Vì vậy, mục tiêu phát triển con ngời và phát triển thế hệ trẻ đã đợc Đảng và Nhà nớc ta đa vào trung tâm của kế hoạch phát triển kinhtế- xã hội; phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của
Trang 1a Mở đầu.
1 Lí do chọn đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, nơi con ngời sinh ra và lớn lên, nơi trẻ em đợcchăm lo về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và nhân cách để hòa nhập vào cộng
đồng và xã hội Tuy không phải là thiết chế duy nhất có vai trò trách nhiệm bảo
vệ, chăm sóc trẻ em, nhng gia đình là môi trờng đầu tiên, là cơ sở, nền tảng và cótính chất quyết định đến sự hình thành nhân cách của trẻ, ảnh hởng lâu dài và toàndiện đối với cá nhân trong suốt cuộc đời Nhà trờng và xã hội là những môi trờnggiáo dục trẻ rất quan trọng, song vai trò của nó chỉ có thể phát huy một cách cóhiệu quả khi lấy giáo dục gia đình làm nền tảng
Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và đẩymạnh CNH, HĐH đất nớc Vì vậy, mục tiêu phát triển con ngời và phát triển thế
hệ trẻ đã đợc Đảng và Nhà nớc ta đa vào trung tâm của kế hoạch phát triển kinhtế- xã hội; phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của ngời dân phải đồng thời vớiviệc chú trọng các gia đình thực hiện tốt các chức năng làm nền tảng cho việcchăm sóc, bảo vệ trẻ em
Nhận thức đợc vấn đề này, những năm qua, trên khắp cả nớc, nhiều địa
ph-ơng đã thực hiện nghiêm túc và đạt hiệu quả cao Nhiều gia đình đã nêu cao tráchnhiệm của mình trong việc xây dựng, bồi dỡng các thành viên trong gia đình, đặcbiệt là trẻ em, có lối sống văn hoá Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thị trờng và sựlan tràn các loại văn hoá phẩm độc hại…hiện nay đã và đang ảnh hởng không nhỏtới đạo đức, nếp sống và suy nghĩ của nhiều ngời, nhiều gia đình, trong đó có trẻ
em Vì vậy, nâng cao nhận thức của gia đình về việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em là
điều thiết yếu, quan trọng hơn bao giờ hết
Hơng Sơn là một huyện miền núi của tỉnh Hà Tĩnh Thực hiện chủ trơngcủa Đảng và Nhà nớc, nhiều năm qua, vấn đề chăm sóc và bảo vệ trẻ em trong gia
đình đã đợc toàn huyện triển khai và thực hiện tốt Đại bộ phận
Trang 2gia đình ở Hơng sơn đã giành cho trẻ em những gì tốt đẹp nhất trong khảnăng có thể của mình để các em phát triển toàn diện cả thể chất lẫn tinh thần, cócơ hội vơn lên tự khẳng định mình trong sự phát triển lành mạnh của xã hội.
Tuy nhiên, là một huyện miền núi nên các gia đình Hơng Sơn hiện đangphải đối mặt với nhiều thách thức: Điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ văn hoácủa ngời dân còn thấp, sự thiếu hụt những kiến thức cơ bản về sức khoẻ, tâm sinh
lí, pháp lụât, về văn hoá ứng xử, về xã hội nói chung… đang là những trở ngại choviệc nuôi dạy con cái ở trong các gia đình
Xuất phát từ lí do đó, chúng tôi quyết định chọn vấn đề: “Gia đình trongviệc chăm sóc, bảo vệ trẻ em ở huyện Hơng Sơn - Hà Tĩnh hiện nay” làm đề tàikhoá luận tốt nghiệp với mong muốn có thể góp một tiếng nói, một hành động vàochiến lợc phát triển con ngời, nâng cao hơn nữa vai trò của gia đình trong việcchăm sóc, bảo vệ con trẻ, góp phần đa huyện Hơng Sơn xứng đáng là huyện đi đầucủa tỉnh trong công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em
2 Tình hình nghiên cứu
Chăm sóc, bảo vệ trẻ em trong gia đình là vấn đề rất quan trọng, thu hút sựquan tâm nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học trong nớc Cụ thể, sau Cáchmạng Tháng Tám, Đảng và Bác Hồ đã có nhiều văn bản, bài viết, bài phát biểu
điển hình về gia đình, về chăm sóc và bảo vệ trẻ em đợc tập hợp trong cuốn: Một
số Văn kiện của Đảng và Nhà nớc về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, Nxb
CTQG, Hà Nội, 1996 và: Chơng trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam
giai đoạn 2001- 2010, Nxb Văn hoá phẩm, Hà Nội, 2002; Hồ Chí Minh về bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, TS Vũ Văn Cơng (tuyển chọn), Nxb CTQG , Hà
Nội, 1997; Luật bảo vệ và Chăm sóc giáo dục trẻ em, Quốc hội Nớc Cộng hoàXHCN Việt Nam; Luật giáo dục, Nxb CTQG, Hà Nội, 1998…
Tất cả những bài viết, những văn bản trên nhằm tạo điều kiện tốt nhất
về mặt pháp lí, đáp ứng đầy đủ các nhu cầu và các quyền cơ bản trẻ em, ngăn chặnnguy cơ xâm hại trẻ em, xây dựng môi trờng an toàn và lành mạnh để trẻ em Việt
Trang 3Nam có cơ hội đợc phát triển về thể chất lẫn tinh thần, có cuộc sống ngày càng tốt
đẹp để vững bớc vào đời
Trong những năm gần đây, ở nớc ta một số công trình nghiên cứu vềvấn đề này nh: Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hoá của TS Lê NgọcVăn, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1996; Vai trò gia đình trong sự hình thành nhân
cách con ngời Việt Nam, GS Lê Thi (chủ biên), Nxb Phụ nữ, H.1997; Tìm hiểu tâm lí trẻ em, Nguyễn Khắc Viện chủ biên, Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 1993; Gia
đình và vấn đề giáo dục của gia đình, GS Lê Thi (chủ biên), Nxb KHXH, Hà
Nội, 1994…
Các bài viết này đã cung cấp cho các bậc phụ huynh những kiến thức về gia
đình, về trách nhiệm làm cha, làm mẹ trong việc giáo dục con cái nên ngời vớinhững nội dung chăm sóc, giáo dục cơ bản: đức, trí, thể ,mĩ
Ngoài ra, còn có một số bài báo đã tập trung làm rõ mặt lí luận, thực tiễnvai trò của gia đình trong việc hình thành nhân cách con ngời; những ảnh hởng củacơ chế thị trờng đến vai trò ngời phụ nữ trong gia đình và việc xây dựng gia đìnhvăn hoá ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, cha có công nghiên cứu nào đi sâu, tìmhiểu kĩ vấn đề thực trạng chăm sóc và bảo vệ trẻ em ở một địa phơng cụ thể nhhuyện Hơng Sơn - Hà Tĩnh
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm rõ thực trạng việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em trong gia
đình ở Hơng Sơn - Hà Tĩnh hiện nay, trên cơ sở đó bớc đầu đề xuất một số giảipháp và kiến nghị nhằm nâng cao vai trò gia đình trong công tác chăm sóc và bảo
vệ trẻ em ở Hơng Sơn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Phân tích những nội dung cơ bản của công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ emtrong gia đình
Trang 4- Làm rõ thực trạng chăm sóc, bảo vệ trẻ em trong gia đình ở Hơng Sơn hiệnnay.
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của gia đìnhtrong việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài trên cơ sở đi sâu nghiên cấu thực trạng việc chăm sóc, bảo vệ trẻ emtrong gia đình ở huyện Hơng Sơn những năm gần đây, qua đó nêu bật những vấn
đề đã và đang đặt ra cần đợc giải quyết
5 Cơ sở lí luận và phơng pháp nghiên cứu
- Luận văn đợc thực hiện trên cơ sở lí luận Chủ nghĩa Mác- Lê nin, T tởng
Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta về gia đình, trẻ em và vai trò gia
đình trong chăm sóc và bảo vệ trẻ em
- Luận văn sử dụng tổng hợp các phơng pháp nghiên cứu nh: phân tích vàtổng hợp, lô-gíc và lịch sử, tiếp cận và phỏng vấn, thống kê số liệu và xử lí số liệu,
so sánh, đồng thời kế thừa một cách có chọn lọc những công trình nghiên cứu liênquan đến đề tài
6 ý nghĩa của luận văn
- Góp phần làm rõ vai trò gia đình trong việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em hiệnnay
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của gia đìnhtrong việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em ở Hơng Sơn
- Góp thêm kinh nghiệm và tiếng nói để các bậc cha mẹ tham khảo, nâng caohiệu quả trong việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em; đồng thời, cung cấp thêm t liệu cho
đội ngũ cán bộ làm công tác xã hội ở huyện Hơng Sơn đang làm công tác về vấn
đề gia đình và trẻ em
Trang 57 bè côc cña luËn v¨n.
Ngoµi phÇn më ®Çu, kÕt luËn, danh môc, tµi liÖu tham kh¶o, luËn v¨n gåm 2ch¬ng 6 tiÕ
Trang 6B phần nội dung
Chơng i: chăm sóc, bảo vệ trẻ em Một trong–
những chức năng cơ bản của gia đình
1.1 Một số vấn đề chung về gia đình và trẻ em:
1.1.1 Gia đình và chức năng cơ bản của gia đình.
Khái niệm gia đình.
Gia đình luôn là tổ ấm đem lại hạnh phúc cho mỗi cá nhân, đời sống gia đình
êm ấm, hòa thuận là nguồn động viên hết sức cần thiết, là cơ sở để xây dựng hạnhphúc cho toàn xã hội Chính vì vậy, từ lâu chủ đề gia đình đã đợc nhiều ngànhkhoa học quan tâm nghiên cứu và cho đến nay đã có rất nhiều định nghĩa về gia
đình
Xét dới góc độ tâm lý học: Gia đình là một nhóm xã hội có quan hệ gắn bó vềhôn nhân và huyết thống, tâm sinh lý, có chung các giá trị vật chất, tinh thần, ổn
định trong các thời điểm lịch sử Các nhà tâm lý học còn xem gia đình là một đơn
vị nhỏ nhất, có mối quan hệ chặt chẽ và là tấm gơng phản chiếu mọi thành tựu,cũng nh mâu thuẫn của xã hội
Theo xã hội học gia đình, gia đình: “ Là một nhóm xã hội hình thành trên cơ
sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống” [ 16; Tr 70 ]
Cũng bàn về khái niệm gia đình, Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biênlại cho rằng gia đình là “Tập hợp ngời cùng chung sống thành một dơn vị nhỏ nhấttrong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu thờng gồm có
vợ chồng, cha mẹ và con cái” [ 24 Tr 381]
Gia đình cũng là một trong những vấn đề giữ vị trí quan trọng trong Chủnghĩa Mác - Lê nin Khi đề cập đến vấn đề này, C Mác cho rằng… “ Hằng ngàytái tạo ra đời sống của bản thân mình, con ngời bắt đầu tạo ra những ngời khácsinh sôi, nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia
đình” [ 20 Tr 41]
Trang 7Trong ý nghĩa đó, khái niệm gia đình đợc nhìn nhận trên ba nội dung: Một
là, gia đình ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của xã hội loài ngời, con
ngời cùng với quá trình tái tạo ra bản thân mình thì đồng thời cũng tái tạo ra gia
đình Hai là, chức năng chính của gia đình là tái tạo, sinh sôi nảy nở con ngời Ba
là, gia đình đợc tạo ra bởi hai mối quan hệ chủ yếu: Quan hệ hôn nhân (Chồng
-vợ), quan hệ huyết thống (cha mẹ - con cái)
Tổ chức UNESCO của Liên hiệp quốc đã quyết định lấy năm 1994 là nămQuốc tế gia đình và khẳng định: Gia đình là một yếu tố tự nhiên và cơ bản, một
đơn vị kinh tế xã hội Gia đình đợc coi nh một giá trị vô cùng quý báu của nhânloại, cần đợc giữ gìn và phát huy Trên tinh thần đó, UNESCO đã đa ra định nghĩa:Gia đình là một nhóm ngời có quan hệ họ hàng, cùng chung sống và có ngân sáchchung Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi
về mọi mặt đợc pháp luật thừa nhận
Tổng hợp và toàn diện hơn, tác giả Lê Thi cho rằng: Khái niệm gia đình đợc
sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và huyếtthống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó và cùng chung sống (cha me, con cái, ông
bà, họ hàng nội ngoại) Gia đình có thể bao gồm một số ngời đợc gia đình nuôi ỡng, tuy không có quan hệ huyết thống Các thành viên gia đình gắn bó với nhau
d-về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hóa, tình cảm) Giữa họ có những điềuràng buộc mang tính pháp lý, đợc Nhà nớc thừa nhận và bảo vệ (đợc ghi rõ trongLuật Hôn nhân và gia đình nớc ta) Đồng thời, trong gia đình cũng có những quy
định rõ ràng về quyền đợc phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữacác thành viên [38 Tr 20, 21]
Luật Hôn nhân và gia đình nớc ta ban hành năm 2000 xác định: Gia đình làtập hợp những ngời gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thốnghoặc quan hệ nuôi dỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhautheo luật định Đây là quan niệm chính thống của Nhà nớc ta, vừa mang tính khoahọc vừa là cơ sở pháp lý để giải quyết những vấn đề liên quan đến gia đình
Trang 8Qua một số quan niệm gia đình của các tác giả có thể thấy rằng gia
đình đợc nhận diện ở các khía cạnh sau:
Một là, gia đình là thiết chế xã hội đợc hình thành trớc hết trên cơ sở quan hệ
hôn nhân Quan hệ hôn nhân là sự liên kết giữa hai cá nhân (nam - nữ) theo qui
định của pháp luật (hay nhà thờ), nhằm để chung sống với nhau và xây dựng gia
đình hạnh phúc Quan hệ hôn nhân đợc biểu hiện là một loại quan hệ xã hội gắnliền với quan hệ nhân thân, đó là quan hệ vợ chồng mà thực chất là kết hợp vớinhau để sinh sản và cùng nuôi dạy con cái Trong các xã hội có giai cấp, quan hệhôn nhân là một hiện tợng xã hội mang tính giai cấp Mỗi hình thái kinh tế - xãhội có các hình thái hôn nhân đặc trng và giai cấp thống trị dùng pháp luật để điềuchỉnh các quan hệ hôn nhân cho phù hợp với ý chí và lợi ích của giai cấp mình
Hai là, quan hệ huyết thống là quan hệ giữa cha mẹ và con cái, là sự tiếp tục
và là hệ quả tất yếu của quan hệ hôn nhân Nó chỉ phát triển tốt đẹp dựa trên quan
hệ tình yêu và hôn nhân chính đáng hợp pháp
Ba là, quan hệ nuôi dỡng là loại quan hệ hình thành giữa chủ thể và đối tợng
đợc nuôi dỡng, họ gắn bó với nhau về trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ, đợc họhàng ủng hộ và đợc pháp luật thừa nhận, bảo vệ
Có thể còn nhiều vấn đề phải tìm hiểu và nghiên cứu thêm nhng căn cứ vàotình hình chung của hôn nhân gia đình nớc ta, kế thừa những nghiên cứu và vănbản luật về gia đình, để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của môn Chủ nghĩa xãhội khoa học, theo chúng tôi: gia đình là một cộng đồng ngời đặc biệt đợc hìnhthành, phát triển và củng cố bởi hai mối quan hệ cơ bản là quan hệ hôn nhân vàquan hệ huyết thống Các thành viên trong gia đình có chung những giá trị vật chất
và tinh thần, có quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm về tài sản cũng nh ngời thân
mà mục tiêu cao nhất là phát triển kinh tế, nuôi dỡng các thành viên và xây dựnggia đình bền chặt
Chức năng cơ bản của gia đình
Gia đình là tế bào của xã hội, là “tổ ấm” thân yêu đem lại hạnh phúc cho mỗingời, là “cầu nối” giữa các thành viên trong gia đình và xã hội Chính vì vậy, gia
Trang 9đình có những chức năng đặc biệt mà mà ngoài nó ra không có một thiết chế xãhội nào có thể thay thế đợc Cụ thể, có thể kể ra những chức năng cơ bản sau:
Thứ nhất: Chức năng tái sản xuất con ngời.
Đây là chức năng đặc thù của gia đình, nó không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm,sinh lí tự nhiên của con ngời, mà còn đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của xãhội, quyết định đến mật độ dân c, số lợng, chất lợng của mỗi quốc gia
Tái sản xuất ra con ngời là một chức năng đặc biệt mà không một tổ chức xãhội nào có thể thay thế đợc Hiện nay, với sự phát triển của khoa học - kĩ thuật
đang mở ra xu hớng mới cho việc sinh sản là nhân bản con ngời ở một số nớc đangphát triển Tuy nhiên, việc nhân bản con ngời chẳng những không đợc khuyếnkhích mà còn bị nhân loại lên án gay gắt và xem đó là việc làm vô nhân đạo Dovậy, sự tái sản xuất con ngời trong gia đình vẫn chiếm u thế tuyệt đối, xét cả vềphơng diện sinh học lẫn phơng diện xã hội Bởi, tái sản xuất con ngời không đơnthuần chỉ là “tạo ra một con ngời sinh học” mà điều quan trọng và chủ yếu là sựnuôi dỡng và giáo dục để hình thành và phát triển một con ngời xã hội Nh vậy, táisẩn xuất con ngời theo nghĩa đầy đủ ấy, chỉ có thể thực hiện trớc tiên và chủ yếu
từ trong gia đình
Hiện nay ở Việt Nam, việc thực hiện chức năng tái sản xuất ra con ngời đangdiễn ra theo nhiều hớng khác nhau Một là, nhiều gia đình đã nhận thức đợc sự cầnthiết phải thực hiện kế hoạch hóa gia đình, mỗi gia đình chỉ nên có một đến haicon, vừa đảm bảo sức khỏe cho ngời phụ nữ, vừa có cơ hội để nuôi dỡng và giáodục con cái, vợ chồng có điều kiện nghỉ ngơi, giải trí và tham gia các hoạt động xãhội, học tập nâng cao trình độ, tạo điều kiện để có cuộc sống ấm no, tự do, hạnhphúc Hai là, một bộ phận các gia đình chịu ảnh hởng của phong tục tập quán cũ,với quan niệm “Trời sinh voi, trời sinh cỏ”, t tởng “nối dõi tông đờng” nên tỉ lệsinh con còn cao, bộ phận này thờng là các gia đình nông thôn miền núi, vùng sâu,vùng xa - nơi mà trình độ dân trí còn thấp Đây cũng là nguyên nhân của tìnhtrạng đói nghèo, suy dinh dỡng và thất học ở trẻ em
Trang 10Hiện nay, việc đổi mới thực hiện tái sản sinh ra con ngời, xây dựng qui môgia đình ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững là việc làm rấtcần thiết đối với gia đình và xã hội bởi việc tái sinh ra con ngời không chỉ thuầntúy là cho ra đời một đứa con mà nó liên quan đến nhiều vấn đề khác nh liên quan
đến sức khỏe của mẹ và con, đến sự tiêu dùng của gia đình, sự phát triển hài hòa,cân đối giữa tăng dân số với tăng trởng và phát triển kinh tế xã hội…
Thứ hai: Chức năng nuôi dỡng, giáo dục.
C Mác từng khẳng định rằng: Con ngời là một sinh vật - xã hội Nghĩa là nếumột đứa trẻ đợc sinh ra không đợc sống trong môi trờng xã hội không đợc hởngchế độ giáo dục của gia đình, xã hội thì đứa trẻ chỉ là một sinh vật thuần túy và sẽkhông trở thành một con ngời theo đúng nghĩa Bởi vậy, có thể khẳng định rằngquá trình chuyển biến đứa trẻ từ một thực thể sinh học thành một con ngời, đợcdiễn ra trong môi trờng xã hội, trong đó đặc biệt là chăm sóc, giáo dục gia đình
Và dù ở giai đoạn nào, thời đại nào thì giáo dục gia đình vẫn giữ vai trò quantrọng Nội dung của giáo dục gia đình tơng đối toàn diện, cả giáo dục tri thức vàkinh nghiệm, giáo dục đạo đức và lối sống, giáo dục nhân cách, thẩm mĩ, ý thứccộng đồng Nếu nh giáo dục nhà trờng, giáo dục xã hội không phân biệt giới tính,trí tuệ, sức khỏe, đặc điểm nhân cách, điều kiện hoàn cảnh sống của cá nhân thìgiáo dục gia đình tính đến tất cả các yếu tố đó Mặc khác, giáo dục gia đình làgiáo dục thông qua tình cảm, giáo dục thông qua lời ăn, tiếng nói, cách ứng xử th-ờng ngày của các thành viên trong gia đình Vì vậy, giáo dục gia đình mang tínhcá biệt đậm nét và thờng thì chỉ khi nào giáo dục gia đình đợc thực hiện tốt thìgiáo dục nhà trờng, giáo dục xã hội mới đợc phát huy
Thứ ba: Chức năng kinh tế.
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ: Xã hội loài ngời tồn tại và phát triển là do hailoại sản xuất quyết định Một mặt là sản xuất ra con ngời và mặt khác là sản xuất
ra của cải vật chất Nhận định này cho thấy vai trò to lớn của hoạt động kinh tế gia
đình đối với xã hội nói chung và kinh tế gia đình nói riêng
Trang 11Hoạt động kinh tế là chức năng cơ bản của gia đình Hoạt động này hiểu theonghĩa đầy đủ gồm có hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động tiêu dùng đểthỏa mãn các nhu cầu tối thiểu của mỗi thành viên và của gia đình.
Hiện nay, với chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại củanhà nớc, nhiều gia đình đã hăng hái lao động sản xuất, kinh doanh và vơn lên làmgiàu chính đáng, theo quan điểm “dân giàu thì nớc mạnh’ Do vậy, động viên cácgia đình nâng cao thu nhập, trên cơ sở đó định hớng cho sự tiêu dùng lành mạnh;tạo điều kiện vận dụng kiến thức khoa học, sử dụng các thành tựu công nghệ vàocông việc đổi mới để nâng cao chất lợng cuộc sống gia đình và góp phần giảiphóng phụ nữ; gia đình đợc nghỉ ngơi, hởng thụ hợp lí và chính đáng các thànhquả lao động của mình… là điều kiện thiết thực cho việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em
Thứ t: Chức năng cân bằng tâm - sinh lí.
Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lí, tình cảm là chức năng đặc thù củagia đình mà không có tổ chức xã hội nào có thể làm thay đợc Thực hiện tốt chứcnăng này, gia đình trở thành tổ ấm của mỗi con ngời Có thể xem sự thỏa mãn nhucầu về tâm, sinh lí, tình cảm của các thành viên trong gia đình là nhu cầu hiểnnhiên Thông qua các quan hệ tâm lí, tình cảm gia đình, mọi ngời tự nhận thứcmình về trách nhiệm, nghĩa vụ, vừa có lợi ích trong sự thống nhất của mái ấm gia
đình Mỗi thành viên của gia đình do đặc điểm về tính cách, giới tính, lứa tuổi,trình độ khả năng khác nhau, quá trình diễn biến tâm sinh lí, tình cảm khônggiống nhau và mối quan hệ với đối tợng cụ thể khác nhau mà mỗi ngời đón nhậnnhu cầu tâm lí, tình cảm khác nhau Do vậy, việc điều chỉnh các mối quan hệ theo
độ tuổi, trình độ hiểu biết đi đến sự hài hòa tâm lí, tình cảm trong gia đình là mộtviệc làm rất cần thiết, đặc biệt là ở trẻ em
Tóm lại, gia đình là thiết chế đa chức năng ở từng nơi và các giai đoạn lịch
sử khác nhau, nội dung và vị trí của mỗi chức năng có sự biến đổi phù hợp Thựchiện tốt các chức năng gia đình là cơ sở bền vững cho việc chăm sóc, bảo vệ trẻ
em, tạo điều kiện cho trẻ em đợc phát triển toàn diện
1.1.2 Trẻ em và vị trí của trẻ em trong sự phát triển.
Trang 12* Trẻ em.
Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là tơng lai của đất nớc, là lớp ngời kế tục
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Chính vì vậy, trẻ em là đối tợng đợc rấtnhiều ngời quan tâm Tuy nhiên, việc xác định độ tuổi trẻ em sao cho phù hợp vớiphong tục, tập quán, luật pháp Việt Nam và Công ớc quốc tế là một việc làm cầnthiết
Dới góc độ Khoa học pháp lí, Thợng tá,TS Nguyễn Hữu Duyệt chorằng, điểm qua một số qui định trong các bộ luật khác nhau của hệ thống pháp luậtViệt Nam, có thể rút ra nhận xét chung là: Bất kì ngời nào cũng chỉ thừa nhân đợccoi là chủ thể tham gia các quan hệ pháp lí phải đến độ tuổi nhất định và độ tuổi
đó là 18 tuổi Nh vậy, theo tác giả trẻ em là những ngời dới 18 tuổi Còn với GSPhạm Tất Dong, giới hạn để xác định phạm trù trẻ em ở Việt Nam là dới 16 tuổi,vì hết 15 tuổi đội viên Thiếu niên tiên phong có thể chuyển lên đoàn viên Thanhniên Cộng sản Hồ Chí Minh Do vậy, dới 16 tuổi thì đợc coi là trẻ em
Theo điều 1 của công ớc Liên hợp quốc về quyền trẻ em: “Trẻ em có nghĩa làmọi ngời dới 18 tuổi” [3, tr26]
Tóm lại, có nhiều ý kiến khác nhau trong việc xác định tuổi trẻ em, song cáctác giả đều đi đến thống nhất: “Trẻ em là những công dân dới 18 tuổi, trong đóbao gồm cả vị thành niên- giai đoạn cuối của trẻ em” [46, tr4]
Để hiểu rõ hơn về khái niệm trẻ em cần phân tích đặc điểm tâm lí của trẻ.Tâm lí chính là sự phản ánh thế giới khách quan bằng hoạt động của bản thânmọi ngời Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khẳng định, thế giới khách quan là tấtcả những gì tồn tại ngoài ý thức con ngời Các hiện tợng tâm lí nh cảm giác, ý thứccủa chúng ta chỉ là hình ảnh của thế giới bên ngoài
Ngay từ khi lọt lòng, trẻ bắt đầu bằng các quan hệ với mẹ hay ngời nuôi trẻ,dần dần bằng các hoạt động giao tiếp với các thành viên khác trong gia đình, rồi
đến bạn bè, xóm làng, thầy cô… trẻ tiếp thu nếp sống hàng ngày, thói quen, cách
Trang 13giáo dục của gia đình, nhà trờng và xã hội… biến thành vốn sống, kĩ năng, ý chí,tình cảm, thái độ… của riêng trẻ, đó chính là quá trình hình thành tâm lí của trẻ.Khi còn nhỏ, mối quan hệ chủ yếu của trẻ là gia đình và ngời trẻ tiếp xúc trựctiếp đầu tiên là mẹ Trẻ phụ thuộc gần nh hoàn toàn vào bên ngoài, vì vậy, cần có
sự đáp ứng về vật chất và chăm sóc của cha mẹ Sự gần gũi và chăm sóc của gia
đình, trực tiếp là cha mẹ sẽ tạo nên cảm giác an toàn và tin tởng ở trẻ ở giai đoạnnày, nếu trẻ không đợc đáp ứng những nhu cầu của mình thì sẽ có những biểu hiện
nh nổi cáu, lăn ra khóc, đạp phá hoặc gào thét… Sự đòi hỏi khắt khe ấy của trẻ
đơn giản chỉ là muốn đạt đợc ý muốn trong thế giới ban đầu mà trẻ cảm nhận làthuộc về riêng mình
Dần dần, trẻ mở rộng mối quan hệ giao tiếp ra bên ngoài nh thầy cô, bạn bè ởtrờng, những anh em, họ hàng ở khu phố, lối xóm… Lứa tuổi này trẻ thờng rất háohức và học nhiều điều, bắt chớc ngời lớn tuổi, xây dựng cho mình những thần t-ợng, những hình mẫu lí tởng để phấn đấu theo Các em là những ngời sống tìnhcảm, vô t, trong sáng, tin yêu ở cha mẹ, ngời lớn, thầy cô, thích đợc khen ngợi,khuyến khích và chiều chuộng
Khi bớc sang tuổi dậy thì, các em đã bớc gần đến ngỡng cửa của ngời lớn ởcác em xuất hiện một ấn tợng đậm nét “mình không còn là trẻ con nữa” và thờngphóng đại khả năng của mình trong khi các em không muốn thừa nhận điều này.Những biểu hiện “xấc xợc”, “bất cần”, tỏ vẻ anh hùng một cách không cần thiếthay bớng bỉnh vô căn cứ cũng rất dễ xuất hiện Những xung đột trên của các em
đến với ngời lớn sẽ đợc giải quyết ổn thỏa nếu cả hai phía đều có sự hiểu biết,thông cảm lẫn nhau
Mặt khác, ở lứa tuổi này các em có sự phát triển về chất trong sinh lí, sự pháttriển cơ thể và sự chín muồi giới tính đã nhanh chóng tạo ra “cuộc cách mạng sinhlí”, điều này gây ra nỗi sợ hãi, lo lắng và sự căng thẳng ở các em Vì vậy, bố mẹlúc này không chỉ đóng vai trò là ngời cha, ngời mẹ mà còn là ngời bạn chia sẻ và
đồng cảm với những xung đột tâm lí mà trẻ đang gặp phải
Trang 14Tóm lại, ở trẻ em vì thần kinh hng phấn chiếm u thế, ức chế rất kém nên dễdàng bị xúc động, kích động, hành vi không ổn định, dễ hành động theo cảm tính
mà bản thân không kịp nhận biết hành động đúng, sai, có lợi, có hại nh thế nào.Bởi vậy, bố mẹ cần định hớng cho trẻ một cách tế nhị, không áp đặt ý muốn chủquan Ngời lớn cần tôn trọng ớc muốn không phụ thuộc của trẻ; đồng thời cần chochúng biết giới hạn của mọi hành vi nhằm giữ an toàn cho chúng
* Vị trí của trẻ trong sự phát triển của xã hội.
Không thể hình dung đợc thế giới sẽ buồn tẻ nh thế nào, sẽ hoang mang tuyệt vọng đến mức nào nếu không có trẻ em - đó là lời phát biểu hùng hồn của
GS: Từ Giấy khi bàn về vấn đề gia đình và trẻ em Trẻ em chính là nguồn hi vọngvì chúng là tơng lai của đất nớc “ Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai” - khẩu hiệu
đó đã và đang trở thành phơng châm hành động của nhiều quốc gia trên thế giới Thứ nhất: Trẻ em trở thành vấn đề đợc cả thế giới quan tâm
Chúng ta biết rằng, ngay từ khi mới thành lập, một trong những vấn đề đợcLiên hiệp quốc quan tâm đó chính là hạnh phúc và quyền của trẻ em Ngày11/12/1946 Đại Hội đồng đã thành lập Qũy Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF)
và ngày nay nó trở thành nguồn viện trợ quốc tế chính cho trẻ Trong Tuyên ngônthế giới về Quyền con ngời, Liên hiệp quốc đã tuyên bố rằng trẻ em có quyền đợc
chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt T tởng này cũng đợc nêu ra trong bản Tuyên ngôn
Giơnevơ 1924 về Quyền trẻ em Tuyên ngôn 1959 quả quyết rằng loài ngời có
trách nhiệm trao cho trẻ những cái tốt đẹp nhất.
Ngày 20/11/1989, Công ớc về quyền trẻ em do ủy ban Liên hiệpquốc về nhân quyền soạn thảo đợc Đại Hội đồng Liên hiệp quốc chính thức thôngqua Công ớc có hiệu lực và trở thành luật quốc tế từ ngày 02/09/1990 Tính đếnnay đã có 195 quốc gia tán thành hoặc phê chuẩn công ớc, nhiều hơn bất kì hiệp -
ớc nào về nhân quyền trong lịch sử
Trang 15Ngày 20/02/1990, Việt Nam trở thành quốc gia thành viên của Công ớcQuốc tế về quyền trẻ em, là một trong những nớc đầu tiên ở Châu á phê chuẩncông ớc này.
Thứ hai: Vấn đề trẻ em ở Việt Nam.
ở Việt Nam, vấn đề trẻ em đợc quan tâm từ rất sớm Ngay từ thờiPhong kiến, Nhà nớc phong kiến Việt Nam đã lên tiếng bảo vệ trẻ em trong phápluật phong kiến Dới thời Lê Sơ (thế kỉ XV), việc cứu trợ của Nhà nớc cho các đốitợng đặc biệt khó khăn trong đó có trẻ em đợc pháp luật qui định: “Xã, Quan phảichăm lo trẻ đau ốm, không ai nuôi nấng, nằm ở đờng xá, cầu điếm, phải dựng lều,chăm sóc cơm cháo, thuốc men cho họ.” [54, tr284 - 289] Đặc biệt, Bộ luật đã đềcập đến việc bênh vực và bảo vệ phẩm giá của các em gái và trẻ mồ côi từ 15 tuổitrở xuống “Con gái cũng nh trẻ mồ côi, tự bán mình mà không có ai bảo lãnh thìngời mua cũng nh ngời viết văn khế, ngời làm chứng thấy đều xử tội xuy trợng nhluật (đàn bà đánh 50 roi, đàn ông đánh 80 trợng đòi lại tiền cho ngời mua và hủy
bỏ văn khế [54, tr121]
Nh vậy, vấn đề trẻ em từ lâu ở nớc ta đã đợc coi trọng Ngày nay, sự quantâm của Đảng và Nhà nớc về vấn đề trẻ em không chỉ thể hiện ở quan điểm, chínhsách mà còn thể hiện ở việc làm cụ thể nh lập quĩ Nhi đồng, thành lập cơ quanchuyên trách: ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam có tổ chức bộ máy hoạt
động từ ủy ban trực thuộc Chính phủ xuống đến các cấp địa phơng Sự phát triểnngày càng lớn mạnh của tổ chức đã thể hiện bớc phát triển mới cao hơn, toàn diệnhơn nhằm tăng cờng lãnh đạo công tác chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em của
Đảng và Nhà nớc ta- mặt nào đó đã khẳng định vị trí, tầm quan trọng của trẻ em
đối với sự phát triển của đất nớc
Đối với gia đình, trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là nhân tố củng cố
tình cảm vợ chồng, là niềm hy vọng, an ủi, khích lệ, là ngời nối dõi tông đờng, kếtục sự nghiệp, kế tục truyền thống tốt đẹp của gia đình và dòng họ; là những ngời
có trách nhiệm và bổn phận chăm sóc, phụng dỡng cha mẹ, ông bà những lúc về
Trang 16già Khi gia đình đảm bảo cho trẻ em đợc hởng đầy đủ các quyền cơ bản, trẻ em sẻ
có nhiều cơ hội điều kiện thuận lợi để phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ và tinhthần, tự phấn đấu, rèn luyện để trở thành con ngoan, trò giỏi Khi ấy, trẻ em sẽ làniềm vui, niềm tự hào, niềm hạnh phúc lớn của mọi gia đình, làm cho cha mẹ vàcác thành viên trong gia đình yên tâm, tin tởng vào con cái; nh thế cha mẹ cónhiều thời gian hơn để phát triển kinh tế, cải thiện chất lợng cuộc sống của mọithành viên trong gia đình, làm cho gia đình ngày càng no ấm, bình đẳng, tiến bộ
và hạnh phúc
Đối với xã hội và đất nớc, trẻ em là mầm xanh của đất nớc, là ngời kế tục
sự nghiệp của lớp lớp cha anh đi trớc, là ngời làm chủ tơng lai, là nguồn bổ sung tựnhiên nguồn lực lao động Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò củatrẻ em Ngời đã từng khẳng định “Non sông Việt Nam có trở nên tơi đẹp haykhông, dân tộc Việt Nam có bớc tới đài vinh quang để sánh vai với các cờng quốcnăm châu đợc hay không, chính là nhờ một phần lớn công học tập của các cháu”.[25, tr222]
Ngày nay trong quá trình CNH, HĐH, Đảng cộng sản Việt Nam chủ trơnglấy việc phát huy nguồn lực con ngời làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh
và bền vững Trong đó, việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em - những chủ nhân tơng lai đấtnớc luôn đợc coi là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lợc của toàn đảng toàn dân và củamọi gia đình
1.2 vai trò của gia đình trong việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em Gia đình không những là nơi sinh ra mà còn là môi trờng tác độngmạnh mẽ đến sự phát triển nhân cách của cá nhân ở tuổi ấu thơ, ảnh hởng của gia
đình gần nh tuyệt đối, gia đình đợc xem nh trờng học đầu tiên của trẻ Chính vìvậy, trong cuộc sống hàng ngày, những hành động của các thành viên trong gia
đình sẽ đợc các em học hỏi và định hớng giá trị cho mình sau này Lớn lên, ở lứatuổi thiếu nhi và vị thành niên, quan hệ của trẻ không bó hẹp trong gia đình, trẻ
Trang 17bắt đầu tiếp xúc với môi trờng mới nh trờng học, các tổ chức xã hội Chịu ảnh ởng của xã hội, bạn bè, thầy cô giáo ngày càng tăng nhng ảnh hởng của gia đìnhvẫn đặc biệt quan trọng trong việc hình thành đặc điểm cá tính của trẻ, năng lực và
t cách cả mặt tốt lẫn mặt xấu Đạo đức, lối sống của gia đình vẫn là yếu tố ảnh ởng trực tiếp và thờng xuyên đến nhân cách của các em Đạo đức, lối sống đókhông phải là cái gì trừu tợng mà đợc thể hiện cụ thể qua cách c xử đúng mực, phùhợp với thuần phong mĩ tục của dân tộc, trong quan hệ giữa các thành viên gia
h-đình và trong quan hệ với hàng xóm láng giềng
Những gia đình thiếu gơng mẫu về đạo đức, lối sống hay có những hành
vi đánh chửi nhau, gia đình không hòa thuận, không tôn trọng lẫn nhau, hoặctrong những gia đình có các thành viên sống buông thả, sa đọa, rợu chè, cờ bạc,trộm cắp… trái với các chuẩn mực xã hội sẽ là điều kiện, là mảnh đất để nảy nở ởcác em những t tởng bi quan, tiêu cực và dễ dẫn tới những hành vi sai lệch, phạmtội… Nh vậy , những hoạt động phong phú, đa dạng của cuộc sống gia đình đã tác
động trực tiếp, thờng xuyên, liên tục tới trẻ
Chăm sóc, bảo vệ trẻ em của gia đình có tính đa dạng và nhiều chiều Trớchết, là ảnh hởng của cá nhân với cá nhân nh cha hay mẹ đối với con cái, ông hay
bà đối với cháu Thứ hai, là ảnh hởng của tập thể gia đình: sự liên kết gắn bó vớinhau qua lối sống, nếp sống, văn hóa, truyền thống gia đình tác động đến cánhân Do đó, gia đình sẽ đem lại tính đa dạng trong kiến thức cung cấp cho trẻ:cách c xử, kinh nghiệm học tập, đạo đức, t cách, lối sống, phơng pháp làm ăn, sựhiểu biết xã hội… Mặt khác, phơng pháp bảo vệ, chăm sóc trẻ em đa dạng và cónhững đặc thù riêng không chỉ bằng lời nói mà còn bằng thái độ, tình cảm, nêu g-
ơng, thuyết phục; không chỉ bằng lí thuyết mà còn bằng việc làm cụ thể, hành
độngcụ thể để trẻ dễ hiểu, dễ biết và dễ làm theo
Dân gian ta từng có câu: “Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữanhà rồi mới sinh ông” Cha mẹ chỉ thực sự đợc làm cha làm mẹ khi sinh ra đợc đứacon yêu dấu của mình và ông bà cũng vậy chỉ khi thực sự có cháu rồi ông bà mớithực sự đợc làm ông, làm bà Ngay từ khi mới lọt lòng, trẻ em đợc lớn lên trong
Trang 18vòng tay yêu thơng của cha mẹ, sự dạy dỗ của ông bà…Chính gia đình là nơichăm sóc, bảo vệ trẻ tốt nhất mà không có một tổ chức, cá nhân nào có thể thaythế đợc.
Trong một tổ chức gia đình, vai trò của mỗi thành viên đối với sựchăm sóc và bảo vệ trẻ em thể hiện ở những khía cạnh khác nhau
1.2.1 Vai trò của cha mẹ trong việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em.
Trẻ em là sản phẩm của tình yêu vợ chồng, của hôn nhân Chính vìvậy, quan hệ giữa cha mẹ - con cái đó là một mối quan hệ đặc biệt, mối quan hệthiêng liêng, máu mủ, ruột rà Có thể nói, từ khi trẻ đang ở trong bụng mẹ cho đếnlúc trởng thành, cha mẹ là ngời có ảnh hởng lớn nhất
Hơn ai hết, cha mẹ là ngời biết tính nết con mình rõ nhất, biết đợc u điểmnào cần phát huy, nhợc điểm nào cần phải uốn nắn, nhắc nhở, biết đợc đặc điểmgiữa con trai và con gái cần có biện pháp giáo dục khác nhau Khoa học đã chứngminh, ở giai đoạn đầu đứa trẻ tiếp thu ngôn ngữ, văn hóa, kinh nghiệm không phảibằng lí trí và t duy khái niệm mà đơn giản chỉ bằng khả năng bắt chớc thông qua
âm thanh cử chỉ, tình cảm của những ngời xung quanh, trớc hết là cha mẹ, nhữngngời dẫn dắt trẻ em thích nghi dần với đời sống xã hội
Ngời mẹ, bằng những dòng sữa ngọt lành, bằng rời ru giọng nói ân tình,
ánh mắt dịu hiền, nụ cời hiền hậu vị tha, nhẹ nhàng, bằng những đức tính kiênnhẫn, chịu đựng cần cù, chịu thơng chịu khó… mẹ đã gây dựng cho trẻ tình cảmyêu thơng con ngời, yêu đất nớc, yêu lao động… Đó là cơ sở là nền tảng cho sựhình thành nhân cách và năng khiếu của trẻ sau này
Có thể nói, niềm hạnh phúc lớn lao mà mỗi ngời đợc hởng ngay từ khi cấttiếng khóc chào đời, là tình yêu của ngời mẹ Ngay từ lúc đang còn nằm trong nôi,bằng những lời hát ru mang bản sắc văn hóa của dân tộc, ngời mẹ đã tuyền chocon tất cả tình yêu thơng, sự quan tâm chăm sóc đặc biệt, bởi vì hát ru là một hoạt
động có giá trị lớn lao đối với trẻ Có ý kiến từng cho rằng: hành động hát ru mangtính tổng hợp cao, bao hàm trong đó nhiều mặt nghệ thuật của giáo dục, trongtiếng hát ru có cả mùi vị của dòng sữa thơm lành gửi gắm trong đó biết bao tình
Trang 19cảm sự yêu thơng lớn lao của ngời mẹ Dòng âm thanh ân tình ấy của ngời mẹgiành cho con trẻ qua năm tháng dần dần giúp trẻ cảm nhận đợc nét đẹp của vănhóa, gia đình, dân tộc, đồng thời hình thành ở trẻ những năng khiếu thẩm mĩ, hớngtrẻ đến cái hay cái đẹp tạo nên niềm tin, lòng nhân ái… đó là những phẩm chất cơbản đạo đức con ngời.
Tuy nhiên, để trẻ phát triển đợc hài hòa, trẻ cần có sự dìu dắt chỉ bảo củangời cha Cùng với ngời mẹ, ngời cha giúp con hình thành nhân cách và những giátrị văn hóa và tinh thần của gia đình Thờng thì ở lứa tuổi thiếu nhi, vị thành niên,vai trò của ngời cha ngày càng có ảnh hởng lớn đến sự hình thành nhân cách concái
Trong gia đình, ngời cha thờng là trụ cột Với sự vững chãi, cứng rắn,
kỷ cơng, uy thế nghiêm nghị, ngời cha làm cho con biết kính nể Không nhữngthế, những tính cách ấy của ngời cha có ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc sốnghàng ngày, giúp hình thành ở trẻ sự quyết đoán trong công việc, niềm tin vào bảnthân, ý chí nghị lực để vợt qua những khó khăn trong cuộc sống và vơn tới những -
ớc mơ hoài bão lớn lao Dân gian ta từng có câu: Con có cha nh nhà có nóc.Tính cách của ngời cha là sự bù trừ tính cách của ngời mẹ, giữ đợc sự cân bằngtrong giáo dục đối với con cái: Cha cứng rắn, mẹ hiền dịu, tình thơng của mẹ dễlàm cho con cái gần gũi, sự cơng nghị vững chãi của ngời cha làm cho con mạnh
mẽ, cứng rắn hơn ở một mức độ nào đó thì vai trò của ngời cha là quan trọng hơnvì thờng thì ngời cha có trình độ văn hóa cao hơn ngời mẹ, hiểu biết rộng hơn, cótầm nhìn xa hơn, có ảnh hởng lớn đối với con cái Quan hệ của ngời cha đối với xãhội cũng rộng lớn hơn: quan hệ họ hàng, làng xóm, quan hệ làm ăn… đã làm chongời cha có uy thế, địa vị, là chỗ dựa vững chắc cho con cái Tuy nhiên, đối với gia
đình trí thức, do trình độ văn hóa, nghề nghiệp của cha mẹ phần lớn ngang nhaunên vai trò của cha mẹ đối với con cái gần nh là tơng đơng, cả cha và mẹ đều có
ảnh hởng đến con cái về mọi mặt
Trang 20Đối với những trẻ kém may mắn, vì một lí do nào đó mà chỉ có bốhoặc mẹ thôi thì sự chăm sóc bảo vệ sẽ không đợc trọn vẹn và đó sẽ là một thiệtthòi lớn cho các em.
Cha mẹ chính là những ngời trẻ tiếp xúc thờng xuyên trong cuộc sốnghàng ngày Chính tình yêu hạnh phúc của cha mẹ vừa là phơng thức giáo dục vừa
là nội dung đạo đức, đạo lí, nhân cách đối với trẻ Đồng thời, bằng những hoạt
động, những phấn đấu của cha mẹ trong cuộc sống cũng cung cấp những kinhnghiệm sống, kĩ năng hành động đã tĩch lũy đợc trong suốt cuộc đời cho trẻ
Tuy nhiên, để có thể bảo vệ và chăm sóc trẻ có hiệu quả, thì vai trò củangời làm cha làm mẹ là phải trang bị cho con cái những kiến thức, kĩ năng cầnthiết cho cuộc sống, tạo cho trẻ có một đời sống tinh thần lành mạnh, lòng nhân ái,
vị tha, biết quan tâm, chia sẻ, cảm thông đối với những ngời kém may mắn hơn, cótrách nhiệm với gia đình, cộng đồng, xã hội… Muốn thế, cha mẹ phải nêu cao vaitrò gơng mẫu của mình từ lời ăn, tiếng nói, suy nghĩ, t tởng, hành động, việc làm,luôn luôn làm tròn nghĩa vụ của ngời làm cha, làm mẹ, có trách nhiệm trớc cuộcsống gia đình, trớc cuộc đời con cái Chỉ nh thế cha mẹ mới có quyền uy chămsóc, dạy bảo con cái và con cái mới noi gơng theo
1.2.2 Vai trò của các thành viên khác trong việc chăm sóc và bảo vệ
trẻ em.
* Vai trò của ông bà
Sau cha mẹ thì ông bà có vai trò lớn đến sự phát triển của trẻ em Với suynghĩ của ngời phơng Đông: “Sống để đức cho con cháu” Cái đức của ông bà làyếu tố góp phần làm nên giá trị đạo đức nhân cách của trẻ Tình cảm của ông bàdành cho con cháu là tình cảm thiêng liêng, cao qúy Ông bà thờng là ngời hay kểchuyện cổ tích, đọc thơ ca cổ, dạy bảo bao điều hay lẽ phải, khuyên bảo các cháu,dạy bảo cho các cháu biết kính trên nhờng dới, lễ phép với mọi ngời, sống hòa nhãvới bạn bè và những ngời xung quanh Ông bà là những ngời có nhiều kinh
Trang 21nghiệm trong cuộc sống, có nhiều thời gian nghỉ ngơi nên có điều kiện ngần gũi,hớng dẫn cho các cháu vui chơi, giải trí, giữ gìn vệ sinh…
Ngày nay, với xu hớng phát triển của xã hội thì gia đình hạt nhân đangngày càng chiếm tỉ lệ lớn Nhng dù là gia đình hạt nhân hay gia đình nhiều thế hệthì vai trò của ông bà đối với trẻ vẫn đợc khẳng định Việc quan tâm bảo vệ, chămsóc của ông bà đối với con cháu không hoàn toàn tùy thuộc vào ông bà có ở cùnggia đình hay không mà nó còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa Thực tế chothấy, vai trò của ông bà đối với các cháu còn tùy thuộc vào sự mẫu mực của bố mẹcác cháu đối với ông bà Nếu cha mẹ không làm tròn bổn phận của một ngời con,thiếu sự chăm sóc phụng dỡng ông bà, coi thờng, bỏ rơi ông bà sẽ làm cho vai tròcủa ông bà đối với cháu giảm đi và cũng không ít trờng hợp ông bà gia trởng độc
đoán, can thiệp quá mức làm chạm lòng tự trọng của con cháu hay t tởng thơ ơ,lãnh đạm với con cháu… tất cả đều ảnh hởng không nhỏ đến vai trò, uy tín của
ông bà đối với con cháu
* Vai trò của anh, chị, em và dòng họ đối với việc bảo vệ và chăm sóc trẻ
Là những thành viên trong gia đình, xét về độ tuổi thì anh, chị, em trong
một nhà cũng đang là độ tuổi trẻ em ở đây nói đến vai trò của anh, chị, em đốivới việc bảo vệ, chăm sóc trẻ là nói đến vai trò của trẻ em lớn tuổi hơn đối với trẻ
em nhỏ tuổi hơn Thông thờng vai trò của anh, chị trong việc chăm sóc, bảo vệ trẻtùy thuộc vào nề nếp gia phong của gia đình và bản thân gơng mẫu của anh, chị.Anh, chị chăm sóc, bồng bế em, cho em ăn, chơi cùng em, dạy em học… Trongnhững gia đình khi cha mất, con trởng đợc trao quyền thì ngời con ấy đảm đơngtrách nhiệm khuyên bảo, nuôi dạy các em, lo cho các em đến lúc dựng vợ gảchồng Anh, chị vẫn có ảnh hởng, có vai trò lớn trong việc chăm sóc, bảo vệ chotrẻ em khôn lớn, phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần Tuy nhiên, cùng vớithời gian, vai trò của anh, chị sẽ thay đổi cùng với sự lớn lên trởng thành của cácem
Trang 22Ngoài vai trò của cha mẹ, ông bà, anh chị, em thì trẻ em ít nhiều còn chịu
ảnh hởng của dòng họ Câu tục ngữ: “Chim có tổ, ngời có tông” phần nào đã nóilên vai trò của dòng họ đối với việc chăm sóc con cái Dòng họ có vai trò, sứcmạnh to lớn trong chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ, dòng họ là nơi con cháu nơng tựacậy nhờ, khi gặp tai nạn, rủi ro: “Sảy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì” Dòng họ nếubiết phát huy truyền thống đạo đức cao đẹp của mình, nếu dòng họ có nhiều ngờithành đạt thì đó chính là tấm gơng để con cháu noi theo và kế tục sự nghiệp củadòng họ mình
Tóm lại, sự phát triển của trẻ em phụ thuộc rất lớn vào công tác chăm sóc vàbảo vệ trẻ em của gia đình Gia đình đầm ấm, hòa thuận, hạnh phúc thì giáo dục,chăm sóc trẻ em sẽ đợc đảm bảo, trẻ em có điều kiện để phát triển toàn diện hơn.Ngời ta vẫn thờng nói “Giỏ nhà ai, quai nhà nấy”, điều này nói lên ảnh hởng lớncủa việc chăm sóc giáo dục trẻ của gia đình Vì tơng lai con em chúng ta - nhữngmầm xanh của đất nớc, mỗi thành viên trong gia đình cần thực hiện tốt nhiệm vụchăm sóc, bảo vệ trẻ em để trẻ đợc lớn lên trong tình yêu thơng, đợc phát triển mộtcách toàn diện để trở thành những công dân có ích cho gia đình, cho quê hơng, đấtnớc
1.3 những nội dung cơ bản của việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em trong gia đình.
Chăm sóc trẻ em đó chính là “các hoạt động nhằm nhận biết và đáp ứng cácnhu cầu về vật chất và tinh thần để đảm bảo s phát triển hài hòa nhân cách của trẻ
em nh: nhu cầu về ăn, mặc, học hành, vui chơi, giải trí, nhu cầu đợc thơng yêu,chăm sóc của gia đình, xã hội, nhu cầu đợc tôn trọng”… [37, tr 21]
Bảo vệ trẻ em tức là bảo đảm cho trẻ em đợc thực hiện các quyền để trẻkhông bị thiệt thòi không bị ngời khác vi phạm các quyền đã đợc pháp luật quy
định Mặt khác, bảo vệ trẻ em còn là hoạt động nhằm ngăn ngừa, không để trẻ emrơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (ví dụ nh: Phòng ngừa để trẻ em không bịkhuyết tật, mồ côi, bị xâm hại tình dục, nghiện ma túy, lang thang, cơ nhỡ…)
Trang 23Việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em của gia đình có thể coi là biện pháp, là điềukiện để các em phát triển về mọi mặt sinh học, tâm lý, xã hội, do đó bảo vệ, chămsóc trẻ em có nghĩa là đảm bảo cho trẻ phát triển toàn diện cả thể chất lẫn tinhthần Trong thời kỳ đổi mới, theo tinh thần của Đảng “chăm sóc bảo vệ, trẻ em làtập trung vào thực hiện quyền trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em đợc sống trong môitrờng an toàn và lành mạnh Phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo
đức Trẻ mồ côi, bị khuyết tật, sống trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn có cơ hộihọc tập và vui chơi” [ 11, tr, 107] Trên tinh thần ấy, bảo vệ, chăm sóc trẻ em baogồm các nội dung cơ bản sau:
1.3.1 Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe trẻ em.
Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi ngời Có sức khỏe, con ngời mới có thểthực hiện đợc các chức năng và nhiệm vụ khác của mình Vì vậy, chăm sóc bảo vệsức khỏe là một việc làm quan trọng trong chiến lợc phát triển nguồn lực quốc gia
và xã hội
Theo tổ chức y tế thế giới: Sức khỏe là một trạng thái thoái mái cả về thể
chất, tinh thần và xã hội chứ không đơn thuần chỉ là một trạng thái không bệnh tật Nh vậy, nói đến sức khỏe là nói đến sự phối hợp hài hòa cả ba yếu tố: thể chất,
tinh thần và xã hội, đồng thời tác động qua lại giữa chúng với nhau hợp thành sứckhoẻ con ngời - một thực thể tâm – sinh học – xã hội.Đó là:
Thứ nhất,sức khỏe thể chất :Một mặt đợc thực hiện qua thể hình nh số đo,
chiều cao, cân nặng và tỉ lệ giữa các số đo này; mặt khác sức khỏe thể chất cònbiểu hiện qua trạng thái cơ thể thông qua các số đo về sức mạnh, sức bền , sự dẻodai và khéo léo của cơ thể đối với những nhu cầu vận động cơ bắp, trong điều kiệnsống và lao động
Thứ hai, Sức khỏe tinh thần: Thể hiện ở khả năng xứ lý thông tin một
cách nhanh và chính xác Việc đánh giá sức khỏe tinh thần là một việc làm tơng
đối khó, ngời ta thờng dựa vào một số chỉ số nh chỉ số thể hiện sự nhạy bén, sức
Trang 24chịu đựng và cảm xúc, chỉ số thông minh thể hiện ở năng lực học tập, t duy trừu ợng, sự linh hoạt và khả năng thích ứng trong mọi tình huống.
t-Thứ ba, Sức khỏe xã hội: Là một bộ phận của sức khỏe thể hiện ở khả năng
hòa nhập và tác động của cá nhân vào môi trờng Sức khỏe xã hội chỉ thể hiệntrong mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng và xã hội Thực tế, có những ngờimặc dù trí lực tốt, đợc coi là thông minh nhng không dám, hoặc ngại xuất hiện tr-
ớc đám đông, đứng trớc đám đông họ thờng run sợ, mất bình tĩnh, thiếu tự tin, ờng không hoàn thành đợc những công việc mà bình thờng họ vẫn làm tốt thì sứckhỏe xã hội của ngời này đợc xem là hạn chế
th-Sức khỏe tốt hay xấu phụ thuộc phần lớn vào gia đình, đặc biệt là ngời mẹ lúcmang thai Ngời mẹ đợc chăm sóc thai nghén tốt là đã tạo nền tảng cho sức khỏetrẻ em đợc phát triển tốt Chế độ ăn uống, sinh hoạt, tâm trạng buồn vui, lo sợ,bệnh tật của những bà mẹ đang mang thai đều có ảnh hởng sâu sắc đến sự pháttriển và sức khỏe của đứa con trong bụng hay việc nuôi con bằng sữa mẹ sau này
Do vậy, khi mang thai ngời mẹ cần đợc quan tâm về thể chất và tinh thần, đợc ănuống đủ chất hợp vệ sinh, bồi dỡng cho cơ thể thai nhi phát triển khỏe mạnh, đảmbảo cho trẻ không bị suy dinh dỡng từ trong bụng mẹ Ngoài ra, khi mang thai đểtheo dõi sự phát triển của thai nhi, ngời mẹ nên thực hiện khám thai theo định kỳ ítnhất 3 lần trong thời kỳ thai nghén Đồng thời, cần đựơc tiêm chủng theo đúng kếhoạch của cơ sở y tế, thực hiện các quy định của thầy thuốc về khám, chữa bệnh ởtrẻ em
1.3.2 Chăm sóc,bảo vệ trẻ em về tính mạng, nhân phẩm và danh dự.
Nội dung của việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em về tính mạng, nhân phẩm , danh
dự đã đợc quy định rất rõ trong các văn bản pháp lý quốc gia quan trọng nhất vàmang tính pháp lý chặt chẽ, buộc mọi ngời phải thực hiện
Thứ nhất, đó là tôn trọng nhân cách và phẩm giá của trẻ, tôn trọng quyền đợc
làm ngời của trẻ Không đợc lạm dụng sức lao động, đánh đập, mắng nhiếc, xỉ vảtrẻ, không đợc sử dụng ngôn ngữ “phi văn hóa” để làm nhục trẻ, hay lợi dụng trẻ
em để trục lợi… tra tấn, đối xử, trừng phạt độc ác, vô nhân đạo hay làm mất phẩm
Trang 25giá của trẻ, trẻ bị tớc quyền tự do, bị bắt bớ giam cầm một cách hợp pháp hoặc tùytiện …là phạm tội xâm phạm đến nhân phẩm, tính mạng của trẻ.
Chúng ta biết rằng, trẻ em là những ngời có tâm hồn còn non nớt Vì thế, lời
ăn tiếng nói, ngôn ngữ… của mọi ngời đều tác động mạnh mẽ đến tâm hồn củatrẻ Ngôn ngữ thông minh, hiền hòa sẽ tạo nên ở trẻ niềm vui, sự che chở, khích lệ,
động viên, an ủi Đi đôi với ngôn ngữ là thái độ, cử chỉ của những ngời làm cha,làm mẹ nó bổ sung cho ngôn ngữ, làm tăng hiệu quả cho ngôn ngữ Sự vuốt ve, âuyếm, lời nói dịu dàng của mẹ, sự nâng đỡ của ngời cha là những yếu tố rất cầnthiết và quan trọng trong quá trình chăm sóc, bảo vệ trẻ
Thứ hai, chăm sóc bảo vệ trẻ em về nhân phẩm, tính mạng còn thể hiện ở chỗ
trẻ em không bị mang ra nớc ngoài bất hợp pháp, chống bắt cóc, buôn bán trẻ emvì bất kỳ mục đích gì hay bất kỳ dới hình thức nào Trẻ phải đợc bảo vệ khỏi mọihình thức xâm hại hoặc bất cứ công việc nào gây nguy hại đối với sức khỏe, ảnh h-ởng đến sự học hành và sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tinh thần của các em
Thứ ba, Bảo vệ trẻ em về nhân phẩm, tính mạng phải tuân thủ theo những qui
định của pháp luật đặc biệt là các lĩnh vực về an toàn sức khỏe, bảo vệ cho trẻ đợchởng các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa ở mức tối đa
1.3.3 Chăm sóc, bảo vệ về trí tuệ, đạo đức để hình thành cho trẻ những nhân cách tốt
Để làm đợc điều này, trớc hết gia đình cần quan tâm đến hoạt động giáo dục,học tập, vui chơi, giải trí của trẻ
Thứ nhất: Về giáo dục, học tập:
Mặc dù giáo dục gia đình không có một kế hoạch nhất định đợc soạn thảothành văn bản nh ở nhà trờng, nhng giáo dục gia đình có nội dung hết sức phongphú, đó là giáo dục giá trị truyền thống, trí tuệ, lao động
Giáo dục đạo đức truyền thống của dân tộc là giáo dục về lòng yêu nớc,
th-ơng ngời, vì nghĩa, lạc quan, sáng tạo, cần cù Đó là những giá trị đạo đức bền
Trang 26vững, là động lực tinh thần giúp con ngời Việt Nam phấn đấu vơn lên nhất là thế
hệ trẻ
Trong gia đình, các bậc cha mẹ cần tạo dựng cho các em lòng yêu
n-ớc, cần cù, dũng cảm, vui tơi, sống nhân nghĩa; giáo dục cho trẻ biết gìn giữtruyền thống gia đình, thể hiện lòng kính trọng, hiếu thảo với cha mẹ, anh em
đoàn kết, yêu thơng nhau, biết tôn trọng truyền thống gia đình và cội nguồn củamình, nhớ đến công ơn trời biển của cha mẹ những ngời đã sinh ra và nuôi dạy trẻcho đến lúc trởng thành
Giáo dục tinh thần ham học, nâng cao tri thức cho con cái Tri thức là yếu
tố quan trọng đối với sự phát triển của con ngời và xã hội Vì vậy, việc đầu t vậtchất và tinh thần để giáo dục kiến thức cho con cái ngày càng đợc các gia đình coitrọng Các bậc làm cha làm mẹ đều có ý thức đầu t cả về vật chất lẫn tinh thần đểphát triển năng khiếu của trẻ, hớng cho con biết tìm tòi, nghiên cứu những kiếnthức khoa học, công nghệ thông tin mới, tạo nên ở các em ý chí phấn đấu, hamhọc hỏi; đồng thời dạy các em biết giữ gìn và phát huy truyền thống “tôn s trọng
đạo”- những ngời đã mang đến cho trẻ những hiểu biết nhiều mặt của cuộc sống,góp phần không nhỏ vào sự trởng thành của trẻ
Thứ hai: Vui chơi, giải trí của trẻ.
Bên cạnh việc giáo dục tinh thần học tập, nâng cao tri thức cho con cáithì việc quan tâm đến vui chơi giải trí cho con trẻ cũng là một việc làm hết sứcquan trọng và cần thiết nhằm tìm lại thế cân bằng mới và tạo cho các em sự họctập, sự sáng taọ với chất lợng mới hơn Các hoạt động vui chơi, giải trí rèn luyệncho trẻ em những phẩm chất cơ bản về trí tuệ, đạo đức, thể chất Phát triển hoạt
động vui chơi, giải trí cho trẻ em đợc hiểu là tạo ra những điều kiện để trẻ em đợcvui chơi, hoạt động, sáng tạo văn hóa, nghệ thuật, rèn luyện thể thao… theo phơngchâm “học mà chơi, chơi mà học” Thông qua hoạt động vui chơi giải trí làm chotinh thần các em thoải mái, bớt căng thẳng sau những giờ học, đồng thời các emtrở nên hoạt bát, năng động hơn
Trang 27Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội các hình thức vui chơi, giải trícủa trẻ ngày càng có nhiều nội dung, hình thức hoạt động đa dạng và phong phú.Các gia đình có điều kiện hơn trong việc quan tâm đến nhu cầu vui chơi, giải trícủa trẻ nh cho trẻ đi chơi vào những ngày nghỉ ở những danh lam thắng cảnh, ditích lịc sử, đi biển, cung văn hóa thiếu nhi; các trò chơi nh bắn cung, thả diều, đuquay, chơi cờ, vẽ, bơi lội, thể dục thể thao… là những trò chơi thiết thực và bổ íchcho trẻ.
Tóm lại, chăm sóc, bảo vệ trẻ em là mang lại hạnh phúc cho trẻ và đợcbắt đầu từ gia đình Chính vì vậy, mỗi thành viên trong gia đình hãy dành cho trẻ
em những gì tốt đẹp nhất mà mình có để trẻ có điều kiện phát triể toàn diện và đầy
đủ, lớn lên trở thành những công đân có ích cho gia đình và xã hội
Trang 28100033’ kinh độ Đông và 18015’ đến 18o35’ vĩ độ Bắc.
Hơng Sơn nằm trên trục đờng số 8 Sông Ngàn Phố bắt nguồn từ biên giớiViệt Lào chạy từ đầu huyện đến cuối huyện, hợp với sông Ngàn Sâu tạo thànhsông La nhập vào sông Cả đi qua sông Lam đổ ra cửa Hội Cho nên, Hơng Sơn có
vị trí giao thông rất thuận lợi cả về đờng thủy lẫn đờng bộ
Tổng diện tích đất tự nhiên của Hơng Sơn là 1001,27 km2, đất nông nghiệp
là 11460 ha, đất lâm nghiệp là 91,159 ha Rừng núi chiếm 80% diện tích, 20%diện tích đất gieo trồng Ruộng đất phần lớn nằm xen kẽ vừa hẹp lại vừa dốc, dễxói mòn, khô hạn
Huyện Hơng Sơn có hai thị trấn (thị trấn Phố Châu và thị trấn Tây Sơn) và 32xã với tổng số dân tính đến năm 2006 là 124307 ngời.Toàn huyện có 31139 hộ gia
đình Mật độ dân số là 113,97 ngời/km2
Là một huyện miền núi, điều kiện kinh tế xã hội đang còn rất khókhăn, Hơng Sơn có khoảng 15% dân số là thợ thủ công, ngời buôn bán nhỏ, viênchức- phần lớn tập trung ở hai thị trấn phố Châu và Tây Sơn và một số làm nghềtruyền thống ở xa Có tới 85% dân số làm nông nghiệp với tính chất thuần nông làchủ yếu nên mức sống của ngời dân rất thấp Lơng thực bình quân chỉ đạt 190,23
Trang 29kg/ngời/năm Đời sống tinh thần của ngời dân ở đây do đó cũng nghèo nàn Khíhậu vùng đất này khá khắc nghiệt, thiên tai, lũ lụt thờng xuyên xẩy ra làm cho đờisống ngời dân nơi đây đã khó khăn lại thêm phần khó khăn Chính điều này đãkìm hãm sự phát triển kinh tế, xã hội nói chung và ảnh hởng không nhỏ đến côngtác chăm sóc và bảo vệ trẻ em của các gia đình ở huyện Hơng Sơn.
Cùng với cả nớc, sau hơn hai mơi năm đổi mới, Hơng Sơn từng bớc đi lêntheo hớng đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn, phát triển toàn diện,
hệ thống cơ sở hạ tầng đợc xây dựng nhanh chóng, đời sống của ngời dân khôngngừng đợc cải thiện và nâng cao
Hơng Sơn còn là nơi giàu truyền thống cách mạng và hiếu học Lịch
sử Hơng Sơn gắn liền với lịch sử dựng nớc, đánh đuổi phong kiến phơng Bắc với
đế quốc phơng Tây của dân tộc Quá trình đấu tranh cách mạng đã hun đúc nên ởnhững ngời dân Hơng Sơn ý chí kiên cờng, bất khuất, tinh thần vợt qua khó khăn,vợt lên chính mình để làm tròn trách nhiệm của ngời cha, ngời mẹ nuôi dỡng giáodục con cái nên ngời Mặc dù là huyện miền núi, đời sống vật chất còn khó khănnhng nhờ hiếu học mà trình độ dân trí Hơng Sơn không ngừng đợc nâng cao Đây
là một trong những yếu tố quan trọng giúp cho họ hiểu biết hơn, có phơng phápkhoa học và đúng đắn trong việc chăm sóc và bảo vệ trẻ nhất là trong giai đoạnhiện nay khi khoa học, công nghệ thông tin đang phát triển nhanh chóng và cónhững tác động nhiều chiều đến con trẻ
Tóm lại, mặc dù đời sống đang gặp không ít khó khăn nhng bù lại, HơngSơn - Hà Tĩnh là mảnh đất có vị trí giao thông thuận lợi, có nguồn nhân lực dồidào, giàu truyền thống cách mạng, là quê hơng của nhiều ngời tài giỏi…Vớinhững điều kiện tự nhiên, xã hội ấy, Hơng Sơn có nhiều thuận lợi để đẩy nhanhtốc độ phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao mức sống của ngời dân và nh vậy sẽ tạo
ra nhiều cơ hội cho các gia đình thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ trẻ đựơc tốthơn, toàn diện và đầy đủ hơn
Trang 302.2 Những thành tựu và hạn chế của công tác chăm sóc, bảo
vệ trẻ em trong gia đình ở huyện Hơng Sơn- hà tĩnh những năm qua
2.2.1 Những thành tựu:
Thứ nhất: Chăm sóc, bảo vệ sức khỏe trẻ em.
Để trẻ em có sức khỏe tốt thì việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho trẻ phải
đợc quan tâm từ lúc còn đang mang thai Khoa học hiện đại đã chứng minh sứckhỏe thể chất và tinh thần của ngơì mẹ có ảnh hởng trực tiếp đến thai nhi, việcchăm sóc các bà mẹ đang mang thai chính là cuộc sống của đứa con Do vậy, phụnữ mang thai cần phải bảo đảm khám thai, tiêm chủng đầy đủ, nghỉ ngơi và ăn đủchất dinh dỡng cần thiết nh Fe, Ca hoặc các nhóm giàu Protein, Vitamin Mặtkhác, thời kì mang thai ngời phụ nữ còn cần có một đời sống tinh thần, tình cảmtốt nh: động viên, củng cố niềm tin, cung cấp tri thức khoa học về mang thai, sinh
đẻ, nuôi dỡng trẻ em, tạo ra bầu không khí tâm lí vui vẻ… góp phần tích cực vào
sự phát triển thai nhi
ở Hơng Sơn, trong những năm qua công tác chăm sóc và bảo vệ thai nhi
đ-ợc thực hiện rất tốt Theo khảo sát của chúng tôi (2006) Hơng Sơn có 1841 phụ nữmang thai, trong đó số phụ nữ có thai đợc quản lí thai là 1819 ngời, chiếm 98,8%
Số phụ nữ đẻ đợc khám thai trên ba lần là 1233 chiếm 96,6% Những con số đó đãcho thấy các cặp vợ chồng đã hiểu biết tầm quan trọng của khám thai, việc khámthai theo định kì đã đợc các vợ chồng chú ý thực hiện nghiêm túc và đầy đủ
Về chế độ ăn uống của mẹ: Theo kết quả điều tra ở một số xã cho thấy có
49,6% phụ nữ mang thai quan tâm ăn uống đầy đủ dỡng chất hơn bình thờng,32,4% quan niệm rằng “ăn nhiều khó đẻ”, ít quan tâm đến chế độ dinh dỡng củamình trớc khi sinh, còn sau khi sinh cần ăn kiêng vì họ cho rằng việc ăn uống của
mẹ trực tiếp ảnh hởng tới con Nh vậy, vẫn còn một bộ phận ít những gia đình cócách nhìn thiếu khoa học về sinh đẻ