Nghiên cứu về sự chuyển biến trong đời sống của người nông dânhuyện Diễn Châu Nghệ An thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến năm 2009nhằm góp phần khẳng định tính đúng đắn và sáng tạo trong đườ
Trang 1Trờng đại học vinh Khoa lịch sử
-*** -nguyễn thị ánh Khóa luận tốt nghiệp đại học Sự CHUYểN BIếN TRONG đời sống của ngời nông dân huyện diễn châu (nghệ an) thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến năm 2009) Chuyên ngành: lịch sử việt nam Vinh – 2010 2010 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiờn cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiờn cứu 4
Trang 24 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp của đề tài 5
6 Bố cục của đề tài 6
NỘI DUNG 7
Chương 1 Một vài nét khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội và đời sống người nông dân huyện Diễn Châu (Nghệ An) trước thời kì đổi mới (trước năm 1986) 7
1.1 Vài nét khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế,xã hội huyện Diễn Châu (Nghệ An) 7
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 7 1.1.2 Điều kiện xã hội 10 1.2 Một vài quan điểm về người nông dân 14
1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp nông dân 14
1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về nông dân 21
1.3 Một vài nét về đời sống của người nông dân huyện Diễn Châu (Nghệ An) trước thời kì đổi mới(trước năm 1986) 23
1.3.1 Đời sống kinh tế của người nông dân huyện Diễn Châu trước năm 1986 23
1.3.2 Đời sống tâm lý của người nông dân huyện Diễn Châu trước năm 1986 29
Chương 2 Những chuyển biến trong đời sống của người nông dân huyện Diễn Châu (Nghệ An) thời kỳ đổi mới(từ năm 1986 đến năm 2009) 37
2.1 Chủ trương đổi mới đất nước của Đảng cộng sản Việt Nam và tình hình nhiệm vụ cách mạng ở Diễn Châu(Nghệ An) 37
Trang 32.1.1.Chủ trương đổi mới đất nước của Đảng cộng sản 372.1.2 Đảng bộ và nhân dân Diễn Châu thực hiện đường lối đổi mới từ năm
1986 đến năm 2009 44 2.2 Những chuyển biến chính trong đời sống của người nông dân huyện DiễnChâu (Nghệ An) thời kỳ đổi mới(từ năm 1986 đến năm 2009) 492.2.1.Tình hình sản xuất nông nghiệp và đời sống nông dân huyện Diễn Châu
từ năm 1986 đến năm 2009 492.2.1.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp 492.2.1.2 Những thành quả đạt được trong đời sống kinh tế của người nông dânhuyện Diễn Châu 602.2.2 Sự chuyển biến trong đời sống tâm lý của người nông dân huyện DiễnChâu thời kỳ đổi mới(từ năm 1986 đến năm 2009) 622.2.2.1 Nhận thức và tâm lý của nông dân về vấn đề đất đai 632.2.2.2 Nhận thức và tâm lý của nông dân khi ứng dụng các thành tựu khoahọc kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh 662.2.2.3 Nhận thức về vấn đề giáo dục, y tế và một số vấn đề xã hội khác 672.2.3 Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn vànâng cao đời sống của người nông dân huyện Diễn Châu 70
KẾT LUẬN 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC
Trang 4XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 5A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Cho đến nay công cuộc đổi mới ở Việt Nam đã trải qua hơn 20 năm (từnăm 1986 đến năm 2009) Những thành tựu to lớn đạt được trong quá trìnhđổi mới đã đưa đất nước ta vượt qua được khủng hoảng kinh tế, xã hội để ổnđịnh và phát triển Trong nội dung công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước,Đảng ta đã xác định lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm Khâu mở đầu và lĩnhvực đổi mới thành công sớm nhất là đổi mới kinh tế trong nông nghiệp Nềnkinh tế của Việt Nam nói chung, kinh tế nông nghiệp nói riêng đã có một diệnmạo mới của nền nông nghiệp cơ khí hóa, hiện đại hóa, nền kinh tế ổn định vàphát triển tương đối nhanh Bên cạnh đó, an ninh chính trị được giữ vững, trật
tự xã hội được đảm bảo, quốc phòng vững mạnh cũng là những thành tựu tolớn mà chúng ta đã đạt được
Là một tỉnh lớn ở khu vực Bắc Trung bộ, Nghệ An sớm hưởng ứngtheo đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo Diện mạo của nôngthôn Nghệ An đã có những biến đổi sâu sắc, sức sản xuất được giải phóng,các tiềm năng được đánh thức, lực lượng lao động phát triển nhanh trên các
lĩnh vực sản xuất, dịch vụ Cùng với nhân dân Nghệ An nói chung, nhân dân
huyện Diễn Châu nói riêng trong hơn 20 năm hưởng ứng thực hiện đường lốiđæi mới của Đảng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể vÒ đời sống vậtchất cũng như đời sống tinh thần Kinh tế xã hội chuyển từ tập thể hóa, tậptrung hóa với cơ chế quản lí bao cấp sang nền kinh tế thị trường nhiều thànhphần, đẩy mạnh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đời sống của nhândân ngày càng được cải thiện Tuy đã đạt được những thành tựu lớn như vậynhưng trong quá trình xây dựng và phát triển quê hương vẫn còn tồn tạinhững hạn chế, vướng mắc cần giải quyết
Trang 6Nghiên cứu về sự chuyển biến trong đời sống của người nông dânhuyện Diễn Châu (Nghệ An) thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến năm 2009)nhằm góp phần khẳng định tính đúng đắn và sáng tạo trong đường lối đổi mớiđất nước của Đảng ta, mặt khác còn rút ra bài học kinh nghiệm, xác địnhnhiệm vụ trọng tâm để nhân dân huyện Diễn Châu thực hiện thắng lợi và toàndiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Sự chuyển biếntrong đời sống của người nông dân huyện Diễn Châu (Nghệ An) trong thời kìđổi mới (từ năm 1986 đến năm 2009)” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luậntốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở góc độ nhà nước, nghiên cứu về thời kì đổi mới và người nông dâncũng đã có một số tài liệu đề cập đến như: “Giáo trình lịch sử Đảng và cácvăn kiện Đại hội Đảng”; các sách báo lý luận như: “Lịch sử Việt Nam từ 1975đến nay, một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Trần Bá Đệ
Cuốn sách: “Tâm lý nông dân trong thời kỳ đầu phát triển kinh tế thịtrường”(2002), tác giả Vũ Dũng chủ biên, nhà xuất bản Khoa học - Xã hội,
Hà Nội do Uỷ ban Khoa học Xã hội và Nhân văn đảm nhận Nhìn chung, cáctác phẩm đều mang tính lý luận cao và đã đặt ra những giải pháp thiết thựccho công cuộc đổi mới hiện nay Riêng tác phẩm của Uỷ ban Khoa học xã hội
và Nhân văn Quốc gia còn là một công trình khảo cứu bổ ích về nhữngchuyển biến trong tâm lý, nhận thức của người nông dân thời kỳ đầu pháttriển kinh tế thị trường
Ở góc độ địa phương, nghiên cứu về lịch sử huyện Diễn Châu suốt haiphần ba thế kỉ qua (từ 1930 đến nay) có nội dung chủ yếu là lịch sử chính trị,lịch sử quân sự Việc nghiên cứu đề tài “Sự chuyển biến trong đời sống ngườinông dân huyện Diễn Châu (Nghệ An) thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến năm2009)” hoàn toàn chưa có một công trình chuyên khảo nào Thực tế đây còn
Trang 7là một vấn đề nghiên cứu còn hết sức mới mẻ Tuy nhiên, các nội dung liênquan của đề tài cũng đã có một số công trình nghiên cứu đề cập ít nhiều như:
Năm 1995, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản cuốn “Sơ thảolịch sử Đảng bộ Đảng cộng sản huyện Diễn Châu (1945 đến 1975), tập 2,cuốn sách trình bày vai trò lãnh đạo của Đảng bộ và cuộc đấu tranh của nhândân huyện Diễn Châu trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ vàtrong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đổi mới quêhương Tuy nhiên cuốn sách chưa đánh giá đầy đủ, khách quan về nhữngthành tựu kinh tế và những tác động của nó đến đời sống của người nông dân
Năm 1995, nhà xuất bản Nghệ An có xuất bản cuốn “Diễn Châu địa chívăn hóa làng xã” Đây là một bản điều tra xã hội học về các mặt chủ yếu như: cưdân, dấu vết lịch sử, văn hóa, giáo dục, đơn vị hành chính và có điểm qua về cácngành nghề kinh tế nông nghiệp như: trồng trọt, đánh bắt hải sản, nghề thủ côngtruyền thống
Năm 2005, nhà xuất bản Lao động Xã hội xuất bản cuốn: “Lịch sửĐảng bộ Đảng cộng sản huyện Diễn Châu (1930 đến 2005) ” là tài liệu cóchất lượng tốt, hữu ích cho việc tìm hiểu lịch sử Đảng bộ và một phần kinh tếhuyện Diễn Châu (đặc biệt từ năm 1986 đến năm 2005)
Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của Trương Văn Bính “Kinh tế Diễn Châu
từ 1975 đến 2005” năm 2006 cũng là một cách tiếp cận mới, có hệ thống vềtình hình kinh tế huyện Diễn Châu từ năm 1975 đến năm 2005
Năm 2007, cuốn “Diễn Châu xưa và nay” do tác giả Đậu Hồng Sâmchủ biên, nhà xuất bản Lao động Xã hội ấn hành là một công trình nghiên cứudưới góc độ văn hóa qua các thời kỳ lịch sử
Ngoài ra, trong hệ thống đề tài chung của chương trình “Con người Nghệ
An trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá” do giáo sư Lê
Bá Hán làm chủ nhiệm, tiến sĩ Đoàn Minh Duệ làm thư ký có nghiên cứu vềcộng đồng dân cư và nét đặc thù bản sắc con người xứ Nghệ trong sự phát triển
xã hội, nông thôn Trong đó có bài nghiên cứu của phó giáo sư Phan Văn Bankhắc họa đậm nét về những đặc điểm người nông dân tiểu nông
Trang 8Các tài liệu gốc là các báo cáo tổng kết theo từng thời gian của các banngành, các văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện Diễn Châu từ nhiệm kì XV đếnXXVIII, ®ược lưu hành nội bộ trong các cơ quan, tổ chức của huyện, xã lànguồn tài liệu hết sức quan trọng của đề tài
Tôn trọng kết quả nghiên cứu của những người đi trước, trên cơ sở kếthừa những thành tựu đó, với nguồn tài liệu phong phú đáng tin cậy, chúng tôi hivọng có thể tái hiện được những nét chuyển biến trong đời sống của người nôngdân huyện Diễn Châu (Nghệ An) thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến năm 2009)
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu về những chuyển biến trong đời sốngcủa người nông dân huyện Diễn Châu (Nghệ An) thời kỳ đổi mới (từ năm
1986 đến năm 2009)
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 1986đến năm 2009 Tuy nhiên để thấy rõ hơn, toàn diện hơn về vấn đề này chúngtôi còn tìm hiểu vài nét về thời kỳ trước đổi mới (trước năm 1986)
Về không gian: đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi địa bàn các
xã huyện Diễn Châu (gồm 38 xã và 1 thị trấn) nhưng khóa luận chỉ tập trungchủ yếu trên địa bàn các xã sau: Diễn Yên, Diễn Trường, Diễn Lâm, DiễnHồng, Diễn Bình, Diễn Minh, Diễn Cát, Diễn Thắng, Diễn Phú, Diễn Thọ,Diễn Lộc, Diễn Lợi, Diễn Đồng, Diễn Bích, Diễn Ngọc, Diễn Kim, Diễn Vạn,Diễn Thịnh, Diễn Xuân …
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Thực hiện đề tài “Sự chuyển biến trong đời sống của người nông dânhuyện Diễn Châu (Nghệ An) thời kỳ đổi mới(từ năm 1986 đến năm 2009)’’chúng tôi chủ yếu sử dụng các nguồn tài liệu:
Trang 9- Nhóm tài liệu gốc: gồm các báo cáo tổng kết của các ban ngành, đoànthể, các đơn vị được lưu trữ tại kho lưu trữ huyện ủy, Uỷ ban nhân dân,thư viện, phòng thống kê huyện Diễn Châu.
-Nhóm tài liệu thành văn như: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Lịch
sử kinh tế từ 1975 đến nay… và các tài liệu mang tính lý luận khác như: cáctác phẩm của C.Mác, Ph.Ănghen, V.I Lênin…
Ngoài ra, để thực hiện đề tài này chúng tôi còn sử dụng nguồn tài liệuđiền dã, tiếp xúc, trao đổi và khảo sát thực tiễn về đời sống người nông dântại địa bàn huyện Diễn Châu
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu vấn đề này chúng tôi dựa trên cơ sở phương phápluận của chủ nghĩa Mác – Lênin về lịch sử, lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làmnền tảng tư tưởng Bên cạnh đó, do đặc trưng của khoa học lịch sử nênphương pháp lịch sử được coi trọng trong quá trình nghiên cứu đề tài Trên cơ
sở những tư liệu lịch sử chúng tôi đi đến hệ thống hóa, khái quát hóa vấn đề,
đề tài cũng sử dụng cả các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, sosánh, tổng hợp … để rút ra những kết luận phù hợp với những vấn đề đặt racủa khóa luận
Ngoài ra, các phương pháp liên ngành khác như: điền dã, toán học,thống kê cũng được sử dụng trong đề tài này
5 Đóng góp của đề tài
Vấn đề đổi mới nói chung, đổi mới kinh tế, xã hội trên địa bàn huyệnDiễn Châu nói riêng đã được đề cập ít nhiều trong các công trình nghiên cứu,song vấn đề mà chúng tôi nghiên cứu: “Sự chuyển biến trong đời sống ngườinông dân huyện Diễn Châu (Nghệ An) thời kỳ đổi mới(từ năm 1986 đến năm2009)’’ là một vấn đề nghiên cứu mới mẻ, thông qua sự nghiên cứu này tôimong muốn đóng góp một vài phương diện sau:
Trang 10Thông qua việc trình bày một số quan điểm về người nông dân để thấyđược đóng góp to lớn của người nông dân trong lịch sử và trong giai đoạnhiện nay.
Khóa luận tái hiện lại một cách có hệ thống về những đổi thay lớntrong đời sống người nông dân huyện Diễn Châu (Nghệ An) từ năm 1986 đếnnăm 2009, từ đó đánh giá một cách khách quan những thành tựu kinh tế, xãhội nổi bật qua các giai đoạn cụ thể Đồng thời cũng khảo sát và nhận ranhững chuyển biến tâm lý của người nông dân khi bước vào thời kỳ kinh tếthị trường Từ đó chỉ ra các yếu tố tâm lý tác động tích cực hay tiêu cực đốivới việc phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinhthần cho người nông dân
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần vào việc biên soạn lịch sử địaphương, đồng thời đề xuất những kiến nghị, giải pháp để các cơ quan thamkhảo nhằm hoạch định những chính sách, chủ trương về nông dân, nôngnghiệp và nông thôn tiến tới thực hiện thành công công cuộc xóa đói, giảmnghèo, xây dựng nông thôn hiện đại, văn minh và giàu mạnh
Ngoài ra, đề tài còn góp phần giáo dục tinh thần tự lực, tự cường, củng
cố niềm tin vào con đường mà Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra, thúc đẩynhững hành động tích cực, cụ thể nhằm đổi thay cuộc sống của người nôngdân huyện Diễn Châu theo hướng nông thôn giàu mạnh, văn minh
Chương 2: Những chuyển biến trong đời sống của người nông dân huyện Diễn Châu thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến năm 2009)
Trang 11B - NỘI DUNG Chơng 1 Một vài nét khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội và
đời sống ngời nông dân huyện Diễn Châu (Nghệ an)
tr-ớc thời kỳ đổi mới (trtr-ớc năm 1986)
1.1.Vài nột khỏi quỏt về điều kiện tự nhiờn và xó hội ảnh hưởng trực tiếp đến sự phỏt triển kinh tế xó hội huyện Diễn Chõu (Nghệ An)
1.1.1.Điều kiện tự nhiờn
Diễn Chõu là một huyện đồng bằng ven biển nằm ở phớa Đụng Bắc tỉnhNghệ An, phớa Bắc giỏp huyện Quỳnh Lưu, phớa Nam giỏp huyện Nghi Lộc,phớa Tõy và Tõy Bắc giỏp huyện Yờn Thành, phớa Đụng giỏp biển Đụng Địahỡnh huyện Diễn Chõu ngày nay chia làm 3 vựng:vựng sườn đồi, vựng đất phự
sa, đồng bằng ven biển, song Diễn Chõu cũng cú nhiều nỳi như: nỳi Bạc, nỳiOng, nỳi Chạch, nỳi Mụa, nỳi Bà, nỳi Thần Vũ, nỳi Ta, nỳi Mộ Dạ, hũnNhọn, hũn Trơ, lốn Hai Vai, lốn Dơi …
Vị trớ tiếp giỏp và địa hỡnh núi trờn đó tạo điều kiện khụng nhỏ trongviệc phỏt triển kinh tế: trao đổi sản phẩm giữa cỏc vựng nội và ngoại huyện,trao đổi kinh nghiệm cải tạo tự nhiờn … Đồng thời tạo ra cơ hội thuận lợitrong giao lưu văn húa chớnh trị, xó hội giữa cỏc vựng trong huyện, giữahuyện với cỏc vựng phụ cận
Nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm giú mựa nhưng Diễn Chõu lại ở miềnbiển nờn thường nhận được 3 luồng giú: Giú mựa Đụng Bắc, giú mựa TõyNam (giú Lào) và giú Đụng Nam Do vị trớ địa lý nờn khớ hậu Diễn Chõu hỡnhthành hai mựa rừ rệt: mựa Đụng và mựa Hạ Toàn bộ thiờn nhiờn đến conngười ở nơi đõy đều chịu ảnh hưởng của nhịp điệu này Cỏc hoạt động kinh
tế, xó hội cũng phải tiến hành ở thời điểm phự hợp Giú mựa Đụng Bắc đemtheo mưa phựn nhưng địa hỡnh xa dóy Trường Sơn nờn tớnh chất giỏ lạnh vàkốm theo mưa phựn chỉ diễn ra trong vài ba ngày chứ khụng kộo dài như cỏc
Trang 12địa bàn xung quanh: Nam Đàn, Thanh Chương …Mùa Đông ở Diễn Châu cógió biển thổi vào làm cho khí hậu các xã ven biển và vùng phụ cận có phần
ấm hơn Điều này có lợi cho sức khỏe con người và sản xuất rau quả, chănnuôi gia súc, gia cầm
Về mùa Hạ, Diễn Châu chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam nhưngkhông nắng nóng như các huyện khác Nhiệt độ trung bình là 23,4 độ C tổnglượng nhiệt cả năm lên tới 8000 độ C Độ ẩm trung bình là 85%, bức xạ nhiệtmặt trời và độ ẩm không khí cao cho phép phát triển những vụ cây ngắn ngày,cây lương thực và cây nông nghiệp có sản lượng, có năng suất cao Lượngmưa bình quân là 1690mm/năm, lượng bốc hơi bình quân là 986mm/năm.Theo thống kê của huyện ủy và Uỷ ban nhân dân huyện, đến năm 2004 DiễnChâu có diện tích là 30.492,36 ha (304,92 km vuông) trong đó đất dùng trongnông nghiệp chiếm 51% tổng diện tích Đất đai chia thành nhiều loại như: đấttrồng lúa, đất trồng rau và các loại cây có giá trị kinh tế cao, đất đồi núi thấp
và những bãi cỏ, đất ven biển, đất bằng phẳng … Việc tập trung phân vùngđất đai theo hướng chuyên canh sẽ phát huy, khơi dậy tiềm năng sẵn có đưacác lĩnh vực của kinh tế ngày càng khởi sắc
Nguồn nước của Diễn Châu khá dồi dào, ngay cái tên Diễn Châu nghĩa
là “nước chảy dưới đất” đã nói lên điều đó Hay như tên gọi “Sông cầu Bùng”– trong ngôn ngữ của Diễn Châu có nghĩa là đang to ra, đang lớn lên Tàinguyên nước còn được bổ sung bằng một hệ thống các sông đào như “Kênhnhà Lê”; sông Cầu Lồi; sông Yên Sở; Kênh Sơn Tịnh … Ngày nay cùng vớicác công trình thủy lợi, các con sông đã phát huy tốt vai trò tưới tiêu cho đồngruộng, vườn đồi, đồng muối, phục vụ cho sản xuất, góp phần phát triển nôngnghiệp và diêm nghiệp
Nhìn từ trên xuống ta thấy rõ 25km bờ biển của huyện chạy từ Bắc vàotạo thành một đường cong parabol, đây là cơ sở quan trọng để phát triển kinh
tế biển Đây cũng là thuận lợi chung về điều kiện tự nhiên cho các huyện
Trang 13Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Cửa Lò … mà không phải địa phương nàocũng có được
Biển Diễn Châu phong phú về hải sản, đa dạng về chủng loại, hầu hếtcác loại hải sản ngoài khơi vịnh Bắc Bộ đều có ở vùng biển Diễn Châu, đemlại giá trị kinh tế cao Hằng năm huyện có thể khai thác được sản lượng lớntôm,cá và mực để xuất khẩu, thềm lục địa Diễn Châu nông, bằng phẳng, nướcchỉ sâu từ 4 đến 9 m nên thuận tiện cho việc thả lưới rê, lưới quét Dọc bờbiển là các là tuyến rừng phòng hộ phi lao và dừa xanh, phần giáp ranh cóphần thiếu dinh dưỡng nhưng nếu biết chăm bón cẩn thận, có kế hoạch thì cácloại cây ăn quả như xoài, nhãn, đu đủ vẫn có thể cho năng suất cao Khí hậubiển mát mẻ, có thêm cảnh quan thiên nhiên đẹp, có bãi tắm loại tốt, tạo thuậnlợi cho việc xây dựng các loại hình du lịch – dịch vụ Hai điểm tiêu biểu vềbãi tắm là Diễn Thành và Cửa Hiền (Diễn Trung) là bằng chứng được nhiềungười biết đến
Tuy không giàu có về khoáng sản như một số nơi khác, song DiễnChâu vẫn có những mỏ sắt, cồn sò điệp Sò không chỉ là loại hải sản có giá trị
mà là vật liệu tốt cho xây dựng các công trình dân dụng Cùng các vùngQuỳnh Văn, Quỳnh Lưu, cồn sò điệp ở Diễn Châu còn góp phần cung cấp vậtliệu xây dựng thành Trai, thành cổ Vinh trước kia
Bên cạnh những thuận lợi về điều kiện tự nhiên như đã nêu trên, điềukiện địa lí tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Diễn Châu cũng có những khókhăn nhất định Về địa hình :đăc điểm dễ thấy nhất là sự chia cắt, ngay ở một
số nơi có thể vừa xảy ra quá trình tích lũy, lại vừa xảy ra quá trình rửa trôilàm cho bề mặt đất không ổn định, không đồng đều gây khó khăn cho quátrình canh tác, nhất là vấn đề mất nước trong mùa khô Ảnh hưởng của gióLào khô nóng, cộng thêm sự cắt xẻ phức tạp của địa hình làm cho một số nơixuất hiện gió xoáy hoặc mưa đá gây hư hại tài sản của nhân dân Ngoài ra,
Trang 14Diễn Châu cũng là địa bàn chịu ảnh hưởng trên con đường đổ bộ của các cơnbão trong mùa bão tố
Cũng như toàn thể cư dân Nghệ An, cư dân huyện Diễn Châu đã vất vảtrong việc chế ngự thiên nhiên, thời tiết, khí hậu để sinh sống và sản xuất.Nhìn chung Diễn Châu là một huyện có tiềm năng về đất đai, sông ngòi, biển
để hướng tới một nền nông nghiệp đa canh Điều kiện tự nhiên có nhiều thuậnlợi song cũng còn không ít khó khăn, do đó vấn đề đặt ra là phải triệt để khaithác những mặt tích cực, có kế hoạch hình thành một cơ cấu kinh tế thích hợp,làm tăng tổng sản phẩm xã hội Đồng thời tìm mọi cách hạn chế thấp nhấtnhững mặt tổn hại đến đời sống và sản xuất của nhân dân
1.1.2.Điều kiện xã hội
Không chỉ có cảnh đẹp núi sông, biển cả và sự giàu có của thiên nhiên,Diễn Châu còn được biết đến là một vùng đất có bề dày truyền thống lịch sử -văn hóa Căn cứ vào sử cũ và sách địa chí, chúng ta khẳng định tên gọi DiễnChâu ra đời năm Trinh Quán thứ nhất (tức năm 627) đời vua Đường TháiTông, cách ngày nay 1382 năm (năm 2009)
Diễn Châu là nơi hội tụ, giao lưu của hai nền văn hóa Bắc – Nam,ngoài ra còn phải kể đến sự tiếp cận với nền văn hóa Đông Nam Á Ở đây,các di tích khảo cổ tìm thấy thuộc nền văn hóa Đông Sơn, Sa Huỳnh (nhưgốm, mộ đất, mộ nồi, khuyên tai …), các di chỉ như Rú Ta, Đồng Mỏm (DiễnThọ); lèn Hai Vai (Diễn Minh) …cho phép khẳng định ở Diễn Châu conngười đã sinh sống từ lâu và đã hình thành những phong tục nhất định
Bằng sức lao động cần cù, óc thông minh, trí sáng tạo tuyệt vời, các thế
hệ cha ông đã tận dụng điêu kiện thuận lợi về địa lý, địa hình,khắc phục trởngại, chế ngự thiên nhiên, xây dựng quê hương thành một thực thể gắn bómáu thịt với xứ Nghệ, với quốc gia, dân tộc Việt Nam Những kết quả khaikhẩn từ thế hệ này sang thế hệ khác đã biến Diễn Châu từ miền biên cươnghẻo lánh, “phên giậu” của đất nước thành vùng đất phì nhiêu, màu mỡ với
Trang 15những cánh đồng mênh mông, lúa dập dìu lượn sóng, những vườn cây trĩuquả, những phiên chợ đông người Đó là kết quả của bao mồ hôi nước mắtcủa lớp người tiên phong khai sơn phá thạch nơi đây
Trong lĩnh vực nông nghiệp, nhân dân từng bước biết dùng trâu, bò làmsức kéo, phỏng đoán thời tiết, lập thời vụ, áp dụng các biện pháp thâm canhtăng vụ và tích lũy kinh nghiệm sản xuất để lưu lại đời sau Các nghề thủcông phát triển khắp các vùng ven biển như nghề nước mắm, đóng thuyền,đan gai, chắp lưới Từ chỗ chưng cất nước biển lấy muối tiến lên xây ô đổ nại
là cả một quá trình đổi mới không ngừng Miền đồng bằng trung du có nghềtrồng dâu nuôi tằm, dệt vải, luyện sắt, đúc đồng…Cùng với việc xây dựng đờisống nông nghiệp định cư cư dân lao động nơi đây cũng đã góp phần sáng tạovăn hóa dân tộc phong phú và đậm đà tính nhân dân
Nhân dân huyện Diễn Châu cũng kiên cường chống giặc ngoại xâm vàchống lại giai cấp thống trị vươn lên làm chủ cuộc đời Gần 90 di tích còn sótlại trên vùng đất này làm bằng chứng hào hùng về truyền thống lịch sử kiêntrung bất khuất chống giặc ngoại xâm của nhân dân
Diễn Châu còn là vùng đất nổi tiếng với truyền thống hiếu học, vănchương Truyền thống hiếu học trọng đạo lý làm người không chỉ thể hiệntrong ý thức, tư tưởng mà còn biểu hiện trong các hoạt động thực tế Hầu hếtcác thôn, xã đều có ruộng học điền, có văn miếu, hội tư văn, tư võ, hội đồngmôn Nhiều tên làng, tên xã nói lên truyền thống đó của quê hương như: VănHiến, Văn Vật, Văn Tập, Bút Điền, Tam Khôi, Thư Phủ, Nho Lâm …
Về sinh hoạt tinh thần của nhân dân Diễn Châu cũng có những sắc tháiriêng biệt độc đáo Ở các làng, xã trong huyện đều có đền thờ thành hoànglàng, có chùa thờ Phật, có văn chỉ để thờ tiên thánh hậu hiền Nhiều thôntrước đây có phường hát như : hát hội ở làng Bùng, Thừa Sủng; hát chèo ở LýNhân, Thanh Bích; hát hò ở Đại Thăng; hát ví, hát dặm… kể về nhiều giaithoại văn học Các thế hệ nhân dân nơi đây có quyền tự hào về truyền thống
Trang 16trọng đạo lý, truyền thống hiếu học, truyền thống chống ngoại xâm ngàn đời
ấy Khơi dậy và đánh thức tiềm năng, phát huy truyền thống hiếu học, phongtục tập quán là việc làm hết sức cần thiết đối với Diễn Châu hôm nay Lựclượng trí thức trẻ được đào tạo bài bản,có chuyên môn và năng lực công tác,
có nhận thức về quá khứ, hiện tại và tương lai sẽ góp phần bảo tồn các giá trịtruyền thống nói chung và xây dựng đời sống vật chất, tinh thần ngày càngcao cho nhân dân nói riêng
Đất Diễn Châu là một trong những địa phương có cơ sở hạ tầng thuộcloại tốt trong tỉnh Nghệ An Ngoài những cơ sở, công trình kinh tế, chính trị,văn hóa, thể thao,các trung tâm như Phủ Diễn, cầu Bùng, ga Yên Lý, đềnCuông, hồ Xuân Dương, khu công nghiệp Diễn Hồng, bãi biển Diễn Thành
…còn phải kể đến hệ thống nhà bưu điện, trạm xá, trường học, trạm bơm,trang trại, cơ sở sản xuất và chế biến nông – lâm – ngư nghiệp có mặt ở hầukhắp các xã, thôn Nhìn chung cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Diễn Châu cơ bản
đã đáp ứng và phục vụ nhu cầu của nhân dân
Mạng lưới giao thông huyện khá đa dạng, thuận tiện nhiều mặt Quốc
lộ 1A đi qua huyện dài 30km từ Diễn Trường đến Diễn An, quốc lộ 7 chạyqua Diễn Châu dài 12km (nối tỉnh Nghệ An với nước bạn Lào), tỉnh lộ 38 từcầu Bùng lên Yên Thành, đường 48 đi từ Yên Lý ra Nghĩa Đàn, Quế Phong,Tuyến đường sắt Bắc – Nam chạy xuyên qua 3 huyện có đến 3 ga (gaYên Lý,
ga chợ Si và ga Mĩ Lý) Kênh nhà Lê từ Nghi Lộc ra Diễn Phú qua Diễn An,Diễn Tân, Diễn Phúc rồi nối vào sông cầu Bùng ở gần cầu Đò Đao Thuyền
bè đi trên biển cả cũng phải qua hải phận của Diễn Châu và thường lấy “LènHai Vai” làm hoa tiêu Đó là chưa kể tới cửa Lạch Vạn, vốn là nơi ra vào củanhiều thuyền buôn bán và thuyền đánh cá
Cơ sở hạ tầng, hệ thống giao thông như đã nêu trên tạo thuận lợi choviệc đi lại, phát triển kinh tế, trao đổi hàng hóa, giao lưu và tiếp xúc văn hóavới các huyện phụ cận, phát triển các loại hình dịch vụ vận tải Các tuyến
Trang 17đường nội, ngoại tỉnh gắn hoạt động của ba huyện Diễn Châu, Yên Thành,Quỳnh Lưu thành một cửa ngõ rộng lớn của phía Bắc Nghệ An và là nơi gặp
gỡ, giao lưu của nhiều luồng thông tin
Nghiên cứu về làng xã, nông thôn Nghệ An, ta không thể không nhắctới các địa danh ở đất Diễn gắn liền với các sản phẩm tiêu biểu, ví dụ nhưluyện quặng và rèn ở Nho Lâm, đúc đồng ở Diễn Tháp, đúc lưỡi cày ở Diễn
Kỷ, đóng thuyền ở Diễn Bích, nước mắm Vạn Phần, dệt vải và tơ lụa ởPhượng Lịch … Có lẽ Diễn Châu là nơi có làng nghề thủ công vào loại nhấtnhì tỉnh Nghệ An, đây là một lợi thế để phát triển tiểu thủ công nghiệp và dịch
vụ ở Diễn Châu mà không phải địa phương nào cũng có được
Nói về điều kiện xã hội và cư dân cần phải kể đến bản lĩnh và tính khícon người nơi đây Trong sách “Đồng Khánh ngự lãm dư địa chí lược” do cácquan lại soạn tâu vua năm 1886 – 1888 có viết về Diễn Châu “Đất xấu,nghèo, phong tục cần kiệm, chất phác Dân miền ven biển làm nghề tôm cá.Dân miền núi làm nghề chặt củi đốt than để mưu sinh, ăn mặc,việc tang việc
tế không chuộng xa xỉ, hoang phí …” Người Diễn Châu mang khí chất chungcủa con người chung xứ Nghệ, họ là những con người đứng đầu sóng ngọngió, cần cù khai khẩn đất đai, không ngừng tranh đoạt với thiên nhiên để làmnên những cánh đồng màu mỡ, xây dựng cuộc sống của mình Truyền thống,khí chất của con người cùng với lực lượng lao động dồi dào đã trở thànhnguồn nhân lực quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển quê hươngngày nay
Tiểu kết: Tóm lại, với đặc điểm địa lý, tài nguyên thiên nhiên sẵn có đã
tạo cho Diễn Châu nhiều khả năng phát triển một nền kinh tế đa dạng, tổnghợp Hiện tại và trong tương lai, khai thác tiềm năng biển, phát triển du lịch –dịch vụ, tạo điều kiện cho quá trình giao dịch với các tỉnh trong nước và vớinước ngoài Quá trình chinh phục tự nhiên, xây dựng cuộc sống và truyềnthống lịch sử văn hóa, con người, nguồn lao động …trở thành những tiềm
Trang 18năng to lớn, bài học kinh nghiệm và là gạch nối giữa quá khứ với hiện tại sẽgiúp Đảng bộ huyện, chính quyền và nhân dân huyện Diễn Châu xây dựngphát triển kinh tế bền vững xứng đáng là một trong những hình ảnh tiêu biểucủa quê hương Xô Viết anh hùng thời kỳ đổi mới
1.2 Một vài quan điểm về người nông dân
1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp nông dân
Giai cấp nông dân hình thành trong quá trình tan rã của chế độ chiếmhữu nô lệ, sự tồn tại của giai cấp nông dân gắn liền với hoạt động sản xuấtnông nghiệp Trong chế độ phong kiến ở nhiều quốc gia vai trò của nông dânđược đánh giá rất cao Ở phương Đông, nông dân được xếp hàng thứ 2 trong
cơ cấu giai cấp xã hội “nhất sĩ nhì nông” thậm chí trong một số hoàn cảnh đặcbiệt thì “hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ” Ở phương Tây, dưới quan điểmcủa trường phái “trọng nông”, nông dân không những đóng vai trò quan trọngtrong chế độ phong kiến mà ngay cả khi chủ nghĩa tư bản ra đời và phát triểnmạnh mẽ Tuy nhiên, những quan điểm trước C.Mác, trong cách nhìn của giaicấp thống trị, giai cấp nông dân chỉ là “lực lượng tiêu cực” hoặc là lực lượngđáng thương hại và là lực lượng để sai khiến của của giai cấp thống trị màthôi
Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác – Lênin từ chỗ phân tích địa vị kinh
tế, xã hội của giai cấp công nhân đã khẳng định: “Giai cấp công nhân- lựclượng có sứ mệnh lịch sử thủ tiêu chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công chủnghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản” Đồng thời các nhà kinh điển chủ nghĩaMác cũng đã phát hiện và đi đến khẳng định vai trò to lớn, vị trí quan trọng vàsức mạnh của giai cấp nông dân trong tiến trình lịch sử, đặc biệt là trong quátrình thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Trên cơ sở phân tích địa vị kinh tế và đặc điểm về chính trị tâm lý củagiai cấp nông dân, Mác; Ăngghen; Lênin đã đưa ra những kết luận khoa học
về giai cấp nông dân trong quá trình phát triển xã hội như sau:
Trang 19Thứ nhất: Giai cấp nông dân - những người sản xuất nhỏ, tư hữu nhỏ.Đây là đặc điểm kinh tế cơ bản nhất của người nông dân Nông dân là nhữngchủ sở hữu nhỏ về đất đai, nông cụ và do đó không có nền kinh tế độc lập.Với họ sở hữu ruộng đất là nguồn gốc đầu tiên của mọi của cải được sở hữu
và đã trở thành điều thiêng liêng mà giai cấp nông dân nâng niu, trân trọng, làcủa cải cha truyền con nối từ đời này qua đời khác Mảnh ruộng gìn giữ là bầutrời riêng của người nông dân, thực sự là tổ quốc của họ
Với chút tài sản riêng tư cùng phương thức sản xuất thô sơ, nhỏ bé đãchi phối đặc điểm tư tưởng, tâm lý của người nông dân Mảnh ruộng con, quanhiều đời đã nuôi dưỡng cho người nông dân tư tưởng tư hữu nhỏ, “thâm căn
cố đế” nên hành động, suy nghĩ, lợi ích của người nông dân luôn diễn ra trongcái ranh giới đó Điều đó đã dẫn đến tính cách bảo thủ, tính cục bộ địaphương, trở thành một trong những thuộc tính cơ bản của người nông dân.Trạng thái biệt lập, phân tán cũng là những đặc điểm của giai cấp này Ngườinông dân “chỉ sống vì những lợi ích riêng nhỏ nhặt của họ, vì cái khung cửi,
vì mảnh vườn cỏn con của họ và không biết gì đến phong trào mạnh mẽ đanglay động loài người ở bên ngoài làng xóm của họ” [4, 488]
Vì thế “nông dân không bao giờ vượt ra khỏi phạm vi những quan hệđịa phương gần nhất và khỏi cái chân trời địa phương chật hẹp gắn liền với
những quan hệ đó [4, 188] Sự tồn tại tách biệt, phân tán của người nông dân
xuất phát từ phương thức sản xuất của họ “mảnh đất cỏn con, người nông dân
và gia đình anh ta, cạnh kề một mảnh đất cỏn con khác, một nông dân khác,một gia đình khác” [5, 515] Cùng với nền kinh tế tự cung tự cấp không làmcho họ liên hệ với nhau mà làm cho họ biệt lập với nhau Tính tư hữu, bảothủ, cục bộ địa phương và tình trạng phân tán biệt lập là những đặc điểm cơbản của giai cấp nông dân Đặc điểm đó hạn chế rất nhiều khả năng đấu tranhcũng như khả năng phát triển của giai cấp nông dân
Trang 20Thứ hai: là tính hai mặt của nông dân Mặc dù là những người sở hữunhỏ ruộng đất nhưng trong phương thức sản xuất phong kiến để được sở hữuhoặc lĩnh canh ruộng đất đó, nông dân phải chịu những khoản đóng góp hếtsức nặng nề, bất công: lao dịch, địa tô, thuế thân, tiền bảo hộ và mọi khoảnthuế khác đều trút lên đầu người nông dân “Trong xã hội phong kiến, toàn bộ
cơ cấu xã hội gồm vương công, quan lại, quý tộc đều đè nặng lên vai ngườinông dân” [5, 471]
Trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản đã đem lạiruộng đất, xóa bỏ xiềng xích phong kiến cho người nông dân Nhưng khi củng
cố được địa vị thống trị, giai cấp tư sản lại bóc lột người nông dân một cách tàn
tệ hơn C.Mác viết: “bọn cho vay nặng lãi ở thành thị đã thế chân bọn phongkiến, chế độ tư sản đã lại trở thành con quỷ hút máu và não của mảnh đất con đó
và đem trút máu và não ấy vào các bình cổ cong luyện vàng của tư bản” [5, 520]
Chính sự áp bức bóc lột này là cơ sở để hình thành ở người nông dân tưtưởng phản kháng đối với chế độ phong kiến trước đây và chế độ tư bản chủnghĩa sau này Lợi ích của giai cấp nông dân gắn liền với chế độ tư hữu nhỏ,
họ là người có đầu óc “thực tế và thiết thực”, họ tham gia đấu tranh chỉ để bảo
vệ những lợi ích vật chất cụ thể của mình Sự đấu tranh đó của nông dânkhông phải là sự giác ngộ về quyền lợi giai cấp, dân tộc mà là những tính toánquyền lợi vật chất Vì thế, đúng như C Mác nhận xét “họ không cách mạng
mà bảo thủ, thậm chí họ có thể trở thành phản động khi cố tình tìm cách làmcho bánh xe lịch sử quay ngược trở lại, tất cả chỉ là để bảo vệ lợi ích vật chấtnhỏ bé của mình”
Mác, Ăngghen và Lênin đã nhận ra và nhiều lần đề cập đến bản chấthai mặt của giai cấp nông dân là người tư hữu nhỏ, họ có thể tự phát đi theochủ nghĩa tư bản, thỏa hiệp với tư sản và địa chủ để bảo vệ tài sản nhỏ bé củamình Nhưng mặt khác, là người lao động bị áp bức, bóc lột nông dân có khảnăng đi theo giai cấp vô sản để làm cuộc cách mạng giải phóng cho bản thân
Trang 21mình Trong lịch sử, giai cấp nông dân đã nhiều lần tham gia vào cuộc đấutranh, tuy nhiên trong cuộc đấu tranh ấy, họ luôn luôn dao động hoặc khôngvững vàng về lập trường Trong thực tế, có khi họ đấu tranh mơ hồ Tính haimặt của giai cấp nông dân cũng được V.I.Lênin phân tích và vận dụng mộtcách sâu sắc trong quá trình lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa TheoV.I.Lênin, xuất phát từ địa vị kinh tế,xã hội của giai cấp nông dân, họ chỉ đitheo chủ nghĩa xã hội khi họ tin chắc rằng không còn con đường nào khácnữa, khi giai cấp tư sản bị đánh bại và đè bẹp vĩnh viễn Do đó, ngay cả dướichế độ chuyên chính vô sản, nông dân “vẫn giữ một địa vị đứng giữa, một vịtrí trung gian”.
Như vậy Mác, Ăngghen và Lênin đều cho rằng, nền sản xuất nhỏ và tưtưởng tư hữu đã hạn chế nhiều đến ý thức và kết quả đấu tranh của giai cấpnông dân Sự dao động, ngả nghiêng ảnh hưởng không ít đến vai trò chính trịcủa họ, nhưng không thể làm mất đi tinh thần đấu tranh của giai cấp nôngdân Giai cấp nông dân vẫn chứa đựng một khả năng cách mạng to lớn Giaicấp nông dân là giai cấp sở hữu nhỏ về tư liệu sản xuất, họ không có khả năngchủ động cách mạng mà cần sự lãnh đạo của giai cấp tiến bộ hơn Trong lịch
sử tùy theo sự biến đổi về tương quan so sánh lực lượng và tình hình tư tưởngcủa các giai cấp, để quyết định giai cấp nông dân sẽ ủng hộ hoặc đứng về phíagiai cấp nào đó Trong cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản,việc giai cấp nào kéo theo sự đồng tình ủng hộ của nông dân là yếu tố căn bảnquyết định cho sự thắng lợi của giai cấp đó Vì vậy, giai cấp vô sản phải sửdụng được sức mạnh to lớn của giai cấp nông dân và tìm cách liên minh vớigiai cấp này Sự ủng hộ của giai cấp nông dân với giai cấp vô sản là điều kiệnbắt buộc, có ý nghĩa quyết định với thắng lợi của cách mạng vô sản Phải liênminh với nông dân, kéo nông dân ra khỏi ảnh hưởng của giai cấp tư sản, giảiphóng họ khỏi ách áp bức bóc lột của tư bản, làm cho họ đứng về phía mình,
có như vậy giai cấp vô sản mới giành và giữ được chính quyền V.I.Lênin
Trang 22khẳng định trong cách mạng xã hội chủ nghĩa: “Nếu không liên minh đượcvới nông dân thì không thể có được chính quyền của giai cấp vô sản, khôngthể nghĩ tới việc duy trì chính quyền đó” [50, 57].
Giai cấp vô sản vừa có thể và cần liên minh với giai cấp nông dân,C.Mác cho rằng: cách mạng vô sản phải là bài đồng ca của hai giai cấp côngnhân và nông dân mà “nếu không có được bài đồng ca này thì trong tất cả cácquốc gia không có nông dân, bài đơn ca của cách mạng vô sản sẽ trở thànhbài ai điếu” [50, 58] Nghiên cứu tình hình nông dân Pháp và Đức,Ph.Ăngghen cũng cho rằng: “Việc Đảng xã hội giành chính quyền đã trởthành một việc không xa nữa, nhưng muốn giành được chính quyền thì trướchết Đảng đó phải chuyển từ thành thị về nông thôn, phải trở thành một thế lực
ở nông thôn” [6, 565] Nông dân là lực lượng quan trọng, vì “số đó càng đôngbao nhiêu thì việc cải tạo xã hội sẽ càng nhanh chóng và dễ dàng bấy nhiêu”[6, 586]
Tóm lại, C.Mác và Ph.Ăngghen đã kết luận về khả năng cách mạng tolớn và vai trò quan trọng của nông dân trong tiến trình cách mạng xã hội chủnghĩa Từ đó các ông khẳng định, trong cuộc đấu tranh lật đổ giai cấp tư sản,giai cấp công nhân chỉ có thể giành thắng lợi nếu kết hợp và liên minh đượcvới giai cấp nông dân
V.I.Lênin cũng đã phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về vaitrò cách mạng của giai cấp nông dân trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.V.I.Lênin đã đánh giá cao phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửathuộc địa, mà ở đó dân cư đa số là nông dân, và đó là một bộ phận quan trọngcủa cách mạng xã hội chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới Người chỉ ra vấn
đề giải phóng dân tộc thực chất là giải phóng nông dân
Ở các nước nông nghiệp, nông dân là lực lượng cách mạng to lớn Do
đó, liên minh với nông dân giai cấp vô sản sẽ tạo ra sức mạnh vĩ đại Trên cơ
sở đó, họ có thể liên kết, tập hợp các tầng lớp nhân dân lao động khác theo
Trang 23mình làm cách mạng Sự ủng hộ của giai cấp nông dân đối với giai cấp vô sản
là điều kiện bắt buộc, có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của cách mạng.V.I.Lênin cho rằng, giai cấp vô sản không thể hoàn thành nhiệm vụ của mình
“nếu quần chúng lao động ở nông thôn không đoàn kết chung quanh Đảngcộng sản của giai cấp vô sản thành thị, nếu Đảng cộng sản của giai cấp vô sảnthành thị không giáo dục giai cấp vô sản ở nông thôn” [48, 34]
Vai trò của giai cấp nông dân không chỉ ở giai đoạn giành chính quyền
mà còn có ý nghĩa hết sức to lớn trong quá trình gìn giữ và xây dựng xã hộimới Phải liên minh với nông dân, kéo nông dân ra khỏi ảnh hưởng của giaicấp tư sản giải phóng họ khỏi ách áp bức bóc lột của tư sản, làm cho họ đứng
về phía mình có như vậy mới giữ được chính quyền “… Nếu không liên minhvới nông dân thì không thể có được chính quyền của giai cấp vô sản, khôngthể nghĩ tới việc duy trì chính quyền đó” [50, 57]
Mặt khác, Lênin cũng khẳng định rằng: phải liên minh với nông dântrong quá trình xây dựng xã hội mới Yêu cầu đó xuất phát từ thực tế lịch sửnước Nga, V.I.Lênin coi những người nông dân cần cù là “nhân vật trungtâm” của sự phát triển kinh tế nước Nga cho nên “10 năm quan hệ đúng vớinông dân thì thắng lợi được bảo đảm” [49, 459]
Vị trí đặc biệt của nông dân, nông nghiệp trong khôi phục và phát triểnkinh tế được Lênin nhấn mạnh trong chính sách kinh tế mới (NEP) V.I.Lênin đã
đề ra tư tưởng táo bạo xây dựng chủ nghĩa xã hội : “phải bắt đầu từ nông dân –phải bằng những biện pháp cấp bách và quan trọng để nâng cao các lực lượngsản xuất của nông dân” [49, 236] coi đó là con đường tốt nhất để có “bánh mỳ vànhiên liệu” V.I.Lênin đã nêu ra hàng loạt biện pháp để phát triển kinh tế củanông dân, nông nghiệp Chủ trương đúng đắn của V.I.Lênin bắt đầu cũng từnông dân, nông nghiệp và đã nhanh chóng khôi phục lại nền kinh tế nước Nga,tạo cơ sở cho việc thực hiện kế hoạch nổi tiếng “Điện khí hóa toàn Nga”
Trang 24Tiểu kết: Như vậy, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã kết
luận về khả năng cách mạng to lớn và vai trò của giai cấp nông dân trong suốttiến trình lịch sử Giai cấp nông dân chiếm đại đa số trong xã hội, đặc biệt vớicác nước nông nghiệp, nông dân là lực lượng chủ yếu, là động lực của cáchmạng Tuy nhiên do hạn chế về mặt giai cấp nên họ không thể trở thành lựclượng lãnh đạo cách mạng được Mặt khác, bản thân họ là những người laođộng bị áp bức, do đó nông dân đã liên minh với giai cấp khác để đấu tranhcách mạng Họ chưa tự giác, ý thức được việc đấu tranh của mình là vì quyềnlợi giai cấp hay vì sứ mệnh lịch sử cao cả giống như giai cấp vô sản, mà trênhết và trước hết là vì họ muốn đòi quyền lợi của mình, muốn bảo vệ chínhmiếng cơm manh áo, chính tài sản của họ
Trong thời đại cách mạng xã hội chủ nghĩa, vai trò của người nông dâncàng có ý nghĩa quan trọng hơn Cách mạng không chỉ dừng lại ở việc giànhchính quyền, việc giữ gìn và xây dựng xã hội mới cũng chính là mục tiêu củacách mạng, để đưa cách mạng tới nơi, cách mạng mang tính triệt để Vì nếuchỉ dừng lại ở việc giành chính quyền – cách mạng xã hôi chủ nghĩa vẫn chỉ
là một cuộc cách mạng nửa vời, cách mạng không đến nơi Xuất phát từnhững nhận thức về giai cấp nông dân trong lịch sử, các ông cũng đưa ranhững bài học nhằm phát huy sức mạnh của giai cấp nông dân đó trong quátrình tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa Đó là phải “liên minh với nôngdân, phải kéo nông dân ra khỏi ảnh hưởng của giai cấp tư sản, phải giải phóng
họ khỏi ách áp bức bóc lột của tư sản làm cho họ đứng về phía mình” Có nhưvậy liên minh công – nông mới vững chắc và là nền tảng để thực hiện thànhcông cách mạng xã hội chủ nghĩa
1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan niệm của Đảng ta về nông dân
* Tư tưởng Hồ Chí Minh về nông dân
Trang 25Vai trò của giai cấp nông dân trở nên đặc biệt quan trọng ở các nước
mà nền sản xuất chủ yếu là nông nghiệp Chính vì vậy, Hồ Chí Minh đã có sựnhìn nhận và đánh giá đúng đắn về vai trò của giai cấp nông dân Việt Nam
Kể từ khi ra đi tìm đường cứu nước cho tới khi trở thành đại biểu của giai cấpnông dân thế giới với vai trò Ủy viên Đoàn chủ tịch quốc tế nông dân, Hồ ChíMinh đã thấy nhiều và hiểu biết sâu sắc về giai cấp nông dân, Người đã dànhtình cảm và trí tuệ cho sự nghiệp giải phóng nông dân Việt Nam, những ngườiphải chịu hai tầng áp bức bóc lột Người viết: “là người An Nam, họ bị ápbức, là người nông dân họ bị người ta ăn cắp, cướp bóc, tước đoạt, phá sản”[12, 227]
Từ những năm 20 của thế kỉ XX, Hồ Chí Minh đã chỉ ra con đường duynhất để giải phóng giai cấp nông dân, đó là con đường cách mạng vô sản gắnliền giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp Người đã nhận định nông dânViệt Nam rất cách mạng, là một lực lượng to lớn nếu được tuyên truyền, tổ chức:
“nền tảng của vấn đề dân tộc là vấn đề nông dân, vì nông dân là đại đa số trongdân tộc Nền tảng của cách mạng dân chủ cũng là vấn đề nông dân vì nông dân làlực lượng cách mạng đông nhất để chống phong kiến, chống đế quốc” [15, 15]
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã nhận thấyvai trò to lớn của nông dân “nông dân là một lực lượng rất to lớn của dân tộc,một đồng minh rất trung thành của giai cấp công nhân” và “đồng bào nôngdân sẵn có lực lượng to lớn, sẵn có lòng nồng nàn yêu nước, sẵn có ý chí kiênquyết đấu tranh và hy sinh” Vì vậy, Người khẳng định: “muốn kháng chiến-kiến quốc thành công, muốn độc lập thống nhất thật sự phải dựa vào lựclượng của nông dân Đồng bào nông dân sẵn có lực lượng to lớn, sẵn có lòngnồng nàn yêu nước, sẵn có chí khí kiên quyết đấu tranh và hy sinh”
Những năm đầu tiên của chính quyền cách mạng với bao khó khăn, thửthách, Hồ Chí Minh đã cùng với Trung ương Đảng và Chính phủ lãnh đạo sựnghiệp kháng chiến và kiến quốc Người không chỉ chăm lo cho đời sống của
Trang 26nhân dân, cho nông dân mà còn chú trọng chỉ đạo phát triển kinh tế nôngnghiệp, chỉ ra hướng đi cho nông thôn, nông dân Vấn đề nông nghiệp, nôngthôn, nông dân cũng được Người quan tâm đặc biệt, Hồ Chí Minh đã nêu rõ
“Việt Nam là một nước sống bằng nông nghiệp,nền kinh tế của ta lấy canhnông làm gốc Trong công cuộc xây dựng nước nhà, chính phủ trông mongvào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn Nông dân nước tagiàu thì nước ta giàu Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh” [13, 215]
* Quan điểm của Đảng ta về giai cấp nông dân
Kể từ năm 1930 từ khi mới thành lập cho đến nay, Đảng ta luôn nhậnthức đúng đắn và khoa học về vai trò, vị trí, đặc điểm và sức mạnh của giaicấp nông dân trong cách mạng dân tộc dân chủ, trong cách mạng xã hội chủnghĩa cũng như trong cuộc đấu tranh để giữ vững độc lập dân tộc chống kẻthù cướp nước Đảng ta luôn nhấn mạnh rằng: giai cấp nông dân là giai cấpcủa những người lao động sản xuất vật chất trong nông nghiệp (bao gồm cảlâm, ngư nghiệp), trực tiếp sử dụng một loại tư liệu cơ bản và đặc thù là đất,rừng, biển để sản xuất ra nông sản Giai cấp nông dân vốn có cách thức sảnxuất phân tán, kỹ thuật lạc hậu, năng suất lao động thấp, có thành phần khôngthuần nhất, không cố kết chặt chẽ về sản xuất, về tổ chức, về tư tưởng Vì vậy,một mặt giai cấp nông dân có bản chất lao động, đây là mặt cơ bản nhất, mặt
có ý nghĩa cách mạng Nhưng mặt khác, giai cấp nông dân gồm những người
tư hữu nhỏ, đây là mặt hạn chế và phải trải qua quá trình cách mạng xã hộichủ nghĩa, công nghiệp hóa và hiện đại hóa mới được khắc phục từng bướcđược Tuy nhiên mặt tư hữu của giai cấp nông dân không đồng nhất với bảnchất tư hữu của giai cấp bóc lột Bởi vì giai cấp nông dân không dùng tư liệusản xuất nhỏ của mình để làm cơ sở bóc lột sức lao động của các giai cấp,tầng lớp khác trong xã hội
Ngoài ra, giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng riêng mà tư tưởngcủa họ phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội (như giai cấp
Trang 27phong kiến, giai cấp tư sản, giai cấp công nhân) Vì thế, giai cấp nông dân khichưa giác ngộ cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo thì hệ tư tưởng của
họ dễ dao động Trong một nước mà tỉ lệ nông dân chiếm đa số như ViệtNam, giai cấp nào lôi kéo được nông dân thì sẽ giành được thắng lợi choquyền lãnh đạo xã hội của mình Điều này vừa là thực tế lịch sử, vừa là vấn
đề lý luận có ý nghĩa chiến lược đối với giai cấp công nhân và Đảng của nótrong quá trình thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng
xã hội chủ nghĩa
Hiện nay, trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hộichủ nghĩa, giai cấp nông dân Việt Nam chiếm tỉ lệ 73,8% dân số đã có đónggóp quan trọng trong quá trình xây dựng đất nước Tuy vậy, giai cấp nông dânvẫn là lực lượng xã hội đang gặp nhiều khó khăn và chịu nhiều thiệt thòi cảtrong sản xuất, kinh doanh lẫn đời sống vật chất và tinh thần Vì vậy quan tâmhơn nữa tới nông dân tạo mọi điều kiện thuận lợi cả về cơ chế, chính sách,nguồn vốn … là nhiệm vụ quan trọng, trọng tâm của sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa Đồng thời, đây cũng là mục tiêu của Đảng ta trên conđường đưa nông dân từng bước xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu
1.3 Một vài nét khái quát về đời sống người nông dân huyện Diễn Châu trước thời kì đổi mới (trước năm 1986)
1.3.1 Đời sống kinh tế của người nông dân huyện Diễn Châu trước thời kì đổi mới (trước năm 1986)
Cũng như nhiều nơi khác trên địa bàn Nghệ An, phần lớn người nôngdân huyện Diễn Châu sống bằng nghề nông Công cụ lao động thô sơ, kĩ thuậtcanh tác không được cải tiến nên cuộc sống của người nông dân vốn đã lam
lũ, chịu nhiều tác động của thiên nhiên lại càng trở nên vất vả hơn Trướccách mạng Tháng Tám năm 1945, ruộng đất ở đây tập trung trong tay địa chủ,nông dân chủ yếu làm thuê cuốc mướn, mùa đói nông dân thường chạy đến
Trang 28các vùng miền Tây hoặc ra ven biển xứ Nghệ để mót ngô, khoai, đào củ mài,hoặc đánh bắt hải sản
Từ sau Cách mạng Tháng Tám, chính quyền dân chủ nhân dân ở DiễnChâu được thành lập, tình hình kinh tế và đời sống của người nông dân đãphát triển hơn trước Sau năm 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng,tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, cùng với cả nước huyện Diễn Châu đãbước vào giai đoạn cách mạng mới Những năm 1954 – 1957, với tinh thầnlàm chủ nông thôn và đời sống, nông dân huyện Diễn Châu đã dồn sức tậptrung khắc phục những hậu quả của chiến tranh, thực hiện nhanh chóng khẩuhiệu “người cày có ruộng” đưa nông dân làm chủ nông thôn, tạo điều kiệncho sản xuất nông nghiệp nhanh chóng phục hồi và đi vào ổn định
Phong trào cải tiến kĩ thuật canh tác với các biện pháp liên hoàn được
áp dụng rộng rãi, cho nên cuối năm 1957, sản lượng lương thực và chăn nuôiđạt vượt mức năm 1939 (năm cao nhất thời Pháp thuộc) Thu nhập bình quânnhân khẩu nông nghiệp ở Diễn Châu bằng mức thu nhập bình quân của nôngdân miền Bắc
Sau Hội nghị Đổi công toàn quốc năm 1955, phong trào xây dựng tổđổi công ở Diễn Châu phát triển mạnh mẽ, đi đôi với việc xây dựng tổ đổicông, Đảng bộ huyện cũng chuẩn bị mọi mặt cho việc thành lập Hợp tác xãnông nghiệp Năm 1958, Đảng bộ chọn thôn Nhân Hòa (Diễn Thọ) làm đơn
vị thí điểm xây dựng hợp tác xã nông nghiệp ở Diễn Châu Phong trào hợp táchóa nông nghiệp đã từng bước thu được kết quả khả quan, tác động tích cựctới đời sống sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Nếu như sau năm 1959, diệntích canh tác của huyện đạt 21.796 ha, năng suất bình quân là 23,20 tạ/ha, thìđến năm 1960 con số đó tương ứng là 21.870 ha, năng suất là 17,63 tạ/ha.Toàn huyện có 80% hộ nông dân với 70% diện tích canh tác vào hợp tác xãnông nghiệp
Trang 29Từ năm 1963 – 1965, Diễn Châu tiến hành triển khai hợp nhất, cải tiến
kĩ thuật và quản lí các hợp tác xã còn lại Qua cuộc vận động, các hợp tác xã
đã hoạt động theo hình thức khoán sản phẩm ở một số khâu Nhiều hợp tác xãđịnh hướng phương hướng sản xuất xây dựng có kế hoạch cho từng vụ, từngnăm, gồm cả trồng trọt chăn nuôi và từng nghành nghề Cải tiến quản lí hợptác xã đã bước đầu nâng cao được nhận thức và năng lực quản lí cho cán bộhợp tác xã
Trong những năm tháng có chiến tranh, nhiệm vụ kiến thiết địa phươngtrên tất cả các mặt được điều chỉnh cho phù hợp với thời chiến Mục tiêu phấnđấu trong nông nghiệp: 5 tấn thóc, 2 con lợn, 1 lao động / 1ha gieo trồng luônđược đảm bảo Mặc dù chiến tranh ác liệt nhưng các hợp tác xã ở Diễn Châukhông ngừng được củng cố, từ hợp tác xã bậc thấp chuyển lên hợp tác xã bậccao nên đã góp phần quan trọng vào các lĩnh vực kinh tế Xã viên nông dânluôn bám đồng bám biển, làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm nhằm tạo rasản phẩm một cách nhiều nhất đáp ứng cho tiền tuyến
Bằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 - miền Namhoàn toàn được giải phóng, đất nước bước vào kỉ nguyên hòa bình, độc lập,thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội Khát vọng giải phóng dân tộc, thốngnhất Tổ quốc sau bao năm mong đợi của nhiều thế hệ người Việt Nam đãthành hiện thực, nhân dân huyện Diễn Châu hân hoan trong niềm vui chungcủa đất nước
Trong bối cảnh đó, ngày 21- 5 – 1976, Đại hội Đảng bộ huyện DiễnChâu lần thứ XIX đã khai mạc tại xã Diễn Xuân với sự tham gia của 190 đạibiểu Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ toàn quốc lần thứ IV và chấphành Chỉ thị của Thường vụ tỉnh ủy, Diễn Châu thành lập Ban quy hoạch tổngthể kinh tế xã hội nhằm khảo sát, điều tra và quy hoạch tổng thể trên địa bàntoàn huyện, quyết tâm thực hiện thành công kế hoạch 5 năm (1976 – 1980),
Trang 30Đảng bộ và nhân dân tích cực lao động sản xuất, hoàn thành các chỉ tiêu đềra.
Nông nghiệp sản xuất theo hướng chính là “sản xuất lương thực, thựcphẩm, nông phẩm hàng hóa” Quan hệ sản xuất trong kinh tế có nhữngchuyển biến, trong đó nội dung phát triển và củng cố hợp tác xã là một nộidung quan trọng Từ năm 1977 đến 1979, Diễn Châu có 34 hợp tác xã quy môvới 322 đội chuyên và 16.400 lao động Bình quân mỗi hợp tác xã có 400 hađất gieo trồng,các hợp tác xã mua bán, tín dụng góp phần đắc lực vào khâulưu thông, phân phối Bước sang giai đoạn 1979 – 1980, vấn đề củng cố hợptác xã được chú ý coi trọng, công tác quản lí hợp tác xã được tăng cường về
cả ba mặt: sản xuất, lao động và tài vụ Các hợp tác xã đã ổn định đượcphương hướng sản xuất, bố trí hợp lí các loại cây trồng, tập trung vào khâuchuyên canh, thâm canh, mở rộng diện tích, tăng vụ, trồng xen… Nội dungquan trọng nhất của giai đoạn này là các hợp tác xã nông nghiêp ở Diễn Châuđều thực hiện tập thể hóa ruộng đất, trâu bò, nông cụ theo mô hình hợp tác xãbậc cao Lao động được tổ chức theo các đội chuyên, áp dụng hình thứckhoán việc Căn cứ vào thực trạng kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng,việc áp dụng hình thức khoán là hết sức đúng đắn Tuy nhiên, không thể phủnhận một thực tế là thông qua hình thức này người nông dân xã viên chỉ biếtđến công việc được khoán và nhận điểm mà rất ít quan tâm tới kết quả cuốicùng của năng suất, sản lượng, cây trồng và vật nuôi Trong khi đó, quá trìnhchia cắt các khâu trong sản xuất nông nghiệp thành các giai đoạn tách rời dẫnđến việc sản xuất và kinh doanh của hợp tác xã hiệu quả chưa cao, thậm chíthua lỗ, kéo theo tình trạng giảm sút năng suất và sản lượng cây trồng, vậtnuôi trong nhiều năm liên tục
Bước sang những năm 1981 – 1985, việc “cải tiến công tác khoán” và
“khoán sản phẩm” không chỉ là một bước tiến trong tư duy nhận thức củaĐảng ta, mà còn đáp ứng đòi hỏi của tình hình thực tiễn ở các địa phương và
Trang 31nhanh chóng đi vào cuộc sống, được đông đảo nhân dân hưởng ứng Chínhsách khoán sản phẩm cuối cùng đến với nhóm và người lao động, đã thực sựgắn nông dân với đồng ruộng, tinh thần làm chủ của người nông dân đượcphát huy, lợi ích được đảm bảo là động lực to lớn để nông dân phấn khởitrong sản xuất Diễn Châu đã bắt đầu tự túc được lương thực và có một phần
dự trữ Một số xã sớm cho ra đời và hoạt động “Hội làm vườn” góp phần thúcđẩy mô hình VAC được phổ biến trên địa bàn huyện
Những năm 1982 – 1985, sản xuất nông nghiệp Diễn Châu được chialàm những vùng với bố trí cây trồng vật nuôi thích hợp: vùng lúa, vùng màu,vùng bán sơn địa, vùng ven biển và vùng thị trấn
Về ngư nghiệp, sôi nổi nhất vẫn là những hoạt động đánh cá, kéo lưới.Bên cạnh đó du nhập thêm một số nghề mới, khôi phục và phát triển các nghềtruyền thống Nghề làm muối được áp dụng cơ chế khoán tốt nên đã kíchthích các hợp tác xã sản xuất và nâng cao đời sống của “diêm dân” Cùng với
sự chuyển biến về nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cũng có nhiều thành tựuđáng kể Các hoạt động thương mại, dịch vụ thực sự đem lại hiệu quả đối vớiđời sống người nông dân, bình quân thu nhập đầu người năm 1983 là 2 đô la,đến năm 1984 là 6 đô la
Việc phát triển kinh tế kéo theo sự thay đổi xã hội và đời sống nôngdân Nhìn tổng thể mặt bằng đời sống xã hội trong khoảng thời gian năm
1975 – 1985 được cải thiện rất nhiều so với thời kì 1954 – 1975 Sau khi thựchiện hai kế hoạch nhà nước 5 năm (1976 – 1980; 1981 – 1985) tình hình xãhội có sự chuyển biến tích cực
Từ năm 1976, hệ thống các công trình, trụ sở, nhà kho, các trường học,trạm xá, bệnh viện, trường Đảng, rạp hát được tu sửa lại cho khang trang hơntrước Các đường giao thông liên thôn, liên xã, liên huyện được mở rộng, tạođiều kiện cho viêc đi lại của nhân dân, phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa
Trang 32Đời sống văn hóa, nếp sống văn minh, xây dựng gia đình văn hóa mớicon người mới, xây dựng tinh thần làm chủ tập thể trở thành phong trào thiđua sôi nổi, lôi cuốn được đông đảo các cán bộ công nhân viên và nhân dântham gia
Chủ trương thực hiện chỉ tiêu kinh tế những năm 1977 – 1988 đã làmxuất hiện nhiều điển hình tiên tiến như xã Diễn Xuân đi đầu trong thâm canhlúa, xã Diễn Hưng trong thâm canh lạc Có 70% hộ gia đình có nhà ngói, 50%
hộ có xe đạp, các công trình phúc lợi xã hội được xây dựng làm cho bộ mặtnông dân khởi sắc Nhà trẻ, mẫu giáo được sắp xếp lại, từ 225 nhà trẻ năm
1976 xuống 222 nhà trẻ năm 1978 với 70% số cháu vào nhà trẻ và 80% sốcháu vào mẫu giáo, các cháu được quan tâm chăm nom nuôi dưỡng chu đáo
Vì thế trong năm 1977 – 1978 lĩnh vực mẫu giáo của ngành giáo dục DiễnChâu được công nhận là lá cờ đầu toàn tỉnh Nghệ An Các trường cấp I, IIDiễn Nguyên, cấp III Diễn Châu 2 được tu sửa, nâng cấp Ở 2 xã Diễn Thắng
và Diễn Mỹ cũng có trường vừa học vừa làm: Trường bổ túc văn hóa cấp III,Trường cấp III Diễn Châu 3 được thành lập để đáp ứng nhu cầu học tập củacon em nông dân trên địa bàn huyện Lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe đượccải tiến rõ rệt Các trạm y tế được nâng cấp, tu sửa, phong trào trồng dược liệu,chế biến thuốc Nam được đẩy mạnh
Trong những năm 1981 – 1985, đã giải qyết dứt điểm tình trạng học 3
ca, xuất hiện điển hình tiên tiến thi đua “Hai tốt” Đây là những thành quả có
ý nghĩa trong thời điểm bấy giờ Diễn Châu là điển hình về cấp học mẫu giáo,đến năm 1985, Diễn Châu là một trong 6 huyện trên toàn tỉnh hoàn thành việcxóa mù chữ Lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cho nhân dân có nhiều cố gắng, kếthợp phòng chống và chữa bệnh theo y học hiện đại với y học dân tộc Cáchoạt động thông tin đại chúng, văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao góp phầntích cực vào việc xây dựng lối sống, tác phong sinh hoạt mới
Trang 33Cũng cần nhìn nhận khách quan rằng, giai đoạn 10 năm (1975 – 1985)
là một chặng đường đầy khó khăn, thử thách, với những đặc điểm: xuất phátđiểm rất thấp lại chịu hậu quả nặng nề của thiên tai, đich họa, nhân dân DiễnChâu đã từng bước tháo gỡ vướng mắc, đạt thành tích cơ bản trong công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hôi và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Về
cơ bản, đời sống của nông dân có những chuyển biến dưới tác động của cácchính sách phát triển kinh tế nói chung và các chính sách về nông nghiệp nóiriêng Đời sống văn hóa – xã hội của nhân dân được cải thiện nhiều so vớinhững năm chiến tranh Tuy nhiên trong những chuyển biến kinh tế trong suốtthời gian qua còn một số điểm cần lưu ý:
Cơ cấu kinh tế mặc dù có chuyển biến nhưng chưa tích cực, cơ sở vật chấtphương tiện phuc vụ ngành nông – lâm – ngư còn thiếu và yếu Hợp tác xã vàkinh tế hợp tác xã còn nhiều bất cập, tích lũy của các hợp tác xã còn thấp, thậmchí còn triệt tiêu cả vốn, không có giá trị ngày công, các đội chuyên của hợp tác
xã hoạt động không đều (trừ đội chuyên cày) Tính năng động của sản xuất chưacao, tinh thần lao động giảm sút, tính gắn bó với hợp tác xã còn lỏng lẻo do việc
tổ chức chỉ đạo, quản lí hợp tác xã có nhiều hạn chế Kinh tế hộ gia đình, kinh tếvườn đồi phát triển chưa hiệu quả, về cơ bản tình trạng sản xuất độc canh cònphổ biến
1.3.2 Đời sống tâm lý của người nông dân huyện Diễn Châu trước thời kỳ
đổi mới(trước năm 1986)
Nhận thức là yếu tố tâm lý có vị trí quan trọng hàng đầu đối với ngườinông dân, nó định hướng, điều chỉnh hành vi của họ trong hoạt động sản xuất
và trong đời sống hàng ngày Thông thường hành vi của con người là kết quảcủa nhận thức thực tiễn, khi cá nhân có nhận thức tốt thì sẽ có hành độngđúng và có hiệu quả cao Trái lại, khi nhận thức sai sẽ dẫn đến hành động sai
và gây hậu quả xấu cho xã hội Tất nhiên, trong thực tế có những cá nhânnhận thức đúng mà vẫn hành động sai, bởi vì từ nhận thức tới hành động lại là
Trang 34một quá trình, song những trường hợp đó không mang tính phổ biến Chúng
ta cũng chấp nhận một thực tiễn khách quan là “nhận thức của cá nhân” chịu
sự tác động của nhiều yếu tố Yếu tố chủ quan như: trí lực, trình độ văn hóa,thói quen…và các yếu tố khách quan: điều kiện kinh tế xã hội, văn hóa,phong tục tập quán và các yếu tố truyền thống khác …
* Nhận thức của nông dân về vấn đề đất đai
Đất đai là một loại tư liệu sản xuất có ý nghĩa quyết định hàng đầu đốivới người nông dân, nó quyết định tới cuộc sống của người nông dân Để thựchiện chủ trương lớn về “nông nghiệp” ngay từ sớm trong kháng chiến chốngPháp, việc giảm tô, giảm tức, chia lại công điền công thổ và đất vắng chủ chonông dân đã thực sự đem lại quyền lợi cho người nông dân Thực tế, số ruộngtrong tay địa chủ còn lớn Thực hiện cải cách ruộng đất – một cuộc cách mạng
ở nông thôn đã giải phóng được lực lượng sản xuất (tức người nông dân) khỏi
sự trói buộc của quan hệ sản xuất phong kiến, đem lại ruộng đất cho dân cày,thực hiện triệt để “người cày có ruộng”, cũng thông qua đó xác lập quyền sởhữu ruộng đất của người nông dân Tuy nhiên mức sở hữu ruộng đất tính theođầu người thấp nên tình trạng manh mún về ruộng đất vẫn còn phổ biến Tìnhtrạng này đã cản trở quá trình cải tạo đất và tiến hành canh tác thủy lợi, ápdụng tiến bộ khoa học kĩ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp Theo quanniệm của thời kì này, sản xuất nhỏ còn hàng ngày hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa tưbản Do vậy, để khắc phục hạn chế sai lầm của sản xuất cá thể tạo ra sứcmạnh tập thể to lớn cho sự phát triển nông nghiệp,Đảng ta chủ trương cải tạo
xã hội chủ nghĩa, xác lập mô hình hợp tác xã trong nông nghiệp Hình thứcđầu tiên là các “tổ đổi công”, trong hình thức sản xuất này, người nông dânchỉ hợp tác với nhau về mặt lao động theo nguyên tắc “công đổi công” cònđối với ruộng đất và các loại tư liệu sản xuất khác vẫn phụ thuộc vào sở hữu
tư nhân,sản phẩm làm ra vẫn thuộc các chủ ruộng Tuy tham gia các tổ đổicông nhưng nông dân vẫn được làm chủ ruộng đất, làm chủ quá trình sản xuất
Trang 35và làm chủ khối lượng sản phẩm làm ra Vì vậy người nông dân thực sự quantâm, lo lắng đến mùa màng, đến kết quả cuối cùng của lao động Trên thực tếhình thức “tổ đổi công” đáp ứng được nguyện vọng của đa số nông dân Từnhững năm 1958 trở đi, Đảng ta xác định: “hợp tác hóa nông nghiệp là yêucầu phát triển khách quan của nông thôn, là nhiệm vụ trung tâm của Đảngtrong giai đoạn mới” Ngay sau đó, Hội nghị Ban chấp hành Trung Ươngkhóa II đã chỉ ra những mâu thuẫn trong sản xuất nông nghiệp để đi đến quyếtđịnh biện pháp hữu hiệu giải quyết mâu thuẫn ấy là “đưa nông dân vào conđường làm ăn tập thể” Có thể coi Nghị quyết của Hội nghị này là mốc đánhdấu tư tưởng hợp tác hóa và mô hình tập thể hóa vốn được áp dụng phổ biến ởcác nước xã hội chủ nghĩa Đồng thời coi mô hình này là mô hình tất yếu, phùhợp với bản chất xã hội chủ nghĩa và việc triển khai nghị quyết xây dựng thíđiểm hợp tác xã được nhân rộng ra trên địa bàn toàn huyện
Hợp tác xã đầu tiên được thí điểm xây dựng trên địa bàn huyện nhà làhợp tác xã thôn Nhân Hòa (xã Diễn Thọ) Ngay sau đó, một phong trào hợptác hóa diễn ra mạnh mẽ trên toàn huyện Ngoài các hợp tác xã nông nghiệp,còn xuất hiện các hợp tác xã mua bán, hợp tác xã đánh cá, hợp tác xã làmmuối, hợp tác xã thủ công …
Trên thực tế hợp tác xã được xây dựng với ba nguyên tắc căn bản: (tựnguyện, cùng có lợi, và dân chủ) và trên cơ sở quan hệ sở hữu tập thể về tưliệu sản xuất,kế hoạch hóa sản xuất và quản lí tập trung theo cơ chế bao cấptrong các hợp tác xã
Chúng ta không thể phủ nhận vai trò của các hợp tác xã trong lịch sửchiến tranh cách mạng nhưng việc duy trì quá lâu một hình thức cũ lại mắcthêm những khuyết tật và những sai lầm mang tính chất nghiêm trọng (tập thểhóa một cách triệt để các tư liệu sản xuất và sức lao động của người nông dân,thực hiện quản lý tập trung điều hành thống nhất, phân phối bình quân theocông điểm) đây thực sự là biểu hiện của mô hình kinh tế tập trung quan liêu,
Trang 36bao cấp trong nông nghiệp, nó kìm hãm sức sản xuất trong nông nghiệp và hệquả là nhiều hợp tác xã năng suất lao động còn thấp, đời sống xã viên ngàycàng khó khăn
Để giải quyết những tồn tại ấy, thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng
bộ lần thứ IV, huyện Diễn Châu tiếp tục cải tiến xây dựng nông nghiệp theohướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Nét nổi bật trong phong trào hợp tác hóanông nghiệp thời kỳ này là cuộc vận động tổ chức lại sản xuất phân công lạilao động theo hướng tập trung chuyên môn hóa và cơ khí hóa cao Nhận thức
ấu trĩ về sản xuất lớn, coi lối thoát để thoát ra khỏi tình trạng trì trệ của nềnnông nghiệp hợp tác hóa là mở rộng quy mô hợp tác xã, tổ chức phân công lạilao động theo hướng chuyên môn hóa đã dẫn đến tình trạng sáp nhập tràn lan,xáo trộn phá hoại lực lượng sản xuất vốn có của hợp tác xã Quy mô hợp tác
xã càng mở rộng, bộ máy quản lí lớn thì càng trở nên cồng kềnh, xa vời thựctiễn sản xuất,sự điều hành sản xuất nông nghiệp trở nên cứng nhắc, khôngphù hợp do sự chỉ đạo áp đặt từ trên xuống Vì thế đã có một thực tế, quy môcàng lớn thì hiệu quả kinh tế càng thấp Về nguyên tắc lý thuyết thì “xã viên
là chủ hợp tác xã là nhà”; xã viên có nhiệm vụ phát huy quyền làm chủ tronghợp tác xã nhưng trên thực tế thì người lao động hoàn toàn bị động trong sảnxuất theo sự phân công của Ban quản trị hợp tác xã nên không phát huy đượckhả năng, trí tuệ, tính năng động, tích cực, nhiệt tình của mình Họ chỉ biết đilàm lấy điểm, đến mùa hưởng thóc theo công điểm còn được mùa hay mấtmùa là việc do Ban quản trị tự lo, chế độ phân phối của hợp tác xã thực hiệntheo nguyên tắc phân phối bình quân theo lao động
Do công tác quản lí lỏng lẻo của hợp tác xã tình trạng làm ẩu, lườibiếng, tham ô, móc ngoặc, tình trạng bao cấp cả những người không tham giasản xuất, dẫn đến những người nông dân thời kì hợp tác xã đã nảy sinh tâm lýchán nản, không tích cực tham gia sản xuất, không có điều kiện tập trung vốn
Trang 37và sức lao động để sản xuất Diện tích đất hoang hóa ngày càng nhiều, năngsuất, sản lượng giảm, thu nhập của xã viên ngày càng thấp
Rõ ràng mô hình hợp tác xã ngày càng bộc lộ những bất hợp lý củanó,trên cơ sở sở hữu tập thể về ruộng đất và tư liệu sản xuất làm cho ngườinông dân không gắn bó với ruộng đất, nông dân cũng không quan tâm tới ýthức cải tạo chăm sóc đất Như vậy vốn đất đai và sức lao động là hai yếu tố
cơ bản để tạo ra sản phẩm trồng trọt đã không còn gắn bó với nhau mà ngượclại nó đã tách hẳn với nhau và cả hai đều bị suy yếu Đất đai tốt hay xấu, cócần cải tạo hay không đều không phải là mối quan tâm của mỗi người nôngdân
Nông dân không quan tâm quyền sử dụng đất đai là gì, hơn thế nữa tínhchất sở hữu tập thể đã làm cho nông dân không có ý thức về việc sử dụng đấtđai đó như thế nào Như vậy hạn chế lớn nhất, cơ bản nhất của mô hình tổchức và quản lý kinh tế nông nghiệp với cơ chế quản lý tập trung bao cấp, cảtầm vĩ mô và vi mô đã triệt tiêu tính tích cực của người lao động, của hộ giađình và làm mất đi động lực phát triển của sản xuất trong nông nghiệp
* Nhận thức của nông dân về ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông
nghiệp
Khoa học kỹ thuật là yếu tố quan trọng trong sản xuất, là bước đi độtphá trong sản xuất, nâng cao hiệu quả canh tác Trong lịch sử, nền nôngnghiệp với đặc điểm manh mún, lạc hậu, tự cung, tự cấp,nông dân sản xuấtchủ yếu dựa vào kinh nghiệm của mình Bước sang thời kỳ sản xuất trong cáchợp tác xã, các hợp tác xã đã ổn định được phương hướng sản xuất, mở rộngdiện tích, tăng vụ trồng xen Về cơ bản, nông dân cũng không quan tâm tớivấn đề ứng dụng các tiến bộ khoa học vào trong sản xuất Các vấn đề ứngdụng như phân hóa học; thuốc trừ sâu; các thuốc kích thích tăng trưởng vậtnuôi, cây trồng; nhận thức về vấn đề sử dụng giống mới; về lịch canh tác … ítđược quan tâm bởi lẽ mọi sản xuất đã được chi phối bởi hợp tác xã
Trang 38* Nhận thức của nông dân về giáo dục, y tế và văn hóa
Giáo dục là vấn đề quan trọng với đất nước và nông thôn, giáo dụccũng là một trong những điều kiện hàng đầu để thay đổi cách nghĩ, cách làmcủa nông dân Mặc dù đã rất ý thức được việc học hành là cần thiết, thế nhưngtrong suốt thời gian trước đổi mới (trước năm 1986) tỉ lệ gia đình nông dânkhông có con đi học chiếm đa số(>70%), trong số gia đình có con đi học lạichủ yếu là học cấp II, số gia đình có con đi học cấp III trở lên chỉ chiếm tỉ lệrất thấp Nhìn một cách tổng thể, nguyên nhân là do việc đóng góp các khoảnhọc phí là vượt quá khả năng của nông dân, không loại trừ các nguyên nhânkhác như trường học đặt quá xa, chi phí tốn kém nên tình trạng học sinh làcon em nông dân bỏ học là không thể tránh khỏi
Một khía cạnh khác về nhận thức của người nông dân với vấn đề giáodục là dự định nghề nghiệp tương lai cho con cháu mình Từ những dự địnhnghề nghiệp họ mới quyết định tới việc đầu tư cho con cháu học tập và thựchiện nguyện vọng đó Về cơ bản họ đã có ý thức định hướng nghề nghiệp chocon cháu, đáng chú ý là những người nông dân cũng không ý thức cho concháu mình làm ruộng tiếp tục công việc, nghề nghiệp của cha anh mình Có lẽ
sự vất vả của nghề nông, cuộc sống khó khăn cũng khiến nông dân cũngkhông muốn con cháu mình tiếp tục công việc đồng áng Một tỷ lệ khá lớn họmong muốn con cháu mình làm nghề kinh doanh Tuy nhiên đây không phải
là sự ý thức và ý tưởng phát triển nền kinh tế hàng hóa mà là ý nghĩ thoát rakhỏi cái vòng chật hẹp luẩn quẩn, bế tắc của hợp tác xã mà lâu nay nó đãkhông đáp ứng được nhu cầu sản xuất, đời sống tối thiểu cho người nông dân
Y tế (chăm sóc sức khỏe; khám,chữa bệnh) là vấn đề khá bức xúc ở địaphương Nhìn chung cơ sở vật chất phục vụ cho khám chữa bệnh còn nghèonàn và xuống cấp nghiêm trọng, trình độ của các cán bộ quản lý y tế còn hạnchế, quan niệm về sinh sản và sức khỏe sinh sản còn kém Quan niệm chung
“trời sinh trời dưỡng” khiến cho tỉ lệ sinh tự nhiên của toàn huyện luôn đạt
Trang 39ngưỡng > 3%, mức độ phục vụ ở các cơ sở khám, chữa bệnh đều quá tảinhưng chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân Nông dânvốn còn nghèo nên khi bị đau bệnh phải thực sự nguy kịch họ mới lo đi tới cơ
sở khám, chữa bệnh để được chăm sóc, điều trị Việc ăn, ở, sinh hoạt cho hợp
vệ sinh ít nhiều đã được quan tâm song do phong tục tập quán còn nặng nềhằn sâu vào nếp nghĩ, nếp sinh hoạt của nông dân nên các chương trình chămsóc sức khỏe nâng cao đời sống cho nông dân còn chưa đạt kết quả cao
Nhu cầu thưởng thức văn hóa nghệ thuật là nhu cầu không thể thiếuđược đối với người nông dân Trong đó các loại hình nghệ thuật truyền thốngnhư: tuồng, chèo, cải lương, dân ca… là những loại hình nghệ thuật mà nôngdân ưa thích Thời kỳ này cũng là thời kỳ hoạt động khá sôi nổi của các đoànvăn nghệ biểu diễn lưu động, số lượng người quan tâm tới phim ảnh cũngtăng lên khi đời sống của người nông dân được cải thiện hơn trước Tuy nhiênhình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống luôn được coi trọng hơn
* Nhận thức của người nông dân về vấn đề xã hội khác
Các vấn đề xã hội đặt ra như: nhà ở, việc làm, vấn đề tham gia các tổ chức
xã hội, vấn đề dân chủ ở nông thôn…trong suốt thời gian dài, các vấn đề xã hộinhư trên không là nỗi lo của mỗi người nông dân Họ sản xuất và là xã viêntrong hợp tác xã, họ cũng chỉ lo công việc của mình được giao và làm cho xongchứ không quan tâm tới chất lượng công việc, họ có việc hay không có việccũng là do Ban quản trị của các hợp tác xã lo cho
Người nông dân đã tham gia các tổ chức quần chúng, các tổ chức xãhội và thực hiện quyền công dân của mình Tuy nhiên, ở các địa phương còntồn tại một số biểu hiện mất dân chủ khiến cho nông dân có phản ứng tiêucực, làm cho bầu không khí ở nông thôn có đôi khi căng thẳng Từ đó dẫn tớitình trạng thờ ơ, không thiết tha sản xuất, không đi họp trong các cuộc họpnông dân, giảm lòng tin về chính sách của các cấp chính quyền trong tâm lýcủa người nông dân
Trang 40Tiểu kết : Nhìn chung, thực trạng kinh tế của huyện Diễn Châu sau 10
năm (1975 – 1985) xây dựng theo định hướng xã hội chủ nghĩa còn đặt ranhiều vấn đề cần giải quyết Do đó, đòi hỏi các Cấp ủy, Chính quyền và cácBan, Ngành, Đoàn thể cùng đánh giá kết quả đạt được, khách quan nhìn thẳngvào những mặt hạn chế để có bước đi và biện pháp cho phù hợp trong thờigian tới Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, nông dân bao giờ cũng là lựclượng xã hội chủ yếu của các cuộc đấu tranh, của phong trào cách mạng giảiphóng dân tộc Chúng ta không bao giờ quên những hi sinh mất mát của quầnchúng nhân dân (trong đó chủ yếu là giai cấp nông dân) cho sự nghiệp cáchmạng cao cả ấy Trong thời đại ngày nay, chính họ là lực lượng sản xuất tolớn cung cấp nông phẩm cho xã hội nhưng chính họ lại là lực lượng xã hội cóđời sống chưa cao và còn nhiều thiếu thốn Thực trạng đó là bức tranh chungcủa nông dân cả nước và nông dân huyện Diễn Châu nói riêng Vấn đề đặt ravới Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân huyện nhà là nâng cao đời sống vậtchất, tinh thần cho người nông dân Đây là nhiệm vụ vừa có tính chiến lượclại vừa có tính cấp bách