Trong dạy học lịch sử, lời nóikết hợp với đồ dùng trực quan sẽ có tác dụng tạo biểu tợng lịch sử, giúp cho học sinh dễ hình dung bức tranh tơng đối trọnvẹn về quá khứ.. Vì vậy, trong dạy
Trang 1A- mở đầu.
1 Lý do chọn đề tài:
Thế kỷ XXI - thế kỷ của tri thức và khoa học - thế kỷ màcả nhân loại đang chuyển mình trong nền văn minh hậu côngnghiệp Với những thành tựu có ý nghĩa to lớn đó, mà con ngờingày nay đạt đợc là ớc mơ, khát vọng, là lời tiên tri của thế giới ởcác thế kỷ trớc Sự phát triển mạnh mẽ nh vũ bảo của khoa học,
đã làm thay đổi mọi mặt về đời sống, kinh tế, chính trị, xãhội, đạo đức, giáo dục của con ngời
để hoà nhập vào sự phát triển của thế giới, Việt Nam saunhững năm tháng chiến tranh đã không ngừng vơn lên Với yêucần thực tiễn của đất nớc là đổi mới toàn diện theo hớng côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, chuẩn bị tiền đề, điều kiện để bớcvào thế kỷ XXI, thì nền giáo dục nớc ta còn nhiều yếu kém,bất cập về cả mục tiêu, chất lợng và hiệu quả giáo dục Vì vậyvấn đề cấp thiết hiện nay đối với toàn Đảng, toàn dân ta làphải nhanh chóng đa các nghị quyết TW IV ( Khoá VII) về
“Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo” và Nghị quyết
TW II (Khoá VII) về “Định hớng chiến lợc phát triển giáo dục
-đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm
vụ đến năm 2000”, phải thật sự coi “ Giáo dục và đào tạo làquốc sách hàng đầu” và thực hiện tốt lời Bác dạy “Vì lợi ích m-
ời năm phải trồng cây Vì lợi ích trăm năm phải trồng ngời”[16; 222]
Nhằm đáp ứng nhu cầu của đất nớc, bộ môn lịch sử gópmột phần quan trọng trong sự nghiệp giáo dục, trong việc đàotạo ra “ con ngời mới” xã hội chủ nghĩa Đó là những con ngời cótri thức, có năng lực và phẩm chất đạo đức cách mạng Do đó
bộ môn lịch sử đã có nhiều thay đổi về phơng pháp giảng dạymới nh: Phát triển t duy học sinh; lấy học sinh làm trung tâm
Thế nhng, hiện nay trong dạy học lịch sử vẫn còn tìnhtrạng phổ biến “dạy chay”, giáo viên chỉ nêu sự kiện, phântích xơ sài, sau đó khái quát lại đọc cho học sinh ghi Kiểu dạyhọc này không gây hứng thú học tập cho học sinh, làm ảnh h-ởng đến chất lợng, hiệu quả của bài học lịch sử
đặc trng của bộ môn lịch sử là xuất phát từ sự kiện, hiệntợng lịch sử và đợc sắp theo trình tự thời gian và không giannhất định Vì vậy để tái hiện sự kiện, hiện tợng lịch sử mộtcách khách quan, chân xác và khoa học cho học sinh, giáo viênkhông chỉ sử dụng lời nói mà cần kết hợp nhiều phơng pháp
75
Trang 2nh đồ dùng trực quan, tài liệu lịch sử, tài liệu văn học , trong
đó đồ dùng trực quan là một trong những phơng pháp đem lạihiệu quả cao cho bài học lịch sử Trong dạy học lịch sử, lời nóikết hợp với đồ dùng trực quan sẽ có tác dụng tạo biểu tợng lịch
sử, giúp cho học sinh dễ hình dung bức tranh tơng đối trọnvẹn về quá khứ Từ đó, học sinh đi sâu vào phân tích đểhiểu đợc bản chất của lịch sử
Mặt khác tìm hiểu về diễn biến của các sự kiện, hiện ợng lịch sử ở trờng THPT bao giờ cũng phức tạp Bởi vì, các sựkiện lịch sử đợc viết trong sách giáo khoa chủ yếu là theo cáchthông báo ngắn gọn Vì vậy, trong dạy học lịch sử, giáo viênkết hợp lời nói với việc sử dụng đồ dùng trực quan sẽ góp phầnlàm cụ thể hoá các sự kiện lịch sử, gây hứng thú học tập chohọc sinh, nâng cao hiệu quả bài học Tuy nhiên, trên thực tế,việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học, nhằm nâng caohiệu quả bài học lịch sử là rất khó, đặc biệt là chơng “Chiếntranh thế giới thứ hai” (1939 - 1945) Vì đồ dùng trực quan cònthiếu thốn, kinh nghiệm giảng dạy về loại bài này còn chanhiều nên giáo viên còn tỏ ra lúng túng và hiệu quả đạt đợccòn rất hạn chế
t-Thực trạng đáng lo ngại đó đã đặt ra yêu cầu cấp thiết làcần đa ra những phơng pháp dạy học hiệu quả của từng bàihọc, từng chơng, đặc biệt là chơng V “Chiến tranh thế giớithứ hai” (1939 - 1945), nhằm nâng cao chất lợng dạy học lịch
sử ở trờng THPT
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọ đề tài nghiêncứu “Sử dụng đồ dùng trực quan nhằm nâng cao hiệu quả dạyhọc chơng “Chiến tranh thế giới thứ hai” (1939 - 1945), (sáchgiáo khoa lịch sử lớp 11 ), làm luận văn tốt nghiệp của mình.Thiết nghĩ rằng, đây cũng là điều kiện tốt để chúng tôi cóthể trang bị cho mình một số kinh nghiệm trong việc giảngdạy và là hành trang tốt nhất cho chúng tôi bớc vào nghề mộtcách vững vàng, tự tin
2 Lịch sử vấn đề:
Vấn đề “Đồ dùng trực quan” trong dạy học lịch sử đã cómột số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong vàngoài nớc đề cập tới Tài liệu mà chúng tôi tiếp cận đợc là:Những tác phẩm về tâm lý học, lý luận dạy học có liên quan
đến bộ môn và những tài liệu, bài viết về nội dung và phơng
Trang 3pháp dạy học chơng “Chiến tranh thế giới thứ hai” (1939 1945) Trong số tài liệu này chúng tôi chia làm hai loại:
-2.1 Thứ nhất, những tác phẩm về tâm lý học, lý luận dạy học:
Chúng tôi tiếp cận với tài liệu “Phơng pháp dạy học lịchsử”, (Phan Ngọc Liên - Trần Văn Trị, NXB Giáo dục, Hà nội, 1999,tái bản lần hai) Tài liệu này đã trình bày một cách tổng quát
về khái niệm, vị trí ý nghĩa, phân loại đồ dùng trực quan và
đề ra một số giải pháp nhằm áp dụng các loại đồ dùng trựcquan trong dạy học lịch sử Tuy nhiên, giáo trình mới chỉ dừnglại dới dạng tổng quát về vấn đề đồ dùng trực quan và phơngpháp thiết kế sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử
Tài liệu “ Kênh hình trong dạy học lịch sử ở trờng PTTH”,(Nguyễn Thị Côi, tập 1, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2000), đã
đề cập đến vị trí, ý nghĩa đồ dùng trực quan và cách ứngdụng cụ thể giảng dạy cho phần lịch sử Việt Nam, còn phầnlịch sử thế giới cha đợc trình bày
Tài liệu “Đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử ở trờngphổ thông cấp II”, (Phan Ngọc Liên - Phạm Kỳ Tá, NXB Giáo dục,
Hà Nội, 1975) đã trình bày đầy đủ khái niệm về vị trí, ýnghĩa, cách phân loại, nguyên tắc sử dụng đồ dùng trực quantrong dạy học lịch sử đồng thời hớng dẫn cho giáo viên phơngpháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học phần lịch sửViệt Nam đối với giáo viên trung học cơ sở Cũng nh các tài liệutrên, tài liệu này cha đề cập đến việc sử dụng đồ dùng trựcquan trong dạy học phần lịch sử thế giới, cụ thể là chơng
“Chiến tranh thế giới thứ hai” (1939 - 1945)
2.2 Thứ hai, những tài liệu, bài viết về phơng pháp dạy học :
“Tài liệu bồi dỡng giảng dạy SGK lớp 11 cải cách giáo dục bộmôn lịch sử (Bộ GD & ĐT, Vụ giáo viên, Hà Nội 1999); “ Sách giáoviên lịch sử lớp 11”, (Nguyễn Anh Thái, Trần Văn Trị, NguyễnThừa Hỷ, NXBGD); “Sách thiết kế bài giảng lịch sử ở trờngTHPT”, (Phan Ngọc Liên (cb), NXB Đại học quốc gia, Hà Nội1999) Các tài liệu này giúp giáo viên nắm đợc mục đích, yêucầu, nội dung, phơng pháp từng bài học, nhng chỉ dới dạng kháiquát nhất chứ cha nêu ra những phơng pháp, biện pháp cụ thểthiết thực, để nâng cao chất lợng bài học
Tóm lại, cho đến nay cha có công trình nào đi sâu vàonghiên cứu chi tiết, cụ thể về vấn đề sử dụng đồ dùng trựcquan nhằm nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử nói chung và ch-
ơng “Chiến tranh thế giới thứ hai” (1939 - 1945) nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
75
Trang 43.1 Mục đích nghiên cứu:
Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hớng tới mục đíchnghiên cứu cơ bản sau:
- Sử dụng đồ dùng trực quan nhằm nâng cao hiệu quả bài họclịch sử
- đề ra những phơng pháp tối u cho việc sử dụng đồ dùngtrực quan trong dạy học chơng “ Chiến tranh thế giới thứ hai”(1939 - 1945)
- Phát huy tính tích cực, chủ động, óc quan sát, khiếu thẩm
mỹ cho học sinh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
để hoàn thành tốt đề tài, chúng tôi xác định những nhiệm
vụ sau đây:
- Tham khảo các tài liệu có liên quan đến đề tài nh: côngtrình nghiên cứu về tâm lý học, giáo dục học s phạm đểtìm cơ sở lý luận, nhằm vận dụng trong dạy học chơng
“Chiến tranh thế giới thứ hai” (1939 - 1945)
- Nghiên cứu SGK Lịch sử, tạp chí GD , từ đó rút ra cơ sởkhoa học, đảm bảo tính chính xác về mặt nội dung và ph-
ơng pháp giảng dạy chơng “Chiến tranh thế giới thứ hai”(1939 - 1945)
4 Giả thiết khoa học:
Khi sử dụng “Đồ dùng trực quan” trong dạy học chơng
“Chiến tranh thế giới thứ hai” (1939 - 1945), sẽ có tác dụng pháttriển t duy, năng lực nhận thức, nhân cách ứng xử, óc quan sát,khiếu thẫm mỹ cho học sinh, hiệu quả bài học đợc nâng cao
5 Phơng pháp nghiên cứu:
Để làm sáng tỏ đề taì nghiên cứu này, chúng tôi sử dụngcác phơng pháp cơ bản sau:
5.1 Nghiên cứu lý thuyết:
- Các tài liệu Đảng - Nhà nớc về giáo dục - đào tạo và lịch sử
- Các tác phẩm, bài viết, bài nói chuyện thể hiện t tởng HồChí Minh về lịch sử và giáo dục
- Các tài liệu về tâm lý học, giáo dục học
- Sách giáo khoa lịch sử, các tài liệu hớng dẫn giảng dạy, các tàiliệu lịch sử có liên quan
5.2 Nghiên cứu thực tiễn:
Trang 5Để kiểm chứng tính thực tiễn của đề tài, chúng tôi dùng
ph-ơng pháp nghiên cứu khoa học sau:
- Điều tra
- Dự giờ
- Quan sát
- Tổng kết kinh nghiệm s phạm
Qua đây chúng tôi khẳng định tính đúng đắn của
ph-ơng pháp, góp phần nâng cao hiệu quả bài học lịch sử
6 Cấu trúc của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục, tài liệu thamkhảo, nội dung chính của luận văn đợc chia thành ba chơng:
Chơng 1: Vấn đề sử dụng đồ dùng trực quan trong dạyhọc lịch sử ở trờng THPT
1.Vị trí, ý nghĩa của đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử.2.Việc dạy học lịch sử với việc sử dụng đồ dùng dạy học trựcquan hiện nay
2.1.Các loại đồ dùng trực quan đợc sử dụng trong dạy học lịch sử
1 Vị trí, nhệm vụ, nội dung cơ bản của chơng
2 Sử dụng các loại đồ dùng trực quan trong dạy học chơng
“Chiến tranh thế giới thứ hai” (1939 -1945)
Trang 6Do xuất phát từ nguyên tắc việc đảm bảo trực quan trongdạy học lịch sử phải xuyên suốt trong tất cả các khâu, các yếu
tố của quá trình dạy học Nguyên tắc trực quan trong dạy họclịch sử đòi hỏi với phơng pháp giảng dạy của giáo viên phải xuấtphát từ sự kiện, hiện tợng lích sử cụ thể, để tạo hình ảnh về
sự kiện hiện tợng đó Muốn tái tạo quá khứ thì phải có đồ dùngtrực quan
Cũng nh các bộ môn khoa học khác, trong dạy học lịch sử,quá trình nhận thức lịch sử của học sinh cũng tuân theo quyluật nhận thức con ngời Nhận thức luận Mác-xít đã phát hiện
và trình bày quy luật đó nh sau:
“ Từ trực quan sinh động đến t duy trừu tợng và từ t duy trìutợng đến thực tiễn đó là côn đờng biện chứng của nhận thứcchân lý, nhận thức hiện thực khách quan” [12; 189] Nh vậy cónghĩa là, con đờng nhận thức lịch sử của học sinh cũng trảiqua giai đoạn nhận thức cảm tính (trực quan sinh động) đếnnhận thức lý tính (t duy trừu tợng) và vận dụng tri thức vào thực
tế đời sống Tuy nhiên, do đặc trng của việc nhận thức lịch
sử ( nhận thức cái đã qua, không lặp lại ) nên giai đoạn nhậnthức cảm tính không thể bắt đầu bằng cảm giác và trí giác
đợc mà chỉ dựa trên cơ sở tài liệu chính xác, bằng các phơngpháp nghe, nhìn (trình bày miệng, đồ dùng trực quan ) đểgiúp học sinh tái tạo, hình dung bức tranh của quá khứ Trongdạy học lịch sử, yêu cầu cơ bản là phải tái tạo lại những hình
ảnh về các sự kiện đúng nh nó tồn tại, mà những sự kiện đó,học sinh không đợc trực tiếp quan sát, xa lạ với đời sống hiệnnay Vì vậy, giáo viên phải kết hợp lời nói với việc sử dụng đồdùng trực quan làm cho các sự kiện lịch sử khách quan xích lạigần với khả năng hiểu biết của học sinh, bởi vì đồ dùng trựcquan mang những mẫu thông tin về quá khứ
Mặt khác cũng thông qua đồ dùng trực quan giúp cho học
Trang 7sinh sẽ phân biệt đợc những sự kiện cùng loại, sự kiện khác loại,phân biệt đợc cái chung và cái riêng, cái phổ biến và cái đặcthù trong quá trình phát triển phức tạp của lịch sử xã hội loàingời.
1.1.2 ý nghĩa:
Giáo dục là con đờng cơ bản và vững bền nhất để hìnhthành, hoàn thiện con ngời có nhân cách đáp ứng yêu cầu pháttriển kinh tế - xã hội Giáo dục vừa là một bộ môn khăng khítcủa nền kinh tế - xã hội, vừa là động lực hàng đầu, động lựctrí tuệ và tinh thần, thúc đẩy từng lĩnh vực và toàn bộ nềnkinh tế - xã hội Muốn vậy phải cải thiện con ngời - năng lực củacon ngời, trớc hết phải thông qua con đờng giáo dục - đào tạo
và bồi dỡng
Với yêu cầu về giáo dục của đất nớc, trong dạy học lịch sửviệc sử dụng đồ dùng trực quan có ý nghĩa đặc biệt quantrọng, góp phần nâng cao chất lợng dạy học lịch sử
1.1.2.1 Về mặt giáo dỡng:
đồ dùng trực quan góp phần tạo hình ảnh, biểu tợng, làm
cụ thể hoá một sự kiện, hiện tợng lịch sử để học sinh dễ hìnhdung sự kiện ấy Không có biểu tợng lịch sử hoặc “hiện đạihóa” lịch sử đều dẫn tới những sai lầm nghiêm trọng, vi phạmtính khoa học của kiến thức lịch sử, tức là làm cho học sinhhiểu lịch sử một cách sai lệch, phi thực tiễn vốn dĩ bản chấtcủa nó Tạo biểu tợng, tạo hình ảnh lịch sử cho học sinh là rấtcần thiết trong quá trình hình thành và phát triển t duy họcsinh, trong quá trình tìm kiếm, phát hiện và chiếm lĩnh trithức, cũng nh dễ hình dung về sự kiện, hiện tợng lịch sử ấy
đồ dùng trực quan là chỗ dựa để học sinh hiểu sâu sắcbản chất của sự kiện lịch sử, làm phơng tiện để hình thànhkhái niệm lịch sử cho học sinh Bởi vì khi đã tạo đợc biểu tợnglích sử, hình thành khái niệm lịch sử, học sinh có thể đi sâuvào bản chất của sự kiện, hệ thống hoá đợc tri thức, bồi dỡngthế giới quan, tạo niềm tin cho học sinh
Đồ dùng trực quan giúp cho học sinh nhớ kỹ, nhớ lâu vềnhững sự kiện, hiện tợng lịch sử K.Đ.U Sin-xki đã nhận xét
“hình ảnh đợc giữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ chúng
ta, là hình ảnh mà chúng ta thu nhận đợc bằng trực quan vànhững hình ảnh nào đợc khắc sâu vào trí nhớ chúng ta, thìcũng đợc chúng ta nhớ kỹ, hiểu sâu những t tởng của nó[8;265-266]
1.2.2 Về mặt phát triển toàn diện học sinh:
75
Trang 8Đồ dùng trực quan đem lại những hình ảnh của quá khứ,phản ánh về sự thật , diễn biến của lịch sử quá khứ loài ngời.
Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy, học lịch sử có tác dụnglàm cho học sinh phát triển, rèn luyện khả năng quan sát, trí t-ởng tợng, t duy và ngôn ngữ Nhìn vào bất kỳ loại đồ dùng trựcquan nào học sinh cũng có thể nhận xét, phán đoán, phântích, so sánh, liên hệ, tổng hợp và khái quát hoá các sự kiện,hiện tợng, các vấn đề của lịch sử
Với tất cả ý nghĩa giáo dỡng, giáo dục và phát triển nêutrên, đồ dùng trực quan góp phần to lớn nâng cao chất lợng dạyhọc lịch sử, gây hứng thú học tập cho học sinh Nó là chiếc
“cầu nối” giữa quá khứ với hiện tại
1.1.2.3 Về mặt giáo dục:
Con ngời là sản phẩm giáo dục của mọi thời đại, là kết tinhcủa sự tiếp thu những tinh hoa cái trớc, cái hiện tại và tạo ra cáitơng lai đứng trên một mặt nào đó giáo dục có tác dụng cảitạo phẩm chất, đạo đức, lối sống, cách nhìn phiến diện củacon ngời
Bộ môn lịch sử đã góp phần vào sự nghiệo chung đó và
đồ dùng trực quan là phơng pháp giảng dạy tích cực nhất Vì
đồ dùng trực quan khi sử dụng nó sẽ tác động đến t tởng, tìnhcảm, thái độ của học sinh về sự kiện, hiện tợng lịch sử cụ thể
Ví dụ nh khi cho học sinh xem bức tranh “Hình nấm của quảbom nguyên tử nổ ra ở Nhật Bản” (Chiến tranh thế giới thứ hai)
sẽ làm cho học sinh thấy đợc về sự huỷ hoại tàn khốc của nó,cùng với cái chết bi thảm của ngời dân vô tội và từ đây làmcho học sinh căm ghét chiến tranh, yêu chuộng hoà bình, cuộcsống tự do
đồ dùng trực quan giáo dục những t tởng, quan điểm, các thẩm
mỹ cho học sinh một cách đúng đắn, lành mạnh Đồ dùng trựcquan có tác dụng truyền cảm mạnh mẽ và sâu sắc (nhất là khinhìn hiện vật, tác phẩm nghệ thuật, phim, ảnh), góp phầnhình thành cho học sinh những phẩm chất đạo đức cần thiếtcho con ngời Việt Nam mới mà nhà trờng phải đào tạo nh yêumến lao động, quý trọng ngời lao động, lòng căm thù sâu sắc
đối với bọn áp bức, bóc lột, đồng tình với những cuộc đầutranh chính nghĩa, có lòng yêu quê hơng, đất nớc, có tráchnhiệm, nghĩa vụ đối với tổ quốc
1.2 Việc dạy học lịch sử với việc sử dụng đồ dùng trực quan hiện nay.
Trang 9Vào những năm gần cuối của thế kỷ XX, các phòng họccủa bộ môn lịch sử đã bắt đầu hình thành cùng với thínghiệm đầu tiên về phục hồi thực tế của các sự kiện đã xảy ra
ở trong sử học Song với việc thí nghiệm trong nghiên cứu lịch
sử rất hạn chế, còn trong dạy, học lịch sử khó thực hiện hơn.Chính vì thế so với thực trạng kinh tế, xã hội nớc ta hiện nay,việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử là thíchhợp nhất và dễ áp dụng rộng rãi nhất Tuy nhiên nó vẫn cònnhiều hạn chế trong giảng dạy và tuỳ thuộc từng yêu cầu cụ thểcủa từng loại bài Do đó muốn sử dụng triệt để tính u việt đồdùng trực quan thì chúng ta cần phải phân loại
1.2.1 Các loại đồ dùng trực quan đợc sử dụng trong dạy học lịch
sử ở trờng phổ thông.
Nói đến phân loại về một vấn đề, một nội dung, mộtdụng cụ hay một phơng pháp, ngời ta thờng phải dựa vàonhững tiêu chí, cơ sở, mục đích nhất định để phân loại Vìvậy khi phân loại đồ dùng trực quan ngời ta đa ra nhiều tiêuchí, cơ sở khác nhau Một số phân loại theo đặc trng và tínhchất của hình ảnh lịch sử do đồ dùng trực quan đem lại; Một
số phân loại theo đặc trng bên ngoài nh hình dạng, kỹ thuậtchế tạo, phơng thức tạo hình; Một số khác phân loại theo tiếntrình của lịch sử nh nội dung, thời gian quá khứ, hiện tại Haynói một cách cụ thể, có một số ngời chia thành sáu loại: Hiệnvật quá khứ; Tạo hình và minh hoạ có tính chất t liệu(ảnh,phim tài liệu ); Tạo hình nghệ thuật (tranh lịch sử, phimtruyện, chân dung nghệ thuật); Biếm hoạ; Bản đồ lịch sử; Đồthị, biểu đồ, sơ đồ Bên cạnh đó có một số ý kiến chia thành
ba loại cơ bản: Hiện vật; Đồ dùng trực quan tạo hình (tranh,phim, đồ phục chế ); Đồ dùng trực quan qui ớc (bản đồ, đồthị, đồ hoạ, đồ biểu, niêm biểu, sơ đồ )
Dù có nhiều cách phân loại về đồ dùng trực quan khácnhau, song chúng tôi phân nó thành ba loại cơ bản để vậndụng vào dạy, học lịch sử ở trờng phổ thông Những loại cơbản đó là:
1.2.1.1.Đồ dùng trực quan hiện vật.
Loại đồ dùng trực quan này bao gồm những di tích lịch sử
và cách mạng nh: Cây đa Tân Trào, địa đạo Vĩnh Mốc, nhà tùCôn Đảo , những di vật khảo cổ và di vật thuộc thời đại lịch
sử nh: Mộ cổ ở di tích cồn Sò Điệp (Đa Bút- Thanh Hoá), công cụ
đồ đá mới(cuốc, ca, khoan đá ) thuộc văn hoá Hạ Long, haytrống đồng Ngọc Lũ, thạp Đào Thịnh, cờ giải phóng miềnNam , những di tích văn hoá nh: Chùa Một Cột, chùa Dâu
75
Trang 10- Ưu điểm: Đồ dùng trực quan là tài liệu gốc có giá trị lớn vềmặt nhận thức- là vật thực- là bằng chứng hiển nhiên về sựtồn tại thực của mỗi thời kỳ lịch sử Vì vậy, nó giúp cho họcsinh có hình ảnh cụ thể, chân thực về quá khứ, có t duylịch sử đúng đắn.
- Nhợc điểm: Nh đã nêu ở trên đồ dùng trực quan là tài liệugốc, nên rất hiếm đối với trờng phổ thông, việc sử dụngtrong giảng dạy lịch sử lại càng khó và ít phổ biến Mặtkhác, đồ dùng trực quan hiện vật đợc bảo quản trong các nhàbảo tàng, nhà truyền thống lịch sử, nó cũng ít đợc giữnguyên vẹn mà thờng bị huỷ hoại theo thời gian Vì vậy khinghiên cứu hiện vật lịch sử học sinh phải phát huy trí tởng t-ợng tái tạo, t duy lịch sử để hình thành đúng đời sống hiệnthực của quá khứ
Ngoài ra, đồ dùng trực quan hiện vật là vật câm,vôcảm, cho nên trong quá trình sử dụng phải có “ nghệ thuật “giảng giải, phân tích, thuyết trình, phải cụ thể hoá dới nhiềudạng khác nhau để làm cho ngời xem hiểu
- Cách sử dụng: Chủ yếu sử dụng trong bài ngoại khoá, cácbuổi đi tham quan, các bài học tại thực địa
Với tính chất sử dụng trong trờng hợp trên, nó có tác dụngtrực tiếp tới phát triển t duy, tích cực nhận thức, gây hứng thúkích thích sự tìm hiểu và ham muốn học tập lich sử của họcsinh
1.2.1.2 Đồ dung trực quan tạo hình:
Đây là những “trực quan” đợc phục chế lại theo một sựkiện hay một hiện tợng lịch sử nào đấy, với mục đích sự vật
đó đợc phản ánh lại thực tế những gì đã xảy ra và phải cótính thẩm mỹ Đồng thời để phù hợp với từng nội dung, giai
đoạn, thời kì lịch sử ngời ta chia đồ dùng trực quan tạo hìnhthành ba nhóm nhỏ sau:
+ Nhóm thứ nhất: Đồ dùng trực quan tạo hình bằng các môhình, sa bàn, các loại phục chế lại công cụ lao động, vũ khí,các hiện vật lịch sử nh sa bàn về chiến dịch Hồ Chí Minh, đúclại khẩu súng, trùng tu các di tích (lăng tẩm nhà Nguyễn)
+ Nhóm thứ hai: Bao gồm các hình vẽ, ảnh lịch sử nh cảnhtriều đình vua lê hồi cuối thế kỷ XV, bức tranh dân gian(Hứng dừa, đánh ghen ), những bức ảnh về nhân vật lịch sửnh: Nguyễn Trãi, Nguyễn ái Quốc, V.I.Lênin
Trong quá trình sử dụng tranh trong việc dạy, học ở trờngphổ thông có hai loại Đó là tranh nghệ thuật lấy chủ đề lịch
Trang 11Tranh nghệ thuật lấy chủ đề lịch sử là tác phẩm nghệthuật phản ánh những t tởng tính cách qua lăng kính củanhững nhà nhiếp ảnh- nghệ sĩ Với lại ngời sáng tác lấy chủ đềlịch sử, nên thể hiện một phần nào đó của đời sống hiệnthực khách quan Vì vậy khi sử dụng tranh lấy đề tài lịch sử,nhất là tác giả trớc cách mạng, thuộc tầng lớp trên, chúng ta cầnphải chú ý đến tính chân thực và t tởng của nó.
Nếu tranh nghệ thuật lấy đề tài lịch sử không thể giảiquyết tốt nhiệm vụ giáo dục, giáo dỡng của việc dạy, học ở tr-ờng phổ thông Ngợc lại, tranh giáo khoa về yêu cầu và chủ đềtả lại những sự kiện, hệ thống sự kiện quan trọng, minh hoạ cụthể hoá tri thức lịch sử, do đó giúp cho học sinh dễ ghi nhớ.Tranh giáo khoa nó không chỉ đơn giản đảm bảo về “cái mĩ”
mà còn đảm bảo “cái chân” của một công trình khoa học cógiá trị
+ Nhóm thứ ba: Phim học tập (giáo khoa), phim truyện,phim tài liệu Cụ thể nh sau: Phim “Đêm hội long trì” phản ánh
đời sống xã hội, chính trị của nớc ta dới thời vua Lê- chúa Trịnh;Phim tài liệu về chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch TâyNguyên phản ánh một phần quá trình chống giặc ngoại xâmcủa dân tộc ta Bằng hình tợng nghệ thuật, nó đã khôi phục lạinhững hình ảnh điển hình, cụ thể về một sự kiện, hiện tợnglịch sử với những hình ảnh sống động, âm thanh “nghệthuật” màu sắc, lời nói tạo dựng lại một phần hoặc gần hết sựthật lịch sử
- Ưu điểm: Có tác dụng giúp học sinh khôi phục lại và ghinhớ lại những hình ảnh về con ngời, về sự thật xảy ra của lịch
sử Nó gây ra cho học sinh vừa có tác dụng cảm xúc, đạo đức,vừa có tác dụng khắc sâu và hiểu biết thêm về lịch sử
- Nhợc điểm: Đồ dùng trực quan tạo hình chủ yếu là môphỏng lại hay sử dụng đèn chiếu, phim ảnh nên rất khó sửdụng cho việc giảng dạy lịch sử ở tại trờng học, mà nó chỉ đợchớng dẫn hoặc xem phim ở các viện bảo tàng, các hiện trờnglịch sử
Do là “ tạo hình”nên độ chính xác lịch sử cha đợc đảmbảo 100%, mà nó chỉ một phần hay gần hoàn toàn sự kiện đãxẩy ra Vì vậy cần phải đối chiếu, so sánh với tài liệu gốc (nếucó)
- Các trờng hợp sử dụng: Đồ dùng trực quan tạo hình đợcphân thành ba nhóm, do đó tuỳ từng nhóm sử dụng sao chothích hợp Với nhóm thứ nhât và nhóm thứ ba chủ yếu sử dụngbài ngoại khoá, bài thực địa, tham quan Còn nhóm thứ hai đợc
75
Trang 12dùng chủ yếu trong bài nội khoá (bài truyền thụ kiến thức mới),loại bài học này sử dụng tranh ảnh trong sách kết hợp phơngpháp sử dụng lời nói.
1.2.1.3 Đồ dùng trực quan qui ớc (tởng tợng).
Đồ dùng trực quan này nó bao gồm nhiều loại nhỏ: Bản đồ lịch
sử, sơ đồ, đồ thị, đồ hoạ, niên biểu Chúng ta lần lợt đi từngloại một:
+ Thứ nhất, bản đồ lịch sử
Đây là loại đồ dùng trực quan qui ớc quan trọng, có ý nghĩa
to lớn trong giảng dạy Vì nó giúp cho học sinh hiểu rõ những
sự kiện của đời sống đã xảy ra vào lúc nào Đồng thời các em
so sánh, liên hệ trớc sau giữa các sự kện, hiện tợng, các giai
đoạn, thời kỳ của quá trình phát triển lịch sử
Bản đồ thờng đợc chia làm nhiều loại, nhng trong dạy họclịch sử ở trờng phổ thông ngời ta dựa vào nội dung để phânchia bản đồ thành hai loại Đó là bản đồ tổng hợp (hay cơ bản)
và bản đồ chuyên đề (hay chuyên đồ)
Bản đồ chuyên đề là loại bản đồ lịch sử nhng chỉ phản
ánh một số sự kiện, hiện tợng, một trận đánh cụ thể nào đóhay một mặt của quá trình lịch sử Ngoài ra, nó còn nêu lênnhững chi tiết có liên quan đến những sự kiện đang học,nhằm nêu nguyên nhân, diễn biến của sự kiện nh: Bản đồdiễn biến giai đoạn một Chiến tranh thế giới thứ nhất; Bản đồdiễn biến chiến dịch Huế - Đà Nẵng
Bản đồ là loại đồ dùng trực quan không hiếm và dễ đợc sửdụng trong giảng dạy Ngoài số lợng nhà nớc cung cấp, giáo viên
và học sinh có thể linh hoạt thiết kế, tạo ra lợng bản đồ phongphú và đap ứng yêu cầu của dạy, học lịch sử
Trong thực tế dạy, học đồng thời có thể dùng cả hai loạibản đồ để bổ sung cho nhau, nâng cao chất lợng dạy học.Thế nhng, về bản đồ phải đảm bảo tính khoa học và tínhchính xác về những kí hiệu địa danh và phơng hớng, lãnhthổ Cần chú ý rằng bản đồ lịch sử không cần nhiều kí hiệu
về điều kiện tự nhiên (sông, núi ) mà cần có những kí hiệu
về biên giới quốc gia, các vùng kinh tế, địa điểm xảy ra những
Trang 13thời, đảm bảo tính hài hoà về màu sắc, chữ viết vừa phải
đẹp, cẩn thận, in hoa và có kích thớc lựa chọn phù hợp Bản đồthiết kế phải theo những nguyên tắc, kí hiệu trên bản đồ gốc(có thể điểm thêm), những kí hiệu hợp lý về các sự kiện lịchsử
Về kỹ thuật vẽ bản đồ: Có rất nhiều cách khác nhau, nhngthông dụng nhất là dùng trục tung, trục hoành tạo thành trục toạ
độ, kẻ ô vuông
Cách sử dụng bản đồ: Trong dạy, học lịch sử không phải
ch-ơng nào, bài nào cũng dùng bản đồ và dùng một cách tuỳ tiện
sẽ không đem lại hiệu quả cao cho bài học lịch sử Do đó để
đảm bảo cho dạy, học bản đồ đợc đa ra khi nào cần dùng vàdùng xong cất đi Bản đồ phải treo ở vị trí hợp lý, chỉ các đ-ờng sông phải theo thứ tự từ bắc đến nam, đông sang tây,thợng nguồn đến hạ nguồn Khi tờng thuật các sự kiện phảitheo thời gian và diễn biến sự kiện đó Đảm bảo những yếu tốtrên, nó đòi hỏi ngời giáo viên phải có sự chuẩn bị trớc, để
đến khi giảng dạy không vấp phải lúng túng, sai sót không nên
có, dù là rất nhỏ
Các trờng hợp sử dụng bản đồ: Sử dụng trong giảng bài mới;Kiểm tra, đánh giá; Giao bài về nhà Đối với giảng bài mới thì sửdụng bản đồ để giới thiệu về không gian, thời gian xảy ra mộtkiện lịch sử Sử dụng bản đồ kết hợp tờng thuật trình bàydiễn biến của một sự kiện lịch sử Giữa các sự kiện bao giờcũng có mối quan hệ lẫn nhau, nhất là các sự kiện càng phứctạp thì mối quan hệ đó càng khó giải thích một cách rànhmạch Do đó bản đồ sẽ cụ thể hoá các sự kiện, thấy đợc tác
động qua lại giữa các sự kiện này
Bản đồ dùng để kiểm tra, đánh giá trình độ nhận thứchọc sinh Có thể treo bản đồ lên bảng và gọi các em lên, nhìnvào bản đồ để tờng thuật lại diễn biến trận đánh, hoặc nêu ýnghĩa, nguyên nhân của một sự kiện nào đó Bản đồ còn
đợc dùng giao bài tập về nhà cho học sịnh nhằm củng cố kiếnthức, nh qua diễn biến trên bản đồ có nhận xét gì về trận
đánh đó
+ Thứ hai, niên biểu:
Đây là một dạng của đồ dùng trực quan qui ớc, nhằm thống
kê trình bày sự kiện lịch sử theo trình tự thời gian và các giai
đoạn của một sự kiện lịch sử Ngời ta chia niên biểu ra làm badạng cơ bản để phù hợp với cách sử dụng và nội dung của bàigiảng Ba dạng đó là:
75
Trang 14Niên biểu tổng hợp: Nó là bảng trình bày những sự kiệnxảy ra trong một thời kỳ lịch sử, một giai đoạn lịch sử hoặctrong nhiều lĩnh vực hoạt động củ các quốc gia Ví dụ nh: Niênbiểu các sự kiện quan trọng trong thời kỳ thứ nhất của lịch sửthế giới hiện đại từ 1917- 1945; niên biểu về những thành tíchcủa nhân dân Liên Xô từ 1945-1970.
Niên biểu chuyên đề: Loại niên biểu này đi sâu trình bàynội dung một vấn đề quan trọng nổi bật nào đấy của một thời
kỳ hay một giai đoạn lịch sử nhất định Ví dụ nh: Niên biểu
về diễn biến của Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918);niên biểu về cuộc cách mạng t sản Pháp 1789
Niên biểu so sánh: Dùng để đối chiếu, so sánh các sự kiệnhoặc xảy ra cùng một lúc trong lịch sử hoặc so sánh cái trớc, cáisau hoặc cái mới và cái cũ để làm nổi bật bản chất, đặc trngcủa các sự kliện ấy hay là để rút ra một nhận xét, một kếtluận mang tính tổng quát nhất, nhng phải đảm bảo tính chấtnguyên lý Ví dụ nh: Niên biểu so sánh cách mạng t sản với cáchmạng vô sản
Cách sử dụng: Sử dụng trong bài trong bài truyền thụ kiếnthức mới; trong bài sơ kết, tổng kết; giao bài tập về nhà
Trong bài truyền thụ kiến thức mới, giáo viên sử dụng niênbiểu khi cần giúp học sinh nắm kiến thức một các có hệ thống
Từ đó các em nhớ em nhớ lâu, nhớ kỹ và biết sắp xếp kiến thứctheo thời gian, thứ tự nhất định
Niên biểu đợc sử dụng nhiều nhất trong bài sơ kết, tổngkết vì khi kết thúc một chơng, một giai đoạn hay một thời kỳlịch sử, với mục đích giúp học sinh củng cố lại kiến thức đãhọc, khắc sâu thêm cho các em một lần nữa Qua đây đánhgiá phân loại cho học sinh thấy đợc u điểm, nhợc điểm củaviệc phát triển t duy học sinh
Ngoài ra niên biểu đợc sử dụng ra bài tập về nhà để chohọc sinh tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện kỹnăng thực hành bộ nôn
+ Thứ ba, sơ đồ:
Là đồ dùng trự quan qui ớc, dùng để cụ thế hoá nội dunglịch sử,thể hiện đợc mối quan hệ các giai cấp, các đẳng cấptrong xã hội, tổ chức bộ máy nhà nớc Ví dụ nh: Sơ đồ bộ máychính trị của các triều đại phong kiến nớc ta thời kì văn minh
Đại Việt ; Sơ đồ quan hệ tầng lớp, đẳng cấp trong xã hội Pháptrớc cách mạng 1789
Cách sử dụng: chủ yếu sử dụng trong bài truyền thụ kiến
Trang 15về nhà, kiển tra bài củ cho học sinh Nhìn vào sơ đồ học sinh
có thể giải thích, phân tích các sự kiện lịch sử có quan hệràng buộc lẩn nhau, từ đó t duy học sinh đợc phát triển caohơn và chất lợng giảng dạy đồng thời cũng đợc nâng lên
+ Thứ t, đồ hoạ:
Đồ hoạ là đồ dùng trực quan qui ớc bằng những hình vẽ
đơn giản, nhằm phác thảo nét khái quát hình dáng bên ngoàilẫn cấu trúc bên trong của công cụ lao động; của công trìnhkiến trúc của các sự kiện, hiện tựơng lịch sử Ví dụ nh: Pháchoạ căn cứ nghĩa quân Ba Đình( Thanh Hoá) ; căn cứ cáchmạng Cao - Bắc - Lạng - Hà - Tuyên - Thái trong kháng chiếnchống Pháp
Cách sử dụng : Sử dụng trong bài truyền đạt kiến thức mớicho học sinh và kiểm tra bài cũ, để các em nắm đợc kiến thức
và hình dung các sự kiện lịch sử xảy ra Vì vậy các em từ đó
sẽ có óc tởng tợng phong phú , có độ thẩm mĩ
Cần chú ý rằng, hình vẽ bằng phấn trên bảng đen có tínhchất tạo hình, nhng cũng phải có tính chất qui ớc , do giáo viên
vẽ trong lúc giảng dạy trên lớp, có nh vậy các sự kiện giáo viêntrình bày mới ăn khớp với lời giảng và không cần dùng đến cácloại đồ dùng trực quan nào khác
+ Thứ năm, đồ biểu:
Đồ biểu là một trong những đồ dùng trực quan qui ớc, đợcbiếu thị dới dạng hình tròn hay hình cột, mà nhằm trình bàymối quan hệ giữa các hiện tợng, bộ phận hoặc sự kiện lịch sửmang tính sản xuất- kinh tế của một nớc hoặc là sự phân cônglao động của các ngành nghề khác nhau Ví dụ nh: Đồ thị vềcác ngành sản xuất kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, thơngnghiệp, dịch vụ của Nhật Bản từ 1950 - 1975; đồ biểu về sựphân công lao động trong nông nghiệp, công nghiệp của Mĩnăm 1950
Cách sử dụng: Đồ biểu đợc dùng trong giảng bài mới, ra bàitập về nhà Với mục đích củng cố kiến thức cho các em, nắmkiến thức chắc hơn, sâu hơn Vì đồ biểu thờng làm nổi bật
so sánh giữa các sự kiện lịch sử, cũng nh thống kê lại và hìnhdung đợc tốc độ phát triển của một nớc nào đó, nắm bắt đợc
Trang 16Làm cho học sinh dễ hình dung tiến trình của sự kiện ấy Cóhai loại đồ thị:
Đồ thị đơn giản: Đợc biểu diễn bằng một mũi tên để minhhoạ sự vận động đi lên, sự phát triển và cũng nh sự đi xuốngcủa các sự kiện, hiện tợng lịch sử Ví dụ nh: đồ thị đợc biểudiễn bằng mũi tên đi lên với sự ra đời Đảng cộng sản Việt Nam(3-2-1930) và mũi tên đi xuống với sự kiện thoái trào cách mạngViệt Nam (1932-1935)
Đồ thị phức tạp: Đảm bảo yếu tố trục hoành (ghi thời gian)
và trục tung (ghi sự kiện), còn các đờng giao nhau của các sựkiện và niên đại trở thành đờng biểu diễn của sự phát triển,vận động của các sự kiện lịch sử Ví dụ nh: Đồ thị biểu diễntốc độ tăng trởng kinh tế năm tài chinh của Nhật Bản 1955-1990
Cách sử dụng: Thờng đợc dùng trong giảng dạy bài mới ởphần kết thúc một mục của bài hoặc phần cuối của bài Đồngthời biết kết hợp với một số phơng pháp khác nh trình bàimiệng Bên cạnh đó dùng để củng cố kiến thức, quá trình ôntập và ra bài tập về nhà, thực hành bộ môn
- Ưu điểm của đồ dùng trực quan qui ớc:
Đồ dùng trực quan qui ớc dễ tìm kiếm và sáng tạo, khôngtốn kém, dễ sử dụng rộng rãi, vận dụng linh hoạt trong bàigiảng Giúp cho học sinh nắm các sự kiện, hiện tợng lịch sửmột cách cơ bản nhất, nhng lại khắc sâu và nhớ kỹ Dựa vào
đồ dùng trực quan qui ớc học sinh có thể trình bày, phát biểu ýkiến, quan điển của mình về một sự kiện, diễn biến, địa
điểm, căn cứ của lịch sử Đồ dùng trực quan qui ớc còn giáodục tính thẩm mĩ, óc tởng tợng cho các em học sinh
- Nhợc điểm của đồ dùng trực quan qui ớc:
Đồ dùng trực quan qui ớc chỉ phản ánh một mặt, một vấn
đề hay một khía cạnh của diễn biến, quá trình lịch sử mà nókhông diễn đạt, phản ánh hết đợc yêu cầu về nội dung của các
sự kiện, hiện tợng lịch sử, quá trình lịch sử Nó không đi sâuvào từng chi tiết cụ thể mà chỉ diễn tả cái cơ bản, cái kháiquát, cho nên nó ảnh hởng đến sự hiểu sâu các sự kiện, hiệntợng, qúa trình lịch sử,làm giảm đi cách đánh giá, nhìn nhậnlịch sử và gây ảnh hởng đến thái độ, tình cảm cho học sinh
đối với sự kiện, hiện tợng lịch sử đó, thờng là các em không cóphản ứng gì nh yêu, ghét mà qua đồ dùng trực quan qui ớccác em chỉ tỏ thái độ bình thờng, thậm chí các em còn thờ
ơ , ngoài mục đích chỉ cần thuộc lòng là đợc
Trang 17Để khắc phục nhợc điểm này giáo viên cần sử dụng nhiềuphơng pháp khác, nh kết hợp với trình bày miệng, tài liệu vănhọc làm sinh động bài giảng, học sinh dễ tiếp thu và đạt đ-
ợc mục đích , yêu cầu của bài giảng
Tóm lại, với việc phân loại đồ dùng trực quan nh vậy tronggiảng dạy lịch sử ở trờng phổ thông Nó không chỉ giúp chogiáo viên biết cách sử dụng hợp lý, để bài giảng tránh khô khan,thiếu sự hấp dẫn, nó còn làm cho học sinh hứng thú học tậpbằng cách khêu gợi, mà đôi khi sở dĩ học sinh học kém chỉ vìcách dạy học dựa vào trí nhớ, dựa vào sự tái hiện, thiếu pháthuy tính tích cực t duy, “ru ngủ” trí lực học sinh Điều này đãnhiều lần thực tế chứng minh: một số học sinh thoát ra khỏinhóm học sinh kém nhờ dạy học sử dụng đồ dùng trực quan đãthức tỉnh năng lực trí tuệ và t chất hoạt động sáng tạo cuả họcsinh
1.2.2 Nguyên tắc và phơng pháp sử dụng đồ dùng trực quan 1.2.2.1 Khi sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử cần chú ý các nguyên tắc sau :
- Phải căn cứ vào nội dung, yêu cầu giáo dỡng, giáo dục củabài học để lựa chọn đồ dùng trực quan tơng ứng thích hợp Vìvậy cần xây dựng một hệ thống đồ dùng trực quan phong phú,phù hợp với các bài học lịch sử
- Khi sử dụng mỗi loại đồ dụng trực quan cần có phơngpháp thích hợp Phải đảm bảo sự quan sát đầy đủ đồ dùngtrực quan, phải đáp ứng đợc mục đích, phát huy tính tích cựccủa học sinh, làm cho học sinh không chỉ cụ thể hoá kiến thức
mà cần đi sâu phân tích bản chất sự kiện
- Đồ dùng trực quan khi sử dụng trong giảng dạy cần phảikết hợp với phơng pháp trình bày miệng Sử dụng đồ dùng trựcquan còn rèn luyện khả năng thực hành của học sinh( đắp sabàn, vẽ bản đồ, tờng thuật trên bản đồ, miêu tả hiện vật )
1.2.2.2 Phơng pháp sử dụng (cách sử dụng) đồ dùng trực quan.
Có rất nhiều cách sử dụng khác nhau, nhng nhìn chungtuỳ theo yêu cầu của bài học và loại hình đồ dùng trực quan
mà có cách sử dụng cho thích hợp Do đó cần chia ra các cáchcơ bản sau:
- Thứ nhất, cách sử dụng đồ dùng trực quan cỡ lớn dùngchung cho cả lớp cùng một lúc nh tranh ảnh, bản đồ treo tờng,mô hình, sa bàn lớn
- Thứ hai, cách sử dụng đồ dùng trực quan cỡ nhỏ đặt ởbàn học sinh nh át lát lịch sử anbom tranh ảnh lịch sử, minh
75
Trang 18hoạ trong sách giáo khoa, báo chí, tài liệu tham khảo, đồ phụchế nhỏ.
- Thứ ba, cách sử dụng một số đồ dùng trực quan qui ớc vàhình vẽ trên bảng đen
- Thứ t, cách sử dụng màn ảnh nh phim đèn chiếu, phimhình Vidio, phim điện ảnh
- Thứ năm, sử dụng trực quan hiện vật trng bày trong cácviện bảo tàng TW và địa phơng, các di tích lịch sử, khi tiếnhành bài giảng ở bảo tàng hoặc nơi diễn ra sự kiện
Việc phân chia này chỉ có tính chất ớc lệ, vì trong thực
tế dạy, học lịch sử hiện hiện nay, giáo viên không có đầy đủcác loại trực quan này, vả lại khi sử dụng chúng ta cũng khôngtách biệt hẳn các loại trực quan trên với nhau
Khi giảng dạy loại đồ dùng trực quan thờng đợc dùng là: bản
đồ, sơ đồ, đồ thị, niên biểu Trớc lúc sử dụng chúng cầnchuẩn bị thật kỹ (cả giáo viên và học sinh) và cần lu ý các
điểm sau:
+ Đối với giáo viên: Phải theo dõi, kiểm tra sự thu nhận củahọc sinh, giúp học sinh phân tích, nêu kết luận khái quát về sựkiện đợc phản ánh trên bản đồ hay sơ đồ, nên biểu Phải dạycho học sinh biết “đọc” bản đồ nh ngời ta đọc sách lịch sửvậy
+ Đối với học sinh: Việc sử dụng đồ dùng trực quan (sơ đồ,
đồ hoạ ) không những chỉ để ghi nhớ, xác định vị trí các
địa điểm lịch sử mà còn để sử dụng nh sơ đồ, đồ hoạ Hiểu các loai đồ dùng trực quan này không chỉ là biết các chúdẫn, các ký hiệu mà cần thấy sau các điều qui ớc ấy, nhữnghiện tợng lịch sử sinh động, tính chất phức tạp của nhữngquan hệ kinh tế, chính trị, xã hội
Về cách sử dụng tranh ảnh lịch sử treo tờng, chúng ta cần
lu ý học sinh quan sát tranh, giải thích nội dung tranh để lựachọn những chi tiết phục vụ cho bài học, cụ thể hoá sự kiệnlịch sử, làm cơ sở cho việc tờng thuật miêu tả và rút ra kếtluận khái quát
Loại đồ dùng trực quan cỡ nhỏ đợc sử dụng riêng cho từnghọc sinh trong giờ học, trong việc tự học ở nhà Giáo viên phảihớng dẫn học sinh sử dụng tốt loại đồ dùng trực quan này nh:quan sát kĩ, tìm hiểu sâu sắc nội dung, hoàn thành các bàitập, tập vẽ bản đồ
Loại tranh, ảnh chân dung các nhân vật lịch sử, giáo viênkhông nên miêu tả hình dạng bên ngoài của nhân vật, mà cần
Trang 19phải hớng dẫn cho học sinh phân tích nội tâm, tài, đức, quan
điểm thể hiện hành động của nhân vật
1.2.3 Thực trạng dạy học lịch sử ở trờng PTTH hiện nay
Ngày nay, các nhà giáo dục lịch sử và sử học đều côngnhận rằng trong thời đại cách mạng khoa học - kỷ thuật rất sôi
động này, bộ môn lịch sử ở trờng phổ thông không những vẫngiữ nguyên mà còn tăng lên vị trí, ý nghĩa của nó trong việc
đào tạo thế hệ trẻ Mà nhà sử học Xô Viết Pasutô đã khẳng
địng rằng: “Muốn đào tạo con ngời phù hợp với thời đại chúng
ta, cần phải không ngừng cải tiến và nâng cao chất lợng dạyhọc lịch sử Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, sự hứng thúhấp dẫn ngày càng tăng đối với hiện tại không hề làm giảm bớt
sự chú ý của chúng ta đối với việc dạy học lịch sử”.[16; 563]
Chính vì vậy, vị trí của môn lích sử trong trờng phổthông đã đợc đề cao, chú trọng hơn nhiều Kể từ năm 1996 -
1997, Bộ giáo dục và đào tạo đã đa bộ môn lịch sử vào thi họcsinh giỏi ở cấp Quốc gia Các trờng phổ thông giáo viên dạy sử
đã thực sự có nhiều cố gắng trong việc nâng cao chất lợnggiảng dạy Số lợng giáo viên lịch sử đạt giáo viên giỏi cấp quốcgia, cấp tĩnh, cấp huyện ngày càng có chiều hớng gia tăng Nh-
ng đáng tiếc, số giáo viên nh vậy cha nhiều, nên chất lợng giảngdạy trong trờng phổ thông nhìn chung là còn thấp, đến mức
đáng báo động
Chúng tôi có thể khẳng định rằng, chất lợng giảm sút vềgiáo dục lịch sử hiện nay có nhiều nguyên nhân, song sự bấtcập, lạc hậu về phơng pháp dạy, học lịch sử là một trong nhữngnguyên nhân chủ yếu
Qua thực tế, bằng dự giờ, quan sát, kiểm tra, làm quen vớigiáo viên dạy sử ở các trờng thổ thông chúng tôi nhận thấytrong giảng dạy lịch sử còn tồn tại khá nhiều bất cập Chẳnghạn, nhiều giáo viên giảng dạy theo kiểu thầy trình bày từngmục của sách giáo khoa, đặt ra vài câu hỏi (thờng chỉ nhắclại những kiến thức đã học hoặc vừa học) cho học sinh rồi kếthợp ghi lên bảng một vài ý, để học sinh chép vào vở Suốt giờhọc, học sinh chỉ làm mỗi việc ghi chép những điều giáo viênghi trên bảng Với cách giảng dạy nh vậy không thể đem lại sựhứng thú và không khí học tập lịch sử hiểu theo đúng bảnchất của nó
Mặt khác, trong t tởng của nhiều giáo viên, phụ huynh vàhọc sinh thì môn lịch sử còn bị xem nhẹ Các em học sử chỉvì nó là môn học chính khoá, chỉ vì điểm trung bình của bộmôn có ảnh hởng đến việc xét duyệt lên lớp và khen thởng
75
Trang 20Đối với giáo viên về phơng pháp còn yếu kém nhiều, vìvẫn sử dụng giảng dạy phơng pháp của hàng mấy chục năm tr-
ớc, thậm chí của hàng thế kỉ trớc Trong dạy học,việc chuẩn bịbài học (thiết kế bài giảng - giáo án) là công việc quan trọng vàchủ yếu tổng hợp nhiều mặt hoạt động đồng thời của giáoviên và học sinh để dạt đợc mục tiêu đề ra
Một giáo án tốt là điều kiện đầu tiên đảm bảo cho hiệuquả bài học, xong hiện nay vẫn tồn tại những quan niệm không
đúng về giáo án Những giáo viên trẻ mới ra trờng, thờng lúngtúng khi lựa chọn kiến thức cơ bản, một số ngợc lại, dạy dàn trãi
“thoát ly sách giáo khoa’’ để “cháy giáo án’’, trình bày nhữngvấn đề không phù hợp với trình độ, yêu cầu học tập của họcsinh, có trờng hợp đi quá xa vấn đề cần cung cấp cho học sinh,
đa ra nhiều tình tiết, nhiều sự kiện làm cho học sinh rối trílên.Bởi vì không làm nổi bật đợc “sự kiện biết nhảymúa”.Những giáo viên lâu năm, xem giáo án nh là “một hằng
đẵng thức”bất biến, soạn một lần và sử dụng trong nhiều nămhọc.Bản “trờng ca” giảng dạy đó, không có sự điều chỉnh, bổsung để cập nhật với những thành tựu mới nhất của sử học
Trong khâu chuẩn bị bài học lịch sử hiện nay,việc nghiêncứu tài liệu tham khảo và chuẩn bị đồ dùng trực quan càngthiếu sự quan tâm, đầu t đúng mức ở đây, chúng tôi đềcập tới tài liệu tham khảo và đồ dùng trực quan để giảng dạychơng V “Chiến tranh thế giới thứ hai” (1939-1945), (sách giáokhoa Lịch sử lớp 11) Tài liệu tham khảo nội dung thì nhiều,song tài liệu hớng dẫn phơng pháp giảng dạy chơng “Chiếntranh thế giới thứ hai” (1939-1945) còn thiếu nhiều Hơn nữaphơng pháp sử dụng đồ trực quan trong chơng này các giáoviên còn lúng túng không biết xử lý
Thực tế, đã có nhiều giáo viên trình bày diễn biến củachơng “Chiến tranh thế giới thứ hai” (1939-1945) thành bàithuyết trình của các nhà chính trị - quân sự, với những lýluận khô khan, trống rỗng, cứng nhắc, hay có một số giáo viênkhác trình bày diễn biến của chơng “Chiến tranh thế giới thứhai” (1939 -1945) có những mẫu chuyện đời t các nhân vật với
sự “ly kỳ, huyền bí”, với những chi tiết giật gân, mua vui chohọc sinh trong chốc lát
Do sử dụng đồ dùng trực quan trong giảng dạy lịch sử cònnhiều hạn chế, nên dẫn đến thực trạng, phần đông học sinhkhông quen và thậm chí không biết đặt câu hỏi, không biếtnhận xét, rút ra kết luận sau khi xem đồ dùng trực quan.Các
Trang 21em chỉ biết một cách “mờng tợng” theo kiểu “biết để màbiết” không cần phải hiểu sâu hơn nữa.
Đứng trớc tình trạng báo động về giảm sút chất lợng dạyhọc của bộ môn lich sử Những năm gần đây, các cơ quanngôn luận nh báo chí, đài truyền hình, đài phát thanh đã lêntiếng về tình trạng này Một cuộc điều tra với chủ đề: “Thanhniên Hồ Chí Minh trong sự nghiệp bảo tồnvà phát huy văn hoádân tộc” đã thu đợc những số liệu đáng buồn sau: trong số
“1800 ngời đợc hỏi thì có đến 39% không biết Hùng Vơng làai 64% trong số 468 sinh viên của một số trờng đại học đợchỏi không biết gì về Lơng Thế Vinh, 83% học sinh, sinh viên,thanh thiếu niên không biết các nhân vật, sự kiện lịch sử đặttên cho các đờng phố mà họ đang sống hay rất quen thuộc”[ 14; 265]
Trong một số cuộc thi dành cho mọi lứa tuổi, mọi đối tợngtham gia nh “hành trình văn hoá” hay chơng trình “chiếc nón
kỳ diệu” và một số cuộc thi khác dành cho thanh niên, học sinh(thi thanh lịch, cuộc thi của sinh viên (SV), “Bảy sắc cầu vồng”,
“Đờng lên đỉnh Olympia” ) Chúng ta đều có thể nhận thấycòn nhiều thiếu hụt và sai lệch trong sự hiểu biết lịch sử củadân tộc, về lối sống, truyền thống văn hoá đất nớc Có nhữngtrờng hợp hiểu biết sai lệch tệ hại nh “Nguyễn Thị Minh Khailãnh đạo cách mạng tháng Tám, “Hai Bà là Trng Vơng và Triệu
Âu” Với những hiện tợng này cha phải là “tần số” phổ biến chotoàn xã hội ở mức báo động, khẩn cấp, xong nó cũng là biểuhiện một mặt kết quả của quá trình học tập lịch sử và buộcchúng ta phải đánh giá, xem xét lại tình hình dạy học lịch sử
ở trờng phổ thông hiện nay Từ đó đa ra biện pháp đổi mớiphơng pháp giảng dạy lịch sử tích cực nhất, để lấp chỗ trống
và sửa chữa những khuyết điểm còn thiếu cho các em họcsinh
Nh nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, ngoài nguyênnhân trình độ, phơng pháp giảng dạy của giáo viên ở trờngphổ thông còn non kém thì ở nớc ta nguyên nhân tình trạngcơ sở vật chất và phơng tiện dạy học còn thiếu thốn, nhất là
đồ dùng trực quan (không phổ biến và khó áp dụng trong giảngdạy lịch sử ở trờng phổ thông)
Từ thực trạng nêu trên, chúng ta phải nhanh chóng tìm ranhững biện pháp để tháo gở, khắc phục Đặc biệt phải biếtkết hợp học với hành, đó là phơng châm giảng dạy và học tậpkhoa học nhất Nó củng cố và phát triển những kiến thức lịch
sử, văn hoá phổ biến trong lớp học, nó trau dồi tinh thần và
75
Trang 22tình cảm đối với nhân dân, với lao động, cho học sinh và giáoviên Nó cải tạo sâu sắc cách học vẹt, học h văn, học vong bản,
xa rời thực tế, xa rời quyền lợi dân tộc.Thực hiện đợc điều đóhiệu quả bài học lịch sử đợc nâng cao, đáp ứng đợc “học lịch
sử để hiểu quá khứ, biết hiện tại và dự đoán tơng lai”
Trang 23Chơng 2: sử dụng đồ dùng trực quan nhằm nâng cao hiệu quả dạy học chơng “chiến tranh thế giới thứ hai” (1939 - 1945)
2 Vị trí, nhiệm vụ, nội dung cơ bản của chơng (chơng, tiết)
2.1.1 Vị trí của chơng.
Bộ môn lịch sử ở trờng phổ thông hiện nay đã có nhiều
đổi mới, đặc biệt là từ sau cải cách giáo dục năm 1981, trongchơng trình nội dung và phơng pháp giảng dạy lịch sử ngàycàng tích cực hoá
Cải cách giáo dục bao gồm cải cách về hệ thống, nội dung
và phơng pháp dạy học Việc cải tiến phơng pháp dạy học đợcchú ý hơn hai mặt kia Tuy nhiên, trong nhiều mong muốn lớnnhỏ, cần phải cân nhắc thực tế dạy học hết sức khó khăn hiệnnay để đặt ra những yêu cầu vừa cơ bản lâu dài mà vừathiết thực và đảm bảo việc cải tiến phơng pháp Trong tìnhhình đó bộ môn lịch sử đã có nhiều thay đổi về chơngtrình, nội dung và phơng pháp giảng dạy, lu ý nhất là sự thay
đổi về chơng trình và biên soạn sách giáo khoa
Hiện nay, chơng trình đợc xây dựng theo nguyên tắc
đồng tâm kết hợp với đờng thẳng nhng đồng tâm là chủyếu Nh thế, nó tránh việc trùng lặp quá nhiều và không cầnthiết những tri thức của chơng trình cấp học, tạo điều kiệncho học sinh nắm đợc kiến thức lịch sử không chỉ cơ bản màcòn có khả năng phân tích, nhận định, hiểu sâu bản chấtcủa sự kiện, hiện tợng lịch sử và góp phần làm giàu nguồn trithức cho học sinh ở trờng phổ thông, chơng trình đảm bảotính hệ thống tri thức lịch sử Việt Nam, nhng hệ thống tri thứclịch sử thế giới lại bị thiếu hụt ở trờng trung học phổ thông ch-
ơng trình lại đảm bảo tính hệ thống về tri thức lịch sử thếgiới và lặp lại một cách có hệ thống về lịch sử Việt Nam mànâng cao những vấn đề lý thuyết trên cơ sở các kiến thức cơbản đã học ở cấp phổ thông cơ sở Chơng trình THPT nângcao hơn phổ thông cơ sở nhng nó đặt ra yêu cầu là đòi hỏihọc sinh phải có tính khái quát, phân tích, tổng hợp
Về phần chơng trình sách giáo khoa lịch sử lớp 11 đợc cấutạo nh sau:
- Phần một: Lịch sử thế giới cận đại thời kì thứ hai
(1870-1917 ), với 5 chơng, 9 bài, 11 tiết
- Phần hai: Lịch sử thế giới hiện đại thời kì thứ nhất 1945) với 5 chơng, 6 bài, 11 tiết
(1917-75
Trang 24- Phần ba: Lịch sử Việt Nam từ nguyên thủy đến đầu thế kỷ
Nh vậy chúng ta đã biết cấu tạo chơng trình trớc cải cáchgiáo dục, chơng V “Chiến tranh thế giới thứ hai” (1939 - 1945)
đợc giảng dạy trong 3 tiết, nhng hiện nay rút ngắn xuống còn 2tiết Với thời gian không cho phép, nên giảng dạy không đi sâu,
đi rộng đợc Vì vậy chỉ đợc đề cập đến những sự kiện,những sự vật hiện tợng cụ thể và quan trọng sao cho sự kiện
đó phản ánh đợc mục đích yêu cầu cũng nh chất lợng của bàigiảng, mà không phải là bảng tóm tắt chắt lọc một cách cơ
động hoặc không phải là bảng liệt kê dài dằng dặc một chuổi
sự kiện liên tiếp Để đảm bảo những điều cơ bản nói trên đòihỏi ngời giáo viên vừa phải đảm bảo về mặt tri thức, vừa phảibảo đảm về phơng pháp giảng dạy
Chơng V “Chiến tranh thế giới thứ hai” (1939 - 1945) làmột chơng khó với những sự kiện phong phú, diễn biến chằngchéo, phức tạp, trong tình hình thế giới hiện nay, giảng dạybài này lại càng gặp nhiều khó khăn hơn nữa Trớc hết, đó lànhững lí luận, quan điểm chung quanh vấn đề chiến tranh
và hoà bình - những vấn đề nóng hổi hàng đầu trên thế giớihiện nay Trớc đây, chúng ta thờng nhận thức rằng nguồn gốccủa chiến tranh là chế độ t hữu về t liệu sản xuất và giai cấpbóc lột và nguồn gốc của chiến tranh trong thời đại ngày nay làchủ nghĩa đế quốc muốn có hoà bình vĩnh viễn phải tiêudiệt chủ nghĩa đế quốc Chúng ta thờng cho rằng mâu thuẫngiữa đế quốc với đế quốc tất yếu dẫn đến chiến tranh đếquốc, chiến tranh bao giờ cũng mang tính giai cấp của nó.Những luận điểm và nhận thức nh trên, thì trong tình hìnhphát triển của những mối quan hệ thế giới bây giờ, nếu giảngdạy theo quan điểm cũ, e rằng không còn sát hợp
Gần đây ở Liên Xô (cũ) và một số nớc khác, đã phanh phuicông bố một số t liệu mới có liên quan đến chiến tranh thế giớithứ hai và nếu đúng nh vậy thì một số nhận định ,đánh giátrớc đây nó không phù hợp và cần xem xét lại
Những điều mà chúng ta gặp trắc trở, khó khăn nhất làlâu nay chúng ta quen vơi những lối đánh giá thiếu khách
Trang 25ớc đồng minh Mỹ, Anh trong cuộc chiến tranh chống phát xít,nhiều t tởng còn cho rằng họ là đồng minh với phát xít là
“tòng phạm” gây nên tội ác chiến tranh Trong diễn biến tiếntrình của chiến tranh chúng ta lại đề cao “vai trò quyết
định” sứ mệnh của Liên Xô, còn các mặt trận phía tây, mặttrận châu á - Thái Bình Dơng và mặt trận Bắc Phi bị xemnhẹ, coi thờng
Vì thế chơng “Chiến tranh thế giới thứ hai” là chơng dạy,học rất khó Chơng trình mới về nội dung và yêu cầu trên một
số phơng diện lại đòi hỏi cao hơn so với trớc kia nhất là ở ngờigiáo viên phải có kiến thức toàn diện t duy sáng tạo sử dụng ph-
ơng pháp thích hợp, đem lại cách nhìn nhận, quan điểm mới
đúng đắn về lịch sử
Để góp phần vào mục đích giáo dục hiện nay là pháttriển toàn diện cho học sinh về kiến thức, nhân cách và nănglực, chơng “Chiến tranh thế giới thứ hai” (1939 - 1945) đã
đóng góp một phần đắc lực hữu hiệu vào yêu cầu đó Đồngthời nó chuẩn bị bớc phát triển cao hơn trong nhận thức lịch sử
ở giai đoạn sau 1945 cho đến nay và nó đóng vai trò, vị trí
có ý nghĩa cho việc hoàn chỉnh quá trình xây dựng hệ thốnglịch sử thế giới ở trờng THPT Ngoài ra, nó góp phần làm tăngthêm sự hiểu biết lịch sử thế giới, cũng nh mối liên hệ với lịch
sử Việt Nam của học sinh trong thời kỳ đó và cao hơn nữa là ởtrong giai đoan hiện nay
2.1.2 Nhiệm vụ của chơng :
Dù giảng dạy chơng nào, bài học lịch sử nào, ngời giáo viêncũng phải đạt đợc những yêu cầu chung mà lí luận dạy học vàquan điểm của Đảng đã nêu rõ Bất cứ ngời giáo viên giảng dạy
bộ môn lịch sử nào cũng phải có t tởng tình cảm đúng đắn,lành mạnh trong sáng, có tấm lòng nhiệt thành đối với nghềnghiệp, có thế giới quan khoa học và nhân sinh quan tiến bộ
Từ đó tác động đến sự hình thành thế hệ trẻ theo mục tiêu
đào tạo của Đảng và Nhà nớc
Giảng dạy là đa đến cho thế hệ trẻ, giúp thế hệ trẻ tiếpnhận những giá trị quý báu của loài ngời về phơng diện trithức cũng nh về phơng diện tình cảm t tởng nhằm góp phầnbồi dỡng phẩm chất năng lực cho thế hệ trẻ vì vậy khi giảng dạychơng “Chiến tranh thế giới thứ hai” cần thực hiện nhữngnhiệm vụ sau:
2.1.2.1 Nhiệm vụ giáo dỡng (cung cấp trí thức khoa học).
Chơng “Chiến tranh thế giới th hai” (1939 -1945) là cuộcchiến tranh có nhiều diễn biến, nhiều sự kiện phức tạp và là
75
Trang 26một cuộc chiến tàn khốc nhất, ác liệt nhất, khủng khiếp nhất,tốn kém nhất, để lại hậu quả nặng nề nhất và nỗi sợ hãi trongmỗi con ngời chúng ta Khi nói đến chiến tranh ngời ta khôngthể không nói tới cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, nh nhắc nhởtới sinh mạng, cuộc sống hoà bình, ổn định loài ngời trên thếgiới
Vậy giáo viên khi giảng dạy chơng này, cần phải cung cấpkiến thức, sao cho học sinh nắm đợc nguồn gốc, nguyên nhân
từ đó hiểu đợc tính chất của chiến tranh cũng nh nắm đợcnhững nét lớn về diễn biến chiến tranh nh: Các giai đoạn diễn
ra nh thế nào, nó diễn ra ở mặt trận chính nào với những trận
đánh lớn, tiêu biểu nào và kết quả giai đoạn đó ra sao Đồngthời qua đó nắm vững vai trò của Liên Xô trong chiến tranh
Với một nhận thức đánh giá khách quan, khoa học chúng tathấy đợc vai trò đấu tranh của nhân dân các nớc bị chủ nghĩaphát xít thống trị, vai trò của lực lợng tiến bộ, yêu chuộng hoàbình
Từ những nội dung trên giáo viên giảng dạy làm cho họcsinh nắm đợc kết cục chiến tranh, ý nghĩa của nó, đặc biệt
là hậu quả chiến tranh thế giới thứ hai trong sự phát triển môisinh của thế giới hiện nay
Nh vậy chúng ta biết rằng nhận thức về lịch sử khôngphải là chỉ mang mục đích tự thân, lịch sử bao hàm trong
đó những con ngời cụ thể trong những thế kỷ khác nhau, vớinhững lối sống, cách suy nghĩ và kết quả hành động khácnhau Nhận thức lịch sử đúng đắn là một yếu tố quan trọng
để hành động đúng, có hiệu quả trong hiện tại nh F.Eng ghen
đã nói: “Lịch sử bắt đầu từ đâu thì quá trình t duy cũngbắt đầu từ đấy” [2;304]
Qua cuộc chiến tranh thế giới thứ hai cần làm cho học sinhnhận thức rõ nh chiến tranh thế giới thứ ba nổ ra sẽ không chỉgây nên một sự thơng vong và tổn thất khổng lồ, mà sẽ là mộtcuộc chiến tranh hạt nhân dẫn đến sự hủy diệt toàn nhânloại, cũng vì thế cuộc chiến tranh bảo vệ hoà bình chốngnguy cơ chiến tranh hạt nhân hủy diệt để bảo vệ sự sống củacon ngời và nền văn minh nhân loại đang là nhiệm vụ cấpbách hàng đầu của toàn thể mọi ngời
Với nhiệm vụ cung cấp tri thức khoa học, chơng “Chiếntranh thế giới thứ hai” (1939 - 1945) đã làm cho học sinh nhậnthức lịch sử một cách không thụ động, từ đó rút ra qui luật
kinh nghiệm của quá khứ đối với hiện tại
Trang 27Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra với kẻ chủ mu là chủnghĩa phát xít và trách nhiệm một phần của đồng minh Anh -Pháp - Mĩ về chính sách “dung dỡng”của mình Từ đây giáodục cho học sinh lòng căm thù chủ nghĩa phát xít, bởi vì vớibản chất của chủ nghĩa phát xít là nền chuyên chính khủng
bố công khai của những phần tử phản động nhất, đế quốc chủnghĩa nhất của t bản tài chính Chủ nghĩa phát xít có nghĩa
là chiến tranh, chủ nghĩa phát xít với đờng lối chính sách,biện pháp bạo lực “sắt” và “máu” đã gây nên tội ác dã man mà
“trời không tha, đất không dung” đó là tội ác chiến tranh ghê
sợ nhất
Mặt khác giáo dục cho học sinh thái độ kính trọng, biết
ơn đối với nhân dân Liên Xô và tinh thần đoàn kết chiến đấucủa nhân dân thế giới cho hoà bình, độc lập, tự do, dân chủ
và tiến bộ xã hội
Qua đó học sinh ý thức sống là ngời có ích cho xã hội,luôn phải phấn đấu “trò giỏi, con ngoan”, có lối sống lànhmạnh, hình thành nhân cách sống có tâm, có đức, có trí tuệ,trở thành công dân tốt của xã hội, biết kế thừa và phát huy bảnsắc truyền thống văn hoá dân tộc chọn lọc tinh hoa bên ngoài,yêu quê hơng, yêu đất nớc, yêu tự do, yêu hoà bình, biết phânbiệt phải trái đúng sai, tốt xấu, ác và thiện, chính nghĩa đốivới phi nghĩa, tránh đối xử con ngời với con ngời bằng bạo lực,bằng đổ máu của loài cầm thú ,mà đối xử với nhau bằng tấmlòng con ngời mang tình ngời trong cộng đồng ngời
Chơng “chiến tranh thế giới thứ hai” với những nhiệm vụquan trọng nêu trên, đã góp phần không nhỏ vào việc hìnhthành tri thức, phát triển t duy kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh vàgóp phần hoàn thiện chức năng “tiên học lễ, hậu học văn”củanền giáo dục nớc ta
2.1.2.3 Nhiệm vụ về phát triển toàn bộ học sinh.
Nói đến lịch sử trớc hết phải nói đến những sự kiện lịch
sử cụ thể của khoa học loài ngời và dân tộc Trên cơ sở những
sự kiện ấy, giáo viên khôi phục cho học sinh hình ảnh của quákhứ, giúp các em rút ra những kết luận, đánh giá, bài học kinhnghiệm cho cuộc sống hằng ngày
Khi dạy học chơng “Chiến tranh thế giới thứ hai” giáo viênphải rèn luyện cho học sinh kỹ năng làm quen với tài liệu, đồdùng trực quan và phải biết quan sát, t duy lôgic đúng đắn đểrút ra đợc vấn đề cơ bản của cuộc chiến tranh Mặt khác giáoviên giảng về diễn biến, tính chất, ý nghĩa thì vừa làm tăng
về mặt phát triển, vừa rèn luyện (phát hiện, phát huy) năng lực
75
Trang 28phân tích cũng nh quan điểm của học sinh vế các mối quan
hệ biện chứng giữa kinh tế chính trị và quân sự (nguyênnhân nổ ra chiến tranh) giữa mục đích chiến tranh và cáchtiến hành chiến tranh
Ngoài ra dạy học chơng “Chiến tranh thế giới thứ hai” giáoviên giúp các em nhớ lại và liên hệ với lịch sử dân tộc Cùng thờigian diễn biến của chiến tranh thế giới thứ hai thì lịch sử ViệtNam cũng đang chịu cảnh và chứng kiến phát xít Nhật xâmlợc và đặt ách cai trị nớc ta Việt Nam cũng là một trong nhữngnớc trên thế giới chống chiến tranh, chống phát xít
Học sinh cũng có thể liên hệ với cuộc chiến tranh thế giớithứ nhất, để thấy đợc mức độ, qui mô, tính chất, hậu quảkhác nhau của hai cuộc chiến tranh thế giới Nhận biết, xem xétcuộc chiến tranh nào tốn kém về ngời, về vật chất và để lại dichứng đến đời sống tinh thần con ngời
Sử dụng đồ dùng trực quan khi giảng dạy chơng “Chiếntranh thế giới thứ hai” góp phần hình thành kỹ năng, kỹ xảo về
“đọc” nội dung tranh ảnh, thiết kế và sử dụng các loại đồ dùngtrực quan, rèn luyện ngôn ngữ diễn đạt cho học sinh
2.1.3 Nội dung cơ bản của chơng (bài; tiết)
Chơng có tiêu đề là “Chiến tranh thế giới thứ hai” (1939 1945) nên đợc hiểu là: những nguyên nhân diễn biến, tínhchất, ý nghĩa, kết cục của cuộc chiến tranh lần thứ hai củalịch sử nhân loại
-Chơng gồm một bài với nội dung giảng dạy trong hai tiếttạo thành một chỉnh thể thống nhất
Nội dung của chơng (bài; tiết) thể hiện qua tiết sau:
Mục 1: Quan hệ quốc tế dẫn đến chiến tranh
Mục này nhằm làm cho học sinh hiểu rõ nguyên nhân củachiến tranh thế giới thứ hai qua những sự kiện lớn của quan hệquốc tế từ năm 1929 đến năm 1939 Vậy mục một nhỏ nàythể hiện hai ý cơ bản:
Thứ nhất: Đó là quan hệ quốc tế chằng chéo, hình tamgiác của ba lực lợng chinh là chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa đếquốc và Liên Xô
Trang 29Thứ hai: Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh, vì saochiến tranh xảy ra và kẻ chủ mu gây ra chiến tranh thế giới thứhai
Mục2: chiến tranh bùng nổ, Đức chiếm châu Âu (1-9 -1939dến 22- 6 -1941)
Mục này nói đến sự mở đầu của chiến tranh và đây là giai
đoạn thứ nhất của chiến tranh, giai đoạn Đức tấn công gần hết
và làm chủ chiến trờng châu Âu, nó đợc mở đầu bằng sự kiện
Đức tấn công Ba Lan vào 1-9-1939 Cuộc chiến tranh nổ ra ởgiai đoạn này mang tính đế quốc phi nghĩa, vì nó xảy ragiữa các lực lợng đế quốc giải quyết mâu thuẫn quyền lợi kinh
Mục 3: Đức tấn công Liên Xô Chiến tranh lan rộng khắp thếgiới (từ tháng 6-1941 đến cuối 1942)
Với sự chuyển đổi kế hoạch tác chiến của phát xít Đức,Liên Xô đợc chọn làm điểm tấn công và cần tiêu diệt Chiếntranh thế giới bớc vào giai đoạn thứ hai, tính chất của chiếntranh thay dổi đối với Liên Xô (chính nghĩa)
Trong giai đoạn này, chiến tranh lan rộng khắp thế giới ởtất cả các mặt trận nh: Xô-Đức, sự tấn công quân Đức vào LiênXô bằng ba mũi tiến công (phía bắc, phía trung tâm, phíanam) nhng quân dân Liên Xô giáng trả bằng trận thắngMátxcơva đâp tan kế hoạch “chiến tranh chớp nhoáng” củaHitle, mặt trận châu á - Thái Bình Dơng với sự kiện Nhật tấncông Mĩ ở Trân Châu Cảng Mĩ chính thức tham chiến, cònmặt trận Bắc Phi với chiến thắng Enalamen của quân độiAnh và mở đầu cuộc phản công quân Đồng minh Anh, Mĩ Mặttrận đồng minh với Liên Xô chống phát xít ra đời
Tiết thứ nhất của chơng “Chiến tranh thế giới thứ hai”cung cấp nội dung chủ yếu trên, cùng với phơng pháp s phạmgiáo viên giải quyết làm sáng rõ từng nội dung một Từ đó họcsinh nắm đợc kiến thức, hiểu đợc bản chất của vấn đề và đó
là kiến thức cần thiết liên quan đến các giai đoạn của chiếntranh ở tiết hai
Tiết2:
75
Trang 30II: Từ chiến thắng Xtalingrat đến thất bại hoàn toàn củaphát xít Đức, Italia, Nhật Bản (từ cuối năm 1942 đến tháng 8năm 1945).
Tiết 2 gồm 4 mục (1,2,3,4) đề cập đến các giai đoạn ba, bốn,năm và kết cục của Chiến tranh thế giới thứ hai
Mục 1: Chiến thắng của Xtalingrat và bớc ngoặt của tiếntrinh chiến tranh thế giới
Nội dung mục này phản ánh những nét cơ bản giai đoạn
ba của chiến tranh, mở đầu bằng chiến thắng lịch sửXtalingrat dẫn đến bớc ngoặt của chiến tranh, từ đó HồngQuân Liên Xô và quân đội Đồng minh bắt đầu chuyển sangchiến lợc phản công (phản công cục bộ từng mặt trận) quân
đội chủ nghĩa phát xít mất quyền chủ động, chuyển sangchiến lợc phòng ngự thất bậi hoàn toàn ở mặt trận Bắc Phi vàchủ nghĩa phát xít Italia sụp đổ, Mútxôlini bị bắt
Mục2: Chủ nghĩa phát xít Đức bị tiêu diệt, chủ yếu mụcnày nêu lên nội dung về diễn biến giai đoạn 4 của chiến tranh -giai đoạn tổng phản công trên khắp mặt trận ở phía đông vàphái tây châu Âu Chủ nghĩa phát xít Đức bị tiêu diệt với sựphản công cục bộ sang tổng tấn công trên khắp mặt trận từLêningrat dến Crm và truy kích đến tận sào huyệt quân dôichủ nghĩa phát xít Đức Liên quân Anh, Mĩ mở “Mặt trận thứhai” ở phía tây dù muộn nhng có tác dụng thúc đẩy chiếntranh kết thuc ở châu Âu Quân đội Mĩ, Anh bắt mở đầucuộc phản công từ năm 1943 ở mặt trận châu á - Thái Bình D-
ơng
Mục 3: Chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản bị sụp đổ
Giai đoạn 5-giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến tranh thế giới
đ-ợc trình bày trong mục này, chiến sự diễn ra chủ yếu ở mặttrận châu á - Thái Bình Dơng đánh dấu sự thất bại và đầuhàng vô điều kiện của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản -chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt
Làm nên chiến thắng ở mặt trận châu á - Thái Binh Dơng
có sự đóng góp của liên quân Anh, Mĩ và vai trò của Liên Xô
đánh tan một triệu đạo quân Quan Đông của Nhật Bản Giai
đoạn này còn phản ánh sự kiện Mĩ ném hai quả bom nguyên tử(6-8và 9-8) xuống hai thành phố (Hirosima và Nagadahi) củaNhật Bản
Mục 4: Kết cục của chiến tranh thế giới thứ hai
Mục này nêu lên kết quả chiến tranh thế giới thứ hai, sosánh với cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất Nhận thấy đợc hậu
Trang 31quả của nó để lại cho những nớc tham gia chiến tranh (thắngtrận ,bại trận), đó là những hậu quả không lờng hết đợc
Mục này cũng khẵng định sự bị tiêu diệt của chủ nghĩaphát xít Đức, Italia, Nhật là điều tất yếu và những nớc này phảigánh chịu kết cục bi thơng, gánh vác trách nhiệm của mình
đã gây ra chiến tranh thế giới thứ hai
Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra với quy mô rộnglớn trên thế giới và nhiều giai đoạn khác nhau, phức tạp Nó đợckéo dài trong 7 năm với hậu quả nặng nề nhng nó chỉ đợc tómlợc nội dung cơ bản nhất trong sách biáo khoa lịch sử lớp 11
Nội dung này nó phù hợp sự tiếp nhận trình độ của họcsinh ở trờng trung học phổ thông Vì nó phản ánh đợc nhữnggì chiến tranh thứ hai đã xảy ra, nhng ở một số mặt kiếnthức, nội dung lịch sử cung cấp còn xơ sài chỉ thông báo dẫn
đến tình trạng học sinh đọc sách giáo khoa không hiểu đợc sựkiên Vì vậy, giáo viên phải sử dụng tri thức và phơng pháp sphạm của mình để bổ sung những chỗ khuyết đó
2 Sử dụng các loại đồ dùng trực quan trong chơng Chiến tranh thế giới thứ hai
Nói đến phơng pháp dạy học lịch sử là chúng ta nhậnthức đợc việc giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh làhai khâu của một quá trình thống nhất không tách nhau Giáoviên phải xác định đặc trng của bộ môn để xây dựng phơngpháp riêng biệt nào đó, để áp dụng trong một bài học cụ thể
Do đó vấn đề đặt ra là tuỳ vào mục đích, yêu cầu, nội dung
cụ thể của từng bài để giáo viên lựa chọn và vận dụng mộtcách nhuần nhuyễn hệ thống phơng pháp dạy học lịch sử
Chẳng hạn khi dạy chơng “Chiến tranh thế giới thứ hai”giáo viên cần kết hợp nhiều phơng pháp dạy học khác nhau Nh-
ng sử dụng phơng pháp trực quan là tốt nhất nh chúng tôi đãnêu ở phần trớc của luận văn này Có nh vậy học sinh mới dễtiếp thu và nắm đợc các sự kiện cơ bản của chiến tranh xảyra
Trong phần mở bài của chơng “Chiến tranh thế giới thứhai”có nhiều cách khác nhau, nếu giáo viên mở đầu bài họcbằng sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với trình bày miệngthì hiệu quả s phạm sẽ đợc nâng cao Học sinh nắm đợc nhậnthức ngay từ đầu và làm cho các em để tâm chú ý vào việctiếp nhận kiến thức Quan trọng hơn là giáo viên đã tạo sự hấp
đẫn hứng thú học tập cho các em sự quan tâm để ý theo dõicách giải quyết vấn đề của giáo viên
75
Trang 32Nhiều nhà nghiên cứu khoa học lịch sử đã chứng minhrằng Lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ nó khôngbao giờ lặp lại nh con ngời ta không bao giờ tắm hai lần trênmột dòng sông Vì thế việc tạo ra ở học sinh những hình ảnhchân thực cụ thể về các sự kiện hiện tợng lịch sử, việc khôiphục lại chân dung và hành động của các nhân vật lịch sử làmột công viẹc khó khăn và là nhiệm vụ hàng đầu đối với giáoviên
Chính vì những lí do đa ra ở trên, chúng tôi đồng thờicũng thấy rằng chơng “Chiến tranh thế giới thứ hai” là một ch-
ơng giảng dạy khó, trong quá trình lên lớp, giáo viên phải biếtkết hợp phơng pháp dạy học trực quan một cách sáng tạo phù hợpvới mục đích, nội dung từng mục (ngoài ra sử dụng một số ph-
ơng pháp khác nh phân tích, giải thích, tài liệu văn học ), có
nh vậy bài học mới sinh động và học sinh dễ dàng nắm đợc các
sự kiện cơ bản
Từ những kiến thức lịch sử cụ thể của chơng “Chiếntranh thế giới thứ hai” cùng phơng pháp lựa chọn thích hợp đểnâng cao chất lợng và hiệu quả dạy học chơng này ,chúng tôixin trình bày một số đồ dùng trực quan cùng với những lời chỉdẫn, lời nhận xét, tờng thuật để làm rõ nội dung lịch sửphản ánh qua “trực quan” Vậy sau đây là cách trình bày củachúng tôi:
2.1 Bản đồ
Bản đồ ở đây chúng tôi áp dụng vào trong chơng này,còn về phân loại, u nhợc điểm, cách sử dụng, nguyên tắc chúng tôi đã trình bày phần trớc của luận văn, phần này chúngtôi không nói lại nữa Mặt khác trớc khi tờng thuật bản đồchúng tôi sẽ chỉ kí hiệu nh mũi tên tấn công, rút lui, các căncứ tiện cho việc theo dõi của học sinh cụ thể là: