1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn ngôn ngữ truyện ngắn trần thuỳ mai

129 1,1K 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngôn ngữ truyện ngắn Trần Thùy Mai
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình
Người hướng dẫn GS. TS. Nguyễn Nhã Bản
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2008
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 665 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trần Thùy Mai thuộc thế hệ thứ hai của truyện ngắn Việt Nam hiện đại,đây có thể xem là cây bút sung sức, giàu trải nghiệm trong nhận thức hiện thựcđời sống và sáng tạo nghệ thuật, nhưng

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

Trang 2

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Nguyễn Nhã Bản, ngời đã tận tình hớng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành luận văn.

Xin cảm ơn những ngời thân, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ,

động viên tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn.

Trang 3

4 Phương pháp nghiên cứu

81.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn

111.2 Vài nét về tác giả, tác phẩm Trần Thùy Mai

171.3 Tiểu kết chương 1

24

Chương 2: Đặc điểm từ ngữ trong truyện ngắn Trần Thùy Mai

252.1 Định nghĩa về từ

252.2 Lớp từ ngữ đậm chất Huế trong truyện ngắn Trần Thùy Mai

Trang 4

2.2.1 Lớp từ địa phương

282.2.2 Lớp từ chỉ địa danh

332.2.3 Lớp từ tôn giáo

392.3 Truyện ngắn Trần Thùy Mai sử dụng nhiều từ láy

452.3.1 Khái niệm về từ láy

452.3.2 Từ láy trong truyện ngắn Trần Thùy Mai

482.4 Vai trò ngữ nghĩa của các lớp từ ngữ trong truyện ngắn Trần Thùy Mai

612.4.1 Vai trò ngữ nghĩa trong việc biểu đạt hình tượng nhân vật nữ

612.4.2 Vai trò ngữ nghĩa trong việc biểu đạt lớp nhân vật trí thức – nghệ sĩ

712.5 Tiểu kết chương 2

71

Chương 3: Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Trần Thùy Mai xét theo mục đích giao tiếp

803.1 Vấn đề phân loại câu theo mục đích giao tiếp

803.2 Thống kê, phân loại câu theo mục đích giao tiếp

80

Trang 5

3.3 Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Trần Thùy Mai xét theo mục đích

giao tiếp

823.3.1 Câu tường thuật

823.3.2 Câu nghi vấn

983.3.3 Câu cảm thán

1083.3.4 Câu cầu khiến

1113.4 Tiểu kết chương 3

116

KẾT LUẬN

118TÀI LIỆU THAM KHẢO

121

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Thập niên 90 của thế kỷ qua truyện ngắn được mùa, lên hương và khởisắc Làm nên diện mạo truyện ngắn hôm nay là thế hệ trẻ (chiếm 50% số tácgiả dưới 40 tuổi trong đó 25% là cây bút nữ) Thể loại này đang thực sự bứtphá trên chặng đường mới và để lại những thành tựu lớn cho văn học ViệtNam Trong sự vận động và phát triển của các thể loại văn học, cùng với sựthay đổi của lịch sử và nhu cầu của đời sống xã hội, truyện ngắn ở mỗi giai

đoạn mang một âm hưởng riêng của thời đại Các nhà phê bình cho rằng: “Văn học đương đại Việt Nam mang gương mặt nữ” Các nhà văn nữ hiện nay tỏ ra

sung sức, bền bỉ trong sáng tạo nghệ thuật, họ đã góp phần nâng cao chiều sâunhận thức, chiều sâu thẩm mĩ và chiều sâu nghệ thuật cho thể loại này

Quả thật vậy, chưa bao giờ ta thấy sự nở rộ một loạt tên tuổi nữ đượcbạn đọc mến mộ: Y Ban, Nguyễn Minh Dậu, Nguyễn Thị Thu Huệ, NguyễnThị Ấm, Võ Thị Hảo, Lý Lan, Phan Thị Vàng Anh, Trần Thùy Mai, TrầnThanh Hà,…

Đọc truyện ngắn các cây bút nữ ta thấy họ có cách viết mạnh mẽ, quyếtđoán có khi đến lạnh lùng nhưng không hề có ẩn ý với cuộc sống, với conngười dù có khi nó phạm sai lầm Đó là tinh thần nhân bản của văn học hômnay mà những cây bút nữ là những người nhạy cảm nhất Có lẽ vì thế mà tácphẩm của họ đồng vọng được với cuộc sống, với thế hệ trẻ hôm nay

Mỗi người một vẻ, không ai giống ai trong bút pháp thể hiện, nhưng họlại có điểm chung ở lối viết “phá cách” rất tự do, khoáng đạt và uyển chuyển,linh hoạt

Trần Thùy Mai thuộc thế hệ thứ hai của truyện ngắn Việt Nam hiện đại,đây có thể xem là cây bút sung sức, giàu trải nghiệm trong nhận thức hiện thựcđời sống và sáng tạo nghệ thuật, nhưng cũng chưa gọi gì là đóng góp lớn, cũng

như chưa hình thành một phong cách rõ rệt Bùi Việt Thắng nhận xét: “Họ

Trang 7

chưa đủ điều kiện, nghĩa là chưa chín một phong cách rõ nét nhưng những cá tính sáng tạo đã bộc lộ sự mạnh mẽ, khao khát tìm tòi cái mới Với họ chúng ta cần bình tĩnh hơn trong đánh giá và cả sự độ lượng đối với họ trong những tìm tòi mới” [20]

Đối với Trần Thùy Mai, chị xem chuyện viết, sáng tác như là lẽ sống,như khí trời, như một tình yêu đích thực…, chị viết với cả niềm khát khao, bởi

vì “nhờ viết mà cuộc đời tôi được mở rộng Tôi vượt qua được giới hạn chật hẹp của chính mình” Trần Thùy Mai là một tác giả được đánh giá “Là cây bút giàu nữ tính nhất hiện nay trong làng truyện ngắn Việt Nam” [20, tr 74].

Hơn 20 năm cầm bút, Trần Thùy Mai đã cho ra đời 7 tập truyện ngắn,với cái “không khí” văn chương đằm thắm, tinh tế giàu chất Huế Trần ThùyMai đã thu hút được sự quan tâm đông đảo của người đọc và giới nghiên cứu

phê bình Đặc biệt: Thị trấn hoa Quỳ vàng (1998), Thập tự hoa (2002), Quỷ trong trăng (2004) đã được các giải thưởng cao của hội nhà văn Việt Nam.

Truyện ngắn Trần Thùy Mai là một thế giới bao dung, nhân ái giữangười với người, đó là những hạnh phúc ngọt ngào và “man trá” của cuộc đời.Chuyện của chị là những lo toan, dằn vặt của cuộc sống đời thường, là nhữngmâu thuẫn giữa giới hạn của thực tại và khát vọng vô bờ, là những rung cảmsâu sắc và lãng mạn của tình yêu, trải qua mọi khổ đau con người vẫn giữ đượcniềm tin và tình yêu để độ lượng và nhân ái với nhau trong cuộc đời Với đề tài

“Ngôn ngữ truyện ngắn Trần Thùy Mai” chúng tôi hi vọng góp thêm tiếng

nói về cây bút truyện ngắn trẻ này với mục đích cuối cùng không gì hơn là tìm

ra các giá trị đóng góp của truyện ngắn Trần Thùy Mai đối với nền truyện ngắnViệt Nam

2 Lịch sử vấn đề

Truyện ngắn là một thể loại có sức thu hút lớn đối với các nhà nghiêncứu, phê bình văn học cũng như giới độc giả trong mọi giai đoạn phát triển của

Trang 8

văn học Các nhà phê bình, nghiên cứu đã có những khám phá, nhận định đachiều về truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại.

Nét đặc biệt của truyện ngắn hôm nay, đó là sự xuất hiện đông đảo và tựtin, sự chín chắn đến già dặn của đội ngũ các cây bút nữ Các tác giả nữ đã tỏ

ra khá chắc tay, họ đã đem đến cho văn học nói chung và thể loại truyện ngắnnói riêng một sinh khí mới rất cần thiết để thể hiện bề sâu, bề sau của cuộc

sống, con người hôm nay Một nhà văn nữ đã nói: “ Cảm xúc sáng tạo truyện ngắn có chung tần số với cảm xúc nữ tính: sự sáng lóe, sự thất thường, tính thời khắc, sự dẫn dắt tuyệt diệu của mẫn cảm bản năng ….”.

Nhà phê bình Trương Đăng Dung đã đánh giá: “Đây là một hiện tượng tốt đẹp, đánh dấu một phương diện phát triển của văn học thế kỷ này trên đất nước ta, và đã thu hút được sự chú ý của các nhà phê bình” Tác giả nhận định:

“Đã đến lúc trên bình diện lí thuyết phải đặt vấn đề tìm hiểu những đặc điểm của nữ văn sĩ với tất cả mặt mạnh, mặt yếu của nó để góp phần thúc đẩy việc bồi dưỡng và phát triển lực lượng sáng tác của nửa phần dân tộc và nhân loại này” [4].

Khi đánh giá những thành tựu của truyện ngắn sau 1975, Bích Thu cũng

đã cho rằng: “Một số cây bút nữ đã góp phần làm nên sự đa dạng của truyện ngắn sau 1975 bằng năng lực biểu cảm của cuộc sống qua thế giới tâm hồn, theo dòng tâm trạng của nhân vật”

Bùi Việt Thắng đã khẳng định: “ Truyện ngắn hôm nay đang phát triển mạnh, trong đó có sự mạnh lên của phái yếu và lực lượng sáng tác truyện ngắn trẻ hôm nay chiếm 75% là nữ” Tác giả cho rằng: Một trong những “nốt nhấn” của truyện ngắn đương đại Việt Nam đó là “tính nữ” của văn học, là

“văn học đương đại Việt Nam mang gương mặt nữ” mà ở đó “mỗi tác phẩm được viết ra như là sự vắt kiệt của nhà văn”, “là sự dâng hiến – dâng hiến cái đẹp cho cuộc sống”.

Trang 9

Cuộc sống hôm nay còn nhiều vấn đề phức tạp, những thay đổi vô hình,

và truyện ngắn nữ đã bám sát được những thay đổi đó Sau những bức xúc vềthế thái nhân tình, là niềm tin mãnh liệt vào con người, cuộc sống, là nhữngkhát khao về tương lai tươi sáng hơn Đây chính là thiên tính nữ Như vậy, cáctác giả đã phác họa được phần nào sự phát triển mãnh mẽ của lực lượng sángtác nữ với sự thấu hiểu, thái độ cảm phục và niềm tin với họ khi hướng cái nhìn

về tương lai của văn học dân tộc

Là một cây bút nữ, phải khẳng định rằng, Trần Thùy Mai là một hiệntượng trong đội ngũ sáng tác truyện ngắn hiện nay Miệt mài, say mê vớinghiệp văn và trở thành cây bút có sức bền với thể loại truyện ngắn, truyệnngắn của chị đã vượt ra ngoài giới hạn của mảnh đất cố đô để đến với bạn đọctrong cả nước

Những tập truyện ngắn của chị như: Bài thơ về biển khơi, Thị trấn hoa quỳ vàng, Trò chơi cấm, Quỷ trong trăng, Thập tự hoa, Đêm tái sinh,Chiếc nhẫn ngọc lục bảo, Mưa ở Strasboug…là “những dấu son đỏ của văn giới thừa nhận tiêu chuẩn đánh giá chất lượng quốc gia của cây bút nữ [20, tr 72] Văn

của Trần Thùy Mai nhẹ nhàng như lời tâm sự, thì thầm thấm sâu vào tâm hồnngười đọc qua cách mô tả, và ngôn ngữ trong suốt như sự hòa quyện của nhạc

và thơ, là khát vọng của con người vượt qua hệ lụy cuộc đời nghiệt ngã để đitìm hạnh phúc chân chính với những ước mơ nhân ái

Cảm nhận về truyện ngắn Trần Thùy Mai, tác giả Hồ Thế Hà nhận xét:

“Giọng văn tâm tình, mềm mại gắn với những phản ứng tâm thức kín đáo của nhân vật đã tạo nên giá trị nhân bản của truyện ngắn Trần Thùy Mai Đó là nét làm nên sức hấp dẫn của nhà văn mang đậm bản sắc Huế”, “Giọng văn thủ thỉ tâm tình và thấm đẫm chất thơ, quyến rũ bởi chất huyền thoại” Đó là “thời gian, không gian khát vọng được miêu tả bằng bút pháp huyền thoại, truyện ngắn Trần Thùy Mai mang đậm “tính triết lý – triết lí về cuộc sống của con người hiện đại”

Trang 10

Trần Thùy Mai thành công khi viết về phụ nữ, đó là sự hóa thân của tácgiả khi miêu tả thế giới tâm hồn, tính cách và những khát vọng của phụ nữ.Nhân vật nữ của Trần Thùy Mai sâu sắc, có một cuộc sống nội tâm phong phú,

đa cảm với những ước mơ cháy bỏng về tình yêu, con người và cuộc đời nhưchính tác giả Trong các trang viết của chị thì nỗi buồn, nỗi đau nhân thế luônđược nhìn ở khía cạnh tinh tế và rất phụ nữ, có lúc bùng nổ gắt gao nhưngthường được dồn nén vào sâu bên trong Nhân vật trong tác phẩm Trần ThùyMai thường dự cảm rất mong manh về hạnh phúc, nên cảm xúc khi đọc tácphẩm thường đưa lại cho người đọc là niềm tin vào con người, vào cuộc sốngvới một tâm hồn tha thiết sống, tha thiết yêu

Hồ Thế Hà khẳng định: “Trần Thùy Mai là một trong rất ít những cây bút văn xuôi của Huế và cả nước được mọi người chú ý, hy vọng” Đây như là

một nét hấp dẫn mà chúng tôi muốn tìm kiếm, khám phá cây bút nữ tiêu biểutrong giai đoạn hiện nay

Nguyễn Thị Kim Huệ khi đánh giá về tập truyện ngắn Quỷ trong trăng của Trần Thùy Mai đã phát hiện: Quỷ trong trăng là một thế giới của nhân vật

nữ đang tồn tại thật với bản ngã của chính mình, dù họ sẽ phải trả giá bằng chính cuộc đời của họ Thế nhưng, họ không nuối tiếc hay hối hận cho những lựa chọn của mình, bởi họ là những người phụ nữ Phương Đông dịu dàng, bao dung nhưng lại tiềm tàng sự nổi loạn, tự do và bất chấp kể cả cái chết cho một tình yêu Và Nguyễn Thị Kim Huệ gọi đây là “thế giới nữ đậm cá tính phương Tây” Phải chăng, đây chính là một nét sáng tạo mới lạ trong việc xây dựng

tâm hồn, cách sống của các nhân vật nữ trong tác phẩm của mình?

Truyện ngắn Trần Thùy Mai đã để lại những “nốt nhấn”, những “khoảnglặng” đáng yêu trong lòng bạn đọc Từ những ý kiến trên cho ta thấy truyệnngắn Trần Thùy Mai là một hiện tượng đã được độc giả và giới phê bình đánhgiá cao Đã có rất nhiều ý kiến, bài viết đánh giá, công trình khoa học ghi nhậnnhững giá trị về truyện ngắn Trần Thùy Mai trên bình diện văn học, nên chúng

Trang 11

tôi thấy cần thiết phải tìm hiểu truyện ngắn Trần Thùy Mai trên bình diện ngônngữ để đánh giá tác phẩm của chị một cách toàn vẹn hơn.

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Ở đề tài này, chúng tôi chọn ba tập truyện ngắn tiêu biểu của Trần Thùy

Mai: Thập tự hoa (2002), Chiếc nhẫn ngọc lục bảo (2005), Mưa ở Stranboug

(2007) để làm đối tượng nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu

Ở đề tài này chúng tôi đặt ra 2 nhiệm vụ lớn:

a Tìm hiểu đặc điểm từ ngữ trong truyện ngắn Trần Thùy Mai

b Tìm hiểu đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Trần Thùy Mai xét theomục đích giao tiếp

4 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp thống kê, phân loại

Chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê, phân loại các lớp từ ngữ cũngnhư các kiểu câu theo hai tiêu chí cấu tạo và ý nghĩa

b Phương pháp phân tích và miêu tả

Trên cơ sở thống kê, phân loại, chúng tôi đã phân tích, miêu tả từngnhóm từ và kiểu câu cụ thể

c Phương pháp tổng hợp

kết quả thống kê, phân loại, miêu tả chỉ mới dừng lại ở các sự kiện riêng

lẻ, dàn trải Vì vậy, chúng tôi sử dụng thêm phương pháp tổng hợp để khái quátcác vấn đề thành các quy luật mang tính chung, điển hình

d Phương pháp so sánh và đối chiếu

Trong quá trình tiến hành chúng tôi có so sánh Trần Thùy Mai với một

số tác giả khác nhằm làm nổi bật đặc điểm riêng cũng như những đóng góp củachị trên văn đàn

5 Đóng góp của đề tài

Trang 12

Với đề tài “Ngôn ngữ truyện ngắn Trần Thùy Mai” là chúng tôi

nghiên cứu nhìn từ góc độ ngôn ngữ nhằm chỉ ra được một số đặc điểm ngôn

nữ, từ đó tìm ra những đóng góp trong truyện ngắn của chị đối với thể loại này

6 Cấu trúc luận văn

Chương 1 Giới thuyết xung quanh đề tài

Chương 2 Đặc điểm từ ngữ trong truyện ngắn Trần Thùy Mai

Chương 3 Đặc điểm về câu văn trong truyện ngắn Trần Thùy Mai xéttheo mục đích giao tiếp

Trang 13

Chương 1

GIỚI THUYẾT XUNG QUANH ĐỀ TÀI

1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật và đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn

1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật

Ngôn ngữ nghệ thuật là dụng cụ, chất liệu cơ bản của văn học Vì vậy

mà văn học được gọi là loại hình nghệ thuật ngôn từ Ngôn ngữ nghệ thuậtđược bắt nguồn từ ngôn ngữ toàn dân, được gọt giũa, chọn lọc qua lao độngnghệ thuật của người nghệ sĩ và chính ngôn ngữ nghệ thuật này làm phongphú thêm cho ngôn ngữ toàn dân Ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện ở cá tính sángtạo, ở phong cách và tài năng của người nghệ sĩ

Thuộc tính của ngôn ngữ nghệ thuật chính là tính chính xác, tính hàmsúc, đa nghĩa, tính tạo hình và tính biểu cảm Căn cứ để phân biệt ngôn ngữnghệ thuật với các loại hình ngôn ngữ khác là ở chỗ ngôn ngữ nghệ thuật làthứ ngôn ngữ mang ý nghĩa thẩm mĩ.Tính hình tượng là thuộc tính bản chấtnhất xuyên suốt, quy định mọi thuộc tính khác trong ngôn ngữ nghệ thuật Vậy ngôn ngữ nghệ thuật được hiểu như thế nào? Tác giả IU.M Lôtman,

nhà nghiên cứu văn học Nga cho rằng: “Văn học có tính nghệ thuật nói bằng một thứ ngôn ngữ đặc biệt, thứ ngôn ngữ được xây dựng chồng lên trên ngôn ngữ tự nhiên với tư cách là hệ thống thứ 2 [28, tr 49] Theo ông ngôn ngữ

nghệ thuật được hình thành từ ngôn ngữ tự nhiên, nhưng giữa ngôn ngữ nghệ

thuật và ngôn ngữ tự nhiên có sự khác biệt về đặc trưng: “Trong văn bản có tính nghệ thuật ngôn từ thì không chỉ ranh giới giữa các kí hiệu là khác nhau,

mà bản thân khái niệm kí hiệu cũng khác nhau” [28, tr 49] Cũng theo tác giả, thì “ngôn ngữ tự nhiên” được nhắc đến ở đây “là các kí hiệu – những đơn

vị ổn định và bất biến của văn bản, và các quy tắc cú đoạn học được lẩy ra tương đối dễ dàng”[1, tr49].

Trang 14

Để hiểu rõ hơn bản chất của ngôn ngữ nghệ thuật ta đặt nó bên cạnhngôn ngữ tự nhiên để tìm ra sự tương đồng và khác biệt của hai hệ thống này.Tác giả Đinh Trọng Lạc lại cho rằng thuật ngữ “ngôn ngữ tự nhiên” đượchiểu trùng với “ngôn ngữ phi nghệ thuật” – bao gồm lời nói sinh hoạt hàngngày và các loại văn bản thuộc phong cách hành chính, phong cách chính

luận, phong cách khoa học Ngôn ngữ phi nghệ thuật “có thể được xác định như là một mã chung, phổ biến nhất, tức một hệ thống tín hiệu đầu tiên và quy tắc sử dụng tín hiệu đó, mà con người dùng để vật chất hóa những ý nghĩa, tình cảm của mình, tức để diễn đạt những ý nghĩa tình cảm này trong một hình thức được tri giác một cách cảm tính: từ phát ngôn…”[29, tr 136]

Mối quan hệ giữa ngôn ngữ phi nghệ thuật và ngôn ngữ nghệ thuật làquan hệ nguồn gốc và thứ sinh vừa là quan hệ giữa bộ phận và toàn thể Làmối quan hệ đa chiều cho nên có hiện tượng ngôn ngữ của một tác phẩm nghệthuật tham gia vào ngôn ngữ toàn dân làm giàu thêm cho ngôn ngữ dân tộc

Và chính các nhà văn đã làm phong phú thêm chất liệu mình sử dụng đóchính là quá trình sáng tạo đặc biệt, nhà văn tái tạo thế giới trong tác phẩmcủa mình cho nên tác phẩm văn học mang đậm dấu ấn cá nhân, ngôn ngữcũng mang những giá trị mới

Ngôn ngữ nghệ thuật vừa là công cụ tư duy vừa là phương tiện chuyểntải hình tượng nghệ thuật chủ quan của người nghệ sĩ Nó bao giờ cũng là thứtín hiệu giàu phẩm chất tâm lí xã hội, vừa giàu tính truyền thống, vừa giàutính hiện đại Ngôn ngữ nghệ thuật là thứ ngôn ngữ được chọn lọc từ ngônngữ toàn dân, là biểu hiện đầy đủ nhất, nổi bật nhất của ngôn ngữ văn hóa

Để thấy rõ vai trò và bản chất của ngôn ngữ nghệ thuật, chúng tôi sosánh, đối chiếu ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ phi nghệ thuật ở cácphương diện sau

a Về hệ thống tín hiệu

Trang 15

Ngôn ngữ phi nghệ thuật là hệ thống tín hiệu tự nhiên, mang tính toàndân, có thể được xác định như là một mã chung, phổ biến giúp con người diễnđạt suy nghĩ, tình cảm, là công cụ của quá trình giao tiếp và tư duy Còn ngônngữ nghệ thuật, tức ngôn ngữ trong các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ là một

mã phức tạp hơn, được cấu tạo nên từ hệ thống tín hiệu thứ nhất

Nhà văn sử dụng ngôn ngữ để tạo nên tác phẩm nghệ thuật Vì vậy, ngônngữ là yếu tố thứ nhất của văn học, “ngôn ngữ trở thành vật liệu xây dựng nênnhững hình tượng diễn đạt tư tưởng nghệ thuật” Mỗi yếu tố ngôn ngữ trongtác phẩm văn học là một phương tiện biểu hiện tham gia vào bộc lộ nội dung

tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm

b Về chức năng xã hội

Ngôn ngữ phi nghệ thuật và ngôn ngữ nghệ thuật hoàn thành những chứcnăng khác nhau Ở đây phân biệt phẩm chất thẩm mĩ Phẩm chất thẩm mĩ củangôn ngữ như sự hoàn thiện hình thức, sự đầy đủ, hài hòa về nội dung, tính rõràng sáng sủa, sự chặt chẽ cân đối trong cách trình bày Những yếu tố này cóthể có mặt trong cả lời nói khoa học, công văn sự vụ, chính luận Lời nói sinhhoạt hàng ngày thường có những thuộc tính như tính diễn cảm, tính tạo hình,tính hình tượng Chức năng chủ yếu của tính chất quyết định trong tất cả cácphong cách ngôn ngữ kể trên vẫn là chức năng giao tiếp, như trao đổi trựctiếp, thông báo, thông tin Những phẩm chất thẩm mĩ nếu có thì chỉ đóng vaitrò phụ thuộc thứ yếu

Trong ngôn ngữ của văn nghệ thuật thì chức năng thẩm mĩ xuất hiện ởbình diện thứ nhất, nó đẩy chức năng giao tiếp xuống bình diện thứ hai Chứcnăng thẩm mĩ được hiểu khác về chất: chức năng nghệ thuật – hình tượng.Chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ trong các tác phẩm nghệ thuật là ở chỗ tínhiệu ngôn ngữ là yếu tố tạo thành hình tượng

c Về bình diện nghĩa.

Trang 16

Ngôn ngữ phi nghệ thuật chỉ có một bình diện nghĩa Ngôn ngữ nghệthuật có hai bình diện nghĩa Nó có khả năng một mặt hướng vào hệ thốngngôn ngữ văn hóa với những ý nghĩa của các từ, của các hình thức cú pháp,

và mặt khác hướng vào hệ thống các hình tượng của tác phẩm nghệ thuật Cái

hệ thống vốn thông báo cho những thành tố ngôn ngữ cái giá trị ngữ cảnh, cáigiá trị hình tượng thẩm mĩ Một tác phẩm nghệ thuật ngôn từ không đơn giản

là sự lắp ghép từ nghữ cho độc đáo mà thực sự phải ẩn chứa trong đó tầm củatác giả về nhận thức, sự am hiểu cuộc sống trong mối quan hệ với văn hóadân tộc Chính sự đa dạng, phức tạp của bình diện nghĩa mà đã tạo nên sự hấpdẫn cho tác phẩm nghệ thuật ngôn từ

d Về sự có mặt của các loại phương tiện ngôn ngữ

Ngôn ngữ nghệ thuật là biểu hiện đầy đủ nhất và nổi bật nhất của ngônngữ văn hóa, ngôn ngữ toàn dân Ngôn ngữ nghệ thuật bao gồm cả phươngtiện ngôn ngữ không có trong ngôn ngữ hiện tại, cũng chưa có trong lịch sửcủa nó tức là những từ hiểu theo nghĩa rộng hoặc những từ ngẫu kết – kết hợpmột cách ngẫu nhiên Ngôn ngữ nghệ thuật trong những phạm vi nhất định, sửdụng những phương tiện ngôn ngữ ngoài ngôn ngữ văn hóa, như những từ địaphương, những từ của tiếng lóng, những từ tục Ngôn ngữ nghệ thuật hiểutheo một nghĩa nào đó là giàu hơn ngôn ngữ toàn dân

1.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn.

1.1.2.1 Khái niệm truyện ngắn

Các nhà nghiên cứu đã đưa ra định nghĩa và những quan niệm khác nhau

về thể loại truyện ngắn như sau:

K.Pautốpxki – nhà văn Nga xác định: “Thực chất truyện ngắn là gì? Tôi nghĩ rằng truyện ngắn là một truyện viết ngắn gọn, trong đó cái không bình thường hiện ra như một cái gì bình thường, và cái bình thường hiện ra như một cái gì không bình thường” [30, tr 121] Ở đây K.Pautốpxki rất quan tâm

đến tính sự kiện trong truyện ngắn, ông nhấn mạnh sự đan xen giữa cái bình

Trang 17

thường và cái không bình thường – cái logic cuộc sống này thì truyện ngắn

đã thực sự có chỗ đứng trong lòng người đọc

Tác giả A.Tônxtôi viết: “Truyện ngắn là một hình thức nghệ thuật khó khăn bậc nhất Trong các tác phẩm thể tài lớn, chúng ta có thể “dọn” cho độc giả “no nê” với những món sang đại loại hoặc như miêu tả cho thật sinh động, đối thoại cho thật sâu sắc … còn như trong truyện ngắn, tất cả như trong bàn tay anh Anh phải thông minh như anh đã phải hiểu biết Bởi lẽ hình thức nhỏ không có nghĩa là nội dung không lớn lao” [30, tr124] Có thể

A Tônxtôi đã trả lời cho câu hỏi truyện ngắn là gì

Từ điển thuật ngữ văn học, mục truyện ngắn: “ Tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung thể hiện của truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ”.

Những ý kiến về truyện ngắn đã trình bày ở trên cho chúng ta một cáchnhìn toàn diện về thể loại này Truyện ngắn không phải là truyện dài thu nhỏ,

nó là một thể có hệ thống thi pháp riêng Có ý kiến về truyện ngắn rất đadạng, nhưng nhìn chung đều xoay quanh những khía cạnh chính: dung lượng,kết cấu, độ dồn nén, sức khái quát hiện thực, hình thức biểu đạt

Đó là một thể loại tự sự cỡ nhỏ Truyện ngắn tập trung vào một mặt nào

đó của đời sống, xoay quanh một vài biến cố, sự kiện tập trung trong mộtkhông gian, thời gian nhất định Chi tiết và lời văn là yếu tố đóng vai trò quantrọng, đặc biệt ở chi tiết nó có tính chất biểu tượng Nhân vật truyện ngắnthường thể hiện một tâm thế con người trong thời đại

1.1.2.2 Một số đặc điểm chính của truyện ngắn

Từ những khái niệm truyện ngắn trên có thể rút ra nhũng đặc điểm chính

về thể loại truyện ngắn như sau:

- Một thể loại tự sự cỡ nhỏ: nhỏ có nghĩa là từ vài trang đến vài chụctrang, rất ngắn gọn, hàm súc, tinh lọc và hay

Trang 18

- Tính quy định về dung lượng và cốt truyện: Truyện ngắn tập trung vàomột mặt nào đó của đời sống, xoay quanh một vài biến cố, sự kiện tập trungtrong một không gian, thời gian nhất định.

- Chi tiết và lời văn là yếu tố đóng vai trò quan trọng, đặc biệt ở chi tiết

nó có tính chất biểu tượng

- Nhân vật truyện ngắn thường thể hiện một tâm thế con người trong thờiđại

a Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn xét về mặt dung lượng

Tác phẩm văn học luôn chứa đựng trong nó một dung lượng nhất định Khácvới tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn vàtoàn vẹn của nó, truyện ngắn thường hướng tới việc khắc họa một hiện tượng,phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn củacon người Nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới thì nhân vật củatruyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới ấy Dung lượng lớn – nhỏ tùy thuộc

vào đặc trưng thể loại, có thể hiểu dung lượng “ là khả năng ôm trùm, bao quát hiện thực, là sức chứa chất liệu đời sống, dung lượng được hiểu theo nghĩa khả năng của nội dung phản ánh hiện thực của thể loại [32, tr 71]

Truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ nhỏ, thường bao gồm một lớp truyệnthể hiện một vấn đề, một bước ngoặt, một trường hợp hay một tâm trạng nhânvật Lớp sự kiện trong truyện ngắn xảy ra trong một không gian nhất định.Những tính cách, những quan hệ trong truyện ngắn được mô tả ở thời khắcchúng bộc lộ rõ bản chất, quy luật Như vậy, truyện ngắn chỉ xoáy vào mộtđiểm của hiện thực như sự thể hiện kết quả của một quá trình

Hình thức của truyện ngắn là ngắn gọn Tuy nhiên sự dao động về khốilượng của thể loại này có biên độ rất lớn Trong thực tế, có cốt truyện đầy đủcác khâu: trình bày, khai đoạn, phát triển, đỉnh điểm và kết thúc Song bêncạnh đó có những cốt truyện lại chỉ là sự vận động của dòng tâm trạng

Trang 19

Truyện ngắn có thể kể về một cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiệnhay một chốc lát trong cuộc sống nhân vật Cái chính của truyện ngắn khôngphải là ở hệ thống sự kiện mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời Vì vậy sứcnén của truyện ngắn thường rất lớn, có khi chỉ trong một số lượng ít ỏi tranggiấy mà làm hiện lên cả một cuộc đời tạo được không khí của một giai đoạnlịch sử … truyện ngắn làm được điều đó nhờ vào sự hỗ trợ, lao động, sự trải

nghiệm của nhà văn, của ngôn từ A Tônxtôi đã nói: “ Hình thức nhỏ không

có nghĩa là nội dung không lớn lao”[30, tr116] Xét ở hiệu quả nghệ thuật

“truyện ngắn có quyền bình đẳng với tiểu thuyết”[52, tr75] Bởi truyện ngắn

mang đến cho người đọc một khả năng lớn trong việc tiếp nhận hiện thực

Có thể nói rằng truyện ngắn hiện đại là một kiểu tư duy mới, một cáchnhìn cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng mang tính thể loại của một

số cây bút hiện nay Hình thức tự sự cỡ nhỏ này có thể vươn tới những giớihạn mới

b Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn xét về mặt bố cục, kết cấu, cốt truyện.

Truyện ngắn là cách thức tiếp cận miêu tả đời sống và con người Đốivới truyện ngắn truyền thống, kết cấu truyện đóng vai trò quan trọng là cáichìa khóa để mở tất cả những cánh cửa bí mật của một ngôi nhà Ở đây tác giảthể hiện sự tôn trọng cấu trúc, trật tự Trong tình hình đó thể loại truyện ngắnđược tổ chức theo một cách hiểu truyền thống phổ biến là quá trình nhân quả.Các nhà viết truyện ngắn sau 1975 đã có những cách tổ chức mới, có khi nhàvăn vào truyện bằng cách kết thúc vấn đề rồi mới lí giải, khơi gợi sự liêntưởng, suy ngẫm của người đọc

Khi sáng tác nói chung và viết truyện ngắn nói riêng, nhà văn phải sắpxếp các cảnh ngộ, tính cách và sự kiện theo một trình tự, một hệ thống nhấtđịnh, theo những tỉ lệ nhất định để trình bày với người đọc nội dung tác phẩmđược gọi là tổ chức kết cấu tác phẩm Tác giả Bùi Việt Thắng cho rằng:

Trang 20

“Trong thực tiễn sáng tác truyện ngắn thì thường nhà văn chú ý đến hai khâu quan trọng nhất khi xây dựng cốt truyện: chi tiết và đoạn kết”[32, tr 84] Kết

cấu là kiến trúc tác phẩm, là quan hệ hữu cơ giữa toàn thể với bộ phận, giữa

bộ phận với bộ phận nhằm biểu đạt nội dung Có thể nói rằng, các kiểu kếtcấu thông thường như kết cấu theo trình tự thời gian (tuyến tính), kết cấubằng cách đi thẳng vào giữa truyện, kết cấu theo hai tuyến nhân vật thì kếtcấu tâm lí ở thời kì mới nổi bật lên là hình thức truyện ngắn ở luận đề Tínhluận đề hiện lên như một sức mạnh riêng, độc đáo của truyện ngắn

Kết cấu truyện ngắn không chia thành nhiều tuyến phức tạp nên nhà văncàng có điều kiện tập trung tạo sức dồn nén có tính liên tục của các sự kiện vànhiều mối quan hệ trực tiếp giữa chúng để làm nên cốt truyện Sự phân chiatrước một truyện ngắn nói riêng và tác phẩm văn học nói chung có thể nhìnthấy trực tiếp mối quan hệ giữa các phần, các đoạn được phân chia đó là mộtkhía cạnh của kết cấu và ta gọi sự phân chia đó là bố cục Khái niệm bố cụcthuộc nội hàm khái niệm kết cấu Bố cục là sự tổ chức bề mặt ngôn từ của tácphẩm Kết cấu bề mặt hay chiều sâu thì nhiệm vụ của chúng đều hướng tớilàm rõ chủ đề tư tưởng, bộc lộ tính cách nhân vật, tổ chức truyện thành mộtthể thống nhất

Như vây, cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một khônggian, thời gan hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận thức một điều gì

đó sâu sắc về cuộc đời và tình người

c Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn với phong cách nhà văn

Trong sáng tạo nghệ thuật, mỗi người nghệ sĩ đều mong muốn tạo chomình một nét riêng khác biệt, độc đáo Vì chính cái riêng, cái độc đáo đóquyết định sự tồn tại của người nghệ sĩ làm nên phong cách nhà văn Đặctrưng của ngôn ngữ nghệ thuật là mang tính cá nhân, ngôn ngữ tác phẩm gắnvới ý đồ nghệ thuật và quan niệm thẩm mĩ của nhà văn Ở thể loại truyện trắn,

đặc trưng này thể hiện ở việc chọn nghiêm ngặt chất liệu ngôn ngữ “Truyện

Trang 21

ngắn là nơi ta có thể tìm phong cách cho mình Truyện ngắn đòi hỏi hoàn thiện Ở đây, ta được rèn luyện đến việc dùng dấu phẩy”[30, tr 9] Bởi những

đặc điểm ngôn ngữ xét về mặt dung lượng cũng như kết cấu, bố cục, cốttruyện của truyện ngắn, nên ngôn ngữ truyện ngắn mạng đậm dấu ấn phongcách nhà văn rất rõ nét

Một tác giả có được phong cách riêng khi đọc một vài câu văn của người

đó, người đọc biết được tác giả của nó và khi cái phong cách mà tác giả ấyxây dựng nên góp phần vào truyền thống văn học, trở thành mẫu mực chonhiều người noi theo và học tập Phong cách nhà văn là nét riêng, độc đáo đểphân biệt nhà văn này với nhà văn khác Những nét riêng ấy là sự lặp đi lặplại có hệ thống trên nhiều tác phẩm văn học hoặc trên một tác phẩm của cùngmột tác giả những yếu tố nghệ thuật Nét riêng đó thể hiện cách nhìn, cáchcảm của mỗi nhà văn đối với thế giới khách quan và tài năng của nhà văn đótrong việc sử dụng các phương tiện biểu đạt Phong cách nhà văn vừa mangnhững nét riêng cá nhân, vừa mang dấu ấn của dân tộc và thời đại

Với tác giả Cù Đình Tú, ông cho rằng phong cách tác giả phải căn cứvào hai dấu hiệu cơ bản đó là “khuynh hướng ưa thích và sở trường sử dụngnhững loại phương tiện ngôn ngữ nào đó của tác giả” và ‘sự đi lệch chuẩnmực của tác giả”[33, tr 123] Phong cách nhà văn chịu sự chi phối của các yếu

tố như thế giới khách quan, tâm lý, khí chất và cá tính của mỗi người Đó lànhân tố quyết định sự hình thành phong cách của nhà văn Khi phong cáchcủa mỗi nhà văn đã hình thành rồi thì thường có tính bền vững và tương đối

ổn định Tuy nhiên phong cách nhà văn vẫn có sự thay đổi, phát triển trongtừng điều kiện nhất định

Ngôn ngữ truyện ngắn là nơi nhà văn có thể thử nghiệm phong cách và

sử dụng ngôn ngữ vừa là tài năng vừa là cá tính sáng tạo, vừa là hiệu quả thểhiện của mỗi một nhà văn để làm nên phong cách của riêng mình

Trang 22

Như vậy, khi nghiên cứu phong cách nhà văn chúng ta nhất thiết phảitìm ra nét riêng của nhà văn đó Tìm xem nhà văn đó kế thừa những gì ởtruyền thống văn học dân tộc, và họ đã có những đóng góp, đổi mới, pháttriển gì cho kho tàng văn học dân tộc Để làm được điều đó chúng ta cần phảikhảo sát trên nhiều tác phẩm của một tác giả có sự lặp đi lặp lại nhiều lầnnhững yếu tố nghệ thuật Trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc có nhữngcây bút trẻ đã tạo cho mình phong cách ngôn ngữ riêng khơi dậy trong lòngngười đọc giá trị nhân văn cao đẹp – nhà văn Trần Thùy Mai là một tác giảnhư thế.

1.2.Vài nét về tác giả, tác phẩm Trần Thùy Mai

Trần Thùy Mai sinh ngày 8/8/1954, tại Hội An, quê gốc ở An Hòa –Huế Chị vốn là nữ sinh trường Đồng Khánh - Huế Tốt nghiệp ĐHSP Huế

Từ 1977 - 1987 là giảng viên khoa Ngữ văn ĐHSP Huế Từ 1987 là hội viênhội nhà văn Việt Nam và chuyển sang công tác ở nhà xuất bản Thuận Hóa.Chị cùng thế hệ với Lý Lan, Minh Ngọc, thế hệ nhà văn thời kì hậu chiến.Tác phẩm đã được xuất bản:

Bài thơ về biển khơi (1983) Thập tự hoa (2002)

Cỏ Hát (1984) Biển đời người(2002)

Thị trấn Hoa Quỳ vàng (1993) Chiếc nhẫn ngọc lục bảo (2005)

Trò chơi cấm (1998) Mưa ở Strasbourg (2007)

Quỷ trong trăng (2001)

Với những tác phẩm đã xuất bản đó, ta thấy chị là một nhà văn viết kháđều tay Cho đến nay, chị đã có một khối lượng tác phẩm tương đối lớn với 4giải thưởng văn học

Điều đáng chú ý ở Trần Thùy Mai là phong cách ngôn ngữ, chị đã tạocho mình tiếng nói nồng thắm đậm chất Huế, vừa dung dị, gần gũi, đằm thắmđời thường vừa gần với thơ, nhưng cũng giàu chất triết lí Có thể nói ngônngữ truyện ngắn Trần Thùy Mai là ngôn ngữ tự sự trữ tình Chị đã tạo cho

Trang 23

mình một phong cách ngôn ngữ riêng mà theo chúng tôi không lạ quá màkhông cũ quá nhưng cũng đủ gây ấn tượng mạnh trong lòng độc giả Truyệnngắn Trần Thùy Mai đề cập đến khá nhiều mảng đề tài: Tình yêu đôi lứa, tìnhcảm vợ chồng, cuộc sống thường nhật vẫn thường xảy ra không chỉ yên bình,hạnh phúc mà còn là nhưng hiểm họa luôn rình rập…

Phụ nữ không viết gì khác ngoài mình, họ “tự ăn chính mình”, TrầnThùy Mai cũng vậy, chị không viết gì ngoài chính mình, thế giới tình yêu vàcuộc sống của chính mình Sẽ không thể lí giải được nhân vật của Trần ThùyMai nếu chúng ta không khảo sát “tính chất tự truyện” trong truyện ngắn củachị Đây là một đặc điểm độc đáo, quy định nhiều bình diện nghệ thuật trongtruyện ngắn của chị

Truyện ngắn của Trần Thùy Mai không làm người đọc “choáng” vì chịkhông phanh phui mặt trái của xã hội một cách tàn nhẫn như Nguyễn Thị ThuHuệ, không truy tìm quá khứ gắt gao như Phạm Thị Hoài, không bắt ngườiđọc phải sững sờ, hoảng hốt khi đối mặt với khoảng không cô đơn như VõThị Hảo Trên những trang viết của mình, Trần Thùy Mai thường thể hiệnnhững ước mơ cao đẹp về tình người, về cuộc đời Chất Huế tràn vào trangviết của chị, sự thuần hậu, dịu dàng in hình trên gương mặt các nhân vặt củachị Trần Thùy Mai đã đi tìm cái đẹp của cuộc sống, của tâm hồn con ngườitrong cõi nhân gian bao la, để rồi chị thổi vào trang viết những câu văn manmác chất thơ, nhưng đằng sau những trang viết vẫn là những nỗi đau âm ỉ vềthân phận làm người trên cõi nhân gian này

Yêu và gắn bó với mảnh đất Huế nên trong văn chị luôn phảng phất hìnhảnh của mảnh đất và con người xứ Huế Đó là cuộc sống của những ngườiphụ nữ như Trang – một cô gái hát ca Huế trên dòng Hương Giang (Khói trênsông hương), các nhân vật trong Dòng suối cạn nguồn, hay cô bé Sư Mi dạy

khiêu vũ trong Gió thiên đường… Họ sống trong “những khu vườn rộng, nằm khuất nẻo trong một góc sau đình Lại Thế Mít và đào trải rộng những tán lá

Trang 24

xanh, trước nhà là chiếc bình phong chè tàu, cây song thọ đào mùa xuân nở hoa lấm tấm hồng trên những cành gầy gộc…” Đó là phong tục “đêm đầu tiên về làm dâu, khi em đi đến phòng hoa chúc mạ đi theo em (…), mạ đạp lên bóng em, để sau này em không ngẩng đầu lên, không thể cứng đầu, cứng cổ được…” Và những câu nói mang chất giọng riêng của Huế, cũng được Trần Thùy Mai đưa vào trong tác phẩm một cách tự nhiên như: “Coi kìa, ốt dột chưa, mà thôi, em thích khóc thì khóc cho đã nư” Truyện ngắn trần Thùy Mai

đằm thắm, dịu dàng bởi chất trữ tình của Sông Hương, Núi Ngự, vừa vươngnét lãng mạn của cả Huế xưa và Huế bây giờ

Từ những quan niệm về cuộc sống với những nét văn hóa truyền thống,thì truyện ngắn Trần Thùy Mai cũng là một thể hiện thành công của nhữngkiếp người khắc khoải giữa cõi tu và cõi tục Hầu như tất cả những mối quan

hệ giữa con người với nhau trong truyện ngắn đều được Trần Thùy Mai xâydựng theo tư tưởng từ bi – hỷ xả, cõi tâm linh mang đậm dấu ấn của phậtgiáo, quan niệm sống của người Huế, người Phương Đông

Một nét đặc biệt trong sáng tác của Trần Thùy Mai, đó là tình yêu không

có tuổi Phần lớn truyện ngắn của chị đã xây dựng là các mối tình người con

trai ít tuổi say mê người phụ nữ nhiều tuổi hơn mình Thắng trong Thập tự hoa hay đôi tình nhân trong cơn giông mùa xuân …Đó là những tiếng gọi

thiết tha, chan chứa của tình yêu muốn vượt qua giới hạn của tuổi tác và ràocản của tục lệ, cộng đồng Có thể xem đây là một vấn đề nghiêm túc, một bứtphá trong tư duy nhưng cũng khó được mọi người chấp nhận bởi cái thành lũycủa phong tục tập quán đã ngự trị quá lâu trong tư tưởng của mỗi con người,

mà đặc biệt là những người dân trên mảnh đất cố đô Huế

Bằng lối viết nhẹ nhàng, thanh thoát nhưng sâu sắc, mạnh mẽ Trần ThùyMai đã khám phá thế giới uẩn khúc trong tâm hồn con người Chị đã thổi vàonhân vật của mình cái ngang tàng, ngông cuồng của người Tây phương nhưngrốt cuộc nó vẫn không làm thay đổi cái bản chất chung thủy, dịu dàng và đằm

Trang 25

thắm của người phụ nữ Phương Đông Bởi chị tâm niệm: “hãy làm việc, yêu thương và lặng lẽ đấu tranh để được sống một cuộc đời như mình muốn sống” mà chị đã gửi gắm qua nhân vật của mình.

Trần Thùy Mai đã và đang thực hiện sứ mệnh của truyện ngắn hôm nay,

đó là tiếp tục xới lật các mảng hiện thực của cuộc sống ở cả hai chiều quá khứ

và hiện tại để mong góp tiếng nói nhằm định vị cho người đọc một thái độnhìn nhận, đánh giá đúng hơn về người phụ nữ hiện đại

Có thể nói, tình yêu vốn là đề tài được nhiều nhà văn nữ theo đuổi và thểhiện, bởi hơn ai hết, họ có tâm hồn nhạy cảm trước cuộc đời và con người.Thế giới tình yêu được các nhà văn nữ khám phá toàn diện trên các cung bậccủa nó, có cả sự ngọt ngào và cay đắng, dữ dội và dịu êm, hạnh phúc và đauđớn Và Trần Thùy Mai cũng vậy, chị là người đàn bà được sinh ra như để

làm hai việc đó là để viết và để yêu: “Tôi chẳng làm được gì nếu không được yêu”, với chị “tình yêu là đôi cánh giúp con người vượt qua biên giới của chính mình” Đó là điều tuyệt vời nhất của cuộc sống, là một cứu cánh thậm

chí là ý nghĩa còn lại sau cùng của cuộc đời mỗi con người Với một quanniệm về tình yêu như vậy, Trần Thùy Mai đã suy ngẫm về bi kịch nhân sinh,

về số phận con người và những trăn trở về cuộc sống thông qua nhân vật của

mình Người đàn bà trong Thập tự hoa đã “tự nguyện đóng đinh cuộc đời mình vào dĩ vãng” Chị cho rằng: “mỗi đời người đều có một cây thập tự phải mang” Chị sống với dĩ vãng của chị là bé Mi – kết quả của một tình yêu đầy

kỉ niệm và bó hoa khô còn sót lại từ quá khứ Đây là bó hoa mà người đàn

ông đã mang đến cho chị vào ngày sinh nhật thứ 26 Bây giờ “những chiếc lá xốp cứng, còn hoa thì giòn và khô như những phiến đá mỏng”, nhưng “trong những cánh hoa đã chết vẫn còn dư âm của hơi thở, những lời thì thầm và

cát” Người đàn bà đã sống với những hồi ức của một tình yêu huyền thoại,

một huyền thoại đã cũ nhưng đã từng là có thực Với chị, tất cả chỉ là mộtgiấc mơ hoang tưởng, chị không còn muốn tin vào những cuộc phiêu lưu mới,

Trang 26

bởi vì có lẽ màu nâu khô dĩ vãng của bó hoa tuổi 26 và tình yêu của người

đàn ông “đã đặt cả vũ trũ trong lòng nàng rồi ra đi”, đã đóng đinh cuộc đời

chị vào cây thập tự mà chính chị đã dựng nên

Tình yêu trong truyện ngắn Trần Thùy Mai thường ở ngoài cánh cửa hônnhân nhưng thuần túy trong sạch và không hề vướng chút dục vọng bản năngnào Nó không thiên về những mối tình trần trụi vô luân, đậm sắc màu tínhdục mà những mối tình đẹp, lãng mạn, đằm thắm như thưở ban đầu Đó làtình yêu của ông Thanh với người thiếu phụ Huế qua bản nhạc Jeuinterdit và

những cơn mưa mùa thu “nhẹ nhàng như không buồn đậu xuống đất mềm”

Với sự mẫn cảm thiên phú, Trần Thùy Mai đã mang tặng người đọc mộtmón quà độc đáo: Tình yêu Tình yêu không chỉ là hạnh phúc mà còn đem lạicho con người những bi kịch nhất là đối với người phụ nữ Những người phụ

nữ trong truyện ngắn Trần Thùy Mai “những người phụ nữ có tâm hồn như ngọc nhưng ít gặp hồng phúc trong tình yêu”[7, tr 131] Quan tâm đến thân

phận và hạnh phúc trong tình yêu của các nhân vật nữ là tư tưởng mà TrầnThùy Mai muốn thể hiện qua từng trang truyện Nhân vật nữ của chị hầu nhưđều bất hạnh và cô đơn, ở họ có những mâu thuẫn giữa khát vọng tình yêu

chân chính với hiện thực cuộc đời nghiệt ngã Đó là “những người phụ nữ và những cuộc tình khát khao không dấu chấm”[34, tr 40], sắc thái tình yêu của

những người phụ nữ trong truyện ngắn của chị là sự đắm say, mãnh liệt, dang

dở, buồn nhưng không tuyệt vọng Họ mang trong mình dòng máu lãng mạn

bởi những câu ca trên dòng Hương Giang của Trang trong Khói trên sông Hương, đêm thơ của Nguyệt trong Quỷ trong trăng.

Viết về tình yêu Trần Thùy Mai xem đó không chỉ là một thứ tình cảmđặc biệt mà còn là lí do để sống, là một sự rung động nhưng lại có sức ám ảnhcon người ta đến suốt cả cuộc đời Có lẽ đó là lí do mà khi viết về những khaokhát hạnh phúc, về cuộc sống, tình yêu của các nhân vật nữ ngòi bút của chịtrở nên da diết, khắc khoải và bỏng rát hơn Hầu hết các nhân vật nữ của Trần

Trang 27

Thùy Mai đều đẹp, họ đẹp từ ngoại hình đến nhân cách, một vẻ đẹp thánhthiện, yêu hết mình, sống tốt hết mình cho tình yêu Các nhân vật đến vớinhau, tìm gặp nhau trong một không gian tình yêu đầy màu sắc huyền thoại

và cổ tích Đó là tình yêu của Khánh trong Ngôi đền sống, Hơ Thuyền trong Thuyền trên núi…Họ là những người đã gửi gắm trọn vẹn tâm hồn cho người

mình yêu và khi tình yêu không còn nữa họ đã chọn cái chết thanh thản đểđược đem đi mối tình của mình mà họ hằng khao khát Hơ Thuyền đã chọncái chết cho một tình yêu đích thực, cô đem vào thế giới thiên thu với một

tình yêu bất tử trong đôi mắt “chỉ có thần linh mới lột tả được đôi mắt kia, tình yêu dữ dội của nàng, đôi mắt trần gian của tôi đã không nhìn thấy”

Bên cạnh những trang viết về tình yêu của người phụ nữ, qua truyệnngắn của Trần Thùy Mai người đọc dường như hiểu hơn về một nửa còn lạicủa mình Quan niệm về tình yêu của thế giới đàn ông dưới ngòi bút của chị

cũng đa dạng, sâu sắc và nhiều cung bậc khác nhau Với Hiếu trong Gió thiên đường thì “chỉ cần một ngày một giờ chàng trai đủ tạo nên một huyền thoại phiêu lưu mới”.Hay người đàn ông trong Thập tự hoa đã đem tình yêu

cùng cả thế giới đặt vào trái tim người phụ nữ rồi lặng lẽ ra đi để lại cho

người mình yêu một khoảng trống của cuộc đời, bởi vì “trong tình yêu đàn ông rất khác đàn bà Đàn ông khởi đầu một cách điên cuồng rồi dịu đi trong hèn nhát, còn đàn bà càng lúc càng giam mình trong kỉ niệm ngu dại và xót xa” Còn Stephano trong Hoa cho Stephano thì tình yêu với anh như “là cuộc

viễn du vào một miền văn hóa lạ” Bên cạnh những quan niệm về tình yêunhư Hiếu, Stephano, Tuấn thì trong truyện ngắn Trần Thùy Mai cũng có

những người đàn ông “tử tế” trong tình yêu Đó là Hưng trong Chuyện ở phố hoa Xoan, Vũ trong Thuốc ba màu, người đàn ông trong Nước thề thì tình yêu

đối với họ là sự hồi sinh, nó đánh thức năng lực của người đàn ông trongHưng, Vũ, là nguồn cảm hứng trong sáng tạo nghệ thuật, giúp họ thăng hoatrong nghệ thuật và cuộc sống

Trang 28

Một nét nổi bật nữa trong đa số truyện ngắn của chị mà chúng ta khảosát đó là “tính chất huyền thoại” Có thể nói “ở một phương diện nào đó tìnhyêu của Trần Thùy Mai không thực, chữ thực trong quan hệ giữa thực - ảo,thực – hư” Những câu chuyện tình, những không gian hò hẹn, những kỷ niệmlứa đôi thường được nhìn từ hoài niệm và đó thường là những hoài niệm đẹpnhư cổ tích đã được nhân vật chính huyền thoại hóa Đó là những câu chuyện

Trần Thùy Mai tạo ra như những giấc mơ (Giấc mơ núi Ngựa trắng)…

Có thể nói, những câu chuyện tình yêu huyền thoại của Trần Thùy Mai

đậm chất huyền ảo, mơ hồ của những câu chuyện kể dân gian Đọc Khói trên Sông Hương tôi có cảm giác như đọc câu chuyện cổ tích với môtip “một cô

gái với hai chàng trai” Nhưng khác với truyện cổ, Trang chọn người em Số

phận của cô gái “không tin chắc chắn vào bất cứ điều gì, trừ bài ca” đã bắt

đầu từ sự lựa chọn nghiệt ngã ấy Cuối cùng vì không muốn bị mẹ chồng đạpbóng một lần nữa, không muốn lìa xa những câu hát, Trang từ bỏ Hoành, từchối Tung Câu chuyện bàng bạc một không gian Huế nhẹ nhàng như nhữngđiệu ca trên sông Hương Những câu chuyện tình yêu đậm màu sắc huyềnthoại, huyền ảo là những hoài niệm đẹp như cổ tích

Nguyễn Huy Thiệp cũng có những truyện ngắn viết theo lối “giả cổ tích”

trong đó tiêu biểu có “Con gái thủy thần” và một số truyện ngắn khác như

“Trái tim hổ”…nhưng chất văn của Nguyễn Huy Thiệp ngang tàng, mạnh bạo

và những câu chuyện tình yêu dù có dấu ấn cổ tích nhưng sao cứ trần trụi, xótxa; còn “tình yêu huyền thoại” của Trần Thùy Mai cứ lung linh đẹp, mongmanh khói sương, huyền ảo, hư – thực để nhằm hiện một khát vọng tình yêu

vô cùng và bỏng rát – khát vọng rất nhân bản

Trần Thùy Mai đã thành công trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, đặcbiệt là nhân vật nữ Chị đã hoá thân khi miêu tả tâm hồn, tính cách và nhữngkhát vọng vô bờ của họ Nhân vật của chị thường nghiêng về thế giới nội tâm

và những hoài niệm đẹp như cổ tích của một thời dĩ vãng Họ sâu sắc, giàu

Trang 29

nội lực và sức đề kháng mãnh liệt như chính ước mơ cháy bỏng của tác giả vềcon người và cuộc đời.

Tất cả đó là những yếu tố cần nhưng chưa đủ để tạo nên một tác phẩmvới bất cứ một tác giả nào trong sự nghiệp văn chương.Với Trần Thùy Maicũng không phải là một ngoại lệ, đó là năng lực sử dụng ngôn ngữ như nhữngtín hiệu nghệ thuật Có thể nói với ngòi bút Trần Thùy Mai thì đây là mộtđiểm gây chú ý mạnh đối với những người nghiên cứu khoa học như chúngtôi, bởi có chúng tác phẩm mới chuyển tải được đến với độc giả

Từ góc độ ngôn ngữ học, với đề tài “Ngôn ngữ truyện ngắn Trần

Thùy Mai”, chúng tôi hi vọng đưa ra những nhận xét về ngôn ngữ truyện

ngắn của chị, một trong những yếu tố quyết định sự thành công của tác phẩm

Cũng trong chương này chúng tôi đi đến khái quát những đặc điểmchung về nhà văn Trần Thùy Mai, nhà văn đã khẳng định được mình qua một

số tác phẩm Trần Thùy Mai là một nhà văn có sức sáng tạo dồi dào, truyệnngắn của chị đã thể hiện tài năng, cá tính và luôn thể hiện sự tìm tòi khám pháriêng đầy công phu Ở các khía cạnh như khai thác đề tài, sử dụng ngôn ngữnghệ thuật, xây dựng hình tượng nghệ thuật và trong việc lựa chọn ngôn ngữ.Ngôn ngữ truyện ngắn Trần Thùy Mai lãng mạn, trữ tình, ẩn chứa nội dungngữ nghĩa sâu sắc, là những tâm sự day dứt khôn nguôi về số phận con người,

về đời và nhân tình thế thái

Trang 30

Chương 2.

ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỪ TRONG TRUYỆN NGẮN TRẦN THÙY MAI

2.1 Định nghĩa về từ

Các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra rất nhiều định nghĩa về đơn vị từ, theo

tác giả Đỗ Hữu Châu thì: “Từ là một đơn vị định danh của ngôn ngữ, nó cũng

là một hình thức ngữ pháp được các thành viên của một tập thể hiểu như nhau trong quá trình trao đổi Từ có âm thanh và hình thức Tuy vậy âm thanh và hình thức chỉ là những phương tiện để cấu tạo nên từ, bản thân chúng chưa phải là từ Chỉ khi nào gắn liền với một ý nghĩa nào đấy thì chúng mới có khả năng biểu đạt tư tưởng”[50, tr 330 – 331] Như vậy, nói đến từ là nói đến bốn

2.2.Lớp từ ngữ đậm chất Huế

Nhà thơ Đỗ Thanh Bình viết:

Vẻ đẹp Huế chẳng nơi nào có được Nét dịu dàng pha lẫn trầm tư

Tình yêu từ chiếc nón bài thơ

Từ giọng nói âm trầm sâu lắng lạ

Hay nhà thơ xứ Quảng – Bùi Giáng có hai câu thơ ngộ nghĩnh về xứHuế:

Trang 31

Dạ thưa xứ Huế bây giờ Vẫn còn Núi Ngự bên bờ sông Hương …

Ai chẳng biết bây giờ và cả bao giờ thì xứ Huế vẫn còn núi Ngự bên bờsông Hương, chứ làm sao dời đi đâu được Có lẽ ngữ nghĩa của hai câu thơnên tìm ở chỗ gián tiếp Đọc lên ta nghe ngay cái giọng Huế đặc của “các mệ”vừa đài các vừa láu lỉnh

Không ở nơi nào trên đất nước Việt Nam có Núi Ngự sông Hương đãđành, mà cũng không có nơi nào có hai tiếng “dạ - thưa…” nghe qua hay đọctới là có thể hình dung cái miệng dẻo quẹo của con người xứ Huế Một nét cátính, phong cách Huế là thế Ở nơi đâu thì “gọi dạ, bảo vâng” còn ở Huế gọihay bảo đều “dạ” cả

Nhà thơ Lương Trình có một bài thơ đề tặng những ai yêu Huế:

Nghe em dạ dạ ngọt ngào Huế ơi là Huế mà sao quen nhiều

Dạ thưa …giọng Huế yêu kiều Một điều cũng dạ hai điều cũng thưa

Trần Thanh Đạm trong bài viết của mình đã nhận xét: “Thật khó mà nóiđược từ đâu ra cái giọng Huế ấy, cái âm sắc phương ngữ lạ lùng của mảnh đấtmiền Trung Việt Nam này Không có chứng cứ khoa học nào cả, nhưng từsuy luận của tôi, tôi nghĩ rằng: Giọng nói do con người sinh ra, còn con ngườithì do mảnh đất sinh ra”

Tiếng Việt ta rất hay khi phân biệt hai phạm trù Tổ Quốc và Quê Hương.Tôi xin trích định nghĩa của Xuân Quỳnh:

Mỗi người có một quê Ngày dại thơ để ở Ngày lớn lên để yêu

Và đi xa để nhớ

Trang 32

Dấu ấn sâu sắc của quê hương là trong giọng nói: Giọng Bắc, giọngNam, giọng Nghệ, giọng Quảng, giọng Huế …Nước Việt Nam ta hình congchữ S, miền Trung như đòn gánh, gánh hai cái thúng Nam, Bắc hai đầu TiếngViệt ở Bắc Bộ và Nam Bộ khó phân biệt giọng từng tỉnh nhưng ở miềnTrung, từ Thanh Hóa và Bình Thuận mỗi tỉnh như một phím đàn cất lên âmgiai riêng Giọng Huế hay âm sắc phương ngữ Miền Trung Trung Bộ là mộtnét cá tính phong cách đặc trưng, độc đáo của con người xứ Huế Tôi vẫnthường nghĩ – mà chắc là không sai lầm – rằng giọng nói (cũng như ánh mắt)biểu hiện nội tâm của con người, biểu hiện phẩm lượng của nội tâm đó Từngcon người hiển nhiên là như vậy, cả một cộng đồng, dù nhỏ hay lớn cũng đềunhư vậy.

Cái giọng Huế dạ … thưa ngọt ngào (và không ít khi chanh chua nữa)biểu hiện cái phẩm lượng nội tâm gì của con người xứ Huế? Rõ ràng nhất làgiọng nói của âm nhạc, của thơ văn, nói rộng hơn là của nghệ thuật, của tâmhồn Xứ Huế là dân ca, nhã nhạc, của những điệu mái đẩy, mái nhì, Nambằng, Nam ai, rộng dài bao la như sông biển, xứ Huế là quê hương của nhàthơ, nổi tiếng một số, còn đa số là vô danh song tác phẩm là tuyệt diệu, lànguồn sữa nuôi các nhà thơ hữa danh như sữa mẹ nuôi con Không chỉ âmnhạc, thi ca, giọng nói và tâm hồn con người xứ Huế còn nhạy cảm vô cùngvới văn chương, hội họa, kiến trúc, sân khấu, điện ảnh, nhiếp ảnh Người Huế

có tâm hồn nghệ sĩ, phải chăng nhờ giọng nói “ngọt ngào tiếng dạ cứ như cho” Giọng nói tạo ra tâm hồn hay tâm hồn tạo ra giọng nói, khó mà dẫn giải

được, như không thể biết quả trứng sinh ra con gà hay con gà sinh ra quảtrứng Có điều chắc chắn là người Huế dù ở nhà, ở quê hay đi bất cứ nơi đâucũng mang theo giọng nói và tâm hồn ấy, người nơi khác không chóng thìchày cũng sẽ nhận ra:

Tôi đọc thơ anh thấy ngọt ngào Bâng khuâng không hiểu tại làm sao

Trang 33

Hôm qua bắt gặp bài thơ Huế Mới biết hồn thơ tự đất nào

Giọng Huế, người Huế là giọng nói và con người của tâm hồn, của nghệthuật, điều đó ai cung rõ nhưng còn trí tuệ? Đó có phải là giọng nói, conngười của trí thông hay không? Tôi cũng tin là có Dù phát triển có thể nhanhchậm, sớm muộn khác nhau, song trí tuệ bao giờ cũng song đôi với tâm hồn

Đi tìm tâm hồn và trí tuệ của con người xứ Huế “từ giọng nói âm trầm sâu lắng lạ”, tôi vẫn không quên một thực tế là xứ Huế xưa nay là mảnh đất

nghèo, thủy tú sơn thanh nhưng cồn khô cỏ cháy, thừa thơ mà thiếu cơm, làmảnh đất đi để nhớ chứ không phải ở mà thương Người Huế chỉ có mảnhtâm hồn và trí tuệ được quê hương hun đúc từ thưở ấu thơ để làm vốn liếng,làm phương tiện mưu sinh, rồi còn cống hiến, sáng tạo Nhà văn Trần ThùyMai cũng là một con người xứ Huế bởi vậy mà giọng Huế, con người Huế,nếp sống Huế cứ ăn sâu, bám chặt trong mỗi trang văn của chị

2.2.1 Lớp từ địa phương

Lâu nay trong giới ngôn ngữ học có rất nhiều quan niệm khác nhau vềkhái niệm từ địa phương Người ta đã đặt ra nhiều tiêu chí khác nhau để xáclập về định nghĩa phương ngữ

Trong các giáo trình ngôn ngữ học đại cương, giáo trình từ vựng học,các tác giả khác nhau đều có đưa ra định nghĩa về từ địa phương Khi địnhnghĩa ngôn ngữ địa phương thì có phân biệt với ngôn ngữ toàn dân, ngôn ngữvăn hóa Có thể thấy rõ hai tiêu chí nổi bật mà các tác giả thường nhắc đếnkhi định nghĩa về phương ngữ đó là:

- Từ đó là biến thể của ngôn ngữ toàn dân

- Tiêu chí phạm vi sử dụng bị hạn chế

Có nhiều ý kiến bác bỏ lẫn nhau Theo Phạm Văn Hảo thì “chúng ta nên

có tiêu chuẩn quan trọng để xác định từ ngữ địa phương là đặc trưng biến thểgiữa hệ thống từ địa phương và hệ thống từ vựng hóa” Nhóm tác giả Nguyễn

Trang 34

Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh, Nguyễn Hoài Nguyên và Phan Mậu Cảnh biênsoạn cuốn “ Từ điển địa phương Nghệ Tĩnh” định nghĩa rằng: “Từ địa phương

là vốn từ cư trú ở một địa phương cụ thể có sự khác biệt với ngôn ngữ văn hóahoặc địa phương khác về ngữ âm và ngữ nghĩa”

2.2.1.1 Thống kê

Trong 39 truyện ngắn được khảo sát có 29 truyện có sử dụng từ địaphương Sự xuất hiện từ địa phương ở trong mỗi tác phẩm có tần số khác nhau,sau đây là kết quả mà chúng tôi đã khảo sát:

Bảng thống kêTruyện Số lần

sửdụng

Truyện Số lần

sử dụng

Chuyện ở phố hoa Xoan

Lửa của khoảnh khắc

Hoa cho Stephano

Người điên vì hoa

Giông Mùa xuân

Tôi đi làm phan

2271124158551011413

Mưa đời sauĐêm tái sinhKhói trên sông HươngGió thiên đường

Tống NươngMưa ở StrasbourgNến hoa hồngGặp ở quê ngườiNước thề

Em Dung

Dễ vỡTrinh nữSao hóa lộcQuỷ trong trăng

115311623215766362410

Trang 35

Trong ba tập truyện mà ta khảo sát thì số từ địa phương được sử dụng ởđây chiếm hơn 2/3 số lượng tác phẩm, tất cả những tác phẩm đó đều viết vềcon người và mảnh đất miền Trung đặc biệt là xứ Huế Với số lượng từ địaphương xuất hiện nhiều trong tác phẩm như vậy có gây khó dễ cho độc giả khicảm thụ tác phẩm hay không? Qua tìm hiểu, khảo sát thì thực ra lớp từ nàyđược sử dụng nhiều nhưng chỉ nhiều về tần số, không gây khó hiểu cho ngườiđọc Trong 29 tác phẩm có sử dụng từ địa phương tần số xuất hiện có sự khácnhau và chênh lệch lớn Đề tài mà những tác phẩm này khai thác chủ yếu là về

người nông dân, về nông thôn (Dòng suối cạn nguồn, Tháng tư trở lại, Non

nước mùa đông, Trinh nữ, Sao hóa lộc …) hay viết về giới trẻ (Am bà cô, Tôi

đi làm Fan, Gặp ở quê người,Chuyện ở phố hoa xoan …)…

a Ở lớp từ địa phương đang xét, chủ yếu tác phẩm sử dụng các từ loại sau:

Đại từ:

- Đại từ xưng hô: tui, tau, mi …

- Đại từ chỉ định và nghi vấn: Chi, răng, ni, ri

Động từ: biểu, vứt, quăng, bịnh, mở mai xưa, ở giá, nuốt lốn, ưng, dòm ngó, dong, coi, lượm, giả đò, gởi

Danh từ:

- Danh từ chỉ người: mẹ, má, mạ, mệ, mệ ngoại, út, mụ

- Danh từ chỉ vật, sự vật, địa điểm: lãnh vực, chậu kiểng, hột gà, hỗn danh,

Tính từ: dị òm, dài dài, dữ dằn, dữ hí, dữ

Trong các loại từ trên thì đại từ chiếm số lượng ít nhưng tần số xuất hiệncao, còn các loại từ khác tuy tần số xuất hiện không cao nhưng đem đến chongười đọc một cảm giác thú vị, mới lạ, ví như một thứ “gia vị” làm mới “khẩuvị” cho độc giả, tạo cho độc giả một trí tưởng tượng khi tìm hiểu tác phẩmcũng như khi nhắc đến nhà văn Chính những yếu tố ngôn ngữ này đã góp

Trang 36

phần làm nên sự sinh động của lời văn, làm cho lời văn giàu sắc thái biểucảm.

b Lớp từ địa phương được sử dụng trong tác phẩm một cách tự nhiên, không gò bó

Người dân Huế ăn nói dịu dàng, nhẹ nhàng và ngọt ngào trong tiếng dạ,tiếng thương đã từng được văn chương ngợi ca từ xưa tới nay Trần Thùy Mai

là nhà văn xứ Huế, lại là một nhà văn nữ - bản tính Huế như thấm sâu vào tâmhồn chị, cho nên đọc văn của chị ta như cảm được cái hồn của Huế qua cách sửdụng lời ăn, tiếng nói của người dân Huế cho các nhân vật của mình Tất nhiênviệc sử dụng lớp từ địa phương trong tác phẩm văn học phải mang đến nhữnggiá trị nghệ thuật nhất định Nhưng nếu tác giả không khéo léo trong sử dụngthì nó lại có tác dụng ngược lại Bạn sẽ có cảm giác thế nào khi đọc một tácphẩm mà vừa đọc vừa phải “tra” từ điển, chắc chắn sẽ chán ngay, không nhữngthế nhà văn vô tình gây nên sự phản cảm cho người đọc, bởi vậy mà tác giảphải có sự điều chỉnh cho phù hợp để tạo nên những tác phẩm nghệ thuật thực

sự có giá trị Ở 3 tập truyện chúng ta khảo sát lớp từ địa phương được sử dụngthành công, nó xuất hiện trong mạch văn một cách khéo léo, tự nhiên gợi lêntrong lòng người đọc những tình cảm khó quên về một vùng đất đậm đà bảnsắc văn hóa, về những con người giàu lòng nhân ái, trọng tình, trọng nghĩa ởmảnh đất “thần kinh” này

c Việc sử dụng từ địa phương trong ngữ cảnh giao tiếp giúp cho các nhân vật có sự gần gũi, thân mật Quan hệ chân tình, gắn bó giữa con người với

nhau được nhân lên khi nhân vật nói với nhau bằng ngôn ngữ thân thuộc:

“Tui ở vùng đèo Ngang nhưng vô đây từ nhỏ nên lớn lên các kiểu hò hát vùng này tui đều thuộc Bài hát này tui làm ra để trêu chọc O Lài – nói xong ông vội sửa – Bà Lài “Tui nhớ năm nọ, ông giả chủ hội xướng câu:

Mình tròn chịu tiếng không tròn

Đêm nằm trắc trở nước non một mình

Trang 37

Ông Phàn cười – “Tui là dân nhà nông, lại chuyên nghề đơm tát, mới nghe tui

trả lời ngay cái giẹp! “Bất đồ O Lài đứng ra ngăn lại:

- Anh cả Phàn nói là cái giẹp – thiệt đã nên quê

Cho em thưa là cái chẹp, thử có trúng đề hay không?

Trời ơi, tui quên là dân Thừa Thiên họ nói “chẹp” chứ không nói “giẹp” ông

ạ!”

Chính lớp từ gần gũi, thân thuộc mà người dân vẫn thường dùng để giaotiếp với nhau giúp cho họ xích lại gần nhau hơn, khiến cho người xa lạ vừatiếp xúc có cảm giác thoải mái, dễ bày tỏ tâm tư tình cảm hơn

Hay khi xuất hiện trong lời giữa các nhân vật trẻ tuổi, nghe thật hồnnhiên, trong sáng, đáng yêu mà đầy sự truyền cảm Nhân vật Hiếu và Mi

trong (Gió thiên đường) tuy không phải là người thân quen nhưng chính bằng

ngôn ngữ địa phương, nơi họ sinh ra mà họ đã tìm được sự đồng điệu của độcgiả:

Vậy thì từ bữa ni, Mi là “sư phụ của Hiếu đó nghe” Hiếu cười khoe

chiếc răng mẻ rất dễ thương: “Dạ, xin sư phụ chỉ bảo cho đồ đệ”

“Mi biết vì răng nhà em ít người học không? Tại nhạc chán quá!”

“Vậy Hiếu tới đây làm chi?” “Nhạc nghe sầu lắm, nhưng cô giáo thì dễ

thương”

Kiểu xưng hô bằng đại từ và ngữ khí từ phương ngữ Miền Trung lờithoại giữa các nhân vật có quan hệ thân thiết, gắn bó của những người bạncùng làm nghề ca hát trên dòng Hương Giang, cụ thể ở đây là lời của nhân vậtLài Hoa bộc bạch với Trang:

“Trang ơi, cái ông kĩ sư này cứ chen chen vô ngồi bên tau ”

“Cái ông Việt Kiều quen với mi coi bộ vừa ngầu vừa sộp Nếu có một thằng cha như rứa ngồi bên, tau nhất định nuốt lốn hắn”

“Đừng nuốt vô sẽ bội thực đó”

Trang 38

Lời của người mẹ dù rất giận con, đã từng từ con, nhưng vì quá nhớmong con, thương con mà đã tìm cách để gọi con về:

“Chị Niết lo lắng dìu me ngồi xuống giường me tôi xua tay:

- Để me đi, đừng dắt Me có đau ốm chi mô.

- ??!!

- Tau không giả đò, làm răng hắn chịu về”

Trong sử dụng ngôn ngữ, nhà văn đã chú ý rút ngắn khoảng cách giữa văn

và cuộc sống hiện thực Các nhà văn hiện đại luôn tự đổi mới, làm mới để đápứng nhu cầu của thực tế cuộc sống, đổi mới để gần với đời hơn, hữu ích với đờihơn, hơi thở cuộc sống tràn vào trang viết không ai giống ai Ngôn ngữ PhạmThị Hoài tràn ngập những yếu tố của cuộc sống hiện đại, mới trong từ ngữ, mớitrong cú pháp, hành văn Hay đọc trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp việc

sử dụng từ ngữ thông tục là một hiện tượng đáng chú ý, nếu như việc sử dụngvốn từ này là một việc làm trong văn học “kiêng kị”, né tránh, thì với NguyễnHuy Thiệp lại mang nhiều giá trị nghệ thuật, đó là “cái tài” không dễ mấy ailàm được

Trong ngôn ngữ văn chương nếu từ địa phương xuất hiện quá nhiều, nhàvăn quá lạm dụng sẽ gây khó hiểu cho độc giả, và nhất là nó sẽ làm ảnh hưởngđến tính chất sang trọng, trau chuốt của nghệ thuật Trần Thùy Mai sử dụng lớp

từ địa phương một cách hợp lí, đi vào lòng người, thuyết phục người đọc khitiếp xúc, bắt gặp, thậm chí còn để lại trong lòng họ những tình cảm dễ mến, dễthương đối với con người Huế, mảnh đất Huế Hơn thế nữa nó còn mang lạihiệu quả về cảm xúc nghệ thuật

2.2.2 Lớp từ chỉ địa danh

Không gian của truyện ngắn Trần Thùy Mai khá rộng, nó là đất nước ViệtNam, là miền đất Hàn Quốc xa xôi, là nước Campuchia chiến tranh, yêuthương và hận thù Không gian nào cũng được tác giả tạo dựng bằng tình yêu

và bằng bút lực dồi dào Nhưng ta dễ nhận ra mảnh đất mà nhà văn dành nhiều

Trang 39

tình yêu, nỗi niềm nhất là mảnh đất xứ Huế Yêu và gắn bó với mảnh đất Huế,nên trong văn chị luôn in dấu hình ảnh và mảnh đất con người xứ Huế, chị bộc

bạch “Mình lớn lên ở Huế và điều làm mình gắn bó với Huế nhất là cái cảm giác bé nhỏ, hiền hiền, thương thương mà lúc nào mình cũng cảm thấy khi nghĩ về xứ sở này Trong những gì mình viết ra có rất nhiều mảnh đời ở Huế”.

Đó là một thành phố trong những khu vườn xanh dịu dàng, với những thànhquách rêu phong, cổ kính trầm mặc, là nét ăn, nét ở của một thời quá khứ đượcnâng niu, gìn giữ Những địa danh như Sông Hương, núi Ngự, mái đình PhuVăn Lâu, Núi Ngựa Trắng, Thành Nội và những con đường chỉ nghe đến têncũng đã gợi lên bao kỷ niệm cho những người Huế xa quê, chỉ có người Huếmới biết đường Phượng Bay, dốc Nam Dao, quán Cội Nguồn và những điệu

hò man mác trên sông Hương đã đi vào tác phẩm như những gì thân thươngnhất của con người xứ Huế Trần Thùy Mai đi khắp mọi miền đất nước, vượtqua biên giới đến những miền đất xa xôi, nhưng dù ở đâu thì “linh hồn” Huếvẫn luôn phảng phất, bởi ở đó có những con người sinh sống, học tập, nhưng

họ vẫn luôn mang bên mình những hình ảnh thân thương về quê Hương yêu

dấu Đó là nhân vật Vũ và Út Liên trong (gặp ở quê người), người thì sang

Singapo để học tập, người thì sang để kiếm kế sinh nhai, nhưng hình ảnh quêhương vẫn luôn thường trực

2.2.2.1 Thống kê

Bảng thống kê

TT Tên truyện Số lần xuất

hiện1

Khúc nhạc rừng dương

17335

Trang 40

Tháng tư trở lạiHoa cho StephanoNgười điên vì hoaChiếc nhẫn ngọc lục bảoDòng suối cạn nguồnTôi đi làm phanĐêm tái sinhNgôi đền sốngKhói trên sông HươngTrò chơi cấm

Gió thiên đườngNước thề

Dịu dàng như cỏ

Em DungTrinh nữQuỷ trong trăngThiên thạchTống NươngChăn Tha

513714541033455912127133

2.2.2.2 Nhận xét

Cũng như những con người bình thường khác, mỗi nhà văn thường neođậu hồn mình vói một địa danh, một quê hương mình gắn bó Thể hiện hình

Ngày đăng: 20/12/2013, 18:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Thị Vàng Anh – Võ Thị Hảo – Lý Lan – Nguyễn Thị Thu Huệ (2002), Truyện ngắn 4 cây bút nữ, Bùi Việt Thắng tuyển chọn và giới thiệu, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Thị Vàng Anh – Võ Thị Hảo – Lý Lan – Nguyễn Thị Thu Huệ(2002), "Truyện ngắn 4 cây bút nữ
Tác giả: Phan Thị Vàng Anh – Võ Thị Hảo – Lý Lan – Nguyễn Thị Thu Huệ
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2002
2. Lại Nguyên Ân (1987), Sáng tác truyện ngắn gần đây của Nguyễn Minh Châu, tạp chí văn học, (3), tr.42 – 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lại Nguyên Ân (1987), "Sáng tác truyện ngắn gần đây của NguyễnMinh Châu
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1987
3. Phan Văn Cảnh (1978), Ngôn ngữ thơ, NXB Đại học – THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Văn Cảnh (1978), "Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Phan Văn Cảnh
Nhà XB: NXB Đại học – THCN
Năm: 1978
4. Trương Đăng Dung (1996), Suy nghĩ về đặc điểm của nữ văn sĩ, Văn hóa nghệ thuật, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trương Đăng Dung (1996), "Suy nghĩ về đặc điểm của nữ văn sĩ
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 1996
5. Trương Đăng Dung (2001), Tác phẩm văn học như là một quá trình, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trương Đăng Dung (2001), "Tác phẩm văn học như là một quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2001
6. Hồ Thế Hà – Lê Xuân Việt (1993), Thức cùng trang viết – 11 nhà văn đương đại Huế, NXB Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Thế Hà – Lê Xuân Việt (1993), "Thức cùng trang viết – 11 nhà vănđương đại Huế
Tác giả: Hồ Thế Hà – Lê Xuân Việt
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 1993
7. Hồ Thế Hà (1998), Tìm trong trang viết, NXB Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Thế Hà (1998), "Tìm trong trang viết
Tác giả: Hồ Thế Hà
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 1998
8. Hoàng Thị Châu (2004), Phương ngữ học Tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Thị Châu (2004), "Phương ngữ học Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: NXB Đại họcQuốc gia Hà Nội
Năm: 2004
9. Diệu Hiền (2002), Trần Thùy Mai và bi kịch của những người phụ nữ, Tạp chí kiến thức gia đình, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Thùy Mai và bi kịch của những người phụ nữ
Tác giả: Diệu Hiền
Nhà XB: Tạp chí kiến thức gia đình
Năm: 2002
10. Nguyễn Xuân Hoàng, Nhà văn Trần Thùy Mai – được viết mãi những điều mình yêu thích, phỏng vấn của đài PTTH Thừa Thiên Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Xuân Hoàng, "Nhà văn Trần Thùy Mai – được viết mãi nhữngđiều mình yêu thích
11. Nguyễn Thị Kim Huệ (2004), Quỷ trong trăng và thế giới nữ đậm cá tính phương Tây, thông báo khoa học Đại học Sư Phạm Huế (3), tr 39 – 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quỷ trong trăng và thế giới nữ đậm cá tính phương Tây
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Huệ
Nhà XB: thông báo khoa học Đại học Sư Phạm Huế
Năm: 2004
12. Nguyễn Thị Lan (2002), Truyện Trăng nơi đáy giếng của Trần Thùy Mai, Báo văn nghệ (13) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Lan (2002), "Truyện Trăng nơi đáy giếng của Trần ThùyMai
Tác giả: Nguyễn Thị Lan
Năm: 2002
13. Phong Lê (1990), Nhà văn và hiện thực, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong Lê (1990), "Nhà văn và hiện thực
Tác giả: Phong Lê
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1990
14. Nguyễn Văn Lưu (1996), Thử nhìn lại Văn học Việt Nam sau 10 năm đổi mới, Tạp chí văn nghệ Quân đội (6), tr. 96 – 100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Lưu (1996), "Thử nhìn lại Văn học Việt Nam sau 10 nămđổi mới
Tác giả: Nguyễn Văn Lưu
Năm: 1996
15. Phương Lựu (2004), Lý luận văn học, tập 1, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương Lựu (2004), "Lý luận văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm HàNội
Năm: 2004
16. Trần Thùy Mai (2001), Quỷ trong trăng, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Thùy Mai (2001), "Quỷ trong trăng
Tác giả: Trần Thùy Mai
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2001
17. Trần Thùy Mai (2002), Thập Tự Hoa, NXB Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Thùy Mai (2002), "Thập Tự Hoa
Tác giả: Trần Thùy Mai
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 2002
18. Trần Thùy Mai (2005), Chiếc nhẫn ngọc lục bảo, NXB Văn hóa Dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Thùy Mai (2005), "Chiếc nhẫn ngọc lục bảo
Tác giả: Trần Thùy Mai
Nhà XB: NXB Văn hóa Dântộc
Năm: 2005
19. Trần Thùy Mai (2007), Mưa ở Strasbourg, NXB Phụ Nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Thùy Mai (2007), "Mưa ở Strasbourg
Tác giả: Trần Thùy Mai
Nhà XB: NXB Phụ Nữ
Năm: 2007
20. Bùi Việt Thắng (2004), Truyện ngắn hôm nay, (1), Tạp chí nghiên cứu văn học, tr. 69 – 78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Việt Thắng (2004), "Truyện ngắn hôm nay
Tác giả: Bùi Việt Thắng
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê - Luận văn ngôn ngữ truyện ngắn trần thuỳ mai
Bảng th ống kê (Trang 40)
Bảng thống kê - Luận văn ngôn ngữ truyện ngắn trần thuỳ mai
Bảng th ống kê (Trang 45)
Bảng phân loại câu theo mục đích giao tiếp Tác phẩm Tổng số - Luận văn ngôn ngữ truyện ngắn trần thuỳ mai
Bảng ph ân loại câu theo mục đích giao tiếp Tác phẩm Tổng số (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w