Nh vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết có uy tín khẳng định mối quan hệ giữa t tởng nhàn dật với triết lý Nho gia, t tởng Lão Trang, t tởng Phật giáo, về con đờng đi từ
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
Hồ thị huế
So sánh t t ởng nhàn dật t rong
của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Chuyên ngành: văn học việt nam Mã số: 60 22 34
Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Ngời hớng dẫn khoa học:
TS Lê Thời Tân
Vinh - 2008 Mục lục
Mở đầu………1
1 Lí do chọn đề tài………1
2 Lịch sử vấn đề………2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu……… ……… 9
4 Phạm vi t liệu và phơng pháp nghiên cứu……… ……… 9
5 Đóng góp mới của luận văn………10
6 Cấu trúc luận văn………11
Trang 2Chơng 1 Cơ sở t tởng của sự hình thành ý thức nhàn dật
trong văn học trung đại Việt nam và trong thơ Nôm
1.1 Từ cội nguồn t tởng nhàn dật đến việc xuất hiện nhà Nho ẩn dật trongvăn học trung đại Việt Nam………12
1.1.1 Phép ứng xử linh hoạt của Nho giáo………121.1.2 T tởng tiêu dao phóng nhiệm của Lão – Trang………141.1.3 Tinh thần thiền - trạng thái siêu thoát tĩnh lự của Phật giáo……161.1.4 Việc xuất hiện hình tợng nhà Nho ẩn dật trong văn học trung đạiViệt Nam……… ……… 171.1.5 Bớc đầu phân loại………231.2 Cơ sở hình thành t tởng nhàn dật trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm……… ……… 231.2.1 ảnh hởng của các t tởng Nho - Phật - Lão tới sự hình thành t t-ởng nhàn dật của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm…………231.2.2 Cơ sở xã hội dẫn tới sự hình thành triết lý nhàn dật của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm………271.2.3 Cuộc đời của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm trong hành trình tìm đến cuộc sống nhàn dật……… ……… 30Chơng 2 Sự gặp gỡ ở t tởng nhàn dật giữa Nguyễn Tr i và ã
2.1 T tởng nhàn dật của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm - một hỗn dung các t tởng Nho - Phật - Lão………34
2.2 “Nhàn” nh một phơng thức khẳng định cốt cách thanh cao của nhà
Trang 32.3.2 Tìm đến thiên nhiên để tâm giao ký thác tâm sự………64
2.3.3 Hoà hợp với thiên nhiên thể hiện tình yêu đối với vạn vật………
69 2.4 Hớng đến cuộc sống nhàn dật, song “nhàn thân” mà không “nhàn tâm”………75
2.4.1 “Nhàn” vẫn mang tâm sự ái u………75
2.4.2 “Nhàn” vẫn gắn bó với cuộc đời, cứu nớc giúp đời………82
2.5 Lý giải nguyên nhân của sự tơng đồng………87
2.5.1 Nguyên nhân từ hoàn cảnh xã hội………87
2.5.2 Nguyên nhân từ cơ sở t tởng………89
2.5.3 Nguyên nhân từ cuộc đời………89
Chơng 3 T tởng nhàn dật trong thơ Nôm của nguyễn Tr i và ã Nguyễn Bỉnh Khiêm - Một số điểm khác biệt…… ………….91
3.1 Nguyễn Trãi nhàn trong phong thái một nghệ sĩ, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhàn trong phong thái một triết nhân………
91 3.1.1 Cái nhàn của nhà nghệ sĩ………91
3.1.2 Cái nhàn của một triết nhân………97
3.2 T tởng nhàn dật của Nguyễn Trãi biểu hiện thành xung đột xuất - xử, ở Nguyễn Bỉnh Khiêm t tởng nhàn dật đợc biểu hiện nhất quán, thuận chiều………102
3.2.1 Những mâu thuẫn xung đột giữa xuất - xử, hớng lựa chọn và sự trăn trở khôn nguôi trong t tởng Nguyễn Trãi……… … 102
3.2.2 Biểu hiện nhất quán trong t tởng Nguyễn Bỉnh Khiêm khi lựa chọn xuất – xử……… ………
107 3.3 Nguyễn Trãi tiến đến chiều sâu cái nhàn quy ẩn của Nho gia, Nguyễn Bỉnh Khiêm vơn tới tầm cao cái nhàn của Lão - Trang………110
3.4 Lý giải nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau trong t tởng nhàn dật của hai tác gia………113
3.4.1 Nguyên nhân từ hoàn cảnh xã hội… ………
…… ……… 113
3.4.2 Nguyên nhân từ cuộc sống riêng của mỗi tác giả… ………… 115
Trang 43.4.3 Nguyên nhân từ bản chất tâm hồn, tính cách của mỗi tác giả… 115
Nghiên cứu thơ Nguyễn Trãi là để hiểu rõ hơn về một cuộc đời, một sự
nghiệp, một nhân cách sáng nh“ sao Khuê”.
1.2 Hơn một thế kỷ sau, một ngôi sao lớn khác lại xuất hiện trên bầutrời văn hoá dân tộc: Nguyễn Bỉnh Khiêm Nhân cách và tài năng của ông có
ảnh hởng mạnh mẽ đến gần suốt cả thế kỷ XVI - thế kỷ có nhiều biến độngchính trị lớn lao Ông là một nhà chính sách có uy tín, bậc hiền triết, nhà tiêntri, ngời thầy, ngời mà các bậc vua chúa đơng thời phải kính nể, tôn là bậcphu tử Nhng nổi bật hơn cả, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn là một nhà thơ, ngời
đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của văn học dân tộc
Nghiên cứu thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là để hiểu rõ hơn tài năng, nhâncách của một bậc cao sỹ, đồng thời là một thi nhân, triết nhân
1.3 Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đều là bậc trí giả, nhà vănhoá, nhà t tởng lớn của dân tộc Trong lĩnh vực văn học, hai ông còn là tác
giả của những tập thơ Nôm có giá trị (Quốc âm thi tập - Nguyễn Trãi; Bạch
Vân Quốc ngữ thi tập - Nguyễn Bỉnh Khiêm), có tính chất khai phá, mở đờng
cho nền thơ Việt Trong những bài thơ Nôm làm mê đắm lòng ng ời bao thế
hệ ấy, kết tụ, dung chứa những t tởng quan trọng của thời đại và của số phậncá nhân mỗi tác giả Đối chiếu, so sánh t tởng nhàn dật trong thơ NômNguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm nhằm tìm hiểu, lý giải những biểu hiện
Trang 5và mối liên hệ, sự tơng đồng và khác biệt trong quan niệm và cách hành xử
đối với cuộc sống nhàn dật của hai ông Trên cơ sở đó, góp thêm cái nhìn đachiều về nhân sinh quan, thế giới quan của hai tác giả, tạo điều kiện để hiểusâu thêm thơ văn hai ông, gợi ý cho cách hiểu và thẩm bình, mở rộng liên hệtrong quá trình nghiên cứu và giảng dạy thơ văn của hai tác gia ở trờng phổthông
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu thơ văn Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm có cả mộthành trình dài với nhiều công trình công phu, dày dặn, có giá trị của các bậctiền bối, các học giả, các nhà nghiên cứu phê bình Dới đây chúng tôi tổnghợp lại nội dung của những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.Chúng tôi tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau:
2.1 Những công trình, bài viết từng đề cập đến vấn đề ảnh h ởng củacác t tởng Nho - Phật - Lão đối với sự hình thành t tởng nhàn dật của nhàNho nói chung, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm nói riêng
- Nhà nghiên cứu Trần Đình Hợu đã có những công trình nghiên cứusâu sắc về mối quan hệ giữa Nho giáo với văn học Việt Nam trung - cận đại
Trong cuốn Nho giáo và văn học trung đại Việt Nam, ông dành tâm huyết
nghiên cứu vấn đề Nho giáo đối với t tởng Nguyễn Trãi và nhận thấy “t tởngcủa ông rõ ràng, gồm nhiều thành tố, thành phần t tởng Nho gia, thành phần
t tởng Lão - Trang, thành phần t tởng thuộc truyền thống dân tộc…” Tác giảbài viết đã chỉ ra trong những bài thơ cảnh giới của Nguyễn Bỉnh Khiêm “cótinh thần tránh cạnh tranh đề phòng họa hoạn, lại khuyên nên vô tâm, vô cầu,vô sự, biết lùi, biết nhờng…, những chữ, những ý rút ra từ sách vở Lão -Trang” Trần Đình Hợu cũng nhận định: “T tởng Đạo gia về cuộc đời, vềcông danh, về thái độ với cuộc sống làm ông tìm thấy thú vui, nhất là tìmthấy đợc sự yên tĩnh trong tâm hồn”
Trong bài viết, nhà nghiên cứu còn khẳng định sự không thuần nhấttrong t tởng nhà Nho và xu hớng đi từ Nho sang Trang của Nguyễn Trãi
- Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vơng trong công trình Văn học Việt Nam
dòng riêng giữa nguồn chung (Nxb Giáo dục, H, 1995) phân loại nhà Nho
Việt Nam thành hai loại hình: nhà Nho chính thống (bao gồm nhà Nho hành
đạo và nhà Nho ẩn dật) và nhà Nho tài tử và chia tâm nguyện nhà Nho thành
Trang 6hai kiểu hành và tàng, chia hành xử của nhà Nho thành hai khả năng xuất xử.
-Theo tác giả, nhà Nho không nhất thiết phải theo một trong hai khảnăng nói trên mà luôn luôn có sự chu chuyển, đổi chỗ Ông khẳng địnhthêm: “ngời ẩn sĩ thấm dần, thấm dần từ những mệnh đề bộ phận, lẻ tẻ đếnchỗ nhập vào tinh thần của t tởng Lão - Trang và thiền” và “đến một thời
điểm nào đó, hầu hết các ẩn sĩ đều là nhà Nho”
- Học giả Vũ Khiêu trong bài viết Từ đỉnh cao của trí tuệ đơng thời
(Nguyễn Trãi - tinh hoa và khí phách dân tộc, Nxb Khoa học xã hội, H,1980) đã nhận định Nguyễn Trãi “đợc nuôi dỡng bởi những câu chữ của nhàNho trong sữa mẹ”, tuy nhiên “Nguyễn Trãi không dừng lại ở Nho giáo Bộ
óc vĩ đại của nhà tri thức ấy tiếp thu toàn bộ kiến thức đơng thời từ giáo lýnhà Phật đến t tởng Lão - Trang… Ngời ta cũng thấy phảng phất ở ôngnhững lời nói, cử chỉ của Lão Tử, Trang Tử, Liệt Tử, những ý nghĩ hào phóngcủa Lý Bạch, của Vơng Duy”
- Giáo s Phan Ngọc trong bản tham luận T tởng Nguyễn Trãi qua cách
ứng xử vật chất của ngời Việt Nam (kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Nguyễn
Trãi) cũng tổng kết: “Trong văn bản, Nguyễn Trãi có trên 300 lần dùng từngữ của Lão - Trang và dùng rất tha thiết, say sa”
- Tác giả Nguyễn Thiên Thụ với bài viết T tởng Nguyễn Trãi (kỷ niệm
600 năm ngày sinh của Nguyễn Trãi, Nxb Khoa học xã hội, H, 1982) đãdành phần nhiều dung lợng bàn về vai trò của Tam giáo đối với việc hìnhthành t tởng của ông Ông cho rằng: “T tởng Lão - Trang khơi nguồn cảmhứng cho Nguyễn Trãi”, đồng thời khẳng định “Nguyễn Trãi thấm nhuầntriết lý đạo Phật Trong thơ Nguyễn Trãi ta thấy ba t tởng Nho - Phật - Lãogắn bó với nhau chặt chẽ ”, các triết thuyết đó “đã hoà hợp trong t tởng vàcuộc sống của Nguyễn Trãi”
- Nhà nghiên cứu Trần Đình Hợu trong bài viết Triết lý và thơ ở
Nguyễn Bỉnh Khiêm có nhận định “triết lý nhàn dật, con đờng tìm tự do của
Nguyễn Bỉnh Khiêm là một hình thức pha trộn Nho - Phật - Lão - Trang, mộthình thức quen thuộc của t tởng nhà Nho sau Đờng, Tống”
Những phân tích, lý giải sâu sắc của tác giả trong bài viết đã cung cấpcho chúng tôi cái nhìn rộng mở hơn khi nghiên cứu sự hình thành, bản chấtcủa triết lý nhàn dật trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trang 7- Các nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi - Tạ Ngọc Liễn trong bài viết
Phác họa diện mạo t tởng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chỉ ra cụ thể, xác thực bản
chất t tởng Nguyễn Bỉnh Khiêm Hai ông cho rằng: “mặc dù thấm sâu căncốt Lão - Trang, con ngời Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn không hẳn là Lão -Trang Nói cách khác, cái chất Lão - Trang ở đây đã dung hoà với lý thuyếtxuất - xử của Nho giáo, có nghĩa là t tởng thể hiện đậm nét nhất, lặp đi lặplại thờng xuyên trong thơ văn ông, trớc sau vẫn là đạo Nho”
- Cùng với hớng nhận định ấy, tác giả Bùi Văn Nguyên trong cuốn
Lịch sử văn học Việt Nam (tập 2, Nxb Giáo dục, H, 1978) cũng viết “t tởng
của Nguyễn Bỉnh Khiêm, nếu có cái phiêu diêu của Lão - Trang, cái thoáttục của Phật giáo thì chủ yếu vẫn có cái u ái của Nho sĩ chân chính”
Nh vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết có uy tín khẳng
định mối quan hệ giữa t tởng nhàn dật với triết lý Nho gia, t tởng Lão Trang, t tởng Phật giáo, về con đờng đi từ Nho sang Trang của hai tác giảNguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm
-2.2 Nhận xét trực tiếp về cuộc đời và chí nguyện nhàn dật của NguyễnTrãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm
- Trong cuốn Sơ thảo văn học Việt Nam (quyển 2, Nxb Văn - Sử - Địa,
H, 1957, Trơng Chính chủ biên, phần về con ngời và sự nghiệp thơ vănNguyễn Trãi), giáo s Trơng Chính viết: “khi nhà Minh cớp nớc ta, NguyễnTrãi có bị bắt giữ trong thành Chúng thấy ông là ngời có tài, muốn đa ra làmquan, nhng ông một mực từ chối, cho đến một ngày khi ông tìm Lê Lợi Cái
ý ở ẩn trong thơ vì thế mà có Lại mỗi lần nói đến công danh, ông th ờng tỏ rakhinh bỉ, chán ghét… Ông thờng ca tụng thú thanh nhàn, tự hào mình “đã
đổi công danh lấy một cần câu”, ông ở ẩn vì cha có cơ hội hoạt động”
- Giáo s Bùi Văn Nguyên trong chuyên luận Văn chơng Nguyễn Trãi
(Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1984) đã bao quát một cách sâurộng, tổng hợp kết quả tìm tòi nghiên cứu công phu của các giả về các sángtác của Nguyễn Trãi Giáo s đã đi vào tìm hiểu một số chủ đề chính trong thơNguyễn Trãi, trong đó nổi bật ba chủ đề: tình nhà và nợ nớc, hoài bão vàhiện thực, thiên nhiên và con ngời Qua đó cho thấy, Nguyễn Trãi là con ng-
ời nặng lòng, nặng nợ với quê hơng, gắn bó hài hoà với thiên nhiên, mangtrong mình mâu thuẫn lớn khó giải toả đã trở thành ẩn ức Bi kịch cuộc đời
đã dồn đẩy Nguyễn Trãi và cuộc sống ở ẩn là cuộc sống không hoàn toàn ớc
Trang 8vọng của cả cuộc đời ông, cuộc đời của một con ngời đầy nhiệt tâm, suốt đờiyêu nớc, thơng dân Cả ba chủ đề trên đều dung chứa những căn nguyên h -ớng Nguyễn Trãi đến cuộc sống nhàn dật.
- Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn đã su tập khá nhiều bài viết về
Nguyễn Trãi và cho in trong cuốn Nguyễn Trãi - về tác gia và tác phẩm
(Nxb Giáo dục, 2001) Nội dung các bài viết hết sức phong phú, gắn vớinhững vấn đề cơ bản trong thơ văn Nguyễn Trãi, trong đó có vấn đề t tởng
nhàn tản của ông trong Quốc âm thi tập.
- Trong Nguyễn Trãi - về tác gia và tác phẩm, chúng tôi chú ý tới
những luận giải của nhà nghiên cứu Trần Đình Hợu: “ông muốn làm dật dân
mà cũng muốn làm quân tử…, xuất một cách dùng dằng và xử một cách ânhận” là bi kịch lớn của con ngời tận tâm, tận hiếu, cả một câu chuyện dàilàm nhức nhối cân não bao thế hệ
- Miễn Trai với bài Hai cảnh ngộ một tâm tình đã xem xét quan niệm
về hai chữ nhàn và tàng của Nguyễn Trãi, cảm thông với ức Trai khi ở vào
cảnh “thân nhàn quan lạnh” thời kỳ “đại ẩn” mời năm trớc khi ức Trai về huthật sự Ngời viết khẳng định, với Nguyễn Trãi, “ẩn dật còn có ý nghĩa giữmình để an ủi, cũng là để quên” Tuy chỉ là phần rất nhỏ l ớt qua trong bàiviết, song lại là những phát hiện có ý nghĩa gợi mở cho chúng tôi khi nghiêncứu
- Nguyễn Huệ Chi với bài Niềm thao thức lớn trong thơ Nguyễn Trãi
đã tìm hiểu hai con ngời trong nhân cách Nguyễn Trãi: con ngời thi nhân vàcon ngời hành động Tác giả đã có những kiến giải sâu sắc, lý thú: “cái triết
lý ở ẩn thờng đợc nhắc đến trong thơ nh một lẽ sống của Nguyễn Trãi”
- Nguyễn Thiên Thụ với bài viết Thái độ Nguyễn Trãi trong cuộc sống
có phân chia 3 cách ứng xử: một là an phận thủ th ờng, hai là coi thờng cuộc
đời, ba là yên vui cảnh nhàn Tác giả đã ví Nguyễn Trãi nh Nghiêm Quang,
Y Doãn thuở trớc sống những ngày ẩn dật và lấp đầy những ngày ẩn dật làthú yên vui: vui với thú đọc sách, say mê nghệ thuật và tôn giáo, thởng lãmthiên nhiên Nguyễn Trãi đã nỗ lực để tạo ra “thiên đ ờng ở ngay địa ngụctrần gian” Bài viết trên đã cung cấp cho tác giả luận văn những gợi ý quantrọng trong việc phác thảo chân dung con ngời nhàn dật của Nguyễn Trãi
Bên cạnh việc khẳng định sự tồn tại của t tởng nhàn dật trong tâm hồn
và trong thơ Nguyễn Trãi, các nhà nghiên cứu cũng có những mô tả b ớc đầu
Trang 9về biểu hiện của t tởng đó trong thơ của ông nói chung và Quốc âm thi tập
nói riêng
- Theo Trần Đình Hợu, thơ Nguyễn Trãi “ít có bài tâm sự vui vẻ, phấnchấn đắc ý hành đạo, hầu hết là thơ ca tụng cảnh nhàn, cảnh đẹp thiênnhiên” Tác giả đã khẳng định Nguyễn Trãi có ở ẩn, có thơ về t tởng ẩn, cóchịu ảnh hởng của t tởng Lão - Trang, thậm chí còn chỉ rõ “t tởng Đạo gia vềcuộc đời, về công danh, về thái độ đối với cuộc sống làm cho ông tìm thấythú vui nhất là tìm đợc sự yên tĩnh trong tâm hồn”
- Khoá luận tốt nghiệp Hình tợng ẩn sĩ trong Quốc âm thi tập (Nguyễn
Trãi) của sinh viên Phạm Thị Thành, Trờng Đại học Vinh, 2005, đã xem xéthình tợng ẩn sĩ qua những hồi cố, đặt ớc muốn nhàn dật của hình tợng nhàNho ẩn dật trong mối liên hệ với quá khứ Khoá luận còn đề cập đến mốiquan hệ giữa ngời ẩn sĩ với thiên nhiên Tuy nhiên, khoá luận này ch a hệthống đợc con đờng tìm đến cuộc sống ẩn dật của các tác giả trung đại nóichung, của Nguyễn Trãi nói riêng Đây chính là chỗ trống để ngỏ khơi gợichúng tôi trong việc hình thành xây dựng các luận điểm
- Cuốn Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia tác phẩm do các tác giả Trần
Thị Băng Thanh - Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu (Nxb Giáo dục, 2003)
đã tập hợp nhiều bài viết của nhiều nhà nghiên cứu Một số bài đ a ra nhữngkiến giải sâu sắc, thuyết phục về t tởng nhàn dật trong thơ Nguyễn Bỉnh
Khiêm nói chung và trong Bạch Vân Quốc ngữ thi tập nói riêng Mở đầu
cuốn sách là bài viết của các soạn giả, trong đó có nhận xét “Nguyễn BỉnhKhiêm là một nhà Nho nhập thế hành đạo mang tấm lòng tiên u đến già chathôi, điều đó là sự thực, song Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng là một ngời nhàndật, một c sĩ cao khiết, một ông tiên giữa cõi đời Hai quan niệm, hai cáchsống đối lập nhau đã hội tụ làm nên một nhân cách Nguyễn Bỉnh Khiêm,một nhân cách đa dạng, phong phú, khác ngời nhng nhất quán”
Kế đến là bài viết của tác giả trung đại và hiện đại quan tâm đến vấn
đề nhàn dật trong sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm
- Vũ Khâm Lân trong Bạch Vân am c sĩ Nguyễn Công Văn Đạt phả kí
đặt t tởng nhàn dật của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong quan hệ với hoàn cảnh
“bất đắc chí” của ông: “tuy nhiên, đời dùng thì làm, đời bỏ thì ẩn, đối vớitiên sinh dù chẳng đắc dụng cũng có hề chi, ta rất hâm mộ tiên sinh về chỗ
đó Thử coi sinh trởng trên đất nhà Mạc, khi thử ra làm quan để hành sở học,
Trang 10thì cũng muốn bắt chớc Khổng Phu Tử muốn vào yết kiến Công Sơn PhấtNhiễu, rồi khi biết rằng không thể giúp đợc mà vội bỏ đi thì lại muốn theo trísáng của Trơng Lơng để hỏi thăm Xích Tùng Tử”.
- Phạm Luận trong bài Thơ nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ rõ rằng:
Nguyễn Bỉnh Khiêm bỏ về, tìm đến cảnh nhàn dật “không phải để tránh đời,tránh ngời nh một nhà ẩn dật thực thụ” mà là “muốn bắt tay vào một hoạt
động khác, hoạt động tìm cách chữa bệnh cho nớc, cho dân”
- Trong bài Triết lý và thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, giáo s Trần Đình Hợu
cho rằng, nhàn dật ở Bạch Vân c sĩ là cách sống, là quan niệm nhân sinh màNguyễn Bỉnh Khiêm đã lựa chọn qua cách Nguyễn Bỉnh Khiêm tự gọi mình
là ông nhàn và “ông nhàn là ngời sống với t cách là một cá nhân, chứ khôngphải là t cách của một thành viên của một cộng đồng nào đó, là một ngời cólạc thú, chứ không phải là một ngời có chức năng, nghĩa vụ”
- Tác giả Nguyễn Huệ Chi (chuyên luận Nguyễn Bỉnh Khiêm - nhìn từ
một nhân cách lịch sử đến dòng thơ t duy thế sự) nhận định: “nhàn của
Nguyễn Bỉnh Khiêm là một biểu hiện của ung dung tự tại, của một phongthái sống cởi mở, hồ hởi với tạo vật, biết gắn mình với thiên nhiên, hiểu đợc
đến cội nguồn cái đẹp hồn nhiên của cuộc sống, của chuyển vần, của thay
đổi”… Đó là “cái nhàn triết học” của một t cách triết nhân
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đã gặp nhau ở sự khẳng định triết lýsống nhàn dật của Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải là lánh đời, trốn đời, mà
là cách sống ung dung tự tại mang tính chất “minh triết bảo thân”
Các công trình nghiên cứu, các bài viết gặp nhau ở điểm khẳng địnhhai tác giả là những nhân cách tài năng lớn Trong thơ Nôm của hai tác giả
đều có thiên hớng ca ngợi đề cao cuộc sống nhàn dật, chí hớng nhàn dật biểuhiện ra ở nhiều khía cạnh bình diện khác nhau Các bài viết cũng gặp nhau ởnội dung làm sống dậy thời đại của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm,một số bài viết có những so sánh trên đại thể, những nhận định bớc đầu về ttởng nhàn dật của hai tác giả Mặc dù những t liệu chúng tôi tham khảo chabao quát hết kết quả mà các bậc tiền bối đã dày công nghiên cứu, nhng phầnnào đã giúp cho ngời viết có thêm tri thức về hai tác giả và vấn đề đang tìmhiểu Nhiều bài viết, nhiều nhận định mang tính chất gợi mở, làm căn cứkhoa học cho ngời viết thiết lập các luận điểm, suy nghĩ sâu hơn về vấn đề
đang tìm hiểu
Trang 113 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu, tìm hiểu những cơ sở t tởng hình thành ý thức nhàn dậttrong văn học trung đại Việt Nam và trong thơ Nôm Nguyễn Trãi, NguyễnBỉnh Khiêm
- So sánh, đối chiếu chỉ ra những điểm tơng đồng trong t tởng nhàn dật
của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm trong Quốc âm thi tập và Bạch Vân
Quốc ngữ thi tập Lý giải nguyên nhân những điểm tơng đồng đó.
- Tìm hiểu, so sánh những điểm khác biệt trong t tởng nhàn dật của hai
tác giả biểu hiện trong Quốc âm thi tập và Bạch Vân Quốc ngữ thi tập và lý
giải nguyên nhân những khác biệt đó
4 Phạm vi t liệu và phơng pháp nghiên cứu
4.1 Phạm vi t liệu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tiến hành khảo sát các t liệu sau:
- Cuốn Nguyễn Trãi toàn tập tân biên - tập 3 (Quốc âm thi tập) do
Mai Quốc Liên (chủ biên), Nguyễn Quảng Tuân, Kiều Thu Hoạch, NguyễnKhuê phiên âm và chú thích, Nxb Văn học, Hà Nội, 2003
- Cuốn Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm - tập 1 (Bạch Vân Quốc ngữ thi
tập) do Bùi Văn Nguyên phiên âm, chú thích và giới thiệu, Nxb Giáo dục,
1989
4.2 Phơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết đề tài này, chúng tôi sử dụng các phơng pháp sau:
- Phơng pháp thống kê phân loại:
Chúng tôi tiến hành thống kê những câu thơ, bài thơ của Nguyễn Trãi
trong Quốc Âm thi tập và của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong Bạch Vân Quốc ngữ
thi tập trực tiếp nhắc đến chữ “nhàn”.
- Phơng pháp so sánh:
Chúng tôi so sánh những biểu hiện giống và khác trong t tởng nhàn dậtcủa Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện trong thơ Nôm Đồng thời,chúng tôi cũng sử dụng phối hợp những kiến thức văn học, sử học, triết học
để lý giải và hiểu sâu hơn sự hình thành t tởng nhàn dật trong thơ văn các tácgiả trung đại Việt Nam và trong thơ Nôm Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm
- Bên cạnh đó, phơng pháp phân tích, cảm thụ, tổng hợp cũng hỗ trợchúng tôi rất nhiều trong việc chỉ rõ các đặc điểm, sắc thái, nội dung, ýnghĩa, điểm giống và khác nhau trong t tởng nhàn dật của hai tác giả
Trang 125 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn có những đóng góp cơ bản sau:
- Về t liệu: khái quát đợc một số công trình nghiên cứu quan trọng về
t tởng nhàn dật của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm So sánh những biểuhiện của t tởng nhàn dật trong sáng tác thơ Nôm hai tác giả Bớc đầu đa ranhững kết quả thống kê những câu thơ, bài thơ nói về chữ “nhàn” với ý nghĩa
nhàn tản trong hai tập thơ Quốc Âm thi tập - Nguyễn Trãi và Bạch Vân Quốc
ngữ thi tập - Nguyễn Bỉnh Khiêm.
- Về mặt nội dung: bớc đầu t tởng nhàn dật thể hiện trong hai tập thơ
Quốc Âm thi tập - Nguyễn Trãi và Bạch Vân Quốc ngữ thi tập - Nguyễn Bỉnh
Khiêm đợc đa ra so sánh, phân tích một cách hệ thống và khá hoàn chỉnh từcơ sở hình thành, biểu hiện giống và khác trên một số bình diện Luận văncũng cố gắng lý giải nguyên nhân của sự giống và khác nhau đó
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chínhcủa luận văn đợc triển khai thành 3 chơng
Chơng 1 Cơ sở t tởng của sự hình thành ý thức nhàn dật trong văn học trung đại Việt Nam và trong thơ Nôm Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Chơng 2 Sự gặp gỡ ở t tởng nhàn dật giữa Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm trong thơ Nôm.
Chơng 3 T tởng nhàn dật trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm - Một số điểm khác biệt.
Chơng 1
Trang 13Cơ sở t tởng của sự hình thành ý thức nhàn dật trong văn học trung đại Việt nam và trong thơ Nôm
Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm
1.1 Từ cội nguồn t tởng nhàn dật đến việc xuất hiện nhà Nho ẩn dật trong văn học trung đại Việt Nam
1.1.1 Phép ứng xử linh hoạt của Nho giáo
Nho giáo là một học thuyết chính trị xã hội cung cấp cho giai cấpthống trị phong kiến một công cụ t tởng để giáo hoá dân chúng, cai trị xãhội Về cơ bản, Nho giáo đề cao tinh thần hữu vi, nhập thế Ng ời quân tửtheo quan niệm của Nho giáo mang trong mình lý tởng lớn lao suốt cuộc đời,
đó là “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Đạo Nho tạo ra những chuẩntắc, lễ nghi đợc xem là những “khuôn vàng thớc ngọc” mà ngời quân tửphong kiến lấy đó làm mục tiêu để hoàn thiện Mặc dù vậy, ta vẫn thấy Nhogiáo có những khoảng linh hoạt, biện chứng trong cách hành xử Về thái độ
đối với cuộc đời, Khổng Tử đã đa ra thuyết “hành - tàng” Cụ thể là: “dụngchi tắc hành, xả chi tắc tàng”, nghĩa là đợc dùng thì hành đạo, không đợcdùng thì rút lui, giữ mình Với phơng châm xử thế “vô quan khinh thân”(không làm quan nhẹ ngời) hay “đạt tắc kiêm tế thiên hạ, cùng tắc độc thiện
kỳ thân” (Mạnh Tử), nghĩa là khi đạt thì hành đạo khắp thiên hạ, lúc cùng thìgiữ riêng phận mình cho tốt, Nho giáo đã tạo đợc một căn cứ cho những ứngphó cụ thể của Nho sĩ trớc thời cuộc Bên cạnh đó, Khổng Tử còn đề xớngthuyết Trung dung Theo cách hiểu đơn giản thì Trung dung là chọn cáchứng xử hài hoà, cân bằng, không bất cập, cũng không thái quá Ng ời quân tửtheo đợc đạo Trung dung phải là ngời biết “tuỳ thời”, là ngời sáng suốt lựachọn thời thế, hoàn cảnh để hành xử cho thích hợp Thuyết Trung dungkhuyên nên theo mức độ trung bình trong mọi thái độ, cách c xử, hành độngcũng nh tình cảm Theo Khổng Tử, chỉ có ngời quân tử mới thực thi đợc đạoTrung dung, vì thế “quân tử Trung dung, tiểu nhân phản Trung dung” Nhogiáo cũng nhấn mạnh: “quân tử nhi thời trung”, nghĩa là ng ời quân tử tuỳthời mà thực hiện Trung dung
Vận dụng vào thái độ chính trị của nhà Nho đối với Nhà n ớc phongkiến thì thấy nhà Nho cũng nên tuỳ thời mà giữ lòng trung, nghĩa là khôngnhất thiết lúc nào cũng chỉ phụng sự, tôn thờ một triều đình, một vị vua, nhất
Trang 14là khi triều đình đó không thực thi đạo và vị vua đó không thực sự anh minh.Quan điểm “thời trung” cho phép nhà Nho tuỳ vào địa vị, hoàn cảnh mà giữlòng trung, không phải cứ giữ kh kh một thái độ, một cách ứng xử mới đợcgọi là trung tín Bất kỳ chuẩn tắc đạo đức nào của nhà Nho cũng phải theotrung dung, theo sự biến thông của vũ trụ, xã hội, vận dụng và biến đổi theothời.
Nh vậy, thuyết Trung dung của Đạo nho đem lại cho tinh thần sự annhàn trong thế quân bình, từ đó Nho gia vạch ra hai khả năng “quân tử chi
đạo hoặc xuất hoặc xử” (đạo của ngời quân tử hoặc xuất hoặc xử) Xuất - xử,hành - tàng, đều phải có điều kiện; hay nói cách khác, đ ợc dùng thì hành
đạo, không đợc dùng thì rút lui, không nhất thiết phải “hành” một cách mùquáng, vô nghĩa Bên cạnh đó, quan niệm “minh triết bảo thân” của Nho giacho phép nhà Nho biết quý trọng thân mình, giữ gìn bản thân, lui về giữ đạokhi nớc có loạn Trong một số trờng hợp cũng là để giữ mình mà chờ thời.Phơng châm xử thế của nhà Nho là “thiên hạ hữu đạo tắc hiện, vô đạo tắcẩn” (thiên hạ có đạo thì ra làm quan, vô đạo thì đi ở ẩn) Quan niệm “minhtriết bảo thân” không đồng nghĩa với thái độ sống vụ lợi, ích kỷ, chỉ biết lotới sự an nguy của bản thân, mà chỉ là không hớng tới sự xả thân vô nghĩa,trung tín một cách mù quáng Nh vậy, giáo lý, t tởng Nho gia cũng rất linhhoạt, biện chứng ở điểm dù yêu cầu phải trung tín, phải “khắc kỷ phục lễ”,phải “dĩ sát thân dĩ thành nhân”, song lại cũng đề cao với ứng xử Trungdung, “minh triết bảo thân” Lối ứng xử này cung cấp cho nhà Nho một chỗdựa tinh thần thuyết phục, hớng dẫn nhà Nho khi không gặp thời có thể lựachọn một lối ứng xử trái với tinh thần nhập thế, đó cũng chính là một trongnhững nguyên nhân sâu xa hình thành t tởng nhàn dật, hớng nhà Nho về vớicuộc sống ẩn dật khi bất mãn với thời cuộc, bất ứng với thời thế, bất đồng vớithực tại Và vì thế “tàng” hay “xuất” không phải là lý tởng của Nho sĩ mà chỉ
là một cách phản ứng với thực tại, một cách ứng xử cho phù hợp với điềukiện hoàn cảnh lúc đó Chính sự linh hoạt trong giáo lý Nho gia là cơ sở cho
sự linh hoạt trong ứng xử của nhà Nho trớc thời cuộc Về cơ bản, Nho giathừa nhận hai dạng thức sống Và dạng thức thứ hai, đó chính là con đ ờng trởthành những ngời ẩn dật
1.1.2 T tởng tiêu dao phóng nhiệm của Lão - Trang
Trang 15Triết học Lão - Trang hô hào quay về với tự nhiên nhằm đạt tới sự
“tiêu dao phóng nhiệm”, đó là thái độ sống không câu thúc bởi thế tục,không vơng vấn chuyện đời Đạo gia cổ suý cho lối sống thuận theo tự nhiên,quên thân mình, với ba điểm cơ bản “tuyệt thánh khí trí, tuyệt xảo khí lợi,tuyệt học vô u”, nghĩa là dứt thánh bỏ trí, dứt (trí) xảo bỏ lợi, dứt học không
âu lo Tự nhiên theo đạo Lão không chỉ là thiên nhiên, mặc dù thiên nhiên làthế giới rộng mở của tự nhiên ở tầm triết học, tự nhiên là sự phác thực, độclập tự chủ của nhân cách cá nhân Đạo Lão cũng cho rằng, nếu con ngời cứphụ thuộc hoàn toàn vào những biến động không ngừng của xã hội, bám chặtvào những giăng mắc, giằng co tranh chấp, con ngời sẽ mất đi sự giản phác,hồn nhiên Cho nên, muốn an toàn tuyệt đối phải hớng tới một cuộc sốngkhác, đó là cuộc sống siêu công lợi, siêu đạo đức, một mình dao du trong thếgiới tinh thần của trời đất, đắm mình vào thiên nhiên vũ trụ Do vậy, “nhâncách lý tởng của Đạo gia chính là thoát khỏi mọi vất vả vật chất, gánh nặng
có tính chất xã hội nhằm đạt đợc nhân cách tự do tuyệt đối trong thể đạo”[25, tr.62]
Nho gia thừa nhận hai dạng thức sống, hành đạo và ẩn tàng Tuynhiên, khi xuất thế, nhà Nho cần chọn t tởng, lối giải thoát cho tinh thần, tìm
sự phóng khoáng cho tâm hồn, sự an nhiên, thanh tĩnh, h tâm Lúc đó, họ tìm
đến triết lý, t tởng của Lão - Trang Nhà Nho mợn triết lý của Lão - Trang đểtìm chỗ nghỉ ngơi cho tinh thần, xem đó nh bức bình phong ngăn cản mọicám dỗ, ham muốn, mọi vớng bận trong cuộc đời Trang Tử đề cao thứ tự dotuyệt đối, không phụ thuộc vào bất cứ ngoại vật nào, hớng tinh thần tự do tựtại, phiêu diêu phóng túng Điều đó thể hiện trong hành động chiếm lĩnhkhông gian vô cùng rộng lớn của chim bằng và tâm thế an nhiên làm chủ
“phù liệt tử ngự phong chi hành, lãnh nhiên thiện giã” (liệt tử cỡi gió mà đikhoan khoái) [45, tr.23], tiêu dao hoà mình trong đạo lớn của vũ trụ mà cóthể “vong niên vong nghĩa, chấn vô cảnh, cổ ngũ vô cảnh” (quên tuổi mình
đi, quên thị phi đi, ngao du chốn vô cảnh giới và giữ mình trong cõi đó) [45,tr.174]
Đạo gia mở ra con đờng cho con ngời thâm nhập vào tận bề sâu cốt lõicủa sự sống, hớng con ngời trở về với bản tính nguyên sơ của mình Trong
chơng “Sơn Mộc” sách Nam hoa kinh của Trang Tử có chép lời Thị Nam Tử
giải thích về sự u sầu của vua và khuyên “Ngô nguyện quân khoả hình khứ
Trang 16bì, sái tâm khứ dục, nhi du vô nhân chi dã” [45, tr.367], nghĩa là tôi mongnhà vua quên hình hài, bỏ lớp da đi, rửa lòng, diệt dục mà tiêu dao ở cõi tịnhmịch không ngời Khi quên mình đi trong những lo lắng vật chất ham muốncông danh, không bị câu thúc bởi thế tục, bỏ ngoài tai những chuyện thị phicon ngời sẽ đạt đến đỉnh cao của sự tự do tự tại Kinh sách Lão - Trang cũngghi lại rất nhiều Nho sĩ ở ẩn, yêu cuộc sống thanh bần nơi chốn hoang sơ,khớc từ mọi công danh vật chất, đặt mình ra ngoài sự thế, mặc sức dạo chơicõi vũ trụ vô cùng.
Những triết lý, t tởng Lão - Trang đã làm cơ sở cho sự sản sinh hàngloạt ẩn sĩ trong lịch sử Trung Hoa Đã có không ít sách báo nghiên cứu, các
câu chuyện kể về ẩn sĩ Trung Hoa nh: Hậu Hán th, Tần th, Đờng th, Tống sử,
Minh sử, đều có dật dân truyện, ẩn dật truyện Gần đây có cuốn ẩn sĩ Trung Hoa của Hàn Triệu Kỳ, là cuốn sách ghi chép khá đầy đủ, rõ ràng về đời
sống mọi mặt của ẩn sĩ Nh vậy, triết thuyết Nho gia cung cấp cho Nho sĩ sựlinh hoạt trong cách hành xử Bên cạnh thái độ nhập thế hành đạo còn có sựlựa chọn xuất thế tuỳ thời, còn có t tởng tiêu dao phóng nhiệm Học thuyếtcủa Lão - Trang cung cấp cho nhà Nho phơng tiện cách thức ẩn dật Nh vậy,với Đạo Nho bên cạnh sự khuyến khích nhập thế hành đạo còn vạch ra cảcon đờng lui nghỉ, “minh triết bảo thân” để không xả thân, dấn thân mộtcách mù quáng, vô nghĩa, thì Đạo gia cung cấp thêm cho nhà Nho ph ơngthức ẩn, ứng xử nhân sinh khi quy ẩn
T tởng tiêu phóng nhiệm, vô vi của Lão - Trang cung cấp thêm cho cácNho sĩ phơng thức, cách hành xử trong cuộc sống ẩn dật, hớng họ đến ớcmuốn nhàn dật và thực thi một cách có ý nghĩa t tởng nhàn dật đó trong cuộc
đời
1.1.3 Tinh thần thiền - trạng thái siêu thoát tĩnh lự của Phật giáo
“Thiền” là khái niệm Phật giáo chỉ trạng thái tĩnh lự, là sự suy nghĩmột cách tập trung trong sự tĩnh lặng cao độ, trạng thái lấy thanh tĩnh làmgốc, tập trung vào t duy, chú tâm vào một chỗ mà suy nghĩ về đạo lý mầu nhiệm
Theo các nhà nghiên cứu, “thiền” là sự thể hiện tột bậc của cảm giácthống nhất, là sự hoà đồng tuyệt vời giữa cái bản ngã và phi ngã, đạt trạngthái nhất thể về thế giới “Thiền” chú trọng trực giác hơn lô gích, chú trọng
sự đúng ngộ bên trong, là sự tập trung tỉnh thức
Trang 17Theo D.T.Suzuki: “Thiền là một nghệ thuật nhìn vào bản tính hiện hữucủa mình, thiền giải phóng tất cả những tinh lực cố hữu và tự nhiên trongmỗi chúng ta”.
Thiền định hay tĩnh lữ cũng là cách giúp con ngời thoát mình ra khỏinhững vớng bận của đời sống phàm tục, giúp cho tâm hồn trong sáng bìnhtĩnh không sinh phiền não, từ đó mà đạt tới sự an lạc chân chính Do vậy,trạng thái thiền chính là một cách giúp con ngời nhàn tâm, đạt đến cái tâmthanh tĩnh
Phật giáo quan niệm con ngời sinh ra là chìm sâu vào bể khổ, mộttrong những nguyên nhân đa sự đau khổ cho con ngời là lòng tham dục, conngời muốn thoát khổ phải diệt tham, diệt dục, chăm lo tu hành Con đ ờngcứu khổ cứu nạn là giáo nghĩa: “ch pháp vô ngã, vạn hạnh vô thờng, niết bàntịnh tĩnh, sắc sắc không không” Phật giáo khuyên con ng ời vứt bỏ duyên luỹtrần trục để vơn tới cõi niết bàn thanh tĩnh Con ngời Phật giáo trong tu hành
là con ngời “vô tâm”, “vô ý”, “vô ngã”, “vô ngôn”,… Họ thờng tìm đếnkhông gian tu hành tĩnh mịch, u yết, nơi ở của kẻ tu hành th ờng tránh khỏicuộc sống trần tục nhiều bon chen, ham muốn tầm thờng
Chính bản chất siêu thoát, trạng thái thiền định hớng các đệ tử Phật giatới chốn thanh tĩnh, tránh xa cõi tục mong đạt đến sự h tâm Từ đó hìnhthành kiểu sống ẩn dật, lánh đời
1.1.4 Việc xuất hiện hình tợng nhà Nho ẩn dật trong văn học trung
đại Việt Nam
Nho giáo và Đạo giáo trở thành những hệ t tởng có sức lan toả, cộng ởng sâu sắc đến đời sống văn hoá tinh thần trớc hết ở cội nguồn sinh ra nó.Lịch sử Trung Hoa đã lu danh rất nhiều tên tuổi các ẩn sĩ Hình tợng ẩn sĩ đivào trong văn học đợc ngợi ca không ít Họ là những bậc đại danh, việc làm
h-và khí tiết của họ đã trở thành những điển tích, điển cố, giai thoại cho vănhọc đời sau
Cuốn ẩn sĩ Trung Hoa của Hàn Triệu Kỳ xuất bản năm 1996, do Cao
Tự Thanh dịch sang tiếng Việt, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2001 đã cung cấpmột cái nhìn khá toàn diện về đời sống mọi mặt của loại ng ời này trong xãhội Trung Hoa, từ nguồn gốc đến diện mạo muôn hình muôn vẻ của ẩn sĩ,nguyên nhân để ẩn sĩ ở ẩn, quan hệ xã hội của ẩn sĩ, quan hệ của ẩn sĩ vớichính trị đơng thời…
Trang 18Việt Nam chịu ảnh hởng sâu sắc từ nền văn hoá Trung Hoa Các t tởng
về ngã đờng xử thế, cách thức xử thế của Nho giáo và Lão - Trang, nhữnghình tợng ẩn sĩ Trung Hoa đã có tác động lớn đến sự vận động t tởng của trithức Việt Nam thời trung đại Lịch sử Việt Nam trung đại cũng lu danh khánhiều nhân vật nhà Nho ở ẩn Họ đa phần đều là những học trò nơi cửaKhổng sân Trình, nhiều ngời trong số đó là nhà Nho uyên bác, để lại dấu ấnlớn trong lịch sử dân tộc Tuy nhiên, hình tợng nhà Nho ở ẩn Việt Nam cónhững nét khác với các hình tợng ẩn sĩ Trung Hoa ẩn sĩ Việt Nam thờng rất
ít loại tiêu cực nh ẩn sĩ Trung Hoa, chẳng hạn ẩn sĩ Trung Hoa có kẻ lờibiếng, bừa bãi, có kẻ ăn hang ở lỗ, ăn mày ăn xin, bộ dạng nh ngời điên thì ởViệt Nam chủ yếu là lớp ngời có tri thức và tinh thần yêu nớc Do vậy, bêncạnh một số nhà Nho mang trong mình khí chất nghệ sĩ, có ham thú tìm vềvới thiên nhiên, phần đa các nhà Nho trung đại Việt Nam thờng về ở ẩn khigặp hoàn cảnh bất đắc chí, loạn li, triều đình mục nát… dẫn đến lý tởngkhông đợc thực thi, họ tìm đến cuộc sống ẩn dật để tránh xa những bất lợi cóthể gặp phải khi lu thân chốn quan trờng, để “minh triết bảo thân”, lánh đục,chờ thời…
Trong lịch sử và văn học dân tộc, có thể kể đến các tên tuổi nhà Nho ở
ẩn nh: Chu Văn An, Trần Nguyên Đán (ông ngoại Nguyễn Trãi), Nguyễn PhiKhanh (thân phụ Nguyễn Trãi), Trần Quang Triều, Hồ Tông Thốc, Trình SMạnh, Nguyễn Trì Trung, Nguyễn Trực… Về sau có Nguyễn Hàng, NguyễnHúc, Nguyễn Dữ, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp… và nhà Nho ẩn dậtcuối cùng của Việt Nam là Nguyễn Khuyến
Trong một số tên tuổi vừa kể trên, không phải ai ngay từ đầu hay suốtcuộc đời đều chuyên tâm con đờng trở thành ngời ẩn dật, mà có thể, trongcuộc đời có sự đan xen các giai đoạn tham chính và ẩn dật Chẳng hạn,Nguyễn Trực khi vua Lê Nhân Tông bị giết, ông xin về quê nghỉ, sau đ ợcvua Lê Thánh Tông mời, ông lại ra làm quan Vũ Mộng Nguyên tr ớc ẩn dật,sau ra làm quan, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đan xen trong cuộc đờilúc ra làm quan khi thì về trí sĩ… Trong số họ, nhiều ngời là tác gia củanhiều thi phẩm thể hiện chí ẩn dật, bộc lộ t tởng cầu nhàn hởng lạc
Chẳng hạn, Trần Nguyên Đán làm đến tể tớng trong triều, biết nhàTrần sắp mất, ông xin về nghỉ tại Côn Sơn Ông để lại 51 bài thơ, trong đó có
12 bài đợc tuyển vào cuốn Thơ văn Lý Trần (tập 3) Hầu hết đều nhắc đến
Trang 19chữ nhàn, đều ca ngợi cuộc sống nhàn dật, trong đó có những câu bộc lộ mộtcách trực tiếp niềm mong ớc đợc sống thích chí giữa thiên nhiên:
Hảo hớng ngâm sơn bế ẩn phi
Sơn Trung ngẫu thành
(Thích đến nơi núi cao, khép cánh cửa ở ẩn.)Chu Văn An là bật trí sĩ nhà Trần, là bậc trung thần dốc hết lòng hếtsức phục vụ triều chính, nhng khi thất vọng, bất đắc chí với triều đình, ôngcũng lui về ẩn dật, sống cuộc đời giản dị, thanh bần, ông viết nhiều bài thơ
nh: Thôn Nam Sơn tiểu khê, Xuân đán, Miết trì, Đề Dơng Công hoa đình,
Nguyệt tịch bộ Tiên Du sơn tùng kính… Chu Văn An náu thân ở trên núicao, tạo cho mình cảm giác đã lánh xa cõi tục
Nhàn thân nam bắc phiến vân khinh,Bán chẩm thanh phong thế ngoại tình
Thôn Nam Sơn tiểu khê
(Thân nhàn nh đám mây nhẹ bay khắp nam bắc,Gió thổi mát bên gối, tâm tình để ngoài cuộc đời.)Riêng với Nguyễn Trãi, bên cạnh t tởng nhập thế hành đạo mong đợcphò vua giúp nớc, trong suốt cuộc đời, ông vẫn luôn hớng tâm hồn nghệ sĩcủa mình về với Côn Sơn nh hớng đến một cõi thanh sạch, nơi có thể kí thác
và giải toả những ẩn ức, mọi nỗi niềm, tâm t sâu kín của mình Có khi viễncảnh của cuộc sống nhàn dật hiện diện trong thơ ông nh một niềm khao khátthờng trực:
Một phút thanh nhàn trong thuở ấy,Nghìn vàng ớc đổi đợc hay chăng?
thiên Tịch c ninh thể phú để bày tỏ chí hớng ẩn dật, ngợi ca cuộc sống đạm
bạc nhng tự do, tự tại, tự lạc:
Trang 20Cầm lậu canh an dật đành hanh rừng dáng điêu chim, vỗ khúc nhạc u
Bài phú của Nguyễn Hàng là bức tranh sinh động về cuộc sống ẩn dật
Ngời ta vẫn thờng so sánh nó với bài Quy khứ lai từ của Đào Tiềm.
Nguyễn Dữ là bậc ẩn sĩ đầu tiên của cuối đời Hồng Đức, sớm biết vận
Lê không thể bền lâu nên khi thi đỗ cử nhân, đợc bổ làm tri huyện, ông chỉlàm quan một năm rồi viện cớ nuôi mẹ để từ quan về sống ẩn dật Trong
Truyền kỳ mạn lục, ông mợn câu chuyện ngời triều phu núi Na để hàm ẩn t
t-ởng ẩn dật của mình: “trốn đời…, lánh bụi…, gửi tính mệnh nơi lều tranhquán cỏ, tìm sinh nhai trong búa gió rìu trăng, ngày có lối vào làng say, cửavắng vết chân khách tục…, chỉ biết đông kép mà hè đơn, nằm mây mà ngủkhói, múc khe mà uống, bới núi mà ăn chứ có biết ở ngoài triều đại nào, vuaquan nào đâu” [46, tr.275]
Nguyễn Bỉnh Khiêm là bậc đại trí trong lịch sử trung đại Việt Nam,
ông sống gần trọn thế kỷ XVI Tuy tài cao học rộng nhng mãi đến năm 44tuổi mới ra làm quan triều Mạc, sau ông lấy cớ xin chém 18 tên lộng thầnkhông đợc chấp nhận rồi thoát thân ra chốn quan trờng, lui về ở ẩn, dựngquán Trung Tân bên dòng sông Tuyết Giang Thơ ông thể hiện một cách tậptrung ham thú nhàn tản của bậc trí giả thấu suốt mọi lẽ biến dịch ở đời:
Cao khiết thuỳ vi thiên hạ sĩ,
An nhàn ngã thị địa trung tiên
Ngụ hứng
(Cao khiết, ai là kẻ sĩ trong thiên hạ,
An nhàn, ta là bậc tiên trong cõi đời.)
ở Nguyễn Du, t tởng nhàn dật biểu hiện tập trung, chủ yếu ở phần thơchữ Hán Thực chất của t tởng cầu nhàn của Nguyễn Du là thái độ phản ứngcủa bản thân nhà thơ đối với “con ngời chính trị” của mình Tuy nhiên, ởNguyễn Du t tởng nhàn dật cha trở thành một phơng thức sống mà chỉ biểuhiện nh một cách cởi tỏ nỗi buồn thế sự muôn thuở Sự cởi tỏ ấy lặp đi lặp lại
Trang 21trong nhiều bài thơ chữ Hán nh: Sơn thôn, Mộ xuân mạn hứng, Đạo ý, Hành
lạc từ…
Giai đoạn sau của thời trung đại, không thể không kể tới tác gia ở ẩnNguyến Khuyến Có thể xem ông là nhà Nho ẩn dật cuối cùng của Việt Namthời trung đại Bối cảnh xã hội thực dân nửa phong kiến với nhiều hỗn loạn,nhố nhăng, mặc dù con đờng làm quan của ông khá bằng phẳng, thuận lợi,nhng ông vẫn muốn noi gơng ngời xa làm ngời ẩn dật để giữ gìn khí tiếttrong sạch Ông lui về sống ở thôn quê, hởng cuộc sống thanh nhàn:
Ta về năm, sáu năm nay,Bảy gian nhà ở tháng ngày ung dung
(Hạ nhật ngẫu thành, Vũ Mộng Hùng dịch)
Toàn tâm toàn ý với cuộc sống nhàn dật, danh nho Nguyễn Khuyến đãhứng khởi tự đáy lòng mà sáng tác nên những bài thơ tuyệt hay về thiênnhiên Ông đợc mệnh danh là nhà thơ của quê hơng làng cảnh Việt Nam.Mặc dù cáo quan về ở ẩn nhng có lúc ông tự chất vấn mình vì thấy cha thựcxứng đáng với ngời xa: “nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” Nghĩ đến lúc lìa xacõi thế, ông còn thác lời cho cháu con nh một sự thanh minh cho tấm lòngtrong sạch, không ham muốn công danh:
Đề vào mấy chữ trên bia,Rằng quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu
Một cái nhìn tóm lợc trên tổng thể tuy cha thật sự đầy đủ, chi tiết, toànvẹn về diện mạo Nho sĩ ẩn dật trong văn học trung đại Việt Nam, nh ng cũng
đủ thấy việc xuất hiện lớp nhà Nho ở ẩn không còn là hiện tợng cá biệt Tìm
về cuộc sống nhàn dật không còn đơn thuần là ham thích cá nhân, mà đã trởthành hiện tợng phổ biến trong xã hội phong kiến nảy sinh nhiều vấn đề phứctạp Có thể thấy không ít nhà Nho danh tiếng tuy vẫn mang khát vọng nhậpthế, mang hoài bão đợc cống hiến “trí quân trạch dân”, song ở tầng sâu nhậnthức và tâm hồn luôn có sự thôi thúc mong mỏi đ ợc quay về cuộc sống nhàndật, họ xem đó nh một cách thức, một lộ trình an toàn để giữ gìn khí tiếtthanh cao của mình và cũng là để thoả mãn tâm hồn nghệ sĩ rộng mở, phóngtúng, yêu thích thiên nhiên
Các nhà nghiên cứu dựa trên góc độ loại hình, theo tiêu chí về lí t ởngxã hội - thẩm mĩ đã chia thành 3 loại hình tác giả nhà Nho: Loại hình nhà
Trang 22Nho hành đạo, loại hình nhà Nho ẩn dật, loại hình nhà Nho tài tử Tuy nhiên,hai loại hình nhà Nho ẩn dật và hành đạo luôn thay đổi cho nhau, luânchuyển trong cùng một nhà Nho.
Làm quan cho triều đình nhng
mang tâm trạng bất đắc chí với
chính sự, bất mãn với triều chính
nên ở ẩn mà vẫn mang nặng tâm sự
Trần Nguyên Đán, NguyễnTrãi, Nguyễn Trực, Trần Khản,Ngô Thế Lân, Lê Hữu Trác,Nguyễn Khuyến …
3
Về ở ẩn trong vị thế bậc thầy của
thiên hạ, vẫn đợc triều đình phong
hình thành t tởng nhàn dật của hai tập thơ Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trãi
Trang 23và Bạch Vân Quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm để làm tiền đề cho sự
đối chiếu so sánh ở các chơng sau
Nguyễn Trãi sinh ra trong một gia đình Nho học, ông ngoại là TrầnNguyên Đán và thân phụ Nguyễn Phi Khanh đều là bậc hiền nho nổi tiếngtài đức vẹn toàn Có thể nói, tinh thần Nho giáo đã ngấm sâu vào máu thịtcon ngời ông Chính bản thân ông cũng từng tự hào:
Thanh niên phơng dự ái nho lâm
đối mặt với nhiều khó khăn Nho giáo lại là học thuyết chủ trơng, một xã hội
có trật tự, một nhà nớc vững mạnh không có loạn li, không có chiến tranh,trong đó mọi ngời sống no đủ, yên vui theo một trật tự đã đợc định sẵn.Trong xã hội đó, mỗi ngời đợc phân định rõ ràng chức danh phận vị và theo
đó mà sống chính danh, yên phận Nguyễn Trãi suốt cuộc đời mong mỏi đ ợccống hiến cho nớc, cho dân, Nho giáo về cơ bản lại không mâu thuẫn vớilòng yêu nớc thơng dân đó của ông Nhng nhìn trên đại thể, đối với một trítuệ uyên bác, trác việt nh Nguyễn Trãi, Nho giáo cũng tỏ ra khá chật hẹp,không đủ sức lý giải hiện thực, vì thế mà ông đã tìm thấy ở Đạo Lão và ĐạoPhật ở chỗ bổ sung cần thiết làm cho quan điểm Nho giáo của ông trở nênlinh hoạt, mới mẻ hơn Nguyễn Trãi đã cân nhắc lựa chọn, không phải chỉmáy móc theo sách vở và rõ ràng ông cảm thấy Nho giáo quá chật hẹp.Nguyễn Trãi nhấn mạnh đức nhng không phải không chú ý đến tài trí, đề cao
đạo lý nhân nghĩa nhng không cự tuyệt quyền mu, nói đến nợ quân thân, tấclòng trung hiếu nhng lại nhấn mạnh “ăn lộc đền ơn kẻ cấy kày” trách nhiệmtheo lòng dân, vì thơng sinh
Bên cạnh tính chất linh hoạt của Nho giáo, t tởng Lão - Trang cùng vớinhững giá trị tích cực của nó ảnh hởng tới thơ ca Nguyễn Trãi từ cả cảmhứng sáng tác đến nghệ thuật biểu hiện, không chỉ ở bề mặt câu chữ mà cònhoà thấm trong cả nhân sinh quan và thế giới quan của ông Nếu nh Nho giáo
có sức hấp dẫn, gợi mở to lớn, trở thành dòng mạch chính chi phối thế giới t
Trang 24tởng đến cách hành xử của Nguyễn Trãi trớc cuộc đời, Đạo giáo góp phầntạo nên một Nguyễn Trãi phong phú về tâm hồn, phóng khoáng về nhân cáchthì Phật giáo trở thành dòng mạch phụ, “vừa với ý nghĩa vang bóng tâm linhthời đại Lý - Trần còn vang hởng, vừa với ý nghĩa những sắc thái nhân bảncỗi rễ của Phật giáo vẫn có sức lay động, hấp dẫn mọi chúng sinh - trong đó
có Nguyễn Trãi” [31, tr.75]
Tuy cả ba t tởng Nho - Phật - Lão đều ảnh hởng đến sự hình thành t ởng nhàn dật của Nguyễn Trãi, nhng Nho giáo vẫn đóng vai trò chủ đạo, làkim chỉ nam cho tất cả những ứng xử của ông trớc cuộc đời Và “mặc dầu ba
t-t t-tởng Nho - Lão - Phật-t” đã hoà điệu t-trong t-thi ca, nhng t-t t-tởng Nho giáo vẫn
là t tởng u thế, bởi vì Nguyễn Trãi là một Nho sĩ hơn là một đạo sĩ, một thiền
s [32, tr.81]
Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng là một nhà Nho trung thành với giáo lýKhổng - Mạnh, ông cũng ảnh hởng cách xử thế theo lối “chiết trung” củaNho gia và suốt đời tu dỡng theo nguyên tắc xử thế “thời trung”, ông cònnâng nó nên, phát triển nó thành cái “chí thiện”: “trung là ở giữa, giữ trọn đ -
ợc tính thiện là trung, không giữ trọn đợc tính thiện là không phải là trungvậy…, trung ở chỗ nào thì sự chí thiện ở chỗ ấy” (Bi ký quán Trung Tân).
Nho giáo chiếm chỗ trong t tởng của ông cả về lý thuyết xuất xử, hành tàng, lẫn cách ứng xử “thời trung” Khi thời thế không nh mong muốn, ôngchọn lối sống ẩn dật, xem đó là cách thoát khỏi sự vớng bận danh lợi, tránh
-xa cõi tục
Theo học thuyết Nho gia, ngời Nho sĩ xa không chỉ dừng lại ở một lẽsống duy nhất, đó là nhập thế hành đạo Họ còn có cả sự lựa chọn cho cáchsống ung dung thích thảng, lui về ẩn dật, an nhàn “lng khôn uốn lộc nên từ”khi thời thế không cho phép họ thực thi lý tởng của mình Khổng Tử cũng
từng nêu trong học thuyết của mình: Đốc tín, hiếu học, thủ tử, thiện đạo.“
Nguy bang bất nhập, loạn bang bất c, thiên hạ hữu đạo tắc hiện, vô đạo tắc
ẩn Bang hữu đạo, bần thả tiện yên, sỉ dã; bang vô đạo, phú thả quý yên, sỉ dã” - Dốc lòng tin, ham sự học, giữ cho vững dẫu chết không thay đổi, làm
cho cái đạo hay hơn lên Không vào nớc đã nguy, không ở nớc có loạn, đời
có đạo thì ra làm mọi việc, đời không có đạo thì ẩn mà sửa mình Nớc có đạo
mà mình nghèo và hèn là xấu hổ; nớc không có đạo mà mình giàu và sang làxấu hổ [18, tr.116]
Trang 25Nguyễn Bỉnh Khiêm chọn lối ứng xử thứ hai, đó là tìm về cuộc sốngnhàn dật Nho giáo ở Nguyễn Bỉnh Khiêm có sự dung hoà, pha trộn các triếtthuyết Nho, Phật, Lão, Âm Dơng, lấy Kinh dịch làm xơng sống triết học.Hay nói cách khác, Nho giáo ở Nguyễn Bỉnh Khiêm thực chất là Tống Nho.Triết lý nhàn dật có từ trớc Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhng phải đến Nguyễn BỉnhKhiêm đợc xem là cột mốc tiêu biểu, trở thành hiện tợng có tính chất phổbiến Không chỉ chịu ảnh hởng của Nho giáo, t tởng Lão - Trang và Phật giáocũng góp phần hình thành nên một “ông nhàn” Nguyễn Bỉnh Khiêm mang
phong thái ung dung, tự tại Trang Tử ngay đầu sách Nam Hoa Kinh đã đề
cập đến quan niệm “tiêu dao”, muốn tiêu dao thì phải thuận thiên nhiên:
“Trời cho mình làm con chim bằng tung cánh đợc hàng vạn dặm, thì mình cứ
đập nớc cho tung toé mà lên cao tới trời xanh; nhng nếu trời cho mình là conchim cút chỉ lên cao đợc vài nhẫn thì cứ bay liệng trong đám cỏ bồng cỏ cảo,cũng sớng nh chim bằng vậy, ớc ao đợc nh nó làm chi?… Trời cho mình cótài mà gặp thời, đợc giàu sang tột bậc thì cứ hởng cảnh giàu sang; có tài màkhông gặp thời thì bện dép sống trong căn nhà lá cũng có cái vui riêng củacuộc đời bình dị, tự do” [45, tr.118 - 119] Nguyễn Bỉnh Khiêm dờng nh thấutriệt triết lý nhân sinh ấy của Trang Tử, nên việc ông lựa chọn con đờng ẩndật không chỉ đơn thuần là do tình thế mà đã trở thành một lẽ sống, một sựhứng thú tột bậc ngay từ khi còn cha vớng vào quan lộ Chúng ta có thể thấy
rõ điều đó trong hàng loạt bài ca ngợi thú nhàn của ông Không dừng lại ở
đó, t tởng Lão - Trang với quan niệm sống theo tự nhiên, hoà mình vào thiênnhiên cũng in dấu trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm:
Dầu nhẫn dầu chê dầu miệng thế,Cơ mầu tạo hoá mặc tự nhiên
Bài 48
Mặt khác, cụm từ “tự tại” của Phật giáo đợc nhắc lại nhiều lần trongthơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, đó cũng là một biểu hiện triết lý nhân sinh đã thấmsâu trong t tởng của ông Nh vậy, t tởng nhàn dật của Nguyễn Bỉnh Khiêmcũng có mối liên hệ từ cả ba triết thuyết Nho - Phật - Lão ở mỗi triết thuyết,
ông đều gạn lọc những chiều hớng t tởng về thái độ nhàn tản, và “trong t ởng Nguyễn Bỉnh Khiêm nếu có cái phiêu diêu của Lão - Trang, cái thoát tụccủa Phật giáo thì chủ yếu vẫn có cái ái u tích cực của Nho sĩ chân chính”
Trang 26t-(Lịch sử văn học Việt Nam, tập 2, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp,
Từ năm 1380 đến năm 1407, là quãng đời từ khi Nguyễn Trãi sinh ra
đến lúc ông làm quan Mâu thuẫn xã hội lúc ấy là mâu thuẫn giữa một bên là
đại quý tộc và một bên là gia nô, địa chủ mới và Nho sĩ bình dân Nó bắtnguồn từ chế độ đại điền trang, chế độ nô tì và chính sách sùng Phật đã gâybao nhiêu bất công, hỗn loạn cuối triều Trần và mới đợc nhà Hồ mới cải nh-
ng cha triệt để Nó tác động trực tiếp đến gia đình Nguyễn Trãi và thúc đẩycha con Nguyễn Trãi ra làm quan với nhà Hồ
Từ năm 1407 đến năm 1427, là quãng đời Nguyễn Trãi từ khi quânMinh sang xâm lợc đến lúc cuộc kháng chiến chống giặc Minh thành công.Trong thời gian này, mâu thuẫn nổi lên và đợc giải quyết là mâu thuẫn giữadân tộc Việt Nam và giặc ngoại xâm Nó đặt lên vai Nguyễn Trãi gánh nặng
nợ nớc thù nhà do mâu thuẫn về nội bộ dân tộc đợc tạm thời gác lại, nó tạo
điều kiện rất thuận lợi cho ông thi thố tài năng
Từ năm 1427 đến năm 1442, là quãng đời đa Nguyễn Trãi từ chỗ xung
đột với bọn đơng quyền đến ông bị tù, đại ẩn, về hu và cuối cùng là bi kịchthảm khốc nhất với thảm án tru di tam tộc
Mâu thuẫn trong giai đoạn này là mâu thuẫn giữa một bên là quanthanh liêm Nguyễn Trãi - một con ngời chính trực trong sáng, đầy hoài bãovới một bên là bọn quần thần xu nịnh, dốt nát, tham ô Chính mâu thuẫn này
Trang 27đã làm nảy ra trong tâm t Nguyễn Trãi sự dằn vặt, trăn trở với ý nghĩa vừamuốn hành đạo, vừa muốn an nhàn.
Nguyễn Bỉnh Khiêm sống và hoạt động trong thế kỷ XVI, chế độphong kiến Việt Nam cha suy thoái nhng đã bộc lộ nhiều mâu thuẫn với xuthế thời đại và sự phát triển của lịch sử dân tộc
Năm 1505, khi Lê Uy Mục lên ngôi cũng là lúc triều đại nhà Lê lâmvào khủng hoảng trầm trọng Trong nội bộ giai cấp phong kiến nảy sinhnhững mâu thuẫn lớn giữa anh em nhà vua, giữa hoàng tộc và ngoại thích,giữa hoàng tộc và triều thần, giữa triều thần với nhau luôn có sự lục đục,tranh giành, thoán đoạt Các triều đại lần lợt thiết lập rồi lần lợt sụp đổ Tính
từ năm 1504 đến năm 1527, có tới 6 vua Lê kế tiếp nhau đợc lập nên rồi kếtiếp nhau bị sụp đổ Xã hội Việt Nam lúc này rất rối ren
Năm 1527, Mạc Đăng Duy tiếm ngôi vua Lê So với triều Lê sơ đổ nátcủa một loạt các ông vua tối tăm, tàn bạo, đắm say sắc dục đầu thế kỉ XVIthì rõ ràng triều Mạc là một vơng triều mới có nhiều mặt tiến bộ hơn, nhất là
ở giai đoạn đầu Sau những năm hỗn loạn cuối triều Lê sơ, triều Mạc đã tạo
ra đợc một thời gian ổn định và phát triển trong toàn xã hội
Phan Huy Lê trong bài Nguyễn Bỉnh Khiêm và thời đại của ông có nói:
“Năm 1535, khi đã 45 tuổi, Nguyễn Bỉnh Khiêm mới đi thi đỗ trạng nguyên
và hăng hái ra làm quan với triều Mạc và hẳn nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm
đang nuôi hy vọng ở vơng triều mới, nhng rồi trớc yêu cầu của lịch sử, triềuMạc cũng nhanh chóng bộc lộ những mặt bất lực và hạn chế Triều Mạc thaythế triều Lê nhng không giữ vững đợc chính quyền trung ơng và quốc gia
thống nhất” [37, tr.66].
Theo Vũ Khâm Lân trong Bạch Vân c sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả
ký, thì sau 8 năm phò tá triều Mạc, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dâng sớ đàn hặc
xin chém 18 tên lộng thần, nhng vua Mạc không nghe nên ông thác bệnh xin
về trí sĩ Từ đấy nhà Mạc vẫn trọng đại ông, phong tớc cho ông và trớc sau
ông vẫn trung thành với triều Mạc nhng niềm hy vọng “ớc một tôi hiền chúathánh minh” thì tiêu tan dần Đó là bối cảnh lịch sử giúp chúng ta hiểu thái
độ xuất sứ và mối liên hệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với triều Mạc
Dới triều Mạc, mâu thuẫn giữa các phe phái phong kiến cầm quyềntrong nội bộ giai cấp thống trị và mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân bị trị(chủ yếu là nông dân với triều đình bùng nổ) Những mâu thuẫn nội tại của
Trang 28chế độ quân chủ theo mô hình Nho giáo tiếp tục phát triển dẫn đến nạn chiacắt đất nớc và nội chiến phong kiến kéo dài làm cho quốc gia thống nhất bịphá vỡ và đời sống của nhân dân thêm lầm than Tình hình chính trị xã hội
nh vậy đã ảnh hởng đến t tởng tình cảm của Nguyễn Bỉnh Khiêm và cắtnghĩa một số mâu thuẫn trong nhận thức của ông Là một trí thức yêu nớc th-
ơng dân tha thiết, Nguyễn Bỉnh Khiêm rất đau lòng trớc cảnh đất nớc bị chiacắt, ngời dân li tán, loạn lạc Nhng lý tởng của ông lại không thoát ra khỏiquân chủ Nho giáo Ông cảm thấy bất lực, một mặt vẫn tâm niệm “Đạothánh hiền xa luống chốc mòng”, mặt khác lại thấy “Cửa Khổng làng Nho
đạo khó khăn” Mâu thuẫn đó cuối cùng đợc ông giải quyết bằng cách xalánh con đờng công danh, trở về cuộc sống ẩn dật, ca ngợi thú an nhàn để giữtrọn nhân cách, khí tiết thanh cao, trong sáng
1.2.3 Cuộc đời của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm trong hành trình tìm đến cuộc sống nhàn dật
Nguyễn Trãi (1380 - 1442), tên tự là ức Trai Cha của Nguyễn Trãi làNguyễn ứng Long tức Nguyễn Phi Khanh Lúc còn là th sinh, Nguyễn ứngLong vì nổi tiếng hay chữ nên đợc quan t đồ Trần Nguyên Đán, là tông thấtnhà Trần gả con gái cho Năm 1374, Nguyễn ứng Long đi thi, đậu thái họcsinh Nhng vì không phải hoàng tộc mà dám lấy con gái nhà hoàng tộc nênkhông đợc Trần Nghệ Tông cho làm quan và đành trở về dạy học NguyễnTrãi lúc còn nhỏ ở với ông ngoại là Trần Nguyên Đán Năm 1385, TrầnNguyên Đán về trí sĩ ở Côn Sơn Côn Sơn chính là quê tổ của họ Nguyễn Từnăm 1390, sau khi ông ngoại mất, Nguyễn Trãi về Nhị Khê ở với cha
Năm 1400, Nguyễn Trãi đi thi và đỗ thái học sinh Cũng năm ấy, cùngvới cha, ông ra nhận quan với triều nhà Hồ, những mong triều đại này có thểdựng dậy đất nớc quá suy đồi cuối nhà Trần, để cha con ông có thể cốnghiến cho dân, cho nớc nh ý nguyện Nhng nhà Hồ thất bại, nớc mất Cha con
ông cũng cha làm đợc gì đáng kể Lại gặp nạn lớn, cha bị bắt, còn ông bịgiam lỏng ở Đông Quan Đang từ địa vị của một viên quan trong triều,Nguyễn Trãi bỗng trở thành kẻ bơ vơ, cô độc giữa kẻ thù, trong khi bênngoài, nhân dân đang xiết dới ách ngoại xâm
Sử chép rằng, năm 1417, ông trốn khỏi Đông Quan, đi tìm chân chúa.Hiểu đợc Lê Lợi, ông đã vào Lam Sơn dâng “Bình Ngô sách” và tham gianghĩa quân Cuộc kháng chiến thành công Nguyễn Trãi mừng chiến thắng
Trang 29trừ bạo, mừng yên dân Nhng nỗi vui mừng không đợc bao lâu Sau khi thànhcông, Lê Lợi nghi kị công thần và giết hại nhiều ngời nh Phạm Văn Xảo,Trần Nguyên Hãn… Chứng kiến cảnh “hết chim bẻ ná”, bản thân bị nghi kị,xúc xiểm, oan ức, biết rằng ở lại triều đình thì có thể chuốc vạ vào thân, ôngbèn dâng sớ xin về trí sĩ ở Côn Sơn Tuy về ở ẩn, ông vẫn day dứt một nỗiniềm u dân, ái quốc, vẫn day dứt bởi lý tởng cha đợc thực hiện Nên năm
1939, nhận đợc chiếu chỉ của vua Lê Thái Tông mời về triều, Nguyễn Trãi đãhăm hở trở lại với ớc vọng thực hiện lí tởng Đợc phục hồi lại lòng tin cùngnhững chức vụ cũ, Nguyễn Trãi nh đợc sống lại trong niềm vui nhập thế Nh-
ng rồi ngay sau đó là bi kịch thảm khốc của số phận, kết thúc cuộc đời củamột con ngời với an oán Lệ Chi Viên vào năm 1442
Có thể nói, cuộc đời Nguyễn Trãi là một cuộc đời đặc biệt với biết bao biến cố thăng trầm, đầy những nỗi đau và sự lựa chọn Thực tế cuộc đời
ấy cũng góp phần hình thành nên t tởng nhàn dật ở Nguyễn Trãi
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585), tự là Hanh Phủ, hiệu là Bạch Vân
c sĩ, ngời làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, Hải Dơng (nay thuộc Vĩnh Bảo,ngoại thành Hải Phòng) Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh ra và lớn lên trong mộtgia đình trí thức phong kiến Cha là Văn Định, đạo hiệu là Cù Xuyên tiênsinh, có văn tài, học hạnh Mẹ là Nhữ Thị Thục, con gái thợng th Nhữ VănLan, tơng truyền là ngời thông tuệ, giỏi văn chơng, biết lý số Nguyễn BỉnhKhiêm thông minh, học giỏi Thuở nhỏ ông đợc mẹ đem chính văn, kinhtruyện và thơ quốc âm ra dạy Lớn lên, nghe tiếng văn chơng của bảng nhãnLơng Đắc Bằng, ông bèn đến thụ nghiệp
Nguyễn Bỉnh Khiêm sống trọn đời trong thế kỉ XVI - thế kỉ của nhữngmâu thuẫn gay gắt Thời trai trẻ của Nguyễn Bỉnh Khiêm đi qua trong sự suythoái của nhà Lê, sự đố kị, chém giết lẫn nhau giữa các phe phái Mãi đếnkhi nhà Mạc cớp ngôi nhà Lê, lập ra triều đại mới, đất nớc mới có một thờigian ổn định Thời trai trẻ, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã phải sống trong ẩn dật,không đợc thi thố tài năng Tới năm 1535, khi đã 45 tuổi, ông mới chịu rathi Ba lần thi hơng, thi hội, thi đình, ông đều đỗ đầu Từ đó, ông làm quancho nhà Mạc Ông giữ chức Tả thị lang và đợc triều đình nhà Mạc rất trọngvọng Và chính ông cũng rất nhiều hi vọng vào nhà Mạc Theo quan niệmcủa Nho sĩ đơng thời, “tôi trung không thờ hai chúa” Nhng Nguyễn BỉnhKhiêm không câu nệ Ông đã ra làm quan cho nhà Mạc Khi Mạc Đăng
Trang 30Dung nhờng ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh và rút về làm thái th ợnghoàng, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sớm nhận ra vị vua mới là ngời có chí khí.
Ông hi vọng với nhà vua mới, triều đại mới, đất nớc có thể nhanh chóngthoát khỏi tình trạng rối ren
Năm 1540, Mạc Phúc Hải lên ngôi thay cha Để củng cố ngai vàng,Mạc Phúc Hải và Mạc Đăng Dung đã làm điều ô nhục trong lịch sử phongkiến Việt Nam: cắt đất, quỳ gối trớc sứ giả nhà Minh… Lòng tự trọng dântộc đã bị sỉ nhục Nguyễn Bỉnh Khiêm hết sức thất vọng Một nỗi u hoàichua chát lại bao trùm lên cuộc đời ông Nguyễn Bỉnh Khiêm xót xa nh ngbất lực Nhìn bọn lộng thần hoành hành, cũng nh Chu Văn An xa, ông dâng
sớ xin chém 18 lộng thần Sớ trảm của ông không đ ợc vua nghe theo Bấtmãn với thời cuộc, ông rút lui về trí sĩ tại quê nhà là làng Trung Am Từ đó,
ông sống cuộc đời phóng khoáng ngoài chốn quyền môn (Có tài liệu chorằng, sau khi về trí sĩ năm 1542, Nguyễn Bỉnh Khiêm lại ra làm quan nữa
Có thể là về trí sĩ, Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy sống ở am Bạch Vân nh ng thờng
đợc mời vào triều bàn luận chính sự, tham gia việc quân Việc Nguyễn BỉnhKhiêm lại ra làm quan, hay chỉ tham chính với t cách là một “cố vấn”, còncần phải tìm hiểu kĩ hơn)
Cũng nh thời trai trẻ, Nguyễn Bỉnh Khiêm lại sống ẩn dật nơi thôn dã.Chính ở đây, ông mở trờng dạy học, lập quán Trung Tân, xây cầu, dựngchùa, dựng am Bạch Vân Tại ngôi trờng bên bờ Tuyết Giang, ông đã đào tạo
đợc rất nhiều nhân tài Học trò của ông có rất nhiều ngời nổi tiếng nh: LơngHữu Khánh, Phùng Khắc Khoan, Giáp Hải, Nguyễn Dữ… Ngời đơng thờicoi ông nh bậc thầy của thời đại Năm 1585, ông mất vì bệnh nặng, h ởng thọ
95 tuổi, học trò truy tôn là Tuyết Giang phu tử
Có thể nói cuộc đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm là cuộc đời của một con ngời tài cao chí lớn nhng không gặp thời Chính sự trải nghiệm sâu sắc từ cuộc đời ấy đã hình thành nên dấu ấn t tởng quan trọng trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm Đó chính là t tởng nhàn dật.
Trang 31Chơng 2
Sự gặp gỡ ở t tởng nhàn dật giữa Nguyễn Trãi
và Nguyễn Bỉnh Khiêm trong thơ Nôm
2.1 T tởng nhàn dật của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm một hỗn dung các t tởng Nho - Phật - Lão
-Văn học nói chung, thi ca trung đại nói riêng luôn là nơi cất giữ, luchuyển thế giới t tởng, tâm hồn, khát vọng của các bậc hiển Nho xa Thơ xacho phép nhận diện nhiều chiều kích khác nhau trong cảm nhận cũng nh ứng
xử của các tác giả về con ngời và thế giới Trờng hợp thơ Nôm Nguyễn Trãi,
Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng không nằm ngoài quy luật chung ấy Quốc âm thi
tập của Nguyễn Trãi và Bạch Vân Quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm
là những tập thơ Nôm có giá trị khai phá, mở đờng cho nền thơ Việt Trongnhững bài thơ Nôm làm mê đắm lòng ngời bao thế hệ ấy, kết tụ, dung chứanhững dấu hiệu t tởng của thời đại và số phận mỗi tác gia Một trong những
âm hởng vọng lại từ thơ hai ông là t tởng nhàn dật, là quan niệm xử thế trongxã hội đầy những biến động thăng trầm
Qua việc khảo sát, tìm hiểu thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn BỉnhKhiêm, chúng tôi nhận thấy, cả hai ông đều thâu nhận t tởng Nho - Phật -Lão và đã chuyển tải những t tởng đó thành bộ phận thơ thể hiện t tởng nhàndật
Nói riêng ở Nguyễn Trãi, t tởng Nho gia trở thành t tởng mang tính hệthống, quán xuyến, chi phối hành xử cụ thể của ông tr ớc cuộc đời ở NguyễnBỉnh Khiêm, t tởng nhàn của ông đậm màu Lão - Trang Thế nhng cũng nhhầu hết trí thức sĩ nhân khác, toàn bộ hệ ý thức ở mức độ khác nhau đều phatrộn cả ba triết thuyết Nho - Phật - Lão T tởng nhàn dật của Nguyễn Trãi vàNguyễn Bỉnh Khiêm giống nhau trớc hết ở điểm nó biểu hiện ra nh một tổnghợp tinh thần từ cả ba nguồn t tởng Nho - Phật - Lão Cùng là những trí thứclớn của thời trung đại, Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm không dừng lại ởviệc tiếp cận và thi hành một nguồn t tởng nhất định Hai ông còn muốn vơn
xa, đào sâu vào các học thuyết t tởng khác để tìm thấy trong đó chỗ uyênsúc, tinh tuý có thể “gặp gỡ” đợc với tâm hồn, lẽ sống của mình ở điểm đó,cả hai tác giả cùng tìm thấy lẽ sống “dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng” của
Trang 32Nho gia, đó là lẽ sống quyền biến cho phép ngời quân tử xa lui về sống ẩndật khi không đợc trọng dụng hay bất mãn trớc thời thế.
Nho giáo có lẽ xuất thế, tàng, ẩn Đó chính là ở ẩn, là nhàn thân, sốngtheo quan niệm “vô quan khinh thân” (không làm quan nhẹ ngời) hoặc “quân
tử chi đạo, hoặc xuất hoặc xử” (đạo của ngời quân tử, hoặc xuất hoặc xử)
T tởng Trung dung hớng nhà Nho đến lối sống chừng mực, biết tiếtchế, không thái quá cũng không bất cập T tởng này bắt gặp triết lý vô vi củaLão - Trang, đó là thái độ sống thuận theo tự nhiên, phủ nhận mọi cái “nhânvi” trái tự nhiên mang lại hậu quả không tốt cho con ngời Theo đó, xemnhàn là tự nhiên nhi nhiên ứng thuận với vạn vật Các học thuyết của Lão -Trang và Phật giáo làm cho chữ nhàn đợc hiểu là nhàn tâm, thanh tĩnh tronglòng, không vớng dục vọng Chính vì thấm nhuần triết lý của Khổng giáo về
đạo Trung dung, Nguyễn Trãi phát biểu bộc trực, thành thật trong thơ:
Bền đạo trung dung chẳng thuở tàng,Màng chi phú quý nhọc khoe khoang
Bảo kính cảnh giới - bài 2
Hằng lấy đạo trung làm nghĩa cả,Qua ngày qua tháng đợc an nhàn
Bảo kính cảnh giới - bài 6
Chớ ngời trọc trọc, chớ ta thanh,Lấy phải thì trung, đạo ở kinh
Bảo kính cảnh giới - bài 29
Chọn cách ứng xử Trung dung là tìm đến một cuộc sống thăng bằng,hoà hợp quân bình, tạo ra một sự an nhàn về tinh thần Nguyễn Trãi là bậckhai quốc công thần gắn bó chặt chẽ về mọi mặt với nhà n ớc phong kiến, lấyNho giáo cai trị xã hội, lẽ dĩ nhiên đạo Trung dung đợc ông đa lên vị trí hàng
đầu, trở thành những lời răn vừa khảng khái, vừa thành tâm:
Sự nghiệp tua thìn phải đạo trung
Bảo kính cảnh giới - bài 5
Làm ngời thì giữ đạo trung dung,Khăn khắn răn dỗ thửa lòng
Tự giới
Cuộc sống “nhàn” mà Nguyễn Trãi hớng đến không hoàn toàn tuyệtgiao với xung quanh nh cuộc sống của những bậc ẩn sĩ xa, đó chỉ là một
Trang 33cách sống theo quan niệm “thờng thờng”, cuộc sống đó bình thờng nhngkhông tầm thờng, đó cũng là cuộc sống an bần lạc đạo có lạc thú, trọng điềunhân:
Gia tài ấy xem hèn hạ,
Đạo đức này khá chính chuyên
Say rợu, no cơm cùng ấm áo,Trên đời chỉn ấy khách là tiên
Bảo kính cảnh giới - bài 59
Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Hợu: “Con ngời mà Nguyễn Trãikhuyên nên sống theo là con ngời khoan nhân và khoáng đạt, không thamlam vị kỉ, nhng cũng không vị tha một cách tôn giáo Sống trần tục, tự nhiên,
có lạc thú và vừa phải Phải chăng đó cũng là một mặt trong quan niệm sốngtheo đạo trung, sống thờng thờng của ông” [14, tr.103]
Cũng là một trí thức Nho giáo, Nguyễn Bỉnh Khiêm giống NguyễnTrãi trong cách phát biểu về “đạo trung” trong thơ Theo ông, sống trong xãhội phải tính đến quy luật chung, không thể tự mình đặt ra những quy luậtriêng, đó cũng là một ý niệm khác của thái độ sống không thái quá nh ngcũng không bất cập:
Biết đạo thời trung, chăng có tây,Thửa nay xuất xử niệm cho thay
Bầu cơ sơn nhẽ nào ai phụ,Bút Ngọc đờng thanh thảo kẻ hay
Mựa hề toan lợi, mựa toan công,
Trang 34Lui tới thìn cho phải đạo trung.
…Khó chẳng âu, giàu chẳng muốn,Trai dờng ấy, mới anh hùng
Bài 128
Không chỉ thâm nhập vào triết lý Trung dung của đạo Nho, thơ NômNguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm khi nói tới “nhàn” cũng gần gũi cả với
lẽ xuất xử của Nho giáo Cả hai ông cùng đặt câu hỏi cho “bài toán xuất xử”
và tìm cách giải bài toán đó để chọn những ứng phó phù hợp với hoàn cảnhkhách quan và của bản thân
Nguyễn Trãi thì băn khoăn một cách khẩn khoản:
Lấy đâu xuất xử lọn hai bề,
Đợc thú làm quan mất thú quê
Tự thán - bài 39
Nguyễn Bỉnh Khiêm lại dè dặt, lỡng lự:
Thửa nơi xuất xử đâu là phải?
ở ắt nên, về cũng ắt nên
Bài 7
Không chỉ đơn lập chịu ảnh hởng quan điểm “thời trung”, lẽ “xuất xử” của Nho gia, cỗi rễ t tởng hớng hai tác gia về với đời sống nhàn dật cònkết hợp cả triết lý vô vi, quả dục, khiêm tốn của Lão - Trang và t tởng siêuthoát, tĩnh lạc của đạo Phật Trong xu thế “tam giáo đồng nguyên” có từ tr ớc
-đó, cả Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đã thâu nhận một cách phùhợp, đầy hứng thú triết học Tống Nho Bởi vậy, t tởng nhàn dật của hai ôngcũng giàu màu sắc tổng hợp
Nguyễn Trãi không chỉ dùng nhân sinh quan Nho giáo để phủ nhậndanh lợi, cầu ớc một cuộc sống “nhàn một ngày là tiên một ngày”, trong thơNôm của ông rất nhiều chỗ biểu hiện thế giới quan Đạo gia, cảm quan Phậtgiáo Chẳng hạn trong cách nhìn nhận và thể hiện thái độ đối với công danh,
ông chỉ coi nó nh là một cái gì h ảo, tạm bợ chóng tàn, mau tan “nh giấcmộng”, nh “sơng đầu ngọn cỏ”:
Phú quí treo sơng ngọn cỏ,Công danh gửi kiến cành hoè
Tự thán - bài 3
Trang 35Trớc sau, Nguyễn Trãi đều bộc lộ thái độ lạnh đạm, bình thản tr ớcdanh lợi quyền quý:
Danh chăng chác lộc chăng cầu,
Đợc ắt chẳng mừng mất chẳng âu
…Mấy kẻ công danh nhàn lững đững,
Mồ hoang cỏ lục thấy ai đâu
Nguyễn Trãi bộc bạch:
Rồi việc mới hay khuôn đợc thú,Khỏi quyền đã kẻo lụy chng danh
Bảo kính cảnh giới - bài 29
Nguyễn Bỉnh Khiêm lại bộc lộ một cách hứng thú:
Thủa áng công danh nhiều phải lụy,Trong nơi ẩn dật mới nên mầu
Thủa nơi doanh mãn là nơi tổn,Hãy niệm cho hay kẻo nữa âu
Bài 9
Cách nhìn nhận đúng mực, vô tâm, vô cầu trớc công danh trong thơnhàn hai tác gia cũng là phơng châm “h tâm nhợc chí” trớc quyền lợi, trớccủa cải của Đạo gia
Không dừng lại ở phủ nhận danh lợi, nhân sinh quan Đạo gia còn hớngcon ngời đến một cuộc sống an nhiên, tự tôn, tự lạc, tự do tự tại, sống thuậntheo sự biến dịch của tự nhiên là để mong tiến đến Đạo, hoà tan vào trong Đạolớn của vũ trụ Cách sống an nhiên, thuần phác của “ông nhàn” Nguyễn Trãi
và Nguyễn Bỉnh Khiêm không trực tiếp gọi thành tên, thành khái niệm khởi
Trang 36thuỷ của nó trong thơ nh “vô vi”, “quả dục”… mà chuyển tải thành nhữnghình tợng thơ uyển chuyển vừa giản dị, vừa dễ xuyên thấm lòng ngời:
Tiêu sái tự nhiên nhẹ hết mình
Tự thán - bài 8
Nguyễn Trãi còn hiểu thấu cả lẽ tự nhiên của vạn vật:
Diều bay cá dảy đạo tự nhiên
Những bậc trí giả nh Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nho giáo tỏ
ra quá chật hẹp Vì vậy, trong t tởng thờng có một cái gì trái Nho giáo bổsung Nhà Nho nhìn con ngời chỉ quan tâm đến chức năng phận vị nênkhông thấy cuộc sống phong phú, vì quá nghiêm túc theo lễ nên khôngphóng khoáng, không biết đến thú vui, cái đẹp Cả Nguyễn Trãi và NguyễnBỉnh Khiêm đều vợt hẳn Nho giáo ở tâm thế an nhiên, phóng khoáng và sựgiàu có về tâm hồn và cảm xúc Điểm này gần với triết lý tiêu dao phóngnhiệm mà Đạo gia vẫn thờng đề cập tới
Nếu nh sự kết hợp giữa Nho giáo và Đạo giáo tạo nên ở Nguyễn Trãi vàNguyễn Bỉnh Khiêm sự đối nghịch trong hai quan niệm, hai cách sống nh đãtrình bày thì sự kết hợp giữa t tởng Lão - Trang và Phật giáo vừa hoá giải đợccái nhìn cực đoan cứng nhắc của t cách nhà Nho trong hai ông, vừa có tácdụng nâng đỡ tâm hồn giúp cho tình cảm của họ trở nên thanh thản “Nhàn”trong văn chơng Phật giáo không hoàn toàn có nghĩa là nhàn hạ, nhàn rỗi nhtheo nghĩa thông thờng, “nhàn” trong Phật giáo là không luỵ công danh,không vớng tài sắc là những cái ràng buộc rất tầm thờng và thế tục, để làm tấtcả những việc có thể làm đợc nhằm cứu giúp chúng sinh, cứu nhân độ thế, cứu
đời và cứu ngời
Trang 37ở Nguyễn Trãi cái khao khát tìm về chốn rừng núi thanh sạch hiệnhữu thờng trực trong nhiều bài thơ Nôm đậm màu “thiền”:
Giũ bao nhiêu bụi, bụi lầm,Giơ tay áo đến tùng lâm
Rừng nhiều cây rợp, hoa chầy động,
Đờng ít ngời đi cỏ kíp xâm
Thơ đới tục hiềm câu đối tục,Chủ vô tâm ỷ khách vô tâm
Trúc thông hiên vắng trong khi ấy,Năng mỗ sơn tăng làm bạn ngâm
Ngôn chí - bài 4
Không khí thanh sạch của cảnh chùa, gần lòng thiên nhiên, khác xavới chốn “bụi lầm” của nhân sinh Nguyễn Trãi muốn gián cách với khônggian thế tục để đợc:
ít nhiều tiêu sái lòng ngoài thế,Năng một ông này đẹp thú này
Ngôn chí - bài 10
Nguyễn Trãi cũng nói tới chân lý đã đợc chứng nghiệm của Phật giáo
“Tâm tức phật, phật tức tâm” theo một cách nói dễ hiểu, giản dị:
Thân đà hết luỵ thân nên nhẹ,Bụt ấy là lòng bụt há cầu
Mạn thuật - bài 8
Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn cũng cho rằng: nhiều khi những yếu
tố chỉ t tởng Phật giáo nh “ẩn cả” (đại ẩn, đại thừa) hay là “tiên”, “bụt” cũngchỉ đợc coi là cái cớ, là phơng tiện, một phơng diện trong tơng quan với chủthể đang truy tìm những giây lát “tiêu sái”, “thú an nhàn”, “lòng thơm”:
ẩn cả lọ chi thành thị nữa,Nào đâu là chẳng đất nhà quan
Ngôn chí - bài 16
Thiêu hơng, đọc sách, quét con am,Chẳng bụt, chẳng tiên, ắt chẳng phàm
…Tiêu sái mấy lòng đà mạc đợc,Bảo chăng khứng mạc một lòng tham
Trang 38Tự thán - bài 27
Nguyễn Bỉnh Khiêm khi về hu tự chọn cho mình tự hiệu là Bạch Vân
c sĩ, từ c sĩ lần đầu tiên đợc dùng trong văn chơng Phật giáo trong bộ kinh
Đại thừa Duy - ma - cật với nghĩa tri thức tại gia, tu hạnh Bồ tát cứu nhân độthế Nguyễn Bỉnh Khiêm nhận thức chữ “nhàn” đối lập với công danh, vớihồng trần Từ “hồng trần” xuất hiện trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm biểu trngcho bụi đời, chỉ những gì vớng bận nhân tâm con ngời Đó cũng là một biểuhiện của nhân sinh quan Phật giáo T tởng nhàn của ông cũng gắn bó mậtthiết với cái nhàn mà Đạo phật đề cao, đó là cái nhàn “sống giữa đời mà vẫnvui với đạo”, cái nhàn siêu thoát từ lời nói, ý nghĩ hành động đều thanh tịnh,trong sáng:
Chòm tự nhiên, lều một căn,Quét không thay thảy bụi hồng trần
2.2.1 Nhàn trong “ ” ớc muốn lánh đục tìm trong“ ”
Thơ Nôm Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn là nơi biểu hiện sâusắc những khía cạnh khác nhau về bản chất của t tởng nhàn dật cũng nh quanniệm, cách nhìn nhận về cuộc sống nhàn Và ở một mức độ nào đó, hai tácgia cũng đã gặp nhau ở điểm: xem cuộc sống nhàn nh là một cách thức, mộtphơng thức khẳng định cốt cách thanh cao, khí tiết trong sạch của mình Vìthế, “ớc nhàn”, “tìm nhàn” đối với hai tác gia là một sự “lánh đục tìm trong”
Đó là cách xa lánh, thoát khỏi vòng cơng toả của lợi danh, tránh xa chốnquyền môn nhiều “hiểm hóc” Bằng những trải nghiệm đau khổ của bản thântrớc cuộc đời, mặc dù là một con ngời nhập thế hành đạo luôn “canh cánhchí sơ âu” song trong chiều sâu tâm hồn Nho thần Nguyễn Trãi vẫn muốn đ -
ợc có những thời khắc ẩn mình trong thiên nhiên thanh tịnh, lánh xa cõi tục
Có thể thấy chữ “ẩn”, chữ “nhàn” xuất hiện dày đặc trong thơ Nguyễn Trãi
Chúng tôi đã tiến hành thống kê những câu nhắc tới chữ nhàn với ýnghĩa nhàn tản (loại trừ những câu dùng chữ nhàn với ý nghĩa nghèo, hèn).Kết quả đợc thể hiện trong bảng sau:
Trang 39STT Bài thơ Câu thơ
1 Ngôn chí 1 Xa lánh thân nhàn thuở việc rồi
2 Ngôn chí 5 Thanh nhàn án sách hãy đeo đai
3 Ngôn chí 12 Thân nhàn dầu tới dầu lui
4 Ngôn chí 15 Một phút thanh nhàn trong thuở ấy
5 Ngôn chí 16 Tham nhàn lánh đến giang san
6 Ngôn chí 19 Ngày nhàn mở quyển xem Chu Dịch
7 Mạn thuật 2 Ta đợc thanh nhàn ta xá yêu
8 Mạn thuật 5 Sơn thuỷ nhàn chơi phận khó khăn
9 Mạn thuật 7 Câu quạnh cày nhàn dỡng mỗ thân
10 Mạn thuật 14 Sự nghiệp nhàn khoe phú Tử h
11 Thuật hứng 1 Qua ngày qua tháng, dỡng thân nhàn
12 Thuật hứng 12 Th song vắng vẻ nhàn vô sự
13 Thuật hứng 13 Đèn sách nhàn làm song viết nhu
14 Thuật hứng 14 Am quê về ở dỡng nhàn chơi
Thân nhàn đến chốn dầu tự tại
15 Thuật hứng 16 Về ở thanh nhàn hẹn đã hồng
16 Thuật hứng 17 Thân nhàn dạo khắp tây đông
17 Tự thán 4 Đợc nhàn xá dỡng tính tự nhiên
18 Tự thán 5 Nhàn một ngày, nên quyển một ngày
19 Tự thán 7 Một phút thanh nhàn trong thuở ấy
20 Tự thán 9 Ngày nhàn gió khoan khoan đến
21 Tự thán 12 Đợc thú an nhàn ngày tháng trờng
22 Tự thán 14 Lều nhàn vô sự ấy lâu đài
23 Tự thán 38 Ta ắt muốn nhàn quan muốn lạnh
24 Tự thuật 5 Đợc nhàn ta xá ắt tiêu diêu
25 Bảo kính cảnh giới 16 Đem mình non nớc nhàn qua tuổi
26 Bảo kính cảnh giới 33 Ngâm câu: “Danh lợi bất nh nhàn”
27 Bảo kính cảnh giới 37 Ngẫm trong nhàn nào thuở đợc
Đối lập với cuộc sống nhàn dật đợc khẳng định và ngợi ca trong thơNguyễn Trãi là những khái niệm “cửa quyền”, “bụi lầm”, “áng phong trần”,
“cửa mận tờng đào”, “đất phàm cõi tục”, “lới trần”, “phồn hoa”, “đờng danh”,
“lối lợi”…
Những ý nghĩa ẩn chứa trong những cụm từ đó bao giờ cũng ngợc chiềuvới sự thanh cao, trong sáng mà cuộc sống nhàn tản mang lại cho thi nhân Đógiống nh một sự đối nghịch giữa hai thế giới, một thế giới kìm giữ, co kéo conngời vào những lo toan, những mối hiểm khó tránh khỏi; một thế giới bungtoả, giải phóng con ngời trở về với sự an nhiên thích thảng, tự do tự tại Với ýnghĩa đó, cuộc sống thứ hai mà Nguyễn Trãi đã cầu ớc ấy chính là môi trờng
để khẳng định, gìn giữ phẩm cách cứng cỏi nh cây tùng, cây mai vững vàng
Trang 40tr-ớc sóng gió cuộc đời Và vì thế, tr-ớc muốn “lánh đục về trong” đợc biểu lộ mộtcách thành thực, tha thiết trong thơ:
Cởi tục trà thờng pha nớc tuyết,Tìm thanh trong vắt tạn chè mai
Ngôn chí - bài 1
ở chớ nề hay học cổ nhân,Lánh mình cho khỏi áng phong trần
Sang cùng khó bởi chng trời,Lặn mọc làm chi cho nhọc hơi
Non lạ nớc thanh làm dấu,
Đất phàm cõi tục cách xa
Thuật hứng - bài 9
“Cởi tục, tìm thanh” đối với Nguyễn Trãi đâu chỉ dừng lại ở đó, thơ
ông còn là niềm ao ớc đợc sống một “cuộc sống an nhàn trong một thế giớivô kỷ, vô công, vô danh, “tề thị phi”, “tề vạn vật”” [32, tr.724]
Sự giàu có trong tâm hồn thi nhân Nguyễn Trãi còn đ ợc tạo bởi sựrung cảm sâu sắc trớc những biến thái tinh vi của tạo vật, sự rung động sâu
xa trớc thiên nhiên tơi đẹp Chính thế giới ẩn dật vừa thơ mộng, vừa thanh