1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiện tượng chuyển nghĩa của từ trong các vùng phương ngữ

86 860 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiện tượng chuyển nghĩa của từ trong các vùng phương ngữ
Tác giả Nguyễn Thị Phương
Người hướng dẫn TS. Hoàng Trọng Canh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2008
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 383,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu hiện tợng chuyển nghĩa của từ trong ba vùng phơng ngữ ta sẽ thấy cụ thể hơn, rõ hơn điểm giống nhau, khác nhau giữa các vùng phơng ngữ cũng nh quy luật phát triển và biển đổi

Trang 1

Trường đại học vinh

Trang 2

Vinh - 2008

Lời nói đầu

Hiện tợng chuyển nghĩa của từ là một hiện tợng phổ quát của ngôn ngữ Nghiên cứu hiện tợng này trong phơng ngữ tiếng Việt ngời viết không chỉ nhằm mục đích tìm ra điểm chung mà còn qua đó nhấn mạnh những nét riêng của các vùng phơng ngữ Chính những nét riêng này là một trong những cơ sở tồn tại của phơng ngữ ba vùng và là một trong những yếu tố tạo nên sự đa dạng và phong phú của tiếng Việt Kết quả thu đợc ở công trình này dù rất khiêm tốn nhng chúng tôi vẫn hy vọng đóng góp đợc phần nào công sức của mình trong quá trình tìm hiểu ngôn ngữ nói chung, phơng ngữ nói riêng

Công trình này đợc hoàn thành trớc hết là nhờ sự dạy dỗ giúp đỡ và ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo trong tổ Ngôn ngữ, sự tận tình của thầy giáo hớng dẫn khoa học, cũng nh ý kiến của ngời thân, bạn bè Qua đây ngời viết muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy cô, gia đình và bạn bè

Tác giả

Nguyễn Thị Phơng

Trang 3

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ngôn ngữ là tín hiệu đặc biệt, là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con ngời Tiếng Việt từ lâu đã trở thành ngôn ngữ quốc gia thống nhất của đất nớc Việt Nam Cùng với sự phát triển của xã hội, tiếng Việt cũng phát triển, biến đổi không ngừng

Do quy luật vận động nội tại của hệ thống cấu trúc ngôn ngữ, do điều kiện địa lý, do sự phát triển kinh tế xã hội không đồng đều và môi trờng giao tiếp, tiếp xúc xã hội không giống nhau giữa các vùng dân c đã tạo nên sự phát triển biến đổi ngôn ngữ không đồng đều giữa các vùng Ngôn ngữ dân tộc phát triển đi đến sự thống nhất cao đồng thời ngôn ngữ đó cũng có sự đa dạng phong phú, biểu hiện với nhiều sắc màu khác nhau trên từng vùng của

đất nớc Cũng theo quy luật phát triển chung ấy, tiếng Việt ngày càng thống nhất trong sự phong phú đa dạng, nhiều màu, nhiều vẻ Những dáng vẻ khác nhau của ngôn ngữ trên một vùng địa lý dân c nào so với ngôn ngữ toàn dân

đó chính là tiếng địa phơng hay còn gọi là phơng ngữ

Trong sự hình thành phát triển, thống nhất ngôn ngữ dân tộc ngôn ngữ nào cũng gồm nhiều phơng ngữ khác nhau Với tiếng Việt, phần đông các nhà ngôn ngữ cho rằng tiếng Việt có ba vùng phơng ngữ: phơng ngữ Bắc, phơng ngữ Trung, phơng ngữ Nam

Mỗi vùng phơng ngữ có những đặc điểm, sắc thái riêng về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp mà chúng ta có thể cảm nhận sự khác nhau của các phơng ngữ đó một cách tự nhiên trớc hết qua giọng nói Về ngữ âm điểm chung và riêng giữa các vùng phơng ngữ là ở bình diện khái quát đã đợc nhiều nhà nghiên cứu đề cập tới nhng về những phơng diện cụ thể của từ vựng nh vấn

đề hiện tợng chuyển nghĩa của từ trong các phơng ngữ cha đợc bàn đến Nghiên cứu những vấn đề cụ thể của phơng ngữ đang là một trong những vấn

đề đặt ra có ý nghĩa thực tiễn

Trang 4

1.2 Từ địa phơng đã và đang là đề tài đợc nhiều nhà nghiên cứu Ngôn ngữ học và văn hoá học chú ý Việc nghiên cứu phơng ngữ từ trớc đến nay mới chủ yếu tập trung về mặt ngữ âm, những vấn đề về mặt ngữ nghĩa từ vựng, trong đó có vấn đề hiện tợng chuyển nghĩa của từ phơng ngữ cha đợc nghiên cứu nhiều.

1.3 Những năm gần đây, phơng ngữ đã đợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm một cách đặc biệt, nên đã có một loạt công trình khoa học đợc công bố Tuy vậy, nghiên cứu so sánh ba vùng phơng ngữ một cách tỉ mỉ, quy mô thì cha có công trình nào Vấn đề hiện tợng chuyển nghĩa của từ trong ba vùng phơng ngữ cũng là vấn đề đáng quan tâm Nghiên cứu hiện tợng chuyển nghĩa của từ trong ba vùng phơng ngữ ta sẽ thấy cụ thể hơn, rõ hơn điểm giống nhau, khác nhau giữa các vùng phơng ngữ cũng nh quy luật phát triển

và biển đổi ngữ nghĩa của ngôn ngữ các vùng qua so sánh, đối chiếu

1.4 Đi sâu nghiên cứu hiện tợng chuyển nghĩa trong các vùng phơng ngữ ta có thêm cơ sở để thấy sâu hơn mối quan hệ giữa ngôn ngữ với phơng ngữ, giải thích một trong những nguyên nhân tạo nên sự khác biệt giữa phơng ngữ và ngôn ngữ toàn dân, giữa các vùng phơng ngữ với nhau Đề tài đợc hoàn thành sẽ giúp chúng ta thấy rõ hơn sự phát triển nghĩa của từ trong ph-

ơng ngữ đóng vai trò nh thế nào trong sự tồn tại, phát triển nghĩa của từ trong phơng ngữ nói riêng, của ngôn ngữ nói chung Qua đối chiếu các phơng ngữ,

ta có thể thấy sự phát triển nghĩa của từ trong các vùng phơng ngữ có gì giống và khác nhau? Sự giống và khác nhau đó nói lên điều gì?

Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn nh trên, chúng tôi đã chọn đề tài

nghiên cứu Hiện tợng chuyển nghĩa của từ trong các vùng phơng ngữ

Trang 5

cần thiết của việc nghiên cứu các phơng ngữ ở các ngôn ngữ thờng dùng trong cuộc sống của các dân tộc.

Phơng ngữ học thực sự phát triển ở đầu thế kỷ XIX với hàng trăm công trình lớn nhỏ đợc nghiên cứu và nhìn nhận ở những góc độ khác nhau trên nhiều bình diện Phơng ngữ tiếng Việt cùng nằm trong trào lu chung đó với nhiều vấn đề cấp thiết đợc đặt ra Tiếng Việt với vấn đề: phơng ngữ, phân vùng các phơng ngữ, phơng ngữ và văn hoá, phơng ngữ với vấn đề chuẩn hoá tiếng Việt

Cũng nh nhiều ngôn ngữ khác, tiếng Việt là ngôn ngữ bao gồm nhiều phơng ngữ Phơng ngữ là biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân dới hình thức biến thể trên một hoặc vài vùng địa lý dân c nhất định Do tầm quan trọng của việc nghiên cứu phơng ngữ đối với nhiều ngành, nhất là đối với lịch sử tiếng Việt, từ lâu các nhà nghiên cứu trong và ngoài nớc đã có sự quan tâm

đáng kể đến phơng ngữ Đặc biệt những năm gần đây, các nhà Việt ngữ học

đã nghiên cứu một số phơng ngữ trong nớc một cách có hệ thống hơn, với cách nhìn nhận khác nhau

Vấn đề đầu tiên đợc các nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm là việc phân vùng phơng ngữ tiếng Việt H.Maspérô (1912) có lẽ là một trong những ngời

đầu tiên phân chia phơng ngữ tiếng Việt Trong tác phẩm "Nghiên cứu về

ngữ âm lịch sử tiếng Việt" ông đã nêu lên ý kiến phân chia tiếng Việt thành

hai vùng: phơng ngữ Bắc và phơng ngữ Trung (dẫn theo Hoàng Thị Châu,

Tiếng việt trên các miền đất nớc, trang 85) Sau đó hàng loạt các tác giả

cùng đề cập đến vấn đề này nh: M.VGordina và L.Buxtrov (1970), Hoàng Phê (1963), Nguyễn Kim Thản (1982), Nguyễn Trọng Báu (1982), Nguyễn Văn Tu (1982), Hoàng Thị Châu (1989), Nguyễn Nhã Bản (1994), Võ Xuân Trang (1996)

Nếu phân chia phơng ngữ chỉ thuần căn cứ trên tiêu chuẩn địa lý thì không thể lý giải đợc quan hệ giữa các phơng ngữ với nhau Bởi thế các tác giả trớc hết đã đa tiêu chuẩn ngôn ngữ học (phát âm, từ vựng, ngữ pháp )…làm tiêu chuẩn chủ yếu Tuy nhiên ở việc phân vùng phơng ngữ các nhà nghiên

Trang 6

cứu cha có một cách nhìn thống nhất nên các phơng ngữ từ Thanh Hoá đến Bình Thuận đã đợc phân chia khác nhau Song xu hớng hiện nay và cũng nh ý kiến của đại đa số các nhà nghiên cứu cho rằng tiếng Việt có ba vùng phơng ngữ: Ph-

ơng ngữ Bắc Bộ, Phơng ngữ Bắc Trung Bộ, phơng ngữ Nam Trung Bộ Nam Bộ Gắn liền với vấn đề này, tuyệt đại đa số các nhà nghiên cứu đều đề xuất lấy ph-

ơng ngôn miền Bắc làm cơ sở, cách phát âm Hà Nội là cách phát âm chuẩn Đại diện cho quan niệm chung đó là Hoàng Thị Châu (1989), Nguyễn Văn Tu (1982), Hồng Giao (1973) …

Hoàng Thị Châu khảo sát một cách khái quát phơng ngữ các vùng và đã nêu lên những đặc điểm chung nhất về phơng ngữ của các vùng trong tiếng Việt Một phơng diện thu hút đợc nhiều ngời quan tâm nhất là khảo sát, miêu tả các đặc điểm ngữ âm của các phơng ngữ ở vấn đề này, các phơng ngữ tiếng Việt đợc khảo sát ở những phạm vi mức độ khác nhau Hàng loạt các bài viết, các luận văn, khoá luận nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của một vài

phơng ngữ cụ thể: Nguyễn Kim Thản trong Thử bàn một vài đặc điểm trong

phơng ngôn Nam Bộ” (1964); Nguyễn Bạt Tụy Miêu tả phơng ngôn Quảng Trị” (1961); Phạm Văn Hảo chú ý tới phơng ngữ Thanh Hoá (1985); Trần Thị

ngôn ngữ Bình Trị Thiên (1997); Hoàng Trọng Canh (Nghiên cứu đặc điểm

lớp từ địa phơng Nghệ Tĩnh” (2001); Nguyễn Hoài Nguyên Miêu tả đặc trng ngữ âm phơng ngữ Nghệ Tĩnh” (2002); Nguyễn Thị Oanh Thử khảo sát lớp

từ đa nghĩa trong vốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh” (1998); Nguyễn Hiền Thơng Hiện t

ợng chuyển nghĩa của từ trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh ” (2004).v.v

Về hiện tợng chuyển nghĩa của từ trong các phơng ngữ cho tới nay cha

có công trình nào viết chuyên sâu về vấn đề này Đáng chú ý là Luận văn Thạc sỹ ngữ văn của Nguyễn Hiền Thơng đã quan tâm đến hiện tợng chuyển nghĩa trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh

Điểm qua các công trình nghiên cứu phơng ngữ của các nhà nghiên cứu ta thấy rõ nghiên cứu hiện tợng chuyển nghĩa của từ ba vùng phơng

Trang 7

ngữ trong tiếng Việt rút ra đặc điểm chung, đặc điểm riêng của các vùng phơng ngữ này là một đề tài cần thiết

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1.3 Tìm hiểu phơng ngữ không chỉ để thấy sự khác nhau về ngữ nghĩa giữa phơng ngữ với ngôn ngữ toàn dân mà phần nào đó còn để thấy đợc sự khác nhau giữa các vùng phơng ngữ trong tiếng Việt

3.3.3 Qua hiện trợng chuyển nghĩa của từ trong các phơng ngữ chúng ta

đi đến cắt nghĩa, lý giải sự giống, khác về ngữ nghĩa giữa các vùng phơng ngữ

3.3.4 Trên cơ sở kết quả khảo sát chúng tôi đề xuất ý kiến về việc thu thập từ địa phơng vào từ điển

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tợng: Là các từ chuyển nghĩa đợc thu thập trong các cuốn từ

điển phơng ngữ Đó là những từ có hiện tợng chuyển nghĩa dẫn đến hiện tợng

đa nghĩa, hiện tợng chuyển loại

4.2 Phạm vi: Dựa trên t liệu là từ và ngữ cố định đợc thu thập trong hai

(Chủ biên), 2001; Từ điển phơng ngữ tiếng Việt của đặng Thanh Hoà, 2005.

Trang 8

5 Phơng pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài chúng tôi chủ yếu sử dụng các phơng pháp nghiên cứu chung và riêng sau đây:

5.1 Phơng pháp thông kê, phân loại

Thống kê là một khâu quan trọng khi thực hiện đề tài này Trớc hết, đó

là sự thống kê về số lợng từ chuyển nghĩa Kết quả thống kê sẽ đợc phân loại

và tìm ra những đặc điểm của hiện tợng chuyển nghĩa ở từ địa phơng của cả

ba vùng trên các phơng diện nh: đặc điểm về số lợng, về cấu tạo, về phơng thức chuyển nghĩa

5.3 Phơng pháp so sánh đối chiếu

Phơng pháp này đợc tập trung sử dụng trong khi so sánh phơng ngữ với nhau về quy luật chuyển nghĩa, so sánh số lợng từ đợc chuyển nghĩa, tỉ lệ, tính chất (định đính) của hiện tợng chuyển nghĩa trong phơng ngữ

5.4 Phơng pháp khác

Bên cạnh các phơng pháp trên, luận văn còn sử dụng phơng pháp phân tích nghĩa tố khi đi vào khảo sát từng nghĩa của từ cụ thể, xác định quan hệ nghĩa giữa các nghĩa trong hệ thống cấu trúc của từ đa nghĩa và sự chuyển biến ý nghĩa, mối liên hệ giữa các nghĩa trong từ chuyển loại

Thông qua các phơng pháp trên chúng ta sẽ nắm đợc sự phát triển, biến

đổi sinh động, phong phú, đầy thú vị, mang tính quy luật của vốn từ địa

ph-ơng ba vùng của vốn từ tiếng Việt về quy luật phát triển ý nghĩa Từ đó thấy đợc phần nào đặc trng văn hoá của các vùng thể hiện qua cứ liệu ngôn ngữ

Trang 9

6 Đóng góp của đề tài

Lần đầu tiên hiện tợng chuyển nghĩa trong các vùng phơng ngữ đợc chỉ

ra một cách toàn diện và cụ thể Đó là một cơ sở để lý giải sự khác nhau về nghĩa giữa phơng ngữ với ngôn ngữ toàn dân, giữa các vùng phơng ngữ với nhau

Nghiên cứu sự khác biệt giữa hiện tợng chuyển nghĩa của từ trong ba vùng phơng ngữ, chúng ta có thể thấy đợc dấu ấn văn hoá riêng của con ngời

về thói quen nói năng ở mỗi vùng

7 Cấu trúc luận văn

của luận văn dợc triển khai qua ba chơng:

Chơng 1: Những vấn đề chung liên quan đến đề tài

Chơng 2: Hiện tợng đa nghĩa của từ trong các vùng phơng ngữ

Chơng 3: Hiện tợng chuyển loại của từ trong các vùng phơng ngữ

Trang 10

Chơng 1

Những vấn đề chung liên quan đến đề tài

1.1 Phơng ngữ với ngôn ngữ toàn dân

1.1.1 Khái niệm phơng ngữ

Thuật ngữ tiếng địa phơng (dialect) đã có từ rất lâu trong ngôn ngữ học

ở Việt Nam, tiếng địa phơng đồng nghĩa với các thuật ngữ lâu nay đã dùng: phơng ngôn, phơng ngữ Vấn đề đặt ra ở đây là hiểu nội dung thuật ngữ này

nh thế nào? Qua các định nghĩa của các nhà nghiên cứu, chúng ta có thể rút rađợc cách hiểu chung nhất sau đây:

- Hoàng Thị Châu quan niệm phơng ngữ là những biểu hiện khác biệt của ngôn ngữ toàn dân:“Ph ơng ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phơng cụ thể với những nét khác

tr.29]

- Các tác giả Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân nhấn mạnh tính hệ thống riêng nhng có nguồn gốc chung với hệ thống ngôn ngữ: “Ph ơng ngữ là hình thức ngôn ngữ có hệ thống từ vựng, ngữ pháp hay ngữ âm riêng biệt đợc sử dụng ở một phạm vi lãnh thổ hay xã hội hẹp hơn là ngôn ngữ Là một hệ thống

ký hiệu và quy tắc kết hợp có nguồn gốc chung với hệ thống khác đợc coi là ngôn ngữ (cho toàn dân tộc), các phơng ngữ (có ngời gọi là tiếng địa phơng, phơng ngôn) khác nhau trớc hết ở cách phát âm, sau đó là ở vốn từ vựng” [27-

tr.275]

- Xtepanov nhấn mạnh tính khác biệt của phơng ngữ xét về tầng lớp

nông dân trong một khu vực nào đó” [42 - tr.370].

Nh vậy qua những định nghĩa trên chúng ta có thể thấy rằng, các tác giả khi định nghĩa tiếng địa phơng đều có sự phân biệt với ngôn ngữ toàn dân Có

Trang 11

thể thấy rõ hai tiêu chí nổi bật mà các tác giả thờng nhắc đến khi định nghĩa về phơng ngữ đó là:

+ Phơng ngữ là biến thể của ngôn ngữ toàn dân

+ Phạm vị sử dụng của phơng ngữ bị hạn chế

Để làm cơ sở lý thuyết thống nhất cho đề tài, chúng tôi đã chọn định nghĩa của tác giả Hoàng Thị Châu, một trong những định nghĩa khái quát đợc cả hai mặt nói trên, và định nghĩa này đã xác định đặc điểm phơng ngữ địa lý

Với cách hiểu phơng ngữ nh trên, chúng ta có thể tiếp cận phơng ngữ theo hớng địa lý ngôn ngữ học Và cũng theo hớng này các nhà nghiên cứu

đã tìm cách phân vùng phơng ngữ tiếng Việt thành các phơng ngữ khác nhau

1.1.2 Phơng ngữ với ngôn ngữ dân tộc

Việt Nam là một đất nớc có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống Tiếng Việt là ngôn ngữ của dân tộc Việt và là ngôn ngữ quốc gia của dân tộc Việt Nam Tuy nhiên về biểu hiện, giữa các vùng có sự khác nhau do những đặc

điểm địa lý, xã hội, thói quen, tâm lý riêng nên phơng ngữ có những điểm không đồng nhất với ngôn ngữ chung về ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp Những sự không đồng nhất đó là một trong những nguyên nhân hình thành nên các vùng phơng ngữ Tuy không đồng nhất ở những đặc điểm cụ thể song về mặt hệ thống thì ngôn ngữ các vùng lại rất thống nhất và ngời Việt Nam trên mọi miền tổ quốc đều có thể hiểu đợc nhau khi họ nói, viết chung một thứ ngôn ngữ đó là tiếng Việt Nh vậy giữa ngôn ngữ toàn dân với phơng ngữ có mối quan hệ biện chứng:

- Tiếng Việt là quốc ngữ, là ngôn ngữ chung thống nhất của dân tộc Việt

Nam Các tác giả cuốn Dẫn luận ngôn ngữ học“ ” [17] khẳng định tiếng Việt là ngôn ngữ dân tộc và nói rõ: “Ngôn ngữ dân tộc là ph ơng tiện giao tiếp chung của toàn dân tộc bất kể sự khác nhau về lãnh thổ hay xã hội của họ” [17 - tr 38].

Các tác giả phân biệt và chỉ ra quan hệ giữa ngôn ngữ dân tộc và ngôn ngữ văn hoá dân tộc:

Trang 12

“Ngôn ngữ văn hoá dân tộc dựa trên ngôn ngữ nói của toàn dân tộc

Nh-ng nó khác với Nh-ngôn Nh-ngữ dân tộc ở sự thốNh-ng nhất hết sức to lớn troNh-ng kết cấu của nó Ngôn ngữ văn hoá hoạt động tuân theo những quy tắc chặt chẽ đợc

gọi là Chuẩn mực“ ” Nó lựa chọn những đơn vị, những phạm trù ngôn ngữ

đáp ứng nhiều nhất cho những yêu cầu chung của toàn dân tộc, tớc bỏ những hạn chế có tính chất địa phơng và xã hội, làm cho chúng trở thành những hiện tợng thống nhất đối với toàn dân tộc Ngôn ngữ văn hoá dân tộc và ngôn ngữ dân tộc phân biệt nhau ở chỗ một đằng thì chúng ta có ngôn ngữ

nguyên liệu ,

dũa chế tạo nên Ngôn ngữ nói toàn dân là nguồn bổ sung vô tận cho ngôn ngữ văn hoá, ngợc lại ngôn ngữ văn hoá là đòn bẩy làm cho dân tộc và ngôn ngữ dân tộc ngày càng thống nhất” [17 - tr 39]

Ngôn ngữ văn hoá nh trên đã nói là ngôn ngữ đã đợc lựa chọn từ ngôn ngữ nói của toàn dân tộc và đợc phát triển thành những chuẩn mực thống nhất đối với toàn dân tộc Tiếng Việt cũng vậy, là tiếng nói của dân tộc Việt

đợc bổ sung, làm giàu bởi các phơng ngữ trên cơ sở một phơng ngữ đợc lấy làm ngôn ngữ chuẩn đó là ngôn ngữ văn hoá thủ đô Hà Nội

- Phơng ngữ chính là biến thể của ngôn ngữ văn hoá ở một địa phơng nào đó Nói cách khác ngôn ngữ văn hoá hay ngôn ngữ toàn dân là thống nhất nhng lại đa dạng trong biểu hiện Tiếng Việt trên các vùng, miền khác nhau có sự biểu hiện ít nhiều khác nhau Sự biểu hiện khác nhau trên các vùng phơng ngữ đợc xem là một trong những biểu hiện của tính đa dạng ngôn ngữ Song dù có khác nhau nhng giữa các phơng ngữ vẫn dựa trên một

sự thống nhất cơ bản, một mã ngôn ngữ chung

Nói tóm lại, mối quan hệ giữa phơng ngữ tiếng Việt với tiếng Việt nói chung và của phơng ngữ với ngôn ngữ toàn dân nói riêng là mối quan hệ biện chứng Ngôn ngữ văn hoá hình thành trên cơ sở các phơng ngữ và phơng ngữ

là biến thể của ngôn ngữ văn hoá ở một địa phơng cụ thể nào đó Tiếng Việt là một ngôn ngữ vừa thống nhất vừa đa dạng Tính thống nhất nằm trong bản chất của ngôn ngữ, cái làm cho nó đợc gọi là tiếng Việt, dù ở thế kỷ XIII hay

Trang 13

thế kỷ XXI, dù ở trong Nam hay ngoài Bắc Nhng ở mặt biểu hiện, khi thì nó

là ngôn ngữ văn học trau chuốt và tế nhị, khi thì nó là tiếng địa phơng đậm đà màu sắc quê hơng của từng vùng

1.2.3 Các vùng phơng ngữ tiếng Việt

Nh ta đã biết, có nhiều quan điểm khác nhau về phân vùng phơng ngữ tiếng Việt, nhng trên đại thể, nhiều nhà nghiên cứu đồng tình với ý kiến chia tiếng Việt thành ba vùng phơng ngữ:

- Phơng ngữ Bắc: gồm các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ đến Thanh Hoá

- Phơng ngữ Trung: gồm các tỉnh từ Thanh Hoá đến Bình Trị Thiên

- Phơng ngữ Nam: gồm các tỉnh từ đèo Hải Vân đến các tỉnh Nam Bộ

1.1.3.1 Đặc điểm phơng ngữ Bắc Bộ

Phơng ngữ Bắc Bộ, theo sự phân vùng hiện nay là tiếng nói của dân c các tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng và các tỉnh lân cận, một vùng lớn bao gồm các tỉnh từ phía bắc Thanh Hoá trở ra

Hệ thống thanh điệu của phơng ngữ Bắc bộ gồm 6 thanh (nh trong chính tả), độ phát âm bổng hơn các vùng phơng ngữ khác Vùng phơng ngữ này có

20 âm vị phụ âm đầu, so với vùng phơng ngữ Trung, phơng ngữ Bắc Bộ không có những phụ âm ghi trong chính tả là s, r, gi, tr Tức không phân biệt s/x; r/d; tr/ch Hệ thống âm cuối: có đủ các âm cuối ghi trong chính tả Vùng phơng ngữ này theo nhiều tác giả có thể chia thành ba vùng nhỏ:

- Phơng ngữ vòng cung biên giới phía Bắc nớc ta

- Phơng ngữ vùng Hà Nội và các tỉnh đồng bằng, trung du bao quanh Hà Nội

- Phơng ngữ miền hạ lu sông Hồng và ven biển (Nam Định, Ninh Bình, Quảng Ninh)

Phơng ngữ này là cơ sở hình thành nên ngôn ngữ văn học, đợc xem là ngôn ngữ chuẩn của ngời Việt Vì thế số lợng từ địa phơng không nhiều

Vùng châu thổ Bắc Bộ là vùng đất lịch sử lâu đời của ngời Việt, nơi khai sinh của các vơng triều Đại Việt, đồng thời cũng là quê hơng của các nền văn hoá Đông Sơn, Thăng Long - Hà Nội Đây là cái nôi văn hoá, văn minh Việt

Trang 14

từ buổi đầu và hiện tại cũng là nền văn hoá bảo lu đợc nhiều giá trị truyền thống hơn cả Trên đờng đi tới xây dựng một nền văn hoá hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc, vùng văn hoá này vẫn có những tiềm năng nhất định Theo

đó ngôn ngữ cũng đợc khẳng định vị trí của mình Bởi hơn đâu hết ngôn ngữ

lu giữ lâu bền nhất đặc điểm văn hoá của mỗi dân tộc, mỗi vùng

1.1.3.2 Đặc điểm phơng ngữ Trung Bộ

Phơng ngữ Bắc Trung Bộ hay thờng gọi là phơng ngữ Trung có hệ thống thanh điệu 5 thanh (khác với hệ thống thanh điệu phơng ngữ Bắc cả về số lợng lẫn chất lợng) Hệ thống phụ âm đầu có 23 phụ âm, hơn phơng ngữ Bắc bộ 3 phụ âm quặt lỡi [ş, ţ,z] chữ quốc ngữ ghi bằng s, r, tr

Theo nhiều nhà nghiên cứu (Hoàng Thị Châu 1989; Võ Xuân Trang 1992) vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ có thể chia thành ba phơng ngữ là: phơng ngữ Thanh Hoá, phơng ngữ Nghệ Tĩnh, phơng ngữ Bình Trị Thiên Hoàng Trọng Canh [9] chỉ ra rằng phơng ngữ Thanh Hoá và phơng ngữ Bình Trị Thiên do tính chất mang đặc điểm chuyển tiếp, đối chiếu với đặc điểm chung của phơng ngữ Bắc Trung Bộ, có thể xem phơng ngữ Nghệ Tĩnh là phơng ngữ đại diện tiêu biểu cho vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ

Đợc hình thành từ lâu đời, do nhiều đặc điểm về địa lý, dân c, môi trờng,

điều kiện tiếp xúc ngôn ngữ nên đây là vùng phơng ngữ cổ còn bảo lu đợc nhiều yếu tố cổ của tiếng Việt Về mặt văn hoá, đây cũng là vùng còn giữ đ-

ợc nhiều nét văn hoá cổ, truyền thống của ngời Việt Điều này đợc phản ánh một phần qua vốn từ địa phơng Trong đó các lớp từ đợc tạo nên từ sự biến

đổi ngữ âm của tiếng Việt trong lịch sử, có lớp từ là kết quả của sự biến đổi ngữ nghĩa của từ trong từ vựng, có lớp từ là những từ cổ của tiếng Việt

1.1.3.3 Đặc điểm phơng ngữ Nam Bộ

Văn hoá Nam Bộ là văn hoá của vùng đất mới, nó phát triển cách xa vùng đất cội nguồn cả không gian và thời gian Cho nên, nền văn hoá này, vừa có nét giống lại vừa có nét khác với nền văn hoá ở vùng đất cội nguồn,

,

Trang 15

của cùng một tộc ngời Vì vậy kéo theo đó là tiếng nói cũng có điểm chung

và riêng so với tiếng nói các vùng

Vùng đất này mới có tuổi đời hơn 300 năm Nguồn gốc xuất phát của c dân Nam Bộ là điều đáng lu ý, nếu nh dân vùng Nam Trung Bộ chủ yếu là c dân Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh vào định c còn vùng Nam bộ lại chủ yếu là dân Nam Trung Bộ vào từ thời Trịnh – Nguyễn Ta biết, ngôn ngữ là một tập quán mà ngời ta mang theo mình và không thay đổi dễ dàng đợc Những dân mới đến sẽ nói thổ ngữ của mình, rồi do thời gian xa cách lâu dài mà cái thổ ngữ ấy có thể thay đổi, nhng những nét cơ bản của thổ ngữ cũ vẫn còn Do

đó, tuy là cùng mới đến cả nhng sẽ nói khác nhau tùy theo nguồn gốc

Phơng ngữ Nam có 5 thanh điệu, thanh ngã và thanh hỏi không phân biệt Về mặt điệu tính, thanh điệu Nam cũng khác thanh điệu Bắc và Trung

Hệ thống phụ âm đầu có 23 đơn vị và có các phụ âm uốn lỡi nh phơng ngữ Trung { ţ , ş, z] So với các phơng ngữ khác thì phơng ngữ Nam thiếu [v] (v phát âm thành j) và có âm [w], không có âm [z] và đợc thay thế bằng âm [j]

Âm đệm [- w] đang biến mất trong phơng ngữ Nam, mất rất nhiều vần so với phơng ngữ Bắc và Trung, thiếu đôi âm cuối [- nh, - ch]; âm cuối [- n] phát âm thành [ng]; [- t] phát âm thành [k] Thế nhng trong một khoảng thời gian rất ngắn ấy, văn hoá Nam bộ đã định hình rõ những đặc trng của vùng mình Nhiều nhân tố tạo ra điều này, nhng không thể không thừa nhận quá trình tiếp biến văn hoá Rõ nhất của quá trình tiếp biến này là hiện tợng sử dụng nhiều ngôn ngữ trong vùng (tiếp xúc tiếng Pháp, Mỹ,c dân nói tiếng Khơme, Chăm, Hoa ) Thậm chí có những câu nói, câu hát bình dân có sự pha tạp giữa các ngôn ngữ khác Sự giao lu sớm tiếp nhận văn hoá phơng Tây, văn hoá Mỹ nên văn hoá Nam Bộ sẽ có những đặc điểm mà vùng khác không có

Mặt khác, Nam Bộ là vùng văn hoá có nhiều tôn giáo tín ngỡng cùng

đan xen tồn tại Nói đúng hơn là diện mạo tôn giáo tín ngỡng Nam bộ khá đa dạng và phức tạp do đó tiếng nói vùng này cũng khá đa dạng

,

Trang 16

Trong ứng xử với thiên nhiên, các dân tộc ngời Nam bộ cũng có những nét khác biệt so với các vùng văn hoá khác Khi con ngời tới vùng này sinh sống, họ đều đứng trớc một thiên nhiên vừa có phần lạ lẫm vừa huyền bí Khác với đồng bằng sông Hồng, Nam Bộ có tới 4.900km kênh đào, dù có hai dòng sông lớn vẫn không hề có km đê nào Dựa theo chế độ thuỷ triều, hệ thống thuỷ lợi ở Nam Bộ đa nớc ngọt từ sông lớn vào sông nhỏ, vào kênh rạch rồi lên vờn, lên nơng Nghĩa là một thái độ ứng xử hoàn toàn khác ở Bắc

Bộ

Nh vậy, sự phong phú, đa dạng về văn hoá và đặc điểm c dân không phải

là ngời bản địa đã tạo nên sự phong phú, đa dạng trong ngôn ngữ nơi đây

Ph-ơng ngữ Nam có nhiều nét giống với phPh-ơng ngữ Trung là đều có cơ sở về mặt lịch sử xã hội và ngôn ngữ

Phơng ngữ có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ toàn dân Phơng ngữ là biểu hiện của ngôn ngữ dân tộc trên con đờng phát triển biến đổi Tính đa dạng của ngôn ngữ dân tộc thể hiện trên các phơng ngữ khác nhau Phơng ngữ là một phần hình ảnh lịch sử của một ngôn ngữ chung thống nhất

Do tính đặc thù về điều kiện địa lý, c dân, phong tục tập quán của từng vùng; do sự phát triển biến đổi, lan toả không đồng đều của các hiện tợng ngôn ngữ nên một ngôn ngữ quốc gia thống nhất nhng trong lòng nó lại có các phơng ngữ khác nhau

Ngoài cái mã ngôn ngữ chung, giữa các phơng ngữ vì thế mà có những khác biệt về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Tiếng Việt có ba vùng phơng ngữ lớn: phơng ngữ Bắc Bộ, phơng ngữ Bắc Trung Bộ và phơng ngữ Nam Trung

Bộ - Nam Bộ Những biểu hiện của tiếng Việt trên ba vùng là minh chứng cho tính thống nhất và đa dạng của phơng ngữ So sánh từ của ba vùng về hiện tợng chuyển nghĩa có thể thấy đợc phần nào đặc điểm chung và riêng

đó

1.2 Từ địa phơng và vấn đề chuyển nghĩa của từ

1.2.1 Từ địa phơng

Trang 17

Gắn liền với việc xác định khái niệm phơng ngữ là việc xác lập khái niệm Từ địa phơng Cho tới nay quan niệm của các nhà nghiên cứu Việt ngữ học về khái niệm “Từ địa phơng” vẫn có sự khác nhau ít nhiều Có nhiều nhà nghiên cứu xét từ địa phơng nhấn mạnh tính riêng biệt của nó và sự tồn tại

ngữ thuộc một ngôn ngữ dân tộc nào đó và chỉ phổ biến trong phạm vi lãnh

nói của một vùng nhất định Chúng mang sắc thái địa phơng, ngời địa

ph-ơng này không hiểu từ của địa phph-ơng kia” [43 - tr 339].

Giáo s Đỗ Hữu Châu lại đề cập đến tính khác biệt hai mặt ngữ âm và ngữ nghĩa của từ địa phơng: “Những đơn vị từ vựng địa ph ơng là những đơn vị từ vựng có ý nghĩa khác nhau nhiều hay ít kèm theo sự khác nhau về ngữ âm nhiều hay ít nhng không nằm trong sự sai dị ngữ âm đều đặn” [43 - tr.339].

Giáo s Nguyễn Thiện Giáp nhấn mạnh phạm vi sử dụng của từ địa

ngày trong một bộ phận nào đó của dân tộc chứ không phải là từ vựng của ngôn ngữ văn học” [43- tr.340].

Giáo s Nguyễn Quang Hồng lại nhấn mạnh đến đặc điểm biến thể và phạm vi sử dụng quen thuộc của từ địa phơng: “Từ địa ph ơng là những đơn

vị và dạng thức từ ngữ của một ngôn ngữ dân tộc mà phạm vi tồn tại và sử dụng tự nhiên nhất của chúng chỉ hạn chế trong một vài vùng địa phơng nhất định” (Dẫn theo Hoàng Trọng Canh) [9].

Theo các định nghĩa trên, ta thấy rằng quan niệm của mỗi tác giả thờng phản ánh một góc nhìn cụ thể, mức độ khái quát có sự khác nhau Các tác giả

của cuốn Từ điển tiếng địa phơng Nghệ Tĩnh” đa ra định nghĩa: Từ địa

phơng là vốn từ c trú ở một địa phơng cụ thể có sự khác biệt với ngôn ngữ văn hoá hoặc địa phơng khác về ngữ âm và ngữ nghĩa” [4- tr.16].

Trang 18

Nh vậy, từ các định nghĩa trên, ta có thể khẳng định: Phơng ngữ nói chung, từ địa phơng nói riêng có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ toàn dân, chúng vừa có sự khác biệt, vừa có sự đồng nhất với ngôn ngữ toàn dân và từ toàn dân Phơng ngữ là một trong những biểu hiện của tính đa dạng của ngôn ngữ dân tộc.

1.2.2 Nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ

1.2.2.1 Nghĩa của từ

Nghĩa của từ là một khái niệm có nội dung trừu tợng, từ trớc đến nay giới nghiên cứu quan niệm không thống nhất Do tính chất, đối tợng của đề tài, chúng tôi không đi vào bàn luận về khái niệm nghĩa mà chỉ đa ra cách hiểu chung luận văn lấy làm cơ sở để xác định hiện tợng chuyển nghĩa trong phơng ngữ

Về các quan niệm và khuynh hớng nghiên cứu về nghĩa, Nguyễn Thiện Giáp trong Giải trình từ vựng học [16] đã tổng hợp khá kỹ Theo giáo s, có hai

khuynh hớng nổi bật: 1, Cho nghĩa của từ là một bản thể nào đó (đối tợng, khái niệm, sự phản ánh ) 2, Cho nghĩa của từ là một quan hệ nào đó (quan hệ của từ với sự vật, quan hệ của từ với khái niệm, ) Tác giả cũng cho quan niệm nghĩa của từ là quan hệ gần gũi với chân lý hơn

Gần đây, Giáo s Lê Quang Thiêm trong giáo trình Ngữ nghĩa học [35]

đã đề nghị một giải pháp, một cách tiếp cận có nhiều nội dung mới Theo tác giả, “nghĩa là một thực thể tinh thần trừu tợng tồn tại trong mọi biểu hiện, cấp độ của ngôn ngữ để ngôn ngữ thực hiện chức năng công cụ của giao tiếp và t duy” Và giải pháp mới mà tác giả đề nghị là “quan niệm chức năng phải đợc xem là nòng cốt trung tâm của kiến giải nghĩa” [35- tr.86].

Về các thành phần nghĩa của từ, tuy tên gọi và mức độ bàn đến các thành phần nghĩa nông sâu khác nhau nhng hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng nghĩa của từ là một cấu trúc bao gồm các thành phần cơ bản nh: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa kết cấu (quan hệ), nghĩa biểu thái Các tác giả trong và ngoài nớc thờng dùng các sơ đồ khác nhau để biểu thị các thành

Trang 19

phần nghĩa và những nhân tố, các quan hệ nghĩa Các tác giả nớc ngoài thờng dùng sơ đồ tam giác ngữ nghĩa để biểu thị nghĩa (Ogden và Richards (1923), G.Stern (1931), Ju.X.Xtêpanov (1975) ) ở Việt ngữ học, Đỗ Hữu Châu đa ra hình tháp nghĩa hình học không gian (1998) để phân biệt “nhân tố nghĩa” và

“nghĩa” Đáng lu ý một nét rất mới của Đỗ Hữu Châu là ông cho rằng số ợng, kiểu nghĩa sẽ tăng lên tuỳ theo số lợng nhân tố đợc phát hiện Giáo s Lê Quang Thiêm gần đây đa ra sơ đồ nghĩa “hình dây chức năng” (2008) không những cho ta thấy nghĩa của từ không chỉ đợc xét trong bình diện hệ thống

l-mà còn trong hành chức, nghĩa của từ phải đợc xét gắn liền với chức năng.Không chỉ chỉ ra các thành phần nghĩa, nhiều nhà nghiên cứu còn đi vào phân tích cấu trúc nghĩa của từ Có lẽ trong nhiều tác giả, Hoàng Phê [39] là ng-

ời đã phân tích cấu trúc nghĩa một cách tờng minh nhất Trong Lôgíc- ngôn ngữ học, Giáo s không những chỉ ra đơn vị cơ sở của nghĩa là các nét nghĩa

mà còn khái quát thành các dạng “đẳng cấu ngữ nghĩa”, cho thấy mối quan

hệ ngữ nghĩa trong hệ thống từ vựng Đây là một trong các cơ sở để chúng ta hình dung ra sự phát triển nghĩa của từ trong từ vựng Bởi nghĩa phái sinh của

từ bao giờ cũng xuất phát từ nghĩa gốc của từ trên cơ sở một hoặc một số nét nghĩa nào đó Theo hai hình thức liên tởng tơng đồng và tơng cận, nghĩa của

từ phát triển trên cơ sở nghĩa gốc đó Chính vì thế các nghĩa của từ hợp thành một trật tự, một kết cấu Điều này cũng sẽ đợc chúng tôi áp dụng để phân tích hiện tợng chuyển nghĩa trong phơng ngữ

Nh vậy, phát triển nghĩa (hay chuyển nghĩa) thực chất là phát triển chức năng định danh của từ, tăng khả năng biểu đạt của từ Đó là một trong những con đờng phát triển vốn từ

1.2.2.2 Sự chuyển nghĩa của từ là một trong những con đờng phát triển vốn từ

Vốn từ trong các ngôn ngữ chủ yếu phát triển bởi các con đờng sau:

- Phái sinh hình thái cú pháp - cấu tạo từ

- Phái sinh ngữ nghĩa - phát triển nghĩa của từ

- Vay mợn từ

Trang 20

Trong các con đờng làm giàu vốn ngôn ngữ đó, sự phát triển nghĩa của

từ là một trong những con đờng đóng vai trò quan trọng Quá trình phát triển nghĩa của từ thực chất là phát triển chức năng định danh của từ Trên cơ sở các ý nghĩa sẵn có của từ, từ một số nét nghĩa trong nghĩa gốc, dựa trên phép liên tởng tơng đồng hoặc tơng cận từ chuyển nghĩa Chuyển nghĩa là một biện pháp liên tởng thể hiện quy luật tiết kiệm vô cùng kỳ diệu của ngôn ngữ: dùng cái hữu hạn để thể hiện cái vô hạn - cùng một vỏ âm thanh có thể diễn

đạt nhiều nội dung khác nhau Một biện pháp vừa sống động, phản ánh quy luật vận động nội tại của ngôn ngữ, vừa mang đậm dấu ấn t duy, văn hoá, sự liên tởng của ngời bản ngữ Kết quả của nó dễ dàng đợc chấp nhận nhanh chóng và đáp ứng đợc nhu cầu giao tiếp Đó là khai thác và phát huy tiềm năng ngôn ngữ một cách có hiệu quả, làm cho vốn từ ngày càng phát triển, ngày càng trở nên phong phú và đa dạng hơn

1.2.2.3 Quy luật chuyển nghĩa của từ

Khi nói tới quy luật chuyển nghĩa của từ, chúng ta cần nhấn mạnh đến 6 khía cạnh sau:

(1) Bản chất quá trình chuyển nghĩa của từ là tạo ra nghĩa mới, đó thực chất là quá trình phát triển chức năng định danh của từ Với con đờng ngữ nghĩa ta có thể nâng khả năng định danh của đơn vị gốc lên nhiều lần: một từ cùng một vỏ ngữ âm phát triển ra bao nhiêu nghĩa thì ta có bấy nhiêu đơn vị

định danh Và các nghĩa mới của từ đợc phái sinh trên cơ sở nghĩa gốc của từ Cho nên các nghĩa phái sinh của từ có quan hệ chặt chẽ với nghĩa gốc Quan

hệ giữa các nghĩa của từ là có tính quy luật, tạo thành hệ thống ngữ nghĩa của

từ đa nghĩa và từ chuyển loại

(2) Trong sự chuyển biến ý nghĩa của từ, có khi nghĩa đầu tiên của từ không còn nữa (ví dụ: nghĩa “bên phải”, “bên trái” của từ “đăm chiêu”) nhng thông thờng cả nghĩa đầu tiên và nghĩa mới đều cùng tồn tại, cùng hoạt động.(3) Giữa nghĩa đầu tiên và các nghĩa mới diễn ra sự biến đổi nghĩa theo hai kiểu: kiểu móc xích (xâu chuối) và kiểu toả ra (hớng tâm) Kiểu móc xích, nghĩa của từ chuyển theo cách sau: nghĩa đầu tiên chuyển sang nghĩa

Trang 21

thứ 2, từ nghĩa thứ 2 chuyển sang nghĩa thứ 3, từ nghĩa thứ 3 chuyển sang nghĩa thứ 4,

ở kiểu toả ra“ ” thì các nghĩa mới đều đợc tạo ra từ nghĩa đầu tiên (dựa vào nghĩa đầu tiên mà xuất hiện) Nghĩa của từ phát triển theo quan hệ hớng tâm

có đặc điểm khác nghĩa phát triển theo lối móc xích ở chỗ quan hệ giữa nghĩa phái sinh với nghĩa gốc thờng rõ ràng, chặt chẽ hơn Đối với các nghĩa phát triển theo quan hệ móc xích thì những nghĩa phái sinh về sau thờng có quan hệ mờ nhạt với nghĩa gốc Về mặt lý thuyết, nếu khi nghĩa phái sinh phát triển quá xa, mối quan hệ nghĩa với nghĩa gốc bị mờ, đứt đoạn thì nghĩa đó cùng với hình thức âm thanh tách thành từ đồng âm cùng gốc

Tất nhiên, mối liên hệ giữa nghĩa đầu tiên với những nghĩa xuất hiện sau không phải bao giờ cũng thấy rõ nhờ nét nghĩa cơ sở, có khi mối liên hệ này

bị đứt quãng Lúc này từ vốn là một nhng đã tách thành hai từ đồng âm Ví

dụ: hoả lò“ ” là bếp đun than“ ” và hoả lò“ ” là nhà tù “ ”

(4) Các từ có ý nghĩa biểu vật cùng thuộc một phạm vi hoặc có ý nghĩa biểu niệm cùng một cấu trúc thì thờng chuyển biến ý nghĩa theo cùng một h-ớng giống nhau Ví dụ: hàng loạt từ chỉ bộ phận cơ thể ngời, đợc chuyển sang phạm vi đồ vật, vật thể địa lý chỉ bộ phận đối tợng này

miệng bát, miệng giếng

giống nhau nên thờng cách chuyển nghĩa cũng giống nhau

(5) Sự chuyển nghĩa có thể dẫn tới kết quả là ý nghĩa sau khác hẳn ý nghĩa trớc Thậm chí cùng một từ, sự chuyển nghĩa có thể khiến nó trở thành

đồng nghĩa với các từ trái nghĩa trớc kia của nó Ví dụ: Đứng“ ” vốn trái

nghĩa với chạy“ ” nhng khi đứng“ ” chuyển nghĩa nh trong cách dùng chị

công nhân đứng 24 máy một ca” thì chạy “ ” và đứng“ ” lại đồng nghĩa với nhau

(6) Khi các nghĩa chuyển còn liên hệ với nhau, sự chuyển nghĩa có thể

làm cho ý nghĩa của từ mở rộng ra hoặc thu hẹp lại Nói nghĩa của từ mở

Trang 22

rộng” tức là nói tính khái quát của nó tăng lên, các nét nghĩa cụ thể, quy

định phạm vi biểu vật bị loại bỏ hay mờ nhạt đi Nói cách khác, sự mở rộng ý nghĩa của từ là kết quả của hiện tợng tăng thêm các ý nghĩa biểu vật của từ

Ví dụ: từ đẹp“ ” vốn chỉ dùng ở lĩnh vực hình thức thì nay dùng rộng rãi trên nhiều phơng diện Phơng diện đó có thể là tình cảm, tinh thần, quan hệ: tâm hồn đẹp, tình cảm đẹp, đẹp nết, đẹp lời, tình bạn đẹp, tình yêu đẹp…ý

nghĩa của từ có thể bị thu hẹp lại, sự thu hẹp ý nghĩa của từ đi kèm với sự cụ thể hoá ý nghĩa, đi kèm với việc tăng thêm các nét nghĩa cụ thể, quy định

phạm vi biểu vật của từ Ví dụ: nớc” từ nghĩa: chất lỏng, không màu, không

mùi, uống đợc” nhng khi sử dụng trong khái niệm hoá học, nó chỉ còn nghĩa là

hợp chất giữa hiđrô và ôxi

Nói tóm lại, sự chuyển biến ý nghĩa của từ luôn luôn gắn liền với sự phát triển của xã hội con ngời Nguyên nhân của sự chuyển di ý nghĩa, phát triển nghĩa của từ chính là ở nhận thức của ngời bản ngữ và tính chất tiết kiệm trong ngôn ngữ Cho nên trong quá trình nghiên cứu ngời ta thấy rõ đợc sự phát triển ý nghĩa của từ cũng nh mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ và t duy, ngôn ngữ và cuộc sống, luôn luôn đi đôi cùng phát triển, cùng tác động lẫn nhau

1.2.3 Phơng thức chuyển nghĩa

1.2.3.1 Khái niệm ẩn dụ và hoán dụ trong phơng thức chuyển nghĩa của từ

Trong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” giáo s Đỗ Hữu Châu đã định nghĩa nh sau:

tên gọi của x (tức x là ý nghĩa biểu vật chính của A) Phơng thức ẩn dụ là phơng thức lấy tên gọi A của x để gọi tên y (để biểu thị y) nếu nh x và y giống nhau Còn hoán dụ là phơng thức lấy tên gọi A của x để gọi y nếu x

Trang 23

Hay nói cách khác, theo quan hệ liên tởng ẩn dụ, nghĩa của từ phát triển

từ chỗ gọi tên sự vật này chuyển sang gọi tên sự vật khác do các sự vật đó có một điểm giống nhau (tơng đối)

Trong trờng hợp ẩn dụ, các sự vật đợc gọi tên, tức x và y không có liên

hệ khách quan, chúng thuộc những phạm trù khác hẳn nhau Sự chuyển tên gọi diễn ra tuỳ thuộc vào nhận thức có tính chủ quan của con ngời về sự

Trang 24

giống nhau giữa chúng.Trái lại trong trờng hợp hoán dụ, mối liên hệ đi đôi với nhau giữa x và y là có thật, không tuỳ thuộc vào nhận thức của con ngời Cho nên các hoán dụ có tính chất khách quan hơn các ẩn dụ.

1.2.3.2 Các dạng cơ bản của ẩn dụ và hoán dụ

Các nhà nghiên cứu đã đa ra nhiều kiểu ẩn dụ và hoán dụ Về vấn đề này xin xem thêm trong sách của các tác giả Đồ Hữu Châu [11- tr.58, 59], Nguyễn Thiện Giáp [17- tr.86, 87] Với chúng tôi, những ngời làm công việc khảo sát một cách cụ thể ở một vốn từ đã đợc su tập trong từ điển, tất nhiên phải lấy kết quả đó làm cơ sở, làm tiêu chí để thống kê một cách chính xác

về hiện tợng chuyển nghĩa của từ Tuy vậy để có cái nhìn khái quát chung về phơng thức chuyển nghĩa chúng tôi quy về 6 dạng (ẩn dụ, hoán dụ), cơ bản, thể hiện tính quy luật, phổ biến ở hiện tợng này

* Các dạng cơ bản của ẩn dụ:

+ Dạng 1: Nghĩa của từ phát triển dựa trên sự giống nhau về hình dáng,

vị trí giữa các sự vật hiện tợng

Ví dụ: Cánh 1 Bộ phận dùng để bay của côn trùng, chim, dơi, hình tấm,

rộng bản, đối xứng hai bên thân, có thể khép vào, mở ra

2 Những bộ phận giống hình cánh chim ở một số vật:

cánh máy bay, cánh quạt, cánh cửa, cánh hoa,

+ Dạng 2: Nghĩa của từ phát triển dựa trên sự giống nhau về chức năng giữa các sự vật hiện tợng

Ví dụ: Cắt 1 Làm đứt sự vật (cắt cỏ).

2 Chấm đứt mối quan hệ (cắt tình).

+ Dạng 3: Nghĩa của từ phát triển dựa trên sự giống nhau về kết quả sự vật hiện tợng

Ví dụ: Đau 1 Cơ thể bị tổn thơng (vết thơng).

2 Tinh thần ở trạng thái khó chịu (đau lòng).

* Các dạng cơ bản của hoán dụ:

Trang 25

+ Dạng 1: Nghĩa của từ phát triển dựa trên quan hệ gắn bó có thực giữa bộ phận (nghĩa 1 - nghĩa chỉ bộ phận) với toàn thể (nghĩa 2 - nghĩa phái sinh chỉ toàn thể).

Ví dụ: Miệng 1 Bộ phận cơ thể con ngời.

2 Thay cho cả ngời: nhà có 5 miệng ăn.

+ Dạng 2: Nghĩa của từ phát triển dựa trên quan hệ giữa cái chứa (cái bao - nghĩa 1) và cái đợc chứa (cái đợc bao - nghĩa 2)

2 Chỉ gia đình: Cả nhà hôm nay rất vui.

3 Chỉ vợ hoặc chồng: Nhà tôi đi vắng.

1.2.3.3 Chuyển nghĩa với hiện tợng đa nghĩa, chuyển loại và đồng âm

Con đờng chuyển nghĩa là con đờng phát triển vốn từ nhanh, có tần suất lớn và mang lại hiệu quả cao Từ con đờng này đã tạo nên những hiện tợng tiêu biểu, đó là hiện tợng đa nghĩa, hiện tợng chuyển loại và hiện tợng đồng

âm

Ba hiện tợng này thống nhất nhng không đồng nhất với nhau Thống nhất ở chỗ cùng là biểu hiện quy luật tiết kiệm của ngôn ngữ: một vỏ ngữ âm

mà diễn đạt nhiều ý nghĩa khác nhau Song mỗi hiện tợng lại có những đặc

điểm riêng, tiềm tàng những khả năng riêng

a Hiện tợng đa nghĩa

Định nghĩa:

Đa nghĩa là một vấn đề rất cơ bản của từ vựng học, là quy luật có tính phổ quát của các ngôn ngữ, là một biểu hiện của tính tiết kiệm trong ngôn ngữ Mỗi tác giả khi nghiên cứu hiện tợng đa nghĩa đều đa ra những quan niệm riêng, những định nghĩa riêng của mình Trong số đó đáng chú ý là

Trang 26

quan niệm của Kasnelxơn (1965): “Hiện t ợng nhiều nghĩa trớc hết đó là một dãy các nghĩa đợc liên kết bằng các quan hệ phái sinh thiết yếu” và quan

thanh diễn đạt nhiều nghĩa khác nhau nhng có quan hệ gắn bộ với nhau”

( Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ“ ” T2, Nxb KHXH,H,

1981, tr.171)

Ví dụ: Ăn [40 - tr.12].

Nghĩa 1: Tự cho vào cơ thể thứ nuôi sống: Ăn cơm, thức ăn.

Nghĩa 2: Ăn uống nhân dịp gì: Ăn cới, ăn giỗ, ăn liên hoan.

Nghĩa 3: (Máy móc, phơng tiện vận tải) Tiếp nhận cái cần thiết cho sự hoạt động: Cho máy ăn dầu mỡ, xe ăn tốn xăng.

Nghĩa 4: (kết hợp hạn chế) nhận lấy để hởng: ăn hoa hồng, ăn thừa tự.

Nghĩa 5: (khẩu ngữ) phải nhận lấy, phải chịu lấy (cái không hay hàm ý mỉa mai): Ăn đòn, ăn đạn.

Đặc điểm:

Về hiện tợng đa nghĩa của từ, các nhà từ vựng học đều đã đề cấp đến song có những chỗ khác nhau ở những mức độ nhất định Tác giả Nguyễn Văn Tu đã thừa nhận phần lớn những từ đơn có nhiều nghĩa, các nghĩa của một từ làm thành hệ thống từ vựng ngữ nghĩa với những nét riêng biệt: về kết cấu ngữ nghĩa của từ, ngữ cảnh, các quan hệ ngang dọc của chúng Tác giả

Đỗ Hữu Châu thì cho rằng hiện tợng nhiều nghĩa có thể xảy ra cả với ý nghĩa biểu vật, cả với ý nghĩa biểu niệm, cả với ý nghĩa biểu thái Tác giả đặc biệt chú ý phân biệt hiện tợng nhiều nghĩa ngôn ngữ (các nghĩa cố định), hiện t-ợng nhiều nghĩa lời nói (cha cố định), và để nói về hệ thống các nghĩa khác nhau của một từ, tác giả đã đa ra nhận xét: các nghĩa biểu vật cho trong một

từ đa nghĩa chia thành từng nhóm, mỗi nhóm thờng xoay quanh một cấu trúc biểu độc lập niệm nào đó Còn Nguyễn Thiện Giáp [16] thì đi sâu và chia hiện tợng đa nghĩa của tiếng Việt thành hai kiểu: Hiện tợng đa nghĩa của các

Trang 27

từ độc lập về nghĩa hoạt động tự do và hiện tợng đa nghĩa của các từ độc lập

về nghĩa hoạt động hạn chế

Các ý kiến của các nhà ngôn ngữ học đã góp phần xác lập cơ sở lý thuyết về hiện tợng đa nghĩa của từ ở đây chúng tôi chỉ muốn nêu lên những nét khái quát tiêu biểu nhất cho thấy đặc trng của hiện tợng đa nghĩa nh là kết quả của quá trình chuyển nghĩa của từ

Nói đến từ đa nghĩa trớc hết là nói đến số lợng nghĩa, từ đó phải có hai nghĩa trở lên và các nghĩa phải có quan hệ với nhau Theo một trong hai quan

hệ đã nói (ẩn dụ hay hoán dụ) trên cơ sở nét nghĩa của chúng

Ví dụ: Chạy: 1 Hoạt động di chuyển bằng chân, tốc độ nhanh.

2 Hoạt động của máy móc

Các nghĩa của từ đa nghĩa phát triển có quy luật, theo quan hệ liên tởng (ẩn dụ, hoán dụ) Nghĩa 1 là nghĩa gốc (nghĩa đen, nghĩa cơ sở), nghĩa 2 là nghĩa phát triển (nghĩa chuyển, nghĩa bóng, nghĩa phái sinh) Nghĩa chuyển của từ đợc phát triển từ một hay một số nét nghĩa trong nghĩa gốc của từ Các nghĩa quan hệ với nhau làm thành một hệ thống

Quan hệ này có thể là quan hệ hớng tâm tức nghĩa thứ 2, nghĩa thứ 3 trực tiếp quan hệ với nghĩa đầu tiên Quan hệ này có thể là quan hệ xâu chuối tức là nghĩa đầu tiên có liên hệ với nghĩa thứ 2, nghĩa thứ 2 liên hệ với nghĩa thứ 3 trong trờng hợp này nghĩa đầu tiên không có liên hệ trực tiếp với nghĩa thứ 3 nhng nó liên hệ gián tiếp qua nghĩa thứ 2, và cũng đợc ý thức nh nghĩa của 1 từ, có thể mô hình hoá nh sau:

mở, luôn luôn vận động - các nghĩa mới vẫn tiếp tục nảy sinh, một số nghĩa

cũ có thể ít dùng hoặc mất đi hẳn

Trang 28

Trên những cơ sở lý thuyết chung là vậy nhng trong một số trờng hợp cụ thể thì ở các tác giả lại có những quan điểm rất khác nhau Đơn cử nh:

Cày”: Nghĩa 1: Công cụ có lỡi bằng gang hoặc sắt, dùng sức kéo để lật

đất, làm vỡ đất trồng trọt

Nghĩa 2: Lật đất lên bằng cái cày (cày sâu bừa kỹ).

Trớc đây, tác giả Đỗ Hữu Châu xem là hiện tợng đa nghĩa Một số ngời khác thì cho là hiện tợng đồng âm, tiêu biểu nh các tác giả Hoàng Văn Hành,

Đinh Văn Đức, Nguyễn Tài Cẩn Có ý kiến lại quy chúng vào hiện tợng từ chuyển loại (Hà Quang Năng)

Theo chúng tôi thì những kiểu nh trên có thể xem là đa nghĩa (nếu chỉ

đ-ợc chọn một trong hai giải pháp đa nghĩa hay đồng âm và từ đđ-ợc xét ở góc độ

từ vựng - ngữ nghĩa, tức dựa vào tiêu chí nghĩa) Cơ sở của nó là ở chỗ: Đồng

âm và đa nghĩa đều là các đơn vị từ vựng dùng một âm thanh biểu thị nhiều ý nghĩa Nhng với từ đồng âm các nghĩa không quan hệ với nhau; còn từ đa nghĩa, các nghĩa lại quan hệ với nhau (dựa trên sự liên tởng ẩn dụ, hoán dụ) Các hiện tợng trên cho thấy nghĩa có quan hệ với nhau rất chặt Tuy nhiên, từ

là một đơn vị có nhiều thành phần nhìn cả về mặt ngữ nghĩa- ngữ pháp thì ở các từ này đã có sự thay đổi về cấu trúc nghĩa (cấu trúc nghĩa phái sinh khác cấu trúc nghĩa gốc) đồng thời với nó từ có hiện tợng chuyển loại cho nên có thể xem đây là từ chuyển loại

b Hiện tợng chuyển loại

Định nghĩa:

Chuyển loại (chuyển di từ loại) là một hiện tợng tích cực xẩy ra ở hầu hết mọi ngôn ngữ, có sự khác biệt ở các ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập (nh tiếng Việt) Do đặc điểm không biến hình, hình thái của từ không nhằm biểu thị đặc điểm ngữ pháp nên chuyển loại diễn ra phổ biến ở hình thức chuyển nghĩa Có hàng loạt các định nghĩa đã đợc các tác giả nêu lên:

Theo tác giả Hà Quang Năng: Chuyển loại là một phơng thức cấu tạo

từ, nhờ đó một từ mới thuộc phạm trù từ loại này đợc tạo ra từ một từ loại khác mà vẫn giữ nguyên vỏ âm thanh, đồng thời tạo ra ý nghĩa mới có quan

Trang 29

hệ nhất định với ý nghĩa của từ xuất phát và nhận những đặc trng ngữ pháp mới (thể hiện ở khả năng kết hợp và chức năng làm thành phần câu) khác với đặc trng ngữ pháp của từ xuất phát” [37 - tr.173].

Tác giả Hồ Lê thì cho rằng: “Sự chuyển loại là một ph ơng thức cấu tạo

từ, có khả năng tạo từ mới trên cơ sở từ đã có, bằng cách giữ nguyên vỏ âm của từ cũ, tạo ra một nghĩa mới và đa vào những đặc trng ngữ pháp khác

định: "Chuyển loại là hiện tợng về những từ cùng gốc, cùng hình thức ngữ

âm, mà có thể dùng theo từ loại khác nhau” [38 - tr.92].

Còn tác giả Đỗ Thị Kim Liên thì định nghĩa: “Chuyễn hoá từ loại là hiện tợng có những từ có thể đợc dùng theo nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của từ loại này trong trờng hợp này mà cũng có thể dùng theo nghĩa và đặc

điểm ngữ pháp của từ loại khác trong trờng hợp khác” (23 - tr.17).

Bên cạnh đó còn có các kiến giải khác nhấn mạnh thêm tới đặc điểm nghĩa của hiện tợng chuyển loại, đó là hiện tợng có cơ cấu nghĩa đã thay đổi

Nguyễn Văn Tu trong Từ và vốn từ của tiếng Việt hiện đại“ ” (1976) đã phát

biểu: Khi có hiện tợng chuyển loại thì có hiện tợng biến đổi về nghĩa”

Hay nh ý kiến của Hoàng Văn Hành (1977) đánh giá: “Thực chất của hiện t ợng chuyển loại là sự thay đổi cơ cấu nghĩa của từ”.

-Nh vậy, có hai loại ý kiến, một số tác giả cho hiện tợng cày“ ” (trong

cái cày

“ ”) và cày“ ” (trong đi cày“ ”) là hai từ, một số ngời lại cho đây là một

từ kiêm loại (một từ có khả năng hoạt động với hai t cách ngữ pháp khác nhau trong các ngữ cảnh khác nhau)

Qua những ý kiến trên, ta thấy, mỗi tác giả đã nhìn nhận về hiện tợng chuyển loại ở những góc độ khác nhau Song dù xem ở góc độ nào thì cũng thấy rõ khi có hiện tợng chuyển loại đều có sự thay đổi về nghĩa và ngữ pháp

Và đây có thể là một trong những phơng thức cấu tạo từ, làm tăng vốn từ

Trang 30

tiếng Việt nói riêng và trong các ngôn ngữ nói chung hay không ? Vấn đề vẫn còn cha đợc thống nhất.

Do mục đích và giới hạn của đề tài, do khả năng của ngời viết có hạn, chúng tôi không thảo luận về vấn đề này mà chỉ tạm thời đi theo giải pháp xem đây là các từ chuyển loại đợc tạo ra theo một phơng thức cấu tạo từ nhất

định Chuyển loại có cơ sở là do sự phát triển nghĩa (chuyển nghĩa) của từ (giống đa nghĩa) nhng cơ cấu nghĩa của từ đã thay đổi cùng với sự thay đổi

về đặc điểm ngữ pháp; từ tách thành hai từ với đặc trng ngữ nghĩa và ngữ pháp thuộc hai từ loại khác nhau Quan niệm nh vậy, trớc hết là để tiện cho việc khảo sát t liệu

Đặc trng hiện tợng chuyển loại:

Xuất phát từ quan điểm hình thái học, hiện tợng chuyển từ từ loại này sang từ loại khác mà truyền thống gọi là chuyển loại - chuyển di từ loại - chuyển hoá từ loại - hiện tợng cùng gốc khác loại, đó là một hiện tợng tồn tại khách quan trong tiếng Việt cũng nh trong các ngôn ngữ đơn lập

Đặc trng của hiện tợng chuyển loại đợc biểu hiện ở ba phơng diện:

- Một là, mỗi loại từ đều có khả năng kết hợp điển hình và phân biệt với các khả năng kết hợp của các từ loại khác Cốt lõi của hiện tợng chuyển loại

là ở chỗ từ thuộc loại này trở thành một từ mới thuộc loại khác có mối quan

hệ ngữ nghĩa với yếu tố gốc và đồng nhất về âm thanh

- Hai là, cùng với tiêu chuẩn ngữ nghĩa, khả năng kết hợp của từ phải

đ-ợc xem là tiêu chuẩn bắt buộc khi xác định hiện tợng chuyển loại trong tiếng Việt Và cuối cùng cần khẳng định bản chất của hiện tợng chuyển loại trong

Trang 31

tiếng Việt, chính là sự biến đổi cấu trúc nghĩa của từ, là sự tổ chức lại kiểu cơ cấu nghĩa này thành kiểu cơ cấu nghĩa khác (biểu hiện ở sự thay đổi số lợng nét nghĩa, có nét nghĩa thuộc phạm trù từ loại khác hay nói cách khác có nét nghĩa chuyển phạm trù).

Ví dụ: Muối 1 Tinh thể lấy từ nớc biển, có vị mặn dùng để ăn: Nêm muối vào canh.

2 Hoạt động dùng tinh thể là muối chế biến, bảo quản thực phẩm: Muối cà, muối da.

Cày 1 Công cụ dùng để lật đất trồng trọt

2 Hoạt động dùng công cụ là cày để lật đất lên chuẩn bị trồng trọt

- Trong lịch sử nghiên cứu tiếng Việt, khi phân loại từ theo từ loại các nhà nghiên cứu cho rằng loại của từ không phải là bất di bất dịch, từ có thể chuyển hoá từ loại, đặc biệt là với ngôn ngữ đơn lập, không phát triển hình thái, vấn đề chuyển hoá từ loại có thể xem nh một đặc trng loại hình Nghiên cứu hiện tợng chuyển loại của từ phải đặt nó trong quan hệ với từ loại của tiếng Việt: căn cứ vào ý nghĩa khái quát, phạm trù; căn cứ vào khả năng kết hợp thờng xuyên nhất, phổ biến nhất; căn cứ vào khả năng đảm nhận các chức năng ngữ pháp của từ

Khả năng kết hợp có thể có của từ thuộc một từ loại nào đó, khả năng

đảm nhận chức vụ ngữ pháp của từ đều do ý nghĩa từ vựng của từ quyết định, khẳng định vai trò quan trọng của ý nghĩa là phù hợp với đặc điểm loại hình của tiếng Việt, một ngôn ngữ không phát triển hình thái

Có hai hình thức chuyển loại: Chuyển loại bên trong và chuyển loại bên ngoài

+ Chuyển loại bên ngoài là hiện tợng trong tiếng Việt “mỗi động từ, tính

từ có khả năng có một danh từ tơng ứng bằng cách kết hợp với yếu tố ngữ pháp chuyên dùng” (Đinh Văn Đức).

Ví dụ: Cái, con, chiếc, cuộc, nỗi, niềm đi cùng động từ, tính từ, làm cho

động từ, tính từ này trở thành những danh từ (danh từ hoá): nỗi buồn, niềm

Trang 32

+ Chuyển loại bên trong: Do chuyển nghĩa, cơ cấu nghĩa của từ thay đổi, biểu hiện ở số lợng nét nghĩa khác nhau, có nét nghĩa thuộc phạm trù từ loại khác dẫn đến chuyển loại.

2 Hoạt động sử dụng bẫy để đánh bắt chim thú

Tơng tự, ta có hàng loạt từ nh: bào, ca, bừa, cáng, cày, cân, cào…Và ở

đây chúng tôi chỉ đề cập đến những từ chuyển loại bên trong Chuyển loại do chuyển hoá bên trong làm thay đổi cơ cấu nghĩa, có tính chất ổn định không phụ thuộc vào yếu tố chuyên dùng Các nghĩa liên quan với nhau theo con đ-ờng ẩn dụ, hoán dụ Trong tiếng Việt sự chuyển nghĩa dẫn đến chuyển loại rất đều đặn và có tính quy tắc rõ ràng:

Chẳng hạn:

* Hành động - phơng tiện hành động:

Ví dụ: Cày (đi cày) - cày (vác cày), ca (ca gỗ) - ca (rửa ca), đục (đục mộng) - đục (mài đục).

* Trạng thái - làm cho có trạng thái:

Ví dụ: mở (cửa mở) - mở (mở cửa); khép (cửa khép) - khép (khép cửa)

c Phân biệt hiện tợng đa nghĩa chuyển loại và đồng âm:

Vấn đề cần bàn thêm là lâu nay trong cách nhìn của các nhà ngôn ngữ còn có những chỗ cha thống nhất, có sự phân định cha dứt khoát giữa hiện t-ợng đa nghĩa với hiện tợng đồng âm, giữa hiện tợng đa nghĩa với hiện tợng chuyển loại Vậy nên nhìn nhận thế nào về mỗi hiện tợng và mối liên hệ giữa các hiện tợng trên ?

Trang 33

Tác giả Hà Quang Năng [25] đã đa ra những quan điểm phân định hiện tợng chuyển loại và đa nghĩa dựa trên hai tiêu chí: ngữ nghĩa và ngữ pháp.

Về mặt ý nghĩa, tác giả cho rằng: “Hiện t ợng chuyển loại xảy ra khi

có sự thay đổi về cấu trúc ngữ nghĩa biểu niệm của từ Điều này làm cho chuyển loại khác về căn bản so với hiện tợng nhiều nghĩa” [25 - tr.49] Tác

giả đã lấy một ví dụ:

- Tài sản cố định của hợp tác xã (1)

- Cố định chỗ xơng gãy bằng nẹp (2)

ở (1) cố định“ ” có nghĩa “có trạng thái đ ợc giữ nguyên không di

nguyên không di động” và kết luận: Nh vậy cùng một vỏ âm thanh những

trong hai ngữ cảnh, xảy ra một biến động về mặt ngữ nghĩa Chính sự biến

động đó đã tạo nên hai cấu trúc ngữ nghĩa tuy khác nhau nhng có liên quan với nhau trong cùng một vỏ âm thanh Còn sự chuyển nghĩa trong hiện tợng nhiều nghĩa của từ lại khác hẳn Trong từ nhiều nghĩa chỉ có một cấu trúc nghĩa biểu niệm, các nghĩa khác nhau của từ đều có liên quan, hoặc với một nghĩa cơ bản, hoặc với một nghĩa phái sinh nào đó

Về mặt ngữ pháp, tác giả viết “Xét về mặt đặc tr ng ngữ pháp, nếu từ tham gia vào những lớp tổ hợp từ đợc dùng với những chức năng điển hình,

đặc trng cho nhiều từ loại khác nhau thì đó là hiện tợng chuyển loại Nếu

từ tham gia vào những lớp tổ hợp, đợc dùng với những chức năng điển hình,

đặc trng cho một từ loại nhất định thì đó là dấu hiệu của hiện tợng nhiều

Trang 34

đồng âm ngữ pháp đặc biệt, chỉ khác nhau ở các ý nghĩa ngữ pháp” Tác giả

Nguyễn Tài Cẩn thì cho rằng cách giải quyết các trờng hợp đó là đồng âm hoá cũng không toàn thiện, toàn mĩ Tuy nhiên xuất phát từ lợi ích thực tiễn của công tác phân loại ông vẫn chủ trơng đồng âm hoá, một chủ trơng “chỉ gây khó khăn chủ yếu cho địa hạt từ vựng học, nhng lại có bảng phân loại hết sức đơn giản” (1975) Nh vậy, khi xem xét nghiên cứu các hiện tợng đa

nghĩa, chuyển loại và đồng âm, hai tác giả cho chuyển loại thuộc về đồng âm

nh đã nói là không thoả đáng vì bản chất của đồng âm là những từ hoàn toàn khác nhau, nghĩa không liên quan với nhau, chỉ giống nhau ngẫu nhiên về âm thanh Một bộ phận nhỏ, các từ đồng âm đợc tạo ra do nguyên nhân chuyển nghĩa của từ, do các nghĩa của từ phát triển đi quá xa với nghĩa gốc, mối quan hệ ngữ nghĩa của chúng đã mờ nhạt, bị đứt đoạn, nhìn ở mặt đồng đại không thể xác định đợc quan hệ nghĩa giữa chúng nên hiện tợng nh vậy có thể xem là đồng âm Trong khi đó hiện tợng ta đang bàn, các ý nghĩa quan

hệ với nhau nên không thể xem là đồng âm “Sự khác biệt về nghĩa từ vựng

là cơ sở của hiện tợng đồng âm còn ở hiện tợng đa nghĩa thì các nghĩa vừa khác biệt lại vừa thống nhất, trong đó sự thống nhất là cơ sở để các nghĩa tạo nên một hệ thống ngữ nghĩa, một cấu trúc nghĩa hoàn chỉnh Nên có thể

[11- tr.217]

Điểm giống nhau giữa các hiện tợng đa nghĩa, đồng âm và chuyển loại

là một cái biểu đạt ngữ âm đồng nhất Về ý nghĩa ngữ pháp thì trong trờng hợp đa nghĩa luôn luôn thuần nhất, nghĩa là thuộc một phạm trù từ loại Còn với hiện tợng đồng âm thì ý nghĩa từ vựng bao giờ cũng khác nhau và hoàn toàn không có mối liên hệ nào với nhau, ý nghĩa ngữ pháp có thể đồng nhất hoặc khác biệt Với hiện tợng chuyển loại thì cả ý nghĩa từ vựng lẫn ý nghĩa ngữ pháp phải khác nhau, mặc dù các đơn vị từ vựng này có hình thức ngữ

âm đồng nhất Điểm khác biệt của hiện tợng chuyển loại so với đồng âm chính là sự tồn tại mối quan hệ lôgích nội tại giữa hai cấu trúc nghĩa chứa

Trang 35

đựng trong một hình thức ngữ âm, so với đa nghĩa, cơ cấu nghĩa phái sinh đã khác nghĩa gốc, ý nghĩa ngữ pháp có tác dụng khu biệt.

Chúng tôi đồng ý với những đánh giá của ba tác giả Hoàng Văn Hành,

Hà Quang Năng và Nguyễn Văn Khang trong [37] Các tác giả đã coi hiện ợng đa nghĩa và đồng âm là những hiện tợng nằm ở hai cực,“chuyển loại là hiện tợng trung gian” nằm giữa hai hiện tợng đó bởi chuyển loại có cả những

t-điểm giống và khác với hiện tợng đồng âm và hiện tợng đa nghĩa, mà mặt khác biệt lại quan trọng hơn mặt giống nhau rất nhiều Bởi thế, hiện tợng chuyển loại có tính độc lập riêng của mình Và các trờng hợp nh “cày -

cày , bào bào , c

“ ” “ ” – “ ” “ a c” – “ a … chúng tôi gọi là từ chuyển loại, trớc hết xem đây là một quan niệm để có cơ sở khảo sát thực hiện đề tài

Thống nhất một cơ sở lý thuyết cũng nh khảo sát thực tế những vấn đề nêu trên là điều không đơn giản Trong giới hạn đề tài chúng tôi chủ yếu tập trung ở hai hiện tợng cơ bản của sự chuyển biến ý nghĩa của từ là hiện tợng

đa nghĩa và hiện tợng chuyển loại Chúng tôi xem xét hai hiện tợng này của phơng ngữ ba miền Bắc - Trung - Nam để tìm ra những điểm giống và khác nhau giữa các vùng trong quá trình phát triển chức năng định danh của từ.Tóm lại, trên cơ sở lý thuyết đã trình bày và dựa vào sự phân tích nghĩa của các tác giả trong hai cuốn từ điển mà chúng tôi đã tiến hành khảo sát là Từ điển phơng ngữ tiếng Việt và Từ điển đối chiếu từ địa phơng [19 và 44] Kết quả

khảo sát sẽ soi sáng những vấn đề lý thuyết và giúp chúng ta thấy rõ hơn đặc

điểm hiện tợng chuyển nghĩa của từ trong các vùng phơng ngữ tiếng Việt

Trang 36

Nẵng -2005 và " Từ điển đối chiếu từ địa phơng" của Nguyễn Nh ý (chủ

biên), Đặng Ngọc Lệ, Phan Xuân Thành- Nxb GD, 2001 Đối tợng cụ thể mà

đề tài khảo sát là từ chuyển nghĩa với hai biểu hiện đó là: từ đa nghĩa và từ chuyển loại Trong chơng này chúng tôi trình bày khảo sát từ đa nghĩa

2.1.1.2 Kết quả khảo sát

Với một khối lợng 19.754 mục từ trong từ điển đợc khảo sát, chúng tôi

đã thống kê đợc 1238 từ đa nghĩa của ba vùng Bắc-Trung – Nam (chiếm 6,27%)

2.1.2 Phân loại

2.1.2.1 Tiêu chí phân loại

- Việc phân loại, thống kê từ đa nghĩa dựa vào cách sắp xếp ý nghĩa của từ trong hai cuốn từ điển Mục nào có từ 2 nghĩa trở lên đợc đánh dấu bằng các chữ số ả rập 1., 2., 3.,

- Để xác định từ loại, chúng tôi căn cứ vào sự phân loại có sẵn của chính cuốn từ điển đang khảo sát

- Dựa trên cơ sở những lý thuyết về phơng thức chuyển nghĩa đã trình bày ở chơng 1, chúng tôi xét từ đa nghĩa trong từ địa phơng của ba vùng Chúng tôi phân tích cụ thể từng nghĩa và xét số lợng nghĩa chuyển theo từng phơng thức đối với từ đa nghĩa trong các vùng phơng ngữ

2.1.2.2 Kết quả phân loại

Trang 37

Chúng tôi đã thống kê đợc số lợng từ chuyển nghĩa, cụ thể:

- Số lợng từ chuyển nghĩa của cả ba vùng: 1.490 từ, chiếm 7,45% từ

+ Phơng ngữ Nam: 1042 từ (69,93% từ chuyển nghĩa)

Kết quả phân loại trên đợc thể hiện qua bảng 2.1

- Từ đơn: 667 từ (đơn tiết), chiếm 53,88% từ đa nghĩa

- Từ phức: 571 từ (đa tiết), chiếm 46,12% từ đa nghĩa

Tính chi tiết theo từng phơng ngữ:

+ Phơng ngữ Bắc: 10 từ (có 7 từ đơn, chiếm 70%;

3 từ phức, chiếm 30%)

59 từ phức, chiếm 16,8%)+ Phơng ngữ Nam: 876 từ (có 367 từ đơn, chiếm 42%;

509 từ phức, chiếm 58%)

Trang 38

Kết quả phân loại trên đợc thể hiện qua bảng tổng hợp 2.2

Bảng 2.2: Hiện tợng đa nghĩa xét về cấu tạo

Xét hiện tợng đa nghĩa theo từng từ loại, chúng tôi thu đợc kết quả về

từ đa nghĩa trong phơng ngữ của cả ba vùng nh sau:

- Từ đa nghĩa là danh từ trong ba vùng là 192 từ

- Từ đa nghĩa là động từ trong ba vùng là 511 từ.

- Từ đa nghĩa là tính từ trong ba vùng là 509 từ

- Từ đa nghĩa là từ loại khác có 26 từ

Xét cụ thể trong từng vùng phơng ngữ, kết quả khảo sát nh sau:

Phơng ngữ Bắc:

Danh từ: 3/10 từ chiếm 30% tổng số từ đa nghĩa của vùng

Động từ: 4/10 từ chiếm 40 % tổng số từ đa nghĩa của vùngTính từ: 3/10 từ chiếm 30% tổng số từ đa nghĩa của vùngPhơng ngữ Trung:

Danh từ : 82/352 từ chiếm 23,3% tổng số từ đa nghĩa của vùng

Động từ: 173/352 từ chiếm 49% tổng số từ đa nghĩa của vùngTính từ: 86/352 từ chiếm 24,43% tổng số từ đa nghĩa của vùng

Từ loại khác: 11/352 từ chiếm 3,27% tổng số từ đa nghĩa của vùngPhơng ngữ Nam:

Danh từ : 107/876 từ chiếm 12,2% tổng số từ đa nghĩa của vùng

Động từ: 334/876 từ chiếm 38% tổng số từ đa nghĩa của vùngTính từ: 420/876 từ chiếm 47,95% tổng số từ đa nghĩa của vùng

Từ loại khác: 15/876 từ chiếm 1,85% tổng số từ đa nghĩa của vùng Kết quả cụ thể đợc thể hiện tổng hợp trong bảng 2.3

Bảng 2.3: Hiện tợng đa nghĩa xét về mặt từ loại

Trang 39

Từ loại

Tính từ

Từ loại khác

Kết hợp cả hai tiêu chí, phân loại từ đa nghĩa trong các vùng phơng

ngữ tiếng Việt theo từ loại và theo cấu tạo ta có bảng tổng hợp 2.4

Bảng 2.4: Tổng hợp hiện tợng đa nghĩa xét theo cấu tạo và từ loại

Tính từ

Từ loại khác

Danh từ

Động từ

Tính từ

Từ loại khác

Danh từ

Động từ

Tính từ

Từ loại khác

Xét hiện tợng chuyển nghĩa của từ trong các phơng ngữ theo phơng

thức chuyển nghĩa đối với từ đa nghĩa, chúng tôi thu đợc kết quả cụ thể nh

Nếu xét theo từng vùng thì phơng ngữ Bắc, từ đa nghĩa chuyển nghĩa

theo phơng thức ẩn dụ là 6/10 từ, chiếm 60%; theo phơng thức hoán dụ là

4/10 từ, chiếm 40% Với phơng ngữ Trung, từ đa nghĩa chuyển nghĩa theo

phơng thức ẩn dụ là 216/352 từ, chiếm 61,4%; theo phơng thức hoán dụ là

136/352 từ, chiếm 38,6% Còn phơng ngữ Nam, từ đa nghĩa chuyển nghĩa

theo phơng thức ẩn dụ là 802/876 từ, chiếm 91,6%; theo phơng thức hoán dụ

là 74/876 từ, chiếm 8,4% Kết quả vừa miêu tả đợc thể hiện qua bảng 2.5

tổng hợp về hiện tợng đa nghĩa của từ xét về phơng thức chuyển nghĩa

Trang 40

B¶ng 2.5: HiÖn tîng ®a nghÜa cña tõ xÐt vÒ ph¬ng thøc chuyÓn nghÜa.

+ Theo ph¬ng thøc ho¸n dô, sè tõ cã hai nghÜa lµ: 4 tõ

Tõ kÕt qu¶ ph©n lo¹i trªn, chóng t«i cã b¶ng tæng hîp sau:

B¶ng 2.6: Sè lîng nghÜa cña tõ ®a nghÜa tÝnh theo ph¬ng thøc chuyÓn

nghÜa

Ph¬ng thøc

Sè nghÜa Èn dô Ho¸n dô

2 3 4 5 6 2 3 4 5 6

Ngày đăng: 20/12/2013, 18:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn ái (Chủ biên), Lê Văn Đức, Nguyễn Công Khai (1987), Sổ tay phơng ngữ Nam Bộ, Nxb Cửu Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay phơng ngữ Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Văn ái (Chủ biên), Lê Văn Đức, Nguyễn Công Khai
Nhà XB: Nxb Cửu Long
Năm: 1987
2. Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh (1993), Vốn từ địa phơng trong thơ ca Nghệ Tĩnh, Việt Nam những vấn đề ngôn ngữ và văn hoá – , tr 97- 98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn từ địa phơng trong thơ ca Nghệ Tĩnh, Việt Nam những vấn đề ngôn ngữ và văn hoá
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh
Năm: 1993
3. Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh (1996), Văn hoá ngời Nghệ Tĩnh qua vốn từ vựng nghề cá, Nghiên cứu Đông Nam á, (1), tr 92 - 93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá ngời Nghệ Tĩnh qua vốn từ vựng nghề cá
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh
Năm: 1996
4. Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh, Phan Mậu Cảnh, Nguyễn Hoài Nguyên (1999), Từ điển từ địa phơng Nghệ Tĩnh, Nxb Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ địa phơng Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh, Phan Mậu Cảnh, Nguyễn Hoài Nguyên
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 1999
5. Nguyễn Nhã Bản, Nguyễn Hoài Nguyên (1996) Nhát cắt thời gian trong tâm thức ngời Nghệ, Ngôn ngữ, (4), tr 65 - 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhát cắt thời gian trong tâm thức ngời Nghệ
6. Lê Biên (1999), Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Lê Biên
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1999
7. Hoàng Trọng Canh (1995), Một vài nhận xét bớc đầu về âm và nghĩa của từ địa phơng Nghệ Tĩnh, Ngôn ngữ (1), tr 31 - 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài nhận xét bớc đầu về âm và nghĩa của từ địa phơng Nghệ Tĩnh
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Năm: 1995
9. Hoàng Trọng Canh (2001), Nghiên cứu đặc điểm lớp từ địa phơng Nghệ Tĩnh, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lớp từ địa phơng Nghệ Tĩnh
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Năm: 2001
10. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1998
11. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1999
12. Hoàng Thị Châu (2004), Phơng ngữ học tiếng Việt, Nxb ĐHQG HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng ngữ học tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: Nxb ĐHQG HN
Năm: 2004
13. Nguyễn Văn Chiến (1992), Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ Đông Nam á, Nxb ĐHSP Ngoại ngữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ Đông Nam á
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Nhà XB: Nxb ĐHSP Ngoại ngữ
Năm: 1992
14. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1998), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1998
15. Hoa Quỳnh Giang (2004), Khảo sát hiện tợng chuyển nghĩa của từ tiếng Việt, Khoá luận tốt nghiệp Đại học, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát hiện tợng chuyển nghĩa của từ tiếng Việt
Tác giả: Hoa Quỳnh Giang
Năm: 2004
16. Nguyễn Thiện Giáp (2002), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2002
17. Nguyễn Thiện Giáp (Chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (1995), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (Chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1995
18. Hoàng Văn Hành (1991), Từ ngữ tiếng Việt trên đờng hiểu biết và khám phá, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngữ tiếng Việt trên đờng hiểu biết và khám phá
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1991
19. Đặng Thanh Hoà (2005), Từ điển phơng ngữ tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển phơng ngữ tiếng Việt
Tác giả: Đặng Thanh Hoà
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2005
20. Hồ Xuân Kiểu (1999), Nghĩa của từ chắc trong tiếng địa ph “ ” ơng Nghệ tĩnh, Ngôn ngữ và đời sống, tr 11 - 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩa của từ chắc trong tiếng địa ph"“ ” "ơng Nghệ tĩnh
Tác giả: Hồ Xuân Kiểu
Năm: 1999
21. Trần Thị Ngọc Lang (1995), Phơng ngữ Nam Bộ những khác biệt về từ vựng ngữ nghĩa so với ph – ơng ngữ Bắc Bộ, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng ngữ Nam Bộ những khác biệt về từ vựng ngữ nghĩa so với ph"– "ơng ngữ Bắc Bộ
Tác giả: Trần Thị Ngọc Lang
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1995

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Từ chuyển nghĩa - xét  về số lợng - Hiện tượng chuyển nghĩa của từ trong các vùng phương ngữ
Bảng 2.1 Từ chuyển nghĩa - xét về số lợng (Trang 37)
Bảng 2.2: Hiện tợng đa nghĩa xét về cấu tạo - Hiện tượng chuyển nghĩa của từ trong các vùng phương ngữ
Bảng 2.2 Hiện tợng đa nghĩa xét về cấu tạo (Trang 38)
Bảng 2.4: Tổng hợp hiện tợng đa nghĩa xét theo cấu tạo và từ loại - Hiện tượng chuyển nghĩa của từ trong các vùng phương ngữ
Bảng 2.4 Tổng hợp hiện tợng đa nghĩa xét theo cấu tạo và từ loại (Trang 39)
Bảng 2.5: Hiện tợng đa nghĩa của từ xét về phơng thức chuyển nghĩa. - Hiện tượng chuyển nghĩa của từ trong các vùng phương ngữ
Bảng 2.5 Hiện tợng đa nghĩa của từ xét về phơng thức chuyển nghĩa (Trang 40)
Bảng 2.6: Số lợng nghĩa của từ đa nghĩa tính theo phơng thức chuyển - Hiện tượng chuyển nghĩa của từ trong các vùng phương ngữ
Bảng 2.6 Số lợng nghĩa của từ đa nghĩa tính theo phơng thức chuyển (Trang 40)
Bảng 3.11: Tổng hợp hiện tợng chuyển loại- xét về cấu tạo và từ loại - Hiện tượng chuyển nghĩa của từ trong các vùng phương ngữ
Bảng 3.11 Tổng hợp hiện tợng chuyển loại- xét về cấu tạo và từ loại (Trang 62)
Bảng 3.10: Hiện tợng chuyển loại trong các phơng ngữ xét về từ loại Từ - Hiện tượng chuyển nghĩa của từ trong các vùng phương ngữ
Bảng 3.10 Hiện tợng chuyển loại trong các phơng ngữ xét về từ loại Từ (Trang 62)
Bảng 3.13: Nghĩa của từ chuyển loại Từ có số lợng nghĩa - Hiện tượng chuyển nghĩa của từ trong các vùng phương ngữ
Bảng 3.13 Nghĩa của từ chuyển loại Từ có số lợng nghĩa (Trang 66)
Bảng 3.8: Từ chuyển loại - xét về số lợng     Số từ - Hiện tượng chuyển nghĩa của từ trong các vùng phương ngữ
Bảng 3.8 Từ chuyển loại - xét về số lợng Số từ (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w