trờng đại học vinh Khoa giáo dục tiểu học
Khoá luận tốt nghiệp
Sử dụng đồ dùng trực quan trong qúa trình cho trẻ 3-4
tuổi làm quen với môi trờng xung quanh
Giáo viên hớng dẫn: Th.sỹ Phạm Thị Huyền
Sinh viên: Đinh Thị Hồng Loan
Vinh, 5/2006
lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ và
đóng góp ý kiến của Ban chủ nhiệm khoa, các thầy cô giáo ở khoa Giáodục Tiểu học, giáo viên các trờng Mầm non Ban giám hiệu, các cô giáo vàcác cháu mẫu giáo trờng mầm non Hoa Hồng, bạn bè Tôi xin chân thànhcảm ơn sự tận tình hớng dẫn và góp ý kiến chân thành, tạo điều kiện để tôi
có thể hoàn thành đề tài nghiên cứu
Đặc biệt tôi xin đợc gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới cô giáo PhạmThị Huyền- ngời trực tiếp hớng dẫn tôi làm đề tài này
Trang 2Do bớc đầu làm công tác khoa học vì vậy tôi đã gặp không ít khókhăn, bỡ ngỡ ban đầu cho nên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rấtmong nhận đợc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô, bạn bè đồng nghiệpcác nhà nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục học để đề tài đợc hoàn thànhhơn.
từ nh thế nếu ta sử dụng tranh, ảnh vào việc dạy trẻ
ở lứa tổi 3 - 4 tuổi đồ dùng trực quan càng có ý nghĩa hơn, bởi đồ
dùng trực quan giúp trẻ làm quen với môi trờng xung quanh trong khi phạm
vi tiếp xúc với môi trờng xung quanh còn hạn chế Vả lại lứa tuổi này còn
bị ảnh hởng bởi hoạt động chủ đạo là hoạt động với đồ vật ở lứa tuổi ấu nhi.Tức là nhờ hoạt động trực tiếp với đồ vật thông qua các giác quan mà trẻlĩnh hội đợc những đặc trng, thuộc tính về sự vật hiện tợng đó
Đa đồ dùng trực quan trong quá trình cho trẻ làm quen với môi trờngxung quanh là rất cần thiết, nó không chỉ giúp giáo viên truyền thụ kiếnthức một cách dễ dàng mà còn giúp trẻ dễ dàng lĩnh hội những kiến thức,
Trang 3đồ dùng trực quan không chỉ là phơng tiện dạy học mà còn là nội dung dạyhọc Bên cạnh đó sử dụng đồ dùng trực quan đa dạng tạo điều kiện hìnhthành ở trẻ nhỏ những biểu tợng cụ thể, đầy đủ, làm phong phú, cụ thể hoá
và chính xác hoá những kiến thức đã có từ trớc, đúng nh I.A.Comenxki đãnhận định rằng “kiến thức càng dựa vào cảm giác thì nó càng xác thực.Nghiên cứu sự vật không chỉ dựa vào cái mà ngời ta quan sát, chứng minh
mà phải căn cứ vào những cái mà chính mắt mình nhìn, chính tai mìnhnghe, chính mũi mình ngửi, chính lỡi mình nếm, chính tay mình sờ”
Tuy nhiên, thực tế cho thấy ở các trờng mầm non hiện nay việc sửdụng đồ dùng trực quan cha thực sự có hiệu quả, việc sử dụng đồ dùng trựcquan còn mang tính hình thức, cách lựa chọn và sử dụng cha hợp lí Chínhvì vậy mà cha phát huy đợc tính tích cực chủ động trong hoạt động nhậnthức của trẻ Phần lớn trong các tiết học cho trẻ làm quen với môi trờngxung quanh việc sử dụng đồ dùng trực quan còn nghèo nàn, hạn chế về cả
số lợng và chất lợng, cha có sự kết hợp một cách linh hoạt các đồ dùng trựcquan Các đồ dùng trực quan cha thực sự lôi cuốn sự hứng thú của trẻ vàcha kích thích đợc sự tích cực hoá hoạt động của trẻ.Vì vậy, sử dụng đồdùng trực quan nh thế nào để phát huy đợc tính tích cực nhận thức, chủ
động sáng tạo của trẻ là một vấn đề đặt ra cho các giáo viên mầm non cầnlời giải đáp
Với những lí do trên chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu củamình là “sử dụng đồ dùng trực quan trong quá trình cho trẻ 3 - 4 tuổi làmquen với môi trờng xung quanh”
II Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu việc lựa chọn và sử dụng đồ dùng trực quan nhằm gópphần nâng cao chất lợng giáo dục trong quá trình cho trẻ làm quen với môitrờng xung quanh ở trờng mầm non
III Khách thể và đối tợng nghiên cứu:
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Qúa trình cho trẻ 3 - 4 tổi làm quen với môi trờng xung quanh
3.2 Đối tợng nghiên cứu:
Lựa chọn và sử dụng đồ dùng trực quan trong quá trình cho trẻ làmquen với môi trờng xung quanh
Trang 4IV Phạm vi nghiên cứu:
Do điều kiện hạn chế, chúng tôi chỉ dừng lại nghiên cứu việc lựachọn và sử dụng đồ dùng trực quan trong qúa trình cho trẻ 3 - 4 tuổi làmquen với môi trờng xung quanh ở một số trờng mầm non thuộc địa bànthành phố Vinh
V Giả thuyết khoa học:
Nếu giáo viên biết lựa chọn và sử dụng đồ dùng trực quan một cáchhợp lí, linh hoạt, sáng tạo trong quá trình cho trẻ 3 - 4 tuổi làm quen vớimôi trờng xung quanh thì sẽ nâng cao hiệu quả của quá trình cho trẻ làmquen với môi trờng xung quanh ở trờng mầm non
VI Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
- Điều tra thực trạng việc lựa chọn và sử dụng đồ dùng trực quan củagiáo viên mầm non trong quá trình cho trẻ 3 - 4 tuổi làm quen với môi tr-ờng xung quanh
- Yêu cầu về việc lựa chọn và sử dụng đồ dùng trực quan nhằm nângcao hiệu quả trong tiết học cho trẻ làm quen với môi trờng xung quanh
- Thực nghiệm s phạm nhằm kiểm chứng tính khả thi của việc lựa chọn
và sử dụng đồ dùng trực quan
VII Phơng pháp nghiên cứu:
Chúng tôi lựa chọn các phơng pháp nghiên cứu sau đây:
7.1 Phơng pháp nghiên cứu lí thuyết: Nghiên cứu những vấn đề lý
luận có liên quan đến đề tài
7.2 Phơng pháp quan sát, đàm thoại, ghi chép, trao đổi một số tiết
dạy cho trẻ 3-4 tuổi làm quen với môi trờng xung quanh
7.3 Phơng pháp an két: Sử dụng hệ thống câu hỏi nhằm điều tra nhậnthức của giáo viên về việc lựa chọn và sử dụng đồ dùng trực quan trongquá trình cho trẻ 3 - 4 tuổi làm quen với môi trờng xung quanh
7.4 Phơng pháp thực nghiệm: Nhằm kiểm tra tính đúng đắn của giảthuyết khoa học mà luận văn đã đề xuất
7.5 Phơng pháp thống kê toán học: xử lý các số liệu toán học nhằmchứng minh độ tin cậy của kết quả nghiên cứu
Trang 5VIII Đóng góp mới của đề tài:
- Hoàn thiện thêm cơ sở lí luận về việc lựa chọn và sử dụng đồ dùngtrực quan trong quá trình cho trẻ làm quen với môi trờng xung quanh tạimột số trờng mầm non trên địa bàn thành phố Vinh
- Đề xuất một số yêu cầu trong việc lựa chọn và sử dụng đồ dùng trựcquan trong quá trình cho trẻ 3 - 4 tuổi làm quen với môi trờng xung quanh
ở trờng mầm non
IX Cấu trúc của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chơng
Chơng 1: Tổng quan về cơ sở lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề
tài nghiên cứu
Chơng này tổng quan về lịch sử vấn đề, về cơ sở lý luận và thực tiễncủa việc sử dụng đồ dùng trực quan cho trẻ 3 - 4 tuổi làm quen với môi tr-ờng xung quanh
Chơng 2: Sử dụng đồ dùng trực quan trong quá trình cho trẻ 3 - 4 tuổi
làm quen với môi trờng xung quanh
Trong chơng này chúng tôi đã đa ra yêu cầu về việc lựa chọn và sửdụng đồ dùng trực quan Ngoài ra, chúng tôi đã thiết kế một số giáo ántheo hớng lựa chọn và sử dụng đồ dùng trực quan mà đề tài đã đề cập
Chơng 3: Thực nghiệm s phạm.
Trình bày mục đích, nội dung, cách thức tiến hành và kết quả thựcnghiệm theo ý tởng của đề tài
Trang 6
PHầN NộI DUNG nghiên cứu
Chơng 1Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Cơ sở của nguyên tắc trực quan là sự thống nhất giữa các quá trìnhnhận thức cảm tính và lí tính trong dạy học ở trẻ nhỏ các hình thức t duytrực quan hành động và trực quan hình tợng đóng vai trò chủ yếu, do vậynhững kiến thức mà trẻ nắm đợc phần lớn ở mức độ biểu tợng Những biểutợng này là sản phẩm của sự tri giác trực tiếp những sự vật và hiện tợngdiễn ra trong cuộc sống xã hội và thiên nhiên, qua sự quan sát các hoạt
động của ngời lớn Nh vậy, cuộc sống xung quanh trẻ là một trong những tliệu trực quan chính, cho nên nguyên tắc trực quan trong dạy học là mộtnguyên tắc cơ bản Trong giáo dục vấn đề trực quan đã đợc nghiên cứu từlâu và trong nhiều lĩnh vực
Thừa nhận tầm quan trọng của việc sử dụng các loại sơ đồ trực quankhác nhau trong quá trình hình thành và nghiên cứu khoa học Vì vậy nhà
sử học xô viết nổi tiếng L.N.Gu-mi-lep đã có ý kiến rất đúng “Làm thế nào
để khắc phục đợc tình trạng nói nhiều, nó cần thiết để chứng minh một luận
đề nào đó và tỏ ra là không cần thiết sau khi luận đề đã đợc chứng minh”
I.A.Comenxki (1592 - 1670) nhà giáo dục kiệt xuất ngời Tiệp Khắc,
là ngời đề xớng ra nguyên tắc trực quan, ngời đầu tiên xem nguyên tắc trựcquan trong dạy học là "nguyên tắc vàng của lí luận dạy học”
Trang 7Theo ông không có gì trong não nếu nh trớc đó không có gì trongcảm giác Vì vậy dạy học bắt đầu không thể từ sự giải thích về các sự vật
mà phải từ sự quan sát trực tiếp Ông chỉ ra rằng kiến thức càng dựa vàocảm giác thì nó càng xác thực Nghiên cứu sự vật không chỉ dựa vào cái màngời ta quan sát, chứng minh mà phải căn cứ vào cái chính mắt mình nhìn,chính tai mình nghe, chính mũi mình ngửi, chính lỡi mình nếm, chính taymình sờ [4T17] Từ đó ông rút ra kết luận "Lời nói không bao giờ đi trớc sựvật” [9]
J.J.Rut xô (1712-1778) kịch liệt phê phán nhà trờng đơng thời lạmdụng lời nói Ông đã lớn tiếng: Đồ vật, đồ vật - hãy đa ra đồ vật Tôi khôngnhắc đi nhắc lại rằng, chúng ta lạm dụng quá mức lời nói Bằng cách giảng
ba hoa, chúng ta chỉ tạo nên con ngời ba hoa” [9T17]
Đánh giá về giá trị của tính trực quan trong dạy học V.G.Bi-ê-lin-xki(1811 - 1842), nhà triết học duy vật lỗi lạc ngời Nga đã nói rất chính xác
nh sau: "Tính trực quan hiện nay đợc tất cả mọi ngời nhất trí thừa nhận làngời giúp việc rất cần thiết và có hiệu lực mạnh mẽ trong học tập Nó giúpcho trí nhớ và trí tuệ bằng cách trình bày hình dạng và hình tợng của sự vật
Đó là phơng tiện hỗ trợ vật chất và cảm tính để thoát khỏi sự trừu tợngnguy hại, nặng nề dễ bóp nghẹt tài năng, khô khan và chết cứng mà nhữngngời duy tâm rất a thích Tầm quan trọng to lớn của trực quan dựa trênchính bản chất của con ngời, ở con ngời những biểu tợng trí tuệ trừu tợngnhất dù sao vẫn không phải cái gì khác mà chính là kết quả hoạt động củacác cơ quan não là những cơ quan vốn có những kinh nghiệm và đặc tínhnhất định” [11T7]
K.D.Uxinxki (1824 -1870) đã khẳng định rằng, tính trực quan là cầnthiết cho sự nhận biết của trẻ nhỏ, đứa trẻ sẽ bị hành hạ khổ sở bởi nắm từ
mà nó không quen biết, nhng trẻ cũng sẽ dễ dàng nắm đợc hai mơi từ nhthế nếu ta sử dụng tranh, ảnh vào việc dạy trẻ Quá trình dạy học cần tuântheo nguyên tắc dạy học trực quan bởi hiệu quả dạy học trực tiếp phụ thuộcvào mức độ thu hút các giác quan của trẻ, vào mức độ lôi cuốn trẻ đến vớihoạt động t duy đích thực [6T34]
Trang 8ở Liên xô trớc đây việc sử dụng các đồ dùng trực quan trong quátrình dạy học cũng đợc nhiều tác giả nghiên cứu, chẳng hạn: Tôlinghênôva,G.Sapôvalenkô, M.H.Sacmeap, L.V.Đancôp, L.I.Gôbunôva, V.V Đamđôp Đặcbiệt Tôlinghênôva cho rằng về nguyên tắc đồ dùng trực quan chỉ có thể cócác chỉ số và chất lợng thông qua các quá trình s phạm K.G.Nojko cũngkhẳng định: Vấn đề không phải chỉ ở chỗ sản xuất và cung cấp cho nhà tr-ờng những đồ dùng dạy học mà chủ yếu làm sao cho đồ dùng dạy học đợcgiáo viên sử dụng với hiệu quả cao.
ở Việt nam vấn đề nghiên cứu sử dụng đồ dùng trực quan trong quátrình dạy học cha nhiều Một số tác giả nh Tô xuân Giáp, Vũ Trọng Rỹ,Cao xuân Nguyên, Đinh Quang Bảo, Trần Doãn Đới, Thái Duy Tuyên (2,12, 21,24,25) đã có những nghiên cứu về các vấn đề chung nh vị trí,vai trò, cấu trúc, mối quan hệ giữa các đồ dùng trực quan với các thành tốcủa quá trình dạy học cũng nh phơng pháp sử dụng ở một số môn học
Nhìn chung các tác giả trong và ngoài nớc, hoặc ở lĩnh vực nào khinghiên cứu đồ dùng trực quan đều khẳng định vai trò quan trọng của đồdùng trực quan đối với quá trình dạy học Nhng những nghiên cứu đó chỉ lànhững nghiên cứu lồng ghép, đề cập hoặc chỉ nêu ra, cha có tác giả nàotrình bày hệ thống hay in sách riêng về việc sử dụng đồ dùng trực quan vớicác hình thức phong phú của nó trong quá trình cho trẻ làm quen với môitrờng xung quanh Nghiên cứu việc lựa chọn và sử dụng đồ dùng trực quan
ở bậc học mầm non còn ít ỏi, đặc biệt cha có tác giả nào nghiên cứu việc sửdụng đồ dùng trực quan trong quá trình cho trẻ làm quen với môi trờngxung quanh
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Những vấn đề về đồ dùng trực quan.
1.2.1.1 Khái niệm trực quan.
Khái niệm trực quan thờng đợc sử dụng rộng rãi trong dạy học nhng
ít tác giả đa ra một định nghĩa rõ ràng trực quan là gì
xét ở góc độ triết học, trực quan đợc xem là những đặc điểm, tínhchất của nhận thức loài ngời Trực quan là đặc tính đối với nhận thức con
Trang 9ngời, trực quan đợc phản ánh trong thực tế mà thực tế có thể biểu hiện ởdạng hình tợng cảm tính Lý thuyết về nhận thức của chủ nghĩa Mác -Lênin đã khẳng định rằng nhận thức của con ngời bắt nguồn từ thực tiễn.
Đó là con đờng biện chứng của nhận thức, nhận thức của con ngời bắt đầu
từ quá trình nhận thức cảm tính, quá trình đó liên quan chặt chẽ với tính
trực quan Theo t duy thông thờng, trực quan đợc hiểu là nhận thức trực
tiếp bởi các giác quan [183].
Tính trực quan đợc xem nh nét đặc biệt của kiến thức xác định sự liên
hệ trực tiếp giữa chúng với thực tiễn cũng nh đối với đối tợng Tính trựcquan là một thuộc tính của sự vật, hiện tợng, thuộc tính này làm bộc lộnhững đặc điểm của sự vật, nhờ đó mà ngời ta có thể nhận thức đợc sự vậtmột cách dễ dàng Tuy nhiên không phải tất cả nhận thức của con ngời đềumang tính trực quan tuyệt đối Trong nhận thức, yếu tố trực quan và khôngtrực quan tồn tại một cách biện chứng
Trong dạy học, trực quan là một nguyên tắc cơ bản nhất của lý luậndạy học Theo từ điển s phạm “trực quan trong dạy học phải dựa trênnhững hình ảnh cụ thể, đợc học sinh trực tiếp tri giác" [16] Từ điển tiếng
Việt của Hoàng Phê (chủ biên) định nghĩa: "trực quan nghĩa là dùng
những vật cụ thể hay ngôn ngữ cử chỉ làm cho học sinh có đợc hình ảnh cụ thể về những điều đã học" [23].
Các nhà giáo dục xô Viết vĩ đại cho rằng tính trực quan là sự miêu tảhiện thực dới dạng các hình ảnh cụ thể cảm tính của những tri giác và biểutợng Trong hình thức cảm tính- trực quan, hiện thực xung quanh đợc cấutrúc, các quy luật của nó đợc mô hình hoá và các phần tử của chúng đợc
Trang 10bộc lộ rõ Đặc biệt quan trọng là sự phản ánh khách thể của hiện thực bằngcác phơng tiện mô hình hoá biểu đồ
Hoạt động nhận thức phải dựa chủ yếu vào cơ quan thị giác, đó là vìbằng thị giác chúng ta cảm thụ gần 90% sự kích thích và những biểu tợngcủa thế giới bên ngoài Chính với ý nghĩa đó, sự ứng dụng các đồ dùng trựcquan trong quá trình giảng dạy nó biến thành một phơng tiện có hiệu quảcuả lý luận dạy học khoa học
Trong tự nhiên xung quanh chúng ta rất phong phú và đa dạng Conngời và xã hội loài ngời là sản phẩm cao nhất của thế giới tự nhiên Hoạt
động nhận thức của con ngời đợc bắt đầu bằng sự quan sát tự nhiên và hoạt
động quan sát đó có đợc là nhờ cơ quan thị giác Nhờ thị giác (mắt ngời)
mà bộ não thu nhận đợc những hình ảnh đầu tiên về các sự vật hiện tợngbên ngoài: hình dáng, kích thớc, màu sắc bắt đầu cho quá tình nhận thức
về sự vật hiện tợng từ đó cải biến thế giới tự nhiên phục vụ cho cuộc sống
của con ngời Nh vậy trực quan chính là sự quan sát trực tiếp thế giới
khách quan Và chúng ta có thể kết luận rằng: trực quan là một khái niệm biểu thị tính chất của hoạt động nhận thức, trong đó thông tin nhận đợc về các sự vật và hiện tợng của thế giới bên ngoài đợc cảm nhận trực tiếp từ các cơ quan cảm giác của con ngời.
1.2.1.2 Khái niệm đồ dùng trực quan.
Hiện nay để đa ra một khái niệm về đồ dùng trực quan thì cha có, bởimỗi lĩnh vực, mỗi cấp học, đồ dùng trực quan bên cạnh có những đặc điểmchung thì vẫn có những nét riêng Vì vậy ở Việt Nam, trong dạy học ở nhàtrờng dùng các thuật ngữ nh là: Đồ dùng trực quan, thiết bị dạy học, phơngtiện trực quan, phơng tiện nghe nhìn
Trong tài liệu s phạm của Liên xô trớc đây ngời ta hay dùng thuậtngữ: Phơng tiện dạy học, phơng tiện trực quan, phơng tiện kĩ thuật dạy học
- để chỉ các thiết bị, đồ dùng dạy học đợc sử dụng trong nhà trờng
Các nhà giáo dục: M.A.Đanhilôv, I.I.A.Lepnher,XM.H.xkatkin quanniệm đồ dùng dạy học là “những phơng tiện vật chất chứa đựng thông tin -
đó là lời nói, các vật trực quan, các hành động thực hành”
Trang 11Trong dạy học một số tác giả cho rằng: “Đồ dùng trực quan là tất cảcác đối tợng nghiên cứu đợc tri giác trực tiếp nhờ các giác quan”, “đồ dùngtrực quan là tất cả có thể đợc lĩnh hội nhờ sự hỗ trợ của hệ thống tín hiệuthứ nhất và thứ hai của con ngời”, “tất cả các đối tợng nghiên cứu đợc trigiác trực tiếp nhờ các giác quan”, “đồ dùng trực quan đợc hiểu là nhữngvật (sự vật) hay sự biểu hiện nó bằng hình tợng (biểu tợng) với những mức
độ quy ớc khác nhau Những sự vật và hình tợng sự vật đợc dùng để thiếtlập (hình thành) ở học sinh những biểu tợng động hoặc tĩnh về sự vậtnghiên cứu
Có thể thấy một điều rằng mặc dù các tác giả có những cách diễn đạtkhác nhau nhng nói chung các tác giả đều gặp nhau ở một điều đó là sựthống nhất về khái niệm đồ dùng trực quan Dấu hiệu cơ bản của đồ dùngtrực quan là các sự vật, hiện tợng của thế giới hiện thực hay các phơng tiệnphản ánh và sự phản ánh (tri giác trực tiếp của các giác quan con ngời cho
ta hình ảnh về những sự vật, hiện tợng đó)
Nh vậy: Đồ dùng trực quan là những công cụ (phơng tiện) mà ngời giáo viên và học sinh xây dựng đợc trong quá trình dạy và học nhằm tạo cho học sinh những biểu tợng về sự vật, hiện tợng, hình thành khái niệm thông qua sự tri giác.
1.2.1.3.Tính chất của đồ dùng trực quan.
Đồ dùng trực quan dạy trẻ những kiến thức sơ đẳng Mỗi môn học cótính chất riêng nhng đồ dùng trực quan có tính chất chung sau
a Đồ dùng trực quan là phơng tiện vật chất chứa đựng thông tin về môn học.
- Đó có thể là thông tin về đối tợng nghiên cứu của môn học và về các
kĩ năng học tập bộ môn Ví dụ: trong tiết học làm quen với môi trờng xungquanh, mô hình hoặc tranh ảnh cho thông tin về biểu tợng của đối tợng, cácnhóm đồ vật, đồ dùng để so sánh sự giống và khác nhau
- Thông tin mang tính kích thích, nhằm tạo ra động cơ học tập, cảm xúcthẩm mĩ nh : tranh ảnh minh hoạ một tình huống trong truyện nào đó, haytrong cuộc sống thực tiễn tạo cho trẻ sự hứng thú chú ý học tập
Trang 12- Thông tin đánh giá, cho phép xác định mức độ lĩnh hội kiến thức, kĩnăng Chẳng hạn: các sản phẩm hoạt động của trẻ.
- Thông tin để tổ chức, chỉ dẫn hoạt động trong hoạt động nhận thức vàthực hành nội dung học tập Ví dụ: các tài liệu hớng dẫn tổ chức quá trìnhcho trẻ làm quen với môi trờng xung quanh
b Đồ dùng trực quan là phơng tiện truyền tin về lĩnh vực kiến thức của môn học
Các thông tin học tập đợc truyền đến cho ngời học qua các hình thứckhác nhau nh: qua hành động (hành động mẫu), qua lời giảng giải (lời nói,tiếng động), qua quan sát hình ảnh các đồ vật, mô hình, tranh ảnh, kí hiệuriêng của môn học
c Đồ dùng trực quan hỗ trợ việc quản lí thông tin.
- Các thông tin này đợc lu giữ ở dạng hiển thị trên bảng, trong tài liệu
in sẵn
- Làm xuất hiện thông tin theo ý muốn, nh : các đồ vật, bảng giấy, bút
- Làm xuất hiện thông tin có sẵn nhng ở dạng dấu kín nh: phim, đènchiếu, băng hình ghi sẵn
Nh vậy tính chất của đồ dùng trực quan biểu thị nội dung thông tin họctập, hình thức thông tin và phơng pháp thông tin có trong đồ dùng Nhữngtính chất này chỉ đợc bộc rõ dới sự tác động của ngời dạy và ngời học khinghe, quan sát, thực hành hoạt động nhằm lĩnh hội kiền thức hình thành kĩnăng kĩ xảo
1.2.1.4 Những chức năng của đồ dùng trực quan.
a Chức năng truyền thụ tri thức.
Nhờ những nội dung tin tức chứa trong đồ dùng trực quan mà nó tạovốn kinh nghiệm dới những hình ảnh cảm tính ban đầu, những biểu tợng về
đối tợng nghiên cứu Những biểu tợng này đợc tích luỹ mức độ chính xác,sâu sắc không đồng đều giữa các trẻ Hơn nữa không phải lúc nào trẻ cũng
dễ dàng quan sát các hiện tợng thực tiễn Vì vậy các đồ dùng trực quangiúp trẻ quan sát và tích luỹ hình ảnh về các hiện tợng đó, làm phong phúthêm những kinh nghiệm cảm nhận cho trẻ nhỏ
Trang 13Mặt khác, trong dạy học với trẻ nhỏ, việc truyền đạt nội dung nhữngkiến thức dới dạng văn tự, lời nói hoàn toàn không phù hợp với khả năngcủa chúng Nhng nhờ các đồ dùng trực quan chứa dựng những tin tức dớidạng đồ vật, hình ảnh hay mô hình mà trẻ nhỏ dễ dàng lĩnh hội đợc nhữngkiến thức Nghĩa là, nguyên tắc dạy học trực quan giữ vai trò quan trọngtrong quá trình dạy học cho trẻ nhỏ.
Mục đích của dạy học cho trẻ nhỏ là hình thành cho trẻ biểu tợng,khái quát dần những biểu tợng đó và nâng dần chúng lên thành khái niệm,qua đó phát triển t duy trừu tợng cho trẻ Đồ dùng dạy học diễn đạt khái
niệm dới dạng lời nói, hay mô hình, kí hiệu Nghĩa là, đồ dùng trực quan
là những mẫu cho trẻ biểu thị một cách chính xác các biểu tợng, khái niệm trừu tợng và cách biểu thị chúng dới dạng các mô hình, khái niệm.
Hơn nữa các đồ trực quan không chỉ cung cấp cho trẻ những kiến thứcbền vững, chính xác, mà chúng còn là phơng tiện giúp trẻ kiểm tra lại tính
đúng đắn những suy luận của mình, sửa chữa, bổ sung, đánh giá lại nếuchúng không phù hợp với thực tiễn
b Chức năng hình thành kĩ năng.
Mục đích của dạy học không chỉ nhằm đào tạo những con ngời cókiến thức mà còn phải có kĩ năng thực hành, nhờ những kĩ năng này màcon ngời thể hiện đợc những điều mình suy nghĩ Việc nắm kiến thức vàvận dụng kiến thức vào thực tiễn là hai mặt của một quá trình nhận thức,
và chúng chỉ đạt đợc thông qua hoạt động thực hành Bởi cơ sở của hoạt
động trí tuệ phải đợc xây dựng trên những hoạt động thực tiễn bên ngoài.Thông qua những hoạt động thực tiễn mà hình thành ở trẻ kiến thức về các
sự vật và những phơng thức hoạt động trí tuệ, qua đó năng lực nhận thức vàthực hành của trẻ đợc phát triển
Trong quá trình hoạt động với đồ vật, đứa trẻ tiến hành các thao tác
đa dạng, qua đó làm lộ rõ những đặc điểm, tính chất, các mối liên hệ, quan
hệ giữa các đồ vật Nhờ đó trẻ nắm đợc thế giới hiện thực một cách sâu sắchơn, thấy rõ đợc vai trò, vị trí của mỗi kiến thức đối với hoạt động thựctiễn
Trang 14Hoạt động thực hành làm tăng hứng thú của trẻ trớc thực tiễn, kíchthích tích cực ở trẻ suy nghĩ, tìm tòi, nhờ vậy trí sáng tạo của trẻ đợc pháttriển Mặt khác hoạt động thực tiễn còn để giải quyết những nhiện vụ họctập, giúp trẻ nắm kiến thức và hình thành kĩ năng Hơn nữa, trong quá trìnhdạy học, bằng việc hớng sự chú ý của trẻ tới sự sắp đặt, đối chiếu, thay đổithông tin học tập trong đồ dùng trực quan sẽ góp phần hình thành ở trẻ cácthủ thuật, phơng thức của hoạt động nhận thức và t duy.
Sự đa dạng của các đồ dùng trực quan trong các hoạt động thực hànhcòn góp phần giáo dục ở trẻ những đức tính cần thiết đối với ngời lao độngnh: cẩn thận, kiên trì, chính xác, kỉ luật, biết quí trọng các phơng tiện hoạt
động Các phẩm chất này chỉ đợc hình thành ở trẻ sau môt quá trình rènluyện lâu dài dới các hình thức khác nhau của hoạt động thực hành
c Chức năng phát triển hứng thú nhận biết
Nhờ tính hấp dẫn của hình thức thông tin và kích thích đợc hứng thúnhận biết của trẻ.Vẻ đẹp, sự hấp dẫn, tính chính xác của các hình thứcthông tin chứa đựng trong các đồ dùng trực quan tạo cho trẻ cảm giác hngphấn, thẩm mỹ Các đồ dùng trực quan còn tạo khả năng tích cực hoá hoạt
động nhận thức của ngời học thông qua việc tổ chức hoạt động thực hànhcho toàn bộ trẻ trong nhóm, trong lớp Nhờ vậy mà trẻ học một cách hứngthú hơn, khối lợng hoạt động nhận biết độc lập của trẻ phát triển, kiến thứcthu đợc qua hoạt động thực hành trở nên sâu sắc hơn và ít thời gian hơn
Đồ dùng trực quan còn có khả năng hấp dẫn trẻ bằng việc trình bàymột cách sinh động, chính xác nội dung những kiến thức cần trang bị cho trẻ
d Chức năng tổ chức, điều khiển hoạt động nhận biết của trẻ.
Để thực hiện đợc các nhiệm vụ dạy học ngời giáo viên phải xây dựng
kế hoạch hoạt động của giáo viên và trẻ, chuẩn bị các tiết học và các hoạt
động khác cho trẻ Đồ dùng trực quan có chức năng hớng dẫn phơng pháp
tổ chức hoạt động dạy học cho trẻ
Trong quá trình tổ chức hoạt động cho trẻ, các đồ dùng trực quan giúpgiáo viên trình bày nội dung học tập mới và tổ chức các hoạt động trực
Trang 15hành cho trẻ dới các hình thức khác nhau: theo cá nhân, theo nhóm hay vớicả lớp Nhờ vậy tạo ra sự phối hợp giữa hoạt động của tập thể và của cánhân Mỗi đồ dùng trực quan thực hiện đợc chức năng riêng nhằm giúp trẻtích luỹ vốn kinh nghiệm và phản ánh nó qua các biểu tợng, qua các hành
động; hình thành kĩ năng và kĩ xảo Lời nói của giáo viên, của trẻ và ngônngữ nghệ thuật có khả năng hình thành những biểu tợng mang tính kháiquát, những khái niệm trừu tợng ở trẻ
1.2.1.5 Vai trò, ý nghĩa của đồ dùng trực quan trong quá trình cho trẻ làm quen với môi trờng xung quanh.
Trong mọi hoạt động của con ngời có ba phạm trù: nội dung, phơngpháp, phơng tiện luôn gắn bó chặt chẽ với nhau Mỗi nội dung hoạt động
đòi hỏi các phơng pháp và phơng tiện tơng ứng Trong quá trình dạy họcviệc vận dụng các phơng pháp dạy học không thể tách rời việc sử dụng các
đồ dùng trực quan
Chúng ta biết rằng nguyên tắc trực quan là nguyên tắc cơ bản của líluận dạy học nhằm tạo cho trẻ những biểu tợng và hình thành các kháiniệm trên cơ sở trực tiếp sử dụng đồ dùng trực quan đang học hay Usinxkigọi nguyên tắc trực quan là cách học không chỉ dựa vào lời nói mà còn dựavào những hình ảnh cụ thể, những tranh ảnh Tính trực quan đợc coi nh
điểm xuất phát không thể thay thế đợc trong quá trình dạy học
Đồ dùng trực quan đợc sử dụng nhằm khắc phục những khoảng cáchgiữa lí thuyết và thực tiễn, làm dễ dàng cho quá trình nhận thức của trẻ,chuyển từ đối tợng mang tính trừu tợng sang cụ thể Đồ dùng trực quan lànguồn thông tin cực kì phong phú và sinh động, giúp cho học sinh lĩnh hộitri thức đầy đủ, chính xác, đồng thời mở rộng khắc sâu kiến thức đã lĩnhhội Qua đó, góp phần hoàn thiện tri thức, rèn luyện những kĩ năng cầnthiết, năng lực quan sát, năng lực t duy cho trẻ Có thể nói, đồ dùng trựcquan có những khả năng to lớn làm tăng chất lợng nhận thức của học sinh,gây hứng thú học tập, tăng năng xuất lao động của giáo viên và trẻ, làmthay đổi phong cách t duy và hành động của trẻ trong quá trình dạy học
Trang 16Rõ ràng, đồ dùng trực quan góp phần nâng cao chất lợng dạy học của nhàtrờng, đặc biệt là chất lợng học tập của trẻ.
Nh vậy ta có thể thấy đồ dùng trực quan có vai trò to lớn đối với việcdạy của giáo viên và việc học của trẻ ở trờng mầm non cũng nh trong tiếthọc cho trẻ làm quen với môi trờng xung quanh Bởi trong quá trình dạy vàhọc ở trờng mầm non không phải là sự truyền thụ kiến thức của giáo viên
và sự tiếp nhận kiến thức của trẻ mà là sự đan xen, hoà quyện của chủ thể
và khách thể Do ở lứa tuổi mầm non sự phát triển trí tuệ cha hoàn thiện, tduy đặc trng là t duy trực quan hành động, vì vậy trong quá trình cho trẻlàm quen với môi trờng xung quanh sự cần thiết phải có đồ dùng trực quan
Nh chúng ta đã biết trong việc hình thành cho trẻ biểu tợng về môi ờng xung quanh (môi trờng thiên nhiên, môi trờng xã hội) đồ dùng trựcquan giúp cho trẻ hình thành những khái niệm ban đầu, những tri thức sơ
tr-đẳng Nó là phơng tiện giúp cho sự phát triển t duy hình tợng của trẻ.Thông qua các đồ dùng trực quan mới hình thành cho trẻ những biểu tợng
đầy đủ nhất, chính xác nhất về các sự vật, hình tợng Việc trực quan sinh
động trong nhận thức môi trờng xung quanh chính là giai đoạn nhận thứccảm tính để từ đó đặt cơ sở cho việc nhận thức ở tầm cao hơn (nhận thức lítính) I.A.Comenxki đã khẳng định: "không có cái gì trong trí tuệ nếu trớc
đó cha có trong cảm giác” Vậy nên không có đồ dùng trực quan thì không
có biểu tợng hay có biểu tợng xây dựng trên những trực quan nghèo nàn thìcũng sẽ là biểu tợng nghèo nàn
Trớc hết sử dụng đồ dùng trực quan không những giúp giáo viênmầm non dễ dàng truyền thụ kiến thức mà còn giúp trẻ phát huy tính tíchcực, chủ động của trẻ Mà trẻ mầm non rất dễ bị cuốn hút bởi những vật vớinhững màu sắc tơi sáng, sự vận động của sự vật Khi hứng thú của trẻ đã
đợc kích thích thì trẻ sẽ hào hứng, chủ động đối với nhiệm vụ học tập Sựlinh hoạt trong sử dụng đồ dùng trực quan làm tiết học không khô cứng,nhẹ nhàng Và điều này giúp cho trẻ làm quen với phơng pháp học tập chủ
động, tự tin vào bản thân
Trong quá trình tìm hiểu môi trờng xung quanh trẻ muốn có biểu ợng về đối tợng nào đó trẻ phải huy động và sử dụng các giác quan để trẻ
Trang 17t-tiếp xúc với đối tợng (trực t-tiếp hay gián t-tiếp) Tức là các cơ quan của trẻ
đ-ợc hoạt động để tiếp nhận thông tin từ đối tợng Nếu trực tiếp thì trẻ đđ-ợccầm nắm, sờ mó các giác quan đợc huy động nhiều hơn còn gián tiếp(tranh ảnh) thì chủ yếu là thị giác và thính giác Từ đó làm cho các giácquan của trẻ trở nên tinh nhạy hơn và có tác dụng rèn luyện các giác quan Các đồ dùng trực quan giúp trẻ biết nhìn nhận, phân tích, so sánh, kháiquát các tri thức đã đợc lĩnh hội trớc đó Từ những hiểu biết đó càng kíchthích trẻ lòng ham hiểu biết, tò mò, thích đợc kám phá Mặt khác đồ dùngtrực quan giúp trẻ củng cố biểu tợng cũ, cung cấp biểu tợng mới, làmphong phú vốn từ, khắc sâu các biểu tợng các tri thức, khái niệm một cách
có hệ thống hơn Đồ dùng trực quan có vai trò to lớn trong việc giúp trẻnhớ kỹ, hiểu sâu những kiến thức Usinxki viết: “Hình ảnh đợc giữ lại đặcbiệt vững chắc trong trí nhớ là những hình ảnh mà chúng ta thu đợc từ trựcquan” Hình ảnh nào mà đợc khắc sâu vào trí nhớ thì cũng đợc trẻ nhớ lâu
Ví dụ: Khi quan sát bông hoa hồng trẻ đợc tận mắt nhìn và ngửi trực tiếpbông hoa thật, trẻ sẽ nhớ mãi mùi hơng của nó, màu sắc và đặc điểm củabông hoa (màu đỏ, có nhiều cánh tròn, to mịn, có đài hoa có lá )
Bên cạnh đó trong việc tạo biểu tợng cho trẻ thì môi trờng xung quanh
có những nội dung cần truyền đạt mang tính trừu tợng, kinh nghiệm cuộcsống của trẻ còn ít cho nên nếu không có trực quan thì trẻ sẽ khó hìnhdung và không đạt đợc hiệu quả học nh mong muốn Ví dụ: Qúa trình lớnlên của cây từ hạt - gieo hạt - hạt nảy mầm - cây nhỏ cây lớn - cho quả -lấy hạt - gieo hạt Hay lời lẽ có sinh động có hình ảnh đến đâu cũng khôngthể thay thế đợc đồ dùng trực quan mà thích hợp nhất là dùng đèn chiếucho trẻ thấy dợc một cách trực quan toàn bộ quá trình hạt nảy mầm thànhcây non Hay quan sát những con vật sống ở trong rừng cách hay nhất làhãy dùng những t liệu phim ảnh cho trẻ quan sát
Đồ dùng trực quan còn hình thành và bồi dỡng cho trẻ cảm xúc thẩmmĩ: tranh ảnh, vật thật hay mô hình giúp trẻ có những cảm nhận về cái
đẹp yêu thích cái đẹp và kích thích trẻ mong muốn tạo ra cái đẹp Bên cạnh
đó đồ dùng trực quan giáo dục óc thực tiễn và sự gần gũi gắn bó với môi
Trang 18trờng xung quanh Khi đợc tiếp xúc các đối tợng trong môi trờng xungquanh ngoài nhìn thấy cái hay cái đẹp, cái ích lợi của đối tợng trong môitrờng xung quanh từ đó giúp trẻ sống thực tiễn hơn và từ ích lợi của sự vậthiện tợng giúp trẻ gần gũi với môi trờng xung quanh.
Với tất cả ý nghĩa, vai trò nêu trên đồ dùng trực quan góp phần nângcao chất lợng và hiệu quả dạy học, gây hứng thú cho trẻ đối với việc tìmhiểu môi trờng xung quanh, ảnh hởng giáo dục sâu sắc tới trẻ mẫu giáo
Đúng nh I.A.Comenxki nhận định “Lời nói không bao giờ đi trớc sự vật”
1.2.1.6 Phân loại đồ dùng trực quan:
Để nâng cao hiệu quả trong thực tiễn giảng dạy với các loại đồ dùngtrực quan khác nhau Để giúp cho giáo viên sử dụng thuận tiện trong quátrình dạy học cần phải phân loại các đồ dùng trực quan gồm các loại sau:
- Vật thật: Đó là những sự vật, đồ vật có trong thực tế có vai trò thamgia vào các hoạt sống của con ngời nhng nằm ngoài mục đích chơi- bônghoa hồng, hoa cúc, quả cam, quả táo,ô tô, con gà, con vịt
- Tranh ảnh: Các sự vật, hiện tợng, đồ vật đợc thể hiện trên mặtphẳng không gian hai chiều Có sự cân đối hài hòa về bố cục thể hiện mốiliên hệ giữa những sự vật trong tranh
- Mô hình: Là sự mô phỏng lại các sự vật bằng các chất liệu khácnhau có hình dáng giống với các sự vật thực nhng có kích thớc thu nhỏ lại.Hay mô hình là sự phối hợp các sự vật lại với nhau sao cho thành một chủ
đề tức là các sự vật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
- Băng hình, đèn chiếu: là những thiết bị kĩ thuật, máy móc mà hình
ảnh của sự vật hiện tợng đợc ghi lại trong trạng thái động
1.2.2.1 Khái niệm môi trờng xung quanh.
Môi trờng xung quanh là toàn bộ các sự vật và hiện tợng của thế giớivô sinh và hữu sinh đợc thu hút vào một quá trình của đời sống xã hội ởmột giai đoạn lịch sử nhất định và tạo điều kiện cần thiết cho sự tồn tại vàphát triển của mọi xã hội
Trang 19Môi trờng xung quanh bao gồm: môi trờng tự nhiên và môi trờng xãhội Môi trờng tự nhiên gồm thế giới động thực vật và các yếu tố ngoạicảnh Môi trờng xã hội bao gồm các mối quan hệ của con ngời với con ng-
ời và các sản phẩm lao động do con ngời làm ra
1.2.2.2 Đặc điểm nhận thức môi trờng xung quanh của trẻ mầm non.
* Trẻ em có nhu cầu lớn trong việc tiếp xúc và nhận thức môi trờng xung quanh:
Nói chung, tất cả trẻ em đều rất thích hoạt động trong thiên nhiêntrong giao tiếp với bạn bè, với ngời lớn và các đồ vật xung quanh
Ai sinh ra cũng có một tuổi thơ với bao kỉ niệm đẹp đẽ và nhữnghình ảnh ấy sẽ theo chúng ta đến suốt cuộc đời.Từ nhũng cỏ cây, hoa lá,các con vật sống xung quanh đến cây đa, bến nớc Nó không chỉ có ýnghĩa nh một cái lá, một bông hoa, một cây cổ thụ và một bến bờ của mộtdòng sông mà chúng còn là hình ảnh tiêu biểu trong tâm trí con ngời những
kỉ niệm đẹp mãi mãi truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác về hình ảnh quêhơng Thật vậy, thiên nhiên xung quanh chúng ta thật tơi đẹp, phong phúnhng lại là một thế giới đầy bí ẩn khiến rất hấp dẫn trẻ Ta thờng gặp mặc
dù đang tra nắng, các em vẫn say mê bắt bơm bớm, chuồn chuồn, châuchấu, bắt ve, nhặt lá bàng Chúng có thể vui chơi hàng giờ liền ngoài đồnghoặc nô đùa lăn lộn trên những đống rơm rạ mới Điều gì mà khiến trẻthích thú đến vậy? Đó là những con ngỗng con gà, con tôm, con cá, concào cào đợc kết từ rơm rạ dùng lá chuối xé nhỏ kết thành con mèo conchuột, lá rứa làm chong chóng, cuộn thành quả bóng để đá hay bứtnhững ngọn cỏ gà để chơi trò (chọi gà), dùng lá cây làm tiền, dùng gai làmbút, dùng gạch làm phấn Trẻ thích thú khi ngắm nhìn trời đất, mây bay,trăng sao trên trời vì trẻ tò mò và có nhu cầu lớn trong tiếp xúc và nhậnthức môi trờng xung quanh nên những lúc ấy trong đầu óc trẻ xuất hiệnhàng loạt những câu hỏi: Vì sao trăng lại sáng, có ngày trăng sáng, có ngàytrăng không sáng? Tại sao lại có ma? Ma từ đâu rơi xuống? Nớc ma chảy
đi đâu? Hoa ấy là hoa gì? Con vật ấy tên gì? Qủa này có ăn đợc không?Con vật này sống ở đâu? Nó ăn thức ăn gì? Tất cả những điều ấy ngời lớnkhó mà có thể thoả mãn mọi yêu cầu hiểu biết của trẻ
Trang 20Không những môi trờng thiên nhiên có sức cuốn hút đối vớ trẻ màcuộc sống của con ngời, xã hội xung quanh trẻ cũng không kém phần hấpdẫn Chẳng thế mà ngay từ khi còn bé, trẻ em thích cảm giác tiếp xúc(ngờilớn ôm ấp, nâng niu, âu yếm), thích đợc nghe mẹ ru để chìm vào giấc ngủ,hay nghe bà kể những câu chuyện cổ tích, thích thú với mầu sắc âm thanh,mùi vị
ở lứa tuổi nhà trẻ, đã muốn tìm hiểu về bản thân mình (muốn tự quansát các bộ phận trên cơ thể mình: mắt, mũi, mồm, tai, rốn ) về vị trí củamình trong gia đình và trong xã hội (ai đẻ ra mình? ai đẻ ra bố, mẹ? bác ấythế nào với bố,với mẹ, tại sao gọi bà ấy bằng cô, gì? ) Trẻ em nêu ra vớingời lớn những câu hỏi vô tận và cảm thấy sung sớng khi đợc giải đápngay, đặc biệt là những lời giải đáp thoả tính tò mò của các em
Trẻ em ở tuổi nhà trẻ cũng nh ở tuổi mẫu giáo rất thích thú với đồchơi đặc biệt với những đồ chơi có mầu sắc tơi sáng, sặc sỡ, đồ chơi phát
ra âm thanh và chuyển động đợc, trẻ thích tháo ra lắp vào và thậm trí trẻcòn muốn đập ra để tìm hiểu bên trong nó nh thế nào? Rồi trẻ thích sửdụng các đồ dùng trong nhà nh đi guốc của mẹ, đi giày của bố, cầm daothái rau giống mẹ hay chống gậy đi giống bà Trẻ thích lao động tự phục
vụ, thích xem ngời khác làm việc, thích giúp việc ngời lớn, làm vui lòngngời khác mà trẻ yêu mến, thích ngời lớn dạy kể chuyện, đọc thơ dạyhát Chínhvì những nhu cầu đó mà gia đình, nhà trẻ và trờng mẫu giáophải tạo điều kiện cho trẻ đợc thờng xuyên tiếp xúc với thiên nhiên, giaotiếp với ngời lớn và bạn bè Ngời lớn cần cố gắng thoả mãn nhu cầu đó củatrẻ
* Nhận thức của trẻ em về môi trờng xung quanh còn mang nặng cảm tính và tính trực quan hành động :
Trẻ đợc tiếp xúc với môi trờng xung quanh ở mọi lúc, mọi nơi vàchính trong quá trình tiếp xúc đó bớc đầu trẻ đã có nhận thức về xungquanh Nhận thức của trẻ còn mang nặng cảm tính tức là chỉ mang tínhchất nhận mặt, nhận thức “bề ngoài’’ của đối tợng: màu sắc, hình dạng,kích thớc mà cha nhận thức về đặc điểm bản chất bên trong Ví dụ: Khi trẻtiếp xúc với một vật nào đó trẻ mới chỉ nhận thức đợc màu sắc, mùi vị,
Trang 21hình dạng, kích thớc những nét nổi bật bên ngoài mà trẻ cha thể hiểu đợcvật đó có cấu tạo nh thế nào và có ích gì Nhận thức cảm tính còn đợc thểhiện ở sự đánh giá các sự vật hiện tợng xung quanh theo sự chủ quan củabản thân, trẻ thấy cái gì đẹp là thích, hoặc thấy một bạn mặc quần áo mớitrẻ cho là bạn ấy xinh Vì vậy nên muốn có sự nhận biết về đối tợng, cầnphải tổ chức giáo dục trẻ, nhng thông qua việc dạy và giáo dục kết quảnhận thức của trẻ cũng mới dừng ở mức độ nhận biết những dấu hiệu bênngoài đối tợng.
Bên cạnh đó nhận thức của trẻ còn mang tính trực quan hành động đó
là t duy chiếm u thế của trẻ, tức là hoạt động trực tiếp với đồ vật để lĩnh hộitri thức thông qua các giác quan Trẻ dễ tập trung chú ý, ghi nhớ và tái hiệnnhững sự vật và hiện tợng lạ, hấp dẫn, ngỗ nghịch và chuyển động đợc Từ
đặc điểm đó trong quá trình giáo dục trẻ phải có đồ dùng trực quan, trẻkhông những đợc nhìn mà còn đợc cầm, sờ mó chúng Không chỉ là những
đồ vật đơn điệu mà phải đợc tiếp xúc với những đồ vật mới lạ, hấp dẫn,phong phú
* Khả năng nhận thức của trẻ phụ thuộc vào từng độ tuổi:
Khả năng nhận thức của trẻ phụ thuộc vào từng độ tuổi khác nhau thìkhác nhau Khả năng nhận thức càng phức tạp dần theo độ tuổi, phạm vi
đối tợng nhiều lên, lúc đầu ít, tăng cả về hình thức và số lợng
- Đối với trẻ em ở độ tuổi nhà trẻ: ở giai đoạn đầu tuổi nhà trẻ, khitiếp xúc với các sự vật hiện tợng, khi giao tiếp với những ngời xung quanh,trẻ mới chỉ biết thể hiện ra bên ngoài bằng đôi ba từ bập bẹ, câu ngắn hoặchành động để cho biết cảm giác mà mình đã có đợc về xung quanh Sau đótrẻ còn có thể trả lời câu hỏi của ngời khác bằng cách chỉ tay vào đối tợng
Có thể nói đây là dấu hiệu đánh dấu một bớc phát triển quan trọng trongnhận thức của trẻ
- Đối với trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo
Trẻ mẫu giáo bé ( 3 - 4 tuổi ) đã biết phân biệt các sự vật hiện tợng,bằng những dấu hiệu bên ngoài tiêu biểu và hấp dẫn Trẻ đã nhận ra cáinày cái kia, ở chỗ nào? Trong giao tiếp trẻ đã nhận biết đợc vị trí của mình
Trang 22trong gia đình, ở trờng mẫu giáo Trẻ thích thú khi quan sát sự vật, hiện ợng xung quanh, thích bắt chớc những vận động mới lạ.
- Trẻ mẫu giáo nhỡ (4 - 5 tuổi) đã biết so sánh và thích thú trong việcphân biệt một vài dấu hiệu bên ngoài của hai đối tợng (hình dạng, kích th-
ớc, màu sắc ) Trong giao tiếp trẻ đã có ý thức đối với những hành động vàlời nói của mình.Trẻ biết thực hiện những quy định về nề nếp vui chơi, họctập và sinh hoạt ở lớp cũng nh ở trờng
- Trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) đã có khả năng tổng hợp và khái quáthoá đơn giản, những dấu hiệu bên ngoài khác hay giống nhau, phân hạng,phân nhóm các đối tợng xung quanh Trẻ thực hiện nghiêm túc nhiệm vụcủa mình, trẻ hiểu đợc ý nghĩa của lao động đối với con ngời Hiểu đợcnhững thao tác lao động đơn giản mà trẻ thờng xuyên đợc tiếp xúc Trẻ có
ý thức đối với hành động văn hoá và hành vi văn minh trong cuộc sống
Từ những đặc điểm về trẻ thơ nh vậy ta có thể rút ra một số kết luận sau:
- Trong quá trình hớng dẫn trẻ làm quen với môi trờng xung quanhviệc cung cấp tri thức về các sự vật và hiện tợng xung quanh chỉ nên dừnglại ở mức độ “biểu tợng”
- Cần tận dụng yếu tố trực quan và sự hấp dẫn của các đồ dùng trựcquan Việc hớng dẫn trẻ làm quen với môi trờng xung quanh phải đợc tiếnhành thông qua các hoạt động của trẻ, tránh máy móc, dập khuôn, gò bó áp
vị, hình dạng, cấu tạo, tiếng kêu )
- Biết tên tuổi của mình, tên bố mẹ, anh chị em, cô giáo và các bạn
Trang 23- Biết cách xng hô với mọi ngời trong gia đình, trong lớp học, biếtchào hỏi, cảm ơn, xin lỗi và biết nghe lời ngời lớn, không quấy rối các bạn.Thích thú khi tiếp xúc với thiên nhiên và cuộc sống xung quanh Hay đặtcác câu hỏi: Ai đấy? cái gì đấy? làm gì đấy?
* Nội dung:
Làm quen với môi trờng xã hội:
- Dạy trẻ biết một số công việc của cô giáo ở lớp, của mẹ ở gia đình
và biết mối quan hệ yêu thơng chăm sóc của bố mẹ, của cô giáo đối với trẻ
- Dạy trẻ biết xng hô với những ngời xung quanh, biết nghe lời vàgiúp đỡ ngời lớn, bạn bè
- Dạy tẻ biết tên tuổi của mình, tên bố mẹ, cô giáo, tên bạn bè gầngũi trẻ
- Dạy trẻ biết tên gọi, công dụng và đặc điểm rõ nét của một số đồdùng, đồ chơi quen thuộc ở gia đình, ở lớp học, phơng tiện giao thông phổbiến Dạy trẻ phân biệt chúng qua những dấu hiệu đặc trng rõ nét (màu sắc,công dụng )
- Dạy trẻ biết một vài quy định về luật lệ giao thông đi đờng
Làm quen với môi trờng thiên nhiên:
- Dạy trẻ gọi tên, biết lợi ích và phân biệt đợc một số cây, hoa, quả quen thuộc qua những đặc điểm rõ nét (màu sắc, công dụng, hơng vị, cấutạo )
- Dạy trẻ phân biệt gọi tên các bộ phận chính của cây của hoa
- Dạy trẻ biết muốn cây sống và phát triển đợc là nhờ có nớc, đất, ánhsáng Giáo dục trẻ biết chăm sóc, giữ gìn bảo vệ cây hoa, quả
- Dạy trẻ biết gọi tên ích lợi và phân biệt một số con vật nuôi tronggia đình qua những dấu hiệu rõ nét (tiếng kêu, đặc điểm về cấu tạo, thức
ăn )
- Dạy trẻ gọi tên và phân biệt đợc các bộ phân chính trên cơ thểchúng Giáo dục trẻ yêu quý chăm sóc và bảo vệ chúng
- Dạy trẻ một số hiện tợng về thời tiết nh: ma, gió, nóng , lạnh
- Dạy trẻ biết phân biệt đất, cát, đá, muối
Trang 241.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài:
xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài, chúng tôi dựa vào kết quả đánhgiá các nội dung sau:
- Nhận thức của giáo viên về việc lựa chọn và sử dụng đồ dùng trựcquan trong quá trình cho trẻ 3 - 4 tuổi làm quen với môi trờng xung quanh
- Quan sát một số giờ dạy của giáo viên mầm non
- Thực trạng biểu hiện kết quả nhận thức của trẻ thông qua một sốgiờ hoạt động làm quen với môi trờng xung quanh
1.3.1 Kết quả điều tra Ankét:
Chúng tôi tiến hành tìm hiểu nhận thức của 20 giáo viên mầm non vềviệc lựa chọn và sử dụng đồ dùng trực quan trong hoạt động cho trẻ 3 - 4tuổi làm quen với môi trờng xung quanh ở một số trờng mầm non thuộc
địa bàn thành phố Vinh, đó là:
Trờng mầm non Hoa hồng
Trờng mầm non Bình minh
Trờng mầm non Quang trung I
Trờng mầm non Quang trung II
Kết quả thu đợc nh sau:
* Về vai trò của đồ dùng trực quan
Bảng 1: Về vai trò của đồ dùng trực quan
* Các loại đồ dùng trực quan mà giáo niên thờng hay sử dụng
Bảng 2: Các loại đồ dùng trực quan mà giáo viên thờng hay sử dụng
Trang 25Đồ dùng trực quan rất phong phú, song giáo viên mầm non lựa chọn
và sử dụng chúng nh thế nào? Qua bảng trên ta thấy nếu sắp xếp các đồdùng trực quan theo mức độ từ cao đến thấp ta có vật thật (95%), tranh ảnh(90%), mô hình (90%), băng đĩa (15%) còn đèn chiếu không bao giờ đợc
sử dụng
Nh vậy nếu đồ dùng trực quan càng dễ tìm kiếm và sẵn có thì càng
đ-ợc giáo viên thờng xuyên sử dụng Vật thật, tranh ảnh, mô hình là những đồdùng trực quan mà giáo viên mầm non sử dụng thờng xuyên trong quá trìnhdạy học Với những lý do: rẻ, dễ kiếm, tận dụng đợc nguồn nguyên vật liệu
và trách nhiệm làm đồ dùng dùng dạy học của giáo viên mầm non nên hầuhết các loại đồ dùng trực quan này có mặt trong tất cả các nội dung hoạt
động Những phơng tiện kĩ thuật đòi hỏi tốn kém về kinh tế, phải có sự hiểubiết về kĩ thuật, sự quan tâm đầu t thoả đáng thì ít đợc sử dụng Những đồdùng trực quan có nhiều u điểm nh băng đĩa, có tác dụng cung cấp cho các
em những hình ảnh hấp dẫn, sống động hầu nh không đợc sử dụng Hiệnnay băng đĩa cho trẻ làm quen với môi trờng xung quanh cha có, hơn nữa
điều kiện kinh tế của một số trờng mầm non thuộc đại bàn thành phố Vinhcha thể thực hiện Điều đó cũng ảnh hởng không nhỏ tới việc sử dụng đồdùng trực quan của giáo viên mầm non
* Sử dụng phối kết hợp các đồ dùng trực quan
Bảng 3 : Sử dụng phối kết hợp các đồ dùng trực quan
Phối kết hợp đồ dùng trực quan
Số phiếu
Tỉ lệ %
Trang 26Thỉnh thoảng Không bao giờ
10
50
Khi bàn đến việc sử dụng phối kết hợp các đồ dùng trực quan có tới95% giáo viên cho rằng thờng xuyên sử dụng phối kết hợp đồ dùng trựcquan bởi vì giáo viên mầm non nhận thức đợc mỗi đồ dùng trực quan cónhững u điểm và nhợc điểm khác nhau Không thể sử dụng một loại đồdùng trực quan trong hoạt động cho trẻ làm quen với môi trờng xungquanh mà cần sử dụng phối kết hợp để chúng bổ sung, hỗ trợ cho nhau saocho đạt đợc hiệu quả cao nhất Bên cạnh đó sự phong phú, hấp dẫn, đadạng của đồ dùng trực quan tăng hứng thú nhận thức của trẻ
* Thời điểm sử dụng đồ dùng trực quan
Bảng 4 :Thời điểm sử dụng đồ dùng trực quan
Thời điểm sử dụng Số phiếu Tỉ lệ %
452502010
Qua bảng trên ta thấy giữa nhận thức và hành động vẫn còn là mộtkhoảng cách khá xa Có 45% giáo viên cho rằng sử dụng đồ dùng trựcquan vào đầu tiết học, có 25% giáo viên sử dụng đồ dùng trực quan ở giữatiết học, 20% giáo viên cho rằng sử dụng trong suốt cả tiết học, trong đó có10% giáo viên lại cho rằng vừa sử dụng đồ dùng trực quan vào cả đầu vàgiữa tiết học Nh vậy ta có thể thấy đợc sự mâu thuẫn giữa nhận thức vềtầm quan trọng của đồ dùng trực quan với việc lựa chọn và sử dụng chúngtrong thời điểm nào Nếu sử dụng vào đầu tiết học thì giữa tiết học giáoviên sẽ lấy gì cho trẻ làm quen? Phải chăng giáo viên sử dụng lời nóisuông để cho trẻ làm quen với đối tợng và cuối tiết học giáo viên cho trẻluyện tập củng cố mà không hề sử dụng đồ dùng trực quan? Cũng nh vậy
Trang 27có tới 25% số giáo viên cho rằng chỉ sử dụng đồ dùng trực quan vào giữatiết học Nh vậy ta có thể thấy rằng hầu nh các giáo viên mầm non chỉ sửdụng đồ dùng trực quan vào thời điểm đầu hoặc giữa của tiết học và chỉ coi
đồ dùng trực quan là phơng tiện để truyền thụ kiến thức hay chỉ là biệnpháp dạy học mà cha thấy đợc tầm quan trọng của đồ dùng trực quan vừa
là biện pháp, phơng tiện dạy học mà còn là phơng pháp dạy học và nộidung cho trẻ làm quen với môi trờng xung quanh
Điều chúng tôi mong muốn trong câu hỏi này là đồ dùng trực quan
đ-ợc sử dụng trong suốt giờ học, song chỉ có 20% giáo viên đồng ý với ýkiến đó Thực tế, đồ dùng trực quan đợc sử dụng trong suốt giờ học Tạimỗi thời điểm khác nhau thì sử dụng đồ dùng trực quan khác nhau nhằm
đạt đợc mục đích dạy học Chẳng hạn, sử dụng mô hình, tranh ảnh… nhằm nhằm
ổn định lớp, tạo hứng thú cho trẻ Sử dụng vật thật, tranh ảnh, mô hình chotrẻ làm quen với đối tợng Sử dụng lôtô, băng hình… nhằm cho trẻ luyện tập,củng cố
* Hiệu quả sử dụng đồ dùng trực quan
Bảng 5 : Hiệu quả sử dụng đồ dùng trực quan
7009570
Qua phân tích kết quả ở bảng 5, có tới 95% giáo viên cho rằng đồdùng trực quan giúp cho giờ học sinh động hơn, trẻ học tập tích cực hơn(70%), trẻ hiểu đối tợng một cách dễ dàng (70%), không ai cho rằng khi sửdụng đồ dùng trực quan làm cho lớp học ồn, giờ học kém hiệu quả Nh vậychúng ta thấy giáo viên mầm non đều nhận thấy đợc hiệu quả rất rõ ràngcủa việc sử dụng đồ dùng trực quan trong quá trình cho trẻ làm quen với
Trang 28môi trờng xung quanh Nó vừa là phơng tiện để giáo viên truyền thụ kiếnthức vừa giúp trẻ lĩnh hội biểu tợng về đối tợng một cách dễ dàng Điều đódẫn đến trẻ học tập tích cực hơn và rất phù hợp với quan điểm dạy học hiệnnay "lấy trẻ làm trung tâm".
1.3.2 Đánh giá việc sử dụng đồ dùng trực quan qua một số tiết tổ chức cho trẻ 3 - 4 tuổi làm quen với môi trờng xung quanh:
Qua dự giờ, quan sát 3 tiết dạy của giáo viên chúng tôi thấy rằng:Mặc dù giáo viên đã nhận thức đợc vai trò của đồ dùng trực quantrong việc cho trẻ làm quen với môi trờng xung quanh, nhng nhìn chungtrong tiết học đồ dùng trực quan đợc đa vào cha phong phú, cha có sự phốikết hợp các đồ dùng trực quan và thời điểm đa đồ dùng trực quan ra chahợp lý Các đồ dùng trực quan còn nghèo nàn, đơn điệu cha thực sự tạo ra
đợc hiệu quả trong giờ học cũng nh hứng thú học tập của trẻ Mặt khác các
đồ dùng trực quan cha đảm bảo tính giáo dục cũng nh tính thẩm mỹ Côgiáo chủ yếu sử dụng đồ dùng trực quan là tranh ảnh hay một số đồ vật, đồchơi sẵn có trong lớp, những đồ dùng trực quan đòi hỏi sự đầu t về kinh tếhay thời gian, công sức và sự sáng tạo là cha có, đặc biệt là những đồ dùngtrực quan đòi hỏi phải là đồ vật thật Vì vậy, trẻ không đợc tiếp xúc trựctiếp với đối tợng bằng nhiều giác quan khác nhau nên cha kích thích đợcnhận thức của trẻ Tiết học thờng đơn điệu, tẻ nhạt, không hấp dẫn, khôngsinh động.Qua đó càng cho ta thấy việc lựa chọn và sử dụng đồ dùng trựcquan có ý nghĩa rất to lớn trong việc nâng cao hiệu quả của quá trình dạyhọc
Tuy vậy nếu lựa chọn và sử dụng đồ dùng trực quan không hợp lý thìhiệu quả s phạm của nó không những không tăng lên mà nhiều lúc lại cótác động ngợc lại Trong tiến trình dạy học hầu hết các giáo viên trong tr-ờng mầm non hiện nay sử dụng đồ dùng trực quan với ý nghĩa chủ yếu làphơng tiện minh họa cho bài giảng của giáo viên, hỗ trợ cho lời giảng củagiáo viên còn trẻ ở trên lớp chủ yếu đóng vai trò là ngời tiếp thu, ghi nhớ,
do đó kiến thức trẻ thu đợc rất mờ nhạt, cha sâu sắc, hiệu quả tiết họckhông cao
Trang 29Từ sự phân tích trên chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:
- Phần lớn giáo viên mầm non đợc điều tra đều đánh giá rất cao vaitrò của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong giờ học cho trẻ làm quen vớimôi trờng xung quanh, giúp trẻ học tập tích cực hơn, giờ học sinh độnghơn và trẻ hiểu đối tợng một cách dễ dàng
- Đa số giáo viên đều sử dụng đồ dùng trực quan trong tiết học nhng
sự phối kết hợp giữa các đồ dùng trực quan, sự đa dạng của các loại đồdùng trực quan trong tiết học là cha có và không có sự đầu t, sử dụng các
đồ dùng trực quan còn đơn điệu nên chất lợng hiệu quả giáo dục cha cao
- Thời điểm sử dụng đồ dùng trực quan cha hợp lí, giáo viên cha thấy
đợc tầm quan trọng của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong mọi thời
điểm của tiết học Đồ dùng trực quan có ý nghĩa là nội dung, là phơngpháp, biện pháp dạy học và là phơng tiện dạy hoc, vì vậy giáo viên cần phải sửdụng linh hoạt
- Chất lợng họ giáo dục của quá trình cho trẻ làm quen với môi trờngxung quanh còn hạn chế: trẻ học cha thực sự hứng thú, cha tích cực Giáoviên lên lớp chủ yếu là đàm thoại trên tranh ảnh hay đồ vật, đồ chơi có sẵn,nên tiết học không hấp dẫn, trẻ không chú ý và chán học, hiệu quả tiết họcthấp
Theo chúng tôi tồn tại thực trạng trên là do các nguyên nhân sau:
- Trớc hết chơng trình cho trẻ làm quen với môi trờng xung quanh làmột chơng trình mang tính tích hợp chứa đựng nội dung đa dạng, phongphú về sự vật, hiện tợng gần gũi xung quanh nên đòi hỏi giáo viên mầmnon có khả năng tổ chức tốt hoạt động cho trẻ làm quen với môi trờng xungquanh Trên thực tế, giáo viên cha nắm vững cơ sở lí luận, kiến thức cònhạn hẹp, thói quen trong cách dạy cũ vẫn cha thể thay đổi nên khi lên lớpcòn lúng túng
- Để có đợc tiết dạy về môi trờng xung quanh sinh động, hiệu quả phảichuẩn bị công phu mất nhiều thời gian, tốn kém về kinh tế Trên thực tếthời gian làm việc của giáo viên mầm non rất căng thẳng, thu nhập cha caonên ảnh hởng lớn đến việc mua sắm và làm đồ dùng dạy học
Trang 30Những nguyên nhân trên đây đã ảnh hởng không nhỏ đến chất lợng,hiệu quả của việc cho trẻ làm quen với môi trờng xung quanh.
Kết luận chơng I:
Trong chơng này chúng tôi đã phân tích lý luận, thực tiễn của đề tài,
đây là cơ sở quan trọng cho phép chúng tôi xác lập yêu cầu sử dụng đồdùng trực quan và yêu cầu lựa chọn các đồ dùng trực quan nhằm nâng caohiệu quả trong tiết học cho trẻ làm quen với môi trờng xung quanh
Chơng 2
Sử dụng đồ dùng trực quan trong quá trình cho trẻ 3- 4 tuổi
làm quen với môi trờng xung quanh
2.1 Yêu cầu lựa chọn và sử dụng đồ dùng trực quan.
2.1.1 Yêu cầu lựa chọn đồ dùng trực quan:
Qua phân tích cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu, đểnâng cao hiệu quả của quá trình cho trẻ làm quen với môi trờng xungquanh thì đồ dùng trực quan chiếm một vị trí hết sức quan trọng và cầnthiết, tạo điều kiện cho trẻ đợc thỏa mãn nhu cầu hoạt động, nhu cầu nhậnthức đợc khám phá thế giới đầy bí ẩn, rộng lớn xung quanh trẻ Chính vìvậy trẻ rất hứng thú khi đợc tiếp xúc với đồ dùng trực quan Có thể nói sửdụng đồ dùng trực quan không chỉ là phơng pháp, biện pháp, phơng tiện cóhiệu quả nhằm nâng cao chất lợng dạy học tiết cho trẻ làm quen với môi tr-ờng xung quanh mà đồ dùng trực quan còn là nội dung dạy học Nhng để
sử dụng đồ dùng trực quan có hiệu quả cần đảm bảo những yêu cầu về lựachọn đồ dùng trực quan
2.1.1.1 Đảm bảo tính thẩm mĩ:
Trang 31Mỗi con ngời chúng ta hầu hết đều bị vẻ đẹp bên ngoài lôi cuốn, vàtrẻ em cũng vậy những đồ vật phát ra âm thanh hay màu sắc sặc sỡ, tơisáng càng làm trẻ chú ý và hấp dẫn đối với trẻ Vì vậy yêu cầu lựa chọn đầutiên đối với đồ dùng trực quan đó là đảm bảo tính thẩm mĩ Nhng mỗi đồdùng trực quan có đặc trng riêng vì vậy yêu cầu về thẩm mĩ cũng khácnhau Cụ thể là:
* Vật thật: Đó là những sự vật, đồ vật sinh động nhất dễ gây hứngthú, chú ý của trẻ Vật thật phải đẹp, mầu sắc tơi sáng có kích thớc vừaphải
Chẳng hạn các loại thực vật nh hoa, quả, rau, cây đợc chọn phải cómàu sắc tơi sáng, đặc trng cho đặc điểm của các loài đó: Quả đu đủ chín cómàu vàng , quả cà chua chín có mầu đỏ Các loại rau, hoa, quả không bịdập nát, héo úa mà phải còn tơi ngon, tốt nhất có đầy đủ các bộ phận (qủa,hoa có thêm cuống, lá ) Động vật phải còn sống, khoẻ mạnh, sạch sẽ,kích thớc vừa phải Tránh những con vật ốm yếu, bẩn thỉu, nguy hiểm… nhằm
*Tranh ảnh: Trong dạy học tranh ảnh là những hình ảnh trực quangây ấn tợng sâu sắc, tạo ra sự tiếp thu kiến thức nhẹ nhàng, xây dựng tìnhcảm tốt đẹp đối với con ngời, với môi trờng xung quanh Tranh ảnh rất đadạng, phong phú Có thể sử dụng ảnh chụp, có thể là tranh vẽ nên vấn đề
đặt ra tranh ảnh phải đáp ứng một số yêu cầu sau: Tranh ảnh phản ánhchính xác đối tợng, có mầu sắc tơi sáng, bố cục hài hòa, sắc nét, phù hợpvới đặc điểm đặc trng của sự vật (gà trống : mào màu đỏ , mỏ màuvàng ) Nội dung phản ánh đợc trọng tâm, hình ảnh thực gắn với môi tr-ờng xung quanh phù hợp đặc điểm lứa tuổi, lựa chọn các sự vật tiêu biểu,không quá rờm rà Kích thớc của tranh, ảnh đảm bảo không quá to, khôngquá nhỏ, sao cho mọi trẻ có thể quan sát một cách dễ dàng Tránh dùngtranh đã quá cũ, rách nát
* Mô hình: Là sự mô phỏng lại các sự vật bằng các chất liệu khácnhau có hình dáng giống với các sự vật thực nhng có kích thớc thu nhỏ (môhình đơn) Hay mô hình là sự phối hợp các sự vật lại với nhau sao cho
Trang 32thành một chủ đề tức là các sự vật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau (môhình theo chủ đề)
Yêu cầu mô hình phải đẹp: Màu sắc, hình dáng giống với vật thật, cóthể lợc bỏ một số chi tiết không cần thiết, chi tiết phụ nhng không thể làmmất đi đặc điểm đặc trng của sự vật đó, kích thớc nhỏ hơn (ô tô, máy bay )tuy nhiên phải phù hợp
Đối với mô hình đợc tạo nên từ sự phối hợp của các sự vật hiện tợng
đó là sự sắp xếp, bố trí các sự vật trên một không gian ba chiều, vẻ đẹp củamô hình đợc thể hiện trớc hết đó là vẻ đẹp tổng thể ở sự phối hợp màu sắcgiữa các sự vật hiện tợng, sự bố trí một cách hợp lý các sự vật hiện tợngtrong không gian và trong cách thể hiện: sự vật nào to hơn thì trong môhình cũng phải to hơn hoặc ở vị trí trọng tâm và ngợc lại sự vật nào nhỏ hơnthì trong mô hình cũng phải nhỏ hơn hoặc ở vị trí hỗ trợ
Ví dụ: Mô hình vờn hoa phải có nhiều hoa, phong phú về màu sắc, cóthêm thảm cỏ, cổng vào, hay những con bớm đang đậu trên hoa hút nhụytrẻ nh đợc bớc vào chiêm ngỡng một vờn hoa thực sự
* Băng hình, đèn chiếu:
Hình thức trực quan này đợc sử dụng rộng rãi ở nhiều nớc trên thếgiới, ở tất cả các cấp học, bậc học- đây là thành tựu to lớn của khoa học kỹthuật ở nớc ta hiện nay, với sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa trớc xu thếhội nhập khu vực, toàn cầu hóa đã và đang tiếp thu việc sử dụng nhữngthành tựu của khoa học kỹ thuật để sử dụng chúng ở các trờng mầm non.Nội dung băng hình phản ánh đợc đối tợng và sự vận động, mối quan hệ,liên hệ của đối tợng với môi trờng xung quanh Hình ảnh diễn ra chậm,
đảm bảo cho trẻ kịp theo dõi Ngôn ngữ, lời dẫn rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp vớidiễn biến của hình ảnh trong băng
* Đèn chiếu: Màn ảnh đợc đặt ngang với tầm mắt của trẻ em, trẻ emngồi cách xa màn ảnh khoảng 3 mét Động tác điều khiển đèn chiếu phải
từ từ, hình ảnh không nên chuyển tiếp nhanh, phải làm sao để cho trẻ kịpthời tri giác
Trang 332.1.1.2 Đảm bảo an toàn, vệ sinh:
Nh chúng ta đã biết lứa tuổi mầm non trẻ rất ham hiểu biết và có nhucầu nhận thức lớn, trẻ tìm mọi cách để khám phá thế giới và trẻ từ 3- 4 tuổicũng không nằm ngoài đặc điểm tâm lý ấy Trẻ rất thích thú với đồ vật đồchơi, thích tháo ra, lắp vào, thích sử dụng các đồ dùng qua đó trẻ lĩnh hộitên gọi, công dụng và phơng thức sử dụng Khi thấy một đồ vật phát ra âmthanh trẻ sẵn sàng cầm đập xuống nền nhà để xem âm thanấoiết ra từ đâu,hay thờng có phản xạ đa đồ chơi vào miệng ngậm Do đó các sự vật màtrẻ đợc tiếp xúc phải đảm bảo an toàn cho trẻ: Đồ vật không đợc sắc nhọn,các con vật không gây nguy hiểm đến trẻ, thực vật không gây nguy hiểm.Các đối tợng phải đảm bảo yêu cầu về vệ sinh tức là phải sạch sẽ, thờngxuyên đợc lau chùi và bảo quản cẩn thận, ngăn nắp để dễ dàng cho việc sửdụng
2.1.1.3 Đảm bảo phải phù hợp với điều kiện địa phơng, từng vùng miền:
Trong xã hội của chúng ta sự khác biệt giữa các vùng miền rất rõ nét:giữa nông thôn với miền núi, giữa nông thôn với thành thị giữa các địa ph-
ơng trong cùng một vùng Sự khác biệt về kinh tế cũng nh sự khác biệt vềnhận thức của trẻ ảnh hởng tới việc lựa chọn và sử dụng đồ dùng trực quan.Vì vậy trong quá trình tổ chức cho trẻ làm quen với môi trờng xung quanh,giáo viên cần phải chú ý đến điều kiện cụ thể của trờng lớp, địa phơng,vùng miền cũng nh sự phù hợp với sự nhận thức của trẻ để lựa chọn và sửdụng đồ dùng trực quan một cách hợp lý và đem lại hiệu qủa
2.1.2 Yêu cầu sử dụng các đồ dùng trực quan:
Việc dạy trẻ những biểu tợng về môi trờng xung quanh trong trờngmẫu giáo cần dựa trên những hình ảnh và biểu tợng cụ thể Chính nhữngbiểu tợng cụ thể này là cơ sở để hình thành ở trẻ những khái niệm, bởi nếuthiếu sự cảm nhận thì trẻ cũng không thể nắm đợc một cách đầy đủ nhữngkiến thức và kĩ năng về môi trờng xung quanh
Để quá trình dạy học trở nên trực quan hơn, thì việc dạy trẻ khôngchỉ hạn chế ở việc tạo ra những hình ảnh thị giác, mà cần tổ chức các hoạt