Bộ giáo dục và đào tạoTrờng đại học vinh Ngô phi hùng sự chuyển đổi chức năng - nghĩa từ vựng của thuật ngữ hoá học, sinh học trong tiếng Việt Chuyên ngành: Lí luận Ngôn ngữ M số: 60.22.
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
Ngô phi hùng
sự chuyển đổi chức năng - nghĩa từ vựng của thuật
ngữ hoá học, sinh học trong tiếng Việt
Chuyên ngành: Lí luận Ngôn ngữ
M số: 60.22.01ã số: 60.22.01 luận văn thạc sĩ ngữ văn
Ngời hớng dẫn khoa học:
TS Hoàng Trọng Canh
Vinh - 2008
Lời cảm ơnTôi xin chân thành cảm ơn các Giáo s, Phó giáo s, Tiến sĩ, các thầy giáo, cô giáo trong Khoa sau Đại học, Khoa ngữ văn, bộ môn Ngôn ngữ Tr- ờng Đại học Vinh đã tận tình giảng dạy, cung cấp tài liệu, hớng dẫn và giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Tiến sĩ Hoàng Trọng Canh, ngời thầy đã tận tâm tận lực hớng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này Tôi xin cảm ơn sự hớng dẫn và giúp đỡ nhiệt thành của Giáo s - Tiến
Trang 2sĩ Lê Quang Thiêm trong quá trình su tầm tài liệu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Trờng Trung tâm GDTX, Phòng giáo dục, UBND huyện Quan Hóa tỉnh Thanh Hóa và tập thể lớp Lý luận Ngôn ngữ Cao học 14 - Trờng Đại học Vinh, gia đình, ngời thân, đồng nghiệp
đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và hoàn thành luận văn này.
Chơng 1: Cơ sở lí luận của việc nghiên cứu
sự chuyển đổi chức năng – nghĩa từ vựng
khảo sát
34
Chơng 2: sự chuyển đổi chức năng – nghĩa từ vựng
trong phạm vi thuật ngữ hoá học
42
2.1 Sự chuyển đổi chức năng – nghĩa trong phạm vi danh từ 422.2 Sự chuyển đổi chức năng – nghĩa trong phạm vi động từ 562.3 Sự chuyển đổi chức năng – nghĩa trong phạm vi tính từ 69
Chơng 3: sự chuyển đổi chức năng – nghĩa từ vựng 78
Trang 3trong phạm vi thuật ngữ sinh học
3.1 Sự chuyển đổi chức năng – nghĩa trong phạm vi danh từ 783.2 Sự chuyển đổi chức năng – nghĩa trong phạm vi động từ 903.3 Sự chuyển đổi chức năng – nghĩa trong phạm vi tính từ 95
danh mục các công trình đ công bố của tác giảã số: 60.22.01
có liên quan đến luận văn
109
Danh mục các bảng (trong chơng 2 và 3)
Trang
Bảng 2.1 Tỉ lệ thuật ngữ hoá từ thờng trong danh từ của thuật ngữ
hoá học
51Bảng 2.2 Tỉ lệ thuật ngữ hoá từ thờng trong động từ của thuật ngữ
hoá học
64Bảng 2.3 Tỉ lệ thuật ngữ hoá từ thờng trong tính từ của thuật ngữ hoá
học
74
Bảng 2.4 Tỉ lệ thuật ngữ hoá từ thờng trong danh từ, động từ, tính từ
của thuật ngữ hoá học
76
Bảng 3.1 Tỉ lệ thuật ngữ hoá từ thờng trong danh từ của thuật ngữ
sinh học
82Bảng 3.2 Tỉ lệ thuật ngữ hoá từ thờng trong động từ của thuật ngữ
sinh học
92Bảng 3.3 Tỉ lệ thuật ngữ hoá từ thờng trong tính từ của thuật ngữ
sinh học
97Bảng 3.4 Tỉ lệ thuật ngữ hoá từ thờng trong danh từ, động từ, tính từ 100
Trang 4cña thuËt ho¸ häc, sinh häc.
qui íc viÕt t¾t trong luËn v¨n
Trang 5cho các dân tộc Việt Nam Tiếng Việt hành chức nh một ngôn ngữ quốc gia vàphát triển ngang hàng cùng các ngôn ngữ trên thế giới Cũng giống nh cácngôn ngữ trên thế giới, trong quá trình tồn tại, tiếng Việt cũng có đời sống nộitại, có quá trình phát triển riêng Trong sự phát triển của ngôn ngữ, bên cạnhnhững nhân tố ổn định là cơ bản thì có một số hiện tợng ngôn ngữ trở thànhlạc hậu, bị mất đi, có nhiều hiện tợng mới nảy sinh làm cho diện mạo ngônngữ có sự biến đổi Quá trình biến đổi này diễn ra nhanh hay chậm tuỳ thuộcvào nhiều yếu tố trong và ngoài ngôn ngữ, trong đó những yếu tố về xã hội,chính trị, kinh tế đóng vai trò quan trọng Sự biến đổi này diễn ra ở mọi cấp
độ: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng – ngữ nghĩa Tuy nhiên, sự biến đổi và pháttriển rõ nét nhất ở cấp độ từ vựng – ngữ nghĩa, trong đó có vấn đề nghĩa bởi
từ nói chung, nghĩa nói riêng là tấm gơng phản chiếu mọi mặt của đời sống xãhội, một bộ phận đợc xem là phản ánh trực tiếp nhất trong sự biến đổi và pháttriển ngôn ngữ
Trong quá trình phát triển của ngôn ngữ, thực tế cuộc sống đóng mộtvai trò quan trọng Bởi mọi sự vật, hiện tợng trong thế giới vật chất luôn luônvận động và phát triển không ngừng trong khi đó ngôn từ để diễn đạt những
sự vật, hiện tợng này thì có hạn Cho nên ngời nói, ngời viết khi đứng trớcmột sự kiện, một trạng thái mà cha có cách biểu hiện trong ngôn ngữ hay đã
có nhng cha thoả mãn nhu cầu giao tiếp của cá nhân thì luôn tìm cách diễn
đạt mới Điều đó đòi hỏi từ vựng – ngữ nghĩa phải có những đơn vị từ ngữmới hay các nghĩa mới để diễn tả chính xác các khái niệm, các thuộc tínhcủa sự vật, hiện tợng
1.2 Trong tiến trình phát triển của một dân tộc, dân tộc nào phát triểnmạnh về lĩnh vực nào thì vốn từ vựng của dân tộc đó sẽ xuất hiện nhiều những
đơn vị từ ngữ mới về lĩnh vực khoa học đó ở nớc ta vào những năm đầu thế
kỷ XX, những thuật ngữ tiếng Việt mới chỉ xuất hiện lẻ tẻ, cũng chỉ hạn chếtrong một vài lĩnh vực Từ những năm 30 và nhất là từ sau cách mạng thángTám, Việt Nam đã bắt đầu tiếp xúc với nền văn hoá, khoa học kĩ thuật tiếntiến phơng Tây nhiều hơn, vốn từ vựng biến đổi, phát triển nhanh chóng, đặcbiệt là thuật ngữ Thuật ngữ đợc xem nh bức tranh phản chiếu, là diện mạotoàn cảnh từ ngữ ghi dấu trạng thái tri thức, trạng thái sáng tạo, tiếp biến củamột dân tộc trong từng thời kì tiến hoá và phát triển ngày càng đi lên, ngàycàng tiến bộ của nhân loại
Trang 6Trải qua hơn một thế kỉ, thuật ngữ tiếng Việt đã phát triển nhanhchóng, mạnh mẽ cả về số lợng và chất lợng, cả về nội dung và hình thức.Trong từng giai đoạn lịch sử, tuỳ từng hoàn cảnh xã hội mà thuật ngữ của từngngành phát triển với tốc độ nhanh chậm khác nhau Khoảng những năm 30 trở
đi, nhiều thuật ngữ chính trị, triết học đã đợc lu hành nhng thờng vẫn ở trong
điều kiện bí mật Cách mạng tháng Tám thành công đã tạo điều kiện cho thuậtngữ sinh sôi nảy nở Tiếp đến thời kì kháng chiến thuật ngữ quân sự phát triển.Rồi hoà bình lập lại, trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc,trong công cuộc xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá, khoa học, hàng loạtthuật ngữ của các ngành kinh tế, văn hoá, khoa học kĩ thuật phát triển mạnh.Trong công cuộc chống Mĩ cứu nớc, nhân dân ta đã sáng tạo ra rất nhiều thuậtngữ, không phải chỉ về đấu tranh mà cả về sản xuất Càng ngày thuật ngữ càng
đợc chính xác hóa, hoàn thiện hơn, vừa đảm bảo đợc tính khoa học, vừa tăngthêm tính dân tộc và tính đại chúng
1.3 Ngày nay, dới tác động của xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, cũnggiống nh các hệ thuật ngữ khoa học khác, hệ thuật ngữ hoá học, sinh học tiếngViệt đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển ngôn ngữ dân tộc Đây là một
bộ phận từ vựng đặc biệt của tiếng Việt So với các bộ phận khác trong hệthống từ vựng thì thuật ngữ là bộ phận phát triển nhanh nhất, là tấm g ơngphản ánh trình độ phát triển khoa học kĩ thuật của một dân tộc Thuật ngữ đ -
ợc hình thành bằng các con đờng chủ yếu là: thuật ngữ hoá từ ngữ thông ờng; thuật ngữ đợc tạo từ những yếu tố có sẵn trong ngôn ngữ; vay mợn thuậtngữ từ các ngôn ngữ khác Trong ba con đờng hình thành thuật ngữ này, con
th-đờng thuật ngữ hoá từ thông thờng chiếm một số lợng đáng kể, đây chính làcon đờng chuyển nghĩa từ một đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ – định danhgián tiếp, kết quả của quá trình này là tạo ra một đơn vị định danh thứ sinh
Từ điển là loại sách tra cứu cung cấp thông tin về các từ ngữ, nó cóchức năng xã hội rất rộng Bên cạnh việc cung cấp vốn từ ngữ và cách sửdụng chúng trong giao tiếp bản ngữ, học ngoại ngữ, từ điển còn góp phầnchuẩn hoá ngôn ngữ, giúp mở rộng hiểu biết của con ngời về sự vật, kháiniệm – vốn là một mặt không thể thiếu đợc trong ý nghĩa của từ Từ điểnluôn phản ánh những kiến thức vốn có trong xã hội ở một thời kì nhất định
Nó là một trong những sản phẩm khoa học chịu ảnh hởng trực tiếp của nềnvăn hoá xã hội Ngợc trở lại, từ điển cũng có tác dụng lớn đối với sự phát
Trang 7triển của văn hoá, giáo dục, đối với việc nâng cao dân trí, đối với sự pháttriển của bản thân ngôn ngữ và đối với việc mở rộng giao lu giữa những cộng
đồng ngôn ngữ khác nhau
Sự phát triển mạnh mẽ của vốn từ tiếng Việt nh đã nêu trên cùng vớitình hình biên soạn và xuất bản từ điển hiện nay đặt ra yêu cầu cấp thiết đốivới những ngời làm công tác ngôn ngữ học là: cần phải tập trung công sức, trítuệ để biên soạn một cuốn từ điển tiếng Việt thật tốt, hệ thống hoá vốn từtiếng Việt ở giai đoạn hiện nay, giải thích ý nghĩa từ ngữ, hớng dẫn ngời sửdụng dùng đúng từ ngữ, góp phần vào công việc chuẩn hoá tiếng Việt Đề tài
“Sự chuyển đổi chức năng – nghĩa từ vựng của thuật ngữ hoá học, sinh họctrong tiếng Việt” có nhiệm vụ tìm hiểu, cắt nghĩa, chứng minh sự phát triển
nghĩa ở chiều sâu theo cách hiểu phổ nghĩa với các kiểu nghĩa chức năng từ
vựng khác nhau bên trong đơn vị từ vựng tiếng Việt mà những năm gần
đây đợc nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, nhằm góp một phần nhỏ bévào công việc biên soạn từ điển cũng nh công cuộc gìn giữ sự trong sángcủa tiếng Việt hiện nay
2 Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của luận văn là khảo sát sự chuyển đổi chức năng– nghĩa từ vựng của thuật ngữ hóa học, sinh học trong tiếng Việt Nội dungkhảo sát gồm hai quá trình:
+ Những từ thông thờng đợc dùng với chức năng thuật ngữ (thuật ngữhoá từ thờng)
+ Những thuật ngữ đợc dùng trong phong cách sinh hoạt (thông thờnghoá thuật ngữ)
T liệu nghiên cứu chính của luận văn là những thuật ngữ đợc lấy từ :
Từ điển hoá học phổ thông – Nguyễn Thạc Cát (chủ biên) (2002); Từ điển sinh học phổ thông của Huỳnh Thị Dung – Nguyễn Vũ (2005).
Trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ, bớc đầu chúng tôi chỉ khảo sátquá trình thứ nhất Đó là quá trình những từ thông thờng đợc mở rộng nộidung kiêm chức năng thuật ngữ Quá trình thứ hai, những thuật ngữ đợc dùngtrong phong cách sinh hoạt sẽ đợc khảo sát trong một dịp khác
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở xác định những đơn vị từ vựng vốn có, những đơn vị từvựng tiếng Việt đợc dùng trong đời thờng nay đợc chuyển đổi thành thuật ngữ
Trang 8để thực hiện chức năng mới – chức năng trong phong cách khoa học Đây làcách tạo ra một đơn vị định danh thứ sinh Nhiệm vụ của đề tài là thử cắtnghĩa các bớc, các thang bậc của sự chuyển đổi chức năng – nghĩa Bởichúng ta quan niệm, nghĩa không tự nhiên có mà là sản phẩm do con ngờisáng tạo ra trong quá trình hoạt động Vì vậy, khi một đơn vị chuyển đổi phạm
vi sử dụng, đồng thời chuyển đổi phạm vi chức năng thì sẽ dẫn tới nghĩa mới
4 Phơng pháp nghiên cứu
Để đạt hiệu quả trong việc nghiên cứu, chúng tôi đã áp dụng các
ph-ơng pháp sau:
- Phơng pháp quan sát đợc dùng để quan sát phạm vi khách thể, từ đóphát hiện ra chất liệu có liên quan đến đối tợng nghiên cứu mà cụ thể ở đây lànhững thuật ngữ hoá học, sinh học tiếng Việt vốn có nguồn gốc từ từ thờng đã
đợc thuật ngữ hoá
- Phơng pháp thống kê đợc dùng để thống kê những đơn vị xuấthiện trong từ điển hoá học và sinh học phổ thông Từ đó tổng hợp các sốliệu cần thiết làm cơ sở xác thực cho những kết luận trong quá trìnhnghiên cứu
- Phơng pháp phân tích nghĩa đợc dùng để xác định các yếu tố cũng
nh quy luật cấu tạo của các thuật ngữ trong sự phát triển nghĩa Đây là phơngpháp giúp phân tích chức năng, phạm vi hoạt động của từ ngữ, từ đó xác địnhthuộc tính nghĩa có liên quan đến phạm vi sử dụng, xác định sự chuyển đổichức năng – nghĩa theo chiều hớng thuật ngữ hoá từ thờng
- Phơng pháp so sánh đối chiếu đợc dùng khi phân tích những đặc
điểm riêng của từng tiểu loại Các tiểu loại đợc khảo sát có mối quan hệ liên
hệ với nhau Từ đó rút ra những nhận xét chung cho từng tiểu loại này
5 ý nghĩa của luận văn
- “Sự chuyển đổi chức năng – nghĩa từ vựng của thuật ngữ hoá học,sinh học trong tiếng Việt” cho thấy phơng thức biến đổi và phát triển nghĩa làmột phơng thức cơ bản của sự phát triển thuật ngữ tiếng Việt Phơng thức nàycho ta thấy rõ sự phát triển của từ vựng – ngữ nghĩa theo chiều sâu, phát triển
về chất của các đơn vị từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt Đây cũng là con ờng làm giàu vốn từ tiếng Việt một cách tiết kiệm nhất – phát triển nộidung nghĩa mới, hoàn thành chức năng mới trong hình thức đã có, trongcác từ thờng dùng của vốn từ
Trang 9đ Việc nghiên cứu góp phần làm rõ xu hớng biến đổi và phát triển của
hệ thuật ngữ hoá học, sinh học tiếng Việt trong thời gian qua, hiện tại và tơnglai với yêu cầu công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nớc trong xu thế quốc tếhoá, toàn cầu hoá Luận văn này nói riêng cũng nh từ vựng – ngữ nghĩatiếng Việt nói chung góp phần nghiên cứu lịch sử phát triển của thuật ngữtiếng Việt
- Qua việc phân tích, miêu tả dựa trên cứ liệu đã thống kê đợc, luậnvăn phần nào góp phần cung cấp nguồn t liệu cho các công trình nghiên cứu
sự phát triển của từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt, bởi hệ thuật ngữ là một bộphận của vốn từ vựng phản ánh sự biến đổi và phát triển của xã hội Việt Namtrong thế kỉ XX và hiện nay
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, tài liệu tham khảo, t liệu nghiêncứu, luận văn gồm có ba chơng đợc sắp xếp nh sau:
Chơng 1 Cơ sở lí luận của việc nghiên cứu sự chuyển đổi chứcnăng – nghĩa từ vựng
Chơng 2 Sự chuyển đổi chức năng – nghĩa trong phạm vi thuật ngữhoá học
Chơng 3 Sự chuyển đổi chức năng – nghĩa trong phạm vi thuật ngữsinh học
Trang 10Chơng 1 Cơ sở lí luận của việc nghiên cứu
sự chuyển đổi chức năng – nghĩa từ vựng
ở chơng này chúng tôi sẽ trình bày cơ sở lí luận về sự chuyển đổi chứcnăng – nghĩa và lịch sử của vấn đề này đã đợc đề cập tới trong Việt ngữ học.Những quan điểm và cách hiểu đợc nêu lên trong chơng này là chỗ dựa, làluận điểm xuất phát để chúng tôi vận dụng, triển khai ở các chơng sau Tuynhiên với khuôn khổ của luận văn thạc sĩ, chúng tôi không có điều kiện đàosâu, đề xuất những điểm mới mà chỉ trình bày lại những hiểu biết để làm cơ sởcho việc phân tích, giải thích ngữ liệu cụ thể
1.1 Chức năng và các phạm vi chức năng trong ngôn ngữ
Trớc đây cũng nh những năm gần đây, sau thời kì ngôn ngữ học quánhấn mạnh đến cấu trúc, đến hình thức, ngời ta nói nhiều đến chức năng, chứcnăng luận trong nghiên cứu ngôn ngữ Vậy chúng ta nên hiểu “chức năng là
gì” để tiện vận dụng vào ngôn ngữ học Theo Từ điển tiếng Việt, chức năng là
“Tác dụng, vai trò bình thờng hoặc đặc trng của một ngời nào đó, một cái gì
đó” [31, tr.191] Từ góc độ ngôn ngữ học, ngời ta hiểu chức năng một cách
chuyên sâu hơn, chức năng là “1 Vai trò, nhiệm vụ mà đơn vị ngôn ngữ đảm nhiệm khi nó hoạt động trong lời nói Vd: Chức năng chủ ngữ Chức năng của
bổ ngữ Chức năng của giới từ 2 Mục đích và đặc điểm của một đơn vị ngôn
ngữ nào đó đợc thể hiện trong lời nói 3 Sự biểu thị khái quát các mặt (bìnhdiện) khác nhau của ngôn ngữ và các yếu tố của nó xuất phát từ góc độ sử
dụng vai trò, nhiệm vụ của chúng Vd: Chức năng của các đơn vị thông báo Chức năng xã hội của ngôn ngữ” [41, tr.60] Nh vậy, với hai nội dung hiểu
nông và sâu khác nhau, chúng tôi có thể vận dụng để phân tích, xác định cáchhiểu của mình trong ngôn ngữ và ngôn ngữ học Ngôn ngữ là phơng tiện giaotiếp quan trọng nhất của con ngời Giao tiếp là sự truyền đạt thông tin từ ngờinày đến ngời khác với một mục đích nhất định nào đó Sự giao tiếp đợc thựchiện nhờ hoạt động giao tiếp giữa hai hoặc hơn hai ngời với nhau trong mộtbối cảnh nhất định và bằng một phơng tiện giao tiếp chung Nhờ có ngôn ngữ
mà con ngời có khả năng hiểu biết lẫn nhau Nó là một trong những động lực
đảm bảo sự tồn tại và phát triển của xã hội loài ngời Sở dĩ nó quan trọng nhấtvì trên góc độ lịch sử và toàn diện mà xét, không một phơng tiện giao tiếp nào
có thể sánh đợc với nó Trong giao tiếp, ngôn ngữ đợc dùng để thực thi một số
Trang 11nhiệm vụ, hoàn thành những chức năng xác định Trong một chiết đoạn lờinói, mỗi thành phần đều đảm nhiệm chức năng của mình Vì vậy, việc phântích ngôn ngữ cần thiết xác định mối quan hệ giữa các thành phần Trong tr-ờng hợp nh vậy nếu không tính đến chức năng giao tiếp thì sẽ không thể lí giảihay đánh giá đúng vị trí, vai trò, đặc điểm của các thành phần đó trong biểu
đạt ý nghĩa
Mỗi hệ thống ngôn ngữ đều có hệ thống biểu đạt tơng ứng với hệthống nghĩa của nó Quy cách nói năng cũng chỉ rõ: trớc tiên ngời nói suynghĩ xem cần nói gì rồi sau đó tìm cách lựa chọn hình thức biểu đạt, yếu tốngôn ngữ thích hợp dùng cho điều mình nói ra Vậy cũng có nghĩa là trớc hết
là nội dung nghĩa rồi đến chức năng, sau đó mới đến hình thức biểu đạt Điềunày hoàn toàn phù hợp với thứ tự mà ngời nói, ngời viết tuân thủ, tức cũngphù hợp với chủ thể ngôn ngữ trong nói năng, sáng tạo ngôn ngữ Ngay trongchiều sâu t duy phản ánh cũng xảy ra quá trình: ngời nói cảm nhận, đánh giá
sự vật khách quan rồi mới quyết định sử dụng ngôn ngữ thích hợp, phongcách chức năng tơng thích, chức năng tín hiệu ngôn ngữ là hiện thực củachính tín hiệu đó và tín hiệu là hiện thực của nghĩa Chức năng và nghĩa củatín hiệu ngôn ngữ luôn luôn tồn tại với nhau, gắn bó chuyển hoá cho nhau.Giải thích sâu hơn về sự gắn bó giữa nghĩa, t duy và chức năng ngôn ngữ củacon ngời, chúng ta có thể tìm thấy trong ý kiến của C Mác Theo ông, ngônngữ không chỉ là phơng tiện vật chất để biểu đạt t duy mà còn là công cụ củahoạt động t duy Nó trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành và phát triển
t duy của con ngời Ngôn ngữ còn có một đặc trng khác nữa mà C Mác đãchỉ ra: ngôn ngữ nh một hiện thực trực tiếp của t tởng ở đây ông nhấn mạnh
đến một chức năng khác của ngôn ngữ, cụ thể là chức năng phản ánh: t duy,tức là sự phản ánh thế giới xung quanh bởi con ngời, chủ yếu đợc thực hiện d-
ới hình thức ngôn ngữ Nói cách khác, chức năng giao tiếp là chức năng thứnhất, còn chức năng phản ánh là chức năng thứ hai, đồng thời cả hai chứcnăng này đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và liên quan trực tiếp đến biểu
đạt nghĩa trong ngôn ngữ Ngày nay, hai chức năng này đợc đào sâu nghiêncứu hơn: ngôn ngữ không chỉ là phơng tiện đợc dùng để trao đổi giữa ngời nàyvới ngời khác trong xã hội mà nó còn là sự tơng tác hiện thực trong đời sốngxã hội Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của t tởng đồng thời nó còn có những
Trang 12chức năng khác: lu trữ thông tin, đa đẩy, thi pháp, dụng học và nhiều chứcnăng đa dạng khác.
ở phạm vi xác định hơn, khi đi vào các cấp độ tồn tại khác nhau củangôn ngữ thì chức năng khái quát trên đợc biểu hiện cụ thể ở từng loại đơn vị,từng phạm vi hoạt động của ngôn ngữ cũng nh các phạm vi giao tiếp, cácphong cách chức năng khác nhau
Thông thờng, đối với từng loại đơn vị cụ thể, chúng có những chứcnăng khác nhau Chẳng hạn: âm vị có chức năng khu biệt nghĩa và là đơn vịcấu tạo âm tiết; hình vị là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa và mang giá trị ngữ pháp,
có chức năng cấu tạo và biến đổi từ; từ là đơn vị biểu thị khái niệm, để địnhdanh, ; câu là đơn vị phán đoán trong lô gích, thể hiện thông báo, v.v
Về phạm vi hoạt động cũng có sự phân biệt ở những từ thuộc các từloại khác nhau có chức năng ngữ pháp khác nhau Chẳng hạn: một từ loạidanh từ khi đi vào hoạt động trong câu có vai trò chủ ngữ hoặc bổ ngữ trựctiếp trong câu Ngay cả một từ mà trong câu nói khác nhau với dụng ý của ng-
ời nói, từ đó có thể hoàn thành chức năng – nghĩa khác nhau Một từ đi có
thể hoàn thành chức năng biểu thị một vận động, cũng có thể thể hiện mệnhlệnh, thúc dục, nhắc nhở Đơn vị, biểu thức ngôn ngữ trong hệ thống và tronghoạt động hành chức luôn có chức năng đa dạng Vì vậy, khi nói đến chứcnăng ngôn ngữ với cách hiểu đầy đủ bao gồm:
a Vai trò của ngôn ngữ đối với xã hội nh chức năng làm công cụ giaotiếp và công cụ biểu hiện t duy của con ngời
b Nhiệm vụ, vai trò của các đơn vị ngôn ngữ hoặc các yếu tố ngônngữ trong hệ thống cấu trúc ngôn ngữ
c Sự cụ thể hoá vai trò của các đơn vị, yếu tố ngôn ngữ trong lời nói
cụ thể
d Tác dụng của các ngôn từ cụ thể trong giao tiếp
Chính vì có sự phân biệt các phạm vi, các cấp độ chức năng – nghĩakhác nhau nh vậy nên việc đi vào tìm hiểu cụ thể từng cấp độ là một việc làmcần thiết và bổ ích
Trang 13Nguyễn Văn Tu sau khi viện dẫn tam giác nghĩa của Zvêginxev đã chỉ rarằng: “Nghĩa từ vựng của từ đợc qui định bằng những yếu tố tác động lẫn nhaunh: a Thuộc tính của đối tợng b Khái niệm về đối tợng c Hệ thống ngônngữ giúp cho việc diễn đạt nghĩa” [37, tr.105].
Đến năm 1979, trong luận án của Lê Quang Thiêm, tác giả dù khôngtập trung kiến giải nghĩa nhng cũng chấp nhận nghĩa biểu hiện(significatum) với nội dung khái quát trừu tợng và hệ thống làm chỗ dựa đểphân tích cấu trúc nghĩa từ đa nghĩa trên bình diện đối chiếu Ph ơng phápphân tích thành tố nghĩa kết hợp với phơng pháp đối chiếu đợc vận dụng đểnghiên cứu “Một số vấn đề từ đa nghĩa trong tiếng Bungari và tiếng Việt”[dẫn theo 36, tr.84]
Trong giáo trình Từ vựng học tiếng Việt, tác giả Nguyễn Thiện Giáp đã
tổng hợp khá kĩ các quan niệm về nghĩa và nổi lên hai khuynh hớng: 1 Chonghĩa của từ là một bản thể nào đó (đối tợng, khái niệm, sự phản ánh ) 2.Cho nghĩa của từ là một quan hệ nào đó (quan hệ của từ với đối tợng hoặcquan hệ của từ với khái niệm ) [17, tr.122] Tác giả cho rằng “những ý kiếncho nghĩa của từ là quan hệ gần gũi với chân lí hơn” và “nghĩa của từ là một
đối tợng phức tạp, bao gồm một số thành tố nh: nghĩa sở chỉ (referentivemeaning), nghĩa sở biểu (significative meaning), nghĩa sử dụng (pragmaticalmeaning), nghĩa kết cấu (structural meaning) [17, tr.125 - 128]
Hoàng Văn Hành trong công trình Từ ngữ tiếng Việt trên đờng hiểu biết
và khám phá đã đề cập: “cách tiếp cận hệ thống từ vựng từ góc độ ngữ nghĩa
học” Tác giả đã chấp nhận cách hiểu nghĩa là “phản ánh của hiện thực kháchquan vào ý thức và đợc thể hiện ở ngôn ngữ của A.I.Sminnixki, và áp dụng ph-
ơng pháp phân tích thành tố để xác định cấu trúc nghĩa từ vựng của từ” [21]
Hoàng Phê trong tác phẩm Logic – Ngôn ngữ học cho rằng: “1 Ngữnghĩa quan hệ trực tiếp với nhận thức, và qua nhận thức, quan hệ với hiệnthực, nhờ đó ngôn ngữ thực hiện chức năng chủ yếu của nó là công cụ t duy vàcông cụ giao tiếp 2 Nghĩa từ cần đợc nghiên cứu trong mối quan hệ nhiềumặt, không những trong quan hệ với nhận thức và với hiện thực, mà còn trongquan hệ cấu trúc nội tại, cũng nh trong quan hệ hệ thống và quan hệ tổ hợp vớinhững nghĩa từ khác, trong ngữ, trong câu, trong lời” [30, tr.2]
Trong Việt ngữ học, Đỗ Hữu Châu là ngời bàn về kiến giải tam giác
nghĩa một cách tập trung nhất Trong tác phẩm Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Trang 14tác giả đã dành một chơng có tiêu đề “Tam giác nghĩa và các nhân tố hìnhthành ý nghĩa của từ” Sau khi dẫn lại cách hiểu tam giác nghĩa của Ogden vàRichanrds, sự vận dụng của G.Stern, Ju X.Xtepanov, V.A.Zvêginxev ông đã đ-
a ra sơ đồ “hình tháp nghĩa hình học không gian” cũng từ “hình tháp” này ông
đã phân tích các loại nghĩa: “ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm, ý nghĩa liênhội” [10]
Có thể nói rằng chính sự hoạt động trong các phạm vi chức năng củangôn từ đã làm bộc lộ nghĩa Nghĩa chính là mục đích, cứu cánh của các hoạt
động chức năng Xét về mặt chức năng, nghĩa của từ đợc thể hiện trong cáchdùng, ở mỗi lĩnh vực khác nhau từ hoàn thành những chức năng khác nhau.Tuy nhiên chức năng không phải là nghĩa Chức năng là cơ sở, biểu hiện củanghĩa Nghĩa gắn với hoạt động chức năng, nghĩa có mối liên hệ bản chất vớigiao tiếp, t duy, hoạt động có ý thức của con ngời Nghĩa có mối liên hệ vớichức năng của các loại đơn vị, yếu tố, biểu hiện thức của ngôn ngữ trong cấutạo cũng nh sự hoạt động của chúng thể hiện ở các loại hình phong cách chứcnăng đa dạng khác nhau
Trong các đơn vị ngôn ngữ, từ là đơn vị duy nhất có thể đảm nhiệmnhiều chức năng nhất Chức năng cơ bản của từ là chức năng định danh, từ còn
mang chức năng phân biệt nghĩa, làm bộc lộ ý nghĩa này hay ý nghĩa khác của những từ nhiều nghĩa Hãy so sánh: ăn ảnh, ăn cới, ăn da, ăn đòn, ăn nắng, ăn xăng, ăn giải Vốn là đơn vị định danh, từ có thể biến thành yếu tố
có chức năng cấu tạo, tơng tự nh hình vị hoặc có thể đảm nhiệm chức năng
thông báo vốn là chức năng của các câu Vd: Anh mới mua xe đạp à? ở đây xe
đạp có thể thay thế bằng xe Từ có thể đảm nhiệm chức năng làm thành phần
câu Thành phần câu là t cách của từ khi xuất hiện với những mối quan hệ ngữpháp nhất định Một từ cụ thể nhng có thể giữ những chức vụ khác nhau khi
đặt trong những kết hợp khác nhau Vd: Những thắng lợi ấy là hết sức quan trọng (1) ( thắng lợi“ ” trong ví dụ (1) có chức năng làm chủ ngữ); Trong
những thắng lợi ấy, tôi biết có công lao to lớn của các đồng chí (2) ( thắng“
lợi ” trong ví dụ (2) có chức năng làm trạng ngữ); Họ đã nói về những thắng lợi ấy (3) ( thắng lợi“ ” trong ví dụ (3) làm bổ ngữ); Thuộc tính nhiều chứcnăng của từ cho phép nó trở thành một loại đơn vị có tính chất phổ biến nhất,cho phép nó chiếm vị trí trung tâm trong cấu trúc của ngôn ngữ Đồng thời,việc có thể dùng từ khi thì nh hình vị, khi thì nh bộ phận của cụm từ, khi thì
Trang 15nh một câu cho phép nói đến “những đờng ranh giới mở” giữa từ với những
đơn vị có hai mặt của ngôn ngữ nằm tiếp giáp với từ Việc xác định nghĩa cụthể của từ vì vậy cần thiết phải gắn với việc xác định chức năng mà từ đó thểhiện, các loại chức năng mà từ đó đảm nhiệm trong hoạt động và trong hệthống ngôn ngữ
Trong thực tế, khi khảo sát những đơn vị từ vựng hoạt động trongnhững phong cách chức năng khác nhau, thuộc các lớp từ khác nhau và nhìn
nó trong bình diện động (bình diện của sự hình thành, phát triển, chuyển đổi)thì nổi rõ lên quá trình chuyển đổi chức năng – nghĩa Chẳng hạn: hình dungmột cách trừu tợng, một từ A hoàn thành chức năng a, có nội dung nghĩa a,.khi từ A có khả năng hoàn thành chức năng khác là b thì sẽ sinh ra nghĩa khác
là b, cụ thể là từ công vốn có nghĩa là “sức lao động bỏ ra để làm một việc gì” (vd: Của một đồng, công một nén), khi từ này đi vào hoạt động trong lĩnh vực
khoa học (ngành vật lí) trở thành thuật ngữ chuyên ngành với nghĩa: “Đại lợngvật lí mô tả năng lợng từ dạng tiềm tàng chuyển sang hiện thực, về giá trị bằngtích của quãng đờng chuyển dịch điểm đặt của lực với hình chiếu của lực trên
phơng chuyển dời” ở ví dụ đang xét ta có một từ công đồng nhất Từ này đợc
dùng trong những chức năng khác nhau thuộc phong cách chức năng phân biệtcho ta hai thứ nghĩa khác nhau, tạm gọi là nghĩa từ thờng và nghĩa thuật ngữ
Rõ ràng chức năng thay đổi, phong cách chức năng dùng phân biệt dẫn đếnnghĩa phân biệt Thực tiễn hoạt động chức năng sinh động gắn với khả năngbiểu đạt nghĩa đa dạng trong các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau, loại hìnhphong cách chức năng khác nhau giúp chúng ta thấy rõ sự hiện diện, chuyển
đổi chức năng – nghĩa trong ngôn ngữ mà phạm vi đề cập ở đây là nghĩa từvựng của từ
1.3 Chuyển nghĩa và sự chuyển đổi chức năng – nghĩa từ vựng
Tập hợp các từ và ngữ cố định đợc gọi là từ vựng của một ngôn ngữ,
có nhiều tiêu chí tập hợp từ khác nhau, khái niệm từ vựng ở đây đợc dùng vớinghĩa rộng: tập hợp tất cả các từ của một ngôn ngữ không phân biệt tiêu chítập hợp Mặt khác, chúng ta cũng phải thấy rằng khi nói đến từ vựng là nói
đến hệ thống các đơn vị định danh, vì xét về mặt chức năng, từ là đơn vị địnhdanh – tức là đơn vị dùng để gọi tên sự vật, hiện tợng, tính chất
Từ vựng trong các ngôn ngữ chủ yếu phát triển bằng hai con đờng:phái sinh hình thái cú pháp – cấu tạo từ; phái sinh ngữ nghĩa – phát triển
Trang 16nghĩa của từ Trong đó, phái sinh ngữ nghĩa là con đờng đóng vai trò quantrọng, bởi quá trình phát triển nghĩa của từ thực chất là phát triển chức năng
định danh của từ Bằng việc thay đổi ý nghĩa của các từ sẵn có, thổi vào chúngnhững luồng sinh khí mới là một biện pháp thể hiện qui luật tiết kiệm vô cùngkì diệu của ngôn ngữ: Dùng cái hữu hạn để thể hiện cái vô hạn – cùng một
vỏ âm thanh có thể diễn đạt nhiều nội dung khác nhau Một biện pháp sống
động, phản ánh qui luật vận động nội tại của ngôn ngữ, mang đậm dấu ấn tduy, văn hoá, sự liên tởng của ngời bản ngữ Kết quả của nó dễ dàng đợc chấpnhận một cách nhanh chóng, đáp ứng đợc nhu cầu giao tiếp Đây là cách khaithác và phát huy tiềm năng của ngôn ngữ một cách có hiệu quả, làm cho vốn
từ ngày càng phát triển, ngày càng trở nên phong phú và đa dạng
Ngôn ngữ là một hệ thống mở, đặc biệt là ở hệ thống từ vựng Cho nêncùng với sự phát triển của lịch sử xã hội loài ngời, ngôn ngữ cũng phải luônluôn biến đổi theo, cả về mặt ngữ âm và ngữ nghĩa Sự phát triển nghĩa của từ
có nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân chủ yếu sau:
Nguyên nhân thứ nhất có thể nhận thấy là khi bản thân sự thay đổi của
sự vật, hiện tợng đợc gọi tên đã làm cho từ phải thay đổi cấu trúc ý nghĩa
Chẳng hạn, do sự phát triển của khoa học kĩ thuật mà các loại đèn ngày nay rất phong phú, đa dạng và khác xa về cấu tạo, chức năng: từ đèn cầy, đèn đĩa,
đèn hoa kì, đèn măng xông, đến đèn bão, đèn điện, đèn điện tử, đèn huỳnh quang, cho nên nét nghĩa về hình thức và cấu tạo bị xoá nhoà và thay vào
đó là nét nghĩa về chức năng đợc mở rộng
Mặt khác, sự kiêng kị cũng khiến cho nghĩa của từ biến đổi Với cácdân tộc nói chung, đa số các biến đổi ý nghĩa là do ngời nói cố gắng làm cholời nói của mình thích hợp hơn với các chức năng mà nó đảm nhiệm, hoặc vìmuốn diễn đạt bóng bẩy, hoặc vì mục đích muốn diễn đạt trang nhã, lịch sự,tránh dùng các từ gây ấn tợng không hay, thô tục Bên cạnh đó yếu tố tâm líxã hội cũng ảnh hởng không nhỏ đến việc thay đổi môi trờng sử dụng của các
từ Xã hội mạnh về phơng diện nào thì ngay lập tức những sự vật, hiện tợng,khái niệm ở những phơng diện đó gây ấn tợng mạnh mẽ vào tâm lí con ngờidẫn đến tình trạng các từ biểu thị những sự vật, khái niệm ấy chuyển nghĩa đểbiểu thị những sự vật, khái niệm ở phơng diện khác Chẳng hạn, ở nớc ta các
từ dứt điểm vốn là thuật ngữ thể thao, đã đợc dùng rộng rãi chỉ việc “hoàn thành gọn công việc nào đó”, kế hoạch vốn là thuật ngữ kinh tế, nay đợc dùng
Trang 17rộng rãi chỉ việc “hiện tợng làm việc gì có tính toán, có chơng trình sắp xếp
tr-ớc sau”, thậm chí có thể nói “sinh đẻ có kế hoạch” Chính do sự chuyển hoágiữa thuật ngữ và từ thông thờng mà chúng ta thấy ngoài những thuật ngữ chỉnằm trong hệ thuật ngữ nào đó (âm vị, hình vị, cú đoạn, v.v ) còn có nhữngthuật ngữ đồng thời là những từ thông thờng của ngôn ngữ toàn dân (âm,tiếng, lỡi, lợi, v.v )
Bản chất của quá trình chuyển nghĩa của từ, thực chất là quá trình pháttriển chức năng định danh của từ Với con đờng ngữ nghĩa chúng ta có thểnâng khả năng định danh của đơn vị gốc lên nhiều lần, một từ cùng một vỏngữ âm phát triển ra bao nhiêu nghĩa thì có bấy nhiêu đơn vị định danh Tuynhiên một qui luật chung cho mọi ngôn ngữ trên thế giới là khi mới ra đời từchỉ có một nghĩa duy nhất, trải qua thời gian cùng với quá trình sử dụng củacon ngời, từ có thêm nghĩa mới Từ chỗ gọi tên sự vật, hiện tợng, tính chất nàychuyển sang gọi tên sự vật, hiện tợng, tính chất khác do chỗ sự vật, hiện tợng,tính chất đó có những nét tơng đồng Do vậy, các nghĩa của từ có quan hệ vớinhau tạo thành hệ thống Dựa vào sự hình thành và phát triển nghĩa của từ, tagọi nghĩa đầu tiên là nghĩa gốc (nghĩa từ nguyên) và các nghĩa sau là nghĩaphái sinh (nghĩa chuyển) Nghĩa gốc cũng đợc xem là nghĩa cơ bản, đó lànghĩa tơng đối độc lập trong ngữ cảnh, thờng xuất hiện trớc tiên trong ý thứccủa ngời bản ngữ khi họ tiếp xúc với từ tách rời, có sức giải thích đối với tất cảcác nghĩa khác và do đó trong quan hệ với nó, các nghĩa khác đều đợc coi lànghĩa phái sinh
Quá trình biến đổi ý nghĩa thờng tuân theo những qui luật nhất định,phụ thuộc vào những nguyên nhân nhất định Các nhà ngôn ngữ học đã nghiêncứu và khái quát thành những dạng biến đổi, những phơng thức biến đổi ýnghĩa của từ
Trong sự chuyển biến ý nghĩa của từ, có khi nghĩa đầu tiên của từ
không còn nữa, từ đợc dùng với nghĩa mới Vd: từ đăm chiêu nghĩa cũ là “bên phải và bên trái”, nay là “suy nghĩ tập trung”, từ đểu cáng nghĩa cũ là “khiêng
cáng”, nay là “t cách đạo đức xấu, thiếu đứng đắn, lừa lọc” Nhng thông ờng thì cả nghĩa đầu tiên và nghĩa mới đều cùng tồn tại, cùng hoạt động, giữanghĩa đầu tiên và nghĩa mới diễn ra sự biến đổi theo kiểu móc xích (xâuchuỗi) và kiểu toả ra (hớng tâm)
Trang 18th Kiểu móc xích nghĩa là từ nghĩa đầu tiên chuyển sang nghĩa S1, từnghĩa S1 lại chuyển sang nghĩa S2 Vd: từ thẻ nghĩa đầu tiên là “mảnh tre,
mảnh gỗ dùng để viết chữ” Nghĩa này chuyển sang hai nghĩa khác là “mảnhgiấy dùng trong nghề mê tín” (xin thẻ ở đền) và “mảnh ngà, mảnh xơng ghichức danh quan lại” Đến nay hai nghĩa này chuyển thành nghĩa “giấy chứngnhận ngời của một tổ chức nào đó” Nh vậy, quan hệ giữa nghĩa gốc và nghĩaphái sinh có tính biện chứng, một nghĩa có thể là phái sinh từ một nghĩa nào
đó nhng lại là nghĩa gốc của một nghĩa khác
- Kiểu tỏ ra nghĩa là các nghĩa mới dựa vào nghĩa đầu tiên mà xuất
hiện Vd: từ mũi có nghĩa ban đầu là “bộ phận bên ngoài của cơ quan hô hấp”
sau đó chuyển sang chỉ “mũi tên”, “mũi thuyền”, Tất nhiên, mối liên hệgiữa nghĩa đầu tiên với những nghĩa xuất hiện sau không phải bao giờ cũngthấy rõ nhờ nét nghĩa cơ sở, có khi mối liên hệ này bị đứt quãng Lúc này từ
vốn là một nhng đã tách thành hai từ đồng âm Vd: hoả lò là “bếp đun than”, hoả lò là “nhà tù” Vì vậy, sự chuyển biến ý nghĩa là một phơng thức tạo thêm
từ mới bên cạnh các phơng thức ghép và láy, làm cho vốn từ ngày càng pháttriển mạnh mẽ
Các từ có ý nghĩa biểu vật (hình ảnh về sự vật, hình ảnh mang tínhkhái quát) cùng thuộc một phạm vi hoặc có ý nghĩa biểu niệm (là tập hợp cácnét nghĩa phản ánh các đặc điểm, những thuộc tính cơ bản của sự vật) cùngmột cấu trúc thì chuyển biến ý nghĩa theo cùng một hớng giống nhau Vd:
cay, chua, chát, ngọt… đều là các vị, đợc cảm nhận bằng vị giác cùng chuyển
sang chỉ các hoạt động trong cuộc sống con ngời: “lời nói ngọt”, “số phận
đắng cay”
Sự chuyển nghĩa có thể dẫn tới kết quả là ý nghĩa sau khác hẳn ý nghĩatrớc Thậm chí ngay cùng một từ, sự chuyển nghĩa có thể khiến nó trở thành
đồng nghĩa với các từ trái nghĩa trớc kia của của nó Vd: đứng và chạy trở nên
đồng nghĩa trong trờng hợp “đứng máy” và “chạy máy”
Khi các nghĩa chuyển còn liên hệ với nhau, sự chuyển nghĩa có thểlàm cho ý nghĩa của từ mở rộng ra hoặc thu hẹp lại Nói nghĩa của từ mở rộngtức là nói tính khái quát của nó tăng lên, các nét nghĩa cụ thể, qui định phạm
vi biểu vật bị loại bỏ hay bị mờ nhạt đi Nói cách khác sự mở rộng ý nghĩa của
từ là kết quả của hiện tợng tăng thêm các ý nghĩa biểu vật của từ Chẳng hạn
từ đẹp vốn chỉ dùng ở lĩnh vực hình thức thì nay dùng rộng rãi trên nhiều
Trang 19ph-ơng diện: tình cảm, tinh thần, quan hệ, Vd: đẹp lòng, tâm hồn đẹp, tình cảm
đẹp, đẹp nết, đẹp lời, bàn thắng đẹp, tình bạn đẹp, tình yêu đẹp, Nghĩa của
từ có thể bị thu hẹp lại, sự thu hẹp ý nghĩa của từ đi kèm với sự cụ thể hoá ýnghĩa, đi kèm với việc tăng thêm nét nghĩa cụ thể, qui định phạm vi biểu vật
của từ Vd: Nớc từ nghĩa chất lỏng, không màu, không mùi, uống đợc nhng ở
trong phòng thí nghiệm, nó chỉ là hợp chất giữa hiđro và oxy
Sự chuyển biến nghĩa của từ có thể làm ý nghĩa biểu thái tốt lên hoặc
xấu đi Vd: tốt lên nh từ đi, từ mất; xấu đi nh từ tếch, từ đểu cáng.
Tóm lại, sự chuyển biến ý nghĩa của từ luôn luôn gắn liền với sự pháttriển của xã hội loài ngời Nguyên nhân của sự chuyển di ý nghĩa, phát triểnnghĩa của từ chính là ở nhận thức của ngời bản ngữ và tính chất tiết kiệm trongngôn ngữ Cho nên trong quá trình nghiên cứu phải thấy đợc sự phát triển ýnghĩa của từ cũng nh mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ và t duy, ngônngữ và cuộc sống, luôn đi đôi cùng phát triển và tác động qua lại lẫn nhau
Ta dễ dàng hình dung ở thời điểm ra đời từ thực hiện một chứcnăng – nghĩa nhất định Khi đi vào hoạt động thì nó thực hiện các chức năngkhác nhau: định danh, biểu thị khái niệm, thành phần câu, cấu tạo hệ thống Hơnnữa, ngôn ngữ là công cụ t duy và giao tiếp nên nó không thể đứng yên mà luônluôn đợc mọi ngời sử dụng, điều khiển và sáng tạo nó Do vậy, nghĩa luôn biến
đổi, đặc biệt là biến đổi chức năng gắn với nghĩa Khi một đơn vị đợc dùng đểhoàn thành một chức năng nào đó và khi chức năng thay đổi thì nghĩa thay đổitheo, hay còn gọi là “biến đổi chức năng – nghĩa” Nh vậy, chuyển đổi chứcnăng – nghĩa nh là một quá trình biểu hiện trong sự vận dụng, hành chức, hoạt
động chức năng của ngôn ngữ một cách cụ thể sinh động Quá trình biến đổichức năng này liên quan đến quá trình biến đổi phát triển của ngôn ngữ
Tín hiệu ngôn ngữ nói chung và từ nói riêng thờng có nhiều nghĩa.Nhng không phải ngay từ lúc mới xuất hiện, từ đã có nhiều nghĩa Ban đầumỗi từ chỉ có một nghĩa, tức tơng quan giữa cái biểu hiện và cái đợc biểu hiện
là “một đối một”, song do nhiều nguyên nhân mà chủ yếu do nhu cầu giaotiếp, ngôn ngữ buộc phải mở rộng phạm vi biểu đạt, mối tơng quan “một đốimột” trở thành “một đối hơn một” Sự không tơng ứng một cái biểu đạt vớimột cái đợc biểu đạt trong ngôn ngữ tự nhiên đợc xem nh một qui luật Ngời
ta gọi đó là qui luật của thể nhị nguyên không đối xứng của tín hiệu ngôn ngữ
Vd: ở thời điểm mới xuất hiện, từ nớc cha có ngay một hình thức xác định với
Trang 20một nghĩa xác định Hình thức đó nh ta đã biết trong tiếng Việt là nak, dak rồi mới đến hình thức hiện nay là nớc ở thời điểm xuất hiện đầu tiên do một ngời nói sáng tạo ra, dùng đầu tiên là nak, dak hay nớc này chỉ là một “chất lỏng nói chung” để phân biệt với chất rắn nh nghĩa của từ đất, từ đá trong buổi đầu
hình thành t duy ngôn ngữ của con ngời Vậy sự xuất hiện đầu tiên là mộthành động định danh, một hành động gọi tên, thực hiện một chức năng diễn
đạt trong lời nói, một bối cảnh nói cụ thể, ở một cách dùng cụ thể đây là bớc
xác lập tín hiệu, xác lập quan hệ âm / nghĩa, hình thức với nội dung cụ thể, xác định Tiếp theo sau thời điểm xuất hiện là ngời nói này, ngời nói khác
cùng nghe, hiểu hình thức ấy với nội dung ấy và cùng với những nội dung đa
dạng khác Ví dụ nh trong các câu sau nội dung từ nớc là một trong những đa dạng cách dùng: “nớc là chất lỏng” Câu này nớc đợc xác định về chất liệu (chất lỏng) Câu “nớc cần cho sự sống của con ngời, động vật và cây cối”, n-
ớc ở đây đợc xác định ở công dụng, tác dụng Trong câu “xe này đã thay nớc sơn”, nớc ở câu này lại có nội dung mới, đó là “lớp sơn” bên ngoài để xe trở
nên bền, đẹp hơn, Những câu đa dạng càng về sau là sự sáng tạo của ng ời
dùng để giao tiếp, t duy, mà từ nớc thực hiện, hoàn thành những chức năng
xác định trong hoạt động, trong văn cảnh, ngôn cảnh xác định Đó là kết quảcủa cả một quá trình sáng tạo thành, sử dụng, sáng tạo, lập thành đơn vị của
hệ thống ngôn ngữ
Một ví dụ khác, từ tấn công vốn là thuật ngữ trong lĩnh vực quân sự
với nghĩa “tiến đánh” (chẳng hạn: tấn công một cứ điểm, đợt tấn công) Vềsau, thuật ngữ này đã đợc sử dụng phổ biến, trở thành từ thông thờng, nghĩacủa từ này đã đợc mở rộng “hoạt động với khí thế mạnh mẽ, khắc phục khókhăn trở ngại nhằm đạt mục đích nhất định”
Hiện tợng chuyển nghĩa của từ là một qui luật khách quan của quá trìnhngôn ngữ Nó cũng chính là kết quả của sự chuyển biến ý nghĩa của từ, quá trìnhchuyển biến ý nghĩa của từ thờng diễn ra theo những qui luật nhất định
1.4 Qui luật chuyển nghĩa và sự chuyển đổi chức năng – nghĩa
Quá trình chuyển nghĩa đã tạo thêm nghĩa mới cho từ, song nghĩa mớicủa từ phát triển không phải do ngẫu nhiên mà là sự phát triển có qui luật theomột trong hai con đờng ẩn dụ và hoán dụ Đây là hai qui luật phổ biến trongtất cả các ngôn ngữ trên thế giới Bởi vậy lí thuyết về ẩn dụ, hoán dụ đã đợcnói đến từ rất lâu và cũng đợc rất nhiều chuyên ngành quan tâm nh từ vựng
Trang 21học, ngữ nghĩa học, phong cách học, triết học ngôn ngữ và gần đây là dụnghọc và ngôn ngữ học tri nhận.
Theo lí thuyết ngữ nghĩa học, ẩn dụ là phơng thức lấy tên gọi A của sựvật a để gọi tên các sự vật b, c, d vì giữa a, b, c, d có điểm giống nhau Cònhoán dụ là phơng thức lấy tên gọi A của a để gọi b nếu a và b đi đôi với nhautrong thực tế” Nói cách khác, hoán dụ là cách dẫn xuất ngữ nghĩa, biến đổingữ nghĩa lấy tên gọi của một đối tợng này để gọi tên một đối tợng kia dựa
vào điểm tơng cận (continguity) giữa chúng Ví dụ, nghĩa của từ chân trong cụm từ có chân trong đội bóng đá đợc phát triển theo lối hoán dụ của từ chân trong chân ngời ẩn dụ là cách dẫn xuất nghĩa, biến đổi ngữ nghĩa lấy tên gọi của một đối tợng này để gọi tên một đối tợng kia dựa vào điểm tơng đồng
(similarity point) (hình dáng, kích thớc, màu sắc, chức năng ) giữa chúng Ví
dụ nghĩa của từ chân trong chân bàn, chân núi, chân tờng là nghĩa đợc phát triển theo lối ẩn dụ của từ chân trong chân ngời
Về qui luật ẩn dụ, Đỗ Hữu Châu [11] đã qui các ẩn dụ về những phạmtrù nhất định nh:
* ẩn dụ hình thức (dựa trên sự giống nhau về hình thức giữa các sự vật)
* ẩn dụ vị trí (dựa trên sự giống nhau về vị trí giữa các vật)
* ẩn dụ cách thức (dựa vào sự giống nhau về cách thức thực hiện giữahai hoạt động, hiện tợng)
* ẩn dụ chức năng (dựa vào sự giống nhau về tác động của các sự vật)
* ẩn dụ kết quả (dựa vào sự giống nhau về tác động của các sự vật đốivới con ngời)
Theo Nguyễn Thiện Giáp [18] ẩn dụ gồm các kiểu sau:
* Sự giống nhau về hình thức Vd: con bớm – cái bớm để mắc áo, răng ngời và vật – răng lợc, răng bừa, mũi ngời và vật – mũi thuyền, mũi
Trang 22* Sự giống nhau về một thuộc tính, tính chất nào đó Vd: đất khô – tình cảm khô, lời nói khô, mật đắng, ớt cay một ý nghĩ đắng cay.
* Sự giống nhau về một đặc điểm, một vẻ ngoài nào đó Vd: hay ghen
gọi là Hoạn Th, cô gái nào xấu xí bị gọi là Thị Nở,
* Những ẩn dụ từ cụ thể đến trừu tợng Vd: Trọng lợng của t tởng, kiến thức chắp vá.
* Chuyển tên các con vật thành tên ngời Vd: con chó con của mẹ, con hoạ mi của anh, con mèo con của anh,…
* Chuyển tính chất của sinh vật sang sự vật hay hiện tợng khác Loại
ẩn dụ này thờng đợc coi là hiện tợng nhân cách hoá Vd: thời gian đi, con tàu chạy,
Trong trờng hợp ẩn dụ, các sự vật đợc gọi tên không có liên hệ kháchquan, chúng thuộc những phạm trù hoàn toàn khác hẳn nhau Sự chuyển têngọi diễn ra tuỳ thuộc vào nhận thức có tính chất chủ quan của con ngời về sựgiống nhau giữa chúng Trái lại, trong trờng hợp hoán dụ, mối liên hệ đi đôivới nhau giữa a và b là có thật, không tuỳ thuộc vào nhận thức của con ngời.Cho nên các hoán dụ có tính chất khách quan hơn các ẩn dụ
Cũng nh ẩn dụ, hoán dụ cũng phát triển dựa vào nét nghĩa cơ sở trongcấu trúc biểu niệm, nhng khác với các ẩn dụ, tính đồng loạt của các hoán dụ
rõ hơn, cao hơn Tỉ số các từ chuyển nghĩa cùng hớng theo phơng thức ẩn dụthấp thua tỉ số các từ chuyển nghĩa cùng hớng theo hoán dụ Bởi vậy, các ẩn
dụ nếu không đợc phân tích kĩ, thờng có vẻ bất ngờ hơn các hoán dụ Về quiluật hoán dụ, Đỗ Hữu Châu [11], đã đa ra các kiểu hoán dụ nh sau:
* Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa bộ phận – toàn thể Cơ chế này lại
có các dạng nhỏ sau:
- Lấy tên gọi bộ phận thay cho cả cơ thể, cho cả ngời hay cả toàn thể
Vd: một tay cờ xuất sắc, ngoài vờn có mấy ngọn mía
- Các từ ghép hợp nghĩa chỉ loại lớn trong tiếng Việt là một dạng hoán
dụ khá độc đáo Trong các từ này, để tạo nên tên gọi cho loại lớn (loại sự vật,hoạt động hay tính chất) chúng ta lấy tên gọi của hai loại nhỏ khác nằm trong
Trang 23loại lớn, ghép chúng với nhau Vd: Đất và nớc chỉ là hai bộ phận của “tổ quốc” hay “quốc gia” Lúa và khoai chỉ “lơng thực”.
- Lấy tên gọi của tiếng kêu, đặc điểm hình dáng để gọi tên con vật Vd:
Con tu hú, con tắc kè, con qua,…
- Lấy tên gọi của đơn vị thời gian nhỏ gọi tên đơn vị thời gian Vd: Bảy mơi chín mùa xuân (Kết tràng hoa dâng bảy mơi chín mùa xuân), Ba thu dồn lại một ngày dài ghê.
- Tên riêng đợc dùng thay cho tên gọi của loại Vd: Tam Đảo Thuốc lá Tam Đảo, Thăng Long Thuốc lá Thăng Long.
- Lấy tên gọi của một số nhỏ để chỉ một số lớn, không đếm hết; hoặc
lấy tên gọi của một số cụ thể để chỉ một số không xác định Vd: Trăm, nghìn trong câu “trăm ngời nh một”, “trăm miệng một lời”, “nghìn ngời một chí”, “nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa” đều chỉ một số lớn, nhiều
hơn chúng gấp bội Còn trong trờng hợp vài ba, dăm bảy thì những con số
“vài” “ba”, “dăm” (năm), “bảy” đều là những con số nói lên một số lợngkhông chính xác tuy không bé hơn hay lớn hơn chúng là bao nhiêu
- Lấy tên gọi của toàn bộ để gọi tên bộ phận Vd: một ngày “ công” để
chỉ khoảng thời gian 8 (hay 7) giờ, một đêm văn nghệ (tơng ứng khoảng thời
gian từ 3 đến 4 giờ)
* Hoán dụ dựa trên quan hệ vật chứa – vật bị chứa Vd: “Cả làng tỉnh dậy giữa đêm khuya”, “Cả sân vận động reo lên khi quả bóng bay vào lới”
* Hoán dụ dựa trên quan hệ nguyên liệu và sản phẩm đợc chế tạo ra từ
nguyên liệu Vd: thau vốn là hợp kim của đồng và thiếc, trong trờng hợp cái“
thau” thì nó lại chỉ “đồ vật” đợc làm ra từ hợp kim đó, đồng (đơn vị tiền tệ: một đồng, hai đồng), bạc (với nghĩa là tiền)
* Hoán dụ dựa trên quan hệ đồ dùng, dụng cụ với ngời sử dụng Vd: cây sáo với nghĩa chỉ “nhạc công”, cây bút trẻ với nghĩa “chỉ nhà văn”
* Hoán dụ dựa trên quan hệ dụng cụ – ngành nghề Vd: búa, súng, cày, bút là các hoán dụ để chỉ nghề nghiệp trong “tay búa, tay súng”, “tay cày tay súng”, “tay bút tay súng”
Trang 24* Hoán dụ dựa trên quan hệ vật chứa và lợng vật chất đợc chứa đựng.
Vd: “mấy thùng gạo”, “hai cốc bia”, “ba vại nớc”
* Hoán dụ dựa trên quan hệ cơ quan chức năng và chức năng Vd: đầu chỉ trí tuệ, lí trí, tim chỉ tình cảm, bụng chỉ tâm địa,
* Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa t thế cụ thể và nguyên nhân của t thế
Vd: tắt thở, nhắm mắt, xuôi cẳng sáo, xuôi tay chỉ cái chết, khoanh tay chỉ
sự bất lực, cúi đầu chỉ sự cam chịu, quỳ gối chỉ sự khuất phục nhục nhã, ngẩng đầu chỉ sự bất khuất
* Hoán dụ dựa vào âm thanh để gọi tên động tác Vd: đét (đánh bằng roi), bịch (đấm vào ngực), bợp (tát vào gáy).
* Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa hoạt động và sản phẩm đợc tạo ra dohoạt động đó ở trờng hợp này tên gọi của hoạt động đợc dùng để gọi tên các
sản phẩm Vd: nắm (nắm cơm), vác (vác lúa)
* Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa hoạt động và công cụ Vd: Cuốc và cái cuốc, đục và cái đục, giũa và cái giũa.
* Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa động tác tiêu biểu và toàn bộ quá trình
sản xuất Trong trờng hợp này, cả hai từ đều là động từ Vd: “đóng bàn”, đóng
là động tác “dùng búa, dùi đục nện vào một vật cho nó gắn với vật khác” ở
đây đóng có nghĩa là “làm, chế tạo ra cái bàn”.
* Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa nguyên liệu và hoạt động dùng
nguyên liệu đó Vd: muối , thịt“ ” “ ” và “muối da”, “thịt gà” muối, thịt là
nguyên liệu, chúng đợc chuyển nghĩa để gọi tên các hoạt động
* Hoán dụ dựa vào quan hệ sự vật và màu sắc Trong những hoán dụ nàytên gọi của sự vật mang màu sắc đợc chuyển nghĩa gọi tên các màu sắc Vd:
(màu) da lơn, da cam, da trời, nớc biển, rêu, nõn chuối, … nâu, vàng, bạc …
* Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa tính chất của sự vật và bản thân sự vật,trong những trờng hợp này, tên gọi của tính chất, đặc điểm đợc dùng thay cho
sự vật Vd: chất xám (năng lực trí tuệ, năng lực suy nghĩ, nhà trí thức), chất khói, khói (thuốc lá), chất cay (rợu)
Theo Nguyễn Thiện Giáp [18], căn cứ vào tính chất của các quan hệ, cóthể chia hoán dụ thành những loại sau:
Trang 25* Quan hệ giữa toàn thể và bộ phận Kiểu hoán dụ này còn đợc gọi là
cải dung Có hai kiểu cải dung:
- Lấy bộ phận thay cho toàn thể Vd: nhà có năm miệng ăn lẽ ra là “nhà
có năm ngời ăn”, thêm một đầu lợn nữa lẽ ra là “thêm một con lợn nữa”.
- Lấy toàn thể thay cho bộ phận Vd: xe trong Anh Lâm dắt xe đi vào
có nghĩa là “cái xe đạp”, mỗi ngày có 24 giờ nhng ngày công lại chỉ có 8 giờ
là cùng
* Lấy không gian, địa điểm thay cho ngời sống ở đó: thành phố lẽ ra
“ngời ở thành phố”, nhà bếp lẽ ra “những ngời làm ở đó”, nhà tôi lẽ ra là “vợ
* Lấy bộ phận con ngời thay cho bộ phận quần áo: cổ áo, vai áo, tay áo, v.v
* Lấy địa điểm, nơi sản xuất thay cho sản phẩm đợc sản xuất ở đó: kẹo xìu, bia Trúc Bạch, Kem Bốn Mùa, v.v
* Lấy địa điểm thay cho sự kiện xảy ra ở đó: trận Điện Biên Phủ, hội nghị Pa ri, v.v
* Lấy tên tác giả thay cho tên tác phẩm: Nguyễn Du lẽ ra là “tác phẩm của Nguyễn Du” (Suốt mời năm tôi đọc Nguyễn Du).
* Lấy âm thanh thay cho đối tợng: Chim cuốc, xe bình bịch, chim tu
hú, mèo, v.v
Nói cách khác, biến đổi nghĩa theo con đờng hoán dụ xảy ra khi đối ợng đợc biểu thị của nghĩa mới biến đổi có điểm tơng cận với đối tợng đợcbiểu thị của nghĩa đã có; biến đổi nghĩa theo con đờng ẩn dụ xảy ra khi đối t-ợng đợc biểu thị của nghĩa mới biến đổi có điểm tơng đồng với đối tợng đợcbiểu thị của nghĩa đã có
t-Hoán dụ và ẩn dụ là hai con đờng biến đổi nghĩa phổ biến hơn cả sovới những con đờng khác, là những hớng dẫn xuất ngữ nghĩa vừa có tính chấtchung, lặp đi lặp lại giữa các ngôn ngữ, vừa có tính chất riêng, có tính chất
Trang 26dân tộc, không lặp lại Hoán dụ và ẩn dụ có mặt trong mọi ngôn ngữ, mangtính phổ niệm Khác với trờng hợp biến đổi nghĩa theo con đờng loại suy,hoán dụ và ẩn dụ là những phơng thức biến đổi nghĩa xảy ra trong nội bộ mộthình thức vật chất.
Sự chuyển đổi chức năng – nghĩa có nhiều hình thức và mức độ khácnhau: chuyển đổi chức năng – nghĩa, chuyển đổi phạm trù Chuyển đổi chứcnăng – nghĩa thuộc nhiều mức độ khác nhau, trong đó chuyển loại đợc thểhiện rõ nhất Bản chất của hiện tợng chuyển loại là ở chỗ từ thuộc loại này trởthành một từ mới thuộc loại khác trong khi vỏ âm thanh không thay đổi
+ Nguyễn Văn Tu cho rằng: khi có hiện tợng chuyển loại thì có hiện ợng biến đổi về nghĩa [37]
t-+ Hồ Lê cho rằng: chuyển loại là hiện tợng mà vẫn giữ nguyên vỏ ngữ
âm của từ cũ, nghĩa mới có mối quan hệ lôgíc với nghĩa cũ và có đặc tr ng ngữpháp khác với đặc trng ngữ pháp của từ cũ [26]
+ Hoàng Văn Hành cho rằng: thực chất của hiện tợng chuyển loại là
có sự thay đổi cơ cấu nghĩa của từ [21]
+ Hà Quang Năng cho rằng: chuyển loại là một phơng thức cấu tạo từ,nhờ đó một từ mới thuộc phạm trù từ loại này đợc tạo ra từ một từ loại khác
mà vẫn giữ nguyên vỏ âm thanh, đồng thời tạo ra ý nghĩa mới có quan hệ nhất
định với ý nghĩa của từ xuất phát, và nhận những đặc trng ngữ pháp mới (thểhiện ở khả năng kết hợp và chức năng làm thành phần câu) khác với đặc trngngữ pháp của từ xuất phát” [40, tr.173]
+ Tác giả Đỗ Thị Kim Liên thì cho rằng “Chuyển hóa từ loại là hiện ợng có những từ có thể đợc dùng theo nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của từ loạinày trong trờng hợp này mà cũng có thể dùng theo nghĩa và đặc điểm ngữpháp của từ loại khác trong trờng hợp khác” [27, tr.70]
t-Hiện tợng chuyển loại có thể xảy ra ở tất cả các từ loại Tuy nhiên,hiện tợng này diễn ra chủ yếu trong ba từ loại chính (danh từ, động từ, tính từ)
và có thể diễn ra ở các phạm trù sau:
- Danh từ chuyển thành động từ Vd: Ca (d) “Dụng cụ để xẻ, cắt gỗ,
kim loại và vật liệu cứng khác, lỡi bằng thép mỏng có nhiều răng sắc nhọn” và
ca (đg) “Xẻ, cắt, làm cho đứt bằng cái ca”
Trang 27- Danh từ chuyển thành tính từ Vd: Gan (d) “Bộ phận của cơ thể con ngời, coi là biểu tợng của tinh thần, ý chí mạnh mẽ bền bỉ” và gan (t) “ Tỏ ra
có gan, dám đơng đầu với nguy hiểm, hoặc dám chịu đựng”
- Động từ chuyển thành danh từ Vd: phiên dịch (đg) “Truyền đạt thông tin bằng một ngôn ngữ khác” và phiên dich (d) “Ngời làm nhiệm vụ
chuyển thông tin từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác”
- Động từ chuyển thành tính từ Vd: khêu gợi (đg) “Gây ra một trạng thái nào đó ở ai, làm cho ở trạng thái hng phấn” và khêu gợi (t) “Có sức quyến
rũ, cám dỗ”
- Tính từ chuyển thành danh từ Vd: già (t) “ở giai đoạn cuối cùng
của quá trình sống, khi sự phát triển đã ngừng và hoạt động dần dần giảm đi”
và già (d) “Ngời cao tuổi”.
- Tính từ chuyển thành động từ Vd: giản lợc (t) “Ngắn và đơn giản,
ít các chi tiết” và giản lợc (đg) “Làm cho ngắn gọn hơn, đơn giản hơn, làm cho giảm đi về số lợng và độ lớn”; cố định (t) “ở trạng thái giữ nguyên, không thay đổi, không di động” và cố định (đg) “Giữ nguyên vị trí bộ phận
cơ thể bị tổn thơng, không di động”
Trong bài viết “Về vai trò của những nhân tố ngữ pháp trong sự phân
định các biến thể từ vựng – ngữ nghĩa” [34], tác giả Lê Quang Thiêm đã lấytiêu chí ngữ pháp để phân tích, phân giới nghĩa của từ Với một từ đa nghĩa, sựphân biệt cách dùng, những tiêu chí ngữ pháp cụ thể cho phép phân biệt đợcnhững nghĩa khác nhau của từ Các nhân tố ngữ pháp tồn tại đồng thời với sựphân biệt ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp, các phạm trù ngữ pháp và cácphạm trù từ vựng – ngữ nghĩa Những nhân tố ngữ pháp là những cái thuộcbình diện ngữ pháp, có thuộc tính ngữ pháp có đặc trng ngữ pháp Nhữngnhân tố ngữ pháp này không hoàn toàn tách rời những nhân tố ngôn ngữ kháctrong đó có nhân tố từ vựng – ngữ nghĩa Những nhân tố ngữ pháp là nhữngnhân tố thuộc về nội bộ ngôn ngữ ở Việt ngữ, nhân tố ngữ pháp có tác động
đến biến thể từ vựng – ngữ nghĩa rõ nhất là các nhân tố từ vựng – ngữ pháp.Loại nhân tố này vừa có thuộc tính từ vựng vừa có thuộc tính ngữ pháp, haynói đúng hơn là sự kết hợp cả hai thuộc tính này Khi một tín hiệu nào đó mànội dung ngữ nghĩa đợc thể hiện bằng các khả năng kết hợp khác nhau với các
hệ thống từ chứng khác nhau thì ta có thể đoán định chúng có các ý nghĩakhác nhau hoặc đã chuyển loại thành các đồng âm cùng gốc Xét ở diện biến
Trang 28đổi phát triển thì có thể nói: nếu một từ nào đó hiện đang dùng với nghĩa đã
có cùng với các khả năng kết hợp đang có khi xuất hiện một khả năng kếthợp với các từ chứng mới thì đó là dấu hiệu của sự xuất hiện biến thể từ vựng
– ngữ nghĩa mới Chẳng hạn từ cặp có nghĩa là đồ dùng đựng sách vở, tài
liệu” (Vd: cái cặp bằng da, cái cặp của học sinh) Với các kết hợp “chiếc cặptrớc”, “dùng cặp gánh rơm” có nghĩa là: vật cấu tạo bằng thanh cứng dùng đểgánh rơm, gắp than, kẹp tóc Nhng khi phân tích nghĩa cặp trong các kết
hợp: cặp quần áo trên dây phơi, cặp lại tóc, thì khả năng kết hợp lại chochúng ta dấu hiệu, tiêu chí để xác định một nghĩa khác chỉ sự hoạt động “kẹp
để giữ chặt lại” Rõ ràng ba nghĩa trên đây tồn tại với sự tác động của nhữngnhân tố ngữ pháp khác nhau Nhân tố từ vựng – ngữ pháp thể hiện rõ nét ởtrờng hợp thứ ba
Việc lấy tiêu chí ngữ pháp để xác định nghĩa của từ có một số dấuhiệu sau:
+ Nhân tố kết hợp ngữ pháp đợc xác định chủ yếu bằng vị trí của từtrong ngôn ngữ
+ Nhân tố ngữ pháp đặt điều kiện cho sự xác định các biến thể từ vựng
là sự kết hợp cú pháp: quan hệ của từ đang xét với bổ ngữ, trạng ngữ, giới từ,
; chức năng cú pháp của từ trong câu và vị trí cú pháp của từ đó Nh vậy,việc chuyển đổi chức năng – nghĩa xảy ra ở hai mức độ Mức độ cao làchuyển từ loại trong phạm vi các từ loại thực từ với nhau và giữa thực từ sang
h từ do quá trình h hoá hoặc ngữ pháp hoá Mức độ thứ hai là chuyển đổi chứcnăng – nghĩa trong phạm vi nghĩa (đa nghĩa) của từ trong sự đồng nhất từ
1.5 Mối quan hệ và phạm vi nghĩa của những đơn vị từ vựng đ ợc khảo sát
Đề tài “Sự chuyển đổi chức năng – nghĩa từ vựng của thuật ngữ hóa
học, sinh học trong tiếng Việt” có liên quan đến cách hiểu về thuật ngữ, từ thông thờng và sự chuyển đổi chức năng – nghĩa giữa chúng Mặc dù các nhà nghiên cứu không định nghĩa một cách rõ ràng về từ thông thờng, nhng khi nói về thuật ngữ, các tác giả lại thờng đối lập với từ thông thờng Nh chúng ta
đã biết, từ thông thờng là những từ đợc sử dụng hàng ngày, chung cho mọi
ng-ời trong một dân tộc, một quốc gia Nghĩa của từ thông thờng đợc sử dụng
rộng rãi trong sinh hoạt, giao tiếp hàng ngày Còn khi nói đến thuật ngữ khoa học, ta nghĩ ngay đến tính chính xác hoàn toàn tuyệt đối và tính chặt chẽ của
Trang 29nó Mức độ khoa học yêu cầu thuật ngữ phải thể hiện đúng nội dung kháiniệm khoa học một cách rõ ràng, bởi vì từ trớc tới nay, hễ nói tới thuật ngữkhoa học thì bất kì ai cũng cho rằng đó là những khái niệm có chức năng đặcbiệt liên quan đến một hiện tợng thuộc ngành khoa học nhất định Cho nên, đa
số mọi ngời đều khẳng định, thuật ngữ chỉ đợc sử dụng trong một lĩnh vựcchuyên môn hạn hẹp, nên chỉ có những ngời thuộc lĩnh vực chuyên môn đómới hiểu và sử dụng nó Hơn nữa, còn nhiều quan điểm cho rằng, đã gọi làthuật ngữ khoa học, là từ chuyên môn thì ngời ngoài lĩnh vực đó không thểhiểu nổi Chúng ta có thể thấy những quan điểm này qua một số định nghĩasau về thuật ngữ
Theo Nguyễn Văn Tu “Thuật ngữ là những từ và những cụm từ chỉnhững khái niệm của một ngành khoa học, ngành sản xuất hay ngành văn hóanào đó v.v
Đặc điểm của thuật ngữ là một từ chỉ có một nghĩa, không có từ đồngnghĩa, không có sắc thái tình cảm, có thể có tính chất quốc tế (tùy từngngành).” [37, tr.202]
Theo Nguyễn Thiện Giáp “Thuật ngữ là bộ phận từ vựng đặc biệt củangôn ngữ Nó bao gồm những từ và những cụm từ cố định là tên gọi chính xáccủa những khái niệm và những đối tợng thuộc các lĩnh vực chuyên môn củacon ngời.” [18, tr.118]
Đỗ Hữu Châu cho rằng “Thuật ngữ khoa học, kĩ thuật bao gồm các
đơn vị từ vựng đợc dùng để biểu thị những sự vật, hiện tợng, hoạt động, đặc
điểm trong những ngành kĩ thuật công nghiệp và trong những ngành khoa
học tự nhiên và xã hội” Ông đối lập thuật ngữ với từ thông thờng Theo ông:
“Khác với từ thông thờng, thuật ngữ có ý nghĩa biểu vật trùng hoàn toàn với sựvật, hiện tợng có trong thực tế, đối tợng của các ngành kĩ thuật và ngànhkhoa học tơng ứng ý nghĩa biểu niệm của chúng cũng là những khái niệm vềcác sự vật, hiện tợng này đúng nh chúng tồn tại trong t duy (dĩ nhiên theo cáchhiểu của ngành kĩ thuật và ngành khoa học tơng ứng) Về mặt nội dung, ở cácthuật ngữ không xảy ra sự chia cắt thực thể khách quan theo cách riêng củangôn ngữ Mỗi thuật ngữ nh là một “cái nhãn” dán vào đối tợng này (cùng vớikhái niệm về chúng) tạo nên chính nội dung của nó Tính hệ thống về mặt ngữnghĩa của thuật ngữ là do tính hệ thống của bản thân đối tợng và khái niệmtrong ngành khoa học và kĩ thuật đó quyết định.” [11, tr.237-238]
Trang 30Các tác giả sách Ngữ văn 9 [6, tr.88] thì cho rằng “Thuật ngữ là lớp từ
vựng đặc biệt của một ngôn ngữ Lớp từ vựng này bao gồm các từ và ngữ cố
định, gọi chung là từ ngữ, biểu thị các khái niệm khoa học và công nghệ Các
từ ngữ này có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Tính chính xác: Thuật ngữ thể hiện rõ ràng, chặt chẽ các khái niệmkhoa học Trong hệ thống thuật ngữ của một lĩnh vực chuyên môn, về nguyêntắc, mỗi thuật ngữ chỉ biểu thị một khái niệm và ngợc lại, mỗi khái niệm chỉ
đợc biểu thị bằng một thuật ngữ Tính chính xác đòi hỏi hệ thống thuật ngữkhông có hiện tợng đồng âm, đa nghĩa và đồng nghĩa, những hiện tợng rất phổbiến với những từ ngữ thông thờng
- Tính hệ thống: Các khái niệm của một ngành chuyên môn có quan
hệ mật thiết với nhau Do vậy, các thuật ngữ biểu thị những khái niệm nàycũng tạo thành một hệ thống chặt chẽ
- Tính quốc tế: Khác với những từ ngữ thông thờng, thuật ngữ biểu thịcác khái niệm chuyên môn là tài sản chung của nhân loại, thể hiện kết quảnhận thức về thế giới của nhiều dân tộc khác nhau Vì vậy, nghĩa của thuậtngữ có tính quốc tế
Nh vậy, các tác giả thờng đối lập thuật ngữ với từ thông thờng mà
không bàn đến hiện tợng chuyển hóa từ từ thờng sang thuật ngữ và ngợc lại,khi từ có sự chuyển đổi chức năng – nghĩa Đây không chỉ là giả thuyết mà
là thực tế Khi tìm hiểu về mối quan hệ giữa từ thông thờng và thuật ngữ, mà
cụ thể ở đây là những từ thờng đợc chuyển chức năng – nghĩa làm thuật ngữ,chúng tôi nhận thấy nguyên nhân là do sự chuyển đổi chức năng – nghĩa theo
qui luật nh đã bàn Nghĩa của từ thông thờng phán ánh những đặc điểm bên
ngoài của sự vật, đủ để phân biệt những đối tợng cùng loại đợc khái quát trong
ý nghĩa đó với những đối tợng khác Nghĩa thuật ngữ phản ánh những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tợng Ví dụ từ lỡi lúc đầu có nghĩa thông thờng
là: “1 Bộ phận mềm trong miệng, dùng để đón và nếm thức ăn, và ở ngời còndùng để phát âm 2 Bộ phận mỏng và sắc ở một số dụng cụ dùng để cắt, rạch,
v.v.” [31, tr.598], khi khoa học phát triển lỡi có thêm nghĩa thuật ngữ là “Khối
cơ vân bao bọc bằng niêm mạc, phần trớc có các nhú (gai) lồi lên, phần sau cócác mô bạch huyết phát triển thành một hạnh nhân Lỡi là cơ quan vị giác,giúp cho sự phát âm, nhai nghiền thức ăn ở động vật nhai lại các nhú pháttriển thành gai sừng” [43, tr.367]
Trang 31Qua ví dụ trên ta thấy, từ thông thờng của ngôn ngữ toàn dân hoàntoàn có khả năng diễn đạt trực tiếp một khái niệm khoa học khi nó có sựchuyển nghĩa chức năng Những thuật ngữ đợc hình thành thông qua con đờngchuyển nghĩa trên cơ sở liên tởng ẩn dụ hay hoán dụ, khiến cho quần chúngnhân dân dễ hiểu, dễ nhớ, nhng cũng không làm mất đi tính chính xác củahiện tợng khoa học đó, mà ngợc lại, với vốn từ vựng trong sáng, quý báu vàphong phú mà ông cha đã mất bao thời gian và công sức sáng tạo nên, đã làmcho thuật ngữ khoa học xa vời kia trở nên gần gũi với ngôn ngữ cuộc sống đờithờng, khiến cho khoa học càng dễ dàng đi sâu vào quần chúng, phục vụ mọitầng lớp nhân dân, gần gũi với đại đa số quần chúng Vì vậy, chúng ta khôngnên tuyệt đối hóa thuật ngữ với từ thờng mà cần thấy đợc sự chuyển hóa chứcnăng – nghĩa của nó trong quá trình hoạt động.
Nhiệm vụ đặt ra cho các nhà khoa học là ngoài đặt ra các thuật ngữmới còn phải biết tìm tòi những từ thông thờng có sẵn trong ngôn ngữ toàndân để đặt thuật ngữ Rất nhiều thuật ngữ nghe rất “dân dã”, tởng chừng nh
đây là thứ ngôn ngữ chỉ sử dụng cho ngời lao động ở tầng lớp dới, nhng lại rất
“đắt” khi nó đợc đặt ở vị trí của một thuật ngữ khoa học Nhiệm vụ của cácnhà khoa học là nâng cao trình độ của quần chúng, phổ biến khoa học choquần chúng Điều này đòi hỏi các nhà chuyên môn phải chú ý đến tiếng nóicủa quần chúng, khai thác vốn từ vựng quí báu của nhân dân, thông qua nókhám phá tính khách quan nằm sẵn trong thuật ngữ khoa học tởng chừng nh
xa vời kia Dĩ nhiên còn có con đờng ngợc lại, đó là những thuật ngữ đợc dùngtrong phong cách sinh hoạt
Là lớp từ vựng đặc biệt nhng thuật ngữ vẫn nằm trong vốn từ vựng củamột ngôn ngữ, do đó nó vẫn có sự chuyển hoá qua lại với các lớp từ khác Cónhững thuật ngữ đợc dùng trong phong cách sinh hoạt và có những từ ngữthông thờng trở thành thuật ngữ trong khi nó vẫn giữ ý nghĩa thông thờng Cácngành khoa học luôn có ảnh hởng qua lại lẫn nhau Do đó, một thuật ngữ có
thể đợc dùng ở nhiều ngành khoa học Vd: chuột, virut đợc sử dụng trong cả
ngành sinh học và y học Khi ngành tin học ra đời những thuật ngữ này lại đợc
sử dụng trong lĩnh vực tin học nhng mang một một khái niệm mới Hoặc từ
muối(d) vừa có nghĩa thông thờng và nghĩa thuật ngữ Khi muối đợc sử dụng trong lĩnh vực chuyên ngành hóa học, muối thuộc kiểu nghĩa biểu niệm Ngay
chính kiểu nghĩa biểu niệm, thuật ngữ này kiêm 5 nghĩa khác nhau Một ví dụ
Trang 32khác về trờng hợp cùng trong tầng nghĩa trí tuệ, thuật ngữ mang nhiều kiểunghĩa biểu niệm khác nhau trong mỗi lĩnh vực khoa học khác nhau nh thuật
ngữ thẩm thấu (đg) mang 3 kiểu nghĩa biểu niệm trong lĩnh vực hóa học, sinh
học, vật lí Nh vậy, chức năng – nghĩa từ vựng có thể phát triển hay rơi rụng
đi là tuỳ thuộc vào mục đích giao tiếp đợc thể hiện trong các phong cách chứcnăng khác nhau Chính vì vậy một tín hiệu ngôn ngữ không phải chỉ có nộidung lỡng phân mà còn đa phân Tuy nhiên trong quá trình khảo sát thống kê,chúng tôi thấy nghĩa của các đơn vị từ vựng đợc nghiên cứu trong luận văn
không bao hàm trên 3 tầng nghĩa và sáu kiểu nghĩa từ vựng nh sơ đồ phổ nghĩa từ vựng mà tác giả Lê Quang Thiêm [36] đã đề xuất ở đây chúng tôi
chỉ tập trung khai thác kiểu nghĩa biểu thị thuộc tầng nghĩa thực tiễn và kiểunghĩa biểu niệm thuộc tầng nghĩa trí tuệ Những từ thông thờng thuộc kiểunghĩa biểu thị vì nghĩa của những từ này có tính cụ thể của lời nói, nó đợcdùng trong thực tiễn đời sống khi câu nói có liên quan đến sự vật, hoạt động,tính chất mà từ biểu thị Khi những từ thông thờng này đợc sử dụng trong lĩnhvực khoa học thì chúng mang những khái niệm khoa học, phản ánh đợc bảnchất các sự vật, hiện tợng, trong đời sống Điều này có nghĩa là khi sử dụngtrong các lĩnh vực khác nhau thì chúng có sự chuyển đổi chức năng – nghĩa
Những đơn vị từ vựng mà chúng tôi nghiên cứu không thuộc kiểunghĩa biểu chỉ vì nghĩa biểu chỉ là kiểu nghĩa có nội dung chỉ ra qui chiếu đến
mà nội dung ít phản ánh, biểu thị, ánh xạ nét gì, thuộc tính nào của sự vật,hiện tợng mà là từ thay thế, dán nhãn, kiểu nghĩa này thể hiện nh các từ chỉxuất và các đại từ
Nghĩa biểu trng và nghĩa biểu tợng là kiểu nghĩa đặc trng của lớp từ ợng thanh, tợng hình, thờng đợc sử dụng trong thành ngữ, tục ngữ, trongvăn bản nghệ thuật, trong hoạt động Vì vậy, đây không phải là kiểu nghĩathuộc phạm vi nghĩa, tầng nghĩa của từ loại danh từ, động từ và tính từ màchúng tôi quan tâm nghiên cứu ở đây Hơn nữa, nghĩa biểu tợng là nội dung
t-có đợc do hình dung, tởng tợng ra, đây là kiểu nghĩa biểu cảm – văn hoá, nógắn với chức năng thẩm mĩ của từ, ngữ Bởi những đơn vị chúng tôi khảo sátthuộc lĩnh vực khoa học và đời thờng nên những đơn vị đó không liên quan gì
đến kiểu nghĩa này
Những đơn vị từ vựng mà luận văn nghiên cứu bao gồm từ tầng nghĩathực tiễn đến tầng nghĩa trí tuệ với hai kiểu nghĩa chính: nghĩa biểu thị và
Trang 33nghĩa biểu niệm Tuy nhiên, mỗi đơn vị không chỉ mang một kiểu nghĩa, hoặcnghĩa biểu thị hoặc nghĩa biểu niệm mà có thể gồm cả hai kiểu nghĩa Thậmchí ngay trong một kiểu nghĩa, một đơn vị có thể kiêm nhiều nghĩa khác nhaungay trong một lĩnh vực khoa học Có thể nói trong mỗi phạm vi phong cáchchức năng thì nghĩa của từ hiện diện với nội dung, kiểu nghĩa khác nhau.
Mức độ phạm vi mà chúng tôi nghiên cứu không phải là sự chuyển đổichức năng – nghĩa phạm trù (mức độ thứ nhất) mà là khảo sát sự chuyển đổichức năng trong nội bộ một từ dẫn đến sự thay đổi nghĩa, định hình nội dungnghĩa trong những phạm vi chức năng khác nhau (mức độ thứ hai) Chẳng hạn,nghĩa thuật ngữ là một khái niệm xác định về sự vật, vì nó phản ánh nhữngthuộc tính bản chất nhất, cần và đủ để phân biệt sự vật này với sự vật khác.Trong khi đó, nghĩa thờng dùng, tuy cũng biểu thị khái niệm nhng nhữngthuộc tính của sự vật đợc phản ánh không phải bao giờ cũng là thuộc tính cơbản Nghiên cứu về vấn đề này, tác giả Lê Quang Thiêm căn cứ vào các loạichức năng đã khái quát thành ba tầng nghĩa và sáu kiểu nghĩa đợc thể hiện
trong sơ đồ Phổ nghĩa từ vựng [36, tr.123] sau:
Trang 34Chơng 2
sự chuyển đổi chức năng – nghĩa từ vựng
trong phạm vi thuật ngữ hoá học
ở chơng 1 phần cơ sở lí luận chúng tôi đã xác định phạm vi chuyển
đổi chức năng – nghĩa mà chúng tôi dành để khảo sát trong luận văn này làkhuôn khổ nội dung nghĩa của một đơn vị đồng nhất Điều này có nghĩa làkhảo sát những loại / kiểu nghĩa khác nhau của một từ đa chức năng từ vựng
và đa nghĩa Tuy nhiên đa chức năng ở đây thuộc phạm vi một từ loại (trờnghợp chuyển loại không thuộc phạm vi xem xét) Chính vì xác định giới hạncủa vấn đề nh vậy nên chúng tôi đã dành chơng 2, cho việc phân tích, miêu tả
sự chuyển đổi chức năng – nghĩa thuộc phạm vi hóa học Trong chơng 3,chúng tôi sẽ đi vào phân tích, miêu tả sự chuyển đổi chức năng – nghĩa thuộcphạm vi sinh học
2.1 Sự chuyển đổi chức năng – nghĩa trong phạm vi danh từ 2.1.1 Các loại danh từ và sự kiêm chức năng – nghĩa của danh từ trong các phạm vi khoa học khác nhau
Danh từ là một trong những từ loại quan trọng bậc nhất của tiếng Việthiện đại Đây là từ loại có một khối lợng từ rất lớn, lại có một hệ thống phạmtrù từ vựng ngữ pháp và một hệ thống phạm trù thuần tuý ngữ pháp rất phức
Trang 35tạp Trọng tâm vấn đề chúng tôi khảo sát không phải ở bình diện ngữ pháp củadanh từ Tuy nhiên những lí luận cho thấy ngữ nghĩa và ngữ pháp là hai bộphận khác nhau nhng có quan hệ khăng khít với nhau Vì vậy, trớc khi đi vàotrọng tâm vấn đề cần khảo sát, chúng tôi điểm qua một số nét chính về mốiquan hệ giữa hai bộ môn này.
Danh từ là một trong ba từ loại cơ bản của tiếng Việt Chiếm số l ợng rất lớn trong kho từ vựng tiếng Việt, danh từ có vai trò rất quan trọng
-trong cơ cấu ngữ pháp Theo tác giả Ngữ pháp tiếng Việt thì “ý nghĩa của
từ vựng khái quát hoá thành đặc trng ngữ pháp của danh từ là ý nghĩa thực thể (hay nội dung ý nghĩa từ vựng có tính vật thể) Hiểu theo nghĩa rộng, ý
nghĩa thực thể là ý nghĩa chỉ sự vật, chỉ khái niệm về sự vật và những gì đ
-ợc sự vật hoá Danh từ biểu thị mọi “thực thể” tồn tại trong thực tại, đ -ợcnhận thức và đợc phản ánh trong t duy của ngời bản ngữ nh là những sựvật” [2, tr.78] Do đặc điểm chung của danh từ rất rộng nên việc phân loạidanh từ thành các lớp con cũng khá đa dạng và phong phú Đó là vì trongnội bộ danh từ, sự biểu hiện các đặc tr ng phân loại thờng đan chéo vàonhau giữa các lớp trên cả ba mặt: ý nghĩa, khả năng kết hợp và chức năng
cú pháp Cho nên việc phân loại danh từ từ trớc đến nay đã đợc các tác giảphân loại theo từng bớc, ở mỗi bớc đợc vận dụng theo một tiêu chuẩnthích hợp để tách dần các lớp con trong danh từ Chẳng hạn đối vớiNguyễn Tài Cẩn tác giả đã đa ra bảng tóm tắt phân loại sau [8]:
Danh từ riêng
Danh từ chung
Danh từ tổng hợpDanh từ
không tổng hợp
Danh từ chỉ đơn vịDanh từ chỉ ngờiDanh từ chỉ sự vật + khái niệm trừu tợngDanh từ chỉ động vật, thực vật
Danh từ chỉ chất liệu
Trong cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, các tác giả cũng đã đa
ra một cách hiểu mang tính khái quát về danh từ “Danh từ có ý nghĩa kháiquát chỉ vật (hiểu rộng, bao gồm cả ngời, động vật, thực vật, đồ đạc, các chất,những khái niệm trừu tợng về vật tơng đơng với những thứ vừa kể) có thể đứng
trớc các từ ấy, nọ và thờng giữ vai trò chủ ngữ hoặc bổ ngữ trong câu” [12,tr.269]
Trong Ngữ pháp tiếng Việt [2] tác giả đã đa ra bảng tóm tắt phân
loại danh từ sau:
Trang 36Bảng tóm tắt phân loại danh từ của tác giả ngữ pháp tiếng việt [2,
Không
đếm
đợc
bàn ghế, nhà cửa, bạn bè,núi non, trâu bò; máy móc, thần thánh; mắm muối, đờng sữa
Chỉ khái niệm sự vật tổng hợp khái quát
học sinh, thợ, cha, cô,cậu, th kí; bàn, cây, chim
Chỉ khái niệm sự vật
đơn thể cụ thể
nết, tiếng, mùi, vị; việc, cuộc, trận; lí do, thắng lợi t tởng, ý nghĩ
Chỉ khái niệm sự vật
đơn thể trừu tợng và khái quát
sự suy nghĩ của con ngời” [27, tr.44] Từ những cách hiểu trên chúng ta có thểnhận thấy danh từ có chức năng định danh các sự vật, hiện tợng và đợc phânchia bớc đầu thành hai lớp nhỏ là danh từ riêng và danh từ chung
Tuy nhiên mục đích chính của luận văn là phân tích ngữ nghĩa nênphạm vi xem xét ở đây là danh từ chung, loại danh từ đại diện điển hình về
Trang 37nghĩa danh từ Bởi xét về mặt nội dung, danh từ chung gồm nhiều tiểu loại,các tiểu loại này không chỉ đợc phân biệt bằng tiêu chí ngữ pháp mà cả bằngtiêu chí ngữ nghĩa Hai tiêu chí này không tách rời nhau Vì vậy khi đi vào tìmhiểu về danh từ chung, chúng tôi muốn đi sâu vào phạm vi chức năng – nghĩa
để thấy rõ hơn chức năng ngữ nghĩa của danh từ mà trọng tâm vấn đề chúngtôi khảo sát chính là đặc điểm chuyển đổi chức năng – nghĩa thuộc phạm vingữ nghĩa của danh từ chung trong thuật ngữ hoá học, sinh học tiếng Việt
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy có một quá trình chuyển
đổi và kiêm chức năng – nghĩa rất rõ nét Hiện tợng này nh là một phơngthức tạo thuật ngữ Quá trình này xảy ra đồng thời với sự phát triển của vốn từtiếng Việt nói chung và sự phát triển của khoa học kĩ thuật nói riêng Trớc
đây, nớc ta cha có hệ thuật ngữ hiện đại, mãi đến những năm đầu thế kỉ XX,
do tiếp xúc với nền văn hóa, văn minh mới thì ở nớc ta mới bắt đầu xuất hiện
hệ thuật ngữ khoa học Trong sự xuất hiện của hệ thuật ngữ khoa học nóichung và hệ thuật ngữ hóa học, sinh học nói riêng con đờng phát triển nghĩacủa từ là một trong những con đờng làm giàu vốn từ vựng tiếng Việt một cáchtiết kiệm nhất Tuy nhiên, ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, phơng thức pháttriển nghĩa của từ bằng con đờng thuật ngữ hóa từ thông thờng cha phải là h-ớng phát triển chính Đến những năm 40 của thế kỉ XX việc phát triển nàymới thực sự đợc quan tâm, bằng chứng là sự ra đời của “Danh từ khoa học”của tác giả Hoàng Xuân Hãn, hệ thuật ngữ khoa học và công nghệ Việt Nam
đợc hình thành Thời kì từ 1945 đến 1985 con đờng thuật ngữ hóa từ thờng đã
đợc ngời sử dụng nói chung và các nhà khoa học quan tâm Một loạt những từngữ mang nghĩa thuật ngữ ra đời chỉ những sự vật, hiện tợng trong các lĩnhvực khoa học xuất hiện Thời kì này, ủy ban Khoa học nhà nớc đã đề ra việc utiên dùng những từ sẵn có trong tiếng Việt để tạo ra những thuật ngữ khoahọc, thành tích của công tác thuật ngữ hóa từ thờng ở giai đoạn này là rất lớn.Tuy nhiên, công tác đó cha có sự thống nhất về nguyên tắc, thiếu sự chỉ đạothống nhất nên dẫn tới hiện tợng một thuật ngữ có thể gọi bằng nhiều cáchkhác nhau
Thời kì đổi mới, hàng loạt những sự vật và hiện tợng mới xuất hiện.Khuynh hớng chuyển nghĩa bằng con đờng thuật ngữ hóa từ thông thờng đãgóp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế xã hội Hiện tợng chuyển nghĩa– chức năng này diễn ra theo qui luật liên tởng ẩn dụ và hoán dụ, đồng thời
Trang 38xảy ra cùng với sự phát triển của vốn từ tiếng Việt, tơng ứng với sự phát triểncủa xã hội và nền khoa học ở nớc ta Bởi vì, trong quá trình phát triển của mộtdân tộc, dân tộc nào phát triển mạnh về lĩnh vực nào thì vốn từ vựng của dântộc đó sử dụng sẽ xuất hiện những đơn vị từ ngữ mới hoặc từ phát triển những
nghĩa mới trong các lĩnh vực khoa học đó Ví dụ nh từ nớc vừa có nghĩa thông thờng vừa có nghĩa thuật ngữ Theo nghĩa thông thờng (nghĩa biểu thị) nớc là
“chất lỏng nói chung” trong các kết hợp “nớc mắt, nớc chè, nớc sông” [36,
tr.124] Theo nghĩa thuật ngữ hoá học (nghĩa biểu niệm) thì từ nớc: “Có công
thức hoá học là H20 Hợp chất đơn giản nhất của oxi và hiđro Chất lỏngkhông màu (lớp rất dày có màu hơi xanh nhạt), không mùi và vị D 1g cm-3
(đo ở 40C, tnc 00C, ts 1000C Là dung môi phổ biến nhất và là chất hoạt độnghoá học; bị oxi hoá bằng oxi nguyên tử thành H202 ; phản ứng với halogen ởnhiệt độ thờng, với cacbon, cacbon oxi và metan ở nhiệt độ cao ; các kim loạikiềm và kim loại kiềm thổ (trừ Mg) đều phản ứng với N, cũng nh nhiều oxithoá hợp với N ở nhiệt độ thờng, nhiều kim loại khác phản ứng với N ở nhiệt
độ cao Nhiều quá trình hoá học chỉ xảy ra khi có vết N (VD phản ứng giữa H2
và Cl2 ) N rất phổ biến trong tự nhiên, tạo thành thuỷ quyển, có trong khôngkhí, là thành phần của nhiều khoáng vật và mọi cơ thể sống VD cơ thể ngời
có 65% là N và thực vật 50 – 75% là N Nhiều tính chất của N dùng làm cơ
sở của đơn vị đo: khối lợng, tỉ khối, nhiệt độ, nhiệt dung riêng N rất quantrọng trong cuộc sống cũng nh trong mọi ngành công nghiệp Tuy N có rấtphổ biến nhng N sạch lại có thể thiếu đối với con ngời; ớc tính đến năm 2050
sẽ thiếu khoảng 25% lợng N cần đến nếu không có những biện pháp ngănchặn việc làm cạn kiệt và ô nhiễm nguồn N” [42, tr.219-220] Một ví dụ
khác là từ rợu Theo nghĩa thông thờng rợu là “chất lỏng, vị cay nồng, thờng
cất từ chất bột hoặc trái cây đã ủ men” [31, tr.840] Với nội dung này ta có
“rợu gạo, rợu nếp, rợu mơ, v.v ” Khi ngành hoá học vào Việt Nam rợu đợc
hiểu với nghĩa thuật ngữ là “Hợp chất hữu cơ chứa nhóm hiđroxyl – OH kếthợp trực tiếp với nguyên tử cácbon ” [42, tr.258-259]
Cách giải thích thứ nhất chỉ dừng lại ở đặc tính bên ngoài của sự vật(Dạng lỏng hay rắn? Màu sắc, mùi vị nh thế nào? Có ở đâu hay từ đâu màcó?) Đó là cách giải thích hình thành trên cơ sở kinh nghiệm, có tính chấtcảm tính Còn cách giải thích thứ hai thể hiện đợc đặc tính bên trong của sựvật (Đợc cấu tạo từ những yếu tố nào? quan hệ giữa những yếu tố đó nh thế
Trang 39nào?) Những đặc tính này không thể nhận biết đợc qua kinh nghiệm và cảmtính mà phải qua nghiên cứu bằng lí thuyết và phơng pháp khoa học, qua việctác động vào sự vật để sự vật bộc lộ những đặc tính của nó Do đó nếu không
có kiến thức chuyên môn, cụ thể ở trờng hợp này là kiến thức hoá học thì ngờitiếp nhận không thể hiểu đợc cách giải thích này Nh vậy cùng một chức năng
định danh nhng nghĩa của từ đợc phân biệt bởi nhiều dấu hiệu, phạm vi, thuộctính khác nhau Khi một đơn vị từ vựng thông thờng trở thành thuật ngữ, ngoạidiên của nó thu hẹp lại và nội hàm của nó đợc mở rộng, trong đời thờng cungcấp thông tin để ngời ta hiểu không cần đạt đến độ chính xác cao, còn trongkhoa học cung cấp thông tin một cách chính xác Tuy nhiên độ chính xác nàycòn phụ thuộc vào trình độ của con ngời ở từng thời điểm nhất định
Khuynh hớng chuyển nghĩa bằng con đờng thuật ngữ hóa từ thờng đãgóp phần không nhỏ vào việc cấu tạo thuật ngữ Đây là những điều kiện đểcác từ ngữ mới xuất hiện và còn là nguyên nhân, điều kiện để xuất hiện cácnghĩa mới Cụ thể là trong một lĩnh vực chuyên môn thuật không chỉ có mộtnghĩa mà còn có nhiều nghĩa khác nhau Ngoài ra khi các đơn vị này tham giavào các lĩnh vực khoa học khác nhau thì nó trở thành thuật ngữ của ngành đó
và đảm nhiệm những chức năng – nghĩa khác nhau Chẳng hạn nh từ chu kì, theo cách hiểu thông thờng chu kì là “khoảng thời gian không đổi ngắn nhất
để một quá trình tuần hoàn lặp lại sự diễn biến của nó” [31, tr.173] Khi chu kì
tham gia vào các lĩnh vực khoa học khác nhau thì nó trở thành thuật ngữ và
đảm nhiệm những chức năng – nghĩa khác nhau
Trong lĩnh vực toán học, chu kì là “Số nhỏ nhất mà khi cộng hay trừ số
ấy vào bất kì giá trị nào của biến số cũng không làm thay đổi giá trị tơng ứngcủa hàm số” [31, tr.173]
Chu kì của hàm tuần hoàn là khoảng biến số mà cấu trúc hàm lặp
lại [http://vi.wikipe.org/wiki/Chu k%E1%BB%B3].
Chu kì của một số nguyên là độ dài của phần lặp lại trong biểu diễn
thập phân của nghịch đảo số đo Ví dụ: 1/7 = 0.1428571428571 … vậy chu kỳ của 7 là 6 [http://vi.wikipe.org/wiki/Chu k%E1%BB%B3].
Trong lĩnh vực vật lí, chu kì là “Khoảng thời gian nhỏ nhất để sau đó
hệ có chuyển động tuần hoàn trở lại đúng trạng thái của nó ở thời điểm ban
đầu của khoảng Cũng là thời gian để hệ dao động thực hiện đợc một dao
Trang 40động, hoặc sóng lan truyền đợc một bớc sóng Chu kì T liên hệ với tần số ftheo công thức T=1/f” [3, tr.31].
Trong lĩnh vực hoá học, chu kì là “Dãy các nguyên tố mà nguyên tử
của chúng có cùng số lớp electron, đợc xếp theo chiều điện tích hạt nhân tăngdần Chu kì thờng bắt đầu bằng một kiêm loại kiềm và kết thúc bằng một khíhiếm (trừ chu kì 1 và chu kì 7 cha hoàn thành) [Hoá học10, 2006, tr.33]
Chu kì 2 gồm 8 nguyên tố, bắt đầu là Li (Z = 3), 1s 2 2s 1 và kết thúc là
Ne (Z = 10), 1s 2 2s 2 2p 6
Nguyên tử của các nguyên tố này có 2 lớp electron: lớp K (gồm 2 electron) và lớp L Số electron của lớp L tăng dần từ 1 ở liti đến tối đa là 8 ở neon (lớp electron ngoài cùng bão hoà) ” [Hoá học 10, 2006, tr.33]
Thực tế việc phân lập, phân biệt chức năng – nghĩa này xảy rakhá phổ biến trong các loại hình phong cách chức năng, trong việc chọndùng từ thờng với nội dung thuật ngữ Chúng tôi xin lần lợt phân tích một
số biểu hiện sau
Ví dụ 1:
Bồ hóng (d).
Theo nghĩa thông thờng, bồ hóng là “Bụi mịn đen do khói đọng lại lâu
ngày thành mảng, thành lớp, trên nóc bếp, vách bếp” [31, tr.77]
Theo nghĩa thuật ngữ hoá học, bồ hóng là “Một dạng các bon vô định
hình, chất bột màu đen, mịn, gồm nhiều hạt có đờng kính từ 50 – 5000 A0 và
có diện tích từ 15 – 1000m2 mỗi gam, có khả năng hấp phụ rất lớn Đợc tạonên khi đốt cháy không hoàn toàn hoặc nhiệt phân hiđrocacbon, loại tốt nhất
là từ mentan và axetilen Dùng để làm mực in, giấy than, mực tàu, ép thành
điện cực cho bin và chủ yếu (90%) làm chất độn cho cao su, sơn” [42, tr 280]
Ví dụ 2:
Bọt (d).