1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiện thực đương đại trong tiểu thuyết của nguyễn đình tú luận văn thạc sỹ ngữ văn

101 2,1K 34
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiện thực đương đại trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú
Tác giả Nguyễn Đình Tú
Người hướng dẫn TS. Phan Huy Dũng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận văn học
Thể loại Luận văn Thạc sỹ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 442 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

gây được hiệu quả thẩm mỹ và chứng tỏ khả năng tiểu thuyết của nhà văn trẻđầy nội lực này...” [48].Có điều lạ hay đáng ghi nhận là tác giả đã không bị lặp về hình ảnhchăn gối, cảm xúc gi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn: TS PHAN HUY DŨNG

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

Chương 1: VIỆC PHẢN ÁNH HIỆN THỰC ĐƯƠNG ĐẠI TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY

1.1 Về khả năng năm bắt cuộc sống trong thì hiện tại của thể loại tiểu thuyết

1.1.2 Hiện thực cuộc sống trong thì hiện tại - đối tượng thể hiện chính của tiểu

1.1.3 Cách can dự vào đời sống của nhà tiểu thuyết 8

1.2 Sự phong phú của hiện thực đương đại ở Việt Nam - nguồn tài liệu tuyệt vời

1.2.1 Sự va chạm của các bảng giá trị

1.2.2 Sự đánh thức quyền sống của con người cá nhân 11 1.2.3 Sự lụi tàn của tư tưởng độc quyền chân lý 12

1.3 Nhìn chung về thành tựu của tiểu thuyết Việt Nam từ năm 2000 đến nay trên vấn

1.3.2 Tiếp cận và phơi bày nhiều mảng hiện thực mới 20 1.3.2 Đa dạng hoá những phương thức tiếp cận hiện thực đương đại 21

Trang 3

Chương 2: CÁC VẤN ĐỀ NÓNG BỎNG CỦA HIỆN THỰC ĐƯƠNG ĐẠI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN ĐÌNH TÚ

2.1 Thế hệ trẻ và nỗi hoang mang trong việc xác lập bảng giá trị về cuộc sống

21.1 Một thế hệ bị đứt chân với truyền thống 32

2.2 Sự hoành hành của thế giới tội phạm 34

2.2.1 Quyền lực hắc ám của thế giới tội phạm 45 2.2.2 Sự thách thức ghê gớm của thế giới tội phạm đối với nhân tính 51 2.2.3 Những liên minh ma quỷ trong thế giới tội phạm 56

2.3 Sự “xổng chuồng” của các nhu cầu bản năng, vật dục 58

Chương 3: NHỮNG TÌM TÒI CÁCH VIẾT TƯƠNG ỨNG VỚI VIỆC

LỰA CHỌN ĐỀ TÀI, CHỦ ĐỀ ĐƯƠNG ĐẠI TRONG TIỂU THUYẾT

CỦA NGUYỄN ĐÌNH TÚ

3.1.1 Trải nghiệm cá nhân và hứng thú phân tích, khảo cứu của nhà văn 63 3.1.2 Sự xuất hiện của loại nhân vật tư tưởng 64 3.1.3 Ngôn ngữ đầy màu sắc biện luận của người trần thuật 72

3.2.2 Việc nêu bật bản chất vụn rã của hiện thực bằng kết cấu phân mảnh 78 3.2.3 Việc thách thức tính chủ động của độc giả bằng kết cấu phân mảnh 88

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Nói đến tiểu thuyết là nói đến một thể loại bám sát cuộc sống ở thìhiện tại của nó Một thời, chúng ta rất hay nói đến sự nóng hổi của các sự kiệncuộc sống và tính kịp thời của những điều được miêu tả trong tiểu thuyết.Nhưng từ ngày Đổi mới đến nay, vấn đề này dường như bị đẩy xuống hàng thứyếu, ít được quan tâm tìm hiểu Quả là có một sự thiên lệch nhất định cả trong

sáng tác lẫn trong nghiên cứu về vấn đề này Theo đuổi đề tài Hiện thực đương đại trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú, chúng tôi muốn khẳng định trở lại ý

nghĩa của một vấn đề liên quan tới thiên chức của người cầm bút, người viếttiểu thuyết và vị trí quan trọng không thể bác bỏ được chủ đề nghiên cứu vềmối quan hệ giữa văn học và hiện thực

1.2 Nguyễn Đình Tú là một cây bút thuộc thế hệ 7X, có bút lực khásung mãn và là tác giả của 5 tiểu thuyết tương đối nổi đình nổi đám hiện nay.Tại sao tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú đã dành được sự quan tâm khá nồngnhiệt như vậy của độc giả? Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi muốn góp phầntrả lời câu hỏi đó - một câu hỏi có ý nghĩa đối với mọi nhà văn luôn thao thức

về vấn đề làm sao cho sáng tác của mình đạt được hiệu quả thẩm mỹ, hiệu quảtác động tích cực đến độc giả của chính thời mình sống

1.3 Trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú, nhiều mảng màu của hiệnthực đã được khám phá tường tận, tỉ mỉ, với tinh thần phân tích, phê phán cao

độ Đọc tiểu thuyết của anh, người đọc chắc chắn có thêm được nhiều hiểu biết

về cuộc sống, nhất là cuộc sống của một thế hệ trẻ đang đi tìm bảng giá trịriêng của mình Đối với tác giả luận văn, những điều thu nhận được từ tiểuthuyết của nhà văn sẽ có tác dụng gợi ý tốt để chúng tôi thực hiện công việcđào tạo học sinh đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của đất nước, củathời đại

Trang 5

2 Lịch sử vấn đề

Đã có không ít bài viết, bài phê bình, cảm nhận về tác phẩm của NguyễnĐình Tú Các độc giả, nhà phê bình tìm đến tác phẩm của anh và tìm thấy ở đónhững chiều kích khác nhau của cuộc sống, đặc biệt là những mảng khuất vốncòn ít được đề cập trong văn học ta

Đoàn Minh Tâm trong Từ Hồ sơ một tử tù đến Nháp - một chặng đường tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú đã viết: “Đọc Nháp trong mối so sánh liên văn bản với hai tiểu thuyết Hồ sơ một tử tù và Bên dòng sầu diện chúng tôi cho rằng đây là tác phẩm đánh dấu một chặng đường sáng tác của anh Sau Nháp, chúng

ta sẽ gặp một Nguyễn Đình Tú với phong cách sáng tác hoàn toàn khác trướcđây Để làm sáng tỏ nhận định trên, yêu cầu thiết yếu là phải làm sáng tỏnhững nét đặc trưng chung có tính ổn định và những nét riêng khác biệt trong

Nháp so với các sáng tác trước đây của Nguyễn Đình Tú Ngôn ngữ trong Nháp có tiết tấu nhanh, thẳng băng, nhiều trường đoạn tạo cho người đọc "ảo

giác" tác giả đang "nháp", đang trong quá trình phôi thai đứa con tinh thần chứđây chưa phải là sản phẩm hoàn chỉnh Nhưng trên thực tế, đây là những ngôn

từ được sử dụng đầy dụng công nhằm hướng độc giả đến cái đích là hòa nhịpcùng âm hưởng chủ đạo của tác phẩm thông qua nhan đề có sức biểu trưngcao” [47]

Khuất Quang Thụy trong Một khái niệm mới về tiểu thuyết từ 'Hồ sơ một tử tù' nhận định: “Nguyễn Đình Tú đã thành công khi tạo ra được cho

mình một cách tiếp cận hiện thực khá mới mẻ và một lối kể chuyện có sứccuốn hút Ít nhất khi đọc cuốn sách này, chúng ta cũng bị lay động và buộcphải suy nghĩ một cách nghiêm túc hơn, ít phiến diện hơn về một số vấn đề đặt

ra trong cuộc sống hôm nay Đó chính là sự khởi đầu tốt đối với một nhà tiểu

thuyết Và sau 8 năm ra đời, Hồ sơ một tử tù cũng đã khẳng định được sức

sống riêng của nó với bốn lần tái bản, một lần làm phim, hai lần vinh danh giải

Trang 6

thưởng lớn của Bộ Công an 8 năm ấy Nguyễn Đình Tú cũng đã chứng tỏ khảnăng tiểu thuyết của mình” [59].

Nhà văn Chu Lai nói về cuốn tiểu thuyết Nháp, (Nháp - Tiểu thuyết mới của Nguyễn Đình Tú): “Đó là một bút pháp táo tợn và dịu dàng Và

hơi giật mình Mới ngày nào giọng văn hơi văn còn hiền hoà, nền nã, lãng mạndường kia mà giờ đây đã dám phá phách, đáo để, không tránh né bất cứ thứ gì

mà cuộc sống khuất lấp và ngổn ngang đang phô bày ra kia Nói gọn lại là mộtbút pháp táo tợn và dịu dàng… Tiểu thuyết sử dụng ngôi thứ nhất như mộtdòng tự sự tâm tình nhưng càng vào sâu càng xuất hiện những ngôi khác nhưthể không sử dụng thì nó tràn nó ứa ra mất…Với cuốn sách này, Nguyễn Đình

Tú hoàn toàn đã có thể ngẩng cao đầu bước tiếp trên con đường tiểu thuyết

mênh mang nắng gió nhưng cũng quá đỗi chông gai nhọc nhằn” [28].

ItaExpress trong Nguyễn Đình Tú và những ám ảnh mang tên “Nháp”

có viết: “Khác với những cuốn sách khai thác về đề tài đồng tính (gay) xuấthiện trong thời gian gần đây, Nguyễn Đình Tú còn cho ta thấy một loại người

dù không bẩm sinh có xu hướng tình dục đồng giới nhưng vì những tò mò cánhân, những suy nghĩ nông cạn và cả những đam mê nhất thời đã tự biếnmình thành một cái tôi khác Qua cuốn sách này, có thể sẽ có người hiểu hơn

về thế giới thứ ba, và hơn tất thảy hiểu hơn về một thế hệ không dám sốngđúng với bản thân mình, không dám đối diện với những ẩn ức khó giãi bày”.[23]

Lê Nhật Tăng trong bài Phản biện sex trong 'Nháp' của Nguyễn Đình Tú

nhận xét: “Tiểu thuyết mới của nhà văn trẻ Nguyễn Đình Tú có cái tên khá độc

đáo: Nháp đã gợi sự tò mò cho bạn đọc Và quả thật cuốn sách này đã có sự lôi

cuốn ngay từ những trang đầu tiên với một giọng dẫn chuyện rất tự nhiên Việckhông bày đặt ra chương hồi cũng nằm trong dụng ý của tác giả để thu hút mọiliên tưởng và tìm kiếm sự đồng phát hiện của độc giả Những bất ngờ ở cácquãng chuyển đoạn và khả năng diễn tả những biến động tâm lý của nhân vật

Trang 7

gây được hiệu quả thẩm mỹ và chứng tỏ khả năng tiểu thuyết của nhà văn trẻđầy nội lực này ” [48].

Có điều lạ (hay đáng ghi nhận) là tác giả đã không bị lặp về hình ảnhchăn gối, cảm xúc giao hoan và những vẻ đẹp phồn thực của cơ thể con người.Ngay cả những chi tiết tưởng như đến nôn oẹ trong sự lạc thú đồng tính thìngọn bút của tác giả cũng “vẽ” rất khéo, tưởng như dữ dội mà chừng mực,tưởng như sa đà mà biết dừng lại đúng lúc Tác giả đã dẫn người đọc đến cáccung bậc sex thật tự nhiên, không nhàm chán nên thấy dễ chịu và đồng cảmtheo diễn biến tâm lý của nhân vật khi vào “cuộc mây mưa" đầy tâm trạng chứkhông bị các hành vi tình dục dẫn dắt một cách thiếu kiểm soát

Phiên bản khi mới ra đời được người đọc chào đón rất nồng nhiệt và

cũng được nhiều nhà phê bình đánh giá cao Hà Linh đã viết trong bài phỏng

vấn 'Tác phẩm của tôi không chỉ có bạo lực + sex': “ Hơn 400 trang "Phiênbản" của Nguyễn Đình Tú đậm đặc những cảnh hành động, các pha chém giết

và mãnh liệt, dữ dội những trường đoạn làm tình Nhưng nhà văn khẳng định,đằng sau chuyện bạo lực và giường chiếu, anh gắng sức hướng người đọc đếnnhững tình cảm nhân văn của con người” [29]

Và sau đó, Kín đã ra mắt bạn đọc với bản in trang trọng, bắt mắt Kín đi

một dòng riêng, từ đề tài đến bút lực và kỹ thuật đều cho thấy một khả năngdồi dào trong suy ngẫm và chiêm nghiệm của Nguyễn Đình Tú về cuộc sống

xung quanh Nguyễn Xuân Diện trong bài viết "Kín" - một dòng tiểu thuyết miên man, nhấn mạnh: “Cuộc sống nhân vật tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú,

phải chăng như đoá sen đầu mùa hạ còn phong kín nhuỵ hương? Hay là cuộcviết tiểu thuyết của Tú, phải chăng, đến cuốn thứ năm, vẫn là một dòng mảimiết miên man nhằm xâm nhập thám hiểm vào tận ngóc ngách thế giới bêntrong đầy hoang vu rợn ngợp, đầy khắc khoải đan cài vô số chuyển động

Trang 8

ngược chiều: các nhân vật trẻ tuổi của Tú vừa tự đập tan nát mình vỡ vụn, vừaráng chịu đau đớn, tự tay “khâu vá” lại những mảnh vụn nát ấy cho lành lặn?”

Trần Tố Loan trong bài viết Điểm nhìn nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú có nói đại ý: Đọc các tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú từ Hồ

sơ một tử tù, Bên dòng Sầu Diện, Nháp đến Phiên bản, chúng tôi nhận thấy,

bên cạnh việc xây dựng một cốt truyện hoàn chỉnh, sử dụng ngôn từ phù hợp,nhà văn đã dụng công trong việc tổ chức kết cấu tác phẩm một cách sinh động

và hấp dẫn [30]

Như vậy số lượng các bài viết về Nguyễn Đình Tú và các tiểu thuyết củaanh khá nhiều Tuy chưa có bài viết nào đề cập trực diện vấn đề mà luận văncủa chúng tôi nghiên cứu, nhưng tất cả đều chứa đựng những gợi ý bổ ích, tạođiều kiện thuận lợi cho chúng tôi hoàn thành công trình của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn chúng tôi là việc khám phá,

nghiên cứu về hiện thực đương đại trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú, mà ở

đó, ứng với từng đề tài, chủ đề đã được lựa chọn là một cách viết mới, giàubiến hoá và năng động

3.2 Chúng tôi khảo sát tất cả các tiểu thuyết đã xuất bản của NguyễnĐình Tú để tìm hiểu cụ thể xem những mảng hiện thực, những vấn đề nào củahiện thực đương đại đã được nhà văn quan sát, thể nghiệm và miêu tả Ngoài

ra, chúng tôi cũng đọc những tiểu thuyết tiêu biểu của các tác giả Việt namkhác để có căn cứ đánh giá đóng góp của Nguyễn Đình Tú trên vấn đề đangbàn

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Cung cấp cái nhìn tổng quan về việc phản ánh hiện thực đương đại

trong văn xuôi Việt Nam từ năm 2000 đến nay

Trang 9

4.2 Phân tích cách tiếp cận, phát hiện những vấn đề nóng bỏng của hiệnthực đương đại được thể hiện trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú.

4.3 Chỉ ra những tìm tòi trong cách viết của tiểu thuyết Nguyễn Đình

Tú khi chạm vào những vấn đề nóng bỏng của hiện thực đương đại

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện luận văn này, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp

nghiên cứu sau: phương pháp hệ thống - cấu trúc, phương pháp so sánh, phương pháp phân loại…

6 Cái mới của luận văn

Đây là luận văn thạc sĩ đầu tiên nghiên cứu về tiểu thuyết của NguyễnĐình Tú, khẳng định sự nhạy bén và tính trách nhiệm cao của ngòi bút nhà vănkhi hướng tới tái hiện hiện thực bộn bề của đất nước trong thời kỳ đổi mới vàhội nhập

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận

văn được triển khai trong 3 chương:

Chương 1 Việc phản ánh hiện thực đương đại trong văn xuôi Việt Nam

Trang 10

Chương 1 VIỆC PHẢN ÁNH HIỆN THỰC ĐƯƠNG ĐẠI TRONG VĂN XUÔI

VIỆT NAM TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY

1.1 Về khả năng năm bắt cuộc sống trong thì hiện tại của thể loại tiểu thuyết

1.1.1 Định nghĩa tiểu thuyết

Tiểu thuyết là một thể loại văn xuôi có hư cấu thông qua nhân vật, hoàncảnh, sự việc để phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn và những vấn đề của cuộcsống con người Belinski khi cho rằng "tiểu thuyết là sử thi của đời tư" đã xácđịnh rõ tiểu thuyết là một dạng thức tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào

số phận của một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó Sự

trần thuật ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến

mức đủ để truyền đạt cơ cấu của nhân cách

Trong quá trình vận động và phát triển, tiểu thuyết Việt Nam đương đại

đã dung nạp vào bản thân nó những yếu tố hậu hiện đại: giải - khu biệt hóa vàphi tâm hóa; tính chất hỗn loạn và bất ổn của trật tự đời sống; sự xáo trộn giữa

hư và thực, giữa cái siêu nhiên huyền bí và đời thường; những kiểu cấu trúcmới, mảnh vỡ, liên văn bản, gián cách; trò chơi cấu trúc, trò chơi ngôn ngữ,bút pháp nhại, nghịch dị, huyền ảo… Các yếu tố cơ bản của hậu hiện đại đãđược các nhà văn Việt Nam tiếp biến ở nhiều mức độ, ở từng phong cách Ởgiai đoạn sau Đổi mới, dấu ấn của hậu hiện đại đã xuất hiện đậm nhạt trongvăn xuôi Phạm Thị Hoài và Nguyễn Huy Thiệp Ở chặng đường sau, nhiều câybút đã thể nghiệm một lối viết mới Có tác giả được xếp vào xu hướng hậuhiện đại như Nguyễn Bình Phương, Thuận Có nhiều tác giả có ý thức làm mớithể loại bằng kĩ thuật lạ hóa Nhìn chung, những yếu tố hậu hiện đại trong tiểuthuyết thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng đã khiến cho những định nghĩamang tính chất đóng kín về tiểu thuyết đã trở nên khó vận dụng Điều này

Trang 11

không phải là vấn nạn của tiểu thuyết mà là vấn nạn của những nghiên cứu vềtiểu thuyết.

1.1.2 Hiện thực cuộc sống trong thì hiện tại - đối tượng thể hiện chính của tiểu thuyết

Tiểu thuyết miêu tả cuộc sống trong tính chất văn xuôi của nó Nó thểhiện cuộc sống như một thực tại cùng thời và hấp thu vào bản thân mọi yếu tốngổn ngang, bề bộn của cuộc đời bao gồm những bi - hài; cao cả - thấp hèn;

vĩ đại - tầm thường, lớn - nhỏ… Văn học không thể tách rời cuộc sống Tuykhông yêu cầu văn học phải sao chép y nguyên cuộc sống, nhưng nhà văn phảimiêu tả được bản chất của nó Không bao giờ văn học được quyền xa rời sựthật ở đời Quan niệm này chi phối toàn bộ sáng tác của các nhà văn Trong đótiểu thuyết luôn đậm đà màu sắc hiện thực, và thể loại này có một tư duy mangtầm khái quát lớn, khả năng chiếm lĩnh hiện thực sâu sắc

Trong lịch sử, nếu không có các nhà tiểu thuyết ghi lại hiện thực, thì vềsau sẽ chẳng có ai biết đâu mà lần Hiện thực cuộc đời đòi hỏi tiểu thuyếtphải hiện thực, nghĩa là phải thể hiện đúng như tinh thần mà nó vốn có.Những nhà văn trung thành với tinh thần hiện thực sẽ có được giá trị thựctrong lòng bạn đọc và làm được điều ấy không phải là dễ

Nói đến hiện thực không có nghĩa là thực thà chân chỉ hạt bột thấy gìghi nấy Như vậy, còn gì là nghệ thuật viết văn? Sự tưởng tượng về trạng tháitinh thần của hiện thực kéo theo hệ thống hình tượng được sắp xếp khéo léobằng những viên gạch ngôn ngữ là cả một chu trình lao động kiên nhẫn vừathủ công, vừa bác học ở người nghệ sĩ Trên thực tế, hầu hết các nhà sáng tácđều biết rõ công việc của mình sẽ phải thế nào. 

Trang 12

Qua các cuốn sách của mình, nhà văn Nguyễn Đình Tú "loay hoay" vớimột giới trẻ hoang hoải, lạc loài, hoài nghi và vỡ mộng Anh đã lí giải vềnhững nhân vật trẻ tuổi như thế này: "Đó là những trạng huống tinh thần củacon người chứ không phải một khúc cắt rời của hiện trạng xã hội Ở mộtphương diện nào đó, hoài nghi và vỡ mộng không phải không có ý nghĩa tíchcực trong cuộc sống đối với mỗi con người Văn học nói về cái mất mát để giữgìn, nói về nước mắt để hạnh phúc, nói về khiếm khuyết để hoàn thiện" Viếttiểu thuyết, Nguyễn Đình Tú mải miết, miên man xâm nhập thám hiểm vào tậnngóc ngách thế giới bên trong đầy hoang vu rợn ngợp, đầy khắc khoải đan cài

vô số chuyển động ngược chiều: các nhân vật trẻ tuổi của anh vừa tự đập tannát mình vỡ vụn, vừa ráng chịu đau đớn, tự tay “khâu vá” lại những mảnh vụnnát ấy cho lành lặn. 

Chính bi kịch cơ bản hiện nay của tầng lớp thanh niên đô thị đương đạiViệt là chất liệu tiểu thuyết Nó hấp dẫn nhà văn trẻ Nguyễn Đình Tú đếnkhông thể cưỡng Thanh niên đô thị hôm nay ở Việt Nam quả là một chândung hết sức phức tạp, luôn xoay chiều muôn mặt như khối vuông rubic Vàđương nhiên, khối vuông này còn có thể ví như cánh đồng lúa đang thì chín rũ,

“ngày ngày nóng bức”, đợi tay người gặt hái Phải chăng đây là nơi đắc địacho Nguyễn Đình Tú đặt cây liềm gặt hái tiểu thuyết? Và chính anh vốn là câyviết tiểu thuyết trẻ, ưa thích một thử nghiệm phiêu lưu trong bộn bề chất liệuđời sống

     1.1.3 Cách can dự vào đời sống của nhà tiểu thuyết

Đặc điểm duy nhất và cơ bản nhất của tiểu thuyết mà chính là sự miêu tảcuộc sống từ góc độ đời tư Chính dung lượng phản ánh hiện thực rộng lớngiúp nhà văn miêu tả nhân vật và hoàn cảnh một cách đầy đủ, toàn diện, tỉ mỉnhững trạng thái tâm hồn cũng như những mối quan hệ đa dạng, phức tạpkhác Đặc trưng lớn nhất của tiểu thuyết chính là khả năng phản ánh toàn vẹn

Trang 13

và sinh động đời sống theo hướng tiếp xúc gần gũi nhất với hiện thực Là mộtthể loại lớn tiêu biểu cho phương thức tự sự, tiểu thuyết có khả năng bao quátlớn về chiều rộng của không gian cũng như chiều dài của thời gian, cho phépnhà văn mở rộng tối đa tầm vóc của hiện thực trong tác phẩm của mình.

Ở phương diện khác, tiểu thuyết là thể loại có cấu trúc linh hoạt, khôngchỉ cho phép mở rộng về thời gian, không gian, nhân vật, sự kiện mà còn ở khảnăng dồn nhân vật và sự kiện vào một khoảng không gian và thời gian hẹp, đisâu khai thác cảnh ngộ riêng và khám phá chiều sâu số phận cá nhân nhân vật

Và các nhà tiểu thuyết khi tiếp cận hiện thực cuộc sống, muốn lột tả hết thảynhững gì thuộc về bản chất của nó, nên họ ưu dùng bút pháp tả thực Nhưngđiều đáng trân trọng là tiểu thuyết hiện đại của Việt Nam không muốn dừng lại

ở vai trò “thư ký” thời đại hoặc coi văn học là tấm gương thuần túy mà cốgắng soi chiếu hiện thực từ nhiều góc nhìn khác nhau Nhà văn có thể sử dụngbút pháp tả thực bằng cái nhìn khách quan, có thể tả thực theo cái nhìn giễunhại Điều quan trọng là bên cạnh thông tin về sự thật, người đọc phải tìmthấy trong thế giới nghệ thuật của nhà văn lượng thông tin thẩm mĩ phong phú

Đó là chưa nói đến chuyện, sự thật trong văn học tuy thống nhất với sự thậtngoài đời, nhưng hai thứ đó không phải là một Sự đồng nhất giữa hai loại sựthật này, dù chỉ là vô tình, cũng làm phương hại đến sự lung linh, đa nghĩa củanghệ thuật Bởi thế, chỉ một khi hai yếu tố thông tin sự thật và thông tin thẩm

mĩ kết hợp hài hòa thì tác phẩm mới có cơ tồn tại lâu dài Hàng loạt tiểu thuyếtcủa các cây bút trẻ với bút pháp tả thực mới đã đem lại cho công chúng nhiềunhận thức mới mẻ về hiện thực

Khi nói đến bút pháp tả thực mới, cần thấy rằng đây là thủ pháp quantrọng của khuynh hướng tiểu thuyết “nhận thức lại” lịch sử Khuynh hướngnày có phần gần gũi với cảm hứng phản tư trong tiểu thuyết Trung Quốc thời

kỳ cải cách với Một nửa đàn ông là đàn bà của Trương Hiền Lượng, Nôn nóng

Trang 14

của Giả Bình Ao, Báu vật của đời của Mạc Ngôn, Trường hận ca của Vương

An Ức Các nhà văn Trung Quốc đã nhìn nhận lại hàng loạt vấn đề đau lòng,những bi kịch đầy nước mắt trong thời kỳ cách mạng văn hóa Tác phẩm của

họ được người đọc đón chào nồng nhiệt bởi từng trang viết thấm đầy tinh thầnphản tư Thậm chí, trong quá trình nhận thức lại cách mạng văn hóa, các nhàtiểu thuyết Trung Quốc cho rằng đó là cuộc chấn thương tinh thần lớn nhất thế

kỷ XX Theo đó, dòng “văn học vết thương” ra đời và để lại ấn tượng sâu sắcđối với độc giả Ở Việt Nam, cảm hứng nhận thức lại quá khứ cũng phần nàothể hiện tinh thần nhận chân lại các giá trị đời sống bằng cái nhìn mới mẻ, thểhiện những suy tư của nhà văn về số phần con người trong sự va đập của các

biến cố đời sống và các sự kiện lịch sử Trong Thượng đế thì cười, Nguyễn

Khải đã nhìn lại những năm tháng đã qua của nhân vật bằng cái nhìn mang sắc

thái giễu nhại Những tác phẩm viết về cải cách ruộng đất (Dòng sông Mía, Ba người khác ) cũng tái hiện lại nhiều cảnh oái oăm do cái nhìn tả khuynh, ấu

trĩ, giáo điều mà một thời chúng ta đã mắc phải Thậm chí không ít người coi

sự giáo điều và tả khuynh mới thực sự là cách mạng! Tình cảnh của nông thôn

và số phận của người nông dân cũng được miêu tả một cách chân thực qua

Chuyện làng Cuội, Mảnh đất lắm người nhiều ma Trong những tác phẩm

này, cái các ác, xấu có mặt khắp nơi, thả sức hoành hoành và nhiều người hànhđộng như những kẻ cuồng tín Sự ấu trĩ trong nhận thức, sự hạn hẹp về tầmnhìn của một số cán bộ có chức có quyền đã khiến biết bao gia đình tan nát,bao số phận dang dở Nhìn chung, các nhà tiểu thuyết đã dựng lại bi kịch củamột thời, nhưng thông qua những tấn bi kịch nhiều khi cười ra nước mắt ấychúng ta sẽ từ giã quá khứ một cách dứt khoát hơn để hướng tới một tương laitốt đẹp giàu tính nhân bản hơn

1.2 Sự phong phú của hiện thực đương đại ở Việt Nam - nguồn tài liệu tuyệt vời của các nhà tiểu thuyết

Trang 15

Sự phong phú của hiện thực đương đại ở Việt Nam đã tạo nên tính đa

dạng về màu sắc thẩm mỹ của tiểu thuyết Một xã hội có sự phân hoá các giaitầng một cách sâu sắc Những giá trị cũ bị nghi ngờ Những giá trị mới chưađược khẳng định Giới trẻ hoang hoải, lạc loài, hoài nghi và vỡ mộng Nhữngtiêu cực tràn lan trong mọi lĩnh vực đời sống… Người ta có thể thấy khó thởvới cuộc sống này, nhưng đối với nhà tiểu thuyết thì đây là "mỏ vàng", lànguồn đề tài phong phú vô tận, cần được khai thác

1.2.1 Sự va chạm của các bảng giá trị

Mỗi nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú đều có sự giằng xé,

đấu tranh Đó là cuộc vật lộn giữa các giá trị trong mỗi con người Phiên bản

biểu hiện rõ nhất về điều này Đầu tiên là về cuộc đời Diệu – nhân vật chínhcủa cuốn tiểu thuyết – được chia ra làm ba giai đoạn chính, ba cái mốc lớn làmthay đổi cuộc đời nhân vật, giúp đưa đẩy diễn biến của câu chuyện một cách tựnhiên mà phơi bày ra những trần trụi xót xa của hiện thực: khi vượt biển cùnggia đình; khi chạy trốn không thành, quay về sống bên cạnh Hưng “mã”,– vàkhi gặp Tùng “hê-rô” rồi từng bước trở thành một nữ hoàng khét tiếng trêngiang hla. 

Cái mốc thứ  nhất bắt đầu với hình ảnh một cô nữ sinh ngây thơ cùngnhững rung động đầu đời trong trẻo và hồn nhiên nhưng lại bị vùi dập ở giữabiển khơi trong một cuộc vượt biên chạy trốn mong đổi đời của số phận khi bịbọn cướp biển cưỡng hiếp một cách dã man giữa trạng thái vô thức của mộtcơn say sóng Sự tra tấn ấy chưa kịp qua đi, thì Diệu lại phải chứng kiến một

sự tra tấn khác dành cho thị giác trước sự tàn sát đẫm máu… Máu loang nổ,chảy tràn khắp con tàu, lênh láng một vùng biển Những tiếng la hét, nhữngvết dao loang loáng chém lên thân xác những người thân của Diệu và hàngtrăm người vô tội xấu số khác…Nguyễn Đình Tú đã dựng lên bức tranh đẫmmáu và tàn khốc ấy với từng đường nét, màu sắc cụ thể qua ngòi bút miêu tả

Trang 16

đầy ấn tượng của mình Đó là cú tát mạnh bạo và lạnh lùng đầu tiên của cuộcsống xuống cuộc đời một cô nữ sinh mới lớn, như thể một lời nguyền của sốphận – rằng cuộc đời cô sẽ gắn liền với máu của sự chết chóc… Và lời nguyền

ấy dần trở thành hiện thực theo những lớp sóng dập dồn đẩy xô của cuộc đời,

từ nhẹ nhàng cho đến xoắn lốc, từ giản đơn đến phức tạp, từ gờn gợn, lăn tăncho đến, thét gào, lồng lộn,vùng vẫy… 

Cái mốc thứ  hai đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời Diệu là  khi

bị cuộc sống ném trả về lại nơi xóm Cấm sống với một người bà già yếu và cảnh sống nghèo hèn, rồi âm thầm bồi thêm một cú huých nữa bằng sự mỉamai, ngang tàng chợ búa, muốn tìm cách hạ nhục, bắt nạt Diệu, buộc cô phảiphản kháng lại với việc cầm chiếc chổi rơm bén lửa phang vào mặt Tuấn

“chợ” và đốt luôn cả quầy hàng mà rằng: “Này thì cháy Này thì đốt Đốt hết Cho tan hết đi Cho thành tro bụi đi Cái đời này nó khốn nạn quá thể Cháy luôn cả mình đi cũng được Chết luôn với đám lửa kia cũng được Đời còn cái chó gì đâu mà tiếc… Đốt luôn cả cái thân chẳng ra thân, người chẳng ra người này đi Em chả thiết gì nữa Có chết thì cũng không khổ hơn sống đâu.”

[tr 32] Rõ ràng, cái ác Thiện khi bị dồn đẩy, săn đuổi sẽ phải chống cự lại –

và nhiều lần dồn đuổi – nhiều lần chống cự như thế sẽ đặt bước chân con

người ta lên con đường lưu manh hóa: bắt đầu là từ trong suy nghĩ "Nhìn ra xung quanh, bao nhiêu đứa sống được bằng ăn cắp, bằng móc túi, bằng xin đểu, bằng lừa đảo, bằng bài bạc… chả nhẽ em lại chịu chết đói trong khi em cũng có đủ hai con mắt, hai bàn tay và cái đầu được học đến tận lớp 9) cho đến hành động tiếp tay cho kẻ gian tiêu thụ hàng ăn cắp để nhận hoa hồng và giết Tuấn chợ ngay tại nơi vẫn thường xuyên làm tình với Hưng mã (theo sự sắp đặt của Hưng để trả nợ vụ phang chiêc chổi lửa vào mặt Tuấn chợ ngày trước". [tr 38]

Trang 17

 Những điều này là một bước đệm không thể thiếu để đưa Diệu đến với

cái mốc thứ ba quan trọng trong trong cuộc đời mình, giúp Diệu “bật” lên đỉnh điểm của sự lưu manh, “lên ngôi” nữ chúa trong thế giới ngầm khi ra tù

và trở thành vợ của Tùng “hê-rô” – một tay anh chị khét tiếng ranh ma quỷquái và hung ác trên giang hồ Từ đây, không gian và bối cảnh của tiểu thuyếtbắt đầu bung mở với hàng loạt các nhân vật, bè lũ, vây cánh như Lân sói, Cộc

ba tai, Mỹ chột, Châu Điên, Hoàng lợn, Vĩnh con, Hiếu cu, Ông Trùm… cùngkhông gian của các sòng bạc, quán bar, vũ trường, của dục vọng quay cuồng,của sự sát phạt thanh trừ lẫn nhau để lấy số tạo thanh thế làm ăn… (Và vô hìnhtạo nên một con số 3 thú vị ở thành phố của ngã ba sông với thế chân vạc gồm:Tùng hê-rô, Lân sói và Cộc ba tai) Ngòi bút của Nguyễn Đình Tú đến đâythực sự được tự do tung hoành, tha hồ nhào nặn, đẩy đưa với những tình tiếtdồn dập đắt giá mang đên cho người đọc sự háo hức, tò mò muốn khám pháđến tận cùng trang sách, cùng đắm chìm trong thế giới giang hồ muôn hìnhvạn trạng, cùng hãi hùng, rùng rợn với trước sự hiện hình của cái ác, cùng lo

âu phấp phỏng cho số phận của con người, cho sự yếu thế của cái Thiện cónguy cơ bị đánh bại… Tất cả như dòng chảy của một con sông bắt đầu vỡ òalên thành sóng, thành giông tố, lốc xoáy và cứ thế nhấn chìm, cuốn phăng đitất cả khi ra được biển lớn. 

  Ấn tượng tiếp theo về con số 3 trong Phiên bản được bắt nguồn ngay từ

những trang sách đầu tiên với sự xuất hiện của Diệu – Đinh – Nhân – ba conngười đến với nhau, để lại những rung động đầu đời trong nhau ngay từ nhữngkhoảnh khắc bình yên nhất khi còn ngồi trên ghế nhà trường Rồi bộ ba ấy tiếptục song hành, xuyên suốt  cho đến tận khi kết thúc câu chuyện, có khi trựctiếp, có khi gián tiếp, khi rõ nét, khi ảo mờ… Diệu và Đinh là hai nét vẽ tuykhác nhau về bề nổi nhưng lại có những đoạn chìm tương đồng, trùng khít vớinhau trong cái khát vọng tiền bạc và quyền lực – còn Nhân như một biểu

Trang 18

tượng của sự hướng Thiện chạy song song, luôn muốn bao bọc chở che, muốnđưa Diệu quay lại với con đường lương thiện (khi mà nhà văn có ý “gài” Nhânluôn xuất hiện trước bất cứ những bước ngoặt, biến cố lớn của đời Diệu –nhưng chỉ lặng lẽ, âm thầm như một cái bóng) Trong Diệu vẫn le lói, vẫn trỗilên những khát vọng được bước về phía ánh sáng ấy của Nhân (thể hiện quanhững diễn biến nội tâm khi Nhân đến xin thầy Hiệu trường cho Diệu được đihọc lại, khi Diệu ra tù Nhân mang hồ sơ đến cho Diệu điền thông tin để bắtđầu cuộc sống lương thiện của một người công nhân) Nhưng cái ác quá tànkhốc, mạnh bạo, nhất định giằng lấy Diệu, chiếm giữ và ngự trị, phủ đầy bóngđêm của ân oán giang hồ lên con đường Diệu đi Và Diệu biết rằng Nhân mãimãi là một miền xanh thẳm trong niềm khao  khát mà Diệu không bao giờ đặtchân đến được… 

Có một hình ảnh xuyên suốt câu chuyện là ánh trăng, được xây dựngnhư một kiểu nhân vật dị biệt, bên cạnh đó là nữ nhân vật chính bị cuộc sống

xô đẩy, bầm dập thành một “siêu giang hồ” Ánh trăng như một thủ pháp nghệthuật đưa đà, soi rọi cho toàn tiểu thuyết, giúp người đọc nhìn nhân vật và cáctình tiết diễn ra một cách đầy đủ và khách quan hơn sau những đối thoại, tựvấn giằng xé trong tâm can nhân vật Ánh trăng ấy vừa kết tội nhưng cũngđồng thời rửa tội, thanh lọc cái ác, giúp linh hồn Diệu siêu thoát, để rồi cuốicùng người đàn bà với biệt danh Hương ga lừng lẫy khắp giang hồ trong Bắcngoài Nam ấy cũng thực sự giác ngộ, nhận ra được cái bản thể tốt đẹp nhất,lương thiện nhất trong những giọt nước mắt nhòe ướt trên sự muộn mằn khiquay về với cái tên khai sinh của mình, chối bỏ đi cái danh hiệu “nữ hoàng”

đầy quyền lực và khao khát: “Diệu! Ta nhận ra ta là ai rồi Cả bóng trăng kia nữa Bây giờ thì ngươi không cần phải đánh đố ta Ta cũng đã nhận ra ngươi

là ai rồi Sao bao giờ ngươi cũng đến bên ta muộn thế? Sao mắt ta mờ nhòe thế này? Nước mắt ư? Ta mà cũng khóc ư? Những giọt lệ hãy dừng lại đi,

Trang 19

đừng chảy nữa, ta muốn nhìn rõ ra lần cuối, cả người ngồi bên ta nữa Ta không phải là nữ hoàng Và người ngồi bên cạnh ta, người ấy cũng không phải

là một bóng trăng… Nước mắt ơi, đừng chảy nữa!” [tr 394] Mặc dù NguyễnĐình Tú không chỉ mặt gọi tên cụ thể Ánh trăng là ai – nhưng khép lại câuchuyện thì người đọc đã có thể nhận ra – ánh trăng là Nhân, là biểu tượng của

sự thanh sạch, của cái Thiện luôn kề vai sát cánh đi bên cạnh con người – kể

cả những cuộc đời lầm lỗi, mà nâng đỡ, làm điểm tựa cho họ quay về vớinhững gía trị nhân văn (dẫu là muộn mằn, nhưng sẽ là siêu thoát, thanh thản đểbắt đầu những điều tốt đẹp hơn ở một cõi khác xa xăm…) 

1.2.2 Sự đánh thức quyền sống của con người cá nhân

Nghiên cứu nhân vật, chính là nghiên cứu cách nhà văn nhìn nhận, cắt

nghĩa về con người như thế nào và bằng cách nào trong văn chương của mình.Bởi lẽ, nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cánhân nào đó, về một loại người nào đó, về một vấn đề nào đó của hiện thực.Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống

trong một thời kì lịch sử nhất định Xét từ góc độ trần thuật, nhân vật là một chất liệu có tính bản thể của văn bản tự sự Chất liệu đó có thể được soi chiếu

từ nhiều góc độ khác nhau (như một thực thể sống, có số phận riêng tư và đờisống tâm lý cá biệt; như một hình chiếu thế giới tư tưởng của tác giả hoặc củađời sống xã hội…)

Trong các tiểu thuyết xuất hiện đầu thế kỷ XXI con người cá nhân hiệnlên với ngổn ngang những biểu hiện riêng, mang tính biệt lập Đó quả là nhữngcon người điển hình trong cái xã hội điển hình Bởi thế các nhà văn cũng tìmnhững phương thức thể hiện thật mới mẻ Đôi khi chúng chỉ còn là các “phảnnhân vật”, các kí hiệu hay các hình bóng hư ảo, bị tẩy trắng hoặc biến mất khỏivăn bản Nhân vật trong tiểu thuyết là những con người phức hợp, đa bình

Trang 20

diện nếu nhìn từ góc độ loại hình và chức năng biểu đạt, trong các tiểu thuyết

đang xét, tính phức hợp biểu hiện ở các kiểu nhân vật

  Hầu hết các nhân vật chính trong Thoạt kỳ thuỷ, Ngồi… (Nguyễn Bình Phương), Chinatown, Paris 11.8… (Thuận), Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn (Nguyễn Việt Hà), Đi tìm nhân vật (Tạ Duy Anh) đều trở thành những phức thể tính cách và tâm lý (đôi khi là phức thể của những đối cực khó hoặc không thể dung hòa)

Bước đi đầu tiên của các tiểu thuyết thuộc thời kì hậu hiện đại là sựchuyển dịch phạm vi tồn tại của nhân vật trung tâm từ đời sống xã hội vào đờisống tâm lý – tâm linh Thực chất, công việc này đã được các nhà văn thuộcgiai đoạn Đổi mới trước đó (Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh) lưu tâm thực hiện,song đến giai đoạn này nó được tiến hành với mức độ quyết liệt hơn, triệt để

hơn Nhân vật chính trong tiểu thuyết không còn là những con người hành động (hay “hành động” không còn là bình diện chủ yếu của nhân vật) Cụ thể

hơn, các tác giả không chú tâm mô tả và tường thuật lại đời sống xã hội củamột con người (tồn tại trong xã hội, quan hệ xã hội với những nhân vật khác,xung đột và giải quyết xung đột…) mà tập trung tái hiện một thế giới tâm lý –tâm linh đầy những hồi ức, dằn vặt, ám ảnh (trong đó có cả những ẩn ức tìnhdục, những khắc khoải bản năng…) Trong mỗi con người đều tồn tại nhiều

“con người” khác nhau, thậm chí đối lập nhau, của ý thức với tiềm thức và vôthức Nhân cách tiềm thức - vô thức được hình tượng hóa thành các nhân vật

phân thân Khẩn (Ngồi), Tính (Thoạt kỳ thuỷ), “tôi” (Chinatown)… là những

kiểu hình tượng “phân thân” như thế Trong những nhân vật loại này, ý thứckhông phải lúc nào cũng ở vị trí chủ đạo; tiềm thức - vô thức có lúc chiếm thế

ưu thắng và điều khiển hành vi của con người cũng như mạch chảy của tự sự.Với mỗi một quan hệ khác nhau với một đối tượng khác nhau, nhân vật lại bộc

lộ một “con người” khác, một bình diện khác trong nhân cách của mình

Trang 21

Chẳng hạn, Khẩn trong Ngồi của Nguyễn Bình Phương là một “phân thân” của

hai Khẩn hoàn toàn khác nhau: một lay lắt, trì trệ và mờ tối với cuộc mưu sinhtrần tục hiện thời; một trong sáng, thanh thoát và thánh thiện với những giấc

mơ về mối tình đầu trong tiềm thức Hai “con người” ấy, lúc xen kẽ, lúc đồnghành, lúc rượt đuổi lẫn nhau, làm nên một diện mạo nhân vật thật khó địnhhình và cắt nghĩa: “Khẩn nói dối đi ăn ốc luộc vừa mới về Thuý hỏi, có ai gọiđiện không? Khẩn đáp, không… Gần sáng Khẩn rơi vào trạng thái lơ mơ Nhưmọi lần cành bạch đàn lại chìa ra tựa như một bàn tay nhỏ non nớt thân thiện

để Khẩn nắm Khi chạm vào cành bạch đàn thì giấc ngủ biến mất còn lại mộtkhông gian dịu dàng để Kim than phiền về cuộc đời”; hay: “Mình đã mơ thấymình đội nước đi lên, cao to lực lưỡng với đôi mắt rực lửa, cái miệng mở rộng,mái tóc xõa xuống vai, sau mỗi bước đi của mình, nước bắn cao hàng chụcmét Lúc tỉnh dậy, nhớ lại giấc mơ đó mình láng máng rằng mình thực sự còn

là một cái gì nữa chứ không phải chỉ là thế này Bỗng nhiên Khẩn lồng xuống

tầng dưới gõ cửa phòng giám đốc”. 

Trong rất nhiều tiểu thuyết đương đại, những giấc mơ, những cơn mộng

mị, mê sảng…trở thành một “chiếc cầu nối” lạ lùng đưa ta vào cõi hoang vu

nhất, sâu kín nhất của tâm hồn nhân vật Ở đó chúng ta thấy được những mơ

ước thầm kín, những nỗi sợ hãi dày vò, những bí mật đen tối,  hay những niềm

hy vọng và tuyệt vọng không thể giãi bày, những vùng ký ức không thể nguôingoai… Văn học truyền thống, đặc biệt văn học Việt Nam, ít quan tâm đến cácgiấc mộng Nếu có, chúng thường chỉ được trình bày như như sự trao đổi giữacon người với thế giới siêu nhiên, từ đó dẫn đến những điềm báo, những lời

tiên tri.” Ngược lại, trong các tiểu thuyết Thoạt kỳ thủy, Ngồi, Đi tìm nhân vật… giấc mộng là biểu hiện của những gì bí mật, riêng tư nhất của mỗi cá

nhân Các tác giả cũng “tuyệt đối tôn trọng ngôn ngữ riêng của mơ: thườngthường đó là những hình ảnh, âm thanh được lắp ghép một cách phi lý Lúc

Trang 22

này, “nhịp mạnh” của tự sự lại là những khúc “độc thoại” tan tác, rã rời củanhân vật: “Bị dắt đi, dắt đi, dắt đi… Cây sợ run bằn bật Nhiều trăng lắm nhé,

mẹ nhé Thích nhỉ, mẹ nhỉ Hiền đặt bóng vào tường Tường cắn chặt bóng

Hiền không thả ra…” (Thoạt kỳ thuỷ); “Ngày thứ sáu cỏ tóc tiên lại rối lên (…)

Giấc mơ nào của tôi cũng có hàng trăm con sông chảy chéo qua nhau (…) Nó

chờ ông về những cỏ tóc tiên lại sợ đến phát điên lên” (Người đi vắng).

Một điểm đặc biệt cần chú ý trong các tiểu thuyết nêu trên là cuộc khaiphá vấn đề “ẩn ức tình dục” (sex) và việc đặt nó bên cạnh vấn đề “tâm linh”

trong văn chương Trong Đi tìm nhân vật, dư âm của sex là một tiếng vọng

thần bí mang đậm giá trị tinh thần: nỗi khốn cùng thể chất của nhân vật “tôi”

đã khiến anh ta chiếm đoạt và huỷ hoại cả “thiên sứ” (cô gái điên – con bồ câutrắng) do Thượng đế phái đến Chính điều này là “cú hích” đầu tiên đẩy tâm

hồn anh ta trượt dần xuống vực thẳm của lầm lạc, của quỷ dữ Trong Người đi vắng, tình yêu - tình dục - tâm linh cũng gắn với nhau như hình với bóng –

trong mối quan hệ tay ba giữa Hoàn với người chồng và người tình của mình

Đó là chốn nhập nhằng lẫn lộn giữa ý thức và vô thức, vật chất và tinh thần ,bởi thông thường tình dục và tâm linh hay được hiểu như sự đối lập giữa thểxác - tinh thần, ác - thiện, hay sự sắp xếp thứ bậc thấp - cao Nhưng trong

Người đi vắng, Đi tìm nhân vật… các tác giả gần như đã tách cặp khái niệm

này ra khỏi phạm trù đạo đức nhằm chạm tới những vùng hoang vu nhất củabản thể con người: nỗi cô đơn, khoảng trống, niềm bất an khôn nguôi về sựhữu hạn của đời người…

Viết về phần bản năng, vô thức, về những ẩn ức tình dục của con người

trong thế giới hiện đại, các tác giả tiểu thuyết không quan niệm đó là một

phương thức “lạ hóa” hay “câu khách” đơn thuần:  “…những nhân vật của tôi, gọi là méo mó, thì đó là cái méo mó tự thân Có người bảo tôi xây dựng nhân vật đặt trong trạng thái quá khứ mịt mờ, hiện tại lổn nhổn và tương lai vô

Trang 23

định, nhưng tôi không nghĩ thế Các nhân vật của tôi sống bản năng, nhưng tiềm tàng một niềm tin đứng dậy” (Nguyễn Bình Phương) Quan điểm này gợi

nhắc đến một cây bút nổi danh của văn học Nhật Bản đương đại: Murakami.Với nhân vật của Murakami, “tình dục” giống như một chiếc chìa khóa dẫn

vào tâm linh Thế nhưng, đó không phải là những tác phẩm nhằm câu khách

bằng yếu tố sex, mà sex ở đây lại chính là một ngôn ngữ của Murakami - cũngnhư những ngôn ngữ khác của ông Ngòi bút của Murakami thường sắc lạnh

và tự nhiên khi mô tả về tình dục, về cái xấu v.v nhưng qua đó chúng ta thấykhát vọng tình yêu, khát vọng về tương quan với đồng loại, khát vọng về giảiphóng bản thể Cũng như với các nhân vật của Nguyễn Bình Phương, Tạ DuyAnh…, sex là một phương hướng để giải tỏa nỗi cô đơn mà các nhân vật củaMurakami thường có

1.2.3 Sự lụi tàn của tư tưởng độc quyền chân lý

Trong một thế giới đa cực, sự độc quyền chân lý trở nên nực cười vàthảm hại Xã hội Việt Nam hiện nay tuy chưa phải là xã hội hiện đại đúngnghĩa, nhưng với sự lan rộng của tư tưởng dân chủ, những tìm tòi đa dạng củanhà văn được khuyến khích Nhà văn không còn bị bao cấp về tư tưởng, nếuanh ta không muốn Vậy là một chân trời sáng tạo mở ra, cấp cho anh nhiều cơhội để thể hiện được dấu ấn riêng của mình Dù đề cao vai trò tưởng tượng và

hư cấu của tiểu thuyết, nhưng các nhà lý luận phê bình văn học cũng thấy đượcmối tương liên giữa tưởng tượng, hư cấu trong tiểu thuyết với hiện thực cuộcđời Vì vậy trong quan niệm của họ, nhà văn dẫu có hư cấu cũng phải trên cơ

sở tôn trọng sự thực đời sống Bởi vì “Với sự có mặt của mình trước cuộc đời,với sự hiện hữu của mình ở trong cuộc đời, tiểu thuyết là một hình thái củanghệ thuật, một lối diễn đạt của con người gần với cuộc đời nhất” Và “tiểuthuyết không phải là tả cảnh, tả tình, nhưng là một suy nghĩ ( ) truyện khôngcòn phải là một giải trí nhưng là một sự thức tỉnh đưa tới nhận định về cuộc

Trang 24

đời.” Tuy thấy được sự tương giao giữa tiểu thuyết và cuộc đời nhưng trongquan niệm của lý luận phê bình văn học, hiện thực trong tiểu thuyết khôngphải là đời thực mà chỉ mang bóng dáng cuộc đời, là "ảo ảnh" của cuộc đời Vìtheo Nguyễn Văn Trung “Tiểu thuyết không bao giờ thực mà chỉ có vẽ thực”.

Do đó, nếu đồng nhất cuộc sống trong nghệ thuật với cuộc sống ngoài đời, sẽlàm nghèo đi cả hai hiện thực ấy Ngoài việc phản ánh thực tại cuộc đời, tiểuthuyết còn phải phản ánh được thế giới thẳm sâu của tâm hồn con người và

“giá trị của một cuốn tiểu thuyết là đi sâu vào tâm hồn người đời” Vì thế, nếuchúng ta mãi băn khoăn, tiểu thuyết phản ánh được bao nhiêu phần trăm sựthật ở đời, lấy đó làm căn cứ thẩm định giá trị tác phẩm tiểu thuyết thì vô hìnhtrung làm nghèo thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết và làm vơi đi thế giớitưởng tượng của người tiếp nhận Giá trị tiểu thuyết cần nhất là sâu sắc và

“Sâu sắc chính là ở chỗ mình diễn tả được tất cả những cái mông lung bí ẩncủa tâm hồn”

1.3 Nhìn chung về thành tựu của tiểu thuyết Việt Nam từ năm 2000 đến nay trên vấn đề thể hiện hiện thực đương đại

1.3.2 Tiếp cận và phơi bày nhiều mảng hiện thực mới

Văn chương là tấm gương phản ánh cuộc sống Nhà tiểu thuyết hậu hiệnđại thay vì giọng điệu đau đớn khắc khoải (như thường thấy trong các tácphẩm thời đầu đổi mới đã sử dụng khá triệt để cái nghịch - dị - trào - lộng đểthể hiện sự hỗn tạp trớ trêu của cuộc đời) Tính bỡn cợt ở đây dường như luôn

lấn át tính phê phán Trong Cơ hội của Chúa, Nguyễn Việt Hà có những nhận

định đại loại như thế này, nhan nhản: “Hai tháng cuối năm bắt tám trăm vụbuôn lậu”; phòng làm việc của Hoàng là “một thứ vườn trẻ để gửi con ôngcháu cha”; công sở khi thì “lãng đãng một không khí tao đàn”, khi lại “nghènnghẹn mùi thuốc súng”; “các company nhiều như nấm sau mưa, nơi liên doanhcủa quan chức cơ hội với bọn buôn lậu liều lĩnh”; anh bạn của Tâm “hai năm

Trang 25

gần đây trở nên sung túc vì biết ăn cắp”; hàng ngũ giám đốc những năm đầu

chín mươi thì “ ba vạn chín nghìn tổng, chánh, phó giám đốc trong và ngoài quốc doanh đều mù và điếc theo mọi nghĩa” [tr 87]; Dùng cái nghịch - dị -

trào - lộng để thể hiện đời sống, nhà văn chủ trương “vặn cổ” bài ca cuộc sống.Vai văn học và vai xã hội của nhân vật được lạ hoá Các vị ngữ trở nên biếnhoá vô thường Và, với cái nhìn bỡn cợt ấy, cuộc sống thật như một trò đùa.Cảm giác xót xa biến mất Cảm thức nổi trội qua đây là: cái không đáng (lẽ rakhông đáng) tồn tại, tại sao lại cứ (nghiễm nhiên) tồn tại? Và trớ trêu là, nó cứtồn tại như thế đấy

Nếu cái nghịch dị chưa hẳn đã thể hiện đúng chất của mình trong Cơ hội của Chúa, thì tới Khải huyền muộn, giễu nhại lại trở thành yếu tính Quả vậy, trong Cơ hội của Chúa, bên cạnh giọng châm biếm bỡn cợt của chủ thể kể

chuyện, còn thấy những giọng xen có phần xót xa, đau đáu của những “cái tôi”chằm vặp với đời và ít nhiều còn tha thiết với cái đẹp Đó là cái cảm thức

“chao ôi là bất lực” trước cái ác, là lời tha thiết cầu xin Đức Chúa “hãy làm

chậm hành trình vào bẩn thỉu” của con người Khải huyền muộn thì khác: cấu

trúc của nó được xây dựng trên cái nhìn kì khôi về sự “vênh lệch” giữa “vai”

và thực chất giá trị của đối tượng

ở đó người đọc thấy đâu đâu cũng là những hình tượng giễu - nhại: giễu

nhại quan chức: “Dãy ghế hạng nhất nhan nhản những khuôn mặt nhờn tanh căng mỡ của các quan chức cấp huyện”, “Sếp ngồi quay lưng lại cửa ra vào

vì mải chơi game trên computer”; “Quan chức thì bao giờ cho hết lầm lẫn ; giễu nhại người mẫu: “người mẫu đang là đề tài thời thượng chỉ sau cave”; giễu nhại báo chí: “Báo chí ở ta thường tự tin là có dân trí thấp nên đầy ngạo mạn trịch thượng”; giễu nhại đạo diễn: “Các đạo diễn với mặc cảm mình đã là thằng mất dậy, nên luôn luôn nhồi vào mồm đám diễn viên những câu đẫm đầy

Trang 26

đạo đức”; giễu nhại bà văn sĩ Bỉ và cả buổi toạ đàm văn học của ta, bởi nữ văn

sĩ người Bỉ này từng “đọc Truyện Kiều tóm tắt bằng văn xuôi và khẳng định một nữ tác gia như Nguyễn Du xứng đáng là một nữ thi sĩ”[tr.112].

Trong cuộc phiêu lưu kiếm tìm cái mới cho tiểu thuyết, nhiều cây bút trẻlại hướng việc phản ánh hiện thực bằng khai thác những bản năng gốc của conngười Tiểu thuyết hôm nay phá vỡ bức tường kiêng kỵ để đi sâu vào miền bảnnăng của con người, để tìm hiểu những vẻ đẹp tình cảm riêng tư, những khátkhao tình dục rất đời thường của con người Rồi những quan hệ nồng nàn của

Nguyễn Quỳ - Thắm; Ngoãn - Hân (Thượng Đức) Gần đây nhất, trong Sóng chìm (2007 - Đình Kính) đã xây dựng một nhân vật phụ nữ (Năm Hồng) mang

đậm tính bản năng Vì thương những người lính (cả ta cả ngụy) ra trận là đivào chỗ chết mà Năm Hồng cho họ "biết mùi đời" Bản năng tình thương hay

bản năng dục tính ở người phụ nữ này cái nào trội hơn? Trong Sợi xích của Lê Thị Kiều Như có đoạn tả tận cảnh của màn ái ân : "Anh đã làm tôi ẩm ướt và nóng bỏng, tôi nẩy người lên, đê mê như muốn anh nuốt cả bầu ngực tôi vào miệng… Tôi tê dại cả người, có cái gì đó như đang cương cứng mấp mé giữa đôi chân của tôi, làm tôi càng thôi thúc, hứng tình nhiều hơn… anh cắn nhẹ và

lả lướt vào những vùng nhạy cảm… Anh nhấc hẳn hông tôi lên, bất ngờ anh nhấn vào rồi từ từ đẩy sâu vào bên trong Tôi quíu cả hai chân lại và rú lên,

nó ran rát và đau, tôi lạnh cóng và bóp chặt hai lòng bàn tay vào nhau, còn anh như một con thú hoang hổn hển ra vào, dịch chuyển rồi lại phi nhanh, cổ họng tôi rên rỉ bằng những tiếng rên run rẩy, cắn răng nếm đau đớn đi cùng

sự khoái cảm đang dâng trào…

Nẩy người, tay tôi đã vuột khỏi khăn trói tay, anh vẫn còn đang hổn hển với những vũ khúc, tôi đau đớn như đang bị xé da thịt, lấy tay mình tự ve vuốt lên ngực rồi mò mẫm xuống phía dưới chỗ anh đang…”

[http://vnexpress.net/gl/van-hoa/2010/03/3ba199a3/]

Trang 27

Và trong Kín của Nguyễn Đình Tú, cảm thức Sex, được thể hiện một

cách mãnh liệt Nguyễn Đình Tú viết về sex rất táo bạo, mặc dù điều này đãkhiến anh gặp không ít những phản ứng từ phía bạn đọc Tác giả đã từng trảlời phỏng vấn: “ Chỉ khi nào sex không tồn tại trong đời sống thì nó sẽ khôngcòn được đề cập trong tiểu thuyết của tôi nữa”

Nhân vật chính trong Kín là Quỳnh, một cô gái đã quyết định bỏ nhà ra

đi vào đúng sinh nhật lần thứ hai mươi của mình sau một cuộc chơi mang tính

“hủy diệt” Cuộc ra đi của cô không hề được chuẩn bị trước Tại sao Quỳnh lại

từ chối hiện tại của mình? Buổi lễ quần hôn có sắc màu của một cacnavan tình

ái ấy kinh hồn như thế nào? Mượn hình thức của 12 con giáp đám trẻ trong

Kín đã lăn xả vào nhau để chơi màn luân vũ tử thần ra sao? “Vũ điệu thân xác thay đổi liên tục Muông thú bị kích động bởi những kiểu dáng kỳ lạ, tự động phản ứng theo dây chuyền Những thân người mặt thú gắn kết với nhau theo chiều ngang rồi chiều dọc, từ hình vuông sang hình tròn, nối đuôi nhau từ thảm hoa đến cầu thang, từ bàn nước ra bệ cửa Loa thùng dội liên tục những

âm thanh cuồng nộ của đất trời vào đôi tai Khỉ Thứ âm thanh đó dồn ép khối

óc Khỉ, co rút các mạch máu Khỉ, và trong một khoảnh khắc thoáng qua, trái tim hồng tươi trong vòm ngực Khỉ bất chợt rung lên rồi bật vỡ” [tr 18]

Hay trong Nháp, khác với những cuốn sách khai thác về đề tài đồng tính

(gay) xuất hiện trong thời gian gần đây, Nguyễn Đình Tú còn cho ta thấy mộtloại người dù không bẩm sinh có xu hướng tình dục đồng giới nhưng vì những

tò mò cá nhân, những suy nghĩ nông cạn và cả những đam mê nhất thời đã tựbiến mình thành một cái tôi khác Qua cuốn sách này, có thể sẽ có người hiểuhơn về thế giới thứ ba, và hơn tất thảy hiểu hơn về một thế hệ không dám sốngđúng với bản thân mình, không dám đối diện với những ẩn ức khó giãi bày.Nếu có ai bảo “đối với Nháp nếu không có tình dục thì cuốn sách trở nên vônghĩa” thì tôi cũng đồng ý bởi đơn giản đây là một cuốn sách viết về nỗi ám

Trang 28

ảnh tình dục nhược tiểu trong sự chuyển dịch và tiếp biến văn hóa Điều màchúng ta không dám đối diện dù trên thực tế, Việt Nam đang đứng đầu thế giới

về lệnh tìm kiếm Sex trên cổng Google nhưng lúc nào cũng muốn che giấu nóbằng lối nhìn, lối nghĩ bảo thủ và cổ hủ Vậy thì tại sao chúng ta không thẳngthắn đối diện với nó, tại sao chúng ta không đi thẳng vào vấn đề mà lại đi lên

án một thế hệ đang bị mặt trái của tòan cầu hóa làm cho lệch lạc văn hóa tínhgiao? Chúng ta đổ lỗi cho việc toàn cầu hóa nhưng lại không chịu công nhậnrằng mình đang ở trong guồng quay đó và một lúc nào đó chính chúng ta cũng

có thể sa vào bi kịch của nhân vật tiểu thuyết mà không biết

Thế giới nhân vật của Nháp lúc hiển hiện lúc mơ hồ nhưng tất cả đều rõ

nét tính cách Nguyễn Đình Tú giỏi khắc họa hình ảnh mỗi nhân vật để takhông bị lẫn lộn giữa nhân vật này với nhân vật kia Chùm bộ ba nhân vật tênThảo mà Đại tìm kiếm có ba nét tính cách khác nhau Cả ba cô đều có cái tên

là Thảo nhưng Nguyễn Đình Tú đã chọn cho họ những hướng đi riêng nên cácnhân vật có sự phát triển triển tâm lý đặc thù, tạo dấu ấn không dễ phai mờtrong người đọc

Thế giới nhân vật của Nháp còn là những ai nữa? Một gã bác sỹ đồng

tính không dám công khai tìm bạn tình, phải khoác lên mình một cái vỏ bọckhác để đêm về cay đắng nghĩ về cuộc đời với những bất công tạo hóa đọađày Là hình ảnh đứa trẻ chạy qua chạy lại đón khách, lẽ ra nó sẽ được sốngyên ổn ở một gia đình nào đó nhưng vì không cha, không mẹ nên được gã bác

sỹ nuôi dạy bằng cách riêng của mình để rồi bị cuốn vào vòng quay lệch lạcgiới tính từ lúc nào không hay Nó lấy cái thú vui quan hệ xác thịt của ngườikhác để làm niềm hạnh phúc cho riêng mình Hình ảnh đứa trẻ hiện lên qua tácphẩm thật ám ảnh và day dứt!

Trang 29

1.3.2 Đa dạng hoá những phương thức tiếp cận hiện thực đương đại

Khá nhiều người viết tiểu thuyết ở Việt Nam hiện nay đang thực hiệnkhát vọng dân chủ hoá văn chương bằng việc thổi vào đó tinh thần hoài nghi

và ý hướng giải thiêng văn học Họ biến tác phẩm thành một cuộc chơi khá đa

dạng: chơi cấu trúc, chơi nhân vật, chơi thể loại… Trọng tâm sáng tạo của họ

chuyển từ cách kể câu chuyện sang cách thiết kế những văn bản: có văn bản là

một câu đố, có văn bản là một bản nhạc, có văn bản là một hoạt cảnh Điểmđặc trưng cơ bản của tiểu thuyết hiện đại trong những năm gần đây chính là sựnổi lên của một vài cây bút trẻ thuộc thế hệ 7X, 8X viết khỏe, được cho là cótiềm năng nhưng tinh chất để lại chưa thật sự nhiều và ấn tượng Trong số họcũng có người đang trăn trở, tìm tòi nhằm đổi mới tư duy thể loại nhằm tìm ramột hướng đi mới cho tiểu thuyết Tất nhiên văn chương là trò chơi của trí tuệ

và cảm xúc, nó cũng có mục đích giúp con người thấy được bản thân nhưngkhông nhất thiết phải đáp ứng một nhiệm vụ xã hội có tính vụ lợi hoặc nhữngđơn đặt hàng của chính trị mà văn học vốn bị ép mang vác trong bao nhiêunăm Với các nghệ thuật khác, thường thì người ta không bao giờ hỏi bức tranhkia, bản nhạc kia có mục đích gì, nhưng với văn chương thì khác, đã từng cóquá nhiều câu hỏi khe khắt về tính giai cấp, tính giáo dục, về ý nghĩa ám chỉ…

Thiên sứ công khai tưởng tượng, bịa đặt, với những nhân vật khó tìm thấy

trong cuộc sống thật, những motif hoang đường kì ảo đầy tính huyền thoại,những chi tiết hoàn toàn thoát li hiện thực thông thường Người đọc được phépnghi ngờ từ những chi tiết nhỏ nhất như: cuộc gặp gỡ của Hằng và nhà thơ Phlàm tắc nghẽn giao thông toàn thành phố, phải huy động toàn bộ lực lượngcảnh sát giao thông làm việc trong vòng ba tiếng đồng hồ; 299 ứng viên củaHằng chen lấn xô đẩy nhau, cuối cùng 10 người lọt vào chung kết là 10 người

may mắn nâng được 10 ngón tay nuột nà; “rồi hàng loạt những lời phỏng đoán ném thẳng vào vầng mặt trời vừa mới ló, chúng bay loạn xạ, kết thành đám mây bọt xà phòng sặc sỡ, chế nhạo những tia nắng thiếu tháng đầu tiên, và

Trang 30

hàng xóm phàn nàn vào tai tôi, sao bình minh hôm nay đến trễ”… Chúng ta

cũng khó tin sự hiện diện xác thực của một số nhân vật như bé Hon, Quanglùn, nhà thơ Ph…

  Ở cấp độ cấu trúc, nhân vật của Thiên sứ là những mô hình được đánh

số, những bản “sơ đồ nhân cách” Nói đến “sơ đồ”, “mô hình”, người ta dễhình dung về kiểu loại nhân vật bị đóng cứng lại trong một khuôn khổ chậtchội, ít sinh động, giả tạo Phạm Thị Hoài đi ngược lại yêu cầu “điển hình hoá”của tiểu thuyết truyền thống bằng cách tạo dựng những nhân vật mô hình đểthuyết minh cho tư tưởng về con người: “Thời đại hiện thời là thời đại của sốbáo danh” (A.R.Grillet)

Nếu đi tìm trong Thiên sứ những điển hình kiểu truyền thống, hẳn người

đọc sẽ vô cùng thất vọng Không kế thừa và cải tạo truyền thống ở phươngdiện nhân vật, Phạm Thị Hoài tạo ra một quan niệm mới về nhân vật Chị đưa

ra những mô hình nhân vật có nhan nhản trong thời đại này: Thiên sứ chỉ đánh

số 2 mô hình I (Quang lùn) và II (Hùng), nhưng người đọc cũng có thể tăngcon số đó lên thành mô hình III (người đàn bà công dân), mô hình IV (ngườikhông mặt)… Có thể nói, mỗi gương mặt trong Thiên sứ (kể cả người khôngmặt) vẫn có thể được coi là một nhân vật mô hình bởi tính chất độc đáo và sựkhu biệt rõ ràng giữa chúng Mỗi mô hình cũng được coi là một lời cảnh báođối với con người đang dần đi vào quá trình xơ cứng hoá, lược đồ hoá bởinhững ảo tưởng về văn minh và bị trói chặt trong những thiết chế của nó.  

Đối với tiểu thuyết truyền thống, nhân vật vừa cần có đủ nét đặc thù đểkhông bị thay thế, lại vừa phải đủ tính chung để có thể đại diện cho số đông.Hai xu hướng khắc họa nhân vật kiểu này đều có ở Thiên sứ, nhưng khôngcùng tồn tại trong một trạng thái dung hoà, mà riêng rẽ, tách biệt, thành hailoại khác nhau: Có những mô hình là tập hợp của những tính người chung, phổbiến (Hùng, người không mặt) nhưng lại có những mô hình mang tính chất dịbiệt, độc đáo (Quang lùn, người đàn bà công dân) Mô hình I (Quang lùn)

Trang 31

được khắc họa độc đáo từ ngoại hình đến ý chí, lý tưởng Xây dựng mô hìnhbằng các chi tiết sinh động, phức tạp, Phạm Thị Hoài dường như muốn cảnhbáo: lý trí thuần tuý sẽ làm cho người ta đạt tới những bước tiến trong bậcthang xã hội (trong vòng bảy năm thanh toán hai bằng…), nhưng cũng dễ biếncon người thành cỗ máy, biến cuộc sống thành một quỹ đạo quy định sẵn rấtphản tự nhiên Nguy hiểm hơn, khi chỉ tôn thờ ý chí, lí trí, người ta sẽ mất khảnăng cảm nhận những vui buồn sướng khổ thông thường, mất những năng lực

tự nhiên vốn có ở loài người (với anh ta chiến tranh mang bộ mặt đàn ông tươirói, hào hùng), và điểm chót là những nhân cách méo mó, xơ cứng, giáo điều.Khác với thời văn minh Hy Lạp: cuộc sống lý trí trở thành niềm khát khao lớnnhất của nhân loại, ở thời hiện đại, “Con người duy lí chính là một loại sinhvật đã thoái hoá” (J.J.Rouseau) Con người duy lí như Quang lùn không thểhiểu được lý lẽ của trái tim, nhất là trái tim cực kỳ nhạy cảm như Hoài (anh takhông thể biết mắt tôi có màu xanh biến ảo…)

 Mô hình II (Hùng) là mô hình về một trí thức xu thời Một trí thức tiêubiểu cho xu hướng phản trí thức – những dấu gạch nối muôn thuở, “cái gì cũngbiết một chút, cái gì cũng say mê một chút, toàn diện và hời hợt, vừa đủ thôngminh để hài lòng về mình, vừa đủ tốt để tránh hại kẻ khác” Hùng là đại diệncho nhiều loại nhân vật khác của Thiên sứ (những nhân vật công chức, trí thứcđương thời) Trong những bước vụng dại ban đầu, Hùng cũng là người biết xót

xa cái Đẹp – dù chỉ là cái Đẹp phù phiếm, dù là niềm cảm thương trong lúcchuếnh choáng hơi men, nhưng khi thấy quyền lợi bản thân bị đe doạ, anh talập tức tìm một “tọa độ” an toàn khác, yên vị với đời sống tẻ nhạt, bình lặng,không cần cố gắng Chồng Hằng là một trong số ấy, anh ta luôn chú ý đến vịtrí và bổn phận của mình trong xã hội, bàng quan với cuộc sống tinh thần củanhững người xung quanh, ngay cả với vợ : “Tôi không đọc được những gìkhông dành cho tôi Nguyên tắc nghề nghiệp!” – anh ta nói thế khi Hoài đưacho anh ta tập nhật kí của vợ Người sống theo nguyên tắc “chỉ gắn bó những

Trang 32

gì đã được định giá” cũng là người bị những chuyến công du chiếm hết tâm trí,đánh mất dần khả năng xúc cảm  – Anh ta bị thế giới đồ vật mê hoặc, từ giấytoilet đến khăn trải bàn, từ nghệ thuật diễn thuyết đến nghệ thuật pha cà phê.Tiện nghi và  vật dụng đang chỉ huy con người: “Hạnh phúc của một gia đìnhtuỳ thuộc đáng kể vào nghệ thuật pha cà phê của người vợ đấy, em ạ!”, “Trời!Anh tốn bao công mới tìm được chiếc khăn trải bàn vừa mắt” – “Trọn buổi tối,anh ta săn sóc chiếc khăn, còn chị săn sóc nỗi tủi hổ” Đọc đến những dòngnày mới hiểu tại sao Hoài lại có ước muốn kì quặc khi vòi nước công cộngkhông cách nào khoá được: “xin dòng cứ chảy chẳng vì ai, xin nguồn đừng tắtchỉ bởi những thao tác thuần tuý kĩ thuật”.

  Trong mô hình II này không thể không kể đến Hằng – một cái đẹp bịthế giới đồ vật tha hoá, “chưa kịp học cách sống trọn vẹn, đã rơi tõm vào thóiquen nửa vời êm dịu”, sống một cuộc sống lỡ dở, mơ hồ, bỏ lửng mọi say mê

Cô đến cổng trường đại học trong tình trạng khuyết thiếu một phần tâm hồnthơ ngây non trẻ; niềm đam mê với thơ và Ph cũng chỉ mang đến kết cục lỡlàng, càng xua đuổi cô trở về và lún sâu vào chiếc ghế đã được phủ thảm êm

ấm, bởi cô nhận thấy “tự do có nghĩa là cắt đứt mọi bảo hiểm” Chọn cáchsống “tự tròng vào cổ mình chiếc phao bảo hiểm và hài lòng sâu sắc được một

áp lực khách quan nào đó chi phối”, Hằng không nằm ngoài cuộc chơi của mộtthế hệ thiếu vắng những điểm tựa tinh thần , biết cách thoả hiệp với đời sống,

và do đó dần bị “đồng phục hoá” Những con người có tính chất của mô hình

II ấy luôn sống trong trạng thái “không dám sống với những đam mê, giết dầnnhững đam mê bằng một hợp đồng an toàn tối ưu với đời sống” Hợp đồng ấy

là đồng tiền, là cuộc sống vật chất đầy đủ, nó trở thành một thứ thiết chế tróichặt , khiến cho con người không tự ý thức được về ý nghĩa đich thực đời sốngcủa mình , cứ tưởng mình  sáng suốt, thực ra là sống mù loà, ích kỷ , tầmthường

Trang 33

Không dừng lại ở đó mà phương thức tiếp cận mới còn biểu hiện ở cuộcchơi kết cấu Cuộc chơi này đem lại những ấn tượng rất mạnh với các tác

phẩm Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, Ngồi của

Nguyễn Bình Phương, Chuyện của thiên tài của Nguyễn Thế Hoàng Linh

Nhưng có lẽ các tiểu thuyết của Thuận là tiêu biểu nhất

 Thuận thuộc thế hệ thứ ba trong lớp nhà văn đổi mới Chị từng sốngnhiều năm ở Pháp và hiện tại vẫn sống tại nơi khởi đầu của lý thuyết hậu hiệnđại Sự ảnh hưởng tự giác hay không tự giác của trào lưu triết mĩ ấy trong sángtác của Thuận là điều dễ hiểu Với Thuận, sáng tác là cách chứng minh vănhọc Việt hoàn toàn có thể tham gia vào tiến trình văn học thế giới: “khi mọingành nghề đều tìm cách toàn cầu hoá thì không lẽ văn chương lại chịu bó taybuộc chân” Nó xuất phát từ ý thức cách tân quyết liệt  mà chị học được từPhạm Thị Hoài và cũng là để “ly tâm” khỏi Phạm Thị Hoài: “Phạm Thị Hoài

đã dựng lên một đỉnh cao Tôi thán phục nhưng không bao giờ chọn nó làmđích để đi tới Đó cũng là nguyên tắc mà tôi tuân theo khi đứng ngắm các đỉnhcao khác Văn học thế giới mênh mông Tôi không thuộc các tác giả đi chinhphục các đỉnh cao đã có tên trên bản đồ văn học” Trong ý thức của Thuận,sáng tạo và cái mới không phải là mục đích mà là thuộc tính tất yếu của tácphẩm: “Tiểu thuyết trước thách thức tiểu thuyết sau Điều kiện tiên quyết làcàng khác càng tốt (…) Sáng tạo là điều cơ bản trong văn học, không chỉ vớitác giả mà cả với độc giả” (Tôi không thuộc các loại tác giả đi chinh phục cácđỉnh cao đã có tên trên bản đồ văn học, nguồn: www.talawas.org) Thuận đãmang tư duy trò chơi – một kiểu tư duy đặc thù của văn học hậu hiện đại vàosáng tác: “tiểu thuyết là một cuộc phiêu lưu nguy hiểm Nguy hiểm nhất làkhông biết đi về đâu”; “với tôi, văn chương là phiêu lưu và mỗi tác phẩm nhưmột chuyến đi xa, phải đưa được cả tác giả lẫn độc giả ra khỏi cái thôngthường” Trong những cuộc phiêu lưu ấy, Thuận mang đúng tinh thần hậu hiệnđại khi mặc nhiên thừa nhận sự thiếu tự tin của bản thân: “Đã tự tin thì không

Trang 34

phiêu lưu Một trong những lý do chủ yếu để người ta tiếp tục viết là khao khátmuốn khám phá khả năng sáng tạo của bản thân Mỗi tác phẩm là một chuyến

đi xa, để tác giả tìm thấy một “cái tôi” khác, còn độc giả thì được đưa đến mộtmiền đất mới” Nhà văn muốn đánh thức thái độ hậu hiện đại ở người đọc:

“làm sao một độc giả bàng quan nhất cũng trở nên nghi ngờ Đối với tôi, mỗicâu hỏi mà người đọc đặt ra là một thành công đối với người viết Tôi muốn đề

nghị một lối đọc không thụ động” (Trả lời phỏng vấn Phong Điệp: Tôi đề nghị một lối đọc không thụ động).

Kết cấu cốt truyện theo kiểu mảnh vỡ không phải là độc quyền của chủ nghĩa hậu hiện đại nhưng Thuận đã làm theo cách mà các nhà văn hậu hiện đạivẫn thường làm: tận dụng lại những cái đã có trong văn chương thế giới và viếtlại theo cách của riêng mình với tham vọng giải những “đại tự sự” bám riết vào thủ pháp ấy Khi được hỏi về T mất tích Thuận  trả lời: “T mất tích khiến người viết là tôi bình thản đi vào cuộc phiêu lưu ngay từ dòng đầu, phiêu lưu theo đúng nghĩa là không biết câu sau sẽ như thế nào, trang tới sẽ đi đến đâu,

la bàn chỉ hướng về mỗi cụm từ “cấm kể chuyện” ” Như vậy, ngay từ trong ý

đồ, Thuận đã có tham vọng “giải trung tâm” cốt truyện theo kiểu truyền thống

Trang 35

Chương 2 CÁC VẤN ĐỀ NÓNG BỎNG CỦA HIỆN THỰC ĐƯƠNG ĐẠI TRONG

TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN ĐÌNH TÚ

2.1 Thế hệ trẻ và nỗi hoang mang trong việc xác lập bảng giá trị về cuộc sống

21.1 Một thế hệ bị đứt chân với truyền thống

Trong năm cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú, có một sự lắp ghépnhững số phận không trọn vẹn vào với nhau để khi gấp trang sách lại, ta cứthấy lòng nhói đau Đâu đó vẫn còn phảng phất nỗi cô đơn, sự trống trải vàhơn tất cả là sự không thừa nhận của xã hội đối với những kiếp người khôngmay mắn được sinh ra bình thường như những người khác

Trước đây trong văn chương thường đề cao những mô chuẩn đạo đức.Các nhân vật được khoác lên trên mình tấm áo nhuốm màu sắc đạo lí, cuộcsống được nhìn nhận theo mô chuẩn Còn trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình

Tú, những khoảng trống còn bỏ ngỏ đó đã được anh và những nhà văn cùngthời phản ánh triệt để

Nhân vật của Nguyễn Đình Tú là những người trẻ hôm nay, các entry

mà Tú đưa vào tiểu thuyết cũng không ngoài mục đích nhằm giải mã những

“thắt nút” của tiểu thuyết Nó có thể lạ với người đọc không quen sử dụnginternet, nhưng theo xu thế tất yếu, nó sẽ trở nên phổ biến trong xã hội hiệnđại Trong các tác phẩm của Nguyễn Đình Tú, người ta bắt gặp được cả mộtthế hệ đứt chân với các giá trị truyền thống

Xét về bản chất, Nguyên Bình trong Bên dòng Sầu Diện không phải là

người xấu, bằng chứng là trước đó, trong chiến tranh anh ta là một người línhdũng cảm, sau chiến tranh anh ta là một cán bộ cần mẫn, chăm chỉ, và là một

Trang 36

người chồng, một người cha chu đáo với vợ con Nhưng vì sao lúc đó anh talại là kẻ tha hoá khốn nạn như vậy? Hãy đặt con người ấy vào thời điểm cuộckháng chiến chống Pháp sắp kết thúc, quân ta đang chuẩn bị trở về vùng địch

đã từng tạm chiếm để tiếp quản, người Pháp đang xúi giục giáo dân bỏ nhà cửađất đai theo Chúa vào Nam, cũ mới đang nhập nhoà lẫn lộn, địch ta chưa thểphân biệt rõ ràng, nếu Nguyên Bình nhận vợ con tức là tự thú nhận tội gian dối

tổ chức, nguy hiểm hơn là tội có quan hệ mật thiết với “người của phía bênkia” vì Mến là giáo dân rất gần gũi với cha Phăng - một kẻ phản động đội lốttôn giáo Dĩ nhiên, nếu bị kết tội Nguyên Bình sẽ mất hết mọi quyền lợi chínhtrị, con đường công danh đang rộng mở sẽ trở nên tăm tối Và anh ta đã chấpnhận là kẻ phản bội tình yêu, kẻ cạn tàu ráo máng chịu phán xử của toà ánlương tâm để được yên thân Thì ra chiến tranh không chỉ là máu lửa, là sự tànphá, mất mát mà nó còn len lỏi vào mọi ngóc ngách của cuộc sống để pháhoại những hạnh phúc bình thường nhất của con người, có khi bắt người taphải trở thành kẻ tha hoá khác với bản chất của mình, mà trường hợp NguyênBình là một ví dụ

Nhân vật Minh Việt lại được xây dựng theo nguyên tắc bi kịch hoá,nguyên nhân vẫn là chiến tranh, chào đời thì không có cha, khi có cha thì mất

mẹ, vào dân quân thì gặp nạn “hủ hoá”, vào bộ đội thì bị thương rồi lạc đơn vị,

bị bắt, đến ngày hết giặc thì vướng cảnh có con mà không có vợ, rồi bệnh tật

do chất độc hoá học của kẻ thù, không chỉ đời cha tàn tạ dần mà còn di chứngsang cả đứa con duy nhất Nhìn ở góc độ nhân vật, tiểu thuyết là tiếng nói tốcáo, lên án chiến tranh phi nghĩa, đằng sau đó là một khát khao hoà bình đểcho con người được sống với chính bản chất người đích thực, nhân văn và anlành

Hình như tác giả muốn khai thác một cách triệt để tính chất bi kịch củachiến tranh mà trong tiểu thuyết này có rất nhiều cái chết đậm tính cảm

Trang 37

thương Đó là cái chết oan nghiệt của Lý, một thiếu nữ đương thì nồng nàn sứcxuân Chiến tranh đã không cho cô hạnh phúc bình thường nhất của người phụ

nữ là làm vợ, làm mẹ Bao nhiêu trai tráng thì cứ ra trận Cứ chiều chiều Lý rađứng bên đường ngắm đoàn quân đi về phía Nam khát khao tìm cho mình mộtngười con trai Rồi Lý có thai và cô tự vẫn trong tuyệt vọng Đó là Cói, một

nữ dân quân đã chết tức tưởi vì bom kẻ thù Đó là bé Sinh chết oan uổng vì tròchơi đánh trận giả Uớc gì đừng có chiến tranh để trẻ em chỉ vui chơi dưới ánhtrăng tròn với những trò chơi con trẻ đích thực, hồn nhiên và mơ mộng Khaithác chất bi kịch này, không phải là bi quan hay là một cái nhìn một chiềuphiến diện về chiến tranh mà đó là sự thật, và cái giá trị phổ quát của nó caohơn một ý nghĩa tả thực, nó hướng tới một điều khác: Chúng ta đã phải trả giábằng máu để có những ngày tự do như hôm nay, những người sống ở ngàyhôm nay phải biết ơn những người ngã xuống, phải biết trân trọng quá khứ vàbiết gìn giữ hoà bình

Tiểu thuyết là cuộc sống, tiểu thuyết hiện đại có xu hướng chấp nhận

nhiều tiếng nói, dung hợp nhiều thể loại Bên dòng Sầu Diện đã rất có ý thức

về điều này Tiếng nói chủ âm của tiểu thuyết là tiếng nói bi kịch Hoà âmcùng giọng chủ, những giọng khác cũng đi một âm sắc buồn Đấy là hai cáichuyện được giải của Cu Đạo (em cùng cha khác mẹ của Minh Việt) mangtính tự truyện về chuyện buồn của nhà mình Đấy là những câu chuyện đầynước mắt của bé Ly (con đẻ của Minh Việt) viết trước khi bé ra đi vì căn bệnhnhiễm chất độc di chứng từ cha

2.1.2 Một thế hệ đứng trước nhiều cám dỗ của xã hội tiêu thụ

Hầu như các nhân vật tiểu thuyết của Tú rất ít hoặc không thể được sốngtrong những gia đình hoà thuận, yên ấm, dù họ còn rất trẻ Họ thường bị đẩy

ra, hoặc tự mình vẫy vùng đào thoát khỏi gia đình chật hẹp, hoặc mê man đi

Trang 38

theo tiếng gọi bạn bè hay tình ái, với những ham muốn bất chợt, bất thường…

Và dường như nhân vật nào cũng nhuốm đậm chất bụi đời, thậm chí có nhânvật được tác giả đẩy đi lang bạt với Quỳnh, nhân vật nữ chính, lang thangphiêu linh, theo suốt cùng cô từ đầu đến cuối tiểu thuyết, và được đặt một cáitên “mã hoá”: Bụi đời chúa (cũng như thế, khi chính Quỳnh, có quãng đời lưulạc, cũng được “mã hoá”, mang tên Lửa cháy). 

Có thể thấy, Nguyễn Đình Tú muốn dụng công dựng chân dung tiểuthuyết của cả một thế hệ trẻ đang sống gấp gáp nhọc nhằn khắc khoải ở đô thịViệt, những đô thị châu thổ sông Hồng, tuy mượn màu hiện đại đã hàng trămnăm, song vẫn mang rất nặng căn tính nông dân của làng xã cổ truyền Thếnên, chủ nhân trẻ tuổi của chúng, do vẫn cứ phải sống trong cái nơi căn bản là

Kẻ Chợ ấy, như vẫn còn vướng víu nặng nỗi đồng quê…

Nhà văn đã từng tâm sự trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội: “Tiểu thuyết

của tôi nói về thế hệ trẻ nhưng thế hệ ấy không tự dưng mà sinh ra Thế hệ ấy

có mối liên hệ hữu cơ với những thế hệ trước Đất nước thời hội nhập cũng cónghĩa là đất nước còn có những “thời” khác nữa Chiến tranh, sự trở về của thế

hệ trước là tiền đề để bối cảnh câu chuyện và các nhân vật thuộc thế hệ trẻhôm nay xuất hiện trong tiểu thuyết”

Các thế hệ trước đã giải quyết xong những vấn đề của thời đại mình, cònthế hệ trẻ bây giờ lại phải đối mặt với những vấn đề mới, và tiểu thuyết đề cậpđến một trong những vấn đề ấy Xã hội đã đổi thay và xã hội cũng xuất hiệnnhững ẩn ức mới Không có nỗi đau nào thuộc về con người là tầm thường cả.Đôi khi văn chương chỉ thông qua cái tủn mủn, vụn vặt để nói đến những điều

khác có tính phổ quát.  Mỗi cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú từ Hồ sơ một tử tù, Bên dòng Sầu Diện, Nháp đến Phiên bản, Kín là những góc nhìn

riêng của anh về cuộc đời Có điều lạ là, trong khi nhiều nhà văn trẻ thường

Trang 39

chọn viết về những cái tốt đẹp, chính diện, những đề tài dễ gây sự chú ý nhưsex, đồng tính… thì trong hầu hết các tiểu thuyết của mình, Nguyễn Đình Túlại trực tiếp viết về cái xấu, cái ác, thế giới tội phạm Qua những trang viết rấtđời của mình, anh băn khoăn đặt ra câu hỏi, thực ra, nhân chi sơ tính bản thiệnhay nhân chi sơ tính bản ác? Nếu con người sinh ra vốn là thiện thì tại sao họlại biến hoá khốc liệt như thế? Viết về hành trình con người phạm vào cái xấu,cái ác với mong muốn họ được sống thiện, sống đúng với bản chất của mình,Nguyễn Đình Tú đã chạm đến vấn đề của nhân loại.

Vấn đề là ở chỗ đằng sau những trang viết đó là cái gì, nếu chỉ dừng lại

ở việc mô tả sự thống khoái thuần bản năng sinh vật, thì không nghi ngờ gì

nữa đó là một cuốn dâm thư (đương nhiên) Song đặt trong bối cảnh Nháp, sex

đã được sử dụng với một dụng ý rất rõ Nó vừa như một phương tiện để buông

xả, giải thoát những ẩn ức tâm lý đang trùng trùng vây bủa các nhân vật đang ởlứa tuổi vị thành niên Qua những trang viết của Nguyễn đình Tú sex hiện lênnhư một bài ca thân xác vừa bốc đồng vừa kiêu hãnh trước ngưỡng cửa cuộcsống đầy bất an Sex ở đây đã không còn là sex mà được mô tả như sự truy vấncủa nhân vật trước những câu hỏi cuộc sống Vì vậy, nó không gây ra sự phảncảm cho người đọc Về phương diện này tôi cho rằng tác giả đã có được nhữngthành công nhất định Bên cạnh đó thì chúng ta cũng có thể tìm thấy trong

Nháp những vấn đề khác như: tôn giáo, tâm linh, chiến tranh, hậu chiến tranh,

văn hoá, phong tục … nhưng hình như những thao tác tạo bối cảnh (context)dạng đó, có tác dụng phục vụ cho đặc trưng thể loại nhiều hơn là phục vụ chochủ đề: “Cuộc đời Nháp tôi bằng những số phận” Đặc biệt là ở những trangviết về không gian ngoài đô thị (trang 17-18) hoặc những trang viết có liênquan đến tâm linh (trang 157-163), Phật giáo (trang 268-269) thì những kiếngiải về các vấn đề tác giả đặt ra mới chỉ dừng lại ở những sơ kiến phiến diện

của sự biết, chứ chưa phải là những tri kiến lịch lãm của sự hiểu Đọc Nháp ta

Trang 40

liên hệ tới tiểu thuyết Rừng Na uy của Murakami Haruki Cũng là những trang

viết về thế hệ lạc loài với những xung đột nóng bỏng của nó về tình yêu, tìnhdục,đặt trong bối cảnh xã hội Nhật Bản đang diễn ra nhiều thay đổi lớn lao

Song vì sao đọc Rừng Na uy, ta thấy đằng sau mỗi trang viết đầy chất thơ của

Murakami như vẫn văng vẳng lời thơ của thi hào Ấn Độ Tagore ngợi ca tuổitrẻ “sự giàu có trong trái tim của nó là vô biên, niềm vui nỗi buồn của nó làtrường cửu Vì sao đằng sau những kí túc xá sinh viên ở Tokyo, đằng saunhững cuộc tình không tiền khoáng hậu cuả chàng Wantanabe Touru u sầu tathấy hiện lên cái xã hội Nhật Bản hậu thế chiến với những giá trị thần đạo khắc

kỷ và đầy kiêu hãnh đang rã rời, rạn vỡ và từ những khe nứt của sự thất vọngmầm chồi của những giá trị tư bản đã bắt đầu nhú ra Vì sao khi trang cuối của

Rừng Na uy đã gấp lại mà những nhân vật của nó vẫn hiện lên trứớc mắt ta

sinh động và đầy sức sống

Suy cho cùng thì dù sáng tác theo phong cách truyền thống hay hiện đại(trừ những dạng hiện đại cực đoan như tiểu thuyết không có nhân vật), thì xâydựng nhân vật vẫn là một trong những công việc tối quan trọng của người viếtnói chung (và các nhà tiểu thuyết nói riêng) Gấp sách lại những tư tưởng kỳ vĩchưa chắc đã được nhớ đến nhưng những nhân vật có linh hồn, có đời sống thì

sẽ sống mãi trong lòng người đọc

Thế giới của Nháp là thế giới của những ám ảnh sống Nhân vật Thạch

bị cái tình dục nhược tiểu ám ảnh, không thoát ra khỏi nó được nên bị lôi kéovào những trải nghiệm của thế giới thứ 3 để khám phá sức mạnh tiềm ẩn trongcon người mình Đại - một phiên bản của Thạch - lại cứ đi tìm cái đẹp hoàn

hảo - cái ảo, nên gặp những trắc trở trong đời sống thực Nháp đặt những

người trẻ vào câu hỏi của cả thế hệ: Phải làm gì để ngăn chặn mình trước vòngxoáy, trước sự cám dỗ trong thời đại mới, khi các giá trị đang đổi thay từng

ngày để thích nghi với sự hội nhập? Câu chữ trong Nháp cứ tràn chảy theo

Ngày đăng: 20/12/2013, 18:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đào Tuấn Ảnh (2005), “Quan niệm thực tại và con người trong văn học hậu hiện đại”, Nghiên cứu văn học, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm thực tại và con người trong văn học hậu hiện đại”, "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Đào Tuấn Ảnh
Năm: 2005
3. M. Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch). Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Năm: 1992
4. M. Bakhtin (1998), Những vấn đề thi pháp Dotxtoiepxki, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Dotxtoiepxki
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
5. Nguyễn Thị Bình (1996), Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975 (Khảo sát trên nét lớn), Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975 (Khảo sát trên nét lớn)
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1996
6. Nguyễn Lệ Chi (2009), “Nhà văn Nguyễn Đình Tú: Tôi muốn xây dựng hình ảnh nữ giang hồ thời đại mới”,http://dichgianguyenlechi.blogspot.com/2009/11/nha-van-nguyen-inh-tu-toi-muon-xay-dung.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Nguyễn Đình Tú: Tôi muốn xây dựng hình ảnh nữ giang hồ thời đại mới”
Tác giả: Nguyễn Lệ Chi
Năm: 2009
7. Antoine Compagnon (2006), Bản mệnh của lí thuyết – Văn chương và cảm nghĩ thông thường (Lê Hồng Sâm và Đặng Anh Đào dịch), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản mệnh của lí thuyết – Văn chương và cảm nghĩ thông thường
Tác giả: Antoine Compagnon
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2006
8. Đoàn Ánh Dương (2009), “Phiên bản hay hồ sơ một thanh tẩy?”, http://evan.vnexpress.net/News/phe-binh/phe-binh/2009/11/3B9AE7EA/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phiên bản" hay hồ sơ một thanh tẩy?”
Tác giả: Đoàn Ánh Dương
Năm: 2009
9. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
12. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
13. Lê Quốc Hiếu (2011), “Từ kết cấu của một cuốn tiểu thuyết cho đến cảm thức về thân phận lạc loài, hoang hoải trong Kín của Nguyễn Đình Tú”, http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=13028 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ kết cấu của một cuốn tiểu thuyết cho đến cảm thức về thân phận lạc loài, hoang hoải trong "Kín" của Nguyễn Đình Tú”
Tác giả: Lê Quốc Hiếu
Năm: 2011
14. Nguyễn Hòa (2005), “Tiểu thuyết: Khoảng cách giữa khát vọng và khả năng thực tế”, http://vietnamnet.vn/vanhoa/chuyende/2005/09/495257/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết: Khoảng cách giữa khát vọng và khả năng thực tế”
Tác giả: Nguyễn Hòa
Năm: 2005
15. Nguyễn Thái Hòa (2005), Từ điển tu từ – phong cách – thi pháp học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tu từ – phong cách – thi pháp học
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
16. Nguyễn Chí Hoan (2009), Bút ký một người đọc sách, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bút ký một người đọc sách
Tác giả: Nguyễn Chí Hoan
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2009
17. Nguyễn Chí Hoan (2010), “Dịch chuyển tiêu cực trong tiểu thuyết Nháp”, http://evan.vnexpress.net/News/phe-binh/phe-binh/2009/09/3B9AE6DD/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch chuyển tiêu cực trong tiểu thuyết "Nháp"”
Tác giả: Nguyễn Chí Hoan
Năm: 2010
18. Nguyễn Ngọc Hoàn (2010), “Tại sao ông Bùi Công Thuấn lại khiếp sợ Nháp đến thế?”, http://www.phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=10735 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tại sao ông Bùi Công Thuấn lại khiếp sợ "Nháp" đến thế?”," http://www.phongdiep.net/default.asp
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hoàn
Năm: 2010
19. Hoa Tử Huyền (2009), “Nhà văn Nguyễn Đình Tú và tiểu thuyết Phiên bản”, http://vannghequandoi.com.vn/binh-lun-vn-ngh/5001-nha-vn-nguyn-inh-tu-va-tiu-thuyt-phien-bn.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Nguyễn Đình Tú và tiểu thuyết "Phiên bản"”
Tác giả: Hoa Tử Huyền
Năm: 2009
20. Mai Hương (chủ biên, 2011), Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam, tập 3, Nxb Giáo dục Việt nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt nam
23. ItaExpress (2008), “Nguyễn Đình Tú và những ám ảnh mang tên Nháp”, http://www.itaexpress.com.vn/tin_ita/th_thao_gi_i_tri/van_hoa_d_c/nguy_n_dinh_tu_va_nh_ng_am_nh_mang_ten_nhap Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Tú và những ám ảnh mang tên "Nháp"”, "http://www.itaexpress.com.vn/tin_ita/th_thao_gi_i_tri/van_hoa_d_c/nguy_
Tác giả: ItaExpress
Năm: 2008
24. Ma Văn Kháng (2009), “Phiên bản hay tính thiện và tính ác của con người”, http://evan.vnexpress.net/News/phe-binh/phe-binh/2009/10/3B9AE734/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phiên bản" hay tính thiện và tính ác của con người”, "http://evan.vnexpress.net/News/phe-binh/phe-
Tác giả: Ma Văn Kháng
Năm: 2009
27. Milan Kundera (2001). Tiểu luận (Nguyên Ngọc dịch), Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu luận
Tác giả: Milan Kundera
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w