1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh vẻ đẹp của người phụ nữ trong ca dao và thơ nôm hồ xuân hương

87 2,5K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh vẻ đẹp của người phụ nữ trong ca dao và thơ nôm hồ xuân hương
Tác giả Phạm Thị Hồng My
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 442 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong sách giáo khoa môn Ngữ văn ở trường THCS và THPT, một số bàica dao người Việt và một vài bài thơ Nôm Hồ Xuân Hương có nội dung trữ tình về vẻ đẹp của người phụ nữ đã và đang được t

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong kho tàng ca dao người Việt và trong thơ Nôm của Hồ Xuân Hương,

người phụ nữ Việt Nam được tái hiện với những vẽ đẹp đã trở thành truyền thống,đáng trân trọng! Thực tế đó đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu văn học ởnước ta cũng như ở một số nước trên thế giới khi đến với ca dao, nhất là khi đi vàothế giới nghệ thuật thơ Nôm của nữ sĩ họ Hồ Tuy nhiên, sự chú ý của họ dườngnhư chỉ mới dừng lại ở việc tìm hiểu vẻ đẹp của người phụ nữ trong từng loại sángtác: hoặc trong ca dao hoặc trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương mà chưa có sự kết hợpgiữa hai loại đó để có cái nhìn đối sánh (Điều đó sẽ được làm rõ trong phần “Lịch

sử vấn đề” ở khóa luận này) Vì vậy, để góp phần làm nổi bật sự gặp gỡ thú vị trongcảm hứng sáng tác giũa tác giả dân gian và một nhà thơ có cá tính, chúng tôi chọn

vấn đề: “So sánh vẻ đẹp của người phụ nữ trong ca dao và trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương” làm đề tài khóa luận.

1.2 Như chúng ta đã biết, ca dao trong văn học dân gian và thơ Nôm trong văn

học trung đại Việt Nam tuy thuộc hai bộ phận văn học có phương thức sáng táckhác nhau, có đặc điểm thi pháp không giống nhau nhưng luôn có mối quan hệ ảnhhưởng, tác động qua lại Mối quan hệ đó diễn ra trên cả hai phương diện: nội dung

và hình thức Nhằm làm sáng tỏ sự ảnh hưởng, tác động qua lại giữa hai bộ phậnvăn học trong tiến trình văn học nước nhà như một quy luật tất yếu, khách quan,vấn đề mà chúng tôi quan tâm sẽ là những minh chứng từ cảm hứng sáng tạo cóchung cội nguồn trong ca dao và thơ Nôm Hồ Xuân Hương về vẻ đẹp của ngườiphụ nữ

Trang 2

1.3 Trong sách giáo khoa môn Ngữ văn ở trường THCS và THPT, một số bài

ca dao người Việt và một vài bài thơ Nôm Hồ Xuân Hương có nội dung trữ tình về

vẻ đẹp của người phụ nữ đã và đang được tuyển chọn để dạy và học Vì thế, việc sosánh vẻ đẹp của người phụ nữ trong ca dao và trong thơ Nôm của nữ sĩ họ Hồ nếuđược giải quyết thấu đáo thì sẽ giúp cho việc giảng dạy các tác phẩm được tuyểnchọn đạt hiệu quả cao hơn, làm cho người học thấy rõ hơn mối liên hệ giữa văn họcdân gian và văn học trung đại

2 Nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Do yêu cầu của việc so sánh, đối chiếu cho nên tìm hiểu vẻ đẹp của người

phụ nữ trong ca dao và trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương đòi hỏi người thực hiện cầnchỉ ra những điểm tương đồng và những chỗ khác biệt của vấn đề đó trên cơ sở củaviệc khảo sát, thống kê và phân tích một số tác phẩm cụ thể Những tác phẩm đượcdùng để xem xét, phân tích trong kho tàng ca dao và trong thơ Nôm của nữ sĩ họ Hồphải là những tác phẩm có cùng tiếng nói về người phụ nữ và vì người phụ nữ

2.2 Vấn đề mà chúng tôi quan tâm không dừng lại ở việc chỉ ra những biểu

hiện cụ thể về sự tương đồng, khác biệt (trả lời câu hỏi như thế nào ?) mà còn phải

lý giải nguyên nhân tạo nên sự tương đồng và khác biệt đó khi cùng thể hiện nguồncảm hứng về vẻ đẹp của người phụ nữ trong ca dao và trong thơ Nôm Hồ XuânHương

3 Phạm vi nghiên cứu

- Như đã trình bày ở phần nhiệm vụ nghiên cứu, do ca dao và thơ Nôm HồXuân Hương hết sức phong phú, đa dạng trong nội dung trữ tình về người phụ nữcho nên chúng tôi giới hạn vấn đề ở một số bài thể hiện rõ nhất cảm hứng ngợi ca,khẳng định vẻ đẹp của người phụ nữ trong hai loại sáng tác đó Riêng ca dao, chúngtôi chọn khoảng 50 bài có nội dung như vậy để tương ứng số lượng bài thơ Nôm HồXuân Hương

Trang 3

- Đối với ca dao, chúng tôi chọn các câu, các bài trong cuốn: Kho tàng ca dao

người Việt của tác giả Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật, Nxb Văn hóa – Thông

tin, H.2001

- Đối với thơ Nôm Hồ Xuân Hương, chúng tôi dựa vào cuốn sách: Hồ Xuân

Hương, tác phẩm chọn lọc, do Phạm Thị Thu Hương – Lại Văn Hùng – Trần Văn

Trọng biên soạn, Nxb Giáo dục, 2009

4 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết vấn đề, căn cứ vào mục đích và đối tượng nghiên cứu đã đượctrình bày ở trên, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau đây:

- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại:

Phương pháp này tạo tiền đề để có cái nhìn tổng thể, khái quát về vẻ đẹp củangười phụ nữ trong ca dao và trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương

- Phương pháp so sánh:

Đây là phương pháp chủ đạo nhằm chỉ ra những điểm tương đồng, khác biệt

về vẻ đẹp của con người đó trong hai loại sáng tác

- Phương pháp phân tích, tổng hợp:

Đây là phương pháp được vận dụng khi đi vào phân tích các tác phẩm cụ thể

Do vẻ đẹp của người phụ nữ trong ca dao và trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương là

vẻ đẹp trong quá khứ cho nên để có cái nhìn đúng đắn, chúng tôi còn xem xétvấn đề trên quan điểm lịch sử - cụ thể

5 Lịch sử vấn đề

Tìm hiểu vẻ đẹp của người phụ nữ trong ca dao người Việt và trong thơ Nôm

Hồ Xuân Hương đã được đề cập trong nhiều công trình của các nhà nghiên cứu vănhọc có tên tuổi ở nước ta cũng như ở một số nước trên thế giới

5.1 Việc tìm hiểu vẻ đẹp người phụ nữ trong ca dao

Trang 4

Trong các giáo trình văn học dân gian Việt Nam, trong các chuyên luận và một

số bài báo, việc tìm hiểu này đã đạt được những thành tựu đánh kể Ở nước ta, ôngHoàng Tiến Tựu là một trong số những người đã dành nhiều trang viết để nói về vẻ

đẹp của người phụ nữ trong ca dao Trong cuốn giáo trình Văn học dân gian Việt

Nam, tập 2, Nxb Giáo dục, 1990, ở mục: Hai nhân vật trữ tình chủ yếu của ca dao tình yêu…, tác giả Hoàng Tiến Tựu cho rằng: “Trong ca dao tỏ tình, không có chàng trai, cô gái nào xấu, tất cả đều xinh đẹp và tươi sáng khác thường” [35,

162] Từ những lời nhận xét, đánh giá có tính khái quát đó, ông Hoàng Tiến Tựu đã

đi vào bình giảng một số bài ca dao mà phần lớn là những bài có nội dung trữ tình

vể vẻ đẹp của người phụ nữ (như các bài: Khi xưa anh bủng anh beo…, Quả cau

nho nhỏ, Gặp đây mận mới hỏi đào…) Tất cả những bài đó theo tác giả đều là

những bài thể hiện vẻ đẹp đáng trân trọng của người phụ nữ Việt Nam

(Xin xem cuốn Bình giảng ca dao của Hoàng Tiến Tựu, Nxb Giáo dục, 1989).

Trong cuốn sách Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, tái

bản lần thứ tư, 1978, ông Vũ Ngọc Phan cũng đã đưa ra những nhận xét về vẻ đẹp

của người phụ nữ trong ca dao Theo ông: “Cô gái nông thôn nước ta ăn mặc giản

dị: cái áo cánh, cái quần vải thâm, cái khăn mỏ quạ, vẻ mặt tươi giòn, miệng cười như hoa, cặp mắt trong sáng,…nên đã có câu: Cổ tay em trắng như ngà…” [23,

161] Cũng trong cuốn sách này, tác giả Vũ Ngọc Phan xem xét vẻ đẹp người phụ

nữ trong ca dao trong mối quan hệ với quan niệm thẩm mỹ của người phương

Đông Ông viết: “Quan niệm về vẻ đẹp của người phụ nữ phương Đông cũng hay

nhận xét về tính tình, về đạo đức của con người qua cặp mắt…” [23, 162] Tác giả

cuốn sách còn dành một số trang để bàn về vẻ đẹp bên ngoài và bên trong của người

phụ nữ được thể hiện trong ca dao: “Về thân hình con người, nhân dân ta chú ý tới

đường nét Đôi khi qua cái đẹp về đường nét, người ta còn đi quá xa, đánh giá cả đức hạnh người phụ nữ qua đường nét của thân hình… Thật ra người ta chuộng

Trang 5

người về cả sắc đẹp và đạo đức mà thường thì đạo đức vẫn được coi trọng hơn”

[23, 162]

Trong chuyên luận Thi pháp ca dao, Nxb Khoa học xã hội, tái bản lần hai,

2000, ông Nguyễn Xuân Kính lại chỉ ra cách thức thể hiện vẻ đẹp của người phụ nữtrong ca dao qua một số biểu tượng như hoa nhài, con cò, con bống,…

Như vậy, việc tìm hiểu vẻ đẹp của người phụ nữ trong ca dao ở nước ta đã đidần từ nội dung trữ tình đến cách thức thể hiện Đây là những gợi ý quan trọng giúpchúng tôi tiếp tục đi sâu tìm hiểu vấn đề này trong ca dao

5.2 Việc tìm hiểu vẻ đẹp của người phụ nữ trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương

Nhìn một cách tổng quát, hầu hết các công trình nghiên cứu về thơ Nôm của nữ

sĩ họ Hồ từ trước tới nay ít hay nhiều, đậm hay nhạt, trực tiếp hay gián tiếp đều cónói tới vẻ đẹp này Ngoài các giáo trình phần văn học Việt Nam trung đại, các cuốnsách tham khảo dùng trong nhà trường, còn có các bài viết về thơ Nôm Hồ XuânHương đã được ông Nguyễn Hữu Sơn và Vũ Thanh tuyển chọn, giới thiệu trong

cuốn Hồ Xuân Hương về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, 2003 Trong tổng số

40 bài viết được giới thiệu trong cuốn sách đó, có một số bài nói về vẻ đẹp củangười phụ nữ được thể hiện trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương Đó là các bài củaXuân Diệu, Đỗ Lai Thúy, Nguyễn Hữu Sơn, Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Đăng Na…Do

số lượng bài viết khá nhiều, ý kiến rất phong phú cho nên chúng tôi chỉ có thể tríchdẫn một sô ý kiến để chứng minh cho sự nhìn nhận, đánh giá về thơ Nôm của nữ sĩ

họ Hồ trong việc bộc lộ cảm hứng về vẻ đẹp của người phụ nữ

Trong chuyên luận: Hồ Xuân Hương – bà chúa thơ Nôm, (đã được tuyển chọn

trong cuốn của Nguyễn Hữu Sơn – Vũ Thanh nên ghi chú số trang của lời đượctrích dẫn là theo cuốn sách này), tác giả Xuân Diệu đưa ra một vài nhận xét:

“Người phụ nữ vẫn bao dung, mang mẻ vẫn là người mẹ của cuộc đời, tuy oán giận

Trang 6

nhưng vẫn tha thứ, tuy nghìn vạn cực nhục nhưng vẫn hy vọng, sự sống đã xuyên qua cơ thể của nàng mà tiến lên thêm một thế hệ” [26, 208] Đi vào thẩm bình một

bài cụ thể, Xuân Diệu đã có sự cảm nhận tinh tế: “Tôi thấy bài thơ trên đây là một

bài thơ lớn Chỉ lấy một nét, một nét hiện thực, Xuân Hương đã tỏ đến cao độ lòng yêu thương của người phụ nữ” [26, 210]

Đỗ Lai Thúy trong công trình Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực lại nói

nhiều về những nét độc đáo trong cách thể hiện vẻ đẹp của người phụ nữ trong thơ

bà Theo tác giả: “Có điều là ở đây những vẻ đẹp của người phụ nữ lần đầu tiên

được nhìn bằng con mắt của phụ nữ…, sau đó là sự ngợi ca vẻ đẹp thân thể của người phụ nữ, nhất là những bộ phận gợi dục” [30, 289].

Trong bài Thế giới thơ Nôm Hồ Xuân Hương, tác giả Đỗ Đức Hiểu đã có

những phát hiện về vẻ đẹp người phụ nữ được nói tới trong tập thơ này Tác giả chỉ

ra “Mô típ trắng son khẳng định cái đẹp vĩnh cửu của người phụ nữ” [10, 396] Mô

típ độc đáo này sau đó được nhắc lại trong bài viết của Nguyễn Đăng Na mà chúngtôi sẽ đề cập ở phần tiếp theo và kể cả trong chuyên luận của Đỗ Lai Thúy nói tới ởtrên

Rõ ràng, trong việc tìm hiểu vẻ đẹp của người phụ nữ trong thơ Nôm Hồ XuânHương, nhiều nhà nghiên cứu đều tập trung xem xét về sự độc đáo, những nét mới

lạ của bà khi thể hiện nguồn cảm hứng lớn này

5.3 Một số ý kiến có ý nghĩa so sánh về vẻ đẹp của người phụ nữ trong ca dao và trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương

Trong công trình Thơ Hồ Xuân Hương với văn học dân gian, tác giả Nguyễn Đăng Na đưa ra nhận xét khá thỏa đáng: “Phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ là

điều khẳng định Thế nhưng ca dao hay than cho phẩm hạnh của họ bị vùi dập hoặc “Thơm tho ai biết, ngát lừng ai hay” Xuân Hương không chỉ ca ngợi cái đẹp tiềm tàng, cái đẹp về nội dung của người phụ nữ như ca dao mà còn ngợi ca cái

Trang 7

đẹp hài hòa giữa tâm hồn và thể chất, giữa nội dung và hình thức của họ” [21,

367]

Trong công trình của Đỗ Lai Thúy đã dẫn ở trên, đây đó tác giả cũng chỉ ra sựkhác nhau trong cách thể hiện vẻ đẹp của người phụ nữ trong ca dao và thơ Nôm

Hồ Xuân Hương Ông viết: “…Bởi vậy, trong tâm thức cũng như trong truyền

thống văn hóa, người ta thường ví người đàn bà với trăng Nhưng chỉ từ Hồ Xuân Hương thì trăng mới được ví như thân thể đàn bà” [30, 284 – 285].

Xem xét thơ Nôm Hồ Xuân Hương trong mối quan hệ với văn hóa dân gian,

trong đó có ca dao, tục ngữ, trong bài Thế giới thơ Nôm Hồ Xuân Hương, Đỗ Đức Hiểu đã cho ta cái nhìn tổng quát: “Thơ Hồ Xuân Hương chủ yếu là ngày hội của

bản năng, một Festival của cơ thể người phụ nữ, một đám rước dân gian náo nhiệt” [10, 390].

Cũng đặt trong mối quan hệ này, tác giả Trương Xuân Tiếu trong bài viết:

Thành ngữ và tục ngữ tiếng Việt với thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương,

cũng đã xem xét cách thể hiện vẻ đẹp người phụ nữ từ nguồn chất liệu văn hóa dângian

Điểm qua một số công trình có liên quan tới vẻ đẹp mà chúng tôi quan tâmtrong khóa luận này, chúng ta có thể thấy rõ một thực tế: đây là vẻ đẹp đã thu hút sựchú ý của nhiều nhà nghiên cứu Tiếp thu những thành tựu của những người đitrước, nhất là những gợi ý trong các công trình của Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đăng

Na, Đỗ Lai Thúy…, chúng tôi tiếp tục tìm hiểu vấn đề “So sánh vẻ đẹp của người phụ nữ trong ca dao và trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương”.

6 Bố cục của khóa luận

Gồm 3 phần: Mở đầu, nội dung chính và kết luận

Phần nội dung chính có 3 chương:

- Chương 1 Những vấn đề chung

Trang 8

- Chương 2 Nhưng điểm tương đồng về vẻ đẹp của người phụ nữ trong ca dao

và trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương

- Chương 3 Những điểm khác biệt về vẻ đẹp của người phụ nữ trong ca dao vàtrong thơ Nôm Hồ Xuân Hương

Ngoài 3 phần đó còn có phần Tài liệu tham khảo và Mục lục

Trang 9

B PHẦN NỘI DUNG CHÍNH

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Ca dao Việt Nam

1.1.1 Về khái niệm ca dao

Ở nước ta khi giải thích khái niệm “ca dao”, các nhà nghiên cứu đã đưa ra

nhiều ý kiến và có những chỗ cần phải bàn thêm

Nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm cho rằng: “Ca dao là những bài hát ngắn

lưu hành trong dân gian thường tả tính tình, phong tục của người bình dân” (dẫn

theo cuốn Văn học dân gian Việt Nam, tập 2 của Hoàng Tiến Tựu) [35, 36] Định

nghĩa này đã khái quát được đặc trưng bản chất của ca dao Mà cụ thể là những tácphẩm được gọi là ca dao tồn tại trong thực tế dưới hình thức là những bài hát ngắn.Nhân dân lao động sáng tác ra những bài ca dao để hát chứ không nói như tục ngữ,

cũng không phải ngâm như thơ Bản thân tên gọi “ca dao” là một từ ghép Hán Việt Trong đó từ thứ nhất “ca” theo nghĩa Hán cũng có nghĩa là hát, nhưng khi bài hát

được gọi là ca tức đó là những bài trở thành khúc điệu tương đối chuẩn mực, được

gọi là ca khúc dân gian “Dao” cũng là hát nhưng loại bài hát chưa trở thành khúc điệu, tức hát tương đối tự do (đồng dao) Ca dao – một thuật ngữ Hán Việt, tác giả Minh Hiệu cho rằng: “Ở nước ta, thuật ngữ ca dao vốn là một từ Hán Việt được

dùng rất muộn, có thể muộn đến hàng ngàn năm so với thời gian đã có những câu

ví, câu hát” [11] Còn theo tác giả Cao Huy Đỉnh thì: “Dân ca và văn truyền miệng của dân tộc Việt Nam ra đời rất sớm, và ở thời đại đồ đồng, chắc nó đã phồn thịnh

và phức tạp Trình độ sáng tác và biểu diễn cũng tương đối cao, nghệ sĩ cũng ra đời với ca công và nhạc cụ tinh tế” (dẫn theo cuốn Thư mục văn hóa dân gian của

Trang 10

Nguyễn Hồng Lý, Nxb Khoa học xã hội, 1999) Quay trở lại với khái niệm “Ca

dao” của Dương Quảng Hàm, với những đặc trưng bản chất của ca dao, ta thấy khi

ông nói lưu hành trong dân gian tức nó mang đầy đủ đặc trưng của văn học dângian Khi đưa ra khái niệm này, Dương Quảng Hàm cũng đã đề cập tới nội dung của

ca dao tức ca dao thường tả tính tình, phong tục của người bình dân Đây là nhữngvấn đề rất quen thuộc, bình dị của người dân lao động Vì thế, trước đây người ta

gọi ca dao là “Hồn thơ đất nước” Dương Quảng Hàm vốn là một nhà nho học,

cũng như quan niệm của các nhà nho trước đây khi xem xét giá trị nội dung của cadao thì người ta chú trọng nhiều đến giá trị giáo huấn của nó thường tả tính tình,

phong tục của người bình dân Trước đây, các nhà nho đã từng gọi “ca dao” bằng một cái tên khác đó là “phong dao”, tức bài hát có liên quan đến phong tục Như vậy, chúng ta thấy định nghĩa “ca dao” của Dương Quảng Hàm nhìn chung là đúng

nhưng dù sao vẫn có những hạn chế cần khắc phục Về cơ bản, nó trùng với địnhnghĩa về dân ca, chưa chỉ ra được ranh giới giữa ca dao và dân ca Để khắc phục

điều đó, hàng loạt các định nghĩa đã ra đời: “Ca dao là phần lời cốt lõi trong các

làn điệu dân ca sau khi đã bỏ đi phần đệm, tiếng đưa hơi, có thể bẻ thành các làn điệu khác nhau” (Vũ Ngọc Phan) Hay nhà thơ Chế Lan Viên cho rằng: “Ca dao cũng là thơ nhưng là một loại thơ riêng biệt” Thời gan gần đây, nhiều nhà nghiên

cứu đã thống nhất cho rằng: “Ca dao là một thuật ngữ chỉ loại thơ ca dân gian

truyền miệng dưới hình thức những câu hát không theo một nhịp điệu nhất định”

[24, 96]

1.1.2 Một số đặc điểm thi pháp ca dao

(Trong phần này, chúng tôi chỉ trình bày một số phương diện có liên quan tới

việc thể hiện vẻ đẹp của người phụ nữ)

1.1.2.1 Thể thơ trong ca dao

Trang 11

Trong ca dao, tác giả dân gian sử dụng hầu hết các thể thơ trong văn học viết

để sáng tác như thể lục bát, song thất lục bát… trong đó thể lục bát là thể chiếm sốlượng nhiều nhất Theo thống kê đáng tin cậy thì thể thơ này chiếm khoảng 95%còn khoảng 5% dành cho các thể thơ khác Như vậy, thể thơ lục bát gắn với ca daonhư hình với bóng Thể lục bát trong ca dao có một số đặc điểm như: cấu trúc củamột câu thơ lục bát gồm hai dòng thơ, dòng trên 6 chữ, dòng dưới 8 chữ:

Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Thể lục bát trong ca dao có hai loại là lục bát chính thể và lục bát biến thể.Trong đó, lúc bát biến thể phổ biến rộng trong ca dao và có số lượng lớn Hiệntượng biến thể với sự thay đổi số tiếng trong mỗi dòng thơ tăng hoặc giảm là hiện

tượng rất dễ bắt gặp trong ca dao Trong khi đó toàn bộ Truyện Kiều của Nguyễn

Du gồm 3254 dòng thơ lục bát không có hiện tượng biến thể, tất cả đều là lục bátchính thể Theo giáo sư Nguyễn Xuân Kính, sở dĩ lục bát biến thể xuất hiện nhiềutrong ca dao là vì nó có liên quan tới tâm lý của người nông dân Việt Nam, hay đó

là sản phẩm tâm lý sáng tạo của người nông dân Việt Nam Người nông dân ViệtNam bao đời nay rất thích sống tự do phóng khoáng, không ưa những cái gì là gò

bó, là chuẩn mực Như vậy, tâm lý ấy được phả vào hiện tượng biến thể trong cadao Và cũng do không ưa những cái gì gò bó, chuẩn mực cho nên trong ca daonhân dân lao động không sử dụng thể thơ Đường luật

Xét về cách gieo vần thì thể thơ lục bát trong ca dao dù là chính thể hay biếnthể đều là câu có vần, cách gieo vần vừa có gieo vần lưng vừa có gieo vần chân.Trong đó, theo Nguyễn Xuân Đức thì vần lưng là vần chủ lực còn vần chân là vầnchờ Việc gieo vần chân có tác dụng làm cho các cặp câu lục bát trong bài kết thànhmột khối, và khi người ta hát lên thì nó liền một mạch:

Trang 12

Anh đi anh nhớ quê nhà, Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương.

Nhớ ai dãi gió dầm sương, Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.

Hôm qua tát nước bên đình,

Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen.

(Ca dao)

Trong khi đó cách ngắt nhịp câu thơ lục bát trong Truyện Kiều rất biến hóa,

nhiều câu ngắt nhịp cân xứng:

Làn thu thủy nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Như vậy, tất cả những đặc điểm trên đã tạo nên những nét riêng và sự đặc sắccủa thể lục bát trong ca dao

1.1.2.2 Ngôn ngữ của ca dao

Ngôn ngữ của ca dao đóng vai trò vô cùng quan trọng Tuy được sáng tác bằngtruyền miệng nhưng ngôn ngữ trong những bài ca truyền miệng ấy được lưu truyềnnhư thế nào thì khi sưu tầm, ghi chép lại đúng như thế ấy

Trang 13

Ngôn ngữ trong ca dao có những đặc điểm chủ yếu như: theo tác giả NguyễnXuân Kính thì ngôn ngữ của ca dao là ngôn ngữ có sự kết hợp hài hòa giữa đặcđiểm ngôn ngữ thơ ca và ngôn ngữ đời thường Tính chất đời thường biểu hiệntrong ngôn ngữ ca dao được thể hiện trên các phương diện:

Ca dao sử dụng hầu hết các từ thuần Việt để biểu hiện Có những bài ca daohầu như không có một từ Hán Việt nào xuất hiện:

Bánh này bánh lọc bánh trong, Ngoài tuy xám ủng trong lòng có nhân.

Ai ơi xin chớ tần ngần, Lòng son em vẫn giữ phần dẻo dang.

Con cò mà đi ăn đêm, Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

(Ca dao)

Do ca dao là sản phẩm của phương thức truyền miệng nên có hiện tượng dịbản Đặc biệt trong ca dao có lớp từ được người ta dùng đi dùng lại tạo hiện tượngtrùng lặp:

Trang 14

- Thân em như giếng giữa đàng, Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân.

- Thân em như tấm lụa đào,

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

(Ca dao)

1.1.2.3 Nhân vật trữ tình

Trong thơ cũng như trong ca dao các nhân vật trực tiếp bộc lộ tâm trạng gọi lànhân vật trữ tình Nhân vật trữ tình trong ca dao đều là nhân vật có tính chất phiếmchỉ Cảm xúc tâm trạng đều là cảm xúc tâm trạng chung của các tầng người, lớpngười, hạng người, giai cấp xã hội chứ không phải cảm xúc tâm trạng của một cánhân con người nào Chính vì mang tính chất phiếm chỉ nên các nhà nghiên cứumới xếp các nhân vật trữ tình thành nhiều nhóm như nhóm các chàng trai, cô gái,anh, em trong bộ phận ca dao tình yêu nam nữ Các nhân vật trữ tình trong ca daoluôn bộc lộ hai nguồn cảm hứng chính Đó là: khi tất cả các nhân vật trữ tình ấy dù

là chàng trai hay cô gái, người vợ hay người chồng, dù là người dân lao động nóichung thì khi họ bộc lộ cảm xúc của họ trong xã hội cũ thì bao giờ họ cũng thấy tủinhục, đau đớn Thế nhưng bản chất của người dân lao động nước ta không phải làcam chịu mà họ luôn luôn phản ứng trước hiện thực cuộc đời Và chính nguồn cảmhứng này đã tạo nên những bài ca dao mang chủ đề than thân phản kháng:

Thương chàng thiếp cũng xin theo,

Mẹ chàng đóng cửa thiếp leo xà nhà.

(Ca dao)

Không chỉ có thế, khi tất cả các nhân vật trữ tình hướng tình cảm của mình tớiquê hương xứ sở, tới đất nước, tới những người thân như cha mẹ, con cái, đều vanglên những lời ca yêu thương tình nghĩa:

Chồng em áo rách em thương,

Trang 15

Chồng người áo gấm xông hương mặc người.

(Ca dao)

Như vậy, tiếng nói than thân phản kháng và tiếng nói yêu thương tình nghĩa làhai cảm hứng chủ đạo trong ca dao truyền thống, mà chủ nhân của nó là nhân dânlao động Việt Nam Trong mọi cảnh ngộ khác nhau của cuộc đời cũ, vẫn luôn sốngthăng bằng của hai cực tình cảm, hai chiều hướng quan hệ, ví như hai sợi dây neogiữ tâm hồn, đạo lý của mình trước sóng gió cuộc đời Hai sợi dây đó một là sợi dâyneo giữ mình với số phận riêng của những vui buồn ước mơ của chính mình và mộtnửa là sợi dây trách nhiệm và lòng nhân ái neo giữ cá nhân với cộng đồng Ca daochính là bức tranh phổ quát về cuộc sống, tâm hồn, khí chất của mỗi con ngườitrong cộng đồng rộng lớn

1.1.3 Khảo sát, thống kê, phân loại

Do phạm vi giới hạn của đề tài này, cũng như để tiện cho việc so sánh, đốichiếu với số lượng thơ Nôm Hồ Xuân Hương, chúng tôi đã chọn ra 50 bài ca dao ít

nhiều có nói đến vấn đề người phụ nữ trong cuốn Kho tàng ca dao người Việt do

Nguyễn Xuân Kính chủ biên

Dựa vào nội dung phản ánh chúng ta có thể phân loại 50 bài ca dao trên thànhcác loại sau:

Loại 1: Những bài ca dao thể hiện vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ Ở loạinhững bài ca dao này có 20 trên 50 bài, chiếm tỷ lệ 40% Tiêu biểu như:

- Cổ tay em trắng như ngà, Con mắt em liếc như là dao cau.

Miệng cười như thể hoa ngâu, Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.

- Cô kia tóc bỏ đuôi gà, Lại đây anh hỏi một vài bốn câu.

Trang 16

Tóc cô chính tóc ở đầu, Hay là tóc mượn ở đâu chắp vào?

(Ca dao)

Loại 2: Những bài ca dao thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Ở loạinày có 25 trên 50 bài, chiếm tỷ lệ 50% Qua khảo sát, chúng tôi thấy những bài cadao thuộc loại này đã thể hiện một cách khá đầy đủ và sâu sắc những vẻ đẹp phẩmchất tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam Tiêu biểu như những bài ca dao sau:

- Ai đi đợi với tôi cùng, Tôi còn sắp sửa cho chồng đi thi.

Chồng tôi quyết đỗ khoa này, Chữ tốt như rắn, văn hay như rồng.

Bõ khi xắn váy quai cồng, Cơm niêu nước lọ nuôi chồng đi thi.

- Cầm vàng mà lội qua sông, Vàng rơi không tiếc, tiếc công đợi chờ.

Chờ em, chờ mận, chờ mơ, Chờ hết mùa mận, chờ qua mùa đào.

Chờ em cho tuổi anh cao, Cho duyên anh nhạt, má đào em phai.

Chờ anh, em chẳng lấy ai, Khăng khăng chỉ quyết một hai đợi chờ.

(Ca dao)

Loại 3: Những bài ca dao có sự hòa quyện cả vẻ đẹp hình thể bên ngoài và tâmhồn bên trong của người phụ nữ So với hai loại trước thì loại thứ ba này có sốlượng bài ít hơn cả, đó là 5 trên 50 bài, chiếm tỷ lệ 10% Chẳng hạn như một số bài

ca dao sau:

Trang 17

Cây oằn vì bởi tại hoa, Thương em vì nết, mê sa vì tình.

Thương em thương dạng thương hình, Lời ăn tiếng nói, sợ mình bảy bui.

(Ca dao)

Hay bài Mười yêu cũng đã thể hiện rất rõ vẻ đẹp hài hòa giữa nội dung và hình

thức của người phụ nữ Việt Nam:

Một yêu cô ả lắm thay, Hai yêu cô ả khéo may yếm đào.

Ba yêu cửa gió lọt vào, Bốn yêu cô ả miệng chào có duyên.

Năm yêu má lúm đồng tiền, Sáu yêu cô ả tốt duyên chăng là.

Bảy yêu khăn thắm thêu hoa, Tám yêu cô ả nết na hiền tài.

Chín yêu cô chửa có ai, Mười yêu anh kết làm hai vợ chồng.

(Mười yêu)

Như vậy, qua khảo sát ban đầu, chúng tôi thấy đề tài người phụ nữ trong ca daophổ biến trên ba loại Trong đó, loại chiếm số lượng nhiều nhất là những bài thểhiện vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ, chiếm tới 50% Tiếp đến là những bài thểhiện vẻ đẹp ngoại hình của người phụ nữ, chiếm 40% và cuối cùng là những bài thểhiện cả vè đẹp hình thể và vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ, chiếm 10%

Trang 18

1.2 Thơ Nôm Hồ Xuân Hương

1.2.1 Về nhà thơ Hồ Xuân Hương và thơ Nôm của bà

Về cuộc đời nữ sĩ họ Hồ, cho đến nay vẫn còn nhiều ẩn số Cho đến nay,không có một tài liệu gốc nào về cuộc đời của Hồ Xuân Hương còn giữ lại nên nămsinh và năm mất của bà hãy còn bỏ trống

Bằng những tư liệu văn học và qua những nguồn thư tịch (nhưng không có cứliệu chắc chắn), các nhà nghiên cứu của nhiều thế hệ đã cố gắng tạo nên hình dángcuộc đời của nhà thơ mặc dù giữa họ còn tồn tại một số điểm chưa thực sự thống

nhất Tác giả Nguyễn Lộc trong cuốn: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII –

hết thế kỷ XIX cho rằng: “Hồ Xuân Hương quê ở làng Quỳnh Đôi, Huyện Quỳnh Lưu, Tỉnh Nghệ An Họ Hồ ở Quỳnh Lưu là một họ tương đối lớn, từng có người đậu đạt nhưng đến đời Hồ Phi Diễn thì họ này suy tàn Hồ Phi Diễn, tương truyền

là thân sinh của Hồ Xuân Hương, sinh 1704, đậu tú tài năm 24 tuổi dưới triều Lê Bảo Thái Nhà nghèo, Hồ Phi Diễn không có tiền để tiếp tục học thêm, ông ra Bắc dạy học kiếm sống Ông đồ Diễn thường dạy ở hai tỉnh Hải Dương, Bắc Ninh, về sau ông lấy một cô gái Bắc Ninh họ Hà làm vợ lẽ Hồ Xuân Hương là kết quả của cuộc tình duyên ấy” [18, 290] Nhưng gần đây, với nguồn tư liệu khá tin cậy Đào

Thái Tôn đã công bố: “Hồ Xuân Hương là con ông Hồ Sỹ Danh (1706 – 1783), đậu

Hương Cống (cử nhân) năm 1732 Anh cùng cha với Hồ Xuân Hương là Hồ Sỹ Đống (1738 – 1786), đậu Đình Nguyên đệ nhị giáp tiến sỹ xuất thân (tức Hoàng Giáp) làm quan đến Hành tham tụng, tức quận công cùng với Bùi Huy Ích đứng đầu triều của chúa Trịnh Sâm, Trịnh Khải Tuy Hồ Sỹ Danh không ra làm quan nhưng vì có con làm quan to nên ông được phong tặng chức Hàn lâm thừa chỉ và hàm Thái Bảo Còn mẹ của Hồ Xuân Hương, người họ Hà vốn là một cô gái xứ Bắc, chỉ làm hầu thiếp cho Hồ Sĩ Danh Khi ông này mất đi, Hồ Xuân Hương còn nhỏ Hai năm sau, Hồ Sĩ Đống mất Không còn nơi nương tựa, Hồ Xuân Hương

Trang 19

được mẹ đưa ra đất Thăng Long Từ đấy, hai mẹ con cư ngụ tại phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận gần Hồ Tây, Hà Nội bây giờ Tại đây, Hồ Xuân Hương được mẹ cho học hành Sau đó, lại rời nhà đến thôn Tiên Thị, tổng Tiên Túc, huyện Thọ Xương nay là phố Lý Quốc Sư, Hà Nội Hồ Xuân Hương có một ngôi nhà riêng bên Hồ Tây đặt tên là Cổ Nguyệt Đường (chữ Cổ ghép với chữ Nguyệt thành chữ Hồ” [33, 56].

Một số nhà nghiên cứu cho rằng Hồ Xuân Hương sống và sáng tác vào nửacuối thế kỉ XVIII, chủ yếu là dưới thời Tây Sơn Nhưng một số ý kiến khác lạikhẳng định bà sống chủ yếu dưới thời nhà Nguyễn, khoảng nửa đầu thế kỉ XIX.Tương truyền rằng ngày còn nhỏ Hồ Xuân Hương có đi học, thông minh, nhưngkhông được học nhiều Bà có người bạn nhỏ rất đỗi tri âm, tri kỷ là Chiêu Hổ khicăn cứ vào chùm thơ đối đáp giữa hai người Vậy, Chiêu Hổ có phải là nhà thơ

Phạm Đình Hổ, tác giả Vũ trung tùy bút và Đông Dã học ngôn thi tập? Theo tác giả Nguyễn Lộc thì: “Chắc là không đúng, vì Chiêu Hổ của Hồ Xuân Hương nghịch

ngợm không kém gì bà, còn Phạm Đình Hổ là một nhà thơ mực thước”

Một người phụ nữ thông minh, có tài làm thơ và luôn mang trong mình cáikhao khát yêu đương nhưng cuộc đời riêng tư lại gặp rất nhiều đau khổ bất hạnh.Đặc biệt, Hồ Xuân Hương không may mắn, hạnh phúc trong tình duyên Các nguồntài liệu, tuy chưa thực sự thống nhất nhưng đều cho thấy bà lấy chồng muộn Dương

Quảng Hàm cho rằng: Bà có hai lần lấy chồng và đều phải làm lẽ, lấy lẽ một ông

thủ khoa làm đến tri phủ Vĩnh Tường( nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc), nhưng được ít lâu thì ông phủ Vĩnh Tường mất (Khóc ông phủ Vĩnh Tường) Tuy chưa rõ lấy ai trước nhưng cả hai lần sang ngang đều ngắn ngủi và đem lại cho bà sự chua xót Dựa vào

những bài thơ bà viết về các di tích thắng cảnh của đất nước, chúng ta biết đượcrằng Hồ Xuân Hương đã từng đặt chân đến rất nhiều nơi như Thanh Hóa, Ninh

Trang 20

Bình, Vĩnh Yên, Tuyên Quang Việc chu du như thế này đối với một phụ nữ trong

xã hội phong kiến như vậy quả thật khó và hiếm

Hồ Xuân Hương – một phụ nữ tài hoa bạc mệnh, tình duyên bất như ý, một tráitim nghệ sỹ thiên tài bẩm sinh Tất cả những điều đó đều có ảnh hưởng rất lớn đến

sự nghiệp thơ văn của bà, đặc biệt là ở những sáng tác bằng chữ Nôm

Không chỉ cuộc đời nữ thi sĩ nổi tiếng còn nhiều điều bí ẩn mà cả sự nghiệpthơ văn của bà cũng còn là những câu hỏi lớn gây nhiều tranh cãi Theo một số tác

giả trong cuốn Hồ Xuân Hương - tác phẩm chọn lọc: “Tác phẩm của Hồ Xuân

Hương gồm có các tập Lưu Hương Ký (gồm thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm); Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập (chữ Hán), Đồ Sơn bát vịnh (chữ Hán), Đề vịnh Hạ Long (chữ Hán) Một phần khác rất phong phú và còn nhiều nghi vấn là thơ Nôm truyền tụng” Do tồn tại bằng truyền tụng trong khoảng một nửa thế kỷ, văn bản các bài

thơ Nôm chắc đã khác nhiều Có thể do bị thêm bớt, thay đổi tự do trong khi truyềntụng so với dạng thức ban đầu mà nay khó khôi phục lại Cũng có thể có nhiều bài

bị thất lạc đồng thời sẽ không tránh khỏi sự xâm nhập, lẫn lộn những bài thơ củacác tác giả khác vào thơ của tác giả này Phần lớn thơ Nôm truyền tụng có dạng củathơ đề vịnh như vịnh người, vật, cảnh, nữ sĩ họ Hồ thường sáng tác theo thể Đườngluật (thất ngôn bát cú, tứ tuyệt) nhưng được dân tộc hóa cao độ với ngôn ngữ thơhết sức độc đáo và đặc sắc Tuy được truyền tụng là của bà những chắc gì còn giữđược nguyên văn của tác giả Nhưng những bài thơ này vẫn là một bộ phận sáng tác

làm nên một tác giả Hồ Xuân Hương – một “bà chúa thơ Nôm” mà Xuân Diệu đã

từng tôn xưng và ngợi ca

Để kết lại phần cuộc đời và sự nghiệp của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, chúng tôi

xin mượn lời của tác giả Nguyễn Lộc: “ Về cuộc đời Hồ Xuân Hương, còn nhiều

chi tiết cần xác minh lại, cần phải tìm tòi thêm Không hiểu đúng cuộc đời Hồ Xuân Hương cũng ảnh hưởng không ít đến việc đánh giá sáng tác của Xuân Hương Dù

Trang 21

sao, một số vấn đề sơ bộ có thể kết luận được Đó là nhà thơ có một cuộc đời hoàn toàn bất như ý, Xuân Hương sống vào một thời kỳ chế độ phong kiến đã mục ruỗng, thối nát và bà là nạn nhân của cái chế độ ấy Là người phụ nữ xuất thân trong gia đình phong kiến suy tàn, cuộc sống đã đẩy Xuân Hương xuống tầng lớp tận cùng của xã hội Quằn quại và đau đớn, lòng căm phẫn đối với xã hội bất công, một cái

gì thiết tha của cuộc sống riêng tây và sự lăn lộn tiếp xúc với những người phụ nữ cùng bị áp bức trong xã hội, tất cả đã hun đúc lên con người và tài năng của Xuân Hương, thôi thúc Xuân Hương viết nên những vần thơ nhọn sắc và cháy bỏng, những vần thơ thông minh và tình tứ, những vần thơ rất quần chúng và cũng rất độc đáo, rất Xuân Hương” [33, 292].

1.2.2 Đề tài người phụ nữ trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương

Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà từ trước tới nay các nhà nghiên cứu đều thốngnhất cho rằng Hồ Xuân Hương là nhà thơ của phụ nữ Sở dĩ nói như vậy là vì phầnlớn các sáng tác của bà đều ít nhiều viết về đề tài người phụ nữ Người phụ nữ trong

thơ Nôm Hồ Xuân Hương “không phải là người phụ nữ lầu son gác tía, chinh phụ

hay cung tần, mà là người phụ nữ bình thường” [33, 293] Viết về đề tài người phụ

nữ, các nhà thơ không chỉ xoáy sâu vào các ngóc ngách éo le của cuộc đời để nêulên những bi kịch không kém phần chua chát, mà còn qua đó ngợi ca, khẳng định vẻđẹp của người phụ nữ trong xã hội xưa kia Hồ Xuân Hương là nhà thơ phụ nữ, vànhà thơ của phụ nữ, bằng kinh nghiệm của cuộc đời chung và kinh nghiệm của cuộcđời riêng chẳng ra gì của mình, nhà thơ đứng về phía những người phụ nữ bị ápbức Dường như những người cùng cảnh ngộ bao giờ cũng hiểu và yêu thương nhauhơn Đến với cuộc đời của những người phụ nữ trong thơ bà, chúng ta dường nhưthấy có một chút cuộc đời mình trong cuộc đời họ Với phạm vi của đề tài này,chúng ta chỉ đi vào tìm hiểu những bài thơ viết vể vẻ đẹp ngoại hình và tâm hồn củangười phụ nữ Trong thơ của mình, nữ sĩ thể hiện niềm tự hào và hãnh diện không

Trang 22

giấu diếm đối với vẻ đẹp trong trắng, căng tràn sức sống của cơ thể phụ nữ - một cái

nhìn khá táo tợn và mới mẻ trong hoàn cảnh đương thời như trong bài Bánh trôi

nước và Thiếu nữ ngủ ngày Nhưng không phải chỉ có thế! Với Xuân Hương, vẻ

đẹp quyến rũ bên ngoài chỉ quý giá khi nó chứa đựng vẻ đẹp tâm hồn bên trong HồXuân Hương không bao giờ ca tụng, tán thưởng những vẻ đẹp vô hồn, hữu sắc vô

hương Chắc chắn rằng nếu chỉ có cái vẻ ngoài vừa trễ nải vừa diễm lệ, Thiếu nữ

ngủ ngày không thế níu lại bước chân người quân tử để chàng “dùng dằng đi chẳng dứt” Để tiện cho việc đi vào tìm hiểu nghiên cứu những bài thơ Nôm về đề tài

người phụ nữ, chúng tôi sẽ đi vào phần khảo sát, thống kê, phân loại

1.2.3 Khảo sát, thống kê, phân loại

Để khảo sát, thống kê, phân loại những bài thơ viết về đề tài người phụ nữ,

chúng tôi dựa vào cuốn Hồ Xuân Hương – tác phẩm chọn lọc do các tác giả Phạm

Thị Thu Hương – Lại Văn Hùng – Trần Văn Trọng biên soạn, Nxb Giáo dục ViệtNam, 2009

Qua khảo sát thơ Nôm truyển tụng Hồ Xuân Hương, ta thấy trong tổng sốkhoảng 50 bài thơ thì có 36 bài viết về vẻ đẹp của người phụ nữ, chiếm tỷ lệ 72%

Để cho việc nghiên cứu được tiến hành thuận lợi, dựa vào nội dung phản ánh,chúng tôi phân loại những bài thơ viết về vẻ đẹp của người phụ nữ thành các loạisau:

Loại 1: Những bài thơ thể hiện vẻ đẹp bên ngoài của người phụ nữ Loại này

có 6 trên 36 bài, chiếm tỷ lệ 17% Tiêu biểu như các bài thơ sau: Thiếu nữ ngủ

ngày, Tranh Tố Nữ,

Loại 2: Những bài thể hiện vẻ đẹp bên trong của người phụ nữ Loại này có 26trên 36 bài, chiếm tỷ lệ 72% Ở loại những bài thơ này, bà chúa thơ Nôm đã thểhiện rất nhiều phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam Tiêu biểu như các bài

Trang 23

thơ sau: Đề đền Sầm Nghi Đống, Cái nợ chồng con, Không chồng mà chửa, Mời

trầu, Tự tình I,

Loại 3: Những bài thể hiện cả vẻ đẹp bên trong và vẻ đẹp bên ngoài của ngườiphụ nữ Loại này có số lượng ít hơn cả, có 4 trên 36 bài, chiếm tỷ lệ 11% Tiêu biểu

như các bài: Đánh đu, Bánh trôi nước, Quả mít,

Trong ba loại trên, các bài thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ chiếm tỷ

lệ cao nhất (72%), sau đó là các bài thể hiện vẻ đẹp ngoại hình chiếm 17%, và cuốicùng là những bài thể hiện cả vẻ đẹp ngoại hình và nội tâm của người phụ nữ(11%)

Tóm lại, qua khảo sát, thống kê, phân loại những bài nói về vẻ đẹp của ngườiphụ nữ trong ca dao và trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương, chúng tôi thấy những bàithể hiện vẻ đẹp tâm hồn chiếm số lượng nhiều hơn cả Như vậy, thơ Nôm Hồ XuânHương đã có sự gặp gỡ, tương đồng với ca dao Qua đây, chúng ta cũng thấy được

sự bắt gặp quan niệm dân gian: “Cái nết đánh chết cái đẹp” trong thơ Nôm Hồ

Xuân Hương

Trang 24

2.1.1 Trong ca dao

Vẻ đẹp ngoại hình của người phụ nữ trong ca dao hiện ra với những chi tiếtmiêu tả về hàm răng, mái tóc, làn da, nụ cười, lời nói, cách ăn mặc, Tất cả đượcthể hiện một cách chân thực, sâu sắc, cụ thể trong ca dao Qua khảo sát 50 bài cadao nói về phụ nữ, chúng tôi thấy có một số hình ảnh xuất hiện rất nhiều lần Nhữnghình ảnh ấy cứ trở đi trở lại với tần số cao như là một ám ảnh nghệ thuật Chẳng

hạn, hình ảnh “răng đen” xuất hiện với tần số cao nhất: 14 lần, sau đó là các hình ảnh như: “má hồng”: 11 lần, “cổ tay”: 5 lần, “con mắt”: 3 lần, “yếm đào”: 3 lần.

- Răng đen em nhoẻn miệng cười,

Dẫu trời đương nực cũng nguôi cơn nồng.

- Khen ai khéo bắc cầu vồng, Khen ai khéo đánh má hồng cho em.

Trang 25

Khen ai khéo bắc cầu Lèn, Khen ai khéo nhuộm răng đen cho đèn.

- Cổ tay em trắng như ngà, Con mắt em liếc như là dao cau.

Miệng cười như thể hoa ngâu, Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.

- Cổ tay em vừa trắng vừa tròn,

Mó vào mát lẽm như hòn tuyết đông.

Má em thì đỏ hồng hồng, Như pho tượng vẻ nằm trong mâm vàng.

(Ca dao)

Con mắt của các tác giả dân gian thật tinh tế, thật tài tình khi nhận ra vẻ đẹpcủa người phụ nữ với đôi mà hồng rất đáng yêu, với hàm răng đen đầy quyến rũ.Đặc biệt ở bài ca dao thứ ba còn xuất hiện những chi tiết như: cổ tay, con mắt,

miệng cười, và chiếc khăn đội đầu Chi tiết “Miệng cười như thể hoa ngâu” gợi chúng ta nhớ tới vẻ đẹp của nàng Thúy Vân trong Truyện Kiều của Nguyễn Du:

“Hoa cười ngọc thốt đoan trang”.

Không chỉ dừng lại đó, bài ca dao Mười thương còn thể hiện vẻ đẹp tập trung

như một bức chân dung của người phụ nữ Việt Nam truyển thống:

Một thương tóc bỏ đuôi gà, Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.

Ba thương má lúm đồng tiền, Bốn thương răng lánh hạt huyền kém thua.

Năm thương cổ yếm đeo bùa Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng.

Bảy thương nết ở khôn ngoan,

Trang 26

Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh.

Chín thương cô ở một mình, Mười thương con mắt hữu tình với ai.

(Mười thương)

Vẻ đẹp của người phụ nữ ở bài ca dao trên hiện ra thật cụ thể với: mái tóc bỏđuôi gà, cách ăn nói mặn mà có duyên, trên má có lúm đồng tiền rất xinh, hàm răngđen lánh, mặc yếm, đội nón thượng quai tua dịu dàng, con mắt có tình, Theoquan niệm thẩm mỹ của người xưa thì người phụ nữ như thế được coi là đẹp Đó là

vẻ đẹp cổ xưa, vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam truyền thống

Ai đó đã từng nói rằng: đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn, là nơi thu nhận tất cảnhững vẻ đẹp của cuộc sống Đặc biệt, đôi mắt của người phụ nữ thì lại càng quyến

rũ và hấp dẫn Chính vì thế mà khi miêu tả vẻ đẹp bên ngoài của phụ nữ, ca daocũng tập trung miêu tả đôi mắt như là một điểm nhấn trên khuôn mặt của người phụ

nữ Đó là đôi mắt “hữu tình”:

Mười thương con mắt hữu tình với ai

Hay con mắt sắc sảo, nhạy bén, “sắc như dao cau”:

Con mắt em liếc như là dao cau.

Hoặc đôi mắt “đen lay láy” ai nhìn thấy cũng muốn yêu:

Ai đi qua đò Do mới biết, Dòng nước trong, xanh biết là bao.

Gái thời da đỏ hồng hào, Mắt đen lay láy người nào chẳng yêu

(Ca dao)

Qua khảo sát, thống kê, chúng tôi thấy hình ảnh “má đỏ”, “má hồng” luôn đi liền với hình ảnh “răng đen” như để khắc sâu, nhấn mạnh thêm vẻ đẹp ngoại hình

của người phụ nữ:

Trang 27

- Gặp người má đỏ hây hây, Răng đen rưng rức, tóc mây rườm rà.

- Lấy chồng cho đáng tấm chồng,

Bõ công trang điểm má hồng răng đen.

- Má hồng còn có khi phai, Răng đen khi nhạt, tóc dài khi thưa.

Người phụ nữ dù có xinh đẹp đến đâu nhưng trong cuộc sống phải lam lũ vất

vả thì nhan sắc cũng nhanh chóng tàn phai theo thời gian Dường như ý thức đượcđiều ấy nên người phụ nữ mang trong mình niềm xót xa nuối tiếc và có chút gì đónhư hờn giận trách móc

Đừng chê em xấu em đen, Vốn em ở đất đồng quen ba mùa.

Tháng tư cấy trộm tua rua, Tháng sáu cấy mùa, tháng chạp cấy chiêm.

Một năm ba vụ cấy liền, Còn gì má phấn, răng đen hỡi chàng!

(Ca dao)

Trang 28

Văn hào V HuyGô đã từng nói rằng: “Nếu thượng đế tạo ra phụ nữ trước tiên

thì người sẽ không tạo ra một loài hoa nào nữa.” Phụ nữ là hoa của các loài hoa,

được tôn xưng là phái đẹp Nhưng một người phụ nữ như thế nào thì được xem làđẹp? Quan niệm về vẻ đẹp của người phụ nữ mang tính lịch sử Mỗi thời đại, mỗigiai cấp, mỗi dân tộc đều có một quan niệm riêng trong đánh giá vẻ đẹp của ngườiphụ nữ Chúng ta sẽ thấy rõ điều này khi đi vào tìm hiểu vẻ đẹp của người phụ nữtrong ca dao Nếu như trước kia vẻ đẹp của người phụ nữ được khẳng định, ngợi ca

ở hàm răng đen (răng lánh hạt huyền), mặc yếm thắm, đội nón quai thao, tóc bỏ

đuôi gà, thì bây giờ nó đã có sự thay đổi Như vậy, quan niệm thẩm mỹ có sự thayđổi theo thời gian năm tháng Bên cạnh những vẻ đẹp có tính chất biến đổi ấy thìvẫn có những vẻ đẹp mang tính ổn định như: làn da trắng, đôi má hồng, má lúmđồng tiền, cách ăn nói mặn mà có duyên, tất cả những vẻ đẹp này đến ngày nayvẫn được khẳng định Như vậy, vẻ đẹp ngoại hình của người phụ nữ trong ca dao là

vẻ đẹp mang tính truyền thống

2.1.2 Trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương

Cùng với ca dao, thơ Nôm Hồ Xuân Hương cũng dành rất nhiều sự ưu ái vàtình cảm khi viết về vẻ đẹp ngoại hình của người phụ nữ Cùng thời với Hồ XuânHương, chúng ta thấy một số nhà thơ cũng ca ngợi vẻ đẹp hình thể con người

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du tả cơ thể Thúy Kiều:

Rõ ràng trong ngọc trắng ngà, Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên.

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Nhưng ở đây vẻ đẹp của nàng Kiều còn mang tính ước lệ, chưa có một chi tiết

nào cụ thể, sinh động Ở Xuân Hương thì khác, với bài thơ tiêu biểu Thiếu nữ ngủ

ngày nhà thơ đã ca ngợi vẻ đẹp trinh nguyên của người thiếu nữ một cách cụ thể,

sinh động, trực tiếp như nó vốn có:

Trang 29

Mùa hè hây hẩy gió nồm đông, Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng.

Lược trúc biếng cài trên mái tóc, Yếm đào trễ xuống dưới nương long.

Đôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông.

thành công trong nghệ thuật điêu khắc Theo Đỗ Lai Thúy thì “Thiếu nữ ngủ ngày

là “một trong những bức tranh phụ nữ khỏa thân đẹp nhất của Hồ Xuân Hương và

của văn học Việt Nam” [30, 283] Hình tượng người thiếu nữ trong bức tranh này

được tác giả thể hiện bằng bút pháp miêu tả, mà cụ thể ở đây là gợi tả Trong bức

tranh này, tác giả đã để sự khỏa thân ở trạng thái vô tình mà không phải là “hớ

hênh” cố ý (Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm!), của sự nghịch dị phồn thực Người

thiếu nữ ở đây chỉ nằm chơi mà hóa ra ngủ thật bởi do lỗi của thiên nhiên “hây hẩy

gió nồm” Nhưng đây không phải là ngủ say, bởi ngủ say rất dễ trở nên thô kệch,

mà chỉ là chợt thiếp đi, “quá giấc”:

Mùa hè hây hẩy gió nồm đông, Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng.

Đến hai câu thơ tiếp theo bằng biện pháp gợi tả nhà thơ đã để cho người đọcliên tưởng:

Lược trúc biếng cài trên mái tóc,

Yếm đào trễ xuống dưới nương long.

Trang 30

Nhà thơ tả lược để nói tóc, tả yếm để nói ngực của thiếu nữ Ngoài ra ở hai câuthơ này tác giả còn vận dụng câu tục ngữ:

Nương long ngày càng cao,

hoa bưởi hay bồ kết dài mượt, buông xõa, cởi mở “lược trúc biếng cài” Cái yếm

đào các dãi thắt buộc thế nào mà trễ tận xuống dưới để lộ ra cái nương long da thịt trắng trong, đầy đặn Chỉ với hai câu thơ, tác giả đã thể hiện được cái đẹp trẻ trung, tròn đầy, thơm mát sức sống của thiếu nữ Đó là cái đẹp quý giá, đáng ngắm nhìn thưởng thức Hay câu thơ tiếp theo, tác giả đã sử dụng hình ảnh tượng trưng ước lệ

để miêu tả vẻ đẹp còn e ấp, phong nhị của cô gái chưa chồng:

Đôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm, Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông.

“Gò Bồng Đảo” là núi đảo Bồng Lai, nơi tiên ở, ý Hoa Đào, có người đi men

theo suối tới một nơi có cảnh sống vui tươi, êm ấm của một xã hội lý tưởng, về sau

hiểu rộng ra đó là cảnh tiên Vậy, Bồng Đảo, Đào Nguyên là cảnh tiên, cái đẹp lý

tưởng được Hồ Xuân Hương so sánh với vẻ đẹp tròn đầy của người phụ nữ và nhất

là gò ấy “sương còn ngậm”, lạch ấy “suối chửa thông” tất cả hãy còn phong kín,

còn e ấp trinh nguyên chưa chút gì vẫn bợn

Thiếu nữ ngủ ngày có thể xem là một bức tranh khỏa thân nghệ thuật tuyệt vời.

Trước vẻ đẹp tuyệt trần ấy của tạo hóa thì bất cứ một người nào, dẫu là vô tình bắtgặp thôi cũng mê mẩn, ngẩn ngơ, chứ không riêng gì các bậc hiền nhân quân tử:

Trang 31

Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt,

Đi thì cũng dở ở không xong.

Đứng trước vẻ đẹp lồ lộ, căng tràn sức sống của thiếu nữ, chàng quân tử đã

“dùng dằng đi chẳng dứt” Dường như trong lòng chàng đang có sự đấu tranh nội tâm giữa đi và ở, bởi đi thì tiếc mà ở lại thì sợ điều tiếng thị phi Cái “dùng dằng”

của chàng quân tử thể hiện thái độ vừa ham muốn vừa ngại ngần, vừa thích thú vừa

e sợ - đó là cái “dùng dằng nghệ thuật” Qua đây, chúng ta thấy được rằng chàng

quân tử này là người biết yêu cái đẹp, biết trân trọng cái đẹp Sự có mặt người quân

tử ở đây với tư cách thưởng thức, đánh giá là để tôn thêm cái đẹp, sức quyến rủ củabức tranh Như vậy, từ sự vô tình của cô thiếu nữ, đã tạo nên một bức tranh đầy sứcsống, quyến rũ, đầy ý vị khi vô tình xuất hiện một chàng quân tử từ đâu tới Bứctranh đã thêm một nét chấm phá cuối cùng để tạo nên sự trọn vẹn ở một tuyệt tácđầy sức xuân, tình xuân Bài thơ là cả một sự chiêm ngưỡng vẻ đẹp của con ngườiđầy chất nhân văn, giàu ý nghĩa nhân bản

Không chỉ dừng lại ở đó, ở bài thơ Đề tranh Tố Nữ Hồ Xuân Hương đã bất diệt

hóa, vĩnh cửu hóa vẻ đẹp ngoại hình của người phụ nữ:

Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình?

Chị cũng xinh mà em cũng xinh.

Đôi lứa như in tờ giấy trắng, Ngàn năm còn mãi cái xuân xanh.

Xiếu mai chi dám tình trăng gió,

Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh.

Còn thú vui kia sao chẳng vẽ, Trách người thợ vẽ khéo vô tình.

(Đề tranh Tố Nữ )

Trang 32

Trong thơ Hồ Xuân Hương, người phụ nữ hiện lên với vẻ đẹp mạnh mẽ, lộng

lẫy, một vẻ đẹp phơi phới của những thiếu nữ “ hồng hồng má phấn”, của tuổi dậy thì “ mười bảy hay mười tám” Đó là vẻ đẹp rất trần thế và hiện thực của con người.

Đọc bài thơ chúng ta thấy tác giả đã miêu tả vẻ đẹp hình thức của cô gái bằngrất nhiều tính từ như: xinh, trắng, xanh Cùng với đó, tác giả còn vận dụng một phần

của thành ngữ “ giống như in” để đặc tả vẻ đẹp của Tố Nữ trong tranh Ngoài ra, để

nói lên cái đẹp và sự yếu đuối, mỏng manh dễ vỡ của vẻ đẹp hình thể thiếu nữ, nhà

thơ đã sử dụng các điển cố: “Xiếu mai”, “Bồ liễu” Bằng việc dùng từ có tính chất hằng số “nghìn năm”, nữ sĩ họ Hồ đã vĩnh cửu hóa cái đẹp của cô gái, cái đẹp đó sẽ

tồn tại mãi mãi

Như vậy, bằng cách miêu tả một cách trực tiếp, nhà thơ đã cho chúng ta thấyđược vẻ đẹp ngoại hình của người phụ nữ - một vẻ đẹp trong trắng trinh nguyên,tươi trẻ, bất diệt và rất đáng yêu

Ở bài thơ Bánh trôi nước, mặc dù chỉ có một câu gián tiếp nói về ngoại hình

của người phụ nữ nhưng chúng ta vẫn cảm nhận được vẻ đẹp bên ngoài rất đángyêu của họ:

Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Về câu thơ này, có ý kiến cho rằng phải là: Thân em thì trắng phận em tròn, ý

nói đến thân phận người phụ nữ Nhưng có lẽ khi nói về thân phận người phụ nữ

không cần phải dùng cả hai từ “thân”, “phận” mà chỉ cần dùng một từ như trong ca

dao:

Thân em như hạt mưa sa,

Hạt vào đài các hạt ra ngoài đồng.

(Ca dao)

Chính vì vậy mà ở câu thơ này nên hiểu là: Thân em vừa trắng lại vừa tròn, tức

là tả về ngoại hình còn không nói đến “phận” may, rủi của người phụ nữ Câu thơ

Trang 33

gợi lên cái đẹp toàn thân thể của người con gái, một cái đẹp hoàn hảo không chút tìvết hay khiếm khuyết nào cả Màu trắng của thân thể, da thịt người phụ nữ ở đâykhông đơn thuần chỉ là màu trắng ta thường thấy mà đó là màu của sự trinh nguyên,

sự tinh khiết, thánh thiện của người phụ nữ Nó không chỉ là vẻ đẹp ngoại hình mà

ẩn trong đó còn là vẻ đẹp phẩm chất Đến câu thơ cuối thì vẻ đẹp phẩm chất đó đãđược khẳng định:

Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

Như vậy, qua một số bài thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, vẻ đẹp hình thể củangười phụ nữ hiện lên một cách cụ thể, toàn diện, sinh động và hấp dẫn với nhiềunét đẹp như: thân thể, mái tóc, bộ ngực căng tròn, đôi má hồng,…Tuy nhiên, mộtngười phụ nữ mà chỉ đẹp về hình thức bên ngoài thôi thì vẫn chưa phải là “ đẹp”theo đúng nghĩa của nó Tóm lại, một người phụ nữ được xem là đẹp, ngoài vẻ đẹphình thể còn phải hội tụ những phẩm chất tốt đẹp, hay đó chính là vẻ đep nội tâmcủa người phụ nữ Ngoài ra chúng ta còn thấy được rằng, đối với ca dao và thơNôm Hồ Xuân Hương, vẻ đẹp ngoại hình của người phụ nữ là đối tượng để miêu tả,

để nói tới Qua thơ Nôm Hồ Xuân Hương, chúng ta thấy được điểm tương đồng, sựgặp gỡ giữa thơ bà và ca dao là sự khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp ngoại hình của ngườiphụ nữ Việt Nam truyền thống

2.2 Vẻ đẹp nội tâm

2.2.1 Trong ca dao

Ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ, ca dao không chỉ dừng lại ở việc thể hiện

hình thức bề ngoài mà còn đi sâu vào phản ánh vẻ đẹp tâm hồn bên trong Đó mới làgiá trị đích thực và là tiêu chuẩn cao nhất của cái đẹp

Ca dao đã thể hiện vẻ đẹp bên trong của người phụ nữ với nhiều phẩm chất tốtđẹp

Trang 34

Đó là vẻ đẹp của sự nết na, thùy mị, dịu dàng Đây đều là những đức tính tốtcủa người phụ nữ đã từng làm đắm say biết bao người, đặc biệt là những chàng traiđang yêu:

- Gặp đây anh nắm cổ tay,

Anh yêu vì nết, anh say vì tình.

- Bảy yêu khăn thắm thêu hoa, Tám yêu cô ả nết na hiền tài.

Một mai nên lứa nên đôi, Trăm năm ân ái vui chơi mặc lòng.

Thưa anh, anh giận em chi, Muốn lấy vợ bé em thì lấy cho.

(Ca dao)

Trang 35

Một người vợ hiền lành, khéo léo, dịu dàng, cư xử một cách đáng yêu như vậythì cho dù có giận đến thế nào đi chăng nữa, người chồng cũng mau chóng nguôi đicơn nóng giận và từ đó mà càng yêu quý và trân trọng người vợ của mình hơn.Ngoài ra ở người phụ nữ còn ẩn chứa một vẻ đẹp khác nữa rất đáng quý, đángtrân trọng là tấm lòng thủy chung son sắt với chồng Qua khảo sát, thống kê trong

50 bài ca dao đã lựa chọn thì chúng tôi thấy có 10 bài nói đến phẩm chất cao đẹpnày của người phụ nữ:

- Cây trăm nhánh cũng về một cội, Nước nghìn sông chảy hội một dòng.

Ai dầu lánh đục tìm trong, Đây em vẫn giữ một lòng với anh.

- Mặc cho ong bướm rộn ràng,

Em đây vẫn giữ lòng vàng với anh.

- Sóng xao mình vịt ướt lông, Rùa kêu đá nổi thiếp không bỏ chàng.

(Ca dao)

Người phụ nữ dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không bị khuất phục trướcnhững cám dỗ của cuộc sống Ở họ lúc nào cũng trước sau như một, lúc nào cũngkiên trinh với hai chữ “thủy chung”

Không chỉ thủy chung với chồng, người phụ nữ trong ca dao còn bộc lộ tấmlòng yêu thương chồng con hết mực Theo quan niệm phương Đông, một ngườiphụ nữ được xem là đức hạnh tức là người biết chiều chồng và thương con Trong

sử thi Ramayana, nàng Sita đã từng khẳng định rằng: “Đối với một người phụ nữ,

chồng là vị thần cao nhất” và “tôn sùng người chồng là đức hạnh cao nhất của một người vợ” Trong ca dao, tình yêu thương đối với chồng không phải là sự tôn sùng

mà nó thể hiện ở sự tần tảo hết lòng vì chồng con của người phụ nữ:

Trang 36

- Anh đi em ở lại nhà, Hai vai gánh vác mẹ già con thơ.

Lầm than bao quản muối dưa, Anh đi anh liệu chen đua với đời.

(Ca dao)

Những người phụ nữ ấy luôn luôn đồng cam cộng khổ với chồng Hình ảnh côgái xinh đẹp độc thân biến thành hình ảnh người vợ hiền, theo lang quân đi tới gócbiển, chân trời, dù cực khổ cũng không sờn lòng:

- Đi đâu cho thiếp đi cùng, Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam.

(Ca dao)

Chữ “thiếp” thật khiêm tốn, có một chút cổ điển, một chút e ấp, nũng nịu Chữ

“cùng”, “cam” và “chịu”, nhỏ nhẹ, ngọt lịm nói lên sự tình nguyện chia sẻ nỗi

khó khăn gian khổ với người chồng trong cuộc đời

Những người phụ nữ ấy còn tần tảo sắm sửa cho chồng đi thi:

Ai ơi đợi với tôi cùng, Tôi còn sắm sửa cho chồng đi thi.

Chồng tôi quyết đỗ khoa này, Chữ tốt như rắn, văn hay như rồng.

Bõ khi xắn váy quai cồng, Cơm niêu nước lọ nuôi chồng đi thi.

Trang 37

già và nuôi chính bản thân mình Điều đó cho thấy rõ tấm lòng hiếu thảo của họ đốivới bậc sinh thành Qua đây, chúng ta thấy cảm phục và tự hào biết bao!

Cậu cai buông áo em ra,

Để em đi chợ kẻo mà chợ trưa.

Chợ trưa rau đã héo đi, Lấy gì nuôi mẹ lấy gì nuôi em?

(Ca dao)

Không chỉ tần tảo trong buôn bán để lo cho mẹ già và cho mình mà người phụ

nữ còn tần tảo dệt vải để kiếm tiền đóng việc quan cho chồng:

Con cá rô nó rạch lên phên Uốn taycho mềm Dệt cửi cho ngoan Lấy tiền ta đóng việc quan cho chồng.

(Ca dao)

Đối với gia đình nhà chồng, công việc dù có khó khăn vất vả đến thế nào đichăng nữa thì người phụ nữ vẫn đảm đang, lo toan gánh vác tất cả:

Người ta có vợ có chồng, Ruộng cạn mạ úa trong lòng vẫn vui.

Nhà anh có một mình tôi, Ruộng cạn mạ úa, em ngồi em lo

(Ca dao)

Đặc biệt đối với mẹ chồng, họ là những người con dâu rất hiếu thảo Nhữngnàng dâu ấy coi mẹ chồng như chính mẹ ruột của mình và chăm sóc mẹ chồng rấtcẩn thận, chu đáo từng li từng tí một:

- Mẹ chồng là mẹ chồng tôi, Cái tôm bóc nõn tôi nuôi mẹ chồng.

Trang 38

- Mẹ già là mẹ già chung, Anh lo thang thuốc, em giùm cháo cơm.

(Ca dao)

Người phụ nữ yêu thương chăm sóc mẹ chồng một cách tận tụy, hết lòngnhưng cũng không nguôi nhớ về người mẹ đẻ đang ở nơi xa, với tâm trạng đau đớnxót xa như cắt từng khúc ruột, không biết giờ này mẹ sống ra sao:

Chiều chiều ra đứng ngõ sau, Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.

Nhớ khi anh bủng anh beo, Tay nâng chén thuốc, tay đèo múi chanh.

Bây giờ anh khỏi, anh lành, Anh mê duyên mới anh tình phụ tôi.

Đất xấu nặn chẳng nên nồi, Chàng về lấy vợ, để thiếp tôi lấy chồng.

Chàng về lấy vợ cách sông, Thiếp tôi lơ lửng lấy con ông lái đò.

Phòng khi chàng có sang đò, Sông sâu nước cả thiếp lo cho chàng.

(Ca dao)

Trang 39

Nhân vật trữ tình ở bài ca dao này là người vợ - một người vợ đang bị chồng

phụ bạc, ruồng bỏ Cụm từ “anh bủng anh beo” vừa thể hiện sự tức giận của người

vợ trong hiện tại, vừa cho thấy hình ảnh ốm o gày mòn của người chồng trong quákhứ Đến câu thứ hai, tác giả cho chúng ta thấy được sự đảm đang, biết lo liệu và

công lao tình nghĩa của người vợ đối với chồng khi đau ốm Chi tiết “tay đèo múi

chanh” là một chi tiết nghệ thuật rất chân thực, sinh động và giàu ý nghĩa Nếu thay

“múi chanh” bằng “quả chanh” hay “trái chanh” thì giá trị nội dung và nghệ thuật của câu thứ hai nói riêng và của cả bài ca dao nói chung sẽ giảm đi rất nhiều “Múi

chanh” ở đây có thể được dùng làm thang cho chén thuốc, có thể làm gia vị cho

thức ăn của chồng, cũng có thể vào thời điểm ấy việc tìm ra được dù chỉ là một múichanh cũng rất khó, rất cần, rất quý Có lẽ vì thế mà chi tiết này cho thấy một tìnhcảm sâu nặng nghĩa tình, một kỉ niệm mãi mãi khắc sâu trong lòng người vợ khôngbao giờ có thể quên được Vậy mà người chồng khi khỏi bệnh lại nỡ phụ tình người

vợ của mình Trước sự phụ tình ấy, người vợ đã đặt ra vấn đề li dị Nhưng điềuđáng nói ở đây là người vợ đặt ra vấn đề ấy cũng là để bày tỏ lòng mình cho chồnghiểu và qua đó mà cảm hóa anh ta, giúp anh ta hướng về sự đoàn tụ gia đình (chứkhông phải là li dị) Ở những câu sau người vợ vẫn xưng hô với chồng rất thân mật,thể hiện cho chồng thấy tình nghĩa thủy chung cao đẹp của mình:

Chàng về lấy vợ cách sông, Thiếp tôi lơ lửng lấy con ông lái đò.

Phòng khi chàng có sang đò, Sông sâu nước cả thiếp lo cho chàng.

Như vậy, dù có bị phụ bạc, dù bắt buộc phải đi bước nữa, người vợ cũng chỉvẫn yêu thương, lo liệu cho một người chồng duy nhất của chị mà thôi Bài ca daomột lần nữa khẳng định tấm lòng thủy chung son sắt, cao thượng, vị tha của ngườiphụ nữ

Trang 40

Nói về vẻ đẹp bên trong của phụ nữ, tác giả dân gian còn ca ngợi sự thôngminh, biết tính toán của họ:

Chàng đi thiếp mới trồng hoa, Chàng về thiếp đã hái ba bảy giành.

Một giành là bảy trăm hoa, Thiếp đem đi bán ba hoa bảy đồng.

Chàng mà tính được cho thông, Thì thiếp mở cửa loan phòng chàng vô.

(Ca dao)

Những người phụ nữ ấy luôn mong cho chồng mình được thành đạt:

Trống canh một dọn cửa dọn nhà, Canh hai dệt cửi,canh ba đi nằm.

Cuối canh tư sang đầu canh năm, Khuyên chàng dậy học còn nằm làm chi?

Đồn rằng chúa mở khoa thi, Bảng vàng chói lọi đỗ thì tên anh.

Bõ công bác mẹ sắm sanh,

Để anh đi học lấy danh tiếng đồn.

(Ca dao)

Như vậy, giữa cái đẹp hình thức bên ngoài và nội dung bên trong của ca dao

khi nói về người phụ nữ đều được người ta chú ý nhưng tập trung nhiều nhất vẫn là

cái đẹp bên trong theo quan niệm “Cái nết đánh chết cái đẹp” Bởi vậy, khen đẹp là

đẹp cả về nết lẫn về người mà nết vẫn được đặt lên trước Vì thế mà ca dao có bài:

Thân em như củ ấu gai, Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen.

Ai ơi, nếm thử mà xem!

Ngày đăng: 20/12/2013, 18:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị An (1990), Về một số phương diện nghệ thuật của ca dao, Văn học (Tập 6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một số phương diện nghệ thuật của ca dao
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 1990
2. Lại Nguyên Ân (2000), 150 từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2000
3. Hồ Thị Bảy (1998), Yếu tố thời gian trong ca dao tình yêu đôi lứa, Luận văn thạc sĩ, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yếu tố thời gian trong ca dao tình yêu đôi lứa
Tác giả: Hồ Thị Bảy
Năm: 1998
4. Mai Ngọc Chừ (1991), Ngôn ngữ ca dao Việt Nam, Văn học (Tập 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ ca dao Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Năm: 1991
5. Xuân Diệu (1998), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1998
7. Cao Huy Đỉnh (2000), Ca dao và những lời bình, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao và những lời bình
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2000
8. Nguyễn Xuân Đức (2003), Những vấn đề thi pháp văn học dân gian, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp văn học dân gian
Tác giả: Nguyễn Xuân Đức
Nhà XB: Nxb Khoahọc xã hội
Năm: 2003
9. Lê Bá Hán (Chủ biên), Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1999), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữvăn học
Tác giả: Lê Bá Hán (Chủ biên), Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
10. Đỗ Đức Hiểu (2003), Thế giới thơ Nôm Hồ Xuân Hương, trong cuốn “Hồ Xuân Hương về tác gia và tác phẩm”, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới thơ Nôm Hồ Xuân Hương, "trong cuốn" “Hồ XuânHương về tác gia và tác phẩm”
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
11. Minh Hiệu (1984), Nghệ thuật ca dao, Nxb Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật ca dao
Tác giả: Minh Hiệu
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1984
12. Nguyễn Thị Huế (1986), Người phụ nữ trong sinh hoạt dân ca, Tạp chí Văn học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người phụ nữ trong sinh hoạt dân ca
Tác giả: Nguyễn Thị Huế
Năm: 1986
13. Phạm Thị Thu Hương, Lại Văn Hùng, Trần Văn Trọng (2009), Hồ Xuân Hương tác phẩm chọn lọc, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Xuân Hươngtác phẩm chọn lọc
Tác giả: Phạm Thị Thu Hương, Lại Văn Hùng, Trần Văn Trọng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
14. Vũ Thị Thu Hương (2007), Ca dao Việt Nam và những lời bình, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Việt Nam và những lời bình
Tác giả: Vũ Thị Thu Hương
Nhà XB: Nxb Văn hóathông tin
Năm: 2007
15. Đinh Gia Khánh (Chủ biên), Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (2000), Văn học dân gian Việt Nam, Tái bản lần thứ 4, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn họcdân gian Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh (Chủ biên), Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
16. Nguyễn Xuân Kính (1992), Thi pháp ca dao, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1992
17. Nguyễn Xuân Kính (Chủ biên) (2001), Kho tàng ca dao người Việt, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca dao người Việt
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Vănhóa thông tin
Năm: 2001
18. Nguyễn Lộc (2007), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII – hết thế kỉ XIX, Tái bản lần thứ 7, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII – hết thế kỉ XIX
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
19. Trần Thanh Mại (2003), Thử bàn lại vấn đề tục và dâm trong thơ Hồ Xuân Hương, trong cuốn “Hồ Xuân Hương về tác gia và tác phẩm”, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử bàn lại vấn đề tục và dâm trong thơ Hồ XuânHương", trong cuốn" “Hồ Xuân Hương về tác gia và tác phẩm”
Tác giả: Trần Thanh Mại
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
20. Nguyễn Đăng Na (1996), Tủ sách văn học trong nhà trường – Hồ Xuân Hương, Nxb Văn nghệ TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tủ sách văn học trong nhà trường – Hồ Xuân Hương
Tác giả: Nguyễn Đăng Na
Nhà XB: Nxb Văn nghệ TP Hồ Chí Minh
Năm: 1996
21. Nguyễn Đăng Na (2003), Thơ Hồ Xuân Hương với văn học dân gian, trong cuốn“Hồ Xuân Hương về tác gia và tác phẩm”, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Hồ Xuân Hương với văn học dân gian, "trong cuốn"“Hồ Xuân Hương về tác gia và tác phẩm”
Tác giả: Nguyễn Đăng Na
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w