1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng đa phương tiện trong dạy học hình học không gian theo hướng bồi dưỡng hứng thú nhận thức của học sinh luận văn thạc sỹ giáo dục học

136 1,1K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử dụng đa phương tiện trong dạy học hình học không gian theo hướng bồi dưỡng hứng thú nhận thức của học sinh
Tác giả Ngô Quang Giang
Người hướng dẫn TS. Trần Trung
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận và PPDH bộ môn Toán
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 4,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHNGÔ QUANG GIANG SỬ DỤNG ĐA PHƯƠNG TIỆN TRONG DẠY HỌC HÌNH HỌC KHÔNG GIAN THEO HƯỚNG BỒI DƯỠNG HỨNG THÚ NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC VINH, 20

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGÔ QUANG GIANG

SỬ DỤNG ĐA PHƯƠNG TIỆN

TRONG DẠY HỌC HÌNH HỌC KHÔNG GIAN THEO HƯỚNG BỒI DƯỠNG HỨNG THÚ

NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

VINH, 2011

Trang 2

NGÔ QUANG GIANG

SỬ DỤNG ĐA PHƯƠNG TIỆN TRONG DẠY HỌC HÌNH HỌC KHÔNG GIAN THEO HƯỚNG BỒI DƯỠNG HỨNG THÚ NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn Toán

Mã số: 60.14.10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN TRUNG

VINH, 2011

Trang 4

Sau thời gian học tập và nghiên cứu tại trường Đại Học Vinh, đến nay em đã hoàn thành Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành l‎í luận và phương í l‎í luận và phương uận và phương pháp dạy học bộ môn Toán.

Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Vinh, khoa Sau Đại học, Khoa Toán đã tạo điều kiện tốt nhất cho khóa học Em xin cảm ơn các nhà giáo, các nhà khoa học đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ

em suốt quá trình học tập, nghiên cứu vừa qua Đặc biệt, em xin cảm ơn

TS Trần Trung đã trực tiếp giúp đỡ, hướng dẫn để hoàn thành Luận văn

này.

Tôi xin cảm ơn các bạn đồng nghiệp trường THPT Tĩnh gia 5,

trường THPT Tĩnh gia 1 huyện Tĩnh gia - Thanh Hóa, các bạn học viên l‎í luận và phương ớp Cao học K17 chuyên ngành l‎í luận và phương í l‎í luận và phương uận và phương pháp dạy học toán đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như để hoàn thành Luận văn.

Mặc dù đã rất cố gắng nhưng Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Kính mong các thầy giáo cô giáo các đồng nghiệp góp

ý để kết quả nghiên cứu tiếp theo được hoàn thiện hơn.

Thanh Hóa, ngày 15 tháng 11 năm 2011

Tác giả

Ngô Quang Giang

Trang 5

MỞ ĐẦU

1.2.1 Hứng thú học tập và hứng thú nhận thức 71.2.2 Các biểu hiện của hứng thú nhận thức 8

1.3.1 Dạy học - quá trình truyền thông đa phương tiện 111.3.2 Vai trò của các giác quan trong quá trình truyền thông 161.3.3 Vai trò và chức năng của đa phương tiện trong quá trình dạy học 181.3.4 Phân loại đa phương tiện trong quá trình dạy học 26

1.4 Sử dụng đa phương tiện trong dạy học môn Toán 28

1.4.1 Yêu cầu đối với đa phương tiện trong dạy học môn Toán 281.4.2 Nguyên tắc sử dụng đa phương tiện trong dạy học môn Toán ở

1.5 Thực trạng việc sử dụng đa phương tiện trong giảng dạy hình

1.5.1 Kết quả điều tra tình hình trang bị và sử dụng phương tiện

1.5.2.Kết quả điều tra tình hình ứng dụng công nghệ thông tin

trong dạy học

38

Trang 6

Kết luận chương 1 42

Chương 2 SỬ DỤNG ĐA PHƯƠNG TIỆN TRONG DẠY HỌC

HÌNH HỌC KHÔNG GIAN THEO HƯỚNG BỒI DƯỠNG

HỨNG THÚ NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH

43

2.1 Tổng quan kiến thức hình học không gian lớp 11 THPT 43

2.2 Một số căn cứ để đề xuất các định hướng sử dụng đa phương

tiện trong dạy học hình học không gian theo hướng bồi dưỡng

hứng thư nhận thức của HS

46

2.3 Một số Định hướngsử dụng đa phương tiện trong dạy học hình

học không gian lớp 11 THPT theo hướng tích cực hóa HĐNT của

HS

48

2.3.1 Định hướng 1: Sử dụng hợp lý kênh chữ, kênh hình, kênh tiếng

trong dạy học hình học không gian nhằm tổ chức HĐNT cho HS 48

2.3.2 Định hướng 2: PTTQ được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, đúng

cường độ trong bài giảng hình học không gian góp phần phát huy hứng

thú nhận thức của HọC SINH

58

2.3.3 Định hướng 3: Sử dụng mô hình động tương tác được để tạo ra

các tình huống có vấn đề, làm cho HS nhận thấy tầm quan trọng của

nội dung bài học, tăng cường liên hệ kiến thức hình học không gian

với thực tiễn

64

2.3.4 Định hướng 4: Sử dụng môi trường đa phương tiện để kết nối,

phối hợp sử dụng, phát huy thế mạnh của các PPDH, các hình thức tổ

chức dạy học và các phương tiện dạy học mới trong dạy học hình học

không gian cho HS

70

2.3.5 Định hướng 5: Chú trọng sử dụng phương tiện dạy học truyền

thống trong bồi dưỡng hứng thú nhận thức hình học không gian cho

Trang 7

Tài liệu tham khảo 101

Trang 8

CNH-HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

CNTT&TT Công nghệ thông tin và truyền thông

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghị quyết kì họp thứ 8, Quốc hội khoá X về đổi mới chương trình

giáo dục phổ thông đã nêu: "Mục tiêu của việc đổi mới chương trình giáo

dục phổ thông l‎í luận và phương à xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, SGK phổ thông mới nhằm nâng cao chất l‎í luận và phương ượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân l‎í luận và phương ực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước"

Trong HĐNT bao gồm nhiều quá trình khác nhau và có những mức

độ phản ánh khác nhau Theo Định hướng Mác - xít, bất cứ HĐNT nào

cũng tuân theo cơ chế chung: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu

tượng và tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó l‎í luận và phương à con đường biện chứng của

sự nhận thức chân l‎í luận và phương ý, của sự nhận thức hiện thực khách quan”.

Thực chất của sự học là HĐNT của HS, là sự phản ánh có chọn lọc

và sáng tạo, bao giờ cũng gắn liền với tính tích cực Nói chung, trong quátrình dạy học, các phương tiện dạy học giúp giảm nhẹ công việc của GV vàgiúp cho HS tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi Có được các phươngtiện thích hợp, người GV sẽ phát huy tốt năng lực sáng tạo của HS trongquá trình nhận thức, làm cho HĐNT của HS trở nên nhẹ nhàng và hấp dẫnhơn, tạo ra cho HS những tình cảm tốt đẹp với môn học

Để tránh được sự nhàm chán thường gặp trong mô hình dạy truyềnthống, đa phương tiện được đưa vào quá trình giảng dạy nhằm nâng cao kếtquả truyền thụ kiến thức cũng như khả năng, thái độ của HS Đa phươngtiện có thể cùng trong một thời gian cho phép GV đưa vào nhiều phươngthức dạy và học đối với HS, từ đó làm thay đổi trạng thái và tránh được sựtruyền đạt kiến thức đơn điệu Trong giờ học, ngoài những nội dung cơ bảncủa bài học còn có những trình chiếu các ví dụ, hình ảnh mở rộng mà GV

Trang 10

sưu tầm ở trên mạng Internet hay ở báo chí… làm cho bài học trở nên sinhđộng hơn, sôi nổi hơn, giảm bớt sự căng thẳng cho HS và còn làm cho HShứng thú với việc học hình học không gian hơn.

Toán học là khoa học nghiên cứu các hình dạng không gian và cácquan hệ số lượng Đó là khoa học có tính trừu tượng cao độ và tính thựctiễn phổ dụng Toán học phát sinh từ nhu cầu thực tiễn của con người Đểđáp ứng mục tiêu phát triển con người toàn diện trong thời đại mới chủ đềhình học không gian đóng một vai trò to lớn trong việc phát triển tư duytrừu tượng, nó là phần không thể thiếu trong chương trình toán THPT.Trong thực tế giảng dạy chủ đề hình học không gian đa số HS gặp rất nhiềukhó khăn trong việc vẽ hình cũng như tưởng tượng không gian 3 chiều.Nhờ vào công nghệ thông tin người GV sử dụng đa phương tiện có thể thiết

kế bài giảng trực quan hơn tạo được nhiều hứng thú học tập cho HS hơn

Đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề nay như: Một sốphương thức bồi dưỡng hứng thú học tập môn toán THPT trong dạy họchình học không gian, PPDH hình học không gian, phương tiện trực quantrong dạy học; sử dụng phần mềm cabri3D, sketchpad trong dạy hình họckhông gian, Khắc sâu và mở rộng kiến thức SGK Toán theo hướng giáodục hứng thú và tự giác học tập cho HS… Tuy nhiên, chưa có đề tài nghiêncứu việc sử dụng đa phương tiện trong dạy học hình học không gian theohướng bồi dưỡng hứng thú nhận thức của học sinh

Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: "Sử dụng đa

phương tiện trong dạy học hình học không gian theo hướng bồi dưỡng hứng thú nhận thức của học sinh ".

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của nghiên cứu là sử dụng đa phương tiện làm công cụtrực quan nhằm bồi dưỡng hứng thú nhận thức của HS trong học hình họckhông gian

Trang 11

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Khai thác một số phần mềm, một số tính

năng của các phương tiện truyền thông vào hỗ trợ dạy học hình học khônggian

- Phạm vi nghiên cứu: Sử dụng đa phương tiện làm công cụ hỗ trợ

dạy học hình học không gian qua chương "Quan hệ vuông góc" hình họclớp 11 THPT theo hướng bồi dưỡng hứng thú nhận thức của HS

4 Giả thuyết khoa học

Việc sử dụng hợp lý đa phương tiện trong dạy học hình học khônggian sẽ thúc đẩy tính tích cực, tự lực và hứng thú học tập của HS, qua đógóp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán ở Trường THPT

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn dạy học hình học trong mốiliên hệ với vai trò và chức năng của phương tiện trực quan trong dạy họctoán

- Nghiên cứu các chức năng của đa phương tiện từ đó làm rõ ưu thếcủa nó trong việc dạy học toán nói chung và dạy học hình học không giannói riêng

- Nghiên cứu PPDH theo hướng bồi dưỡng hứng thú nhận thức của

HS

- Thực hành ứng dụng đa phương tiện vào trong dạy học hình họckhông gian (thể hiện qua chương Quan hệ vuông góc)

- Tiến hành TN sư phạm kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của việc

sử dụng đa phương tiện làm phương tiện trực quan nhằm phát huy hứng thúnhận thức của HS trong dạy học hình học không gian

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu l‎í luận và phương ý l‎í luận và phương uận: Tìm hiểu các tài liệu nhằm hệ

thống hoá cơ sở lý luận của việc sử dụng đa phương tiện trong dạy họcmôn Toán theo hướng bồi dưỡng hứng thú nhận thức của HS

Trang 12

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Đánh giá thực trạng

sử dụng đa phương tiện trong dạy học môn Toán cho HS hiện nay

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức TN sư phạm để đánh

giá tính hiệu quả và khả thi của các nội dung được đề xuất trong luận văn.Kết quả TN sư phạm được xử lý bằng phương pháp thống kê toán họctrong khoa học giáo dục

7 Đóng góp của luận văn

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về yêu cầu sư phạm của việc sử dụng đaphương tiện trong dạy học môn Toán ở trường THPT

- Đề xuất một số định hướng sử dụng đa phương tiện trong dạy họchình học không gian theo hướng bồi dưỡng hứng thú nhận thức của họcsinh

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn

- Chương 2 Sử dụng đa phương tiện trong dạy học hình học khônggian theo hướng bồi dưỡng hứng thú nhận thức cho HS

- Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Luận văn có sử dụng 41 tài liệu tham khảo và kèm theo 7 phụ lục

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học

1.1.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học.

Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII đã khẳng định: "Phải đổi mới

phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục l‎í luận và phương ối truyền thụ một chiều, rèn l‎í luận và phương uyện thành nếp tư duy sáng tạo của HS Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS "

Tại điều 5, Luật Giáo dục đã ghi: "Phương pháp giáo dục phải phát

huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của HS; bồi dưỡng năng l‎í luận và phương ực tự học, khả năng thực hành, l‎í luận và phương òng say mê và ý chí vươn l‎í luận và phương ên”.

Sự phát triển xã hội và đổi mới đất nước trong thời kỳ hội nhập đangđòi hỏi cấp bách nâng cao chất lượng GD&ĐT Mục tiêu giáo dục trongthời đại mới là không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những kiến thức, kỹnăng có sẵn cho HS mà điều đặc biệt quan trọng là phải bồi dưỡng cho HSnăng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Trong quá trình dạy học,cùng với những thay đổi về mục tiêu, nội dung, cần có những thay đổi cănbản về PPDH (hiểu theo nghĩa rộng gồm cả hình thức, phương tiện và kiểmtra, đánh giá)

Tồn tại của PPDH hiện nay là việc GV thường cung cấp cho HSnhững tri thức dưới dạng có sẵn, thiếu yếu tố tìm tòi, phát hiện; việc GVdạy chay, áp đặt kiến thức khiến HS thụ động trong quá trình chiếm lĩnh trithức Đây là những lý do dẫn tới nhu cầu đổi mới PPDH nhằm đáp ứng yêucầu đào tạo con người lao động sáng tạo phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đấtnước

Trang 14

1.1.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học.

Từ nhu cầu đổi mới PPDH, các nhà khoa học giáo dục nước ta nhưNguyễn Bá Kim [17], Nguyễn Hữu Châu [4], Thái Duy Tuyên [40], TrầnKiều [16], Trần Bá Hoành [12], đã khẳng định hướng đổi mới PPDH

trong giai đoạn hiện nay là: "PPDH cần hướng vào việc tổ chức cho HS

học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo, được thực hiện độc l‎í luận và phương ập hoặc trong hoạt động"

Theo Nguyễn Bá Kim [17], định hướng trên có những hàm ý sauđây: Xác lập vị trí chủ thể của HS, đảm bảo tính tự giác, tích cực và sángtạo của HS; Quá trình dạy học là xây dựng những tình huống có dụng ý sưphạm cho HS học tập trong hoạt động và bằng hoạt động, được thực hiệnđộc lập hoặc trong hoạt động; Dạy việc học, dạy tự học thông qua toàn bộquá trình dạy học; Chế tạo và khai thác những phương tiện phục vụ quátrình dạy học; Tạo niềm lạc quan học tập dựa trên lao động và thành quảcủa HS; Xác định vai trò mới của GV với tư cách người thiết kế, uỷ thác,điều khiển và thể chế hoá

Định hướng đổi mới PPDH liên quan đến một tư tưởng trong quá

trình thực hiện đổi mới PPDH ở nước ta đó là "Dạy học l‎í luận và phương ấy HS l‎í luận và phương àm trung

tâm" Theo Trần Kiều [16], những đặc trưng chủ yếu của tư tưởng này bao

gồm: Thừa nhận, tôn trọng, hiểu, đồng cảm với nhu cầu, lợi ích, mục đích

cá nhân của HS Đạt được độ tin cậy, tạo sức thu hút, thuyết phục, kíchthích động cơ bên trong của HS Dựa vào kinh nghiệm của HS, khai tháckinh nghiệm đó, dồn thành sức mạnh trong quá trình tự khám phá Chống

gò ép, ban phát, giáo điều, nuôi dưỡng tính sẵn sàng, tính tích cực ý chí của

HS để đạt được mục đích học tập và phát triển cá nhân Phương thức hoạtđộng chủ đạo là tự nhận thức, tự phát triển, tự thực hiện, tự kiểm tra, đánhgiá, tự hoàn thiện trong môi trường được đảm bảo quyền lựa chọn tối đacủa HS Tối đa hoá sự tham gia của HS, tối thiểu hoá sự áp đặt, can thiệpcủa GV Tạo cho HS tính năng động cải biến hành động học tập, chủ động,

Trang 15

tự tin Phát triển tư duy độc lập, sáng tạo, khả năng suy ngẫm, óc phê phán

và tính độc đáo của nhân cách Nội dung học tập, môi trường học tập, … vềnguyên tắc phải được kiểm soát bởi chính HS Đảm bảo tính mềm dẻo, tínhthích ứng cao của giáo dục Hết sức coi trọng vai trò to lớn của kỹ năng

Chúng tôi nhận thấy việc đổi mới PPDH hiện nay cần tiếp cận theonhững định hướng này

1.1.3 Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực

Một PPDH nếu biết sử dụng đúng lúc, đúng cách đều có thể phát huytính tích cực học tập của HS Theo Trần Bá Hoành [12], PPDH tích cực làthuật ngữ chỉ các PPDH có thế mạnh trong phát huy tính tích cực, chủđộng, sáng tạo của HS PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hoá, tíchcực hoá HS Có thể nêu bốn dấu hiệu đặc trưng cơ bản của PPDH tích cực

đó là :

- Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS

- Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

- Kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá của HS

1.2 Bồi dưỡng hứng thú nhận thức của học sinh

1.2.1 Hứng thú nhận thức và hứng thú học tập

Hứng thú là thái độ lựa chọn đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó,vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho

cá nhân trong quá trình hoạt động

Hứng thú học tập chính là thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạt động học tập, vì sự cuốn hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nó trong quá trình nhận thức và trong đời sống của cá nhânHứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lí tạonên tính tích cực Tính tích cực sản sinh ra nếp tư duy độc lập Suy nghĩđộc lập là mầm mống của sáng tạo và ngược lại

Trang 16

1.2.2 Các biểu hiện của hứng thú nhận thức

* Quan điểm của tâm lý học Macxit về hứng thú:

Tâm lý học Macxit xem xét hứng thú theo quan điểm duy vật biện chứng Coi hứng thú không phải là cái trừu tượng vốn có trong mỗi cá nhân mà là kết quả của sự hình thành và phát triển nhân cách cá nhân, nó phản ánh mộtcách khách quan thái độ đang tồn tại ở con người Khái niệm hứng thú được xét dưới nhiều góc độ khác nhau

Hứng thú học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái, chủ động, tựgiác tham gia các hoạt động học tập, thích tìm tòi khám phá những điềuchưa biết dựa trên những cái đã biết Sáng tạo vận dụng kiến thức đã họcvào thực tế cuộc sống …

- Hứng thú biểu hiện ở 2 mức độ của nó

+ Mức độ I: Chủ thể mới dừng lại ở việc nhận thức về đối tượng Chưa có xúc cảm tình cảm với đối tượng đó,chưa tiến hành, hoạt động để chiếm lĩnhđối tượng đó

+ Mức độ II: Đối tượng hứng thú thúc đẩy chủ thể hoạt động

- Hứng thú biểu hiện ở nội dung của nó như: Hứng thú học tập, đi mua hàng, đi dạo chơi

- Hứng thú biểu hiện chiều rộng, chiều sâu của nó: Những người có hứng thú đối với nhiều đối tượng khác nhau, nhiều lĩnh vực khác nhau thường cócuộc sống hời hợt, bề ngoài Những người chỉ tập trung hứng thú vào một hoặc một vài đối tượng thì cuộc sống thường đơn điệu Trong thực tế hững người thành đạt là những người biết giới hạn hứng thú của mình trong phạm vi hợp lý, trên nền những hứng thú khác nhau, họ xác định được một hoặc một số hứng thú trung tâm mang lại ý nghĩa thúc đẩy con người hoạt động

- Phạm Tất Dong: cho rằng hứng thú biểu hiện ở các khía cạnh sau:

+ Biểu hiện trong khuynh hướng của con người đối với hoạt động có liên quan tới đối tượng của hứng thú đó

Trang 17

+ Biểu hiện trong sự trải nghiệm thường xuyên những tình cảm dể chịu do đối tượng này gây ra.

+ Biểu hiện trong khuynh hướng bàn luận thường xuyên về đối tượng này,

về việc có liên quan tới chúng

+ Biểu hiện trong sự tập trung chú ý của con người vào đối tượng của hứngthú

+ Biểu hiện trong sự ghi nhớ nhanh và lâu những điều có quan hệ gần gũi với đối tượng này, trong hoạt động tưởng tượng phong phú, trong tư duy căng thẳng những vấn đề có liên quan đến đối tượng của hứng thú đó

- Theo G.I.Sukina: Hứng thú biểu hiện ở những khía cạnh sau:

+ Khuynh hướng lựa chọn các quá trình tâm lý con người nhằm vào đối tượng và hiện tượng của thế giới xung quanh

+ Nguyện vọng, nhu cầu của cá nhân muốn tìm hiểu một lĩnh vực, hiện tượng cụ thể, một hoạt động xác định mang lại sự thỏa mãn cho cá nhân.+ Nguồn kích thích mạnh mẽ, tính tích cực cho cá nhân, do ảnh hưởng của nguồn kích thích này, mà tất cả các quá trình diễn ra khẩn trương, còn hoạt động trở nên say mê và đem lại hiệu quả cao

+ Thái độ đặc biệt (không thờ ơ, không bàng quan mà tràn đầy những ý định tích cực, một cảm xúc trong sáng, một ý trí tập trung đối với các đối tượng, hiện tượng, quá trình )

1.2.3 Các mức độ của hứng thú học tập

Tính hứng thú bên ngoài có những dấu hiệu sau:

- HS rất năng động: Luôn hoạt động và hoàn thành những côngviệc được giao (thể hiện ở nhịp độ, cường độ học tập cao)

- HS rất tập trung: Sự chú ý của HS hướng đến đối tượng nhậnthức (đặc biệt là biểu hiện bề ngoài của sự chú ý: nét mặt, cử chỉ ) Tuynhiên cũng cần lưu ý rằng, nhiều khi có sự chú ý giả vờ Có trường hợptính tích cực bề ngoài không kèm theo tính tích cực thực chất (bên trong)

Tính hứng thú bên trong thể hiện:

Trang 18

- Cường độ làm việc trí óc cao, huy động những hành động và thaotác tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá ).

- Việc thể hiện nhu cầu bền vững đến đối tượng nhận thức (chínhđối tượng nhận thức làm nảy sinh nhiệm vụ học tập) Thể hiện mức độ sẵnsàng tâm lý, nhu cầu, nguyện vọng, hứng thú

- Việc độc lập ra quyết định trong những tình huống có vấn đề nêu

ra, chọn con đường và phương tiện để đạt mục đích, ở sự độc đáo trongviệc giải quyết vấn đề

Trên thực tế, tính tích cực nhận thức phát sinh không chỉ duy nhất

từ các nhu cầu nhận thức mà gồm cả những nhu cầu sinh học, nhu cầu đạođức - thẩm mỹ, nhu cầu giao lưu văn hoá Hạt nhân cơ bản của tính hứngthú nhận thức là hoạt động tư duy của cá nhân, được tạo nên do sự thúcđẩy của hệ thống học tập, mặc dù chúng quan hệ mật thiết với nhau Cómột số trường hợp có thể tính hứng thú học tập chỉ thể hiện sự hứng thúcực bên ngoài mà không phải tính tích cực trong tư duy

- Tính hứng thú tái hiện: Đó là mức độ thấp nhất của tính hứng thú(chủ yếu dựa vào trí nhớ và tư duy để tái hiện những điều đã được nhậnthức)

- Tính hứng thú tìm tòi: Đặc trưng bằng sự bình phẩm, phê phán,tìm tòi hứng thú về mặt nhận thức, óc sáng kiến, lòng khao khát hiểu biết,hứng thú học tập (nó không bị hạn chế bởi những yêu cầu của GV tronggiờ học)

- Tính hứng thú sáng tạo: Là mức độ cao của tính hứng thú Nóđặc trưng bằng sự khẳng định con đường riêng của mình, thể hiện ở sựđộc lập nhận thức Nó thể hiện quan hệ phức tạp của con người với thếgiới khách quan, là một tập hợp những tính chất của con người, trong đónhững quá trình về trí tuệ, ý chí, tình cảm kết hợp hài hoà, thống nhất vớinhau

Tính hứng thú sáng tạo là xu hướng của con người tiến đến việcứng dụng những thủ thuật mới để giải quyết vấn đề được đặt ra, xu hướngtìm tòi những phương pháp khắc phục khó khăn, nhu cầu đưa những phátminh mới vào cuộc sống Nó biểu thị khả năng sử dụng những kiến thức,

Trang 19

kỹ năng, kỹ xảo trong những tình huống, hoàn cảnh mới Như vậy, tínhhứng thú sáng tạo không phải là một nét riêng của tính cách của cá nhân,

mà là một tập hợp những dấu hiệu của một con người

Dưới góc độ lý luận dạy học, tuỳ theo mức độ của tính hứng thúnhận thức, quá trình phát triển của tính hứng thú nhận thức trải qua cácgiai đoạn chủ yếu sau [73]:

- Tính tự giác: Là giai đoạn xác định ý thức thái độ, tinh thần trách

nhiệm học tập Nó là cơ sở của tính tích cực ở HS

- Tính tích cực: Ở mức độ cao hơn với những đặc điểm của tính

tích cực nhận thức: Có cấu trúc như một mô hình tâm lý, có sự kết hợpgiữa nhận thức - tình cảm - ý chí

- Tính độc l‎í luận và phương ập: Là giai đoạn cao nhất của tính tích cực, đặc trưng ở

chỗ HS tự phát hiện vấn đề, tự đề ra cách giải quyết và tự giải quyết vấnđề

1.3 Đa phương tiện trong dạy học

1.3.1 Dạy học - một quá trình truyền thông đa phương tiện

Dạy học hiểu theo nghĩa rộng đó là một quá trình HĐNT có mụcđích, có tổ chức, có kế hoạch của HS dưới sự chỉ đạo của GV nhằm thựchiện nhiệm vụ của dạy học là hình thành thế giới quan khoa học cho HS,trên cơ sở đó phát triển năng lực trí tuệ, giáo dục những phẩm chất củangười công dân XH chủ nghĩa Theo Định hướng hiện đại thì dạy học làmột quá trình trong đó có sự chồng chập của hai hoạt động: hoạt động dạy

và hoạt động học Trong đó, hoạt động dạy phải hoàn toàn phục tùng nhiệm

vụ và đảm bảo tổ chức hợp lý nhất cho hoạt động học

Dạy học còn được hiểu là quá trình điều khiển sự phát triển toàn diệncủa HS theo một mục đích xác định, thông qua quá trình trao đổi và xử lýthông tin (có được từ những mối liên hệ ngược ngoài và những mối liên hệngược trong) nhờ những phương tiện dạy học (truyền tin) khác nhau TrênĐịnh hướng của CNTT&TT, ta có thể nhìn nhận QTDH như là một quátrình truyền thông bao gồm sự lựa chọn, thu thập, sắp xếp và phân phối

Trang 20

thông tin; sự tương tác giữa người dạy, người học và các thông tin thôngqua các phương tiện truyền thông (phương tiện dạy học) trong một môitrường sư phạm thích hợp Trong bất kỳ tình huống dạy học nào cũng đều

có những thông điệp (Messages) được truyền đi (từ người dạy đến ngườihọc và ngược lại) Những thông điệp đó có thể là nội dung của các chủ đềđược dạy, cũng có thể là các câu hỏi, những gợi mở, hướng dẫn, những yêucầu, những nhận xét, đánh giá cho người học và cũng có thể là những câutrả lời, những kết quả hành động, những yêu cầu về sự giúp đỡ từ phíangười học cho người dạy hay những thông tin khác

Trong QTDH, thì mục đích dạy học luôn quyết định những hoạtđộng dạy và hoạt động học Cả GV và HS cần phải lựa chọn nội dung, PP

và phương tiện thích hợp để hoạt động nhằm đạt được mục đích của dạyhọc là truyền thụ được tri thức khoa học; hình thành kỹ năng, kỹ xảo vàphẩm chất, nhân cách cho HS QTDH được minh hoạ như ở hình 1.1, cácthông điệp từ thầy giáo, tuỳ theo PPDH, được phương tiện chuyển đến HS;đồng thời các thông điệp phản hồi cũng được chuyển ngược lại từ HS đến

GV thông qua các phương tiện dạy học

Hình 1.1 Dạy học-một quá trình truyền thông đa phương tiện

Rõ ràng chúng ta thấy QTDH có quan hệ chặt chẽ với quá trìnhtruyền thông và là một quá trình truyền thông hai chiều: người dạy truyềncác thông điệp khác nhau (các thông tin mà người học phải được học và

Liên hệ ngược trong

Liên hệ ngược ngoài

GV

HS trong khi học

Mục đích dạy học

HS sau khi học

Lựa chọn

Nội dung

Phương pháp dạy và học

Phương tiện DH

Nhiễu

Trang 21

hiểu hay những nhiệm vụ, những hành động, thao tác cần phải làm );người học truyền lại các thông điệp về sự tiến bộ trong học tập, mức độnắm vững các kỹ năng, kết quả của các thao tác, của các hành động Người dạy tiếp nhận, xử lý các thông điệp này và quyết định điều chỉnhhay tiếp tục thực hiện công việc dạy học của mình Các thông tin phản hồi(uốn nắn, hướng dẫn, gợi mở, động viên cho người học) lại được ngườidạy chuyển tới người học Như vậy, quá trình truyền thông tin hai chiềutrong dạy học luôn có sự hoán đổi vai trò giữa người thu và người phát, màkhởi đầu thầy giáo là người phát Sự hoán đổi vai trò như vậy xảy ra liêntục cho đến lúc kết thúc QTDH

Cũng giống như trong quá trình truyền thông, trong QTDH chúng taluôn quan tâm các vấn đề liên quan đến chất lượng và hiệu quả của quátrình truyền thông tin giữa người dạy và người học như:

- Kỹ năng truyền thông: kỹ năng nói, viết (liên quan đến kỹ năng lập

mã); kỹ năng đọc, nghe (liên quan đến kỹ năng giải mã); kỹ năng khái niệmhoá (liên quan đến cả việc lập mã và giải mã);

- Tình cảm, thái độ: đó là những trạng thái buồn, vui, giận dữ, mệt

mỏi, tính thuyết phục về giá trị của các thông điệp ;

- Trình độ, kiến thức: Người phát phải nắm vững những vấn đề liên

quan đến nội dung thông điệp Người nhận không chỉ phải biết “mã” màngười phát truyền đi mà còn phải có một kiến thức cơ bản liên quan đến nộidung của thông điệp;

- Thông điệp: Người phát chuyển ý nghĩa, khái niệm, tin tức, cảm

xúc bằng cách “lập mã” để tạo nên nội dung cho thông điệp Mã đượchiểu là một ký hiệu được quy ước để biểu đạt một ý nghĩa; lập mã đượchiểu là việc sắp xếp các ký hiệu theo một cấu trúc được quy ước của mộtcộng đồng dân cư để truyền thông một nội dung nào đó;

Trang 22

- Kênh truyền: là một hệ thống qua đó các thông điệp được truyền đi,

có thể xem kênh truyền như một phương tiện truyền thông: văn bản, hìnhảnh, âm thanh có quan hệ với các giác quan của con người;

- Nhiễu: được xem như một sự cản trở trong quá trình truyền thông

(nhiễu vật lý, nhiễu tâm lý, nhiễu ngữ nghĩa)

Có thể sơ lược đánh giá ưu, nhược của các phương tiện truyền thông(nghe, nhìn) thường được sử dụng trong QTDH ở bảng sau :

Trang 23

Bảng 1.1: Ưu nhược điểm cuả các phương tiện dạy học thông dụng

- Truyền được lượngthông tin lớn trong mộtthời gian ngắn, phát triển

tư duy trừu tượng

- Lĩnh hội khó, khôngphát triển được kinhnghiệm của HS

- HĐ thực tiễn

- Nâng cao hiệu quả dạyhọc nhờ có những biểutượng rõ ràng, phát triển

tư duy trực quan hìnhtượng, trí nhớ

- Cần có thời gian chuẩn

bị, phát triển tư duy trừutượng kém

Trong những năm 60 và 70 của thế kỷ XX, lý thuyết thông tin đã cónhững ảnh hưởng lớn đến những Định hướng tâm lý học nhận thức vềHĐDH Lý thuyết này cho rằng con người tiếp nhận thông tin từ bên ngoàivào, sử dụng những thao tác trí tuệ xử lý nó và thu được những tri thứchiểu biết cho mình Quá trình đó có sự tương đồng với quá trình xử lýthông tin ở MVT Não người tương ứng với phần cứng của MVT, là hệ xử

lý thông tin, chứa đựng bộ nhớ và những quá trình kiểm soát Các quá trìnhnhận thức của con người tương ứng với những quá trình vận hành của cácphần mềm trong MVT, thực hiện những thao tác trí tuệ khác nhau

Như vậy, từ PPDH truyền thống: chỉ dùng bảng đen, phấn trắng, thầyvừa nói, vừa viết và vẽ lên bảng cho đến các PPDH trong đó có sử dụngcác phương tiện hiện đại như đèn chiếu, máy ghi âm, tivi, video và đếnnay là việc sử dụng MVT với các phần mềm dạy học đã cho ta thấy QTDHluôn là một quá trình truyền thông đa phương tiện-một sự trao đổi thôngđiệp giữa hai hay nhiều người Việc nhìn nhận QTDH dưới góc độCNTT&TT cho phép các nhà giáo dục nghiên cứu để phát huy một cách tốt

Trang 24

nhất phương tiện dạy học hiện đại-MVT với Multimedia, đồng thời mở ranhững triển vọng mới trong việc ứng dụng nó để nâng cao chất lượngGD&ĐT trong thời đại ngày nay.

1.3.2 Vai trò của các giác quan trong quá trình truyền thông

PTDH là các công cụ lao động mà thầy giáo thường sử dụng trongHĐDH của mình Khái niệm về các phương tiện dạy học hiểu theo nghĩa

rộng bao gồm: các thiết bị dạy học, phòng học, phòng thí nghiệm, bàn ghế,

các phương tiện kỹ thuật Một cách khái quát, phương tiện dạy học là mọi thiết bị kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp được dùng trong QTDH để nâng cao hiệu quả của sự truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo

Trong HĐDH, ba yếu tố: nội dung, Phương pháp và phương tiệnluôn gắn bó mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau Mỗi một nội dung dạyhọc đòi hỏi các phương pháp và phương tiện làm việc tương ứng Ngượclại, sự sáng tạo hay cải tiến những phương tiện lao động sẽ làm nảy sinh ranhững nội dung và phương pháp mới có chất lượng cao hơn Vì vậy, conngười luôn luôn chú ý tới việc sáng tạo, hoàn thiện không ngừng và nângcao hiệu quả sử dụng các phương tiện lao động

Xem xét QTDH qua nhiều thập kỷ chúng ta thấy, sự phát triển củaphương tiện dạy học trải qua các thời kỳ: thủ công nghiệp, cơ khí và tựđộng như các dạng công cụ lao động khác Trước đây, các phương tiện dạyhọc chủ yếu do thầy giáo tự chế tạo, việc sử dụng chúng trong dạy họcchưa nhiều nên phương tiện dạy học bị hoà lẫn và được xem xét như mộtthành tố của phương pháp dạy học (PPDH), chưa tồn tại như một yếu tốriêng biệt của QTDH

Ở thời đại khoa học công nghệ phát triển như ngày nay, phương tiệntrực quan trong dạy học không những chỉ đóng vai trò minh hoạ cho bàigiảng của GV, làm cho HS quen với các đặc tính bên ngoài và bên trongcủa sự vật, hiện tượng và sự diễn biến của quá trình mà còn đảm bảo cho

Trang 25

HS nhận biết sâu sắc các vấn đề đó và tiếp thu kiến thức dễ dàng hơn Tínhtrực quan trong HĐDH thường được thực hiện nhờ phương tiện dạy học

Các phương tiện dạy học có thể thay thế cho những sự vật, hiệntượng và các quá trình xảy ra trong thực tiễn mà GV và HS không thể tiếpcận được Chúng giúp cho thầy giáo phát huy tất cả các giác quan của HStrong quá trình truyền thụ kiến thức, từ đó giúp cho HS nhận biết đượcquan hệ giữa những hiện tượng và tái hiện được những khái niệm, quy luậtlàm cơ sở cho việc đúc rút kinh nghiệm và áp dụng kiến thức đã học vàothực tế sản xuất và đời sống

Thực tiễn sư phạm cho thấy, khi có phương tiện dạy học, lao độngcủa GV sẽ được giảm nhẹ, rút ngắn thời gian tìm hiểu vấn đề và làm choviệc trau dồi kiến thức đã tiếp thu của HS được sâu bền và dễ dàng hơn,đặc biệt là đối với các em HS trung học cơ sở

Theo Tô Xuân Giáp [9], mức độ ảnh hưởng của các giác quan đến sựtiếp thu và ghi nhớ tri thức được mô tả ở bảng sau:

Bảng 1.2 Mức độ ảnh hưởng của các giác quan đến sự tiếp thu và ghi nhớ

tri thức sau khi học

Sự tiếp thu tri thức khi học đạt được Kiến thức nhớ được sau khi học Thông qua Tỷ l‎í luận và phương ệ (%) Thông qua Tỷ l‎í luận và phương ệ (%)

Phân tích các số liệu thống kê trên, khi dựa vào chức năng của cácloại giác quan, ta nhận thấy rằng: trong trường hợp chỉ được nghe giảng, sựhình thành khái niệm phụ thuộc nhiều vào vốn kinh nghiệm của HS và hiệuquả, kinh nghiệm, năng khiếu dạy học của thầy giáo Ngoài ra, nếu không

có trí tưởng tượng cá nhân tốt, HS sẽ rất khó hình dung ra được các sự vật

và hiện tượng mà thầy giáo trình bày, mặc dù thầy giáo có năng khiếu mô

Trang 26

tả rất sinh động và lôi cuốn Lối dạy học phụ thuộc vào diễn giải của thầy

là một phương pháp rất cũ mà kết quả là HS nghe rồi cũng sẽ chóng quên

Mắt là cơ quan thị giác Khoảng nhìn của mắt (thị trường) được mởrộng hơn so với các cơ quan giác quan khác như sờ (cảm giác), nghe (thínhgiác), ngửi (khứu giác), nếm (vị giác) Rõ ràng các kiến thức thu thập đượcqua nhìn rất sinh động, chính xác, liên tục và nhớ lâu Khoảng 80-85% kiếnthức ta thu nhận được qua nhìn

Khi làm một việc nào đó, thực tế ta phải sử dụng phối hợp tất cả cácgiác quan để nhận biết, tức là thông tin về thế giới khách quan đã được tiếpthu thông qua tất cả các giác quan Dòng các thông tin được truyền tới bộnão của con người qua nhiều kênh như vậy sẽ rất nhanh, toàn diện và rấtchính xác Do đó, việc dạy học bằng thực hành và thông qua thực hànhluôn là một PPDH có hiệu quả cao nhất

1.3.3 Vai trò và chức năng của đa phương tiện trong quá trình dạy học

Từ lâu, thuật ngữ media dùng để chỉ các thực thể như là chiếc máy

truyền thanh, máy truyền hình, nghĩa là không phải nói đến một vật mangthông tin đơn thuần (như băng tiếng, băng hình, đĩa nhạc ) mà là một hệthống tương đối phức tạp, có cơ cấu, có đối tượng hướng tới Nếu dùng mộtmáy cassette audio chỉ để ghi lời nói của một người, nội dung trongcassette không thể đến người nghe bằng cách truy xuất trực tiếp, cassettenày chỉ được xem là một vật mang thông tin Nhưng nếu gộp nó cùng vớimáy đọc cassette (một hệ thống vật lý khác) thì đấy là một hệ thống truyềnthông-một media Media có mục đích là phát, truyền thông tin không chỉbằng cách nghe và nhìn: một tờ giấy in chữ nổi cho người mù, khi đọc đòihỏi phải sờ mó; một tấm Carte Postale có nhạc và mùi hương, đòi hỏi cùnglúc nghe, nhìn, ngửi Bằng chừng ấy ta có thể nói đến một sự truyền thông

đa phương tiện-Multimedia

Trang 27

Như vậy, Multimedia được hiểu l‎í luận và phương à đa phương tiện, đa môi trường,

đa truyền thông, một phương pháp giới thiệu thông tin bằng máy tính, sử dụng nhiều dạng truyền thông tin như văn bản, đồ hoạ và âm thanh cùng với sự gây ấn tượng bằng tương tác (Intractive) Công nghệ đa phương

tiện, nhờ khả năng nghe-nhìn (Audio-Video) đang được ứng dụng ngàycàng rộng rãi trong huấn luyện, giáo dục, trò chơi và tiếp thị trong thươngmại Thông tin multimedia là thông tin được truyền đạt bằng các hệ thống

truyền đa phương tiện, gọi tắt là thông tin mul‎í luận và phương timedia và nó được thể hiện ở

các dạng sau:

- Dạng văn bản (Text): Một chữ cái được biểu diễn bằng một tổ hợp

số 0, 1 (bit) Phổ biến hiện nay là quy ước mã hoá ASCII 8 bit cho bộ chữcái

- Dạng hình hoạ (Graphics): cũng như với Image được biểu diễn

bằng một ma trận điểm (raster/bitmap), hoặc một mảng 2 chiều ghi các toạ

độ của các phần tử trên Graphics hay Image

- Dạng hoạt ảnh (Animation)

- Dạng ảnh chụp (Image)

- Dạng Video và Audio: Video thực chất là một chuỗi các Image

được kiết xuất theo một kịch bản (Storyboard) xác định Còn Audio đượclấy theo một chu kỳ chọn, sóng âm cũng được biểu diễn bằng một tổ hợpbit

Việc nghiên cứu sử dụng MVT với Multimedia đã cho phép lưu trữ,

xử lý, tìm kiếm và trao đổi một lượng lớn thông tin trong một điều kiệnthuận lợi Nó còn cho phép mô phỏng, tái tạo, biểu diễn sự vật, hiện tượng,diễn tiến của các quá trình như là sự tích hợp các chức năng của cácphương tiện dạy học cổ truyền khác và là một đặc thù riêng có của MVT

Nó không những cho phép đảm bảo tính chân thực của các đối tượngnghiên cứu trước mắt người học, làm tăng niềm tin vào tri thức, kích thíchhứng thú, tạo động cơ học tập trong QTDH, mà còn có tác dụng giáo dục

Trang 28

toàn diện: phát triển tính tự lực sáng tạo, cá biệt hoá cao độ người học, pháttriển tư duy logic, tư duy hình tượng, tối ưu hoá quá trình nhận thức và điềukhiển quá trình nhận thức, góp phần giáo dục những phẩm chất, thái độhành vi đạo đức, những phản ứng tích cực trong việc tái tạo và cải tạo thếgiới theo hướng có lợi cho con người.

Sự ra đời của Multimedia đã làm thay đổi diện mạo, vai trò củaMVT-với tư cách là công cụ trong dạy học Sự ra đời của Multimedia nhưvậy không những đánh dấu một sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật

mà còn mang lại những triển vọng mới trong việc ứng dụng MVT vàonhững lĩnh vực khác nhau của đời sống XH loài người, trong đó có giáo

dục Có thể nói rằng, MVT với Multimedia đã mang lại khả năng "Mul‎í luận và phương ti"

trong ứng dụng nó Với một hệ thống như vậy, người ta đã có thể đưa vàogia đình, vào trường học, công sở không chỉ các phương tiện để giải trínhư nghe nhạc, xem phim, xem truyền hình, các trò chơi mà cả nhữngphương tiện để làm việc, học tập như điện thoại, Fax, các công việc vănphòng, quản lý nhân sự, học ngoại ngữ, toán, lý, hoá và nếu như có thêmmột chiếc máy in màu nữa là ta đã có cả một xưởng in nhỏ có thể in mọi ấnphẩm cao cấp theo nhu cầu

Xét trên Định hướng nhận thức (HĐNT là sự phản ánh và lĩnh hộitrực tiếp của chủ thể nhận thức về thế giới khách quan và môi trường xungquanh), thì đa phương tiện góp phần tạo nên những hình ảnh thực tế, các sựvật, hiện tượng tự nhiên, tạo nên khách thể nhận thức

Xét trên Định hướng triết học duy vật biện chứng (vật chất có trước, ýthức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, vật chất và ý thức có tácđộng qua lại mật thiết, hỗ trợ cho nhau), thì đa phương tiện góp phần tạo

nên cơ sở vật chất trong quá trình nhận thức V.P.Golov đã viết: "Các

phương tiện dạy học l‎í luận và phương à một trong những điều kiện quan trọng nhất để thực hiện nội dung giáo dưỡng, giáo dục và phát triển học sinh trong quá trình dạy học"

Trang 29

Đa phương tiện với khả năng lưu trữ thông tin cực lớn, xử lý số liệucực nhanh (hàng tỷ phép tính/giây) và làm việc được theo các chương trình,nên đa phương tiện là một trong các công cụ dạy học được thể hiện ở:

- Thực hiện vai trò giảng dạy như một giáo viên

- Cung cấp tài liệu học tập phong phú, rất dễ truy cập, phân phối và

có thể khai thác linh hoạt

- Cung cấp công cụ học tập mới có khả năng hợp tác với học sinh đểgiúp học sinh khai thác hết khả năng làm việc của họ

- Cung cấp các kênh giao tiếp, truyền thông mới giữa giáo viên vàhọc sinh

- Cung cấp các công cụ kiểm tra đánh giá mới khách quan và chínhxác Như các phần mềm kiểm tra trắc nghiệm có thể giúp học sinh đánh giá

và tự đánh giá kết quả học tập một cách chính xác khách quan

- Cung cấp một hệ thống và công cụ quản lý dạy học mới

Ta có thể đánh giá mức độ hiệu quả sử dụng của một số phương tiện dạyhọc thường dùng theo bảng sau :

Bảng 1.3 Mức độ hiệu quả sử dụng của các phương tiện dạy học

2 Bảng đen; phấn trắng và màu; tranh ảnh, cácloại mô hình tĩnh, động. Có hiệu quả

3

Các loại máy chiếu, đèn chiếu; các Slide, phim

dương bản đen trắng và màu; các phim động

màu, đen trắng, có tiếng; Tivi

Có hiệu quả hơn

4 Thực hành đồng loạt, cá thể (chung, riêng); đồán tham quan. Có hiệu quả nhất

Các phương tiện trực quan chẳng những cung cấp cho HS nhữngkiến thức bền vững, chính xác mà còn giúp các em kiểm tra tính đúng đắncủa các kiến thức lý thuyết, sửa chữa và bổ sung, đánh giá lại chúng nếukhông phù hợp với thực tiễn Có thể nói, trực quan hoá là cầu nối giữa thếgiới tự nhiên bên ngoài và bức tranh về nó trong nhận thức của con người

Trang 30

Việc sử dụng phương tiện dạy học sẽ đảm bảo sự phản ánh đúng đắn thực

tế khách quan và qua đó cung cấp cho HS những kiến thức chính xác và cụthể về những vấn đề đang nghiên cứu

Sử dụng một cách hợp lý các phương tiện dạy học nói chung là cáchthức không thể thiếu được để nâng cao hiệu quả dạy học Vì đó là cáchthức để cung cấp cho HS các kiến thức một cách chắc chắn và chính xác,làm cho nguồn thông tin họ thu nhận được trở nên đáng tin cậy hơn, làmcho việc giảng dạy trở nên cụ thể hơn, từ đó HS tăng thêm khả năng tiếpthu về những thuộc tính bản chất của các sự vật, hiện tượng và các quátrình phức tạp mà bình thường họ khó nắm vững được Đó là cách thứcgiúp rút ngắn thời gian lĩnh hội kiến thức của HS, dễ dàng gây được cảmhứng và sự chú ý của HS, giải phóng thầy giáo khỏi một khối lượng lớn cáccông việc chân tay, do đó làm tăng khả năng nâng cao hiệu quả của việcgiảng dạy Bằng việc sử dụng phương tiện dạy học, thầy giáo có thể kiểmtra một cách khách quan hơn khả năng tiếp thu kiến thức cũng như sự hìnhthành kỹ năng, kỹ xảo của HS

Sự phát triển của giáo dục cùng với sự phát triển của nhiều lĩnh vựckhoa học khác (như điện kỹ thuật, điện tử, vi mạch, viễn thông ) làm chocông nghiệp thiết bị dạy học dần dần được hình thành, phát triển và trởthành ngành công nghiệp riêng Sự ra đời của các phương tiện dạy học hiệnđại như: các máy đo có độ chính xác cao, các kính hiển vi điện tử có khảnăng khuếch đại hàng nghìn lần, các dao động ký, máy hút chân không,truyền hình, video, điện ảnh, các máy dạy học và máy kiểm tra , đặc biệt

là MVT và gần đây cùng với nó là Multimedia đã làm thay đổi một cáchcăn bản diện mạo của các phương tiện dạy học hiện nay Chúng cho phépđưa vào QTDH những nội dung rất diễn cảm, hứng thú, đầy ấn tượng, làmthay đổi phương pháp và đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy học, tạo racho QTDH một nhịp độ, phong cách và trạng thái tâm lý mới Đó cũng làđặc điểm của nhà trường hiện đại

Trang 31

Nhờ đó, các phương tiện dạy học ngày càng đa dạng, phong phú và

đã trở thành một yếu tố riêng biệt không thể thiếu của QTDH ngày nay, đặcbiệt đối với các khoa học TN như khoa học vật lý Sự tiến bộ của khoa học

và kỹ thuật đã làm cho vai trò của phương tiện dạy học nói chung và MVTnói riêng ngày càng được mở rộng, nó hỗ trợ và thậm chí có thể làm thaychức năng của GV trong một số giai đoạn nhất định Nhưng thật sai lầmnếu vì thế mà nghĩ rằng chúng có thể thay thế hẳn vị trí của người GVtrong suốt QTDH Tự thân việc sử dụng những phương tiện dạy học tuyệtnhiên không thể đảm bảo tính cách hoạt động của HS ở mức độ mongmuốn Điều đó chỉ có thể đạt được khi GV biết sử dụng một cách sáng tạo,phù hợp với PPDH đang dùng và với những vấn đề chủ yếu cần lĩnh hộicủa bài giảng

Những phương tiện dạy học được thiết kế, chế tạo và sử dụng mộtcách có ý thức, đúng phương pháp, có thể nâng cao hiệu quả của nhữngPPDH đã được lựa chọn và rút ngắn rất nhiều con đường để đi đến các mụctiêu đào tạo và đồng thời cũng làm phong phú thêm nội dung giảng dạy.Ngày nay, các phương tiện dạy học đã đảm nhận hàng loạt chức năng củathầy giáo (như các phương tiện Multimedia, các phương tiện tương tác )cho phép mở rộng thêm khả năng giáo dục, cá nhân hoá trong dạy học và

do đó ảnh hưởng của thầy giáo trong lĩnh vực giảng dạy và đào tạo thế hệtrẻ cũng tăng lên

Không còn nghi ngờ gì nữa, sự ra đời của MVT đã làm thay đổi mộtcách căn bản đời sống XH loài người trong mọi lĩnh vực Nói riêng về giáodục, một chiến lược có tính toàn cầu là cần nhanh chóng đưa tin học nóichung, máy tính nói riêng vào chương trình đào tạo ở các bậc học Từ thậpniên 60 của thế kỷ XX, máy tính đã xâm nhập vào nhà trường ở nhiều quốcgia trên thế giới theo hai góc độ: thứ nhất MVT và Tin học là một môn họcmới bên cạnh các môn học cổ truyền; thứ hai MVT có thể được xem là mộtphương tiện dạy học hiện đại, phục vụ tốt cho việc giảng dạy và học tập

Trang 32

các bộ môn khác Theo góc độ thứ hai, thực tế giảng dạy ở các nước tiêntiến cho thấy rằng MVT là một phương tiện dạy học khác hẳn với nhữngphương tiện truyền thống khác Nó như là sự tích hợp các chức năng củanhiều phương tiện dạy học hiện có khác.

Ở Việt Nam, tuy chưa có sự đầu tư tập trung thích đáng, chưa cónhiều cơ sở giáo dục tập trung nghiên cứu việc đưa MVT vào QTDH với tưcách là một công cụ, nhưng cũng đã có một số nhóm tiến hành nghiên cứu

và đã đạt được các kết quả đáng khích lệ theo hướng ứng dụng này Nhưvậy, MVT là một công cụ có thể được sử dụng một cách hiệu quả vàonhững giai đoạn khác nhau của QTDH

Chức năng nổi bật tính đặc thù của hệ thống MVT là chức năng thunhận, lưu trữ, xử lý, cung cấp và trình diễn thông tin dưới nhiều hình thứckhác nhau như: văn bản, hình ảnh (ảnh vẽ bằng đồ hoạ, biểu bảng, biểu đồ,tranh ảnh chụp, quét, hoạt hình, phim) và âm thanh Chức năng này có một

ý nghĩa rất lớn lao trong quá trình học tập, bởi lẽ học tập chính là quá trìnhtìm kiếm, xử lý, lưu trữ và truyền thông tin Đặc biệt, trong những năm gầnđây, sự ra đời của các thiết bị đa phương tiện Multimedia đã mở rộng mộtcách đáng kể những chức năng của MVT với tư cách là một phương tiệndạy học hiện đại Việc sử dụng MVT với Multimedia trên thực tế đã, đang

và sẽ đem lại những hiệu quả to lớn cho nhiều lĩnh vực, trong đó có giáodục Hệ thống MVT giờ đây không còn đơn giản chỉ hàm chứa những chứcnăng lưu trữ, xử lý, trình diễn thông tin một cách đa dạng, phong phú,nhanh chóng và chính xác, hỗ trợ tốt cho mọi giai đoạn của tiến trình dạy

học mà thực sự nó là một phương tiện tạo nên một “Môi trường giáo dục

có tính tương tác mạnh", đáp ứng được những yêu cầu mới của “Nền giáo dục điện tử", của một “xã hội học tập".

Ở nước ta, những nghiên cứu gần đây của các tác giả: Nguyễn BáKim, Đào Thái Lai, Lê Công Triêm, Phan Đình Diệu, Phạm Xuân Quế,Mai Văn Trinh, Nguyễn Huy Tú, Trịnh Thanh Hải, Trần Trung đã bước

Trang 33

đầu đi đến những nhận định về vai trò, những ưu điểm cũng như nhữngnhược điểm của việc sử dụng MVT trong dạy học, áp dụng trong hoàn cảnhcủa nước ta.

Kết quả nghiên cứu của các công trình này cho thấy: MVT sử dụngtrong dạy học có thể giải quyết được các nhiệm vụ cơ bản của QTDH, từtruyền thụ tri thức, phát triển tư duy, rèn luyện kỹ năng thực hành, ôn tậpcủng cố, kiểm tra đánh giá cho đến việc giáo dục nhân cách người lao độngmới Nó không chỉ phù hợp cấu trúc logic, đặc điểm của QTDH mà còn cóthể ứng dụng trong nhiều phương pháp, tình huống dạy học khác nhau Cáctác giả cũng đã đưa ra những sơ đồ tương tác khả dĩ giữa các thành tố trongQTDH với MVT (GV-MVT-HS), các định hướng trong việc sử dụng MVTtrong dạy học

Như vậy, MVT là một công cụ có thể được sử dụng vào những giaiđoạn khác nhau của QTDH Đặc biệt đối với việc dạy học vật lý, khả năngtương tác (interactive) cao của MVT với Multimedia có thể thay thế chonhiều phương tiện dạy và học Vật lý trước đây như: tranh ảnh, sơ đồ khối,

sơ đồ chi tiết, biểu bảng, đồ thị, một đoạn băng ghi âm, một đoạn phim cáctài liệu dạy và học, các thí nghiệm, các dụng cụ đo có độ chính xác cao

để minh hoạ và trình bày kiến thức một cách sinh động; xây dựng mô hìnhcho các đối tượng và mô phỏng diễn tiến của các quá trình trong các đốitượng đó theo những mục đích, yêu cầu đã định trước, mà các quá trình đótrong thực tế con người khó hoặc không tiếp cận được (như các thí nghiệmnguy hiểm, các hệ vi mô, vĩ mô, diễn tiến của các quá trình quá nhanh hoặcquá chậm, các thí nghiệm trong các điều kiện lý tưởng )

Kỹ thuật điện tử, công nghệ vi mạch, vi xử lý càng phát triển thì vaitrò chức năng của MVT với tư cách là một phương tiện của QTDH càngphong phú và đa dạng Hiện nay, thế giới đang trong giai đoạn sử dụng thế

hệ MVT thứ năm, đang được chứng kiến những khả năng kỳ diệu củaMVT trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống XH

Trang 34

1.3.4 Phân loại đa phương tiện trong dạy học

Thực tế cho thấy việc phân loại bất kỳ một đối tượng nào củng rấtphức tạp PTDH là một đối tượng khá phong phú càng không tránh khỏiđiều đó Sau đây sẽ điểm qua một số cách phân loại PTDH đã và đangđược quan tâm

1.3.4.1 Phân l‎í luận và phương oại phương tiện dạy học theo dạng vật thể

Có thể phân chia PTDH ra hai loại: loại vật thể và loại phi vật thểcủng chỉ có tính chất tương đối Chẳng hạn chương trình bộ môn, các vănbản giáo khoa phải in và đóng thành quyển, phần mềm dạy học lưu trênđĩa CD-ROM Khi đó, quyển sách, đĩa CD-ROM cũng có thể coi nhưnhững vật thể

1.3.4.2 Phân l‎í luận và phương oại các phương tiện dạy học theo l‎í luận và phương ý thuyết thông tin

Theo lý thuyết thông tin, HĐDH là hoạt động thu phát thông tin.Muốn thực hiện hoạt động này phải có phương tiện chứa đựng thông tin vàphương tiện truyền thông tin đến nơi thu nhận Thông tin ở đây là nội dungdạy học HS là nguồn thu nhận thông tin - thu nhận nội dung dạy học

Như vậy, theo lý thuyết thông tin có thể phân chia các PTDH thànhhai nhóm: Nhóm phương tiện mang thông tin (hay mang nội dung dạy học)vàn nhóm phương tiện truyền thông tin (hay truyền nội dung day học)

a Nhóm phương tiện mang nội dung dạy học

Đây là những phương tiện mà bản thân chúng đã chứa đựng mộtlượng kiến thức môn học Lượng kiến thức này được mang bởi một dạngvật chất nào đó và được bố trí dưới một hình thức nhất định Nhờ đó khiđược truyền đi, hình thức mang thông tin này sẽ có khả năng tác động lênmột cơ quan hay nhóm cơ quan thu nhận thông tin của HS Việc thu nhậnthông tin chủ yếu nhờ thị giác và thính giác Dĩ nhiên các giác quan nhưkhứu giác, vị giác và xúc giác cũng có chức năng trên, nhưng trong dạy họcthì vai trò của chúng ở một mức độ nhất định Do đó ta sẽ chỉ điểm qua cácphương tiện mang thông tin có khả năng tác động đến cơ quan thính giác

Trang 35

(gọi tắt là các phương tiện mang thông tin thính giác, hoặc các phương tiệnmang thông tin nghe) và đến cơ quan thị giác (gọi tắt là các phương tiệnmang thông tin thị giác - hay các phương tiện mang thông tin nhìn).Trường hợp phương tiện vừa mang thông tin thính giác, vừa mang thôngtin thị giác thì được gọi tắt là phương tiện nghe - nhìn.

Các PTDH mang thông tin thính giác (nghe) chủ yếu gồm có:

- Lời nói của GV

- Băng từ, đĩa từ, đĩa CD ghi âm thanh, tiếng nói

- Chương trình phát thanh

Các PTDH mang thông tin thị giác (nhìn) chủ yếu bao gồm:

- Tư liệu in: Chương trình môn học, SGK, sách bài tập, tài liệu thamkhảo, các phiếu in rời,

- Tư liệu chép tay: Bài soạn của GV, vở ghi, bài làm của HS,

- Tư liệu chứa hình ảnh: Tranh vẽ của GV, tranh in, bản đồ, biểu đồ,

đồ thị, ảnh tĩnh in trên giấy, ảnh tĩnh qua máy chiếu, ảnh động qua phimhoặc video, hoặc truyền hình và qua mô phỏng của máy vi tính,

- Vật thật, mô hình hình ảnh hoặc mô hình vật chất,

Các PTDH mang thông tin thính giác và thị giác (nghe-nhìn) gồm:

- Lời nói của GV kết hợp với các phương tiện thị giác;

- Chương trình truyền hình dạy học với sự đàm thoại giữa GV vàHS;

- Các băng hình, chương trình mô phỏng bới máy vi tính, tài liệuinternet, có lồng tiếng động, tiếng nói

b Các phương tiện truyền thông tin hay tải nội dung dạy học:

Đây là những phương tiện chuyển nội dung dạy học đến tác động lêncác giác quan (chủ yếu là thính giác và thị giác) của HS dưới các dạng khácnhau (chủ yếu là nghe và nhìn) Chúng bao gồm:

- Máy ghi - phát âm (với băng từ, đĩa từ, đĩa CD, )

- Máy chiếu phim;

Trang 36

- Máy thu thanh (Radio);

- Máy chiếu hình;

- Máy thu hình (Tivi);

- Camera, máy quay phim;

- Computer, mạng LAN, mạng internet,

1.3.4.3 Phân l‎í luận và phương oại phương tiện dạy học theo tiến trình l‎í luận và phương ịch sử phát triển của nó.

Theo tiến trình lịch sử, qua quá trình dạy học diễn ra từ tự phát, đến

tự giác có tổ chức Ban đầu, để tăng chất lượng và hiệu quả của HĐDH,người dạy đã tự tạo ra các PTDH Đó thường là những phương tiện đơngiản về mặt cấu tạo, và thường được lấy từ những vật dụng thường ngàyhoặc được chế tạo nên từ những vật liệu có sẵn trong sinh hoạt và đời sống.Khi nền kinh tế phát triển, HĐDH được tổ chức chặt chẽ, thì xuất hiệnnghành công nghiệp chế tạo PTDH, các phương tiện này được gọi là cácPTDH truyền thống Sau đó nền công nghiệp điện tử ra đời, các PTDHđược điện tử hóa và các PTDH này được gọi là các PTDH hiện đại

Như vậy, theo tiến trình lịch sử các PTDH được phân chia thành hailoại: PTDH truyền thống và PTDH hiện đại Sự phân loại này cũng có tínhchất tương đối PTDH truyền thống bao gồm các phương tiện hai chiều vàcác phương tiện ba chiều PTDH hiện đại bao gồm các phương tiện nghe,phương tiện nhìn và phương tiện nghe – nhìn

1.4 Sử dụng đa phương tiên trong dạy học môn toán

1.4.1 Yêu cầu đối với đa phương tiện trong dạy học môn Toán

Việc xây dựng và sử dụng các phương tiện dạy học phục vụ cho việcdạy học theo một chủ đề thì ngoài yêu cầu phải đạt được mục đích dạy họcnói chung cũng như mục đích dạy học một chủ đề nói riêng còn phải đồngthời góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học Việc phân tíchđánh giá hiệu quả của quá trình dạy học theo một chủ đề, không chỉ thểhiện ở việc đánh giá kết quả học tập nhất thời của HS mà còn phải xem xét

Trang 37

việc lựa chọn phương tiện và cả quá trình sử dụng phương tiện của thầy cô

và trò ở lớp Nếu đã lựa chọn phương tiện dạy một cách thích hợp thì khi

sử dụng nó có thể khai thác được các chức năng của phương tiện nhằm đạtđược yêu cầu đặt ra cho nó và như thế sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạyhọc

PTDH được các GV và HS sử dụng để thực hiện mục đích dạy họcmột cách có chất lượng và hiệu quả Mục đích dạy học rất đa dạng, baogồm các mặt: Giúp HS chiếm lĩnh tri thức môn học một cách vững chắc;làm cho HS phát triển tư duy trí tuệ và kỹ năng thực hành đến mức vừa cóthể tự lực trong việc xây dựng kiến thức vừa biết vận dụng kiến thức vàothực tiễn; hình thành ở HS những tư tưởng, tình cảm và hành vi đúng đắnđối với thế giới tự nhiên và cộng đồng xã hội Đối tượng của quá trình dạyhọc cũng rất đa dạng và phức tạp, bao gồm: Nội dung môn học với hàmlượng tri thức lý thuyết và sự gắn kết với thực tiễn ngày càng cao; HS vớinhững đặc trưng về tâm - sinh lý luôn biến đổi và phát triển theo lứa tuổi,theo vùng miền và theo những điều kiện sống đa dạng

Ngoài ra, hoạt động giáo dục nói chung, HĐDH nói riêng bao giờcũng gắn bó hữu cơ với môi trường kinh tế - xã hội, phục vụ cho sự pháttriển kinh tế - xã hội và chịu sự chi phối trực tiếp của môi trường đó

Do vậy các PTDH phải đáp ứng những yêu cầu do tính chất đa dạngcủa mục đích, đối tượng và điều kiện của HĐDH đòi hỏi Sau đây ta sẽ xétđến những yêu cầu cơ bản nhất:

1.4.1.1 Yêu cầu về tính khoa học và tính sư phạm:

- Tính khoa học của PTDH thể hiện ở chỗ:

PTDH phải gắn liền với nội dung dạy học Cấu tạo và nguyên lý hoạtđộng của PTDH phải bộc lộ được nội dung kiến thức cần dạy, đặc biệt khiPTDH là phương tiện mang thông tin (mang nội dung dạy học) Nhờ đó khi

sử dụng PTDH thì HS sẽ quan sát được tiến trình diễn biến của sự kiện,hiện tượng đang được nghiên cứu.Thậm chí GV và HS có thể đo đạc được

Trang 38

các thông số đặc trưng cho quá trình diễn biến đó ngay trên PTDH Qua đó

mà GV giúp HS chiếm lĩnh được tri thức khoa học về sự kiện, hiện tượnghay quá trình đang diễn ra Hơn thế nữa HS còn hình thành được kỹ năngquan sát, mô tả, phân tích, tổng hợp, xử lý tư liệu để xây dựng nên tri thứckhoa học (hoặc chỉ là tái diễn lại tiến trình xây dựng tri thức theo mẫu mà

GV đã thực hiện)

Đối với PTDH thuộc loại PT truyền thông tin, yêu cầu về tính khoahọc đòi hỏi phải có sự tương hợp giữa PTDH với đặc điểm của thông tin(nội dung dạy học) Chẳng hạn, nội dung dạy học là quan hệ song song củahai đường thẳng trong không gian PTDH phù hợp là mô hình vật chất hoặchình vẽ; hoặc dùng máy chiếu đa vật thể, phần mềm máy vi tính; còn nếuPTDH là băng ghi âm thì PTDH sẽ không tương hợp nên sẽ tốn công sức

và kém hiệu quả

- Tính sư phạm của PTDH thể hiện ở chỗ:

PTDH phải làm bộc lộ được thông tin (nội dung dạy học) rõ ràng,trực quan nhất (đến mức cả lớp HS đều quan sát được qua thị giác, lĩnh hộiđược qua thính giác và cảm nhận được qua các giác quan khác) Tính sưphạm được yêu cầu rất cao khi PTDH là PT truyền thông tin Tốc độ truyềnthông tin có thể điều khiển được sao cho phù hợp với đặc điểm lứa tuổi,năng lực nhận thức của HS Đối với PTDH mang thông tin (nội dung dạyhọc) thì PT đó phải đảm bảo thuận lợi cho HS tiếp nhận được tri thức mộtcách tốt nhất Kích thước, màu sắc, độ phân giải giữa các chi tiết trênPTDH phải phù hợp với khả năng quan sát của HS, kích thích hứng thúHĐNT của họ

1.4.1.2 Yêu cầu về tính kỹ thuật

Trước hết PTDH cần được thiết kế có tính thẩm mỹ PTDH phải cóhình dáng, kích thước và màu sắc hài hòa, cân đối Tuy phải đảm bảo yêucầu vững chắc và bền nhưng lại phải có đường nét và hình khối thanh nhã

có tính nghệ thuật Có như thế PTDH mới kích thích được hứng thú trong

Trang 39

hoạt động dạy và học của GV và HS Đồng thời qua sử dụng PTDH có tínhthẩm mỹ cao, HS sẽ hình thành được năng lực cảm thụ nghệ thuật và tìnhcảm thái độ trân trọng thành quả lao động Cao hơn nữa là qua đó mà kíchthích tính ham mê lao động sáng tạo.

Đồng thời, PTDH phải phù hợp với đặc điểm tâm - sinh lý của lứatuổi HS Do đó không gây dị tật, bệnh lý (như gây cong vẹo cột sống),không gây mỏi mệt cho HS Màu sắc, ánh sáng phát ra từ các PTDH khônggây chói lòa mắt vì cường độ quá mạnh; hoặc gây cận thị cho mắt HS vìcường độ quá yếu buộc HS phải thường xuyên nhìn gần mới thu nhận đượcthông tin Tức là PTDH phải đảm bảo sự phát triển hài hòa về thể chất củaHS

Mặt khác PTDH phải đảm bảo an toàn: không gây ra môi trườngkhông khí độc hại khi dùng hóa chất; không dùng dây dẫn điện trần, khônggây đổ vỡ các thiết bị, không gây tiếng nổ lớn, không tạo tiếng ồn quángưỡng nghe của con người;…

1.4.1.3.Yêu cầu về tính kinh tế

PTDH phải có giá thành hợp lý, dễ bảo trì, có độ bền và tuổi thọ cao

Có thể thiết kế và chế tạo PTDH theo bộ, nhờ đó một chi tiết, một bộ phận

có thể sử dụng cho nhiều PTDH khác nhau bằng cách tháo lắp một cách dễdàng và thuận lợi

Trên đây là những yêu cầu chung cho mọi loại PTDH Khi xem xétcho từng loại PTDH (nghe; nhìn; nghe - nhìn; ), có thể có những yêu cầurất cụ thể và chi tiết Ta không trình bày điều đó Tuy nhiên những yêu cầu

cụ thể và chi tiết đó một mặt phải xuất phát từ những yêu cầu chung và mặtkhác là phải dựa vào những đặc điểm của từng PTDH Một PTDH có giá trịcao nhất khi nó đồng thời đáp ứng được những yêu cầu chung trên đây vànhững yêu cầu chi tiết, cụ thể do đặc trưng của loại hình mà nó mang theo

Để đảm bảo tác dụng và hiệu quả sử dụng PTDH, ngoài việc đòi hỏicao đến chất lượng PTDH và những điều kiện phòng học, ánh sáng, không

Trang 40

khí, thì việc tuân thủ một số nguyên tắc chung khi sử dụng các PTDH làrất quan trọng Những nguyên tắc này được xây dựng nên từ yêu cầu vềmặt sư phạm và về mặt tâm sinh lý HS tham gia vào quá trình dạy học ởtrường phổ thông.

1.4.2 Nguyên tắc sử dụng đa phương tiện trong dạy học môn Toán

Từ những lí luận và cơ sở tâm lí học của việc ứng dụng đa phươngtiện, GV khi sử dụng đa phương tiện trong dạy học môn Toán cần thựchiện các nguyên tắc sau:

- Xác định rõ chủ đề ứng dụng đa phương tiện:

Trong thực tế không phải tất cả các chủ đề có thể sử dụng đa phươngtiện Chỉ có những chủ đề nhất định mới có thể ứng dụng sử dụng đaphương tiện một cách hiệu quả Đó là :

 Những sự vật hiện tượng hiếm khi xẩy ra, phụ thuộc vào điềukiện tự nhiên đặc biệt và yêu cầu phải có mặt tại thời điểm xuấthiện

 Những sự vật diễn ra quá nhanh hoặc quá chậm

 Những qui trình qui mô không thể quan sát được trong thực tế màchỉ có thể xây dựng mô hình quan sát

 Các chủ để cần chứng minh bằng TN

 Xây dựng những vi thế giới (microworld)

 Khi cần nâng cao hiệu suất lao động, nâng cao hiệu quả thôngtin : Trong những bài mà người Thầy phải mất nhiều thời gian để

vẽ hình hoặc tốn nhiều công sức để trình bày hoặc mô tả quá trìnhchuyển đổi trạng thái của sự vật hiện tượng thì người Thầy cầntìm đến sự hộ trợ đa phương tiện

 Sử dụng đa phương tiện dưới góc độ phương tiện chuyển giaothông tin

- Sử dụng phương tiện dạy học phù hợp với phương pháp dạy học:

Ngày đăng: 20/12/2013, 18:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Ngọc Anh (2009), Sử dụng đa phương tiện trong môn PPDH toán ở trường ĐH sư phạm, Luận án Tiến sĩ giáo dục học, Trường ĐH sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng đa phương tiện trong môn PPDHtoán ở trường ĐH sư phạm
Tác giả: Hoàng Ngọc Anh
Năm: 2009
2. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát huy tính tích cực, tự l‎í luận và phương ực của HS trong quá trình dạy học, Vụ GV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực, tự l‎í luận và phương ực của HS trongquá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Năm: 1995
3. Nguyễn Vĩnh Cận, Lê Thống Nhất, Phan Thanh Quang (1997), Sai l‎í luận và phương ầm phổ biến khi giải toán, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sai l‎í luận và phương ầmphổ biến khi giải toán
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Cận, Lê Thống Nhất, Phan Thanh Quang
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
4. Nguyễn Hữu Châu (2005), Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về chương trình vàquá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
5. Cruchetxki V. A. (1973), Những cơ sở Tâm l‎í luận và phương í học sư phạm , Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở Tâm l‎í luận và phương í học sư phạm
Tác giả: Cruchetxki V. A
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 1973
6. Cruchetxki V. A. (1973), Tâm l‎í luận và phương í năng l‎í luận và phương ực toán học của HS, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm l‎í luận và phương í năng l‎í luận và phương ực toán học của HS
Tác giả: Cruchetxki V. A
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 1973
7. Hồ Ngọc Đại (2000), Tâm l‎í luận và phương í học dạy học, Nxb ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm l‎í luận và phương í học dạy học
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: Nxb ĐH Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
8. Vũ Cao Đàm (1998), Phương pháp l‎í luận và phương uận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp l‎í luận và phương uận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXBKhoa học Kỹ thuật
Năm: 1998
10. Phạm Minh Hạc (1992), Một số vấn đề tâm l‎í luận và phương í học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề tâm l‎í luận và phương í học
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
11. Phạm Văn Hoàn, Nguyễn Gia Cốc, Trần Thúc Trình (1981), Giáo dục học môn Toán, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dụchọc môn Toán
Tác giả: Phạm Văn Hoàn, Nguyễn Gia Cốc, Trần Thúc Trình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1981
12. Trần Bá Hoành (2007), Đổi mới PPDH, chương trình và SGK, Nxb ĐH Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới PPDH, chương trình và SGK
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: Nxb ĐHSư Phạm
Năm: 2007
13. Howard Eves (1993), Giới thiệu l‎í luận và phương ịch sử toán học, Nxb Khoa học và kĩ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu l‎í luận và phương ịch sử toán học
Tác giả: Howard Eves
Nhà XB: Nxb Khoa học và kĩthuật
Năm: 1993
14. Phan Huy Khải, Nguyễn Đạo Phương (2002), Các phương pháp giải Toán sơ cấp Hình học không gian 11, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp giảiToán sơ cấp Hình học không gian 11
Tác giả: Phan Huy Khải, Nguyễn Đạo Phương
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2002
15. Kharlamôp I. F. (1978), Phát huy tính tích cực học tập của HS như thế nào, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực học tập của HS như thếnào
Tác giả: Kharlamôp I. F
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1978
16. Trần Kiều (1998), “Toán học nhà trường và yêu cầu phát triển văn hóa toán học”, Nghiên cứu giáo dục, (10), tr. 3 - 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toán học nhà trường và yêu cầu phát triển văn hóatoán học”, "Nghiên cứu giáo dục
Tác giả: Trần Kiều
Năm: 1998
17. Nguyễn Bá Kim (2002), PPDH môn Toán, NXB ĐH sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: PPDH môn Toán
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Nhà XB: NXB ĐH sư phạm
Năm: 2002
19. Thái Thị Hồng Lam (2005), Một số biện pháp tạo hứng thú học tập trong dạy học hình học nhằm phát huy tính tích cực trong HĐNT của HS, NCKH, ĐH Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp tạo hứng thú học tậptrong dạy học hình học nhằm phát huy tính tích cực trong HĐNT củaHS
Tác giả: Thái Thị Hồng Lam
Năm: 2005
22. Marôzôva N.G. (1982), Nói chuyện với các GV về hứng thú nhận thức, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nói chuyện với các GV về hứng thú nhận thức
Tác giả: Marôzôva N.G
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1982
23. Bùi Văn Nghị, Trần Trung, Nguyễn Tiến Trung (2010), Dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Toán l‎í luận và phương ớp 11, NXB ĐH sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theochuẩn kiến thức, kỹ năng môn Toán l‎í luận và phương ớp 11
Tác giả: Bùi Văn Nghị, Trần Trung, Nguyễn Tiến Trung
Nhà XB: NXB ĐH sư phạm
Năm: 2010
24. Bùi Văn Nghị (2008), Vận dụng l‎í luận và phương ý l‎í luận và phương uận vào thực tiễn dạy học môn Toán ở trường phổ thông, NXB ĐH sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng l‎í luận và phương ý l‎í luận và phương uận vào thực tiễn dạy học môn Toán ở trường phổ thông
Tác giả: Bùi Văn Nghị
Nhà XB: NXB ĐH sư phạm
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Dạy học-một quá trình truyền thông đa phương tiện - Sử dụng đa phương tiện trong dạy học hình học không gian theo hướng bồi dưỡng hứng thú nhận thức của học sinh luận văn thạc sỹ giáo dục học
Hình 1.1 Dạy học-một quá trình truyền thông đa phương tiện (Trang 19)
Bảng 1.1: Ưu nhược điểm cuả các phương tiện dạy học thông dụng - Sử dụng đa phương tiện trong dạy học hình học không gian theo hướng bồi dưỡng hứng thú nhận thức của học sinh luận văn thạc sỹ giáo dục học
Bảng 1.1 Ưu nhược điểm cuả các phương tiện dạy học thông dụng (Trang 22)
Bảng 1.2 Mức độ ảnh hưởng của các giác quan đến sự tiếp thu và ghi nhớ - Sử dụng đa phương tiện trong dạy học hình học không gian theo hướng bồi dưỡng hứng thú nhận thức của học sinh luận văn thạc sỹ giáo dục học
Bảng 1.2 Mức độ ảnh hưởng của các giác quan đến sự tiếp thu và ghi nhớ (Trang 24)
Bảng 1.3 Mức độ hiệu quả sử dụng của các phương tiện dạy học - Sử dụng đa phương tiện trong dạy học hình học không gian theo hướng bồi dưỡng hứng thú nhận thức của học sinh luận văn thạc sỹ giáo dục học
Bảng 1.3 Mức độ hiệu quả sử dụng của các phương tiện dạy học (Trang 28)
Bảng 1.4. Bảng điều tra thái độ học tập của HS sau khi học xong bài giảng điện tử - Sử dụng đa phương tiện trong dạy học hình học không gian theo hướng bồi dưỡng hứng thú nhận thức của học sinh luận văn thạc sỹ giáo dục học
Bảng 1.4. Bảng điều tra thái độ học tập của HS sau khi học xong bài giảng điện tử (Trang 47)
HĐ1: Hình thành khái niệm. - Sử dụng đa phương tiện trong dạy học hình học không gian theo hướng bồi dưỡng hứng thú nhận thức của học sinh luận văn thạc sỹ giáo dục học
1 Hình thành khái niệm (Trang 59)
Hình 2.8 Hình 2.9 - Sử dụng đa phương tiện trong dạy học hình học không gian theo hướng bồi dưỡng hứng thú nhận thức của học sinh luận văn thạc sỹ giáo dục học
Hình 2.8 Hình 2.9 (Trang 64)
Hình 2.10 Hình 2.11 - Sử dụng đa phương tiện trong dạy học hình học không gian theo hướng bồi dưỡng hứng thú nhận thức của học sinh luận văn thạc sỹ giáo dục học
Hình 2.10 Hình 2.11 (Trang 66)
Hình 2.12 Hình 2.13 - Sử dụng đa phương tiện trong dạy học hình học không gian theo hướng bồi dưỡng hứng thú nhận thức của học sinh luận văn thạc sỹ giáo dục học
Hình 2.12 Hình 2.13 (Trang 67)
Hình 2.20a Hình 2.20b - Sử dụng đa phương tiện trong dạy học hình học không gian theo hướng bồi dưỡng hứng thú nhận thức của học sinh luận văn thạc sỹ giáo dục học
Hình 2.20a Hình 2.20b (Trang 75)
Hình 2.21aTa xét tiếp ví dụ sau thể hiện - Sử dụng đa phương tiện trong dạy học hình học không gian theo hướng bồi dưỡng hứng thú nhận thức của học sinh luận văn thạc sỹ giáo dục học
Hình 2.21a Ta xét tiếp ví dụ sau thể hiện (Trang 76)
Bảng 3.1. Bảng thống kê điểm số các bài kiểm tra trong TN Lần - Sử dụng đa phương tiện trong dạy học hình học không gian theo hướng bồi dưỡng hứng thú nhận thức của học sinh luận văn thạc sỹ giáo dục học
Bảng 3.1. Bảng thống kê điểm số các bài kiểm tra trong TN Lần (Trang 98)
Hình 3.2. Đồ thị tần suất hội tụ lùi điểm các bài kiểm tra trong TN  Bảng 3.4. Phân loại trình độ qua các lần kiểm tra: - Sử dụng đa phương tiện trong dạy học hình học không gian theo hướng bồi dưỡng hứng thú nhận thức của học sinh luận văn thạc sỹ giáo dục học
Hình 3.2. Đồ thị tần suất hội tụ lùi điểm các bài kiểm tra trong TN Bảng 3.4. Phân loại trình độ qua các lần kiểm tra: (Trang 100)
Bảng 3.6. Bảng thống kê điểm số các bài kiểm tra sau TN - Sử dụng đa phương tiện trong dạy học hình học không gian theo hướng bồi dưỡng hứng thú nhận thức của học sinh luận văn thạc sỹ giáo dục học
Bảng 3.6. Bảng thống kê điểm số các bài kiểm tra sau TN (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w