Địa chí Hà Tĩnh, Ban chấp hành Đảng Bộ, UBND tỉnh Hà Tĩnh, 1996 [9] đã phân tích nguồn gốc, vị trí, ý nghĩa của các di tích lịch sử tiêu biểu ở HàTĩnh mà chương trình lịch sử dân tộc, lị
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ NGỌC HƯƠNG
Sử dụng di tích lịch sử địa phơng trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1919 đến 2000 (Lớp 12 THPT - chơng trình Chuẩn) ở Hà Tĩnh
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ NGỌC HƯƠNG
Sử dụng di tích lịch sử địa phơng trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1919 đến 2000 (Lớp 12 THPT - chơng trình Chuẩn) ở Hà Tĩnh
CHUYÊN NGàNH: Lý LUậN Và PPDH Bộ MÔN LịCH Sử
Mã Số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS TRẦN VIẾT THỤ
NGHỆ AN - 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô giáo Khoa Lịch sử, Khoa đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Phương pháp khoa Lịch sử Trường Đại học Vinh, Đại học Sư phạm Hà Nội, bạn bè đồng nghiệp và gia đình những người đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Đặc biệt với tình cảm chân thành và lòng kính trọng, tôi xin bày tỏ
lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Trần Viết Thụ - người đã trực tiếp, tận
tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Dù rất cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý thầy cô, đồng nghiệp vui lòng góp ý, chỉ dẫn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn !
Vinh, tháng 10 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Hương
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7
6 Giả thuyết khoa học và đóng góp của luận văn 8
7 Bố cục luận văn 9
NỘI DUNG 10
Chương 1 DI TÍCH LỊCH SỬ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 10
1.1 Cơ sở lý luận 10
1.1.1 Quan niệm về di tích lịch sử 10
1.1.2 Các loại di tích lịch sử 12
1.1.3 Ý nghĩa của di tích trong dạy học lịch sử 14
1.2 Thực trạng việc sử dụng di tích trong dạy học lịch sử ở trường THPT Hà Tĩnh hiện nay 23
1.3 Một vài nhận xét 28
Chương 2 MỘT SỐ DI TÍCH LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG SỬ DỤNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1919 ĐẾN 2000 (LỚP 12 THPT - CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) Ở HÀ TĨNH 30
Trang 52.1 Mục tiêu và nội dung kiến thức cơ bản của khoá trình Lịch sử
Việt Nam từ 1919 đến 2000 (lớp 12 THPT - chương trình Chuẩn)
30
Trang 62.1.1 Mục tiêu 30
2.1.2 Nội dung cơ bản của Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 - 2000 (lớp 12 THPT - chương trình Chuẩn) 31
2.1.3 Các di tích lịch sử ở Hà Tĩnh sử dụng trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ 1919 đến 2000 (lớp 12 THPT - chương trình Chuẩn) ở Hà Tĩnh 34
Chương 3 MỘT SỐ HÌNH THÚC VÀ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG DI TÍCH LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1919 ĐẾN 2000 (LỚP 12 THPT - CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) Ở HÀ TĨNH 68
3.1 Những yêu cầu cần quán triệt khi sử dụng di tích lịch sử trong dạy học lịch sử ở trường THPT 68
3.1.1 Đảm bảo mục tiêu bài học 68
3.1.2 Đảm bảo tính khoa học - sư phạm 72
3.1.3 Đảm bảo tính Đảng 73
3.1.4 Khai thác tính trực quan sinh động của di tích 74
3.1.5 Đảm bảo việc phát huy tính tích cực, chủ động trong nhận thức của học sinh khi sử dụng di tích trong dạy học lịch sử 75
3.1.6 Đảm bảo tính tiêu biểu và phù hợp thực tiễn địa phương 77
3.2 Các hình thức, biện pháp sử dụng di tích lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn từ 1919 đến 2000 (lớp 12 THPT - chương trình Chuẩn) ở Hà Tĩnh 78
3.2.1 Sử dụng tư liệu về DTLS trong bài học lịch sử nội khóa 78
3.2.2 Bài học nội khóa tại di tích lịch sử 81
3.2.3 Tổ chức tham quan di tích lịch sử trong hoạt động ngoại khóa 83
3.2.4 Một số hình thức ngoại khóa lịch sử khác tại DTLS 85
Trang 73.3 Thực nghiệm sư phạm 87
3.3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 87
3.3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 87
3.3.3 Nội dung và phương pháp tiến hành 88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 8
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Các môn học ở trường trung học phổ thông nói chung, bộ mônLịch sử nói riêng có ưu thế và ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần đào tạothế hệ trẻ theo mục tiêu giáo dục của Đảng Mục tiêu giáo dục nói chung và
bộ môn Lịch sử nói riêng không chỉ cung cấp kiến thức, rèn luyện trí nhớ mà
nó còn đòi HS phải thông qua đó học cách tự đánh giá, học cách sống, biếtđộc lập suy nghĩ, biết tự làm chủ trong mọi tình hướng của cuộc sống Khẳng
định ý nghĩa nói trên của bộ môn NQ số 51/QH 10 đã nhấn mạnh: “Đào tạo
con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, có trí thức, sức khỏe, thẩm mỹ nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, hình thành và bồi dưỡng năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” Hiểu rõ và thấy được tầm quan trọng, Đảng và
Nhà Nước luôn luôn quan tâm, coi trọng giáo dục“Giáo dục là quốc sách hàngđầu” Giáo dục nói chung và ở trường THPT nói riêng đều quan tâm tới,ngoài việc cung cấp kiến thức còn nhằm mục đích đào tạo con người toàndiện có ích cho xã hội, vì vậy cùng với tất cả các môn học nói chung và bộmôn Lịch sử nói riêng ở các cấp học có nhiều ưu thế nhất là ở THPT
Trong những năm gần đây, chất lượng dạy học môn lịch sử ở THPT nóichung và lớp 12 nói riêng giảm sút Biểu hiện của tình trạng này là học sinhkhông biết hoặc nhớ nhầm, lẫn lộn các sự kiện lịch sử, kể cả những sự kiệnđơn giản, phổ thông nhất Quan trọng hơn, các em không hiểu lịch sử Hậuquả của tình trạng này là thế hệ trẻ sẽ không ham thích tìm hiểu, không hiểubiết lịch sử Thế hệ trẻ không biết và hiểu lịch sử dân tộc mình thì đó là điềurất đáng lo ngại trong khi chúng ta hội nhập khu vực và thế giới nhưng vẫngiữ được bản sắc, truyền thống dân tộc, hội nhập nhưng không được hòa tan
“tiên tiến nhưng đậm đà bản sắc dân tộc” Trong thực tế việc các em không
Trang 9thích tìm hiểu lịch sử dân tộc, học lịch sử dân tộc Kết quả thi tốt nghiệp, thivào Đại học, Cao đẳng môn sử điểm rất thấp Nhất là năm học 2005,2006,2007, khối lượng thi vào khối C rất ít (chiếm khoảng 15 - 20%) Songchỉ khoảng một nửa trong số đó có khả năng và hứng thú với các môn học xãhội, còn lại đa phần là kém toàn diện, không có khả năng thi vào khối khácđành thi khối C Chính vì vậy mới có điểm 0 và những kết quả đáng buồn.
1.2 Để nâng cao chất lượng môn học, khắc phục tình trạng nêu trên,việc cải tiến, đổi mới nội dung và phương pháp dạy học bộ môn mang tínhcấp bách Quá trình này được tiến hành thường xuyên, đồng bộ, trong đótăng cường sử dụng các phương tiện trực quan có ý nghĩa quan trọng Mộttrong những loại phương tiện dạy học bộ môn hàng đầu là các di tích lịch sử
Di tích lịch sử là một loại tài liệu lịch sử vật chất quý hiếm, một bằng chứngkhoa học, trung thực về quá khứ, ngoài ra đó cũng là một phương tiện dạyhọc có hiệu quả cao Như vậy, việc sử dụng di tích lịch sử trong dạy học lịch
sử ở PTTH góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, đáp ứng mục tiêu giáodục của Đảng
1.3 Di tich lịch sử là những di sản quý báu của dân tộc Các nước trênthế ngày càng chú ý đến việc khai thác, sử dụng di tích vào nhiều lĩnh vực củađời sống xã hội Lịch sử dân tộc Việt Nam qua hàng ngàn năm dựng nước vàgiữ nước, với chiều dài lịch sử đấu tranh oanh liệt, nên có rất nhiều di tích lịch
sử Việc sử dụng di tích lịch sử địa phương vào dạy học lịch sử ở PTTH nóichung và giai đoạn từ 1919 đến 2000 nói riêng góp phần quan trọng vào côngtác gìn giữ, tôn tạo những di sản quý giá, một yêu cầu bức thiết, quan trọnghiện nay
Như vậy, qua nghiên cứu, tìm hiểu các di tích lịch sử, ngoài việcchúng ta nhìn nhận được phần nào đó quá khứ hòa hùng của dân tộc nóichung và của từng địa phương nói riêng, từ đó không những góp phần bảo
Trang 10vệ những di sản văn hóa quý giá mà còn giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạođức cho học sinh.
1.4 Hà Tĩnh là mảnh đất có bề dày lịch sử - văn hóa, trong lịch sửchống ngoại xâm quá trình xây dựng quê hương đất nước đã để lại cho nhândân Hà Tĩnh nói riêng cả dân tộc nói chung biết bao di sản văn hóa Mỗi têngọi của vùng đất này gắn liền với những sự kiện lịch sử và văn hóa địaphương mà khi tiếp cận không ai có thể quên được Chính vì vậy, vùng đất HàTĩnh vẫn còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử Việc sử dụng các di tích này vàodạy học lịch sử ở trường THPT sẽ góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục củaĐảng Bên cạnh đó nó còn góp phần quan trọng vào công tác gìn giữ, bảo tồn,tôn tạo những di sản quý của dân tộc
Nhận thấy rõ việc tìm hiểu, nghiên cứu về các di tích lịch sử và đặc biệt
là địa phương nơi mình sinh ra và lớn lên, tôi mạnh dạn, tìm hiểu tham quan
về các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh nhà, là mảnh đất có nhiều di tích lịch sửnhư một minh chứng cho quá khứ hào hùng của mảnh đất “địa linh nhân kiệt”
có nhiều đóng góp cho lịch sử dân tộc
Với tất cả những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: Sử dụng di tích lịch
sử địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1919 đến 2000 (Lớp 12 THPT - chương trình Chuẩn) ở Hà Tĩnh làm đề tài luận văn, trước hết nhằm
góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở THPT đồng thời làm phong phúthêm lý luận nghiên cứu của bộ môn về việc sử dụng di tích lịch sử
Trang 11Trên các tạp chí: “Nghiên cứu Đông Nam Á” [37], “Nghiên cứu giáo
dục” [14], “Xưa và nay” [37], đã đăng nhiều bài nghiên cứu, giới thiệu các di
tích lịch sử tiêu biểu của đất nước Đặc biệt tạp chí “Nghiên cứu Đông Nam
Á” dành hẳn số 24 tháng 3 năm 1996 cho chuyên đề: “Sử dụng và khai thác di tích” Trong đó có các bài viết như: “Việc sử dụng và khai thác di tích trong tình hình hiện nay ở Việt Nam”của Phó tiến sỹ Đặng Văn Bài [37; tr 6];
“Đặc điểm địa lý, lịch sử Việt Nam trong mối quan hệ với di tích”của Nguyễn Quốc Hùng [37; tr.18]; “Các di tích khảo cổ học thời tiền sử Giá trị - thực
trạng - lời bình của Nguyễn Khăc Sử [37; tr 26]; “Đôi nét về các di tích nghệ thuật kiến trúc Việt Nam” của Trần Lâm Biền [37; tr 61]; “Đặc điểm của di tích lịch sử - cách mạng Việt Nam (giai đoạn cận hiện đại) của Trần Kháng
[37; tr 65]; “Việc sử dụng và bảo vệ di tích trong lịch sử Việt Nam thời xưa”
của Chu Quang Chữ [37; tr.76]; Các tác giả đã tập trung nêu bật ý nghĩa
nhiều mặt đặc điểm, thực trạng nghiên cứu, sử dụng các di tích lịch sử hiệnnay ở nước ta
Quyển “Bảo tàng, di tích, lễ hội” của Phan Khanh [22]; đã phân tích
những vấn đề cơ bản về lý luận của khoa học bảo tàng, di tích và lễ hội truyềnthống ở các di tích Đặc biệt tác giả đã nhấn mạnh ý nghĩa giáo dục truyềnthống dân tộc cho học sinh, sinh viên về các di tích lịch sử Tác giả cũng nêu
rõ mối quan hệ giữa di tích, bảo tàng, lễ hội mà trong đó di tích đóng vai trò
là “trung tâm”.
Nhằm giới thiệu các di tích lịch sử chủ yếu của quê hương Hà Tĩnh,nhiều công trình có giá trị đã được xuất bản:
Cuốn Lịch sử Hà Tĩnh dạy và học trong trường Trung học (Phan Đình
Bưởi, 2000, Nxb Giáo dục) [8] Là tài liệu lịch sử địa phương dùng trongPTTH trong đó có giới thiệu một số di tích lịch sử tiêu biểu của Hà Tĩnh đượcđưa vào tiết dạy lịch sử địa phương
Trang 12Một số tác phẩm khác như Lịch sử Hà Tĩnh (Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2000) [23] Danh nhân Hà Tĩnh (Sở Văn hóa Thông tin, 1998) [11].
Địa chí Hà Tĩnh, Ban chấp hành Đảng Bộ, UBND tỉnh Hà Tĩnh, 1996 [9] đã
phân tích nguồn gốc, vị trí, ý nghĩa của các di tích lịch sử tiêu biểu ở HàTĩnh mà chương trình lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương ở trường THPT đã
đề cập đến chẳng hạn như: Khu di tích mộ Trần Phú, Đình Đỉnh Lữ, Nhà CụMai Kính, Miếu Biên Sơn, Đền Đô Đài, Nhà Thờ Hà Huy Tập, Tượng đàiPhan Đình Giót, Khu di tích Ngã Ba Đồng Lộc… Đây là những tài liệu qúybáu có thể sử dụng trong dạy học lịch sử dân tộc và lịch sử địa phương ởtrường THPT
2.2 Vấn đề thứ hai
Các công trình nghiên cứu về giáo dục học, tâm lý học của Liên Xô
(cũ) như: “Tư duy học sinh” của M.N Sacđacốp [34], “Phát triển tư duy học
sinh” của M.Aleep [1]…đã khẳng định cơ sở tâm lý của nhận thức trực quan
sinh động trong học tập lịch sử khi “tạo biểu tượng trong sáng và muôn màu,
muôn vẻ về các sự vật và hiện tượng đang học Có thể thực hiện nhiệm vụ này bằng cách tổ chức cho học sinh tri giác các di tích lịch sử và các di sản văn hóa” [34; tr 53], đồng thời xem công tác tham quan, học tập tại các di tích
lịch sử là một trong những công việc quan trọng trong nhà trường
Các công trình trên đã dành một số chương để phân tích các nguyêntắc, phương pháp tiến hành học tập tại di tích lịch sử Đây là một trongnhững tài liệu quý giúp cho việc dạy học lịch sử nói chung và xác địnhnhững nguyên tắc, phương pháp hình thức học tập tại tại các di tích lịch sửnói riêng
Tiến sĩ N.G Đairi với công trình “Chuẩn bị giờ học như thế nào?”
[12] đã trình bày vấn đề quan trọng của việc dạy học bộ môn theo hướng đổi
mới của lý luận dạy học Xô Viết (cũ) Tác giả nhấn mạnh: “Tính cụ thể, tính
Trang 13hình ảnh của sự kiện có giá trị lớn lao, bởi vì chúng cho pháp hình dung lại quá khứ” [34; tr.25] và quan niệm về tổ chức công tác thực tế, nghiên cứu
tại nới xảy ra các sự kiện lịch sử là một trong những điều kiện hiện có củahoạt động dạy và học để hình thành tư duy độc lập và tính tự lập sáng tạocủa học sinh
Các nhà nghiên cứu lý luận dạy học Việt Nam với các công trình
“Phương pháp dạy học lịch sử” (do Giáo sư tiến sỹ Phan Ngọc Liên chủ biên
xuất bản vào các năm 1972, 1979, 1992, 1998, 2000, 2002) có đề cập đến
việc sử dụng di tích lịch sử trong dạy học lịch sử Trong các chương “Hệ
thống các phương pháp dạy học lịch sử” “Bài học lịch sử”, “Công tác ngoại khóa lịch sử”… đã nêu những hình thức và phương pháp sử dụng di tích lịch
sử như việc tổ chức bài học thực địa, ttham quan ngoại khóa, công tác côngích tại các khu di tích lịch sử…ngoài ra còn phân tích ý nghĩa của di tích lịch
sử trong dạy học lịch sử, coi nó là tài liệu, đồ dùng trực quan hàng đầu trongcác các đồ dùng dạy học Nó góp phần rất lớn trong mục tiêu giáo dục: có ýnghĩa bổ sung, cụ thể hóa, minh họa sinh động cho các sự kiện lịch sử mà họcsinh THPT được học
Những công trình nói trên tôi được tiếp cận nghiên cứu để xác định
những vấn đề lý luận và thực tiễn đối với việc: Sử dụng di tích lịch sử địa
phương trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1919 đến 2000 (Lớp 12 Trung học phổ thông - chương trình Chuẩn) ở Hà Tĩnh.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình sử dụng di tích lịch
sử địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THPT nói chunggiai đoạn 1919 - 2000 (Lớp 12 THPT - chương trình Chuẩn) ở Hà Tĩnhnói riêng
Trang 143.2 Phạm vi nghiên cứu
Với việc xác định đối tượng nghiên cứu như trên, luận văn không đisâu nghiên cứu hệ thống các di tích lịch sử địa phương ở Hà Tĩnh mà sử dụngnhững kết quả nghiên cứu về các di tích để vận dụng trong dạy học lịch sử ởtrường THPT nói chung giai đoạn 1919 - 2000 nói riêng lớp 12 THPT-chương trình Chuẩn, chủ yếu bài lịch sử nội khóa nhằm nâng cao hiệu quả bàigiảng lịch sử Việc điều tra khảo sát thực nghiệm sư phạm được tiến hành ởmột số trường THPT thuộc địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
- Đề xuất các biện pháp sử dụng các di tích lịch sử trong dạy học lịch
sử Việt Nam ở trường THPT, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả bài học lịch
sử ở THPT trên địa bàn tỉnh Hà Tỉnh
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định những nội dung lịch sử liên quan với các di tích lịch sử địaphương có ở Hà Tĩnh phù hợp trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn từ
1919 đến 2000 lớp 12 THPT - chương trình Chuẩn
- Đề xuất những nguyên tắc, các trường hợp và phương pháp sử dụng
di tích lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử ở THPT
- Thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của đề tài
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểmcủa Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác giáo dục, nghiên cứu lịch sử dantộc và văn hóa dân tộc…
- Đọc, phân tích các tài liệu về lý luận dạy học lịch sử bộ môn, tâm lýhọc, giáo dục học và các tài liệu lịch sử, văn hóa…liên quan
Trang 15- Đọc chương trình, nội dung sách giáo khoa Lịch sử ở THPT liên quanđến nội dung các di tích lịch sử ở Hà Tĩnh.
- Đọc các tài liệu có liên quan đến việc dạy học lịch sử địa phương ở
Hà Tĩnh
5.2 Phương pháp điều tra sư phạm
- Điều tra bằng phiếu đối với giáo viên giảng dạy sử, các em họcsinh…để tìm hiểu thực trạng sử dụng các di tích lịch sử Hà Tĩnh trong dạyhọc lịch sử ở trường THPT trong tỉnh
5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra giả thuyêt của luận văn varút ra kết luận khái quát để khẳng định tính khả thi của đề tài
6 Giả thuyết khoa học và đóng góp của luận văn
6.1 Giả thuyết khoa học
- Nếu các hình thức và biện pháp sử dụng di tích lịch sử địa phương Hàtĩnh trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn từ 1919 - 2000 (lớp 12 THPT -chương trình Chuẩn) xác định trong luận văn được giáo viên phổ thông sửdụng sẽ nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Lịch sử ở THPT
6.2 Đóng góp của luận văn
- Xác định hệ thống di tích lịch sử ở Hà Tĩnh có thể sử dụng trong dạyhọc lịch sử Việt Nam giai đoạn từ 1919 đến 2000 ở THPT (lớp 12 THPTchương trình Chuẩn)
- Xác định những nguyên tắc, trường hợp sử dụng di tích lịch sử vàodạy học lịch sử Việt Nam nói chung đoạn từ 1919 đến 2000 nói riêng ở THPTnhằm nâng cao hiệu quả bài học lịch sử
- Đề xuất một số biện pháp sư phạm mang tính khả thi để sử dụng ditích lịch sử Hà Tĩnh một cách hợp lý, khoa học phù hợp với yêu cầu đổi mớiviệc dạy học lịch sử hiện nay
Trang 16-Chương 3 Một số hình thức và biện pháp Sử dụng di tích lịch sử địa
phương trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1919 đến 2000(Lớp 12 THPT - chương trình Chuẩn) ở Hà Tĩnh
Trang 17NỘI DUNG
Chương 1
DI TÍCH LỊCH SỬ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
Ở TRƯỜNG THPT - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Trong chương này, chúng tôi trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn củaviệc sử dụng di tích lịch sử trong dạy học lịch sử Việt Nam ở THPT tỉnh
Theo “Từ điển tiếng Việt” của viện Ngôn ngữ học thì “di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt lịch sử hoặc văn hóa” [39; tr 254].
Trong “Từ điển thuật ngữ phổ thông”các tác giả định nghĩa: “Di tích lịch sử là dấu vết còn lại của một thời kỳ lịch sử đã qua” di tích lịch sử là đối tượng nghiên cứu của sử học, khảo cổ học [27; tr 138]
Di là sót lại Tích là vết tích Khái niệm di tích là là chỉ những vết tích còn sót lại của một thời đã qua Thời đã qua nói chung không để lại cho chúng ta hôm nay một cái gì còn nguyên vẹn” [31; tr12] Như vậy, di tích là
Trang 18những dấu vết của dĩ vãng còn để lại một cách tự nhiên nhưng không cònnguyên vẹn, trên cơ sở đó nhằm lưu giữ những vết tích của quá khứ, hay chỉdẫn cho thế hệ sau biết về quá khứ của xã hội loài người Và qua đó giúpchúng ta tìm hiểu, nghiên cứu các thời kỳ lịch sử đã qua Trong quá trìnhsống, tồn tại và phát triển, con người đã sáng tạo ra những sản phẩm văn hóatượng trưng cho thời đại mình hoặc tạo dựng lên nhằm tưởng niệm, ghi nhớnhững gì đã là quá khứ đã qua nhưng những quá khứ đó thường có ý nghĩagiáo dục rất lớn và chính những sản phẩm đó được coi là di tích lịch sử mangtính chất là bằng chứng lịch sử Bằng chứng của lịch sử có nhiều như: lăngtẩm, đình chùa, tượng đài Di tích ngoài những hiện vật vật chất như nhà cửa,thành quách, tượng đài, y phục, công cụ lao động Di tích là dấu vết của quákhứ nên có tác dụng giáo dục cho thế hệ sau biết những điều xảy ra trong quákhứ Với quan niệm như vậy, di tích lịch sử có thể do con người xây dựngnhằm tưởng niệm những sự kiện, những nhân vật lịch sử đã qua để ghi lạinhững biến cố, những mốc lịch sử quan trọng và có ý nghĩa hoặc củng có thể
do đương thời để lại Nó có thể hiện hữu trên mặt đất hoặc không hiện hữunhư trong lòng đất hoặc ngập sâu trong nước
Di tích lịch sử là những dấu vết lịch sử còn lưu lại cho đến ngày nay,
nó phản ánh những hoạt động, đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa, phong tụctập quán của con người qua các thời đại Di tích lịch sử phản ánh cả một thời
kỳ lịch sử dài như các di tích Đền Hùng, Thành cổ Loa…
Ngoài ra di tích lịch sử còn là nơi, lưu niệm các nhân vật lịch sử, cócông với nước trong các cuộc chống giặc ngoại xâm, chống thiên tai, các danhnhân văn hóa…Đó là những tượng đài, đền thờ, bia mộ…Ví dụ: Khu di tích
mộ Trần phú, Ngã Ba Nghèn, Nhà cụ Mai Kính…
Như vậy, “tiêu chí đầu tiên để xác định một di tích lịch sử là nó phải có thực từ trước và được lưu giữ cho đến ngày nay, bao giờ củng gắn liền, phản ánh, ghi nhận minh chứng một sự kiện, nhân vật lịch sử đặc biệt những sự kiện
Trang 19lớn, quan trọng” [15; tr 16] Quy định của Uỷ ban nhân dân tỉnh nghệ An về
việc phân cấp, quản lý các di tích, thắng cảnh Sở văn hóa thông tin xuất bản
1997 Có nói rõ hơn về “Di tích lịch sử - văn hóa là những công trình xây
dựng,địa điểm, đồ vật, vật liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật củng như giá trị văn hóa khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch
sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội”.Có định nghĩa khác về di tích lịch sử văn hóa “Di tích lịch sử - văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại” [35; tr 8-9].
Tóm lại, di tích lịch sử là một trong những di sản vật chất quý giá, lànhững công trình sống động phản ánh cuộc chiến đấu với tự nhiên, với các thếlực xâm lược của nhân dân ta để bảo vệ Tổ Quốc Chính vì vậy mà di tích lịch
sử có những giá trị lịch sử, văn hóa to lớn Chúng có ý nghĩa to lớn về nhiềumặt từ việc tìm hiểu lịch sử, giáo dục tư tưởng chính trị đạo đức, giáo dụclòng yêu nước, giáo dục truyền thống, tham quan du lịch, truyền bá kiến thứckhoa học…
Ngày nay, bước vào thời kỳ CNH - HĐH, giao lưu và hợp tác với cácquốc gia trên thế giới nên việc gìn giữ bảo tồn các di tích lịch sử củng gópphần không nhỏ việc gìn giữ các giá trị văn hóa - lịch sử dân tộc Bộ môn lịch
sử nói chung, di tích lịch sử địa phương nói riêng có ưu thế và nhiệm vụ tolớn trong việc gìn giữ và phát huy truyền thống bản sắc dân tộc Song để làmđược điều đó cần phải nhận thức đúng vị trí, ý nghĩa củng như tầm quan trọngcủa việc dạy lịch sử dân tộc nói chung và di tích lịch sử địa phương nói riêng
1.1.2 Các loại di tích lịch sử
Di tích lịch sử là những gì mà con người sáng tạo của các nền văn hóa,văn minh trong các thời kỳ của lịch sử, trong quá khứ còn được lưu giữ lạicho đến ngày nay dưới lòng đất hoặc hiện hữu trên những vùng đất cụ thể
Trang 20Theo điều 4 Luật di sản văn hóa và điều 14 Nghị định số 92/2002/NĐ
-CP ngày 11.11.2002 của Chính phủ, các di tích được phân loại như sau:
- “Di tích lịch sử - văn hóa: Là công trình được xây dựng, địa điểm vàcác di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia của công trình, địa điểm có giá trị lịch sử,
văn hóa khoa học” Cuộc đấu tranh cách mạng của quân và dân ta dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi Đảng ra đời cho đến nay đã ghilại dấu ấn ở nhiều địa danh, những vết tích lịch sử minh chứng cho quá khứhào hùng của dân tộc, thường là các di tích cánch mạng Ví dụ: Nhà Cụ MaiKính, chùa Chân Tiên, Ngã ba Đồng Lộc, Di tích cách mạng Tân Trào, địađạo Củ Chi…
- “Di tích kiến trúc nghệ thuật: Là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổngthể kiến trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triểnnghệ thuật kiến trúc của dân tộc” Các di tích kiến trúc nghệ thuật của nước tarất phong phú, có hầu hết ở các địa phương Ví dụ Thành Nhà Hồ, Thành CổLoa, Thành Huế…Đây là những di tích có ý nghĩa giá trị lịch sử, khoa học vànghệ thuật
- “Di tích khảo cổ là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánhdấu giai đoạn phát triển của các nền văn hóa khảo cổ” Là nơi diễn ra các sựkiện quan trọng trong cuộc đấu tranh và sản xuất của con người và xã hội loàingười Ví dụ: Di chỉ khảo cổ Đông Sơn
- “Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sựkết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử,
Trang 21hoạt động dạy học lịch sử dân tộc nói chung, lịch sử địa phương nói riêng.Ngoài ra di tích là những di sản quý báu của các dân tộc trên thế giới, là minhchứng cho quá khứ hào hùng.
1.1.3 Ý nghĩa của di tích trong dạy học lịch sử
Do đặc điểm của môn Lịch sử nó khác với các môn học khác là khôngtrực tiếp quan sát và chứng kiến các sự kiện, nhân vật, hiện tượng đã xảy ra
vì vậy việc sử dụng di tích trong dạy học lịch sử có tầm quan trọng rất lớngiúp học sinh hình dung bức tranh toàn cảnh của quá khứ Việc sử dụng ditích có ý nghĩa góp phần đổi mới phương pháp dạy học lịch sử hiện nay: Tíchcực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm nhằmđem lại hiệu quả cao trong dạy học môn Lịch sử ở trường THPT
Di tích lịch sử là những di sản vật chất quý báu của dân tộc mà lịch sử
để lại Ngoài ý nghĩa đối với cuộc sống, việc sử dụng và vệ di tích lịch sử còn
có ý nghĩa rất lớn trong dạy học lịch sử nói chung và dạy học lịch sử ở trườngTHPT nói riêng
Như vậy ta thấy rằng, di tích lịch sử là di sản quý báu của dân tộc, có ýnghĩa rất to lớn đối với việc giáo dục truyền thống cho học sinh trong dạy họclịch sử dân tộc nói chung, dạy học lịch sử ở THPT nói riêng Và nó còn mang ýnghĩa có tác dụng về mặt giáo dưỡng, giáo dục và phát triển toàn diện học sinh
- Cụ thể hóa những sự kiện, nhân vật lịch sử bằng những sự vật có thật
- Giúp cho học sinh rút ra được những kết luận khoa học, đúng đắn củacác sự kiện, nhân vật lịch sử
- Bổ sung, khắc sâu những tri thức lịch sử
- Tạo không gian học tập cho học sinh ngoài lớp học
1.1.3.1 Di tích lịch sử địa phương với việc hình thành và nâng cao tri thức lịch sử cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT
Di tích lịch sử thuộc nhóm đồ dùng trực quan hiện vật, là một trongnhững bộ phận của nguồn sử liệu vật chất có giá trị, có vai trò quan trọng
Trang 22trong hoạt động nhận thức của học sinh “Di tích là tấm gương phản ánhtruyền thống lịch sử - văn hoá của địa phương Di tích mang trong mình dấuvết của lịch sử, của quá khứ của một thời đã xa, là bằng chứng hiển nhiên vềmột giai đoạn lịch sử, nó gắn với hoạt động của con người trong quá khứ, đó
có thể là lăng tẩm, đình chùa, và củng có thể là vùng đất, tên làng, tênxã trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của ông cha tất cảđược hiện hữu ở hiện tại mà có thể nhìn thấy, cũng có thể còn nằm sâu tronglòng đất hay bị ngập sâu trong nước.”
Quá trình nhận thức lịch sử của học sinh có những đặc điểm riêng Nókhông giống với việc nhận thức trong các môn học khác nhất là nhận thứclịch sử của học sinh THPT Trước hết nó xuất phát từ đặc điểm của hiện thựclịch sử, không lặp lại nguyên xi trong hiện tại mà lịch sử được “lặp lại trên cơ
sở không lặp lại” Vì vậy, trong quá trình dạy học lịch sử sẽ không có nhữngthí nghiệm, mô hình diễn tả lại toàn bộ các sự kiện lịch sử đúng như nó đãdiễn ra trong quá khứ, thì việc nhận thức lịch sử của học sinh không thể từcảm giác, tri giác trực tiếp tạo nên biểu tượng cụ thể, mà được xây dựng trên
cơ sở các sự kiện lịch sử Sự kiện càng được nhận thức cụ thể, chính xác,phong phú bao nhiêu thì khái niệm, quy luật, bài học lịch sử được hình thànhcàng chính xác bấy nhiêu Tuy nhiên, quy luật nhận thức mà Lênin chỉ ra:
“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến
thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan.” [9; tr.11], điều này được thể thiện trong quá trình
nhận thức lịch sử, phù hợp với tính chất và đặc điểm của môn học lịch sử
Trong quá trình dạy học lịch sử nói chung và dạy học lịch sử ở THPTnói riêng, do đặc điểm của môn học lịch sử, không thể trực tiếp tri giác đốitượng, không trực tiếp chứng kiến các sự kiện lịch sử vì lịch sử là quá khứ.Chính vì vậy, việc tạo biểu tượng các sự kiện lịch sử là bước đầu tiên của quá
Trang 23trình nhận thức lịch sử và có vai trò hết sức quan trọng đẻ học sinh hình dungđược các sự kiện, nhân vật với những hình ảnh ảnh chân thực cụ thể Từ đó có
tư duy, suy nghĩ lịch sử đúng đắn góp phần không nhỏ vào khắc phục vấn đề
“hiện đại hóa lịch sử”
Di tích lịch sử có ở quá khứ nó thường gắn liền với các sự kiện lịch sử
đã xảy ra Di tích lịch sử thường ghi nhận sự kiện lịch sử tiêu biểu của cảnươc trong địa phương, hay phản ảnh cả một thời kỳ lịch sử dân tộc Nó làmột trong những bộ phận của nguồn sử liệu vật chất chuẩn xác, chính xác, làphương tiện quan trọng để học sinh khôi phục lại các hình ảnh, sự kiện, nhânvật như tài bổ sung và làm sâu sắc thêm vốn tri thức lịch sử, từ đó làm cho
các em biết, hiểu và thêm yêu lịch sử dân tộc hơn: “Là phương tiện quan
trọng để góp phần tạo biểu tượng cho học sinh, di tích lịch sử được xem là
“cầu nối” giữa “quá khứ và hiện tại” [15; tr.11].
Qua nghiên cứu các di tích lịch sử, kết hợp với các nguồn sử liệu khácnhư tài liệu chữ viết, học sinh có thể hình dung lại các sự kiện, nhân vật lịch
sử đã qua một cách đầy đủ, chân thực và chính xác nhất Khi HS đến thamquan di tích nhà cụ Mai Kính Di tích lịch sử nhà cụ Mai Kinh thuộc thôn Bùi
Xá, xã Phù Việt, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, căn nhà này đã gắn liền vớinhững sự kiện lịch sử tiêu biểu Nhà cụ Mai kính là cơ sở in ấn tài liệu và lànơi làm việc của các đồng chí cách mạng trong những 1930
Với những minh chứng như di tích lích sử là nguồn tài liệu đáng tincậy, là tài liệu gốc và là cơ sở cho việc khôi phục lại các sự kiện, nhân vậttrong quá khứ từ đó học sinh có nhữngng biểu tượng lịch sử cụ thể, sinh động
để học dễ nhớ, dễ hiểu và hứng thú hơn trong học tập môn lịch sử Nhữngkiến thức sự kiện, nhân vật trong quá khứ được xây dựng trong giờ lên lớp,
tự nghiên cứu tài liệu tham khảo, sách giáo khoa và sẽ dược bổ sung đầy đủhơn, toàn diện hơn, sâu sắc hơn khi được tham quan ở các di tích lịch sử, các
Trang 24nhân chứng sống của lịch sử, các bảo tàng lịch sử làm biểu tượng cụ thể,chính xác về các sự kiện, nhân vật lịch sử đã qua Khi cho học sinh thamquan, học tập thực địa tại các di tích lịch sử, được nghe các nhân chứng trongcác cuộc kháng chiến kể lại các chiến công anh dũng, hi sinh …sẽ để lại ấntượng rất sâu sắc trong lòng các em học sinh từ đó sẽ kích thích sự hứng thútrong học tập Giúp các em dễ nhớ, và khắc sâu hơn kiến thức đã học.
Tóm lại, ý nghĩa của di tích trong việc hình thành và nâng cao tri thứclịch sử cho học sinh thể hiện ở các mặt cụ thể sau đây:
- Cụ thể hóa những sự kiện, nhân vật lịch sử bằng những sự vật có thật
- Giúp cho học sinh rút ra được những kết luận khoa học, đúng đắn củacác sự kiện, nhân vật lịch sử
- Bổ sung, khăc sâu những tri thức lịch sử
- Tạo không gian học tập cho học sinh ngoài lớp học
1.1.3.2 Di tích lịch sử với việc giáo dục tư tưởng chính trị - đạo đức và truyền thống cho học sinh
Dân tộc Việt Nam có truyền thống hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước
và giữ nước Ngoài việc cung cấp kiến thức, việc sử dụng di tích lịch sử địaphương góp phần không nhỏ vào việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ củahọc sinh Nó có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành cho thế hệ trẻ lòngyêu nước, bởi vì nguồn gốc của lòng yêu Tổ quốc bắt đầu từ lòng yêu quêhương, yêu mảnh đất nơi mình được sinh ra và lớn lên V.A.Xukhômlinxki đã
viết: “Đối với chúng ta, Tổ quốc bắt đầu từ một cái nhỏ bé dường như không
lộng lẫy lắm và không có gì nổi bật, cuộc sống của mỗi chúng ta vĩnh viễn đến hơi thở cuối cùng, chứa đựng một cái gì đó duy nhất không gì thay thế được như bầu sữa mẹ, như sự âu yếm của mẹ, như lời nói thân yêu của chúng ta, nơi thể hiện hình ảnh sinh động của Tổ quốc” [40; tr.44] Chúng ta tự hào về đất
nước, về quê hương, về những chiến công của cha anh qua những dấu tích còn
Trang 25để lại Chính điều đó có ý nghĩa rất lớn đối với việc giáo dục tư tưởng chính trị,đạo đức và truyền thống cho học sinh nói chung và học sinh THPT nói riêng.
Về mặt giáo dục việc sử dụng di tích lịch sử trong dạy học lịch sử ởTHPT có những ý nghĩa cơ bản như sau:
- Sử dụng di tích lịch sử ngoài việc cung cấp kiến thức còn góp phầngiáo dục cho học sinh đức tính chân thiện, mỹ Trong hệ thống di tích, đền,chùa, đình, lăng tẩm, miếu… có vai trò rất quan trọng trong đời sống cộngđồng, nhất là khi tổ chức các lễ hội, các ngày lễ, kỷ niệm…Học sinh đến đâytham quan, học tập ở các di tích lịch sử được bồi dưỡng tinh thần đoàn kết,tính cộng đồng, tương thân tương ái, giáo dục tinh thần yêu nước…Như vậy,
ta có thể thấy rằng việc sử dụng di tích lịch sử địa phương trong dạy học lịch
sử góp phần không nhỏ vào việc giáo dục cho cho học sinh những phẩm chấtđức tính tốt đẹp nhất biết, nhớ về cuội nguồn, tôn tạo những thuần phong mỹtục của cha ông
Bên cạch đó, việc sử dụng di tích vào dạy học, giúp các em thấy đượccái đẹp của cảnh vật, của thiên nhiên để các em biết, yêu và trân trọng gìn giữ,bảo vệ cảnh quan môi trường
- Sử dụng di tích trong dạy học lịch sử nó còn có ý nghĩa rất lớn trong
giáo dục tinh thần yêu nước Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Dân tộc ta có
một lòng nồng nàn yêu nước Đó là truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn,
nó nhấn chìm tất cả bè lũ bán nước và lũ cướp nước” [28; tr.65].
Di tích lịch sử chính là nơi mà được trưng bày khá cụ thể, sinh động vàtoàn diện và đầy đủ về các sự kiện, nhân vật của lịch sử trong quá khứ, thểhiện quá trình đấu tranh dựng nước giữ nước hào hùng và rất đáng tự hàocủa dân tộc ta Chính vì vậy, di tích có ưu thế trong việc giáo dục lòng yêunước cho học sinh
Trang 26- Ngoài ra việc sử dụng di tích lịch sử trong dạy học lịch sử ở trườngTHPT còn có ý nghĩa giáo dục lòng biết ơn, kính trọng, các thế hệ cha anh
đã hi sinh xương máu vì tổ quốc Là thế hệ trẻ, nhất là các thế hệ học sinhphải luôn luôn được giáo dục tinh thần “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ
kẻ trồng cây” Đây chính là truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc ta có từ
xa xưa Để phát huy truyền thống ấy, chúng ta cần đưa và sử dụng di tíchlịch sử địa phương trong dạy học lịch sử có ý nghĩa rất lớn trong giáo dụccho thế hệ trẻ truyền thống tốt đẹp đó, như thường xuyên tố chức các hoạtđộng như tham quan các di tích lịch sử ở địa phương, lao động công ích ởcác nghĩa trang, đài tượng niệm các chiến sỹ cách mạng, thăm các mẹ ViệtNam anh hùng…
- Việc sử dụng di tích lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử nóichung, dạy học lịch sử ở trường THPT nói riêng cũng có tác dụng không nhỏđối với việc hình thành tư tưởng, đạo đức và phát triển nhân cách học sinh
Đó là những di tích phản ánh những sự kiện, nhân vật lớn của lịch sử dân tộc
có liên quan và xảy ra tại địa phương, có ý nghĩa đối với lịch sử địa phương
Tá cả, đều làm cho học sinh có lòng tự hào, thêm yêu quý về truyền thống anhdũng đã hy sinh vì nước, vì dân vì độc lập của tổ quốc Ví dụ: Thời kỳ chiếntranh phá hoại của giặc Mỹ, Ngã ba Nghèn có vị trí đặc biệt quan trọng, nằmtrên quốc lộ IA cách cầu Nghèn khoảng 300m Địch đã ném 16.909 quả bomcác loại, bắn hàng ngàn quả đạn pháo, tên lửa xuống khu vực này Các đơn vịphòng không của dân quân tự vệ và bộ đội địa phương đã chiến đấu dũng cảm
hạ 3 máy bay địch Các đội rà phá bom từ trường, bom nổ chậm, lái phà cảm
tử ngày đêm hoạt động không quản hiểm nguy
Hiện nay các di tích tại ngã ba Nghèn và hiện vật liên quan đến di tíchcòn được bảo vệ như hai mố cầu nơi các chiến sĩ Xô Viết bị bắn, dấu vết củahuyện đường, đồn địch còn chân móng bến phà trong thời kỳ chống Mỹ cứu
Trang 27nước kèn báo động và súng các loại Đảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh đã xâydựng khu di tích lịch sử Ngã ba Nghèn bao gồm có đài tưởng niệm và biakhắc tên các liệt sĩ đã hy sinh trong thời kỳ 1930-1931.
- Khi học lịch sử dân tộc đến giai đoạn từ 1945 đến 1975 Cho học sinhđến thăm di tích lịch sử làng K130
Làng K130 thuộc làng Hạ Lôi xã Tiến Lộc huyện Can Lộc Trong cuộckháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc ta chống đế quốc Mỹ, biết bao tên đấttên làng đã ghi dấu những sự kiện lịch sử Cùng với bao làng quê khác củaViệt Nam, làng K130 xã Tiến Lộc đã đi vào lịch sử của dân tộc trong cuộcchiến tranh chống Mỹ như một mốc son chói lọi của bản anh hùng ca, của chủnghĩa anh hùng cách mạng, của lòng quyết tâm quả cảm, của sự hy sinh cao
cả và cả sức mạnh vĩ đại của thế trận lòng dân, để viết nên những trang sửvàng chói lọi của dân tộc ta trong những năm cuối thế kỷ XX Cùng với Ngã
ba Đồng Lộc, làng K130 trong chiến tranh chống Mỹ là sự kiện lịch sử điểnhình của tinh thần đoàn kết toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân nhằm giữvững mạch máu giao thông thông suốt trong cuộc kháng chiến trường kỳ củadân tộc
Ngày 13/8/1968, nhân dân làng Hạ Lôi được sự giúp đỡ của lực lượngdân quân và nhân dân trong xã đã tự nguyện dời dọn nhà cửa của mình để mởđường xế cho thông xe đưa hàng vào chiến trường miền Nam Với khẩu hiệu
“Xe chưa qua nhà không tiếc”, chỉ trong vòng chưa đầy 8 tiếng đồng hồ đã có
130 ngôi nhà của nhân dân làng Hạ Lôi được dời dọn để mở đường tránh chođoàn xe 130 chiếc chở xăng dầu, lương thực và đạn dược vận chuyển vàoNam thắng lợi Để ghi nhớ sự kiện lịch sử ngày 13 tháng 8 năm 1968, có 130ngôi nhà của nhân dân dời dọn để làm đường tránh cho 130 xe chở hàng ratiền tuyến, Ban đảm bảo giao thông của tỉnh Hà Tĩnh đã đặt tên làng Hạ Lôi
là làng K130 và chiến dịch vận chuyển này là chiến dịch K130 Cái tên làng
Trang 28K130 đã đi vào lịch sử như một mốc son chói lọi của bản anh hùng ca về cuộcchiến tranh nhân dân đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược.
Trải qua thời gian, ngôi làng K130 bị chiến tranh tàn phá và sự tựnguyện hy sinh của nhân dân năm xưa giờ đây đã đổi thay to lớn, những hốbom trở thành hồ thả cá của nhân dân, những ngôi nhà ngói đỏ thay thếnhững ngôi nhà buộc phải tháo dỡ năm xưa Nhưng sự kiện lịch sử ngày13/8/1968 với cái tên làng K130 thì nhân dân địa phương không bao gìơquên, với các địa danh lịch sử: Con đường xế, bến phà, Thượng Gia - CổNgựa, cầu Già [46]
- Ngoài ra sử dụng di tích lịch sử trong dạy học lịch sử còn có ý nghĩabồi dưỡng tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ, ý thức bảo vệ, trân trọng các di tíchlịch sử Hiện nay, chúng ta thấy rằng việc các di tích lịch sử xuống cấpnghiêm trọng đòi hỏi các cấp, nghành, chúng ta phải có trách nhiệm bảo vệ,gìn giữ những di sản quý của quốc gia dân tộc
1.1.3.3 Di tích lịch sử với việc rèn luyện kỹ năng cho học sinh
Việc đổi mới giáo dục phổ thông nói chung, dạy học lịch sử nói riêngđược tiến hành trên tất cả các mặt: mục tiêu, nội dung, phương pháp, đánh giákiểm tra đánh giá, phương tiện, tổ chức…Công việc không phải là đơn giản,đòi hỏi một “cuộc cách mạng thực sự” nhất là hiện nay xã hội rất quan tâmđến tình hình giảm sút chất lượng dạy học Lịch sử và dóng lên hồi chuôngbáo động Điều này rất đúng và cấp thiết, vì nếu nhân dân và thế hệ trẻ khôngbiết lịch sử dân tộc, lịch sử thế giới sẽ rất nguy hiểm, khi ngày nay CNHHĐHhội nhập khu vực và thế giới và vẫn gìn giữ bản sắc, truyền thống dân tộc làđiều hết sức cần thiết Chính vì điều đó việc đổi mới, nâng cao chất lượng dạyhọc sinh sử đang được cả xã hội, Đảng, các cấp quan tâm Trong Nghị quyếtHội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 2
(khóa VIII) tháng 12 năm 1996, nhấn mạnh: “Đổi mới mạnh mẻ phương pháp
Trang 29giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy, sáng tạo của người họ Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy học” [6.; tr.43] Các nhà lý luận dạy học, các nhà
sư phạm đều khẳng định phương pháp dạy học tiên tiến hiện nay là phươngpháp dạy học theo hướng tối ưu hoạt động nhận thức, phát huy tính độc lập,
suy nghĩ tư duy, thông minh của học sinh “Dạy học lịch sử hiệu quả và chất
lượng phải hiểu theo nghĩa là phát triển đầy đủ và tối ưu năng lực nhận thức
và tư duy học sinh, nếu không sẽ dẫn đến sự tách rời giữ năng lực nhận thức nhận thức của các em và khối lượng củng như sự phức tạp ngày một tăng lên của kiến thức” [40.; tr.26] Như vậy, cơ sở để phát triển năng lực nhận thức
và tư duy của học sinh thì việc sử dụng di tích lịch sử vào dạy học lá nguồn sửliệu vật chất quý hiếm, cung cấp nhiều kiến thức lịch sử cụ thể, chính xác Vìvậy, khi đến học tập, tham quan các di tích lịch sử có liên quan với lịch sửdân tộc, học sinh đã thực sự “làm việc” với nguồn sử liệu Các em phải giảiquyết nhiều vấn đề, huy động các kỹ năng, vận dụng nhiều kiến thức có liênquan đến các sự kiện, nhân vật lịch sử khi tham quan tại các di tích lịch sửgắn liền với lịch sử dân tộc
Sử dụng di tích lịch sử trong dạy học là điều kiện để nâng cao trí thứclịch sử toàn diện cho học sinh nói chung và học sinh THPT nói riêng Các emkhông chỉ được cung cấp tri thức lịch sử ở thầy cô, sách giáo khoa, và ngoài
xã hội, ở các nhân vật, nhân chứng lịch sử, ở mỗi di tích Vì vậy, không chỉ ởgiáo viên dạy Sử, nhà trường mà môi trường xung quanh ở ngoài xã hội nhưgia đình, bạn bè, cán bộ quản lý, hướng dẫn viên di tích lịch sử, các bậc phụhuynh…củng phải có trách nhiệm cung cấp, bồi dưỡng tri thức lịch sử chohọc sinh Tát cả sẽ tạo ra một môi trường giáo dục tốt để học sinh biết, hiểu
và yêu môn học lịch sử
Tóm lại, do điều kiện cơ sở vật chất còn nghèo nàn, phương tiện dạyhọc còn thiếu thốn, phương pháp dạy học còn chậm đổi mới nhất là ở các
Trang 30vùng sâu, vùng xa, vùng núi như hiện nay, việc sử dụng di tích lịch sử địaphương trong dạy học lịch sử, trước hết là lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương
ở trưởng THPT là phương pháp, giải pháp tích cực để góp phần khắc phụcnhững hạn chế trong dạy học lịch sử hiện nay theo hướng phát huy tính tíchcực, chủ động, sáng tạo, tư duy, suy nghĩa độc lập, sáng tạo, nó tạo cơ hội chongười học, tức là trung tâm, phát huy được trí tuệ, tư duy và óc thông minh
1.2 Thực trạng việc sử dụng di tích trong dạy học lịch sử ở trường THPT Hà Tĩnh hiện nay
Để có được những nhận xét khách quan, khoa học, thực tiễn việc sửdụng di tích lịch sử địa phương, nhất là sử dụng di tích lịch sử trong dạy họcLSDT giai đoạn 1919 - 2000 ở trường THPT Hà Tĩnh, chúng tôi tiến hànhđiều tra, khảo sát việc dạy và học ở một số trường trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh:THPT Trần Phú, THPT Lê Hữu Trác 1 Đối tượng khảo sát là các giáo viên
bộ môn lịch sử và học sinh lớp 12
- Đối với giáo viên: Chúng tôi xây dựng 10 câu hỏi trắc nghiệm khách
quan, nhằm khảo sát ý kiến của giáo viên theo những nội dung sau: (xem Phụlục 2)
+ Nội dung thứ nhất, tìm hiểu ý kiến của GV phổ thông về việc nên haykhông nên sử dụng di tích lịch sử trong dạy học LSVN
+ Nội dung thứ hai, những quan niệm của giáo viên về di tích và việc
sử dụng di tích trong dạy học LSVN ở trường phổ thông
+ Nội dung thứ ba, tìm hiểu tình hình sử dụng di tích trong dạy họcLSVN ở THPT
+ Nội dung thứ tư, kết quả của việc sử dụng di tích LSĐP trong dạyhọc LSVN, những khó khăn thường gặp và những điều kiện cần thiết để việc
sử dụng di tích trong dạy học LSVN
+ Nội dung thứ năm, đề xuất của GV về việc sử dụng di tích trong dạyhọc LSVN
Trang 31Dựa trên kết quả điều tra GV (xem phụ lục1, mẫu 1b) (thông qua 49phiếu điều tra), qua xử lý, chúng tôi nhận thấy:
Ở nội dung thứ nhất, có tới 81,63% GV (40/49 phiếu) cho rằng việc sửdụng di tích LSĐP trong dạy học LSVN là rất cần thiết, 18,37% (9/49 phiếu)cho rằng cần thiết Đa số GV cho biết, di tích LSĐP nếu được sử dụng tốttrong dạy học LSVN sẽ góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục
Ở nội dung thứ hai, qua khảo sát và thống kê số liệu, chúng tôi nhậnthấy có tới 28% (14/49 phiếu) chưa nhận thức đầy đủ về việc sử dụng di tíchtrong dạy học lịch sử dân tộc Tuy nhiên vẫn có tới 70% (35/49 phiếu) GVchọn phương án việc sử dụng di tích trong dạy học lịch sử dân tộc cần phải
có đầy đủ các loại tài liệu gồm tài liệu thành văn, tài liệu hiện vật, tài liệu dântộc học, tài liệu ngôn ngữ học, tài liệu truyền miệng Có 96% (48/49 phiếu)
GV đã nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng di tích trong dạy họcLSDT Phần lớn GV cho rằng sử dụng di tích trong dạy học LSVN sẽ gópphần làm sinh động, phong phú bài giảng, tạo được sự hấp dẫn, thu hút được
HS vào nội dung bài giảng; giúp các em hiểu bản chất các sự kiện LSVNcũng như hiểu mối dây liên hệ bản chất giữa DTLSĐP với LSDT; góp phầnphát triển tư duy, năng lực nhận thức độc lập, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm,đạo đức cho các em
Ở nội dung thứ ba, 93,9% (46/49 phiếu) GV được hỏi đã cho biếtkhông thường xuyên sử dụng di tích trong dạy học LSVN mà chỉ trả lời có sử
dụng “một vài lần” trong giờ lịch sử nội khóa chứ chưa xem đây là việc làm
thường xuyên, cá biệt có một vài GV chưa sử dụng lần nào
Về hình thức, GV sử dụng DTLSĐP chủ yếu chỉ nhằm để minh họacho kiến thức LSDT trong SGK dưới các hình thức thông báo Nên khi chúng
tôi đưa ra câu hỏi “Theo Thầy (Cô) nên sử dụng di tích lịch sử địa phương
Hà Tĩnh trong dạy học lịch sử dân tộc giai đoạn 1919 - 2000 với những hình thức dạy học nào dưới đây” thì phần lớn GV đều trả lời để nhằm “Minh họa
Trang 32cho bài học LSDT” GV chưa xem việc sử dụng di tích lịch sử trong dạy học
lịch sử dân tộc là nguồn nhận thức, ít chú ý sử dụng nguồn tài liệu nói trêntrong phân tích, giải thích, dùng để đặt câu hỏi nêu vấn đề, tổ chức thảo luận,chưa chú ý đến việc phát huy tính tích cực nhận thức cho HS trong quá trìnhdạy học Rõ ràng giữa nhận thức và thực tế giảng dạy chưa có sự đồng nhất.Đây là một trong những nguyên nhân khiến HS ít hứng thú đối với việc họcLSDT và khó tránh khỏi những lệch lạc trong nhận thức Điều đó phần nàonói lên thực tiễn của việc sử dụng di tích trong dạy học LSDT ở trường THPTtỉnh Hà Tĩnh hiện nay
Về vấn đề thứ tư, chúng tôi thông qua câu hỏi điều tra để tìm hiểunhững khó khăn thường gặp và những điều kiện cần thiết để việc sử dụngDTLSĐP được thuận lợi trong dạy học LSVN
Về khó khăn, đa số GV được hỏi đều cho rằng khó khăn lớn nhất làthiếu nguồn kinh phí, tài liệu hướng dẫn cần thiết để có thể vận dụng trongdạy học Khi trao đổi trực tiếp, hầu hết giáo viên cho rằng hệ thống tài liệu ditích dùng cho bậc THPT Hà Tĩnh không nhiều, Vì vậy khi chúng tôi đưa racâu hỏi cần thiết để việc sử dụng di tích trong dạy học LSVN thì hầu hết các
GV đều cho rằng thời gian tiết học có hạn, khó tổ chức, khó tổ chức cho HShọc tập tại di tích, mặt khác rất tốn thời gian, đòi hỏi, phương tiện, kinh phíMặt khác, một số giáo viên cũng cho rằng thời gian tiết học có hạn, khó tổchức cho HS học tập tại di tích, mặt khác nó rất tốn thời gian, đòi hỏi phươngtiện, kinh phí…
Về hiệu quả của việc sử dụng di tích trong dạy học LSDT, ý kiến chưathống nhất trong GV Một số cho rằng, trong việc đổi mới phương pháp dạyhọc hiện nay, việc đưa DTLSĐP vào dạy học LSDT là không đúng với tinhthần đổi mới, vì sẽ gây tình trạng quá tải, khó phát huy tính tích cực nhận thứccho HS Tuy nhiên, đa số GV đều nhận thức đúng về việc sử dụng DTLSĐPnói chung và nhất là sử dụng di tích lịch sử nói riêng trong dạy học lịch sử,
Trang 33góp phần nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn Họ hiểu rằng trong khuônkhổ thời gian một tiết học việc sử dụng di tích muốn đạt hiệu quả cần phải sửdụng hợp lý, linh hoạt đa dạng các hình thức, phương pháp dạy học.
Về vấn đề thứ năm, đa số GV đều nhận thấy được tầm quan trọng và ýnghĩa của việc sử dụng di tich lịch sử địa phương Hà Tĩnh trong dạy họcLSVN Vì vậy, đa số giáo viên có đề xuất tương đối giống nhau, đó là cầnbiên soạn tài liệu hướng dẫn sử dụng di tích phù hợp với nội dung, chươngtrình sách giáo khoa mới cần có sự thống nhất chỉ đạo của các cấp để việc sửdụng di tích LSĐP trong dạy học LSDT được xem là việc làm thường xuyên,góp phần thực hiện mục tiêu gắn nhà trường với xã hội
- Đối với học sinh: Chúng tôi đưa ra 10 câu hỏi tập trung vào ba nội
dung chính: (xem phụ lục 1)
+ Điều tra mức độ hứng thú học tập đối với bộ môn Lịch sử của họcsinh, mức độ sử dụng DTLSĐP và những hình thức, phương pháp sử dụng ditích LSĐP trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 - 2000
+ Điều tra, hiểu biết của học sinh về các di tích lịch sử ở nơi mình họctập và các di tích lịch sử trong tỉnh Hà Tĩnh
+ Điều tra để tìm hiểu về sự cần thiết của việc sử dụng di tích lịch sửtrong dạy học
Qua xử lý hệ thống phiếu điều tra (xem phụ lục 1, mẫu 1/HS) (với 300phiếu ở 2 trường THPT trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh), chúng tôi nhận thấy:
Với nội dung thứ nhất, có tới 86,7% (với 260/ 300 phiếu) HS khi được
hỏi các “Em có thích được tham quan, học tập tại các di tích lịch sử”, đều có chung câu trả lời “rất thích” Qua thực tế trao đổi với các em học sinh thì đa
số các em nói rằng nếu được tham quan, học tập thực địa tại các khu di tích
lịch sử thì các em rất hào hứng Cá biệt một số HS còn trả lời “không thích”.
Về vấn đề này chúng tôi đã trao đổi với một số GV ở THPT để tìm hiểu vàđược biết, do xu thế chung đa số phụ huynh không muốn con em mình theo
Trang 34học các ngành khoa học xã hội, họ chủ yếu đầu tư cho các em theo học cácngành khoa học tự nhiên, hoặc là khối chuyên ngoại ngữ nên việc các em chú
ý đầu tư cho việc học bộ môn Lịch sử là rất ít Cũng không ít trường hợp, các
em không có khả năng học được các môn khoa học tự nhiên, nên mới tậptrung cho các môn khoa học xã hội Tuy nhiên, với câu hỏi theo các em
“Trong học tập các bài LSVN có cần thiết phải sử dụng di tích không?” thì
đa số các em đều trả lời “cần thiết”, và một số em trả lời “không cần thiết”.
Lý giải vì sao các em không thích học LSDT khi GV có sử dụng di tích, đa sốcác em đều trả lời do nội dung tài liệu học tập không phong phú, cách giảngcủa GV còn nặng tính minh họa, nội dung tài liệu di tích LSĐP đưa vào bàigiảng còn dài, làm nặng nề, không hấp dẫn được các em Tuy nhiên, với câu
hỏi theo các em “Trong học tập các bài LSVN có cần thiết phải liên hệ với di
tích LSĐP không?” thì đa số các em đều trả lời “cần thiết”, Mặt khác, bằng
những câu hỏi điều tra về việc giáo viên có thường xuyên liên hệ với các kiếnthức về di tích lịch sử khi dạy học LSDT? thì có tới 86,66% (260/300 phiếu)
HS trả lời là “một vài lần”, có 11,7% (35/300 phiếu) HS trả lời “chưa lần
nào” và có vài em trả lời là “thường xuyên” Đặc biệt khi chúng tôi đưa ra
câu hỏi “Giáo viên có thường xuyên yêu cầu các em tìm hiểu di tích lịch sử
hay không?” Với câu hỏi này, đa số HS đều trả lời là “không thường xuyên”.
Như vậy, chúng tôi nhận thấy, phần đông GV giảng dạy lịch sử hiện nay ởphổ thông ít nhiều đã nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng di tíchLSĐP trong dạy học LSDT, nhưng chưa xem đây là việc làm thường xuyên,chưa hướng dẫn một cách đầy đủ để các em tiếp cận các di tích lịch sử trongdạy học lịch sử dân tộc
Bằng phương pháp điều tra cơ bản chúng tôi đã đưa ra câu hỏi kiểm tracác em về hình thức sử dụng và tìm hiểu di tích lịch sử nhằm nâng cao hiệuquả bài học Với câu hỏi này có tới 250/300 HS (chiếm 83,3% phiếu) nhậnthức được việc sử dụng di tích LSĐP dưới hình thức nhằm minh họa bổ sung
Trang 35cho các sự kiện LSDT, 16/300 HS (chiếm 5,3% phiếu) trả lời để kể chuyện,hoặc nói chuyện lịch sử, 14/300 HS (chiếm 4,7% phiếu) trả lời để tổ chức dạhội, tổ chức trò chơi lịch sử, 20/300(6,6%) HS để tự học ở nhà, và số phiếucòn lại trả lời sử dụng di tích lịch sử bằng hình thức tham quan các di tích lịch
sử văn hóa, bảo tàng, nhà truyền thống Nhìn chung các em đã nhận thứcđược tầm quan trọng của việc sử dụng di tích LSĐP dưới nhiều hình thứckhác nhau để nhằm nâng cao hiệu quả bài học LSDT
1.3 Một vài nhận xét
Từ thực tế điều tra, qua xử lý số liệu, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
- Về phía giáo viên:
+ Sử dụng di tích lịch sử trong dạy học LSDT là cần thiết nhằm làmsinh động, phong phú bài giảng, tạo được sự hấp dẫn, thu hút được sự hứngthú học tập; giúp các em hiểu bản chất các sự kiện LSDT, thấy được mối liên
hệ gắn bó giữa di tích lịch sử với LSDT; sử dụng tốt việc sử dụng di tích lịch
sử trong dạy học lịch sử dân tộc cũng có tác dụng phát triển tư duy, năng lựcnhận thức độc lập cho các em, góp phần to lớn trong việc bồi dưỡng tư tưởng,tình cảm, tinh yêu quê hương, biết trân trọng những giá trị truyền thống củacha ông trong quá khứ
+ Tuy GV có sử dụng di tích LSĐP trong dạy học LSDT nhưng chưathường xuyên, còn lúng túng trong việc sưu tầm, lựa chọn, sử dụng tronggiảng dạy Nếu có sử dụng, GV chỉ thực hiện trong giờ nội khóa và chỉ dừng
ở mức độ minh họa chứ chưa xem đó là nguồn nhận thức làm cho bài giảngthêm nặng nề, thiếu tính hấp dẫn, đôi khi còn làm loãng trọng tâm bài học.Mặt khác, đa số GV cũng chưa chú trọng đầu tư thời gian, công sức cho việcsưu tầm, lựa chọn, chưa chú ý việc hướng dẫn HS làm việc với nguồn tài liệu
di tích LSĐP, phục vụ cho dạy học LSDT một cách có hiệu quả
Trang 36+ Tài liệu tham khảo dùng cho việc dạy học lịch sử nói chung, dạy họcLSVN nói riêng còn thiếu, một số GV còn cho rằng sử dụng di tích LSĐPtrong dạy học LSDT không phải là điều bắt buộc nên đôi khi chỉ dừng ở việc
sử dụng SGK, sách hướng dẫn GV Mặt khác, do nhận thức chưa đầy đủ vềviệc đổi mới phương pháp dạy học ở THPT, nhiều GV cho rằng sử dụng di tíchlịch sử địa phương trong tiết LSDT là không phù hợp, chỉ nên sử dụng trongcác tiết LSĐP Thời gian chủ yếu của tiết học chỉ nên dành cho việc tổ chứccác hoạt động nhận thức cho HS thông qua việc phát vấn giữa thầy và trò
- Về phía học sinh:
+ Đa số HS chưa thực sự hứng thú với việc học tập bộ môn lịch sử,điều này do nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan Việc đưa và sửdụng di tích LSĐP của GV trong dạy học LSDT còn sơ sài, chiếu lệ, thiếu hấpdẫn, tài liệu học tập ít, các em không có điều kiện tiếp cận, thực tế tham quan
và học tập tại các di tích lịch sử còn rất nhiều hạn chế
+ Việc học ở nhà, HS chỉ thuộc lòng những điều đã được thầy cho ghichép ở trên lớp, ít được GV hướng dẫn sưu tầm, tìm hiểu di tích lịch sử đạphương thông qua hệ thống bài tập, các hoạt động ngoại khóa nên hiểu biếtcủa em về DTLSĐP còn hạn chế Do đó, HS ít nhớ và có biểu tượng đầy đủ
về các nhân vật, sự kiện di tích lịch sử địa phương có liên quan đến LSDT vàtất yếu là HS thiếu sự hứng thú động cơ, thái độ học tập lịch sử một cáchđúng đắn
Từ thực tế cho chúng ta thấy, việc sử dụng di tích LSĐP là rất cần thiếttrong dạy học LSDT Vì vậy, chúng ta cần có kế hoạch triển khai đồng bộ,phải có nguồn kinh phí hỗ trợ, củng như có sự quan tâm của các cấp, ngành,phải xác định được những nguyên tắc và phương pháp thích hợp, khoa học, để
sử dụng tốt di tích LSĐP Hà Tĩnh vào bài giảng LSDT ở các trường THPTtrên địa bàn tỉnh
Trang 37Chương 2 MỘT SỐ DI TÍCH LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG SỬ DỤNG
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1919 ĐẾN 2000 (LỚP 12 THPT - CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) Ở HÀ TĨNH
2.1 Mục tiêu và nội dung kiến thức cơ bản của khoá trình Lịch sử Việt Nam từ 1919 đến 2000 (lớp 12 THPT - chương trình Chuẩn)
2.1.1 Mục tiêu
2.1.1.1 Về kiến thức
- Giúp học sinh hiểu sâu hơn về quá trình phát triển của lịch sử dân tộc
từ năm 1919 đến năm 2000 trên cơ sở nắm được những sự kiện nổi bật, nhữngchuyển biến chính của mỗi thời kỳ lịch sử, những mối quan hệ của lịch sử dântộc với tiến trình phát triển của lịch sử loài người
- Hiểu biết một số nội dung cơ bản, cần thiết trong nhận thức xã hộinhư: vai trò của quần chúng nhân dân, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyếtđịnh mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, nguyên nhân và động lực tạo racác chuyển biến trong lịch sử, quy luật vận động của lịch sử
2.1.1.2 Kỹ năng
- Hình thành các kỹ năng trong học tập bộ môn như: Xem xét các sựkiện lịch sử trong các quan hệ không gian và thời gian (đồng đại, lịch đại); Kỹnăng làm việc với sách giáo khoa, các nguồn sử liệu và các phương tiện trựcquan; Kỹ năng phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát, vận dụng đánh giá các
sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử
- Bồi dưỡng năng lực phát hiện, đề xuất và giải quyết các vấn đề lịch sử(điều tra, thu thập, xử lý thông tin, biết viết báo cáo ngắn và thông báo, trìnhbày kết quả)
- Tiếp tục rèn luyện năng lực tự học, tự làm giàu tri thức lịch sử qua cácnguồn khác nhau
Trang 38- Tự kiểm tra, tự đánh giá.
2.1.1.3 Tư tưởng, tình cảm, thái độ
- Có lòng yêu quê hương đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lòng
tự hào dân tộc, trân trọng những thành quả của cách mạng Việt Nam, lòngbiết ơn lãnh tụ và các chiến sĩ cách mạng
- Hình thành những phẩm chất cần thiết của người công dân như: cóthái độ tích cực vì xã hội, tinh thần trách nhiệm đối với cộng đồng, yêu laođộng, ham thích và sẵn sàng đi vào khoa học - kỹ thuật, sống nhân ái, có kỷluật, tôn trọng và làm theo pháp luật
2.1.2 Nội dung cơ bản của Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 - 2000 (lớp 12 THPT - chương trình Chuẩn)
Kiến thức cơ bản của khoá trình “Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đếnnăm 2000” (Lớp 12 - chương trình Chuẩn) được trình bày trong 5 chương, 16bài Nội dung kiến thức cơ bản của các chương là:
Chương 1: “Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1930”giúp học sinh nắm được:
- Những nét chủ yếu về chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai củathực dân Pháp Sự chuyển biến về kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam dưới ảnhhưởng của công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Nét mới trongphong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1925 Nội dung
và ý nghĩa những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1919 đến 1925
- Sự ra đời và hoạt động của ba tổ chức cách mạng: Hội Việt Nam cáchmạng thanh niên, Tân Việt cách mạng đảng, Việt Nam Quốc dân đảng Hoàncảnh, nội dung, ý nghĩa của Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Nộidung Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng Hiểu được vai trò củaNguyễn Ái Quốc đối với quá trình vận động chuẩn bị thành lập Đảng
Chương 2: “Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945”cung cấp cho học
sinh những kiến thức cơ bản là:
Trang 39- Hoàn cảnh, diễn biến, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm củaphong trào cách mạng 1930 - 1931 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh, phongtrào dân chủ 1936 - 1939.
- Sự chuyển hướng đấu tranh của Đảng thể hiện trong Nghị quyết cácHội nghị Trung ương lần thứ 6 và lần thứ 8 Nguyên nhân, diễn biến, ý nghĩalịch sử của khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ và binh biến Đô Lương Công cuộcchuẩn bị khởi nghĩa của Đảng sau Hội nghị Trung ương lần thứ 8
- Hoàn cảnh lịch sử, diễn biến, ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợicủa Cách mạng tháng Tám 1945
Chương 3: “Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954” bao gồm những
kiến thức cơ bản sau:
- Những thành tựu của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chínhphủ trong việc giải quyết khó khăn, xây dựng và bảo vệ chính quyền cáchmạng sau Cách mạng tháng Tám 1945 Chủ trương, sách lược của Đảng,Chính phủ ta đối với Tưởng và Pháp
- Những thắng lợi tiêu biểu của quân và dân ta trên các mặt trận quân
sự, chính trị - ngoại giao, kinh tế - tài chính từ ngày kháng chiến toàn quốcbùng nổ đến trước đông xuân 1953 - 1954
- Diễn biến cuộc Tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 Diễnbiến, kết quả, ý nghĩa của chiến thắng Điện Biên Phủ
- Nội dung cơ bản và ý nghĩa lịch sử của Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 vềĐông Dương
- Ý nghĩa lịch sử và nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chốngPháp (1945 - 1954)
Chương 3: “Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954” trình bày những
kiến thức cơ bản sau:
- Những thành tựu của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chínhphủ trong việc giải quyết khó khăn, xây dựng và bảo vệ chính quyền cách
Trang 40mạng sau Cách mạng tháng Tám 1945 Chủ trương, sách lược của Đảng,Chính phủ ta đối với Tưởng và Pháp.
- Những thắng lợi tiêu biểu của quân và dân ta trên các mặt trận quân
sự, chính trị - ngoại giao, kinh tế - tài chính từ ngày kháng chiến toàn quốcbùng nổ đến trước đông xuân 1953 - 1954
- Diễn biến cuộc Tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 Diễnbiến, kết quả, ý nghĩa của chiến thắng Điện Biên Phủ
- Nội dung cơ bản và ý nghĩa lịch sử của Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 vềĐông Dương
- Ý nghĩa lịch sử và nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chốngPháp (1945 - 1954)
Chương 4: “Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975” giúp học sinh có
được những kiến thức quan trọng sau đây:
- Tình hình nước ta sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 Những thành tựuchủ yếu của cách mạng miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1965 Phong trào đấutranh của nhân dân miền Nam chống chế độ Mĩ - Diệm từ 1954 đến 1958.Hoàn cảnh lịch sử, diễn biến, kết quả, ý nghĩa của phong trào “Đồng khởi”.Thắng lợi của quân và dân miền Nam trong cuộc chiến đấu chống “Chiếntranh đặc biệt” của đế quốc Mĩ (1961 - 1965)
- Thắng lợi của quân và dân miền Nam trong cuộc chiến đấu chống
“Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mĩ Hoàn cảnh lịch sử, diễn biến, kết quả
và ý nghĩa của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) Thắnglợi của quân và dân miền Bắc trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh pháhoại của Mĩ từ năm 1965 đến năm 1968
- Thắng lợi của ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia trên các mặt trậnquân sự, chính trị, ngoại giao chống chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”
và “Đông Dương hoá chiến tranh” của đế quốc Mĩ (1969 - 1973) Miền Bắc