1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự chuyển biến kinh tế của huyện kim sơn (tỉnh ninh bình) trong thời kỳ đổi mới luận văn thạc sĩ lịch sử

137 1,6K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự chuyển biến kinh tế của huyện Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình) trong thời kỳ đổi mới
Tác giả Phạm Văn Hùng
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Trọng Văn
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 3,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau 25 năm vận dụng đường lốiđổi mới của Đảng thì Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Kim Sơn đãtừng bước xác định được thế mạnh kinh tế của địa phương nhờ đó kinh tếKim

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHẠM VĂN HÙNG

SỰ CHUYỂN BIẾN KINH TẾ CỦA HUYỆN KIM SƠN (TỈNH NINH BÌNH) TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1986 - 2011)

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Mã số: 60.22.54

Luận văn thạc sĩ khoa học Lịch Sử

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Trọng Văn

Vinh - 2012

Trang 2

Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin chân thành cảm ơn Huyện ủy, Ủy

ban nhân dân huyện Kim Sơn, ông Đỗ Hùng Sơn – Phó bí thư thường trực

Huyện ủy đã giúp đỡ tôi về mặt tư liệu

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn và xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy giáo - PGS TS Nguyễn Trọng Văn, người đã rất nhiệt tình

hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến những ngườithân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người đã luôn động viên,khích lệ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập,nghiên cứu và thực hiện đề tài

Vinh, ngày 29/09/2012 Tác giả

Phạm Văn Hùng

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5

5 Đóng góp của luận văn 7

6 Bố cục của luận văn 8

NỘI DUNG 9

Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ DẪN ĐẾN SỰ CHUYỂN BIẾN KINH TẾ CỦA HUYỆN KIM SƠN 9

1.1 Sơ lược về lịch sử thành lập huyện Kim Sơn 9

1.2 Vài nét về điều kiện tự nhiên - xã hội huyện Kim Sơn 11

1.2.1 Về điều kiện tự nhiên 11

1.2.2 Về điều kiện xã hội 17

1.3 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội huyện Kim Sơn trước năm 1986 19

1.3.1 Về kinh tế 19

1.3.2 Tình hình văn hóa xã hội huyện Kim Sơn trước năm 1986 30

1.4 Đường lối đổi mới của Đảng Cộng Sản Việt Nam và sự vận dụng của chính quyền địa phương 33

1.4.1 Chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng 33

1.4.2 Sự vận dụng đường lối đổi mới của Đảng bộ và chính quyền huyện Kim Sơn 37

TIỂU KẾT 39

Chương 2 KINH TẾ KIM SƠN TRONG 10 NĂM ĐẦU ĐỔI MỚI (1986 - 1995) 40

Trang 4

2.2 Ngư nghiệp 58

2.3 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 63

2.4 Thương mại - du lịch và dịch vụ 68

Tiểu kết 72

Chương 3 KINH TẾ KIM SƠN TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA (1996 - 2011) 75

3.1 Kim Sơn tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới kinh tế 75

3.2 Sự chuyển biến kinh tế huyện Kim Sơn thời kỳ 1996 - 2011 81

3.2.1 Nông nghiệp 81

3.2.2 Ngư nghiệp 91

3.2.3 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 94

3.2.4 Thương mại - du lịch và dịch vụ 100

3.3 Tác động của chuyển biến kinh tế tới dân cư và đời sống nhân dân 106

3.3.1 Sự phân bố dân cư 106

3.3.2 Tác động đối với đời sống nhân dân 107

Tiểu kết 109

KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

PHỤ LỤC 121

Trang 5

ĐCSVN: Đảng Cộng sản Việt Nam

UBND: Ủy ban nhân dân

CNH - HĐH: Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

XHCN: Xã hội chủ nghĩa

CN - TTCN: Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp

UNESCO: Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hợp Quốc

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Sau khi hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước vào năm 1975,nhân dân cả nước đã bắt tay ngay vào công cuộc khắc phục hậu quả chiếntranh, xây dựng và phát triển đất nước Trải qua 10 năm cả nước tiến hànhxây dựng chủ nghĩa xã hội (1975 - 1985), nhân dân ta đã đạt được nhiều thànhtựu to lớn về kinh tế - xã hội Tuy nhiên chúng ta vẫn còn gặp nhiều khó khănthử thách, kinh tế vẫn đang trong tình trạng khủng hoảng Để đưa đất nướcthoát khỏi tình trạng trên thì yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải tiến hành côngcuộc đổi mới đất nước

Từ ngày 15 đến 18/12/1986 Đại hội Đảng toàn quốc lần VI đã đượckhai mạc tại Hà Nội, tại đại hội này Đảng ta đã đưa ra những quyết định quantrọng đó là đề ra đường lối đổi mới đất nước Sau 25 năm tiến hành công cuộcđổi mới đất nước, chúng ta đã từng bước vượt qua khủng hoảng kinh tế, xãhội từng bước ổn định, đất nước có những bước phát triển mới và dần bắt kịpđược tốc độ phát triển của các nước trong khu vực cũng như trên toàn thếgiới Đường lối đổi mới mà Đảng ta đề ra đã tác động mạnh mẽ và sâu rộngtới tất cả ngành, các địa phương trong cả nước

1.2 Tỉnh Ninh bình nói chung và huyện Kim Sơn nói riêng là mộttrong những địa phương đã vận dụng thành công đường lối đổi mới kinh tếcủa Đảng vào thực tiễn của địa phương mình Sau 25 năm vận dụng đường lốiđổi mới của Đảng thì Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Kim Sơn đãtừng bước xác định được thế mạnh kinh tế của địa phương nhờ đó kinh tếKim Sơn từng bước thoát khỏi khủng hoảng và phát triển mạnh mẽ, sự nghiệpcông nghiệp hóa - hiện đại hóa đạt được nhiều thành tựu, cơ cấu kinh tếchuyển dịch theo đúng hướng Sự chuyển biến tích cực này đã làm cho diện

Trang 7

mạo của huyện Kim Sơn từng bước đổi thay, đời sống vật chất và tinh thầncủa nhân dân ngày càng được nâng cao.

1.3 Nghiên cứu về sự chuyển biến kinh tế của huyện Kim Sơn từ năm

1986 đến năm 2011 để thấy sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo, khoa học trongcông cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của các cấp Đảng bộ chính quyềnđịa phương Nghiên cứu về sự chuyển biến kinh tế huyện Kim Sơn trong giaiđoạn đổi mới không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có giá trị thựctiễn rất cao nhất là trong thời kỳ công nhiệp hóa - hiện đại hóa ngày nay Trên

cơ sở những bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình nghiên cứu và thựchiện đề tài, chúng tôi mạnh dạn đề ra một số những giải pháp phát triển kinh

tế, đây có thể là những gợi ý để các cấp chính quyền địa phương bổ sung,hoàn thiện kế hoạch phát triển kinh tế trong tương lai

Vì những lí do trên nên tôi quyết định chọn đề tài “Sự chuyển biến

kinh tế của huyện Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình) trong thời kỳ đổi mới (1986

- 2011)” để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ khoa học lịch sử.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về công cuộc đổi mới đất nước mà Đảng ta đề ra khôngcòn là đề tài xa lạ đối với các nhà khoa học nhất là các nhà nghiên cứu lịch

sử Bởi nghiên cứu về những đề tài này không chỉ thấy được những quyếtsách đúng đắn của Đảng mà còn thấy được sự thay da đổi thịt của quê hương,đất nước qua từng ngày Chính sách đổi mới của Đảng đã làm cho kinh tế củađất nước có những chuyển biến quan trọng, nó đã tác động một cách sâu rộngvà toàn diện đến từng địa phương trong cả nước, chính vì vậy cũng đã có rấtnhiều những công trình nghiên cứu về sự chuyển biến kinh tế của các địaphương

Tỉnh Ninh Bình nói chung và huyện Kim Sơn nói riêng cũng đã có rấtnhiều đổi thay kể từ khi Đảng ta đề ra đường lối đổi mới đất nước, do đó cũng

Trang 8

đã có rất nhiều những bài viết, những công trình nghiên cứu khoa học đề cậptới sự chuyển biến kinh tế của vùng đất mới mở này Chúng ta có thể kể đếnmột số công trình như:

- Cuốn “Lịch sử công cuộc khẩn hoang thành lập huyện Kim Sơn” củaĐào Tố Uyên - Nguyễn Cảnh Minh, xuất bản năm 1990 Trong công trình này

2 tác giả đã trình bày một cách có hệ thống toàn bộ công cuộc khẩn hoangthành lập huyện Kim Sơn từ thành phần tham gia, cách thức tổ chức khaihoang, hệ thông kênh mương, cách thức lập làng, ấp cũng như đời sống củanhân dân trong những ngày đầu khai phá

- Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Kim Sơn” tập 1 giai đoạn 1945 - 1954xuất bản năm 1991 đã đề cập đến quá trình ra đời và phát triển của Đảng bộhuyện Kim Sơn cũng như sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện trong công cuộckháng chiến chống Pháp của nhân dân địa phương

- Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Kim Sơn” tập 2 giai đoạn 1954 - 1975,xuất bản năm 2002 Công trình này đã trình bày một cách khá rõ nét về vai tròlãnh đạo của Đảng bộ huyện trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứunước cũng như công cuộc xây dựng quê hương và chi viện cho tiền tuyếnMiền Nam của nhân dân địa phương Cả 2 tập đều đã đề cập đến điều kiện tựnhiên, xã hội của huyện Kim Sơn

- Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Kim Sơn” tập 3 giai đoạn 1975 - 2005,xuất bản năm 2006 Cuốn sách đã trình bày vai trò lãnh đạo của Đảng bộhuyện trong 10 năm đầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc cũng như sự vận dụngđường lối đổi mới đó vào địa phương, khái quát lên được những thành tựucũng như hạn chế mà Đảng bộ, chính quyền và nhân dân đã đạt được sau khitiến hành đường lối đổi mới

- Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Kim Sơn” giai đoạn 1947 - 2007 đãghi lại một cách hệ thống quá trình xây dựng và phát triển của Đảng bộ, quânvà dân huyện Kim Sơn trong 60 năm qua

Trang 9

- Cuốn “Kim Sơn vùng đất mở” của Lã Đăng Bật xuất bản năm 2010đã chỉ ra những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, khí hậu, dân cư và toàn bộquá trình mở rộng, khai hoang của Kim Sơn từ 1829 cho đến thời kỳ ngàynay Về kinh tế ông đã trình bày một cách khái quát những nghề và làng nghềtiêu biểu của Kim Sơn.

- Cuốn “Thực trạng kinh tế xã hội và con đường làm giàu ở nông thônNinh Bình trong thời kỳ đổi mới” của Cục Thống kê Ninh Bình Cuốn sách đãchỉ ra thực trạng kinh tế của cả tỉnh nói chung cũng như Kim Sơn nói riêngđồng thời cũng chỉ ra con đường làm giàu của nông dân Ninh Bình ở cácvùng miền và các giải pháp để phát triển kinh tế

- Ngoài những công trình trên thì những thành tựu về kinh tế của huyệnKim Sơn còn được phản ảnh trên các báo điện tử của trung ương và địaphương như bài “Bước tăng trưởng của kinh tế Kim Sơn” đăng trên báo điện

tử Đảng Cộng Sản Việt Nam Bài “Kim Sơn phát huy thế mạnh xây dựng quêhương ngày càng giàu đẹp” của Hồng Giang đăng trên báo tạp chí Cộng sản.Bài “Kim Sơn đưa nuôi trồng thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn” củaMai Lan đăng trên báo Ninh Bình online Bài viết “Kim Sơn trên đường đổimới” của Phương Thảo đăng trên báo điện tử Kinh tế nông thôn

- Bên cạnh đó những thành tựu kinh tế mà nhân dân Kim Sơn đạt đượccòn được thể hiện qua các báo cáo tổng kết kinh tế của huyện hàng năm, cácvăn kiện đại hội đảng bộ của huyện Kim Sơn, những tư liệu này được lưu tạivăn phòng huyện ủy và UBND huyện

Các công trình, các bài viết trên đã có phần nào đề cập tới những thànhtựu và những hạn chế của kinh tế Kim Sơn lịch sử Tuy nhiên vẫn chưa cómột công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện những chuyển biếnvề kinh tế của huyện Kim Sơn trong thời kỳ đổi mới Do đó luận văn sẽ tậptrung tìm hiểu, trình bày một cách có hệ thống về sự chuyển biến kinh tế củahuyện Kim Sơn trong 25 năm đổi mới từ 1986 đến năm 2011

Trang 10

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung đi sâu vào nghiên cứu sự chuyển biến kinh tế củahuyện Kim Sơn trong thời kỳ đổi mới mà trước hết là tìm hiều điều kiện tựnhiên, điều kiện xã hội để thấy được tác động của nó đối với sự phát triểnkinh tế của địa phương Nhưng trọng tâm của luận văn vẫn là nghiên cứu vềtình hình kinh tế của huyện Kim Sơn để thấy được sự chuyển biến của nó từđó rút ra những bài học kinh nghiệm cho sự phát triển kinh tế của huyện trongtương lai

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu

Để nghiên cứu đề tài “Sự chuyển biến kinh tế của huyện Kim Sơn (tỉnhNinh Bình) trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2011)” chúng tôi đã dựa trên cácnguồn tư liệu sau:

4.1.1 Sách tham khảo

- Cuốn sách “Lịch sử công cuộc khẩn hoang thành lập huyện KimSơn” và “Kim Sơn vùng đất mở” cung cấp cho ta những thông tin về quátrình hình thành huyện Kim Sơn và những đặc điểm về kinh tế, văn hóa củavùng đất này

- Cuốn sách “Địa chí văn hóa dân gian Ninh Bình” cung cấp cho tanhững thông tin về địa hình, khí hậu, sông ngòi, đường sá, tính cách, phongtục tập quán của con người Kim Sơn

Trang 11

- Cuốn sách “Thực trạng kinh tế xã hội và con đường làm giàu ở nôngthôn Ninh Bình trong thời kì đổi mới” cung cấp cho chúng ta những thông tinvề kinh tế và các giải pháp phát triển kinh tế của vùng đất ven biển này.

- Các cuốn sách về “Lịch sử đảng bộ huyện Kim Sơn” cung cấpnhững thông tin về sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc xây dựng quêhương cũng như những thành tựu và hạn chế trong quá trình phát triển kinh

tế của huyện

4.1.2 Nguồn tư liệu từ các bản báo cáo, thống kê

- Các văn kiện Đại hội của trung ương Đảng các khóa VI, VII, VIII, IXvà khóa X cung cấp cho chúng ta những hệ thống lí luận, đường lối, chínhsách phát triển kinh tế

- Văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện qua các nhiệm kỳ lưu tại văn phònghuyện ủy

- Báo cáo tổng kết nhiệm vụ kinh tế - chính trị qua các năm của UBNDhuyện Kim Sơn, lưu tại Văn phòng UBND huyện

- Báo cáo tổng kết nhiệm vụ kinh tế - chính trị của huyện ủy quacác năm

- Các số liệu thống kê của phòng Thống kê huyện Kim Sơn

- Các số liệu thống kê của Cục Thống kê Ninh Bình

4.1.3.Tư liệu điền dã

Các bức ảnh chụp minh họa cho những thành tựu kinh tế, cho nhữngđổi thay của huyện Kim Sơn so với thời kỳ trước khi đổi mới, các tư liệu thuthập được thông qua việc khảo sát các mô hình sản xuất kinh doanh giỏi ởđịa phương

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành được những yêu cầu, nhiệm vụ mà đề tài đã đặt ra,trong quá trình nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã kết hợp sử dụng các

Trang 12

phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp luận sử học Macxit,phương pháp lôgíc, phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu trong suốtquá trình sưu tầm, tổng hợp tài liệu để từ đó phân tích, đánh giá và xử lý tàiliệu Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phương pháp điền dã, điều tra xã hộihọc trên địa bàn của huyện và các khu vực lân cận để có tư liệu hoàn thiệnđề tài.

5 Đóng góp của luận văn

- Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu về kinh tế của huyện Kim Sơnxuyên suốt một thời gian dài từ năm 1986 đến năm 2011để từ đó thấy đượcnhững bước tiến về kinh tế của địa phương

- Nghiên cứu đề tài này, tác giả đã tập hợp thống kê được nguồn tài liệuphong phú, đây thực sự là điều cần thiết cho những ai đang và sẽ quan tâm tớisự chuyển biến của vùng đất ven biển này

- Với nguồn tư liệu phong phú trên, tác giả đã dựng lại được toàn bộbức tranh kinh tế của huyện Kim Sơn trong 25 năm đổi mới, thấy được nhữngchuyển biến về kinh tế, những thành tựu và hạn chế trong phát triển kinh tếcủa địa phương để góp phần giúp chính quyền vạch ra các chính sách pháttriển kinh tế phù hợp trong tương lai

- Nghiên cứu về chuyển biến kinh tế của một huyện vùng biển mớiđược thành lập này nó còn cung cấp những bài học kinh nghiệm, những môhình kinh tế phù hợp trong thời kỳ đổi mới để các huyện ven biển khác thamkhảo, học tập

- Ngoài ra nghiên cứu đề tài này còn góp phần cung cấp tư liệu cho việcgiảng dạy lịch sử địa phương, giáo dục thế hệ trẻ tự hào và trân trọng nhữngthành quả mà cha ông đã đạt được, củng cố thêm niềm tin cho nhân dân tintưởng vào con đường mà Đảng ta đã lựa chọn

Trang 13

6 Bố cục của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụlục ra thì nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1 Những cơ sở dẫn đến sự chuyển biến kinh tế của huyện

Kim Sơn

Chương 2 Kinh tế Kim Sơn trong 10 năm đầu đổi mới (1986 - 1995)Chương 3 Kinh tế Kim Sơn trong thời kì công nghiệp hóa - hiện đại

hóa (1996 - 2011)

Trang 14

NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ DẪN ĐẾN SỰ CHUYỂN BIẾN KINH TẾ CỦA

HUYỆN KIM SƠN 1.1 Sơ lược về lịch sử thành lập huyện Kim Sơn

Huyện Kim Sơn hình thành và ra đời gắn liền với tên tuổi của nhàDoanh điền sứ Nguyễn Công Trứ Trước khi Nguyên Công Trứ tiến hành tổchức khai hoang vùng đất này, vào đầu thế kỷ XIX, ở phía Nam đê Hồng Đức(Khánh Nhạc - Yên Khánh) vẫn còn là một vùng bãi biển mênh mông đầy lausậy và sú vẹt, vùng đất ven biển này thuộc phủ Trường Yên Dân cư ở đâycũng rất thưa thớt chỉ có vài ba trại lèo tèo như Yên Thổ, Ninh Mật Họ sinhsống chủ yếu bằng nghề nông ngoài ra còn có nghề đánh cá và chăn vịt

Trong những năm làm quan ngoài Bắc và khi tham gia vào việc đánhdẹp cuộc khởi nghĩa của Phan Bá Vành, Nguyễn Công Trứ đã nhiều lần qualại vùng đất của Thái Bình và Ninh Bình, ông đã nhận thấy ở những nơi nàycòn có những vùng đất hoang rộng lớn có thể khai phá để biến thành nhữngvùng đất mầu mỡ được Nhận thấy tiềm năng của những vùng đất hoang nàyvà để giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân, Nguyễn Công Trứ đã đềnghị triều đình cho tổ chức khẩn hoang những vùng đất ấy Đề nghị củaNguyễn Công Trứ đã được triều đình chấp thuận, vua Minh Mạng đã phongcho ông làm Doanh điền sứ để đứng ra tổ chức việc khai hoang ở Tiền Hải(1828) và Kim Sơn (1829)

Trong công cuộc khẩn hoang này, nhà nước giữ một vai trò rất quantrọng khi đã đứng ra tổ chức và cấp một phần kinh phí cho lực lượng tham giakhai hoang Theo đó cứ 5 người nhà nước cấp cho một con trâu, một cái bừa,một cái cày, một cái móng, một cái cuốc, một cái liềm Ngoài phần kinh phínhà nước cấp ra, phần còn lại hầu hết đều là do những người chiêu mộ bỏ ra

Trang 15

để mộ người khẩn hoang Lực lượng tham gia vào công cuộc khẩn hoang ởKim Sơn chủ yếu là những người nông dân lưu vong ở các tỉnh như NamĐịnh, Thái Bình, những người nông dân ở các huyện lân cận như Yên Mô,Yên Khánh, những nghĩa quân của Phan Bá Vành sau khi cuộc khởi nghĩathất bại cũng đã tích cực tham gia vào công cuộc khẩn hoang.

Để công cuộc khai khẩn đất hoang ở Kim Sơn đạt hiệu quả cao,Nguyễn Công Trứ đã cho đào sông, đắp đê và xây dựng hệ thống kênh mươngngay từ những ngày đầu nhằm đưa nước ngọt vào đồng ruộng Đầu tiênNguyễn Công Trứ cho đào con sông Ân chạy vắt ngang qua huyện Kim Sơnngày nay, nối liền sông Đáy (sông Hát Môn) ở phía Đông với Sông Càn ởphía Tây Con sông này có chiều dài 13,5 km, rộng 15 m, sâu 3m và chảy quatất cả các lý, ấp, trại trong huyện khi mới thành lập Từ sông Ân, NguyễnCông Trứ cho đào nhiều con sông nhỏ (kênh) chạy cắt qua sông Ân tỏa đi cáclàng, xóm Các con sông nhỏ này sẽ cung cấp nước tưới cho tất cả các làng,

ấp, trại, giáp Tổng độ dài của hơn 30 con sông con, sông lớn và các mươngmáng khác lên tới hơn 100km, chiếm diện tích hơn 120 mẫu Cùng với việcđào sông và xây dựng hệ thống thủy nông, Nguyễn Công Trứ cũng rất quantâm đến việc đắp đê ngăn mặn, ông đã cho đắp một con đê cách sông Ânkhoảng 50 đạc (3000m) Ngày nay, vết tích của con đê đó vẫn còn là một conđường đất Như vậy, với việc cho đào, đắp hàng trăm kilômét sông, đê gópphần tưới tiêu cho hàng ngàn mẫu ruộng mới được khai phá cùng với đó là sựđoàn kết, tinh thần lao động cần cù, chịu khó không ngại gian khổ của hàngngàn dân đinh đến từ nhiều nơi đã góp phần hình thành nên một vùng đấtrộng lớn Chỉ trong vòng chưa đầy một năm khai hoang, từ mùa xuân năm

1829 đến cuối năm 1829, huyện Kim Sơn chính thức được thành lập và cũngbắt đầu có tên trong các sử sách của triều Nguyễn Cũng từ đây trên bản đồcủa trấn Ninh Bình đã có thêm một huyện mới - Huyện Kim Sơn Khi mới

Trang 16

thành lập huyện có “7 tổng (Chất Thành, Hồi Ninh, Quy Hậu, Hướng Đạo, TựTân, Tuy Lộc, Lai Thành) với 60 lý, ấp, trại, giáp với số ruộng khẩn hoangđược là 14.620 mẫu ruộng chia cho 1260 dân đinh” [66, Tr 75]

Ngay sau khi huyện Kim Sơn được thành lập, công cuộc khẩn hoang ởmiền đất này vẫn được tiếp tục đẩy mạnh cho đến tận ngày nay, dân cư ởnhiều nơi vẫn đổ về miền “đất hứa” này những mong để tìm được cuộc sống

ấm no hơn Hơn 180 năm sau khi Nguyễn Công Trứ khẩn hoang vùng đấtnày, nhân dân Kim Sơn đã 7 lần tiến hành tổ chức quai đê lấn biển, cứ saumỗi lần quai đê lấn biển như vậy, diện tích tự nhiên của huyện Kim Sơn lạiđược mở rộng, so với khi mới được thành lập thì diện tích tự nhiên của huyệnKim Sơn đã tăng gấp 4 lần

1.2 Vài nét về điều kiện tự nhiên - xã hội huyện Kim Sơn

1.2.1 Về điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý

Theo như lời giới thiệu của giáo sư Trần Quốc Vượng cho cuốn sách

“Địa chí văn hóa dân gian Ninh Bình” của ông Trương Đình Tưởng thì “NinhBình ở chót cạnh đáy của tam giác châu Bắc bộ” [59, Tr 7] Theo đó, NinhBình là cực nam của tam giác châu này Tam giác châu thổ Bắc Bộ do hệthống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp nên Những tỉnh nằm ở ven biểnđược gọi là châu thổ ở rìa Ninh Bình là tỉnh nằm ở rìa châu thổ, lại nằm ởcuối dòng phù sa sông Hồng nên nó tiếp nhận gần như toàn bộ phù sa từ cáccửa sông mang lại Vì vậy, đây là một trong những nguyên nhân giải thíchcho việc Ninh Bình có tốc độ bồi đắp lớn nhất trong các tỉnh ở rìa châu thổBắc Bộ Huyện Kim Sơn lại nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Ninh Bình haynói cách khác huyện Kim Sơn chính là điểm chót trong cực nam của tam giácnày Diện tích tự nhiên của toàn huyện Kim Sơn đến nay là 214,2 km2 [57, tr16] Kim Sơn nằm cách thành phố Ninh Bình 28 km theo quốc lộ 10 về phía

Trang 17

Nam, có tọa độ địa lý 19056’40” đến 20000’ vĩ độ Bắc và từ 106 002’05” đến

106015’20” kinh độ Đông Phía bắc huyện Kim Sơn giáp huyện Yên Khánh,Yên Mô, phía đông giáp huyện Nghĩa Hưng (Nam Định), phía Tây giáphuyện Nga Sơn (Thanh Hóa), phía nam giáp Biển Đông Kim Sơn là huyệnđồng bằng ven biển duy nhất của Ninh Bình với đường bờ biển dài 17.600m,có vùng bãi bồi rộng khoảng 6.000 ha, vùng ven biển Cồn Nổi cách đất liền3km đường chim bay có diện tích hơn 500 ha với nhiều lợi thế để phát triểnkinh tế Phía đông của huyện có dòng sông Đáy, phía tây huyện có sông Càn.Hai dòng sông này như hai cánh tay vạm vỡ ôm trọn lấy vùng đất này với 2cửa sông lớn là cửa Đáy và cửa Càn, cả hai cửa sông này đều đổ ra biểnĐông Với vị trí địa lý này đã tạo cho Kim Sơn những thế mạnh riêng có thể

dễ dàng giao lưu, trao đổi kinh tế với các huyện trong tỉnh cũng như các tỉnhkhác

Trang 18

-đông bắc - tây nam Song từ nửa thế kỷ trở lại đây, hệ thống đê điều có hướngchính là tây bắc - đông nam Là một huyện đồng bằng ven biển nên địa hìnhcủa Kim Sơn tương đối bằng phẳng, không có địa hình đồi núi xen lẫn, độ caothấp dần ra phía biển, nghiêng theo hướng Bắc - Nam và Đông - Tây Độ caotrung bình so với mực nước biển khoảng 0,9 - 1,2m, điểm thấp nhất ở CồnThoi khoảng 0,4m so với mực nước biển Bề mặt bị chia cắt bởi hệ thốngmương máng nhân tạo chạy song song theo hướng đông bắc - tây nam Dựavào đặc điểm địa hình trên, huyện Kim Sơn được chia làm 2 vùng chính đó làvùng đồng bằng và vùng ven biển

- Khí hậu, thời tiết

Kim Sơn chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm vàthường xuyên chịu ảnh hưởng của mưa bão Thời tiết chia thành 2 mùa rõ rệtlà mùa đông và mùa hạ Mùa đông rất lạnh và ít mưa, mùa hạ nắng nóng vàmưa nhiều Vào mùa đông, Kim Sơn cũng giống như các huyện khác trongtỉnh đều chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, nhưng về mùa hạ thì lại khác

vì Kim Sơn thường có gió nồm nam từ biển thổi vào mang theo hơi nước nênmát mẻ hơn các địa phương khác Ảnh hưởng của gió Tây Nam cũng hạn chếhơn nhiều Hàng năm tiết “tháng 9 đôi mươi, tháng 10 mồng 5” (âm lịch) tứclà vào khoảng tháng 10 và tháng 11 dương lịch thường có mưa rươi Tổnglượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.900 mm, trung bình năm có 125 - 127ngày mưa Lượng mưa tập trung chủ yếu vào mùa hè từ tháng 5 đến tháng 11,trung bình trên 100 mm/tháng Trong mùa mưa lượng mưa chiếm trên 80%tổng lượng mưa cả năm Tháng 8 - 9 có lượng mưa lớn nhất trong năm, trungbình 300 - 400 mm Vào mùa đông, lượng mưa chiếm khoảng 10 - 20% tổnglượng mưa, chủ yếu là mưa phùn

Nhiệt độ trung bình năm là 23,40C (nhiệt độ cao nhất là 41,10C, thấpnhất là 2,40C) Độ ẩm không khí trung bình là 86% (độ ẩm cao nhất là 91%,

Trang 19

thấp nhất là 61%) Hướng gió thịnh hành trong mùa hè là từ Đông Nam đếnNam vào các tháng 5,6,7 Vận tốc gió mạnh nhất trong trường hợp bão đổ bổ

>50m/s Hướng gió thịnh hành nhất trong mùa đông là từ Tây Bắc đến ĐôngBắc Vận tốc gió mùa này từ 4 - 11m/s Số giờ nắng bình quân trung bìnhtrong năm là 1.631 giờ/năm, tổng lượng bức xạ 95 - 125 kcal/cm2/năm Thángcó lượng bức xạ lớn nhất là 5 - 12 kcal/cm2/tháng

Với điều kiện thời tiết như vậy nó đã tạo ra những điều kiện thuận lợiđể cây trồng phát triển, mùa màng có thể quay vòng 2-3 lần/năm với thời vụngắn song cũng gặp không ít khó khăn, nhất là với điều kiện thời tiết nóng ẩmcàng tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển phá hoại mùa màng, bên cạnh đóhoạt động sản xuất của huyện Kim Sơn cũng chịu tác động không nhỏ do cáccơn bão gây ra Mùa bão chủ yếu bắt đầu từ cuối tháng 6 đến tháng 9 Theo sốliệu thống kê thì trong 45 năm từ năm 1956 - 2000 có 103 cơn bão đổ bộ vàokhu vực bờ biển từ Quảng Ninh đến Thanh Hóa Trong đó có 10 cơn bão và

áp thấp nhiệt đới đổ bộ trực tiếp vào vùng biển Nam Định - Ninh Bình, bãomạnh nhất cấp 11 - 12 Bên cạnh sức tàn phá của gió thì vùng này còn chịutác động của sóng biển và nước dâng lên do bão nên sẽ gây ảnh hưởng khôngnhỏ đến hệ thống đê biển

- Hệ thống sông ngòi và chế độ thủy văn

Kim Sơn có hệ thống sông ngòi dầy đặc, có 3 con sông lớn: Sông Đáynằm ở phía đông nam huyện, chảy vào huyện Kim Sơn bắt đầu từ xã XuânThiện và đổ ra biển Đông ở cửa Đáy, sông Đáy là ranh giới giữa huyện KimSơn và huyện Nghĩa Hưng (Nam Định) với chiều rộng 200m Sông Càn nằm

ở phía nam huyện Kim Sơn, từ Yên Mô chảy vào huyện Kim Sơn bắt đầu từxã Lai Thành chảy qua các xã Định Hóa, Kim Mĩ, Kim Hải và đổ ra biểnĐông ở cửa Càn với chiều dài 9,3km, cùng với sông Đáy tạo nên lượng lắngđọng phù sa rất lớn cho vùng đất Kim Sơn Sông Vạc bắt đầu từ huyện Hoa

Trang 20

Lư chảy qua các huyện Yên Mô, Yên Khánh rồi vào huyện Kim Sơn, bắt đầu

từ xã Kim Chính (thường gọi là sông Trì Chính) chảy vào sông Đáy qua cửaĐài Giang hay còn gọi là Kim Đài (Kim Chính) đổ ra biển Đông Ngoài racòn có các con sông rất quan trọng khác như: sông Yêm bắt đầu chảy từ sôngVạc (Yên Mô) chảy vào sông Cà Mâu với chiều dài 4,5km, sông Ân là nhánhcủa sông Đáy chảy vắt ngang qua huyện Kim Sơn, bắt đầu chảy từ các xãXuân Thiện chảy qua các xã Chính Tâm, Kim Định, Hùng Tiến và chảy songsong với quốc lộ 10 qua thị trấn Phát Diệm đến Lai Thành gặp sông Càn ởphía Tây Với hệ thống sông ngòi ngang dọc dày đặc như vậy sẽ tạo điều kiệnthuận lợi và rất quan trọng cho việc phục vụ thủy lợi, sản xuất và giao thôngcủa nhân dân huyện Kim Sơn

Về thủy văn: Mực nước các sông chịu ảnh hưởng lớn của dòng chảy.Mùa hạn kéo dài khoảng 6 - 7 tháng (từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 -5năm sau) Trong đó lượng dòng chảy nhỏ nhất rơi vào các tháng 2, 3 và tháng

4 Trong mùa này lưu lượng nhỏ chỉ đạt gần 20% của tổng lượng nước trongnăm, do vậy ở các cửa sông ven biển độ mặn xâm nhập vào sâu, mức độ ảnhhưởng theo chu kỳ ngày đêm (nhật triều) và chu kỳ triều nửa tháng, tuy nhiêndòng chiều vào thời kỳ này ổn định và ít biến đổi Vào mùa lũ khi nước sôngHồng lên thì lũ sông Đáy cũng lên và ngược lại

Chế độ thủy triều của vùng là chế độ nhật triều không đồng đều vớibiên độ lớn nhất có thể đạt 2,0 - 2,5m, biên độ trung bình là 1,4m Trongtháng có hai kỳ con nước lớn, mỗi kỳ kéo dài từ 8 - 9 ngày với biên độ daođộng từ 1,5 đến 2,2m Giữa hai kỳ nước lớn là kỳ nước kém kéo dài 5 - 6ngày với biên độ dao động từ 0,5 - 1,3m Trong thời kỳ nước cường, tính chấtnhật triều có trội hơn, mỗi ngày xuất hiện một đỉnh và một chân triều Trongkỳ nước kém mỗi ngày xuất hiện 1 - 2 đỉnh và 1 - 2 chân triều Chế độ thủytriều cũng ảnh hưởng đến độ mặn của vùng đất này Trong tháng, vào thời kỳ

Trang 21

triều cường độ mặn lớn, biên độ dao động lớn, ngược lại trong thời kỳ triềukém độ mặn nhỏ và biên độ dao động thấp Trong ngày, dao động độ mặncũng tương ứng với dao động của mực nước triều Độ mặn ứng với mực nướctriều lên nhỏ hơn độ mặn ứng với mực triều xuống có thể tới 4,6%0 Vào mùakhô nước biển lấn sâu vào nội địa tới 10 -15km, hàm lượng muối lên đếnkhoảng 10 - 25%0 Ngược lại vào mùa mưa (từ cuối tháng 6 - 10) lượng nướctrên các thượng nguồn sông Càn và Sông Đáy rất lớn, do đó hàm lượng muốichỉ còn khoảng 3 - 5%0.

- Về hành chính:

Khi Kim Sơn mới thành lập năm 1829 mới có 7 tổng với 60 lý, ấp, trại,đến năm 1912 đã thành lập thêm 5 làng mới Năm 1948 huyện được chia thành

5 tiểu khu với 25 xã Năm 1977 theo quyết định số 125/CP của Hội đồng chínhphủ, 9 xã phía nam huyện Yên Khánh, kể từ nam sông Khang Thượng là các xãKhánh Nhạc, Khánh Hồng, Khánh Hội, Khánh Mậu, Khánh Cường, KhánhTrung, Khánh Thành, Khánh Công, Khánh Thủy với diện tích là 72km2 đượcsáp nhập vào huyện Kim Sơn, chiều dài huyện Kim Sơn lúc này tới 40km, diệntích 27.738 ha, lúc này Kim Sơn có 29 xã và một thị trấn Cho đến năm 1993Kim Sơn đã thành lập thêm 3 xã: Kim Hải, Thị trấn Bình Minh, Kim Trung.Đến năm 1994, theo nghị định số 59/CP của chính phủ, 9 xã phía nam huyệnYên Khánh cũ lại được tách khỏi huyện Kim Sơn Năm 1998 xã Kim Đôngđược thành lập Cho đến nay trải qua nhiều lần biến đổi, huyện Kim Sơn có 25xã và 2 thị trấn bao gồm thị trấn Phát Diệm, trị trấn Bình Minh và các xã XuânThiện, Chính Tâm, Chất Bình, Hồi Ninh, Kim Định, Như Hòa, Ân Hòa, HùngTiến, Quang Thiện, Đồng Hướng, Kim Chính, Yên Mật, Thượng Kiệm, LưuPhương, Tân Thành, Yên Lộc, Văn Hải, Lai Thành, Định Hóa, Kim Mỹ, KimTân, Cồn Thoi, Kim Hải, Kim Trung, Kim Đông Trung tâm của huyện lỵ KimSơn ngày nay được đặt tại thị trấn Phát Diệm

Trang 22

1.2.2 Về điều kiện xã hội

Ngày nay dân số huyện kim Sơn vào khoảng 166.229 người [57, tr 16].Tuy nhiên, trong những ngày đầu khi khai hoang lập ấp, Kim Sơn mới chỉ cókhoảng 1.260 dân đinh Họ đến đây từ nhiều miền quê, có nhiều dòng họ vàthuộc nhiều thành phần xã hội khác nhau nhưng lại cùng chung một mục đích:khai khẩn đất hoang, biến nơi đây thành những vùng đất phì nhiêu, màu mỡđể xây dựng một cuộc sống mới Họ là những người dân thông minh, sángtạo, dũng cảm, gan góc, biết chịu đựng gian khổ, bất khuất, kiên cường chốngchọi lại với thiên nhiên khắc nghiệt để khai hoang Chỉ có những con ngườinhư vậy mới trụ vững được trên mảnh đất này Điều này cũng góp phần tạonên tính cách của người Kim Sơn hiện nay Ở Kim Sơn không có một làng, xãnào không có sự du nhập, sự đan xen cư dân của các huyện, các tỉnh khácđến Hiện nay, ở Kim Sơn có người của 10 tỉnh, 40 huyện, 50 xã đến cư trú,lập nghiệp Là nơi hội tụ dân của nhiều miền quê, nên Kim Sơn có bản sắcvăn hóa đa dạng nhưng chưa được định hình bền vững và rõ nét Do vậy khicó sự cố, những biến đổi của lịch sử, xã hội hay bản thân, người Kim Sơndám dứt bỏ mảnh đất chôn rau cắt rốn, chấp nhận sự thay đổi để tìm đếnnhững miền quê mới, tìm cuộc sống mới Đồng thời cũng dễ chấp nhận nhữngngười dân nơi khác gia nhập vào làng xã của mình Là con cháu của nghĩaquân nông dân xưa kia, người Kim Sơn yêu chuộng tự do, công lý, có truyềnthống quật cường, bất khuất trong cuộc đấu tranh chống áp bức bất công xãhội, năng động, tính cách mạnh mẽ, sống phóng khoáng, hiếu khách, có tưtưởng làm ăn lớn và rất táo bạo Mặt khác, vì yêu cầu cuộc sống đòi hỏi họphải gắn bó với mhau để chống chọi với thiên nhiên, đấu tranh chống áp bức,bất công xã hội nên đã sớm hình thành truyền thống đoàn kết của cư dân KimSơn Ngay trong những ngày đầu khai phá Kim Sơn, bên cạnh những đồngbào đi lương thì những đồng bào công giáo cũng đã có mặt ở đây từ rất sớm

Trang 23

Chính trong những điều kiện lao động khó khăn, vất vả ban đầu mà tinh thầnđoàn kết của những đồng bào Lương - Giáo nơi đây đã được định hình và tinhthần ấy ngày càng được củng cố theo thời gian Hiện nay, Kim Sơn có 2 tôngiáo chính là đạo Phật và đạo Công giáo Đồng bào theo đạo Công giáo chiếmkhoảng 45% dân số, cả huyện có 148 nhà thờ, 22 chùa, 19 đình Do có truyềnthống đoàn kết ngày từ trong những ngày đầu nên người dân ở đây ít có sựphân biệt về tôn giáo, dù kẻ địch có lợi dụng, phá hoại thì tinh thần đoàn kếtcủa nhân dân vẫn được đề cao.

Tinh thần đoàn kết, truyền thống anh hùng của người dân Kim Sơnliên tục được phát huy, thử thách trong các cuộc kháng chiến chống thùtrong giặc ngoài của dân tộc Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản ViệtNam, nhân dân Kim Sơn liên tiếp nổi dậy đấu tranh chống lại sự thống trịtàn bạo của bọn thực dân, phát xít Pháp - Nhật cùng bè lũ phong kiến tay sai.Sau khi nhận được lệnh tổng khởi nghĩa, ngày 21/8/1945, nhân dân Kim Sơntổ chức biểu tình và lật đổ chính quyền cũ thiết lập bộ máy chính quyền mới

- chính quyền của nhân dân Ngày 6/6/1947 Đảng bộ huyện Kim Sơn đượcthành lập với 21 đảng viên Sự kiện này có ý nghĩa rất quan trọng, đánh dấusự trưởng thành của phong trào cách mạng ở Kim Sơn Đến tháng 10/1949Đảng bộ đã có 1.224 đảng viên Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, nhândân Kim Sơn đã lần lượt đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược.Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mĩ, nhân dân Kim Sơn đãhuy động 31.174 người tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu (trong đó

nữ có 7.140 người) Số người tham gia quân đội là 12.190 người, thanh niênxung phong 2.558 người, dân công hỏa tuyến 1.260 người, du kích tự vệ là6.615 người, cán bộ dân chính là 4.935 người; có 1.902 đồng chí liệt sĩ, 915đồng chí thương binh, 748 bệnh binh Ngoài ra nhân dân huyện Kim Sơncòn đóng góp cho cuộc kháng chiến của dân tộc 387.500 tấn lương thực,

Trang 24

14.450 tấn thực phẩm, 100 lạng vàng, 3.742.000 đồng, huy động 10.560ngày công đào đắp công sự trận địa, huy động hàng ngàn phương tiện phục

vụ chiến đấu Trong kháng chiến chống Mĩ nhân dân Kim Sơn đã bắn cháy

8 máy bay của đế quốc Mĩ, góp phần làm nên chiến thắng chung của dântộc Với những chiến công này nhân dân huyện Kim Sơn được Đảng và nhànước trao tặng nhiều danh hiệu cao quý

Về phong tục văn hóa: Do đây là nơi tập trung dân cư từ nhiều nơi đếntrong suốt chiều dài lịch sử của huyện nên phong tục văn hóa ở đây rất đadạng Khi di cư đến đây, cư dân thường mang theo những bản sắc văn hóa củaquê hương mình vì thế đã tạo nên một nền văn hóa đa dạng Trên cơ sở đó,khi sinh sống đan xen với nhau, cư dân nơi đây cũng đang dần định hình choKim Sơn một nền văn hóa riêng phù hợp với đồng đất ven biển mới thành lậpnày Đây cũng là điều kiện thuận lợi để cư dân nơi đây có thể dễ dàng tiếpnhận những đồng bào đến từ những miền quê khác trong giai đoạn sau này vàhình thành nên tính cách của con người Kim Sơn

1.3 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội huyện Kim Sơn trước năm 1986

Sau ngày chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, đất nước ta đã bước sangmột giai đoạn mới Tháng 12/1976, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã đề

ra hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc ViệtNam xã hội chủ nghĩa Thực hiện nghị quyết của Đảng, nhân dân cả nước nóichung và nhân dân Kim Sơn nói riêng đã bắt tay vào công cuộc xây dựng vàbảo vệ quê hương

1.3.1 Về kinh tế

Chiến tranh đi qua đã để lại cho Kim Sơn những hậu quả nặng nề Thịtrấn Phát Diệm - trung tâm của huyện bị hủy diệt, hầu hết các xã đều bị máybay của Mĩ ném bom bắn phá Hàng loạt cơ sở vật chất bị phá hoại, sứcngười, sức của ngày càng bị cạn kiệt, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn

Trang 25

Đối mặt với những thách thức rất lớn này, nhân dân và chính quyền địaphương vẫn quyết tâm vượt qua khó khăn, khắc phục hậu quả của chiến tranh,từng bước ổn định đời sống cho nhân dân Trong 10 năm đầu xây dựngCNXH, Kim Sơn đã đạt được những thành tựu nhất định song cũng gặpkhông ít những khó khăn.

* Sản xuất nông nghiệp

Trong 5 năm đầu xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa (1976 - 1980) kinh

tế nước ta nói chung cũng như huyện Kim Sơn nói riêng đã có những chuyểnbiến nhất định, hậu quả do chiến tranh để lại bước đầu đã được khắc phục.Tuy nhiên, do những hậu quả của chiến tranh là quá lớn cùng với đó là nhữngsai lầm về đường lối phát triển kinh tế đã làm cho tình hình kinh tế nước ta cóchiều hướng chững lại, thậm chí có chiều hướng đi xuống và tình hình kinh tếhuyện Kim Sơn cũng không phải ngoại lệ nhất là trong nông nghiệp “Năm

1975 sản lượng lương thực quy thóc của huyện Kim Sơn đạt 48.931 tấnnhưng đến năm 1980 thì nó đã giảm xuống chỉ còn 28.307 tấn” [17, Tr.129],tức là giảm tới 42,1% “Năng suất lúa năm 1980 là 13,99 tạ/ha giảm so với21,57 tạ/ha của năm 1975” [17, Tr.131] Sau 5 năm năng suất lúa đã giảm7,58 tạ/ha Như vậy năng suất và sản lượng lúa của huyện Kim Sơn sau 5 nămkhông những không phát triển mà lại có bước chững lại và thụt lùi Nguyênnhân gây nên tình trạng trên ngoài những nhân tố chủ quan do con người gây

ra mà chúng ta đã biết thì còn có những nhân tố khách quan khác đó chính là

do thiên tai liên tiếp xảy ra Trong thời gian từ 1978 - 1980 diễn biến thời tiết

ở Kim Sơn rất khắc nghiệt, liên tiếp xảy ra mưa bão, úng lụt, rét đậm và hạnhán kéo dài Chỉ riêng vụ mùa năm 1980 đã có tới ba cơn bão 4, 5, 6 đổ bộvào đây nên đã gây ra úng lụt nặng, diện tích thu hoạch vụ mùa chỉ còn 5.375

ha trong tổng số gieo trồng là 7.281 ha, năng suất lúa bình quân vụ này chỉ đạt8,47 tạ/ha Ngành chăn nuôi cũng gặp không ít những khó khăn Thời gian

Trang 26

đầu ngành này cũng có những bước phát triển nhất định nhưng theo thời gianthì nó ngày càng bị giảm sút nghiêm trọng Năm 1975, thực hiện nghị quyết86/CP của Hội đồng chính phủ về phát triển chăn nuôi lợn và nghĩa vụ bánthịt cho nhà nước, Huyện ủy đã ra nghị quyết chuyên đề về phát triển chănnuôi ở cả hai khu vực tập thể và hộ gia đình xã viên Cho đến đầu tháng10/1975, tổng đàn lợn toàn huyện có 40.488 con, đàn trâu có 6.394 con, đàn

bò có 307 con Toàn huyện có 50/55 hợp tác xã nuôi vịt, trong đó có 48 hợptác xã nuôi vịt đẻ, tổng đàn vịt đạt 160.000 con trong đó vịt đàn là 70.000 con,vịt bột 90.000 con, sản lượng trứng đạt 3,44 triệu quả/năm Nuôi trồng thủysản toàn huyện có 503 ha ao, hồ được thả cá với khoảng 5.290.000 con cágiống Hai hợp tác xã Đồng Phong và Quang Vinh là những điển hình về nuôi

cá đạt sản lượng và năng suất cao Đánh bắt cá đạt 388 tấn cá thịt Sản lượng

cá biển của hai hợp tác xã Kim Đài và Hải Tiến đạt 205 tấn Năm 1977 dothiếu lương thực nên chăn nuôi gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên chính quyềnđịa phương đã có những biện pháp tích cực nhằm duy trì đàn gia súc gia cầmnhư cho chuyển đàn vịt đẻ ra bãi ngạn ven biển, nên duy trì được đàn vịt đẻ42.000 con, cung cấp cho nhà nước 3,6 triệu quả trứng/năm, đàn lợn giảm15% so với năm 1976 Cho đến năm 1980, chăn nuôi càng gặp khó khăn hơn,đàn lợn giảm sút nghiêm trọng, một số hợp tác xã có ý định bỏ hình thức chănnuôi tập thể Đàn lợn đã giảm xuống còn 29.445 con, so với năm 1975 thìgiảm 27,3% Số lượng đàn trâu, bò cũng bị suy giảm Năm 1980 đàn trâu, bòcủa huyện Kim Sơn chỉ còn 5.946 con, giảm 755 con so với năm 1975 Tổngđàn vịt chỉ còn 100.000 con Nhìn chung ngành chăn nuôi gặp rất nhiều khókhăn, số lượng đàn gia súc, gia cầm giảm sút nghiêm trọng, nhiều hợp tác xã

bỏ trống chuồng trại Môt số hợp tác xã có kinh nghiệm và có tiềm lực cũngmuốn bỏ hình thức chăn nuôi tập thể

Trang 27

Những khó khăn mà nhân dân Kim Sơn gặp trong thời gian qua cũng lànhững khó khăn chung của cả nước ta Yêu cầu đặt ra cho đất nước là cầnphải có những chính sách tích cực, phù hợp nhằm tháo gỡ, giải quyết nhữngkhó khăn đó Trước tình hình này, trung ương Đảng đã đưa ra nhiều chủtrương, chính sách mới để giải quyết những khó khăn trên Tháng 9/1979, Hộinghị trung ương 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IV) ra nghị quyếtvới tinh thần “Làm cho sản xuất bung ra”, tạo điều kiện cho các thành phầnkinh tế phát triển Ngoài ra còn có chỉ thị 100 - CT/TW (13/1/1981) của Banbí thư Trung ương Đảng, nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V(1982), đây là những văn kiện có tính chất quan trọng giúp nước nhà vượt quađược những khó khăn trước mắt Nội dung chính của bản chỉ thị 100 là cảicách một phần nội dung quản lý mô hình hợp tác xã nông nghiệp, tăng cườnglợi ích cho người lao động, khuyến khích giải phóng sức sản xuất nôngnghiệp, cải thiện tình hình kinh tế nông thôn Thông qua cơ chế khoán sảnphẩm mà tăng cường quan hệ sản xuất mới trên cả 3 mặt: Chế độ sở hữu, chế

độ quản lý và chế độ phân phối Đây là một chủ trương lớn, đáp ứng kịp thờinhững đòi hỏi bức xúc trong sản xuất nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp,xã viên và nông dân

Đến tháng 3/1982 Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ V đãxác định: Sản xuất nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, trong đó sản xuất lươngthực là mục tiêu số 1 Đảng chỉ rõ: “Cần tập trung phát triển mạnh nôngnghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp lên một bướcsản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặngquan trọng, kết hợp nông nghiệp, công nghiệp và hàng tiêu dùng trong một cơcấu kinh tế công nông nghiệp hợp lý” [31, Tr 62 - 63]

Chỉ thị 100 đã đáp ứng được nguyện vọng của cán bộ Đảng viên vànhân dân, nhất là nông dân trong thời điểm sản xuất nông nghiệp đang bị “trói

Trang 28

buộc” Ngay từ cuối năm 1980, thực hiện nghị quyết số 12 của Tỉnh ủy, vớitinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, các cấp chính quyềnhuyện Kim Sơn đã mạnh dạn áp dụng cách quản lý và cải tiến chế độ khoántrong nông nghiệp theo kinh nghiệm một số tỉnh miền Bắc đã làm Hợp tác xãHùng Tiến đã được chọn làm thí điểm cho việc thực hiện khoán trong nôngnghiệp Sau khi có thông báo số 22, chỉ thị 100 của Ban bí thư Trung ươngĐảng cùng nghị quyết 12 của Tỉnh ủy trước đó và những kinh nghiệm làmđiểm ở hợp tác xã Hùng Tiến, Huyện ủy và Ủy ban nhân dân đã tập trung chỉđạo các hợp tác xã trong toàn huyện thực hiện khoán sản phẩm đến nhóm vàngười lao động.

Chính sách khoán 100 ra đời và được quán triệt trong sản xuất nó đãtạo ra một luồng sinh khí mới thổi vào đời sống xã hội nông thôn, nông dânphấn khởi như “trời hạn gặp mưa rào”, một cao trào thi đua lao động sảnxuất trong nông nghiệp đã được thổi bùng lên Những chính sách mới này đãtạo ra những động lực mới cho nông dân, họ đã được tháo bỏ khỏi nhữngràng buộc vướng mắc trong sản xuất, phát huy được tinh thần làm chủ, khơidậy được tính tự giác trong sản xuất của người lao động, nông dân đã mạnhdạn áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, đầu tưgiống, phân bón… vào sản xuất để có thể đạt năng suất cao nhất trên đơn vịdiện tích được giao khoán Chính sách khoán 100 ra đời đã làm không khílao động của nông dân trên đồng ruộng đã có sự chuyển biến khác hẳn sovới trước, nông dân sản xuất tích cự hơn, miệt mài hơn trên cánh đồng củamình, không còn hiện tượng đi muộn về sớm hay làm giả ăn thật như trước

Cơ chế khoán mới này đã thực sự làm thay đổi cách nghĩ, cách làm củangười nông dân, xã viên tự giác phấn khởi lao động, tiềm năng lao độngđược phát huy, đất đai được khai thác và sử dụng có hiệu quả hơn so vớitrước Xã viên hào hứng tiếp thu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đưa các

Trang 29

giống lúa mới có năng suất cao vào sản xuất, chuyển nhóm xuân sớm vànhóm xuân chính vụ vào sản xuất đại trà trong vụ chiêm xuân, đưa giốngMộc Tuyền thuần vào vụ mùa sản xuất đại trà Xã viên đầu tư thêm hàngtriệu ngày công, hàng chục triệu đồng mua phân bón, công cụ sản xuất Chế

độ quản lý trong hợp tác xã cũng có tiến bộ hơn trước Được sự quan tâmcủa chính quyền các cấp cùng với tác động của chỉ thị 100 nên những trì trệ,

sa sút trong sản xuất nông nghiệp của huyện nhà đã được chặn đứng, nôngnghiệp đã có những bước phát triển cả về sản lượng và năng suất Sự pháttriển của nông nghiệp (cây lúa) được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất lúa của Kim Sơn từ 1981 - 1985

Diện tích (ha) 22.142 22.330 22.125 22.228 21.947Năng suất (tạ/ha) 23,74 29,78 26,59 28,21 22,34Sản lượng (tấn) 52.567 65.148 58.829 62.702 49.040

Nguồn: [17, Tr 130 - 132]

Bảng 1.1 cho ta thấy mặc dù diện tích trồng lúa có sự biến động khôngnhiều những năng suất lúa và sản lượng lúa lại có chiều hướng tăng lên đángkể Nếu như năm 1981 năng suất lúa của huyện Kim Sơn chỉ đạt 23,74 tạ/hathì đến năm 1984 đã tăng lên 28,21 tạ/ha Sản lượng lúa cũng tăng lên hơn 10tấn từ 52.567 tấn (1981) lên 62.702 tấn (1984) Năm 1985 năng suất và sảnlượng lúa của Kim Sơn sụt giảm một phần vì diện tích canh tác suy giảm,phần khác là do tác động của thiên tai Tuy vậy, năng suất lúa của huyện năm

1985 so với năm 1980 cũng tăng gấp 1,6 lần Như vậy, so với thời kỳ trướckhi có chính sách khoán thì những thành tựu trong sản xuất lúa mà Kim Sơn

Trang 30

đạt được trong giai đoạn này là rất đáng phấn khởi, kinh tế nông nghiệp bướcđầu đã có sự chuyển biến tích cực, nó là nền tảng để Kim Sơn bước vào thờikỳ đổi mới sau này.

Cùng với cây lúa, cây cói cũng có tốc độ tăng trưởng khá cả về năngsuất và sản lượng Sản lượng cói bình quân 5 năm (1981 - 1985) đạt 8.000tấn, riêng năm 1985 sản lượng đạt 9.000 tấn, đây là năm có sản lượng caonhất từ trước đến nay Hợp tác xã Nam Thành dẫn đầu về năng suất cói đạt 14tấn/ha, hợp tác xã Cồn Thoi có chất lượng cói tốt nhất, hợp tác xã Mỹ Hải cósản lượng cói nhiều nhất với khoảng trên 2.000 tấn/năm Cả 5 hợp tác xãchuyên canh cói đều đạt năng suất cao và sản lượng vượt kế hoạch nhà nước.Ngoài ra, các loại cây lương thực khác như ngô, khoai, sắn, lạc… cũng đượcnhân dân quan tâm phát triển để vừa tăng thêm nguồn lương thực phục vụ đờisống nhân dân vừa để tăng thêm nguồn cung cấp cho ngành chăn nuôi

Trong chăn nuôi, nhờ có sự quan tâm, chỉ đạo của chính quyền địaphương và sự phát triển của ngành trồng trọt nên ngành chăn nuôi đã cónhững chuyển biến so với trước

Bảng 1.2 Ngành chăn nuôi gia súc ở Kim Sơn từ 1981 - 1985

Trang 31

con thì đến năm 1985 đã tăng lên 35.255 con tức là đã tăng 4.006 con Nếu sovới năm 1980 thì đã tăng 16,5% Đàn trâu bò cũng được duy trì và phát triển.Chăn nuôi gia cầm cũng có nhiều biến động về số lượng nhất là đàn vịt Năm

1982 đàn vịt của Kim Sơn có 116.000 con, năm 1983 còn 70.000 con, đến năm

1984 lại tăng lên 147.000, năm 1985 lại giảm xuống còn 83.000

Như vậy sau khi thực hiện chính sách khoán 100, sản xuất nông nghiệpcủa Kim Sơn đã có những chuyển biến tích cực, trồng trọt và chăn nuôi đã cónhững bước tiến quan trọng Do đó đời sống của nông dân đã được cải thiệnđáng kể so với trước Tuy nhiên chính sách này cũng bộc lộ không ít nhữnghạn chế nhất là trong hoạt động của các hợp tác xã, đã có không ít các hợp tácxã phó mặc cho xã viên nhiều khâu sản xuất, khâu giống buông lỏng cho xãviên tự lo liệu, giao ruộng đất manh mún, giao khoán mang tính chất giàn đềubình quân Một bộ phận nông dân do thiếu công cụ lao động, thiếu kinhnghiệm sản xuất và vốn nên không đạt khoán và muốn trả lại ruộng Khêđọng sản phẩm ngày càng lớn Năm 1981 xã viên khê đọng sản phẩm là 310tấn, năm 1982 là 542 tấn, năm 1983 đã tăng lên 1.100 tấn Có hợp tác xã cótới 40 - 50% số hộ khê đọng sản phẩm, làm đảo lộn phương án sản xuất, gâyảnh hưởng xấu đến kinh tế của địa phương Một số hợp tác xã chi tiêu tùytiện, lãng phí, cán bộ tham ô… gây mất lòng tin trong quần chúng nhân dân

* Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Cùng với sản xuất nông nghiệp, các xí nghiệp, hợp tác xã thủ côngnghiệp (nhất là trên địa bàn thị trấn Phát Diệm) đã nhanh chóng được sửachữa, xây dựng lại, các máy móc, thiết bị, công cụ sản xuất cũng được lắp đặt.Nhờ những cố gắng này mà sản lượng và giá trị công nghiệp - tiểu thủ côngnghiệp tăng so với năm 1974, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 6,121 triệuđồng, tiểu thủ công nghiệp đạt 4,636 triệu đồng là đơn vị đạt giá trị cao nhấttỉnh Ngày 30/5/1978 Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Kim Sơn đã khai mạc

Trang 32

và đã xác định phương hướng, nhiệm vụ chung Đại hội xác định “Đẩy mạnhsản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, đánh bắt cá biển, gắn với sảnxuất chế biến, phân phối lưu thông, gắn kinh tế với quốc phòng, kinh tế tậpthể với kinh tế gia đình; đẩy mạnh quá trình phân công lao động mới theohướng 40% lao động trồng trọt, 10% lao động chăn nuôi, 30% cho lao độngxây dựng cơ bản, 20% cho lao động ngành nghề; ra sức xây dựng cơ sở vậtchất - kỹ thuật cho sản xuất và đời sống; chủ trương mở rộng cơ khí tiêudùng, cơ khí sửa chữa, cơ khí chế tạo nhỏ, mở rộng mạng lưới điện và địa bàn

cơ giới, xây dựng thêm các xí nghiệp, hợp tác xã liên doanh các nghề chế biếnnông sản, hải sản, thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất phươngtiện và tổ chức vận tải” [2, Tr.39] Dưới sự chỉ đạo của huyện ủy, sản xuấtcông nghiệp, tiểu thủ công nghiêp trong những năm 1978 - 1981 so với năm

1977 đã có tốc độ phát triển khá Các cơ sở sản xuất quốc doanh và tập thểđược trang bị thêm các máy móc, phương tiện và công cụ lao động, do đó mànăng lực sản xuất được nâng cao Do thực hiện tốt quyết định 25, 26/CP năm

1981 về việc mở rộng hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm và vậndụng hình thức tiền thưởng trong các đơn vị sản xuất kinh doanh nên bướcđầu đã tạo ra được sự chuyển biến trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,tác động tích cực trong việc tận dụng được lao động, vật tư và cải thiện đờisống của công nhân Năm 1978 giá trị tổng sản lượng công nghiệp, tiểu thủcông nghiệp đạt 12,9 triệu đồng, giá trị xuất khẩu đạt 8,1 triệu đồng Năm

1980 giá trị tổng sản lượng đạt 12,5 triệu đồng, giá trị xuất khẩu đạt 7,3 triệuđồng Năm 1981, do có nhiều khó khăn về nguyên liệu, nhiên liệu, vật tư,thiết bị nên sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp giảm sút nghiêmtrọng, giá trị tổng sản lượng chỉ đạt 11 triệu đồng, giá trị xuất khẩu chỉ đạt 5,8triệu đồng

Trang 33

Trong thời kỳ 1982 - 1985 sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệpcó bước tăng trưởng nhưng còn chậm Ngành chế biến thủy sản, sản xuất vàsửa chữa công cụ, máy móc phục vụ nông nghiệp, vật liệu xây dựng, chế biếncói tăng trưởng khá hơn Năm 1983, sản xuất chiếu cói cả nội địa và xuấtkhẩu phát triển khá: Sản xuất chiếu cói cho nội địa đạt giá trị 12,8 triệu đồng,xuất khẩu đạt giá trị 18,8 triệu đồng Các hợp tác xã thủ công Đại Đồng, ĐạiThắng, Quang Thiện sản xuất các mặt hàng xuất khẩu đã hoàn thành vượtmức cả về hiện vật và giá trị Năm 1984, tổng giá trị hàng tiêu dùng, vật liệuvà xuất khẩu đạt 61,3 triệu đồng Riêng hàng thủ công xuất khẩu đạt 36,8triệu đồng, chiếm 60% giá trị Năm 1985, tổng giá trị đạt 84 triệu đồng, bằng106% kế hoạch, giá trị xuất khẩu đạt 46,7 triệu đồng, vượt mức so với kếhoạch đề ra.

Như vậy, sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của Kim Sơn đãcó những chuyển biến tích cực, nhất là ngành chế biến cói - đây được coi làthế mạnh chủ yếu của kinh tế Kim Sơn, ngành này mang lại nguồn hàng vàgiá trị xuất khẩu chủ yếu cho huyện Tuy vậy, các hợp tác xã tiểu thủ côngnghiệp nhiều mặt quản lý còn yếu, bị buông lỏng, thậm chí chỉ còn là hìnhthức nên phần nào hạn chế sự phát triển của tiểu thủ công nghiệp

* Thương nghiêp và dịch vụ

Trên mặt trận phân phối lưu thông, khó khăn lớn nhất là sản xuất pháttriển chậm, cơ chế quản lý chưa phù hợp làm cho nguồn hàng nhà nước quản

lý mỏng, vật tư khan hiếm, tiền mặt hạn chế, phân phối lưu thông mới chỉ đápứng được các nhu cầu thiết yếu phục vụ sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu,công cụ… Hàng tiêu dùng mới chỉ cung cấp một phần theo định lượng củacán bộ, công chức, viên chức Hợp tác xã mua bán tách ra khỏi ngành thươngnghiệp huyện đã nâng cao vai trò chủ yếu phục vụ sản xuất và đời sống nông

Trang 34

dân, làm chức năng phục vụ nông nghiệp, giải quyết tốt hơn việc phân phốilưu thông ở từng xã

Nhìn chung, các ngành kinh tế phục vụ phân phối lưu thông bị ách tắc

do cơ chế quản lý kinh doanh, do nguồn hàng và các thủ tục bất hợp lý, nênphục vụ chưa đáp ứng được nhu cầu, thường chậm, thiếu kịp thời, chưa đồng

bộ Một số cán bộ, nhân viên có thái độ phục vụ chưa đúng mức Những biểuhiện tham ô móc ngoặc ở các ngành vật tư, bách hóa, lương thực, thực phẩmcòn nhiều, có vụ việc rất nghiêm trọng Bộ máy chỉ đạo kinh doanh lúng túng,kém hiệu quả Thương nghiệp quốc doanh chưa thực sự làm chủ thị trường,điều tiết kinh doanh có lúc còn bị thị trường không có tổ chức và tư nhân lấn

át về kinh doanh và giá cả Một số cơ sở sản xuất công cụ phục vụ cho sảnxuất không tiêu thụ được sản phẩm Một số mặt hàng tồn đọng trong kho vìgiá thành quá cao, không ai mua, vốn sản xuất kinh doanh ứ đọng, ảnh hưởngđến kế hoạch sản xuất và nhu cầu tiêu dùng chung Hai mặt hàng chiến lượcchủ yếu của huyện là lương thực và chiếu cói, giá cả không ổn định tạo kẽ hởcho gian thương làm ăn phi pháp

Trước những khó khăn trên, quán triệt và thực hiện nghị quyết 26 của

bộ chính trị, nghị quyết 10 của tỉnh ủy, ngày 13/2/1984, Ban thường vụ huyệnủy ra nghị quyết số 9 nhằm tăng cường sự lãnh đạo công tác phân phối lưuthông và xác định đây là mặt trận nóng bỏng, khẩn trương và cấp bách Saukhi có nghị quyết 6 của Ban chấp hành trung ương Đảng, huyện ủy đã xâydựng chương trình hành động nhằm giải quyết những nhiệm vụ cấp bách nhưcông tác phân phối lưu thông, khai thác nguồn hàng vật tư phục vụ nôngnghiệp, nông sản và hàng hóa xuất khẩu… Dưới sự chỉ đạo của chính quyềnđịa phương, một số cơ sở hợp tác xã mua bán được củng cố, có chuyển biếntích cực và hoàn thành tốt nhiệm vụ như Hợp tác xã Khánh Hội, Quyết trung,Khánh Cường, Hợp Thành, Thị trấn Phát Diệm…

Trang 35

Tuy vậy, công tác quản lý và phân phối lưu thông vẫn còn bị buônglỏng, các hiện tượng tiêu cực trong kinh tế - xã hội chưa được chặn đứng, đẩylùi hoàn toàn, thậm chí có mặt còn phát triển phức tạp, tác động xấu đến quanhệ sản xuất Nhiều hợp tác xã mua bán chỉ còn là hình thức, cá biệt có hợp tácxã phải giải thể.

1.3.2 Tình hình văn hóa xã hội huyện Kim Sơn trước năm 1986

lý, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, nhất là giáo viên dạy lớp cải cách Phong tràoxây dựng trường tiên tiến được hưởng ứng sôi nổi, nhiều trường được côngnhận tiên tiến như: trường Đồng Hướng, Khánh Mậu, Khánh Nhạc, LưuPhương… Tuy nhiên, do đời sống kinh tế của nhân dân gặp nhiều khó khăn,việc đầu tư cho giáo dục của nhà nước còn hạn chế, năm học 1980 - 1981toàn huyện có 2.040 em phải bỏ học để đi làm ăn hoặc theo gia đình đi nơikhác Các cơ sở học tập còn thiếu, nhiều lớp còn học trong nhà tranh tre,

Trang 36

nhiều trường phải học 3 ca, bàn ghế chỉ đáp ứng được 70% nhu cầu, đồ dùngphục vụ cho việc học tập còn thiếu nhiều, đời sống của giáo viên gặp nhiềukhó khăn Được sự quan tâm của chính quyền địa phương cùng với sự cốgắng của ngành giáo dục huyện Kim Sơn nên sự nghiệp giáo dục ở đây vẫnđược giữ vững và phát triển Năm học 1984 - 1985, toàn huyện có 43.690 họcsinh phổ thông các cấp Đội ngũ giáo viên dần được chuẩn hóa, nhiều giáoviên đạt tiêu chuẩn giáo viên giỏi Năm 1985, trường phổ thông cơ sở ĐồngHướng được chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.

* Về y tế

Ngành y tế từng bước nâng cao chất lượng khám chữa bệnh Hoạt độngcủa các trạm y tế cơ sở được duy trì, công tác phòng chống dịch có hiệu quả.Năm 1981, tỷ lệ sinh còn 2,4%, giảm 0,8% so với năm 1977, nhưng vẫn làhuyện có tỷ lệ sinh cao nhất tỉnh Đội ngũ thầy thuốc ở huyện và xã đượccủng cố, nâng cao nghiệp vụ Các xã bước đầu thực hiện chính sách tương đốithỏa đáng đối với cán bộ y tế cơ sở Bình quân toàn huyện cứ 4.700 dân có 1bác sĩ và 3 y sĩ Bệnh viện huyện mở thêm khoa điều trị lao, phòng khám đakhoa ở 2 khu vực bằng vốn tự có của huyện, xây dựng phòng giải phẫu, đảmnhận điều trị được một số bệnh khó mà trước đây phải chuyển lên tuyến trên.Bệnh viện huyện Kim Sơn nhiều năm là bệnh viện tiên tiến của ngành y tếtỉnh Công tác kế hoạch hóa gia đình tiếp tục được quan tâm, trong 3 năm

1983 - 1985 đã hạ được 0,75% tỷ lệ phát triển dân số

* Các hoạt động văn hóa, văn nghệ và thể thao

Thực hiện chỉ thị 214 của Ban bí thư trung ương Đảng và quyết định56/CP, huyện ủy chỉ đạo phát động phong trào quần chúng bài trừ tệ nạn xãhội, xây dựng nếp sống mới, con người mới xã hội chủ nghĩa Ban vận độngnếp sống mới của huyện được thành lập, xây dựng dự thảo quy ước nếp sốngmới và tổ chức cho quần chúng thảo luận Ngành văn hóa thông tin hoạt động

Trang 37

có hiệu quả, góp phần tích cực vào việc bài trừ các tệ nạn xã hội và xây dựngnếp sống mới trong nhân dân Các hoạt động văn nghệ ở cơ sở diễn ra sôi nổi,với nhiều tiết mục hay đáp ứng một phần nhu cầu đời sống văn hóa của nhândân Nhiều đội văn nghệ hoạt động tích cực như đoàn chèo Nam Dân, đội vănnghệ thị trấn Phát Diệm, Hồi Ninh, bệnh viện Kim Sơn Các hoạt động vănhóa phong phú mang đậm tính dân tộc được khuyến khích Năm 1976 đoànchèo Nam Dân xã Thượng Kiệm được nhà nước tặng thưởng Huân chươnglao động hạng Ba Các hoạt động thể thao cũng được tổ chức thường xuyên.Các bộ môn bóng đá, bóng chuyền được nhiều người tham gia Năm 1982 thịtrấn Phát Diệm được công nhân là đơn vị có phong trào bơi lội giỏi và đượcủy ban thể dục thể thao quốc gia tặng cờ thi đua, ngoài ra còn có nhiều đơn vịcó phong trào thể dục thể thao khá như Khánh Trung, Văn Hải, nông trườngBình Minh…

Trên đây là toàn bộ bức tranh về kinh tế văn hóa xã hội của huyện KimSơn trong 10 năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội (1975 - 1985) Trong nhữngnăm qua kinh tế Kim Sơn đã có những khởi sắc, nhất là trong những năm đầucủa thập niên 80 Tuy vậy, về cơ bản kinh tế huyện Kim Sơn vẫn còn nhỏ bé,lạc hậu, đơn điệu, cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn, cơ chế quản lý kinh tếvẫn còn theo kiểu mệnh lệnh hành chính, bộ máy cồng kềnh kém hiệu quả.Đời sống nhân dân và cán bộ còn gặp nhiều khó khăn, nhiều hợp tác xã nôngnghiệp không giữ được nhịp độ phát triển Bình quân thu nhập của hợp tác xã,xã viên còn thấp, không đảm bảo đời sống, không có tích lũy tái sản xuất Sảnxuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp thiếu nguồn vốn đầu tư, thiếu nguyênliệu, thiếu lao động có trình độ, kỹ thuật công nghệ lạc hậu, năng lực quản lýyếu kém, nhiều xí nghiệp sản xuất cầm chừng, năng suất lao động thấp, hiệuquả kinh tế thấp, đời sống công nhân gặp nhiều khó khăn Một số xí nghiệpcòn có nguy cơ phải đóng cửa, sản xuất lâm vào tình trạng đình đốn Nhiều

Trang 38

hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp trong tình trạng suy thoái Không ít các hợptác xã mua bán hoạt động chỉ là hình thức.

Kinh tế huyện Kim Sơn khó khăn như vậy, song đây cũng là tình hìnhchung của cả nước Điều này tác động không nhỏ đến tư tưởng, tâm lý và đờisống nhân dân Đứng trước thực tế đó đòi hỏi Đảng và nhà nước cần phải cónhững quyết sách đúng đắn, phải đưa ra được một chiến lược phát triển kinh

tế phù hợp để đưa đất nước thoát khỏi khó khăn

1.4 Đường lối đổi mới của Đảng Cộng Sản Việt Nam và sự vận dụng của chính quyền địa phương

1.4.1 Chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng

Trước những biến đổi của thế giới, đặc biệt là Liên Xô và các nướcXHCN Đông Âu đang lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc, trong khi cácthế lực thù địch đang tìm mọi cách để chống phá cách mạng Việt Nam trênmọi phương diện Ở trong nước, kinh tế của chúng ta tuy đã có những chuyểnbiến nhất định trong 10 năm qua song về căn bản nền kinh tế của chúng tađang gặp rất nhiều khó khăn Với phương châm, cách nhìn nhận đánh giá tìnhhình là nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật Đại hộiđại biểu toàn quốc lần VI của Đảng họp tại Hà Nội từ ngày 15 đến 18 – 12 -

1986 đã phân tích toàn bộ những thành tựu, cũng như những hạn chế trong 10năm đầu cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Đại hội cũng chỉ ra đượcnhững nguyên nhân dẫn tới những yếu kém của đất nước, thẳng thắn nhìnnhận những khuyết điểm và nghiêm túc rút ra những bài học kinh nghiệm sâusắc để từ đó đưa ra đường lối đổi mới đất nước Đại hội lần thứ VI đã xácđịnh nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặngđường đầu tiên là “Ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xâydựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủnghĩa trong chặng đường tiếp theo Ổn định tình hình kinh tế - xã hội bao gồm

Trang 39

cả ổn định sản xuất, ổn định phân phối, lưu thông, ổn định đời sống vật chấtvà văn hóa, tăng cường hiệu lực của tổ chức quản lý, lập lại trật tự, kỷ cươngvà thực hiện công bằng xã hội Ổn định và phát triển gắn liền với nhau trongquá trình vận động tiến lên, ổn định để phát triển và có phát triển mới ổn địnhđược” [37, Tr.723 - 724].

Đại hội cũng xác định các mục tiêu chủ yếu về kinh tế, xã hội chonhững năm còn lại của chặng đường đầu tiên là: “Sản xuất đủ tiêu dùng và cótích lũy; bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất;xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chấtvà trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; tạo ra chuyển biến tốt về mặt xãhội” [37, Tr.832] Đường lối đổi mới mà Đảng ta đưa ra là nhằm đưa đất nước

đi lên chủ nghĩa xã hội chứ không phải là thay đổi mục tiêu của chủ nghĩa xãhội, mà làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quanđiểm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, những hình thức, bước đi, biện pháp thíchhợp Đường lối đổi mới mà Đảng ta thực hiện được tiến hành đồng bộ, từkinh tế, chính trị đến tổ chức, tư tưởng và văn hóa Đổi mới kinh tế phải gắnliền với đổi mới chính trị nhưng trọng tâm là đổi mới kinh tế Đường lối đổimới kinh tế mà Đảng ta đề ra được thể hiện ở mấy vấn đề cơ bản sau:

* Đổi mới cơ cấu sản xuất:

Để đưa đất nước sớm thoát khỏi tình trạng rối ren, mất cân đối thì nhấtthiết phải sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý Đại hội đã xácđịnh “Trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên, trước mắt là trong

kế hoạch 5 năm 1986 - 1990, phải thật sự tập trung sức người, sức của vàoviệc thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu về lương thực - thực phẩm,hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu” [37, Tr.728] Để thực hiện được mục tiêutrên phải coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu Do đó, nông nghiệp phải được

ưu tiên đáp ứng những nhu cầu về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, về vật

Trang 40

tư, về lao động kỹ thuật Đầu tư cho nông nghiệp phải đồng bộ từ sản xuấtđến chế biến, vận chuyển và bảo quản sản phẩm Phát triển nông nghiệp phảicó sự cân đối giữa trồng trọt và chăn nuôi, cây lương thực và cây côngnghiệp, lúa và cây màu, phải chú trọng thâm canh tăng vụ và có chính sách vềruộng đất hợp lý

Đối với công nghiệp nặng và xây dựng kết cấu hạ tầng phải ưu tiênphát triển công nghiệp năng lượng Ngành công nghiệp cơ khí của tất cả các

bộ và các địa phương phải được sắp xếp lại, đồng bộ hoá, chuyên môn hoá,từng bước đổi mới thiết bị Về cơ sở hạ tầng thì phải chú trọng phát triển giaothông vận tải, thông tin liên lạc

Đối với công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp, phải khai thác triệt đểmọi nguồn nguyên liệu, tổ chức lại sản xuất, đầu tư chiều sâu và đầu tư đồng

bộ Các cơ sở sản xuất phải gắn với thị trường Phát triển công nghiệp nhẹtrước hết dựa vào việc tổ chức lại sản xuất, đầu tư chiều sâu và đầu tư đồng

bộ để tận dụng công suất thiết bị của các cơ sở hiện có; coi trọng các cơ sở cónăng lực và hiệu suất chế biến cao Sử dụng hợp lý khả năng sản xuất hàngtiêu dùng của các xí nghiệp công nghiệp nặng, xí nghiệp quốc phòng Cóchính sách đúng đắn huy động rộng rãi nguồn vốn và kỹ thuật của nhân dân,kể cả của Việt kiều, để phát triển các cơ sở làm ra nguyên liệu và cơ sở chếbiến dưới nhiều hình thức Phát triển và củng cố các cơ sở kinh tế quốc doanhtrong những khâu chi phối quá trình sản xuất và lưu thông

* Đổi mới quan hệ sản xuất

Trên cơ sở phân tích những tiềm năng tuy phân tán nhưng rất quan trọngtrong nhân dân, cả về sức lao động, kỹ thuật, tiền vốn, khả năng tạo việc làm,chúng ta chủ trương: Đi đôi với việc phát triển kinh tế quốc doanh, kinh tế tậpthể, tăng cường nguồn tích luỹ tập trung của Nhà nước và tranh thủ vốn ngoàinước, cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế

Ngày đăng: 20/12/2013, 18:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Kim Sơn (1991), Lịch sử Đảng bộ huyện Kim Sơn tập 1 (1945 - 1954), NXB Bộ công nghiệp nặng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Kim Sơn tập 1 (1945 - 1954)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Kim Sơn
Nhà XB: NXB Bộ công nghiệp nặng
Năm: 1991
2. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Kim Sơn (2006), Lịch sử Đảng bộ huyện Kim Sơn tập 3 (1975 - 2005), NXBĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Kim Sơn tập 3 (1975 - 2005)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Kim Sơn
Nhà XB: NXBĐHQG Hà Nội
Năm: 2006
3. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Kim Sơn (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Kim Sơn lần thứ XXII, nhiệm kỳ 2010 - 2015, NXB Thành Lộc, TP.Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Kim Sơn lần thứ XXII, nhiệm kỳ 2010 - 2015
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Kim Sơn
Nhà XB: NXB Thành Lộc
Năm: 2010
4. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Ninh Bình (2005), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Ninh Bình tập 2, NXBCTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Ninh Bình tập 2
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Ninh Bình
Nhà XB: NXBCTQG
Năm: 2005
5. Ban tư tưởng văn hóa TW (1993), Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn
Tác giả: Ban tư tưởng văn hóa TW
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 1993
6. Ban tuyên giáo tỉnh ủy Ninh Bình (2007), Ninh Bình 185 năm lịch sử và phát triển, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ninh Bình 185 năm lịch sử và phát triển
Tác giả: Ban tuyên giáo tỉnh ủy Ninh Bình
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2007
7. Lã Đăng Bật (2010), Kim Sơn vùng đất mở, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kim Sơn vùng đất mở
Tác giả: Lã Đăng Bật
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2010
8. Nguyễn Văn Bích (1994), Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp thành tựu và vấn đề triển vọng, NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp thành tựu và vấn đề triển vọng
Tác giả: Nguyễn Văn Bích
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 1994
9. Chỉ thị 100 CT/TW của ban bí thư TW Đảng… (1983), NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 100 CT/TW của ban bí thư TW Đảng
Tác giả: Chỉ thị 100 CT/TW của ban bí thư TW Đảng…
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1983
10. Trường Chinh (1987), Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của đất nước và thời đại, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của đất nước và thời đại
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1987
11. Chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về tiếp tục đổi mới và phát triển nông nghiệp nông thôn (1994), NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về tiếp tục đổi mới và phát triển nông nghiệp nông thôn
Tác giả: Chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về tiếp tục đổi mới và phát triển nông nghiệp nông thôn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1994
12. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn: Những vấn đề lý luận và thực tiễn (1998), NXBCTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn: Những vấn đề lý luận và thực tiễn (1998)
Tác giả: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn: Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Nhà XB: NXBCTQG
Năm: 1998
13. Võ Chí Công (1989), Những vấn đề cơ bản trong đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta
Tác giả: Võ Chí Công
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1989
14. Cục Thống kê Ninh Bình (1992), Niên giám thống kê 1991, NXB Bộ tổng tham mưu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 1991
Tác giả: Cục Thống kê Ninh Bình
Nhà XB: NXB Bộ tổng tham mưu
Năm: 1992
15. Cục Thống kê Ninh Bình (1995), Thực trạng kinh tế - xã hội và con đường làm giàu ở nông thôn Ninh Bình thời kỳ đổi mới, NXB Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kinh tế - xã hội và con đường làm giàu ở nông thôn Ninh Bình thời kỳ đổi mới
Tác giả: Cục Thống kê Ninh Bình
Nhà XB: NXB Ninh Bình
Năm: 1995
16. Cục Thống kê Ninh Bình (1998), Niên giám thống kê 1997, NXB Cục Thống kê, Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 1997
Tác giả: Cục Thống kê Ninh Bình
Nhà XB: NXB Cục Thống kê
Năm: 1998
17. Cục Thống kê Ninh Bình (2005), Ninh Bình 50 năm xây dựng và phát triển (1955 - 2004), NXB Cục Thống kê, Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Ninh Bình 50 năm xây dựng và phát triển (1955 - 2004)
Tác giả: Cục Thống kê Ninh Bình
Nhà XB: NXB Cục Thống kê
Năm: 2005
18. Cục Thống kê Ninh Bình (2006), Số liệu thống kê xã, phường, thị trấn 1995 - 2005, NXB Cục Thống kê, Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thống kê xã, phường, thị trấn 1995 - 2005
Tác giả: Cục Thống kê Ninh Bình
Nhà XB: NXB Cục Thống kê
Năm: 2006
19. Cục Thống kê Ninh Bình (2010), Niên giám thống kê huyện Kim Sơn 2010, NXB Cục thống kê Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê huyện Kim Sơn 2010
Tác giả: Cục Thống kê Ninh Bình
Nhà XB: NXB Cục thống kê Ninh Bình
Năm: 2010
20. Lê Đăng Doanh (1997), Cơ sở khoa học của công cuộc đổi mới kinh tế của Việt Nam, NXBCTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Cơ sở khoa học của công cuộc đổi mới kinh tế của Việt Nam
Tác giả: Lê Đăng Doanh
Nhà XB: NXBCTQG
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tình hình sản xuất lúa của Kim Sơn từ 1981 - 1985 - Sự chuyển biến kinh tế của huyện kim sơn (tỉnh ninh bình) trong thời kỳ đổi mới luận văn thạc sĩ lịch sử
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất lúa của Kim Sơn từ 1981 - 1985 (Trang 31)
Bảng 1.2. Ngành chăn nuôi gia súc ở Kim Sơn từ 1981 - 1985 - Sự chuyển biến kinh tế của huyện kim sơn (tỉnh ninh bình) trong thời kỳ đổi mới luận văn thạc sĩ lịch sử
Bảng 1.2. Ngành chăn nuôi gia súc ở Kim Sơn từ 1981 - 1985 (Trang 32)
Bảng 2.3. Tình hình sản xuất lúa của Kim Sơn (1991 - 1995) - Sự chuyển biến kinh tế của huyện kim sơn (tỉnh ninh bình) trong thời kỳ đổi mới luận văn thạc sĩ lịch sử
Bảng 2.3. Tình hình sản xuất lúa của Kim Sơn (1991 - 1995) (Trang 54)
Bảng 2.4. Tình hình sản xuất cói của Kim Sơn từ 1990 - 1995 - Sự chuyển biến kinh tế của huyện kim sơn (tỉnh ninh bình) trong thời kỳ đổi mới luận văn thạc sĩ lịch sử
Bảng 2.4. Tình hình sản xuất cói của Kim Sơn từ 1990 - 1995 (Trang 58)
Bảng 2.5. Diện tích các loại cây trồng khác từ 1986- 1995 - Sự chuyển biến kinh tế của huyện kim sơn (tỉnh ninh bình) trong thời kỳ đổi mới luận văn thạc sĩ lịch sử
Bảng 2.5. Diện tích các loại cây trồng khác từ 1986- 1995 (Trang 60)
Bảng 2.6. Tình hình phát triển đàn gia súc ở Kim Sơn từ 1986 - 1995 - Sự chuyển biến kinh tế của huyện kim sơn (tỉnh ninh bình) trong thời kỳ đổi mới luận văn thạc sĩ lịch sử
Bảng 2.6. Tình hình phát triển đàn gia súc ở Kim Sơn từ 1986 - 1995 (Trang 62)
Bảng 2.7. Tình hình nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản của huyện Kim Sơn từ năm 1991 - 1995 - Sự chuyển biến kinh tế của huyện kim sơn (tỉnh ninh bình) trong thời kỳ đổi mới luận văn thạc sĩ lịch sử
Bảng 2.7. Tình hình nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản của huyện Kim Sơn từ năm 1991 - 1995 (Trang 68)
Bảng 3.1. Tình hình sản xuất lúa của Kim Sơn (1996 - 2011) - Sự chuyển biến kinh tế của huyện kim sơn (tỉnh ninh bình) trong thời kỳ đổi mới luận văn thạc sĩ lịch sử
Bảng 3.1. Tình hình sản xuất lúa của Kim Sơn (1996 - 2011) (Trang 88)
Bảng 3.2. Tình hình sản xuất lúa qua 2 vụ của Kim Sơn - Sự chuyển biến kinh tế của huyện kim sơn (tỉnh ninh bình) trong thời kỳ đổi mới luận văn thạc sĩ lịch sử
Bảng 3.2. Tình hình sản xuất lúa qua 2 vụ của Kim Sơn (Trang 91)
Bảng 3.3. Tình hình sản xuất rau đậu và các cây lương thực khác - Sự chuyển biến kinh tế của huyện kim sơn (tỉnh ninh bình) trong thời kỳ đổi mới luận văn thạc sĩ lịch sử
Bảng 3.3. Tình hình sản xuất rau đậu và các cây lương thực khác (Trang 93)
Bảng 3.4. Diện tích, sản lượng cây công nghiệp hàng năm - Sự chuyển biến kinh tế của huyện kim sơn (tỉnh ninh bình) trong thời kỳ đổi mới luận văn thạc sĩ lịch sử
Bảng 3.4. Diện tích, sản lượng cây công nghiệp hàng năm (Trang 94)
Bảng 3.5. Tình hình ngành chăn nuôi ở Kim Sơn giai đoạn 1996 - 2011 - Sự chuyển biến kinh tế của huyện kim sơn (tỉnh ninh bình) trong thời kỳ đổi mới luận văn thạc sĩ lịch sử
Bảng 3.5. Tình hình ngành chăn nuôi ở Kim Sơn giai đoạn 1996 - 2011 (Trang 96)
Bảng 3.6. Tình hình phát triển ngành thủy hải sản giai đoạn 2005 - 2011. - Sự chuyển biến kinh tế của huyện kim sơn (tỉnh ninh bình) trong thời kỳ đổi mới luận văn thạc sĩ lịch sử
Bảng 3.6. Tình hình phát triển ngành thủy hải sản giai đoạn 2005 - 2011 (Trang 99)
Bảng 3.7. Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu - Sự chuyển biến kinh tế của huyện kim sơn (tỉnh ninh bình) trong thời kỳ đổi mới luận văn thạc sĩ lịch sử
Bảng 3.7. Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu (Trang 104)
Bảng 3.8. Giá trị sản xuất công nghiệp phân theo ngành (2005 - 2010)  (Giá so sánh năm 1994) - Sự chuyển biến kinh tế của huyện kim sơn (tỉnh ninh bình) trong thời kỳ đổi mới luận văn thạc sĩ lịch sử
Bảng 3.8. Giá trị sản xuất công nghiệp phân theo ngành (2005 - 2010) (Giá so sánh năm 1994) (Trang 105)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w