1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn ngôn ngữ trong tập bóng chữ của lê đạt

73 1,6K 34
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn ngôn ngữ trong tập Bóng chữ của Lê Đạt
Tác giả Lê Đạt
Trường học Trường Đại học Văn học Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 324,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tập Bóng chữ là minh chứng cho những quan niệm của Lê Đạt về vấn đề “chữ”, vấn đề nghĩa của “chữ” trong thơ cũng nh những vấn đề quan trọng khác của hình thức biểu hiện.. Những nhận xét

Trang 1

mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Lê Đạt là một trong những nhà thơ có ý thức đổi mới thơ một cáchquyết liệt nhất Vợt lên những thăng trầm của cuộc đời, Lê Đạt dồn hết sức mìnhcho công việc sáng tạo thơ Suốt hơn 30 năm bền bỉ trong im lặng, với sự nhấtquán trong t tởng thẩm mĩ, Lê Đạt đã có những thành công đáng ghi nhận Ba

tập thơ: Bóng chữ (1994), Ngó lời (1997), U75 từ tình (2007), đã cho thấy hành

trình nghệ thuật của Lê Đạt và những nỗ lực trong cách tân thơ của ông Lê Đạt

có quan niệm rất riêng về nhà thơ, về công việc sáng tạo, đặc biệt là về ngônngữ thơ Ông xem nhà thơ là “phu chữ" Ông quan niệm "chữ bầu lên nhà thơ".Những quan niệm ấy đợc ông phát biểu bằng nhiều cách khác nhau, nhng cách

“phát biểu” có sức thuyết phục nhất là thông qua các bài thơ Vì vậy, để đánhgiá đúng những đóng góp của Lê Đạt đối với thơ Việt Nam đơng đại, không thểkhông nghiên cứu ngôn ngữ trong thơ ông

1.2 Tập thơ Bóng chữ (1994), là một mốc quan trọng trên con đờng thơ

Lê Đạt Đó là tập thơ của một đời ngời, xuất hiện sau gần 20 năm tác giả imtiếng trên thi đàn Nó là sự kết tinh những suy t của Lê Đạt về cuộc đời, về nghệthuật Nó là kết quả của những tìm tòi, thể nghiệm không mệt mỏi của nhà thơ

Tập Bóng chữ là minh chứng cho những quan niệm của Lê Đạt về vấn đề “chữ”,

vấn đề nghĩa của “chữ” trong thơ cũng nh những vấn đề quan trọng khác của

hình thức biểu hiện Nghiên cứu ngôn ngữ trong tập Bóng chữ có thể giúp ta

hiểu đợc những đặc trng thi pháp cũng nh những giá trị đặc sắc trong thế giới

nghệ thuật thơ Lê Đạt

1.3 Hiện nay, việc đổi mới thơ đang là vấn đề có tính thời sự Nhiều hớngtìm tòi, nhiều sự thể nghiệm đã đợc tiến hành Đơng nhiên, mọi hớng tìm tòi thểnghiệm đều không thể thoát li khâu xử lí ngôn ngữ Nói cách khác, việc đổi mớithơ gắn chặt với những quan niệm mới về ngôn ngữ thơ Những quan niệm ấyhết sức đa dạng, thậm chí đối lập nhau gay gắt Trong bối cảnh ấy, tìm hiểu

ngôn ngữ trong tập Bóng chữ của Lê Đạt cũng thực chất là nhận diện một hớng

đổi mới tích cực trong thơ Việt đơng đại

2 Lịch sử vấn đề

Trang 2

Là một ngời có nhận thức sâu sắc về nghề, về thiên chức của ngời nghệ sĩ,

Lê Đạt hiểu rằng sáng tạo cái mới là lẽ tồn tại duy nhất của nhà thơ Một định

đề muôn thuở, không có gì mới ấy đã vận vào ông nh một thứ nghiệp dĩ, khiến

ông luôn trăn trở, day dứt Với một tinh thần làm việc miệt mài, thầm lặng, năm

1994, Lê Đạt cho ra mắt tập thơ Bóng chữ, do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn

hành Ngay khi vừa xuất hiện, tập thơ đã gây đợc sự chú ý của giới sáng tác, phêbình và độc giả Nhiều bài báo khen chê khác nhau, và dễ nhận thấy, dù khenhay chê, các ý kiến đều đề cập đến một vấn đề hết sức nhạy cảm: vấn đề ngônngữ của tập thơ

Một trong những ngời có bài phê bình sớm sủa về tập Bóng chữ là Trần Mạnh Hảo T tởng chủ đạo trong bài Nhân đọc Bóng chữ bàn về chữ và nghĩa“ ”

trong thơ của Trần Mạnh Hảo là phủ nhận tập thơ của Lê Đạt Theo Trần Mạnh

Hảo, những tìm tòi về chữ nghĩa của Lê Đạt thực chất là giết chết thơ “Hiệnnay, để hiện đại hóa thi ca, có những nhà thơ đang làm hết sức mình để vô ngônlời nói, vô nghĩa tất cả con chữ của mình Ngôn ngữ với nhiều chiều, nhiều tầng,nhiều bề của nó, từ xa vốn đợc coi là cái hồn của chữ Không có nghĩa, chữ nhìnchung chỉ là cái xác vô hồn, nhng các nhà thơ hiện đại hóa đã làm ngợc lại” [21,tr.91] Để chứng minh cho luận điểm của mình, Trần Mạnh Hảo đã đem quanniệm thơ của Bạch C Dị làm chuẩn đối sánh, và cho rằng Lê Đạt đã đi ngợc lạivới thơ ca truyền thống Trong bài viết này, Trần Mạnh Hảo còn dẫn ra hàng

chục câu thơ trong Bóng chữ và phân tích theo cách hiểu áp đặt của mình Khi phân tích bài thơ Ông phó cả ngựa, Ông cụ chăn dê, Ông cụ nguồn, Trần Mạnh

Hảo đã mỉa mai rằng đó chẳng qua là “ông nói gà bà nói thóc lép không có

một tẹo thơ nào” [21, tr.102] Trần Mạnh Hảo còn khắt khe hơn khi cho rằng:

“cách dùng chữ mới lạ của Lê Đạt, đó là sự lai căng, sự bắt chớc của chủ nghĩaPháp: hết chủ nghĩa lãng mạn, đến chủ nghĩa ấn tợng rồi say mê với chủ nghĩasiêu thực, chủ nghĩa hiện sinh và chủ nghĩa cấu trúc" [21, tr.108] Trần MạnhHảo kết luận: Lê Đạt “đã đa thơ Việt Nam vào cuộc thí nghiệm chạy maratôngvới Tây hóa, hóa ra là một điều vô vọng Bởi vì chủ nghĩa cấu trúc bây giờ cũng

đã trở thành chủ nghĩa nghĩa địa rồi’’ Trần Mạnh Hảo gọi cách làm mới thơ của

Lê Đạt là: “Sự lai giống giữa thơ ta và thơ Tây và nếu có một giống mới thì

cũng là một thứ què quặt và bệnh hoạn” [21, tr.108, 109]

Những nhận xét nặng nề của Trần Mạnh Hảo về tập Bóng chữ đã nhận

đ-ợc sự phản ứng cũng không kém phần gay gắt của một số ngời Xung quanh

Trang 3

luận điểm “Lê Đạt giết thơ bằng đờng lối phi ngữ nghĩa” của Trần Mạnh Hảo,

có nhiều ý kiến phản bác Đó là Nguyên Anh với bài Lại nói chuyện giết thơ (evan.com.vn); Hải Âu với bài Tạm góp ý với ông Trần Mạnh Hảo (Tác phẩm mới, số 9); Trần Đĩnh với bài Bóng nghĩa hình chữ (Tác phẩm mới, số 9), Thanh Bình với bài Ông Trần Mạnh Hảo lại phê hụt! (evan.com.vn) Điểm gặp gỡ

của các tác giả này là khẳng định những đổi mới ngôn từ nghệ thuật của Lê Đạt

trong tập Bóng chữ, đồng thời vạch ra những điểm bất cập trong kiến thức, trong

quan điểm thơ của Trần Mạnh Hảo Trớc những bài phê bình ấy, Trần Mạnh

Hảo phản công lại bằng hai bài: Có nên giết chết thơ bằng đ “ ờng lối phi ngữ nghĩa ? ” ; Giết thơ rất dễ! (cả hai bài đều đăng trên evan.com.vn).

Trong bài Từ một kì trận chữ đến những mạch đời (đọc Bóng chữ của“ ”

Lê Đạt), Đỗ Minh Tuấn muốn thâu tóm thao tác thơ Lê Đạt Ông cho rằng:

“Thơ Lê Đạt chỉ có một số ít đoạn ít câu viết bằng vô thức, phần lớn viết bằng lítrí với thi pháp cổ điển, tỉa tót, gọt giũa chữ, hoặc thi pháp thơ bí hiểm hũ nút

(poésie hermétique) mà Mallarmé, nhà thơ Pháp nổi tiếng đã đề xớng từ cách

đây một thế kỉ” [62, tr.242] Đỗ Minh Tuấn hiểu rằng, với lối thơ của Lê Đạt,chữ đóng vai trò quan trọng đến thế nào Ông gọi Lê Đạt là “tình nhân của chữ”.Chữ và những “kì trận chữ” “vừa là trung tâm, vừa là cứu cánh, vừa là phơngtiện để chuyển tải thông điệp thơ ca” Đỗ Minh Tuấn chỉ ra những chỗ thànhcông và cha thành công trong sáng tác của Lê Đạt “Khi nào hồn thơ chiếnthắng kĩ thuật thì Lê Đạt cho ta những câu thơ, bài thơ hay, xúc động có tìm tòi

về chữ nghĩa và thi pháp Khi nào kĩ thuật lấn át hồn thơ thì Lê Đạt cho tanhững sản phẩm uốn vặn, cầu kì, bí hiểm, thiếu độ thoáng, độ mở, độ hồn nhiên,giống nh những đồ trang sức cũng đẹp và lung linh nhng chỉ là những sản phẩmkhéo tay do công phu của ngời thợ kim hoàn” “Nếu ở những câu thơ hay,Nàng Thơ bớc ra khỏi “vỏ chữ”, thì ở những câu thơ gò gẫm, lập dị, tỉa chữ, giũachữ, Nàng Thơ còn mang theo “vỏ chữ” trên mình giống nh sợi giá trắng ngầncòn vơng vỏ đỗ” [62, tr.241]

Cái nhìn của Đỗ Minh Tuấn về thơ Lê Đạt còn bộc lộ qua bài viết Sự lễ

độ của chữ nhằm tranh luận với bài Lê Đạt và Bóng chữ của Đặng Tiến Lối phê

bình truy tìm lịch sử chữ (tức là kiểu tiếp cận liên văn bản) mà Đặng Tiến ápdụng để đọc thơ Lê Đạt đợc Đỗ Minh Tuấn xem là “phơng pháp gọi hồn” đầy

“tráo trở”, là một thứ “quỉ thuật có thể chiêu hồn vía của các thi sĩ tài ba trongquá khứ cho nhập vào những câu chữ tầm thờng nhất, làm cho nó lung linh,

Trang 4

thăng hoa và trở nên có năng lực thần thánh, siêu việt” [63, tr.252] Trong phần

hai của bài viết với tiêu đề Văn hoá chữ và sự loạn luân của chữ, Đỗ Minh Tuấn chia thơ trong Bóng chữ của Lê Đạt làm hai loại Loại thơ thứ nhất thuộc kì

trận chữ”, ở đó, Lê Đạt “đi ngợc hớng lịch sử, tấn công vào “ngôn ngữ thông

dụng hàng ngày” để tạo ra những câu thơ đố chữ, chơi chữ và đảo chữ vốn thuộc

về một nền văn hoá chữ đã tiêu vong” [63, tr.260] ở loại thơ này, theo Đỗ MinhTuấn, “ngữ pháp tiếng Việt bị loại trừ, nhng ta vẫn thấy nó hiện diện vì nhà thơ

đã đặt vòng hoa chiến thắng ngữ pháp trong từng câu thơ khiến ta phải cúi đầu

mặc niệm ngữ pháp [63, tr.265] Loại thơ thứ hai là loại “rời bỏ kì trận chữ“ ” để

chạm đến những mạch đời“ ” mới mẻ, thể hiện một cuộc sống nhuốm màuhuyền thoại ám ảnh ta, lay động ta bởi tình đời, tình ngời, tình thiên nhiên và cáikhát vọng hoà nhập vào tất cả của nhà thơ” [63, tr 268]

Nhìn chung, ở cả hai bài viết, Đỗ Minh Tuấn tỏ ra “dị ứng” với những tìmtòi về ngôn ngữ của Lê Đạt, bởi theo ông, đó là một thứ ngõ cụt, hay nói cáchkhác, một kiểu đi ngợc lại lịch sử

Nhà thơ Hoàng Cầm – ngời khá gần gũi với Lê Đạt về nhiều phơng diện

- đã phát biểu những cảm nghĩ của mình khi đọc Bóng chữ: “hầu nh bài nào tron

g Bóng chữ cũng gây cho tôi ít nhiều khoái cảm, có những câu thơ đúng là xuất t

hần, hay đến đột ngột, vì có lẽ từ trong vô thức bật ra Có những câu thơ nh mộtbức tranh “nuy” hấp dẫn, đầy dục tính mà thanh khiết lạ thờng” [4] Khi Lê Đạtvừa mất, trong một lần trả lời phỏng vấn của BBC VIETNAMESE, Hoàng Cầm

đã nhận xét thẳng thắn về thơ Lê Đạt Mặc dù đều là những cây bút trong nhómNhân văn – Giai phẩm trớc đây, nhng Hoàng Cầm và Lê Đạt có những hớngtìm tòi khác nhau về thơ, thậm chí có những chỗ đối nghịch Tuy nhiên, điều đókhông ngăn cản Hoàng Cầm ghi nhận những nỗ lực bền bỉ của bạn mình: “Cuộc

đời thơ ông (Lê Đạt) có một cái là luôn luôn đổi mới Ông không bao giờ làmthơ theo kiểu cũ cả Bài thơ nào ông cũng cố tìm một cách biểu hiện mới” [5]

Về tập Bóng chữ, Hoàng Cầm cảm nhận: “Có những bài khác trong tập Bóng chữ cũng đợc, không đến nỗi dở Nhng nói là thích toàn bộ thơ Lê Đạt thì tôi

không thích” [5]

Nguyễn Quân – một hoạ sĩ đồng thời là nhà phê bình nghệ thuật – cũng

bày tỏ thái độ của mình qua bài Lê Đạt - Bóng chữ bằng trực giác Ông thú

nhận: “Thơ Lê Đạt cho tôi một niềm vui” “Niềm vui đọc tập Bóng Chữ” không

phải để hiểu hết thơ mà là để cảm, để giác, để thức bằng trực giác bởi đợc đọc th

Trang 5

ơ một cách tuỳ thích, chủ quan”… Nguyễn Quân tỏ ra rất tâm đắc với những.cái mới trong ngôn ngữ thơ Lê Đạt Ông hiểu rằng, ở thơ Lê Đạt, “chữ và âm” đ-

ợc “dùng độc lập trong các câu và bài thơ, nó không bị buộc chặt vào chữ bên cạ

nh, trên, dới…., nhằm cho mỗi chữ có bóng đổ của nó và thơ thở trong một khôn

g gian thay đổi” [48]

Trong tiểu luận Tìm hiểu một quan niệm nghệ thuật về ngôn từ trong thơ

ca đơng đại, khi đề cập đến những sáng tác thơ của Lê Đạt, Trần Ngọc Hiếu đã

nhận xét: "Lê Đạt có nhiều bài thơ, câu thơ mang âm hởng đẹp , mang chất dântộc trong âm hởng mặc dù cấu trúc lời thơ thì tân kỳ Sự phá cách của Lê Đạttạo ra một kiểu câu thơ mới, lạ về ngữ nghĩa, ngữ pháp của từ Thơ Lê Đạt cònphá vỡ tính liên tục cú pháp, gợi mở ý niệm mới về câu thơ" [23] Cũng trongbài viết này, Trần Ngọc Hiếu đã khẳng định sự cách tân thơ của nhóm thơ Lê

Đạt, Trần Dần, Dơng Tờng, Đặng Đình Hng , những ngời đã có nhiều ý tởng

"làm thơ tức là làm chữ" Trần Ngọc Hiếu cho rằng: "Họ đã ý thức sâu sắc mối

quan hệ giữa đặc trng của ngôn từ thơ ca với ý thức, với cái tôi nghệ sĩ" [23]

Đón tập Bóng chữ một cách nồng nhiệt, nhà phê bình Đặng Tiến ở Pa-ri

đã viết bài Lê Đạt và Bóng chữ, đăng trên báo Hà Nội mới số 14 (3/6/1995) và

số 15 (10/6/1995) với cảm hứng khẳng định thi pháp thơ Lê Đạt cũng nh nhữngtìm tòi về ngôn ngữ của nhà thơ Trong bài này, Đặng Tiến vừa có cái nhìn khái

quát, vừa phân tích khá kĩ những đặc sắc của tập Bóng chữ, cho độc giả thấy đợc

cách "dùng chữ" của Lê Đạt Theo Đặng Tiến, Lê Đạt đã biết “khai thác kinhnghiệm của ngời đi trớc, từ Baudelaire, Maiakovski đến thơ siêu thực và hiện đạicủa Pháp, tiếp cận những lí thuyết văn học, ngữ học và nghĩa học mới Lê Đạtthực tâm muốn làm mới thơ mình Lê Đạt khai thác triệt để khả năng văn học

của ngôn ngữ về hai mặt từ hệ và từ tổ, đồng đại và lịch đại" [57] Trong Bóng chữ, Lê Đạt đã dùng nhiều thủ pháp: ẩn ngữ, đảo ngữ, nhấn mạnh ngữ âm Và cũng chính điều này làm cho mỗi lần đến với Bóng chữ lại thấy sự kỳ diệu của con chữ Đặng Tiến cho rằng Bóng chữ là tập thơ có nhiều lí thú, gợi nhiều ý

mới lạ cho độc giả

Đọc Bóng chữ, Thuỵ Khuê lại đặc biệt chú ý tính chất tạo sinh của nó.

(Tạo trong nghĩa sáng tạo, sinh trong nghĩa sinh ra, sinh sôi, nảy nở, phức âm đatầng, đa nghĩa, đa ngã) Đây cũng là một trong những ý kiến tiêu biểu cho sự

đồng tình với cách làm mới thơ của Lê Đạt Thụy Khuê nhận xét: "Cho đến naychúng ta cha có một tác phẩm nào để thể hiện sự thay đổi toàn diện trong phong

Trang 6

cách thơ, từ bản sắc triết học đến cấu trúc hình thức và nội dung nh thế Với

Bóng chữ, thơ mới đã thực sự nhờng ngôi cho một dòng thơ khác" [35].

Ngay khi Lê Đạt vừa mất, các báo trong nớc và ở hải ngoại đăng nhiềubài viết tởng niệm ông Hầu hết các bài viết đều thể hiện niềm tiếc thơng mộtcon ngời "suốt đời tận tụy với chữ - thơ" Võ Thị Hảo xúc động gọi Lê Đạt là

Ngời vác thập giá chữ Bà hiểu rõ, với những nhà thơ nh Lê Đạt, phận chữ chính

là phận ngời “Lê Đạt hơn thế, còn cặm cụi làm phu chữ Ông nhận ra Bóng chữ

sừng sững bao phủ lên cuộc đời Và ông sống dới Bóng chữ, tôn kính và thờphụng

Khi thờ phụng, ông lại cặm cụi cách tân Ông không chấp nhận những cái

vỏ, những rơng hòm quá chật chội và nhàm chán

Khi vác thập giá với những chiếc đinh đau buốt đâm vào vai, bớc lênBóng chữ, Lê Đạt cời hay khóc?” [23]

Ngay khi tập Bóng chữ của Lê Đạt vừa đợc phát hành (1994), Hoàng Hng

có bài Bóng chữ động chân cầu cho báo Lao động, nhng bài viết đã không đợc công bố Bài báo này đã xuất hiện trên Hội luận Văn học Việt Nam ngay khi Lê

Đạt từ trần (2008) Về tập Bóng chữ, Hoàng Hng đánh giá: “Hàng chục bài thơ

tài tình, gợi cảm, trẻ trung bất ngờ, dăm bài thơ nhỏ có cái đẹp toàn bích cổ

điển; tập thơ không chỉ cho ngời đọc những phút khinh khoái khi bỏ giầy bớcvào trà thất, những phút say lâng lâng âm hởng của chữ làm thắm lên cái duyêncủa đời, mà quan trọng hơn, nó cung cấp kiểu tơng quan mới về các chữ trongthơ - những “Ngã ba chữ” của Lê Đạt đã sáng tạo nên câu thơ lập thể trong vănchơng Việt Nam

Những câu những bài ấy, có lẽ ông có đợc ở những giây phút kì ngộ “ngời

đẹp vỏ chữ bớc ra” sau rất nhiều đêm ngày “siêng năng” thủ một “lòng thành”chờ đợi Cũng dễ thấy là nhiều khi ông không đủ kiên nhẫn và lòng thành nênthay vì gặp tiên, ông đã tự tạo một nàng Bích Câu cho mình, đẹp nhng vẫn chỉ làtranh vẽ, hoặc vì siêng năng quá mức mà câu thơ kì khu làm ngắt dòng cảm xúc

đang dạt dào của ngời đọc Càng dễ thấy hạn chế của cái “động” bóng chữ vàochân cầu thực tại cũng nh của nhạc điệu có vẻ “tại ngoại” yên tĩnh trong thời đạibùng nổ khốc liệt của chúng ta” [30]

Lê Đạt đã ra đi, nhng Phạm Xuân Nguyên nhìn thấy Bóng chữ còn in bóng ngời Ông khẳng định: “Lê Đạt là Lê Đạt ở thơ, một thứ thơ đã chng cất

Trang 7

qua lò lửa văn hóa đông tây kim cổ mà ông nhóm lên từ trong gian khổ, mà ông

đã kiên trì giữ lửa không để lụi tắt qua gió ma cuộc đời, để khi đợc đa ra ánhsáng, thứ thơ đó đã tỏa ra mùi hơng thơ của ngời thơ Lê Đạt” [46] Trong bàiviết này, Phạm Xuân Nguyên đã nhận thấy nhiều điều mới lạ, kết quả của sự

cách tân thơ thể hiện trong Bóng chữ: "Ngời đọc bớc vào tập thơ với tâm trạng

vừa thích thú, vừ tò mò, vừa e dè hoang mang Nhng chắc chắn họ đã nhận đợckhoái cảm khác lạ từ những kết cấu cấu chữ, từ sự kết hợp mới của từ " [46]

Nhà thơ Lê Thiếu Nhơn viết trong bài Phu chữ ngỏ lời phơng nao?: “Nếu

so với ba ngời bạn cùng thời là Phùng Quán, Hoàng Cầm và Trần Dần thì phongcách Lê Đạt đợc hình thành muộn hơn, nhng cũng thực sự độc đáo hơn về mặtcấu trúc ngôn ngữ” Theo Lê Thiếu Nhơn, “Phùng Quán trọng khí chất, HoàngCầm trọng rung động, Trần Dần trọng đột phá, còn Lê Đạt trọng âm vị Thơ Lê

Đạt nh một dòng chảy riêng, tự tin trôi ngang mọi sự khen chê thờng tình Đọcmột câu thơ dù cha thành công lắm của Lê Đạt, vẫn không hề nhầm lẫn với bấtkì ai Bởi lẽ, chính Lê Đạt luôn thao thức “nhà thơ làm mối cho những từ chaquen biết nhau, càng xa lạ càng tốt” [44]

Những hồi ức về Lê Đạt và thơ ông đợc Thái Kim Lan – một ngờinghiên cứu triết học ở hải ngoại – ghi lại trong bài Trắng chữ nhẹ tênh Tác giảthú nhận đã phải vã mồ hôi nh thế nào khi chuyển ngữ thơ Lê Đạt sang tiếng

Đức “Tôi – Thái Kim Lan viết – cha bao giờ trong đời đã có một trận dịch bởhơi tai, một trận đụng độ chữ nghĩa cam go đến thế, nhớ lại vẫn còn thấy ê vai.Thì có ngờ đâu mà kịp thủ thế – cứ tởng thơ là thơ trơn lu, thế mà mới đọc là

va đầu ngay vào những con chữ kì lạ, những cấu trúc ngợc, những cạm bẫy củadấu nhấn, chấm phết, xuống hàng, bỏ lửng, những chữ ghép ra khỏi mọi qui tắc,những chữ “con” thành “cả”, “đại” thành “tiểu”, “nghiêm mà đùa”, “thanh màtục” – cha thấy một chữ nào thật tục trong thơ Lê Đạt – nhiều con ngữ gói cảmột nền văn học vào trong, mà khi chuyển ra ngoại ngữ, nó đánh mất tất cả khốilợng văn chơng” [39] Sự thách đố đối với ngời dịch chính là ở những con chữcủa thơ Lê Đạt

Lê Đạt t duy về thơ là tên một bài viết của Trần Thiện Khanh Trong bài

này, tác giả có những nhận xét về cách dùng câu chữ của Lê Đạt: "Mảnh đất thơcủa Lê Đạt không thật rộng, nhng ở đó ẩn giấu cả một quặng nghĩa Lê Đạtkhông vơ vào thơ tất cả xơng cốt của chữ, tức xác chữ Ông lấy cái hồn của chữ,

Trang 8

cái bóng sáng của chữ để làm nên giá trị cho câu thơ, bài thơ Những bớc gậpghềnh của câu chữ trong thơ Lê Đạt có gì gần với thăng trầm của đời ông" [33].

ở một bài khác, đề cập đến Trạng thái thơ Lê Đạt, Trần Thiện Khanh cho rằng,

thơ Lê Đạt có hai trạng thái: thơ bụi và bóng chữ “Thơ bụi nhằm vào đời sống

thực, kể chuyện thực một cách tỉnh táo Chữ bụi thờng “ít tuổi” Chỉ có bóngchữ mới “nhiều tuổi” và có “vân chữ” Phải chữ nhiều tuổi mới biết đổ bóng,mới biết cách tạo ra cái bóng Bóng chữ tơng ứng với sự thăng hoa của đời conchữ” [34] Tác giả bài báo đi đến kết luận: “Chữ bụi đến với nhà thơ bất cứ lúcnào Nhà thơ sẵn sàng tiếp nhận chữ bụi mọi lúc Còn bóng chữ lại đến với nhàthơ khi nhà thơ lao động trên cánh đồng chữ, khi “giao tiếp với chữ” Những câuhay, từ đắt trong thơ Lê Đạt, chỉ Lê Đạt mới có, thì thuộc về bóng chữ” [34]

Ngày Lê Đạt ra đi, Đỗ Lai Thuý viết bài Mã thơ Lê Đạt nh một hành vi ởng niệm Tác giả giải thích: “Chữ mã tôi dùng ở đây có hai nghĩa Mã là tạng, tạng ngời, tạng thơ Mã cũng còn là mật mã, là code của một hành ngôn thơ Và

t-ngời ta có thể thấy mã này (tạng thơ) nằm trong mã kia (code thơ), bởi thơ Lê

Đạt là một ngôn ngữ” [59, tr.54] Cái gốc của mã thơ Lê Đạt, theo Đỗ Lai Thuý

chính là quan niệm của ông về chữ, thoát thai từ t tởng của S Mallasmé Và mã

ấy chung qui đợc biểu hiện ở: a) cách phát nghĩa mới của từ ngữ, b) tính liên vănbản, c) khai thác mặt âm của chữ, d) một ngữ pháp đặc biệt Đỗ Lai Thuý nhậnxét: “Sự phá vỡ ngữ nghĩa tiêu dùng để tạo thành một ngữ nghĩa khác, sự phátnghĩa nhiều chiều, tính bất định của không gian thẩm mĩ mà Lê Đạt đang theo

đuổi phải chăng có thể coi là một t tởng, một thẩm mĩ? “ [59, tr.61]

Những luận điểm trên đây đợc Đỗ Lai Thuý triển khai đầy đặn hơn trong

tiểu luận Lê-đạt-chữ - bài viết công bố nhân 49 ngày sau khi Lê Đạt mất [60].

Tác giả nhận xét: “Con đờng đổi mới thơ của Lê Đạt có nhiều điểm khác và tiến

bộ so với các nhà thơ đi trớc và ngay cả với các nhà thơ cùng thời: “Nếu trớc

đây nhà thơ lấy nghĩa ứng trớc làm hệ quy chiếu để chọn chữ đặt câu, thì nay Lê

Đạt lấy chữ làm trung tâm phát nghĩa nh vậy đó là nghĩa khác, nghĩa do thinhân khai sinh Một sáng tạo chữ riêng của Lê Đạt Sự đổi ngôi chữ - nghĩa này

là một cách mạng ngôn ngữ thơ thực sự” Đỗ Lai Thúy nhận định: cũng nh cácbậc thầy về chữ Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Khuyến, Tú X-

ơng “Lê Đạt cũng tận dụng đợc sự phì nhiêu của chữ Việt Nhng khác họ, Lê

Đạt không su tầm chữ tự thân, chữ đặc, nhãn tự, thần tự mà chú trọng hơn đếncách dùng chữ, tìm mã (chỗ đắc địa) cho chữ” Trong bài viết này, Đỗ Lai Thúy

Trang 9

đã chỉ ra bí mật thi pháp chữ, thi pháp câu, thi pháp nghĩa của Lê Đạt Bằng sự

phân tích hàng loạt dẫn chứng thơ Lê Đạt, Đỗ Lai Thúy rút ra kết luận: “Lê Đạt

ý thức sâu sắc rằng thơ ông là sản phẩm của chữ Chữ bầu lên nhà thơ Tuynhiên, mỗi chữ nhà thơ đều có cuộc sống kép: đời thực và đời chữ Lê Đạt u tiên

đời chữ Ông thấy cuộc sống đời chữ tự do hơn, sáng tạo hơn và do đó thú vịhơn Nếu Tản Đà chơi đời thực để rồi chơi đời chữ, thì Lê Đạt ngợc lại, là ngờichơi đời chữ để chơi trong đời thực” Đỗ Lai Thúy còn cho rằng: “Thơ Lê Đạt làngọn núi vô sơn, rừng không có cửa vào, núi không có lối lên Ai muốn trèo lên

đỉnh phải tự mở lối và ngay sau khi ngón chân vừa nhấc khỏi mặt đất, lối đi ấy

tự động khép lại Thơ Lê Đạt, bởi thế, bao giờ cũng nguyên sinh, rồi chính sựtrinh nguyên ấy lại dẫn dụ những bàn chân mở lối”

Một trong những công trình nghiên cứu thơ Lê Đạt đáng lu ý là luận văn

thạc sĩ của Nguyễn Thị Lan Chi với nhan đề: Đặc điểm thi pháp thơ Lê Đạt qua hai tập Bóng chữ và Ngó lời (2008) [7] Nh nhiệm vụ đã nêu của luận văn,

nghiên cứu thi pháp của Lê Đạt, không thể không chỉ ra những cách tân về ngônngữ thơ của ông qua hai tập đợc khảo sát Luận văn đã đi vào hai vấn đề rất

trọng yếu trong ngôn ngữ thơ Lê Đạt: Vị trí của chữ (chơng 2) và Tính liên văn bản (chơng 3) Với những phân tích cụ thể và những kết luận đáng tin cậy, có

thể nói luận văn của Nguyễn Thị Lan Chi đã góp phần đáng kể vào công việcnghiên cứu những cách tân về nghệ thuật thơ của Lê Đạt

Nh vậy, thơ Lê Đạt nói chung và tập Bóng chữ nói riêng đã thu hút rất

nhiều cây bút nghiên cứu, phê bình cũng nh độc giả Các ý kiến có sự phân lập

rõ rệt Tuy nhiên, có thể thấy, những nỗ lực không mệt mỏi của Lê Đạt ngàycàng nhận đợc sự trân trọng, đánh giá công bằng Quan niệm của Lê Đạt về nhàthơ, về thơ, về ngôn ngữ trong thơ đang có sức hấp dẫn đối với giới nghiên cứu

Hi vọng luận văn này sẽ góp phần nhỏ trong công việc tìm hiểu về thơ Lê Đạt– một thứ thơ, nói nh Đỗ Lai Thuý: luôn “dẫn dụ những bàn chân mở lối”

3 Đối tợng nghiên cứu

Luận văn tập trung khảo sát tập thơ Bóng chữ của Lê Đạt gồm 108 bài Ngoài ra, khi cần đối sánh, luận văn còn tìm hiểu tập Ngó lời và U75 từ tình

của Lê Đạt cũng nh một số tác phẩm khác trong thơ Việt Nam đơng đại

4 Phơng pháp nghiên cứu

Trang 10

Để hoàn thành những nhiệm vụ đặt ra, luận văn sẽ sử dụng phơng phápthống kê, phân loại; phơng pháp phân tích, tổng hợp; phơng pháp so sánh, đốichiếu; phơng pháp hệ thống

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, nội dung của luận văn gồm 3

1.1.1 Khái niệm thơ

Trong sự phát triển của văn học nhân loại, thơ là một thể loại ra đời rấtsớm, và liên tục pháp triển cho đến mãi ngày nay Trong hình thức cổ xa nhất,thơ ca tồn tại dới dạng những bài hát nghi lễ, những lời phù chú trong hội hè,tôn giáo Rồi từ những hoạt động giao lu của xã hội loài ngời, thơ ca bắt đầungày một phát triển ở nhiều dân tộc, trong một thời gian tơng đối dài, các tácphẩm văn học đều tồn tại ở dạng thơ Vì thế, trong lịch sử văn học của nhiều dântộc từ thế kỷ XVII trở về trớc, nói về thơ ca cũng có nghĩa là nói về văn học

Trang 11

Vậy thơ là gì ? Đã có rất nhiều ý kiến, nhiều quan niệm, nhiều định nghĩa

đợc đa ra để trả lời cho câu hỏi đó nhng hầu nh các định nghĩa cha đi đến thốngnhất và cha có một tiếng nói chung Thậm chí có những quan điểm, cách nhìn

về thơ đối lập nhau rất gay gắt Có hiện tợng này bởi vì mỗi ngời đứng trên mộtquan điểm riêng và có những nhận xét rất chủ quan về thơ Tuy nhiên có nhà thơ

cũng đã bất lực trớc vấn đề này Nhà thơ Bungari Đimitrova viết trong Ngày phán xử cuối cùng :"Ôi, nếu tôi biết thơ là gì thì cả đời tôi, tôi chẳng đau khổ

thế này’’ [24, tr.15 ]

Để hiểu đợc thơ là gì, trớc hết chúng ta cùng điểm qua một số quan niệm

về thơ của các tác giả thời Trung đại Lí luận thơ xa đã nhấn mạnh "Thi dĩ ngôn chí" nh một đặc điểm của thể loại Phan Phu Tiên trong "Việt âm thi tập tân san" đã viết: "Trong lòng có điều gì, tất hình thành ở lời; cho nên thơ để nói chí vậy " Nguyễn Bỉnh Khiêm khi viết tựa tập thơ "Bạch vân am’’ của mình đã nói

rõ hơn nội dung của chí: "Có kẻ chí để ở đạo đức, có kẻ chí để ở công danh, có

kẻ chí để ở sự ẩn dật " có thể nói nguyên tắc "Thi ngôn chí" (thơ nói chí) là

nguyên tắc mỹ học cổ đại mang chức năng giáo hóa Nhng ở mỗi hoàn cảnh lịch

sử, mỗi giai đoạn mà chức năng của thơ có thể thay đổi, thơ có thể mang chứcnăng phản ánh nhận thức, thơ phản ánh chí hớng, tình cảm, con ngời, cuộcsống

Bớc sang đầu thế kỷ XX, xã hội có nhiều biến đổi, cuộc sống có nhiều

điều mới Trong thời gian này đã xuất hiện một lớp ngời với cuộc sống, tình cảm

và suy nghĩ rất mới Đầu tiên là Tản Đà, sau đó đến các nhà thơ trong phongtrào Thơ mới (1932 - 1945) đã đem đến một luồng sinh khí, một cách tân táobạo làm thay đổi diện mạo thơ Từ đây các quan niệm về thơ cũng xuất hiệnnhiều và các quan niệm đó cũng nhiều cách, nhiều chiều

Thế Lữ cho rằng: "Thơ, riêng nó phải có sức gợi cảm bất cứ trờng hợpnào’’ Lu Trọng L thì cho: "Thơ sở dĩ là thơ, bởi vì nó súc tích, gọn gàng, lời ít

mà ý nhiều và nếu cần phải tối nghĩa chỉ vì thi nhân không xuất hiện một cáchtrực tiếp, lời nói của thi nhân phải là hình ảnh’’ Hàn Mặc Tử lại cực đoan trongquan niệm này, ông cho rằng: "Làm thơ tức là điên" Chúng ta thấy đợc trongthời gian này các quan niệm về thơ có những yếu tố cơ bản của trờng phái thơ t-ợng trơng và siêu thực của Pháp vào cuối thế kỷ XIX Các tác giả thờng lí tởnghóa hoặc đối lập một cách cực đoan giữa thơ ca với hiện thực cuộc sống Giống

Trang 12

nh: "Thơ là sự hiện thân cho những gì thầm kín nhất và có những hình ảnh tơi

đẹp nhất, âm thanh huyền diệu nhất trong thiên nhiên" (Lamartin)

Sau cách mạng tháng Tám, đặc biệt sau năm 1954, chúng ta lại thấy đợcnhiều quan niệm thơ Thơ là tiếng nói tâm hồn là sợi dây ràng buộc con ngời vớicon ngời, là hành trình ngắn nhất đi tới con tim "Thơ là một tâm hồn đi tìmnhững tâm hồn đồng điệu’’ (Tố Hữu) Hoặc thơ là để cải thiện cuộc sống, hoànthiện con ngời "Thơ là biểu hiện cuộc sống cao đẹp nhất’’ (Sóng Hồng), "Thơ là

sự sống tập trung cao độ, là cốt lõi của cuộc sống" (Lu Trọng L)

Có thể nói rằng trong giai đoạn này định nghĩa về thơ tiêu biểu nhất phải

nhắc đến định nghĩa thơ của Phan Ngọc Trong bài viết, Thơ là gì? tác giả đã

nêu lên: "Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt ngời tiếpnhận phải nhớ, phải cảm xúc do hình thức ngôn ngữ này’’ [42, tr.23] Đây là

định nghĩa khá lạ so với thông thờng, một cách định nghĩa theo hớng cấu trúcngôn ngữ ý kiến này đối lập hẳn thơ với cuộc sống hằng ngày với cả văn xuôi

Nói rằng hình thức ngôn ngữ thơ của Phan Ngọc có phần nào gặp gỡ vớiquan niệm của tác giả R.Jakobson (1896-1982) Ông cho rằng làm thơ là tạo ramột cấu trúc ngôn ngữ đặc dị, trái khoái, khác thờng Và chính ở sự khác thờng

đó, nó mới gây bất ngờ: "Mỗi chữ trong thơ đều đã bị biến tính, biến dạng, tức

là bị "bóp méo"đi, so với ngôn ngữ hằng ngày’’

Trên đây là những quan niệm, định nghĩa thơ của các tác giả từ thời kỳTrung đại đến hiện đại Cuối cùng, trong luận văn này chúng tôi xin nêu ra một

định nghĩa về thơ theo một nhóm của các nhà phê bình nghiên cứu văn học gồm

Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi: "Thơ là một hình thức sáng tạovăn học phản ánh cuộc sống, Thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằngngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu" [18, tr.254]

Qua những định nghĩa ở trên, chúng ta khẳng định rằng thơ là một loạihình văn học Thơ ca là hiện tợng độc đáo của văn học ở cơ chế vận hành bộmáy ngôn ngữ của nó Thơ ca khác với văn xuôi ở chỗ nó là thể loại chỉ dùngmột lợng hữu hạn các đơn vị ngôn ngữ để biểu hiện cái vô hạn của cuộc sốngbao gồm các sự kiện tự nhiên và xã hội cũng nh tâm t, tình cảm của cá nhân conngời

Trang 13

Nhắc đến "cách tổ chức hết sức quái đản" của ngôn ngữ thơ, Phan Ngọcmuốn nhấn mạnh đến đặc thù riêng biệt của loại ngôn ngữ này Trong giao tiếphằng ngày có hàng vạn cách tổ chức câu, nhng chúng ta chỉ thấy chú ý đến nộidung, còn hình thức của nó hầu nh không mấy ai quan tâm đến Còn trong thơ,

có những câu thơ bền vững hàng nghìn năm do cách tổ chức ngôn ngữ một cách

đặc biệt, "quái đản" của nó Ngôn ngữ thơ khác với lời nói thông thờng và khácvới cả ngôn ngữ văn xuôi ở cấu trúc, lời thơ ít nhng cảm xúc và ý nghĩa rấtphong phú và có sức gợi cảm lớn

Ngôn ngữ thơ mang tính hình tợng rất rõ nét "Tôi viết bài thơ xuân nămmột nghìn chín trăm sáu mốt" thì sẽ đa ra một câu nói, một thông báo bình th-ờng Nhng nếu viết:

Tôi viết bài thơ xuân Nghìn chín trăm sáu mốt

(Tố Hữu)thì đã là thơ Vì ở đây có sự xuất hiện của nhịp điệu, sự đối lập hài hòa âm vực

và thanh điệu thành nhịp của lời, cũng là hình tợng âm thanh mang cảm xúc củatác giả

Do đó sự láy đi, láy lại một bộ phận hay toàn bộ lời nói (hệ hình nhịp,dòng, vần ) là đặc trng của ngôn ngữ thơ mà làm cho nó có một diện mạo đặcthù Từ đó, nó có sức gợi hình ảnh, gợi sự liên tởng đồng thời gây ấn tợng mạnh,

có khả năng lu giữ, dễ nhớ, dễ truyền đạt

Trong một công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ, Nguyễn Phan Cảnhcòn khảo sát cấu trúc thơ trên hai trục: ẩn dụ (trục lựa chọn) và hoán dụ (trục kếthợp) dựa vào sự liên tởng của ngời đọc "nhằm sử dụng một cánh mỹ học chiều

dày của chất liệu ngôn ngữ thơ [3, tr.92] Từ đó, tác giả đa ra hai thao tác cơ bản

của hoạt động ngôn ngữ đó là thao tác lựa chọn và thao tác kết hợp Thao tác lựachọn dựa trên khả năng của ngôn ngữ là: "Các đơn vị ngôn có thể luân phiêncho nhau nhờ vào tính tơng đồng giữa chúng" [3, tr.16] Thao tác kết hợp lại dựatrên khả năng khác của hoạt động ngôn ngữ là: "Các yếu tố ngôn ngữ có thể đặtbên cạnh nhau nhờ vào mối quan hệ tơng cận giữa chúng" [3; tr.24] Cũng theoNguyễn Phan Cảnh, nếu nh văn xuôi làm việc trớc hết bằng thao tác kết hợp vàtrong văn xuôi lặp lại là một điều tối kỵ thì ngợc lại: "Chính cái điều văn xuôi

Trang 14

rất tối kỵ ấy lại là thủ pháp làm việc của thơ, tính tơng đồng của các đơn vị ngônngữ lại đợc dùng để xây dụng các thông báo".

Nếu nh thao tác lựa chọn một đơn vị trong một loạt đơn vị có giá trị t ơng

đơng với nhau trên trục dọc, thì thao tác kết hợp lại cho phép nhà nghệ sĩ, saukhi đã lựa chọn có thể tạo ra những kết hợp bất ngờ, sáng tạo dựa trên nhữngtiền đề vật chất mà ngôn ngữ dân tộc cho phép Ngời nghệ sĩ sáng tác phải biếtchọn lấy một đơn vị nào đó thật phù hợp, có khả năng diễn tả đợc cảm xúc, sự

đánh giá của mình trớc đối tợng

R.Jakobson cũng đã nói rằng: "Các từ đợc chọn sẽ kết hợp với nhau thànhchuỗi Việc tuyển lựa đợc tiến hành trên cơ sở tơng đơng nghĩa là trên cơ sở của

sự tơng đồng hay bất tơng đồng, tính đồng nghĩa hay hay phản nghĩa trong sựkết hợp, tức là xây dựng chuỗi ngôn ngữ thì căn cứ vào sự tiếp cận Chức năngcủa thi ca đem lại nguyên lý tơng đơng của trục tuyển lựa chiếu trên trục kết

hợp"[10; tr 83]

Cuối cùng có thể rút ra kết luận: xét ở pham vi thể loại, ngôn ngữ thơ làmột chùm đặc trng về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu trng hóa, khái quáthóa, hiện thực khách quan theo một tổ chức riêng của thi ca

1.2 Hớng tiếp cận thơ từ góc độ ngôn ngữ học

Là một thể loại văn học đặc thù, ngôn ngữ thơ có nhiều khác biệt với cácthể loại văn học khác Để phân biệt thơ với các thể loại khác, ngời ta thờng đốilập thơ với văn xuôi ở góc độ ngôn ngữ học, ta có thể đối lập thơ với văn xuôi

về ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa Đây cũng là nét đặc trng cơ bản của thơ màmuốn tiếp cận đợc một tác phẩm thơ ca chúng ta không thể bỏ qua

Trang 15

có cách hòa âm của riêng mình Cách thức đó dựa trên truyền thống từng đântộc và hình thức của từng ngôn ngữ cụ thể" [10; tr.202].

Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ thể hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ

mà bằng cả âm thanh, giai điệu Văn xuôi cũng có nhịp điệu nhng không rõ nét,không có âm hởng rõ rệt cho nên ở văn xuôi tính nhạc ít đợc nhắc đến Vì vậynếu xác định cho đúng với bản chất tính nhạc, thì chỉ thơ mới có tính nhạc, từ đóngời ta xem tính nhạc là đặc thù cơ bản của ngôn ngữ thơ ca Sở dĩ chúng ta th-ờng nhấn mạnh tính nhạc trong thơ là và ngôn ngữ của thơ ca giàu nhịp điệu,ngữ điệu, quảng cách và hòa âm so với văn xuôi là vậy

Ngôn ngữ thơ Việt Nam nói riêng có một dáng vẻ độc đáo là nhờ vào đặctính giàu có về thanh điệu, nguyên âm và phụ âm Bởi vậy khi nghiên cứu đặc

điểm tính nhạc trong ngôn ngữ thơ không thể không chú ý tới những yếu tốquan trọng đó Vì thế khi khai thác tính nhạc trong thơ chúng ta cần chú ý vàonhững đối lập sau

- Sự đối lâp về trầm - bổng, khép - mở của các nguyên âm

- Sự đối lập về vang - tắc giữa hai dãy phụ âm mũi và phụ âm tắc vô thanhtrong các phụ âm cuối

Ngoài ra hai yếu tố quan trọng góp phần tạo tính nhạc cho ngôn ngữ thơ

ca là vần và nhịp, những yếu tố ngữ âm này là cơ sở và cũng là chất liệu cho sựhòa âm của ngôn ngữ thơ ca tạo nên âm hởng trầm - bổng, diệu kỳ

Nh vậy hơn bất cứ thể loại nào khác, ngôn ngữ thơ với tính cách là mộtthứ ngôn ngữ giàu nhịp điệu, phong phú về cách hòa âm, tiết tấu, giàu từ láy âm,tợng hình chính là thứ ngôn ngữ giàu tính nhạc Bởi vậy từ ngày xa nhiều hìnhthức ca hát dân gian đã lấy ngay thơ dân gian làm chất liệu sáng tác âm nhạc.Nhiều điệu hò, nhiều bài đồng giao tồn tại cho đến tận hôm nay chính là mộtminh chứng đầy thuyết phục Trong ca nhạc hiện đại nhiều bài thơ đợc lấy làmchất liệu để các nhạc sĩ sáng tác cho bài hát của mình nh: Dáng đứng Việt Nam(Lê Anh Xuân), Em đi chùa Hơng (Nguyễn Nhợc Pháp), Mùa xuân nho nhỏ(Thanh Hải), Hạt gạo làng ta (Trần Đăng Khoa)

Nhạc thơ đợc tạo thành bởi các yếu tố chính sau: âm điệu - nhịp điệu vàvần điệu Tùy thuộc vào bài thơ và thể thơ cụ thể mà vai trò của một yếu tố nào

đó nổi bật hơn yếu tố kia Trong bất kỳ bài thơ nào, vai trò của 3 yếu tố này

Trang 16

càng lớn thì thi phẩm càng giàu nhịp điệu- và ấn tợng ngôn ngữ càng phụ thuộcnhiều hơn vào ấn tợng ngữ âm.

*Âm điệu

Chúng ta có thể hiểu một cách khái quát rằng, âm điệu là sự hòa âm đợctạo ra từ sự luân phiên của các đơn vị âm thanh (tiếng), có những tác phẩm ngữ

âm tơng đồng và dị biệt trên trục tuyến tính Trong tiếng Việt, tính độc lập của

âm tiết tiếng Việt đã quy định âm tiết tiếng Việt chứ không phải là một đơn vịnào khác đã tạo ra âm điệu trong thơ cách luật Việt Nam Phẩm chất ngữ âm củatiếng Việt là sự tổng hòa của các mặt: cao độ - cờng độ - trờng độ và âm sắc Dohoàn cảnh phát ngôn hay do âm lợng của nguyên âm mà dẫn tới sự khác nhaugiữa âm tiết này với âm tiết khác về trờng độ Ví dụ: nếu âm tiết kết thúc bằngnguyên âm hay bán nguyên âm thì có độ vang và khả năng kéo dài trờng độ lớnhơn âm tiết kết thúc bằng các phụ âm tắc vô thanh

Ngoài âm đầu, vần trong âm tiết tiếng Việt, thanh điệu là yếu tố quantrọng góp phần thể hiện tập trung nhất phẩm chất của thi phẩm Khi nói đếncách hòa âm của thơ Việt Nam là nói đến cách hòa phối thanh điệu, các cách kếthợp âm thanh theo một kiểu nhất định nào đó Thanh điệu là sự nâng cao hayhạ thấp giọng nói trong mọi âm tiết có tác dụng cấu tạo và khu biệt vỏ âm thanhcủa hình vị và từ Vì vậy nếu ngữ điệu là đặc trng của âm, trọng âm là đặc trngcủa từ, thì thanh điệu là đặc trng của âm tiết Trong tiếng Việt thanh điệu là yếu

tố siêu đoạn bao trùm toàn bộ âm tiết và là yếu tố cơ bản để tạo ra sự khác biệt

về phẩm chất ngữ âm giữa âm tiết này với âm tiết khác cho nên nó là đối tợngcủa âm điệu

Thanh điệu phân biệt với nhau theo hai đặc trng chủ yếu: cao độ và đờngnét vận động Dựa và đó chúng ta có sự phân loại thanh điệu theo hai cách :

- Theo âm vực:

+ Các thanh có âm vực cao: không dấu - ngã - sắc

+ Các thanh có âm vực thấp: huyền - hỏi - nặng

- Theo đờng nét vận động:

+ Những thanh có đờng nét bằng phẳng (truyền thống gọi là thanh bằng):không dấu - huyền

Trang 17

+ Những thanh có đờng nét không bằng phẳng (truyền thống gọi là thanhtrắc): ngã- hỏi - sắc - nặng.

Chính sự khác nhau về cách kết hợp các nguyên âm, phụ âm với nguyên

âm trong từng âm tiết (trong thế đối lập đóng - mở, vang - không vang) cũng nhcách kết hợp các âm tiết để tạo thành các câu thơ cùng với sự khác nhau về âmvực, về đờng nét các thanh điệu sẽ tạo nên sự khác nhau về cao độ, trờng độcủa nốt nhạc hay nói cách khác sẽ tạo nên tính nhạc trong thơ

*Vần điệu

Chúng ta có thể khẳng định vần trong thơ có một vị trí rất quan trọng cảtrong sáng tác và cả trong nghiên cứu lí luận: "Vần là sự hòa âm, sự cộng hởngnhau theo những quy luật ngữ âm nhất định giữa hai từ hoặc hai âm tiết ở trong

hay cuối dòng thơ, gợi tả sự nhấn mạnh sự ngừng nhịp" [8; tr 12] Hay "Vần

nh sợi dây ràng buộc các dòng thơ lại với nhau giúp ngời đọc thuận miệng, nghe

đợc thuận tai và làm cho ngời đọc, ngời nghe dễ thuộc, dễ nhớ"[8, tr.21,22]

Vần là yếu tố quan trọng tạo nên sự hòa âm giữa các câu thơ Sự hòa âmvần trớc hết có chức năng tổ chức, cấu tạo Trong thơ, vần là chiếc cầu bắc quacác dòng thơ, gắn kết các dòng thơ lại từng đoạn, khổ và từng bài hoàn chỉnh

Vần thơ Việt Nam khác với vần thơ của các ngôn ngữ khác không cùngloại hình là ở đơn vị hiệp vần Trong tiếng Việt đơn vị hiệp vần là âm tiết Trongthơ ca Việt nam, với ý thức của ngời Việt không bao giờ chấp nhận một từ đatiết có thể hiệp vần với một từ đơn tiết hay một từ đa tiết khác mà chỉ chấp nhận

"sự hiệp vần giữa tiếng (âm tiết) này với tiếng (âm tiết ) khác mà thôi" Trongcác vần thơ bao giờ cũng có sự cộng hởng, sự hòa xớng với nhau của hai âm tiết

có vần Để tạo đợc sự hòa âm cho các cặp vần đồng thời có tác dụng hòa phối,kếp hợp, tơng hổ của các yếu tố tơng ứng giữa hai âm tiết hiệp vần Đó là sự hòa

âm giữa thanh điệu của âm tiết này với thanh điệu của âm tiết kia, giữa âmchính với âm cuối của âm tiết này với âm chính, âm cuối của âm tiết kia Tất cảyếu tố cấu tạo âm tiếng Việt đều tham gia vào việc tạo nên sự khác biệt của vầnthơ Việt Nam để tránh lặp vần Trong đó có thanh điệu và âm chính, âm cuối lànhững yếu tố chính tham gia vào việc tạo nên sự hòa âm cho các vần thơ

Vần trong thơ là một kiểu lặp lại theo một quy định ngữ âm bất định.Hình thức lặp lại này là dấu hiệu của sự hô ứng, liên kết gọi nhau của những yếu

Trang 18

tố từ ngữ, tạo nên kết cấu đặc biệt trong thơ Tính nhạc của thơ cũng bắt đầu từ

Trong thơ nhịp điệu là kết quả của sự hòa phối âm thanh đợc tạo ra từngắt nhịp Nhịp điệu liên kết với các yếu tố ngữ âm lại với nhau để tạo ra nhạctính Nhịp điệu ngng, nghỉ theo một cách thức nhất định khi phát âm hay còngọi là sự ngắt nhịp Cho đến nay, ngắt nhịp trong thơ có thể có hai loại : ngắtnhịp cú pháp và ngắt nhịp tâm lý Nhịp trong thơ gắn liền với tình cảm, cảmxúc Các trạng thái tâm lý, tình cảm đều có ảnh hởng đến việc lựa chọn nhịpcủa câu thơ Hai loại nhịp này có khi tách bạch có khi hòa quyện vào nhau tùyvào cấu trúc ngôn ngữ của dòng thơ, khổ thơ và cảm hứng

Để khảo sát hình thức nhịp điệu của một bài thơ chúng ta có thể dựa vàonhiều đơn vị tổ chức văn bản nh câu thơ (dòng thơ), khổ thơ, đoạn thơ trong

đó câu thơ (dòng thơ) là đơn vị tổ chức cơ bản nhất, vì trong câu thơ tập trungmật độ dày đặc về cú pháp, âm điệu, về sự hòa âm

Từ những sự phân tích trên, chúng ta có thể hiểu nhịp điệu là "xơng sốngcủa bài thơ", là "tiền đề cho sự gieo vần" [7, tr 28] Nhịp điệu là sự hòa phối âmthanh để tạo ra từ ngắt nhịp và nhịp điệu liên kết các yếu tố ngữ âm lại với nhau

để tạo ra nhạc tính, tạo ra sự trầm bổng

Nh vậy âm điệu, vần và nhịp điệu tuy ở trong bài thơ nó đều có những vaitrò khác nhau, nhng nó không thể thiếu trong ngôn ngữ thơ Vần và nhịp tuykhác nhau nhng giữa chúng lại có mối quan hệ hữu cơ và tơng hỗ lẫn nhau, cáinày là tiền đề của cái kia và luôn bổ sung cho nhau tạo nên sự hoàn chỉnh của

Trang 19

những yếu tố hình thức thơ ca Chính chúng đã tạo nên đợc tính nhạc quyến rũcho hồn thơ, tạo đợc cảm xúc, ý tởng cho thơ.

1.2.2 Về ngữ nghĩa

Thơ là một loại hình nghệ thuật ngôn ngữ cô đọng, súc tích về từ ngữ vàhình ảnh Mỗi từ ngữ khi đợc đa vào thơ đều đã trải qua sự lựa chọn của tác giả

Cũng từ những sự phân tích ở trên chúng ta đã thấy rõ vai trò của nhạctrong thơ hiểu theo nhiều phơng diện Tính nhạc là tính đặc thù đầu tiên, quantrọng với thơ, nếu thiếu nó thì thơ không tồn tại Nhng nếu mới chỉ có mìnhnhạc thôi thì cha đủ, cha thể làm nên thơ Bên cạnh mặt ngữ âm thì ngữ nghĩacũng là một yếu tố làm nên tác phẩm thi ca Ngữ nghĩa trong thơ khác với ngữnghĩa trong văn xuôi và trong đời sống hằng ngày Nghĩa trong văn xuôi chủyếu là nghĩa miêu tả, nghĩa tờng thuật, kể chuyện Còn ở thơ mỗi từ ngữ khi đavào sử dụng đều rất linh hoạt, phong phú và đa dạng Mỗi từ ngữ trong câu thơchứa đựng sức mạnh tiềm tàng, chứa đựng cái đẹp đẽ, tinh tế và sâu sắc

Ngữ nghĩa trong thơ ngoài giá trị biểu hiện nó còn mang nhiều giá trịkhác Khi vào thơ, do đặc trng của tính chất thơ mà nghĩa của từ không dừng lại

ở nghĩa gốc, nghĩa đen, nghĩa ban đầu, mà nó còn mang trong mình nghĩa mớitinh tế hơn, đa dạng hơn Chính đặc tính này tạo cho thơ có hiện tợng đa nghĩa

Đó là tính chất nói bóng và sự chuyển nghĩa bằng những hình thức ẩn dụ, sosánh, hoán dụ, phóng dụ, nói lái, chơi chữ làm cho ngữ nghĩa của thơ trở nênmơ hồ mà nhiều khi phải có sự tởng tợng, liên tởng, mới có sự giải mã và cảm

thụ hết đợc vẻ đẹp tối đa của nó Chính tính nhòe đi về nghĩa (chữ dùng của

Nguyễn Phan Cảnh) trong thơ cho phép ngôn ngữ thơ dung nạp những kiểu cấutrúc đặc biệt, có khi bất thờng Đó là sự tỉnh lợc các thành phần ngữ pháp, kể cảcác thành phần chính trong câu Chính vì thế đa lại những cảm thụ khác nhau

làm nên tính đa nghĩa, hàm súc "ý tại ngôn ngoại" trong thơ Đó còn là những

hình thức sử dụng các trờng hợp dùng từ phiếm chỉ, đảo ngữ, đảo cú pháp,không tuân theo một quy luật thông thờng Và đó còn tạo ra sự ngắt câu khác lạkhông cho phép trong cấu trúc văn xuôi Ngoài ra còn có các hình thức lấy độngtả tĩnh, dùng cái này để nói cái kia Chính vì thế mà trong thơ mới đợc xem là

"lời ít ý nhiều" tạo nên ý nghĩa bóng bẩy, lung linh diệu kỳ của ngôn ngữ thơ ca.

Điều này làm cho khi tìm hiểu một tác phẩm thi ca không nhất thiết chỉ đi tìm

Trang 20

cái nội dung logic của nghĩa đen với một nội dung rõ ràng, minh bạch Điều đókhông phải là đặc trng của thể loại này.

Đặc trng ngữ nghĩa này tạo cho thơ có sức cuốn hút kỳ lạ đối với ngời

đọc, ngời nghe Bởi đến với thơ chúng ta không chỉ tiếp nhận bằng mắt, bằngtai mà cả bằng xúc động tình cảm, cả sự liên tởng và trí tởng tợng Để thởngthức cái duyên ngầm, cái âm hởng và tứ thơ tỏa ra từ những lớp ngữ nghĩa củangôn từ ở những dòng chữ, những khoảng trống, giữa những từ, sự im lặng, ởnhững dấu chấm hỏi, chấm lửng và chấm than

Cách sắp xếp các từ ngữ trong thơ cũng khác so với văn xuôi ở chỗ khicác thành phần trong dòng, trong câu hay bị đảo lộn trật tự Có nhiều khi khôngtheo một logic thông thờng rõ nhất là trong những câu thơ vắt dòng

Về mặt cấu trúc của câu trong thơ cũng khác so với câu trong văn xuôi vì

nó không hoàn toàn tuân theo một quy tắc bắt buộc nào Nhà thơ có thể sáng tạo

và sử dụng những kiểu câu " bất bình thờng", những kiểu câu "quái đản" nh đảo

ngữ, vắt dòng, câu tách biệt, câu trùng điệp và không ảnh hởng đến quá trình

tiếp nhận ngữ nghĩa của văn bản Chính điều này đợc coi là " bất thờng" đó đã

tạo cho thơ những giá trị mới, diễn tả đợc sự vô cùng của sự vật trong hữu hạncủa câu chữ, tạo nên phong cách riêng của mỗi nhà thơ

1.3 Lê Đạt và tập Bóng chữ

1.3.1 Lê Đạt và thơ

Nhà thơ Lê Đạt tên thật là Đào Công Đạt Ông sinh ngày 10- 09- 1929 tạiYên Bái, mới qua đời cách đây cha lâu tại Bệnh viện Việt Đức Hà Nội, ngày 21-04-2008

Trang 21

Tác phẩm thơ đầu tay của Lê Đạt Bài thơ trên ghế đá ra mắt bạn đọc năm

1955 Bài thơ đã đợc nhiều độc giả đón đọc, là mốc quan trọng cho sự nghiệpthơ của Lê Đạt

Lê Đạt là trụ cột của Nhân văn - Giai phẩm, và cũng chính từ đây, sựnghiệp thơ văn của Lê Đạt bị gián đoạn hơn ba mơi năm trời Trong giai đoạnnày Lê Đạt tuy không có tác phẩm thơ nào đợc xuất bản, nhng Lê Đạt có mộtthời gian để tự rèn luyện mình, đã xây cho mình một vốn kiến thức vững vàng.Sau hơn ba mơi năm trời trong im lặng, khi xuất hiện trở lại thi đàn văn học vào

tháng 4 năm 1994 với tập thơ Bóng chữ , Lê Đạt đã tạo ra sự nhiều mới lạ về

Các tác phẩm chính của Lê Đạt: Bài thơ trên ghế đá (1955) - bài thơ; Bóng chữ (1994) - tập thơ; Hèn đại nhân (1994) - tập truyện ngắn; Ngó lời (1997) - tập thơ; U75 từ tình (2007) - tập thơ và đoản khúc.

Một đời lao động thơ không biết mệt mỏi, của Lê Đạt đã nhận phần thởngxứng đáng Đó là một giải thởng cao quý: Giải thởng Nhà Nớc về văn học nghệthuật

1.3.2 Tập thơ Bóng chữ

Sau hơn ba mơi năm trời âm thầm trong im lặng, vào tháng 4 năm 1994,

Lê Đạt đã cho ra mắt bạn đọc tập thơ Bóng chữ Tập thơ đã gây đợc tiếng vang

lớn cho nền văn học Nớc nhà Tập thơ đợc xem là sự cách tân đổi mới và có vẻ

đẹp tân kỳ của đờng thơ Lê Đạt Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên đã có nhậnxét về tập thơ: Bóng chữ là tập thơ đa ông tái xuất văn đàn là kết quả của mấychục năm trong im lặng đọc và nghĩ, và viết, và vợt lên trên những hệ lụy khónhọc của đời sống khốn khó vây níu mình Lê Đạt trở lại đã không tụt hậu, đãvẫn mới, vẫn đủ năng lợng đốt cháy mình cho thơ, vẫn hàng đầu những khổ sai,hạnh phúc vì chữ Tập thơ lập tức gây d luận, tạo d chấn và để d âm

Trang 22

Bóng chữ là tập thơ do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 1994 Tập thơ gồm 108 bài đợc chia làm 4 phần: Giáo đầu, Chiều Bích Câu, Lão Núi, Mùi sầu riêng Một số bài thơ viết trên vài mơi câu: Cha tôi, Ông phó cả ngựa, Ông

cụ nguồn, Ông cụ chăn dê Còn lại chủ yếu là những bài thơ ngắn từ hai câu: Mimôixa, Vũ ẽn, Xô lô, Bông bống, Tơng t, Lại có những bài thơ chỉ năm mời câu: Em đi, Em đến, Thủy lợi, Chiều Bích Câu

Tập thơ Bóng chữ đã đợc nhiều nhà nghiên cứu đánh giá: đáng đợc xếp vào dòng thơ "cách tân của thế kỷ XX" Bên cạnh các tập thơ khác nh Ngó lời thì Bóng chữ cũng gặp không ít những lời khen chê Nhng dù sao đi nữa đó cũng

là những góp ý cần thiết cho Lê Đạt Ngời bạn thân, cũng là bạn thơ của Lê Đạt

là tác giả Hoàng Cầm khi đọc tập thơ Bóng chữ cũng đã có nhận xét: Bóng chữ

dờng nh tập trung những thể nghiệm của tác giả của tác giả với nhiều bài chứa

đựng những t tởng sâu sắc và độc đáo, có tính triết học về nghệ thuật, về số phận

về tơng lai nhân loại, có nhiều ngôn ngữ đa âm, đa thanh, đa nghĩa Có thể xếptác giả vào một vị trí nhất định, nh một ngôi sao trên bầu trời thơ Việt Nam hômnay, lại có thể ngôi sao ấy chẳng kém sáng so với nhiều ngôi sao hiện đại của

bầu trời thơ thế giới [7 tr.31] Đến với tập thơ Bóng chữ, Lê Đạt muốn ngời đọc

cũng chính là chủ thể sáng tạo, ngời đọc thoát khỏi lối mòn cũ kỹ từ ngàn xa làchỉ biết ngồi chờ Ngời đọc đợc tham gia vào một "trận kỳ chữ" một trò chơichữ đầy thú vị

Bóng chữ là tác phẩm của một đời ngời, vậy nên ngời đọc không thể khám phá cái hay trong một lúc Nhng chính vì mỗi lần đến với Bóng chữ chúng

ta lại thấy khía cạnh liêu trai mới, một chập chờn h thực mới mà tác phẩm gắn

bó với ta biện minh cho hình thức cộng tác sáng tạo giữa ngời viết và ngời đọc

[33] Tập thơ Bóng chữ có đóng góp rất lớn trong quá trình hiện đại hóa thi ca

Việt nam

1.4 Quan niệm của Lê Đạt về chữ trong thơ và lao động chữ của nhà thơ

Lê Đạt đã cho ra mắt bạn đọc nhiều tác phẩm thơ có giá trị, bên cạnh đónhà thơ còn có nhiều quan niệm về "chữ" trong thơ và "lao động chữ" của nhàthơ khá mới mẻ và tiến bộ cho nền thơ ca đơng đại Việt Nam

1.4.1 Vấn đề "chữ" trong quan niệm của Lê Đạt

Để hiểu rõ đợc quan niệm của Lê Đạt về "chữ" trong thơ, chúng ta phảibiết đợc chữ là gì, và chữ trong thơ là gì

Trang 23

Thông thờng "chữ" là đợc viết theo bảng chữ cái, dùng để ghi âm, là kýhiệu của ngôn ngữ Chữ có nhiệm vụ là cố định hóa lời nói, đại diện cho lời nói,nhằm trao đổi thông tin và giao tiếp Song, trong địa hạt thơ ca, không thể quanniệm mỗi chữ bị đóng khung trong các tổ hợp mà các từ điển thờng thống kê và

giải thích Chữ trong thơ ca gắn với quá trình sáng tạo riêng của ngời cầm bút.

Nó mang tính cá nhân và đợc dùng với một phong cách riêng biệt ở từng nhàthơ Mỗi chữ trong thơ đều hoạt động rất linh hoạt và đa dạng Từ thời kháng

chiến chống Pháp gian nan năm 1949, Nguyễn Đình Thi đã viết : Chữ và tiếng

trong thơ phải có giá trị khác, ngoài giá trị ý niệm Ngời làm thơ chọn chữ vàtiếng không những vì nghĩa của nó, cái nghĩa thế nào là thế ấy, đóng lại trongmột khung sắt Điều kỳ diệu của thơ là mỗi tiếng mỗi chữ, ngoài cái nghĩa của

nó, ngoài công dụng tên của sự vật, bỗng tự phá tung ra, mở rộng ra, gọi đếnchung quanh nó những cảm xúc, những hình ảnh không ngờ, tỏa ra xung quanh

nó một vùng ánh sáng động đậy, sức mạnh nhất của câu thơ là sức gợi ấy" Có

lẽ Lê Đạt cũng không nằm ngoài những quan niệm đó, nhng ở Lê Đạt có phần

sáng tạo hơn, ông luôn quan niệm chữ trong thơ phải là nhng con chữ biết vận

động một cách linh hoạt, nó có sự chuyển đổi vị trí cho nhau Ông luôn cho

rằng: làm thơ tức là làm chữ Phải bắt những con chữ bình thờng, đơn giản với

nghĩa tiêu dùng hằng ngày bật ra những nghĩa mới Điều này có lẽ một phần do

ông đã gắn bó với sách vở từ rất sớm Lê Đạt đã từng tâm sự trong bài trả lời nhàbáo Nguyễn Hoàng Diệu Thúy (báo Tiền Phong ngày 20 - 01- 2008), về " Thơ

đơng đại đang bế tắc": "Tôi sinh ra ở Yên Bái Tuổi thơ của tôi buồn bã, cô độc

và nhạt nhẽo Tôi không thiếu thốn vật chất nhng ít đợc sự chăm sóc, gần gũi

của cha mẹ Thế nên tôi đọc sách rất sớm Đọc sách khiến tôi có thói quen mơmộng, và thơ đến với tôi nh là một cái gì rất tự nhiên Tôi lớn lên trong tình th-

ơng của chữ, và mối tình chữ ấy theo đuổi tôi suốt đời"

Tác giả Thụy Khuê khi viết về tập thơ Bóng chữ đã có nhận xét: Mỗi chữ

trong thơ ông chỉ là cái bóng những chữ khác Lê Đạt dùng "con chữ" để chỉ

những thực thể của mình Vì nó sống, nó chuyển động, nó biến đổi, nó tự nhân

lên Bản sắc của nó là đa ngã [7, tr 36] Theo tác giả Lan Chi trong đề tài luận văn thạc sĩ Thi pháp thơ Lê Đạt qua hai tập thơ Bóng chữ và Ngó lời, đã nhận

xét: "Đọc thơ Lê Đạt cũng có nghĩa cùng với ngời cầm bút sáng tạo nên từngcon chữ Chữ không hoàn toàn tuân theo ngôn ngữ tiếng Việt nhng cũng không

đi ngợc lại quỹ đạo của nó" [7, tr 36]

Trang 24

Ngay nh tác giả Trần Thiện Khanh khi phân tích một số bài thơ trong

Bóng chữ, tác giả đã thấy đợc cách dùng chữ tinh xảo của Lê Đạt: Lê Đạt không

vơ vào thơ tất cả xơng cốt của chữ, tức xác chữ Ông lấy cái hồn của chữ, cáibóng sáng của chữ để làm nên giá trị cho câu thơ, bài thơ [31] Nhiều lần Lê Đạt

đã nhấn mạnh quan niệm của mình về chữ trong thơ: Phải vợt qua nghĩa tiêudùng của từ đợc ghi trong từ điển Điều đó có nghĩa là làm thơ tức là làm chữ,phải giải phóng cho chữ khỏi thân phận làm công cụ để diễn nghĩa Cũng cónghĩa là viết thơ không còn thuần túy quy chiếu vào hiện thực Thơ là sự quy

chiếu vào chính chữ Quan niệm này đợc xuyên suốt trong Bóng chữ cũng nh

trong qúa trình sáng tác thơ của Lê Đạt

1.4.2.Vấn đề "lao động chữ" của nhà thơ trong quan niệm Lê Đạt

Song song với quan niệm "chữ" trong thì "lao động chữ" của nhà thơ cũng

đợc Lê Đạt bàn luận nhiều trong tác phẩm của chính ông

Trong bài viết Nghiệp thơ, chính Lê Đạt đã từng viết : "Theo tôi thơ là

một nghề Đã là một nghề thì phải có kỷ luật lao động Không nên thụ độngthắp hơng chờ mà phải chủ động gọi hứng đến Công việc đòi hỏi phải có một

kỷ luật nghiệt ngã và gian khổ [31] Hay tác giả lại viết tiếp: Tôi không thíchnhững thần đồng Tôi yêu những ngời lao động trí thức, một nắng hai sơng trêncách đồng chữ" [31] Điều đó có nghĩa Lê Đạt luôn đề cao sự viết, sự năng độngcủa chủ thể sáng tạo trong ngôn từ Ông xem mỗi chữ phải tự đề ra cho mìnhmột mô hình sáng tạo, một cách hình thành tổ chức tác phẩm Phải tạo đợcphong cách cá nhân Ngời viết phải biết khắt khe với chính mình, phải biết coitrọng con chữ mà mình đang dùng nó

Lê Đạt cho rằng chữ khi ở dới ngòi bút sáng tạo của nhà thơ đều đợc đa rakhỏi chức năng ký hiệu, trao cho nó tính độc lập Quan hệ giữa nhà thơ và chữluôn bình đẳng Chính quan niệm này mà Lê Đạt không ngừng cách tân thơbằng chữ Lê Đạt luôn có ý thức đổi mới cho thơ: "Lao động chữ, là lao độngkhổ sai và tự nguyện, đau đớn nhng khoái cảm" [44] Lê Đạt còn cho rằng lao

động thơ rất khổ ải, chỉ trong việc ngày ngày nhà thơ đi tìm tòi chữ nghĩa viếtrồi lại xóa biết bao nhiêu lần cũng đã hiểu nhà thơ cực nhọc lắm mới có câu hay

từ đắt Ngời bạn thơ thân thiết của Lê Đạt là nhà thơ Hoàng Cầm cũng nói đến

việc Lê Đạt rất ý thức khi dùng câu chữ của mình: "Ông ấy đúng là phu chữ

thật ông ấy rất kỹ tính và cẩn thận từng câu chữ trong thơ có nhiều chữ ông

Trang 25

ấy đã vất vã mất mấy ngày thậm chí mất ăn mất ngủ" Điều đó chứng tỏ Lê Đạt

rất ý thức với nghề nghiệp Chừng nào ngời viết cha thấu hiểu sự khó khăn củanghề chữ, biết luyện chữ, dùng chữ một cách tinh thông thì chừng đó mới đợcbầu là nhà thơ đích thực Đến với thơ Lê Đạt, chúng ta luôn thấy ông luôn làmmới thơ, đó là sự đổi mới câu chữ Tuy nhiên song song với cách làm mới thơ thì

Lê Đạt vẫn luôn giữ gìn và công nhận những điều mà các liền cha, liền anh đi

tr-ớc đã làm đợc cho thơ Nhng bên cạnh học tập những bài học từ quá khứ thì Lê

Đạt cũng đã sáng tạo đợc cho mình một con đờng đi riêng để không bị tụt hậuvới thời đại: "Học tập cố nhân không phải để tôn xng các cụ nh khuôn vàng thớc

ngọc, mà chính là để tìm mình, tìm lại diện mục của nhân dân" [23] Do đó, Lê

Đạt đã mạnh dạn tự mở lối đi riêng cho thơ mình một cách táo bạo và ông đãthành công

Tìm hiểu quan niệm của Lê Đạt về chữ trong thơ và lao động chữ của nhàthơ, luận văn sẽ làm rõ hơn con đờng thơ của Lê Đạt Đây cũng là vấn đề cần đ-

ợc quan tâm, xem xét khi khảo sát ngôn ngữ thơ của Lê Đạt nói chung và ngôn

ngữ thơ của tập thơ Bóng chữ nói riêng Chính những quan niệm của Lê Đạt về

chữ và lao động chữ của nhà thơ, Lê Đạt đã mở lối, dẫn đờng cho các nhà thơtrẻ, cần phải có ý thức với nghề và có những quan niệm đúng đắn đối với cách

sử dụng chữ nghĩa của mình trong thơ Đây là những quan niệm rất có ý nghĩacần thiết cho những nhà thơ trẻ học tập và tìm hiểu

Trang 26

Chơng 2

Những sáng tạo về ngữ âm và từ ngữ trong Bóng chữ

2.1 Những sáng tạo về ngữ âm

2.1.1 Những sáng tạo về ngữ âm trong Bóng chữ

2.1.1.1 Phát huy hiệu quả nghệ thuật của hình thức láy âm ở từ láy

Nhiều nhà ngôn ngữ học đã quan tâm đến vấn đề từ láy âm trong tiếngViệt Đỗ Hữu Châu cho rằng: "Từ láy là từ đợc cấu tạo theo phơng thức láy, đó

là phơng thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữnguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu), biến đổitheo hai nhóm (Nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang; Nhóm thấp: thanhhuyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa" [6, tr.41]

Bộ phận từ này có nhiều tên gọi khác nhau: từ lấp láy, từ láy âm, từ láy Nhìnchung, còn có những ý kiến không hoàn toàn giống nhau về từ láy, nhng cácquan niệm đều có điểm chung khi cho rằng từ láy có hai phần: thành tố gốc vàthành tố láy Trong đó, cái thứ nhất (yếu tố gốc) sản sinh ra cái thứ hai (thành tốláy) Còn cái thứ hai chính là cái thứ nhất biến dạng theo quy tắc láy nhất định

Từ láy có nhiều dạng Có từ láy nguyên vẹn, láy bộ phận, láy hài thanh,láy luân phiên, láy xen kẽ tạo ra sự đa dạng của từ láy [26, tr.246] Từ láy có vaitrò đặc biệt quan trọng đối với ngôn ngữ nghệ thuật, nhất là ngôn ngữ thơ ca Từláy làm phong phú cho ngôn ngữ cả mặt cấu trúc lẫn ý nghĩa, đem lại giá trịbiểu trng hóa về âm, về nghĩa nhất định “Có thể gọi từ láy là một bức tranh thunhỏ trong ngôn ngữ Vì vậy, từ láy sử dụng nhiều trong thơ ca và trong ngôn ngữhội thoại” [26, tr.247]

Trang 27

Sinh thời, Lê Đạt là ngời xem trọng những giá trị vốn có trong văn họcdân tộc Đặc biệt, ông luôn có ý thức gìn giữ và sáng tạo từ ngữ Lê Đạt tâmniệm rằng: “Sáng tạo trên từng con chữ để tạo nghĩa” Ông đã tận dụng sựphong phú về âm điệu, vần điệu và thanh điệu có sẵn trong tiếng Việt và hiệuquả của từ láy đem lại cho thơ Trớc Lê Đạt, cũng có một số nhà thơ dùng khá

nhiều từ láy Ví dụ: trong 1000 câu thơ đầu của Truyện Kiều, Nguyễn Du dùng

218 từ láy, chiếm tỉ lệ hơn 4 câu có một từ láy 452 câu của bản dịch Chinh phụ ngâm có 85 từ láy, chiếm tỉ lệ 5 câu có một từ láy Trong 3157 câu thơ của Tố

Hữu đợc khảo sát, có 375 từ láy, bình quân cứ 8 câu có một từ láy [29, tr.161]

Số lợng từ láy trong thơ Lê Đạt cũng chiếm tỉ lệ khá cao Tập Bóng chữ gồm

108 bài với 1095 câu thơ, Lê Đạt sử dụng tới 169 từ láy, chiếm tỉ lệ hơn 6 câuthơ có một từ láy Bảng thống kê sau đây cho ta một số thông tin cần thiết:

114 =67%

Từ láylâmthời:

55 =33%

Từ láy phụ âm đầu

113 từ = 66%

Để có cái nhìn định lợng về từ láy trong thơ Lê Đạt, chúng tôi đã khảo sát

đối sánh một số bài thơ của ông với các bài thơ của nhà thơ Hoàng Cầm, ngờibạn thơ cùng thời với Lê Đạt Chúng tôi khảo sát 10 bài thơ của mỗi nhà thơmột cách ngẫu nhiên và nhận thấy tỉ lệ từ láy trong thơ của hai tác giả có sự

khác nhau Mời bài thơ của nhà thơ Hoàng Cầm đợc rút trong: Hoàng Cầm thơ văn và cuộc đời, Hoài Việt su tầm và biên soạn, Nxb Văn hóa thông tin 1997, gồm: Cây tam cúc, Lá diêu bông, Em có về không, Đêm thổ, Đêm Kim, Đêm Mộc, Đêm Thủy, Đêm Hỏa, Gặp, Ước nguyện Mời bài thơ Lê Đạt lấy từ tập Bóng chữ, Nxb Hội nhà văn 1994, gồm: Thuở xanh hai, Hoa mời giờ, Gốc khế, Hái hoa, Anh muốn, Chiều Bích Câu, Thủy lợi, Sông quê, Quá em, Quen lạ.

Trang 28

Lê Đạt chủ yếu sử dụng từ láy phụ âm đầu: ngo ngó, thòm thèm, lắp lẫn, lung liêng, tha thẩn, ngơ ngác, nghều nghào, phập phồng, thao thức, bồng bông (xem bảng 1) Bên cạnh việc sử dụng từ láy bền vững có sẵn, Lê Đạt

cũng sáng tạo đợc tới 33% từ láy lâm thời Đó là những từ láy do nhà thơ sáng

tạo và chỉ xuất hiện một lần trong tác phẩm của chính mình nh: la lã, rùng rình,

u ú, lăm răm, liêu liễu, nu nú, lú bú, son son, trun trút, lung liêng Đây cũng là

mặt thành công, mặt độc đáo của Lê Đạt so với các nhà văn, nhà thơ trớc và

cùng thời với ông Xin đa một dẫn chứng: bài thơ Quan họ Bài thơ tả một cảnh

sinh hoạt nơi bến sông đầu bãi Những từ láy đợc sử dụng khiến bài thơ toát lênmột vẻ e ấp, quyến rũ, đầy tình tứ:

Tóc bạc tầm xanh qua cầu với gió

Đùi bãi ngô non

Em về nói làm sao với mẹ

Đoạn thơ trên chỉ sử dụng hai từ láy, nhng có một điều đặc biệt, hai từ láy

la lã và ngo ngó đều là những cách tạo từ mới mẻ, bất ngờ của Lê Đạt Thông thờng, ta nghe nói la cà, la đà….chứ cha thấy ai dùng từ la lã Nhng đó mới

chính là dấu ấn độc đáo của sự sáng tạo, và nhờ đó mà bài thơ ngoài nhiệm vụ tảcảnh sinh hoạt thờng ngày, ẩn đằng sau nó là sự điệu đà đáng yêu, giống nh nétduyên ngầm của ngời thiếu nữ dậy thì

Ngay ở một đề tài có thể xem là đã cũ, Lê Đạt vẫn có cách diễn đạt mới,

không hề lặp lại những ngời đi trớc Chúng tôi muốn nói đến bài Thủy lợi.

Trang 29

Mộng hoa dâu lum lúm má sông đào

Bài thơ gồm 13 câu, có 4 từ láy: bồng bông, phau phau, bì bạch, lum lúm.

Ta thấy gợi lên một nét gì đó thanh bình, yên tĩnh và cũng rất đẹp của thôn quêViệt Nam Nó còn gợi đến những cánh cò trắng muốt, những dòng nớc êm trôi

Những từ láy đó đi kèm với các từ rất phù hợp với đề tài thủy lợi nh: lội, nớc, sông, bờ khiến cho nội dung thơ lạ mà quen, quen mà lạ Từ láy phau phau, bì bạch còn làm chúng ta liên tởng tới vế đối lí thú tơng truyền của Đoàn Thị

Điểm: “Da trắng vỗ bì bạch

Một trờng hợp khác: bài thơ Mới tuổi.

Chỗ khép lối đồi chim non câu ngủ

Tàu nhả khói ngã ba

Bài thơ có âm hởng rất riêng, khó có thể lẫn với giọng điệu bất cứ bài thơ

nào khác Hai từ láy bời bời và u ú khá lạ U ú tạo ra một âm thanh dờng nh

không thể đè nén đợc Âm thanh đó bị hút về một cõi vô thức của bản năng conngời làm cho phút chốc bị lú lẫn, mê muội

Trong Bóng chữ, còn có nhiều bài sử dụng hình thức láy âm độc đáo của

Lê Đạt:

Ơi em rất ô

Ơi em rất hồ

Trắng vỗ ồ hô trúc bạch

Trang 30

Bớc động ngày thon róc rách.

(Vào hè)

Hầm cỏ Nguyễn Du trời tên lửa

Bia hồ liêu liễu mới Đờng thi

Tóc súng tiễn nhau đi

Mà cho đấy rửa lông mày

Nông nỗi heo may từ đấy

Lăm răm là một từ láy thu hút sự chú ý của độc giả trớc hết bởi cái âm ởng lạ của nó Ta đã quen với những từ lâm râm, lăm tăm Đặng Tiến cho biết, trớc Lê Đạt, Tản Đà trong bài Gửi chị hàng cau (1916), cũng có từ lăm răm: “Ai

h-đang độ ấy lăm răm mắt” Từ lăm răm đợc Tản Đà dùng ở đây gợi hình ảnh tình

tứ của đôi mắt Còn ở Lê Đạt, từ láy lăm răm gợi tả ánh nắng lăm tăm, lăn tăn

trên vũng nớc mà đồng thời cũng gợi hình ảnh của đôi mắt [57]

Thơ Lê Đạt luôn đòi hỏi cách đọc sáng tạo của độc giả Nói cách khác, nhàthơ và độc giả nh đồng hành trong sáng tạo Văn bản, dĩ nhiên do tác giả tạonên Nhng ngữ nghĩa của nó (tức là sự lí giải, tiếp nhận) thì rất cần vai trò của

độc giả Để hiểu đợc thơ Lê Đạt, đơng nhiên, ngời đọc phải có một trình độ văn

Trang 31

chơng nhất định (Chú ý: dùng vào đâu cho hợp, không phải lúc nào cũng tùytiện khái quát kiểu này)

Bóng chữ có tổng số là 108 bài thơ, chỉ có một số bài không có từ láy, có bài số từ láy lần lợt xuất hiện rất nhiều ở bài thơ Ông cụ chăn dê, từ láy đợc

dùng tới 32 lần, một số lợng tơng đối nhiều đối với một bài thơ

Có thể khẳng định rằng vai trò của rừ láy trong thơ rất lớn, nó tạo một âm

hởng đặc biệt mà không một từ khác nào có thể thay thế đợc Bóng chữ đã có

nhiều thành công nhất định, những tìm tòi, sáng tạo, những cách tân mới lạ vềcon chữ trong thơ, bắt những con chữ bình thờng phải phát nghĩa và bên cạnh

đó hình thức láy âm cũng là một thành công của Lê Đạt Những âm hởng trong

Bóng chữ có đợc là nhờ vào một phần nghĩa của các từ láy âm mà Lê Đạt tạo

nên

2.1.1.2 Sử dụng phơng thức hiệp vần

Trong tập thơ Bóng chữ của Lê Đạt, dù thể thơ tự do chiếm u thế, nhng số

bài có vần chiếm tỉ lệ khá cao Theo thống kê của chúng tôi, trong 108 bài của

tập thơ này thì chỉ có 5 bài không vần (Chiều Bích Câu, Tóc phố, Mắt bãi, Phá từng, PAM), một tỉ lệ tối thiểu

Về hình thức, vần là yếu tố có tính truyền thống của thơ Việt Mọi thể thơtừng tồn tại và phát triển thời trung đại đều coi trọng vần Thơ mới 1932 - 1945

dù đã làm một cuộc cách mạng trong thi ca dân tộc, vẫn không hề bỏ vần.Những thể thơ đợc dùng nhiều trong thơ mới nh thể tám chữ, thể năm chữ, lụcbát… đều xem vần là yếu tố không thể thiếu Sau 1945, Nguyễn Đình Thi là nhàthơ tiên phong trong đổi mới thơ Ông đã sáng tác nhiều bài thơ không vần và

điều này đã bị phê phán nặng nề Giờ đây đọc lại thơ không vần của Nguyễn

Đình Thi, ta mới thấy sự cạn hẹp trong quan niệm về thơ của những ngời phêbình ông hồi ấy Thực tế sáng tác thơ sau này đã cho thấy những tìm tòi củaNguyễn Đình Thi là đúng hớng Thơ hiện nay rất phong đa dạng về hình thức.Thơ không vần đã trở nên hết sức quen thuộc trong cảm quan thẩm mĩ của ngời

đọc

Có điều lạ: là nhà thơ quyết liệt trong cách tân thơ, đặc biệt là ở phơngdiện ngôn ngữ, nhng Lê Đạt lại không bỏ vần Hẳn Lê Đạt tìm thấy trong vầncủa câu thơ cái khả năng chuyển tải những ý tởng, những quan niệm về thơ của

ông

Trong thơ Việt Nam, có những nhà thơ luôn đề cao yếu tố vần điệu, chẳnghạn Tố Hữu Dù viết theo thể nào, thơ Tố Hữu vẫn luôn luôn có vần Thậm chí,

Trang 32

nhiều trờng hợp, mật độ của vần cao hơn so với những đòi hỏi về vần luật của

thể thơ mà ông sử dụng Đoạn mở đầu bài thơ Mẹ Tơm là một ví dụ.

Đề cao vai trò của vần, nhng Lê Đạt không hề chịu bó hẹp vào nhữngkhuôn phép có sẵn, ngợc lại, ông nỗ lực tìm tòi những cách gieo vần khác lạ,nhằm phá vỡ thói quen cảm thụ âm điệu theo lối mòn của độc giả Sự tìm tòi của

Lê Đạt có thể qui về hai khía cạnh: thứ nhất, vị trí của các tiếng hiệp vần trongcâu thơ cũng nh vị trí của câu thơ hiệp vần trong bài thơ; thứ hai, độ mở cũng

nh sự hòa phối về ngữ âm giữa các âm tiết hiệp vần

Về vị trí của vần, trong thơ Việt có vần chân và vần lng Vần chân là vần

đ-ợc gieo ở tiếng nằm cuối câu thơ Vần lng là vần nằm giữa câu thơ Hai loại vần

này đều đợc Lê Đạt sử dụng rộng rãi trong Bóng chữ.

Vần chân trong thơ Lê Đạt cũng rất biến hóa Sự biến hóa này thể hiện ở vịtrí các câu thơ có chứa vần trong bài thơ Có khi ông dùng vần chân đối với haicâu kề nhau:

Hè thon cong thân nắng cựa mình

Có khi vần đợc gieo ở những câu cách quãng:

Có quẹt đúng tẩu ông già gỗ săng

Trang 33

Do vị trí cố định của tiếng hiệp vần trong câu thơ, vần chân ít nhiều có sự

gò bó Nhng dờng nh Lê Đạt vẫn rất thoải mái trong cách gieo vần của mình, thểhiện ở chỗ ông có thể chọn câu thơ ở bất cứ vị trí nào trong bài để hiệp vần vớinhau Sự lựa chọn này không có qui luật

Tuy nhiên, mọi tìm tòi của Lê Đạt về vần điệu biểu hiện rõ nhất ở cách gieovần lng của ông Câu thơ, nhất là thơ tự do, số tiếng không hạn định Vần lng cóthể đợc gieo ở bất cứ vị trí nào trong câu thơ Sự sáng tạo ở cách gieo vần lngtrong thơ Lê Đạt chung qui thể hiện ở hai phơng diện: hoặc linh hoạt về vị trícủa tiếng gieo vần; hoặc mật độ của vần cao hơn so với thông thờng

Có lúc, nhà thơ sử dụng vần lng theo cách quen thuộc, khiến câu thơ códáng dấp một cặp song thất truyền thống:

Không ai chọn đất mình sinh đẻ

Nh không ai chọn mẹ chọn cha

(Thuở xanh hai)

Vần lng đợc hiệp giữa các câu thơ khác nhau đã đành, Lê Đạt còn phối vầngiữa các tiếng trong nội bộ một câu thơ:

Tàu ú còi tu hú kêu vờn đỏ

Tuổi vào ga mùa ủ lửa má vừa

Bài thơ dùng nhiều vần đan xen nhau, có tới 14 chữ mang thanh bằng, bên

cạnh đó Lê Đạt còn sử dụng hai từ láy âm: thòm thèm, lắp lẫn, làm cho bài thơ

có âm hởng rất lạ

Trang 34

Nhiều đoạn thơ đọc lên chúng ta cảm thấy những âm thanh nhạc điệu cóthể cảm nhận đợc.

ở đoạn thơ trên, Lê Đạt sử dụng một loạt vần liền, cùng với cách gieo vầntrắc ở cuối mỗi dòng thơ làm cho nhạc điệu mạnh mẽ, mạch thơ đuổi nhau liêntiếp Chúng ta dờng nh đang thởng thức tiếng vó ngựa đang ở đâu đây, và tiếng

Tiếng ẹp, dẹp, bẹp, gợi ra một hình ảnh thu nhỏ của sự vật, nhng những

tiếng đó vang lên ngời đọc vẫn nhận ra nỗi ám ảnh sợ hãi và lòng căm thù củangời dân Việt trớc những tội ác của giặc Mỹ

Có nhiều khi, Lê Đạt gây ngạc nhiên cho ngời đọc bởi lối gieo vần rất kháclạ của mình Khác lạ ở vị trí của vần, khác lạ ở ngữ nghĩa của từ chứa tiếng hiệpvần

sáng tạo nghĩa của riêng mình Những từ ơ, ớ, ờ hiệp vần với nhau liên tiếp gợi

tả ấn tợng lng chừng, nửa vời trong tình yêu đôi lứa – một sáng tạo riêng của

Lê Đạt

Trong thơ Lê Đạt còn có hiện tợng một câu thơ có thể mang nguyên mộtphụ âm hoặc mang nguyên một phần vần nào đó:

Trang 35

Hay em biến trong gơng

Sự láy đi láy lại âm “m” trong câu thơ tạo ra một sự đối sánh gơng cho một

tình yêu đã vãn em / giống em, biến / trở lại Đồng thời tạo ra một chuỗi đối lậpgiữa hình và bóng, gần và xa, còn và mất…

Hoặc :

Ma mấy mùa

mây mấy độ thu

Rừng buồn bứt lá chim chim

Hỏi sim sim tím

Nhịp nữa cầu vồng

ngã t áo giãi nàng công chúa

(Ông cụ chăn dê)

Toàn tập thơ Bóng chữ tuy Lê Đạt sử dụng nhiều phơng thức hiệp vần, và

những câu thơ có sử dụng hiệp vần thờng rất sáng tạo và độc đáo Thơ Lê đạt có

âm hởng riêng, lạ và đặc biệt một phần là nhờ vậy

2.2 Những sáng tạo về từ ngữ

2.2.1 Vấn đề từ ngữ trong thơ

Nh chúng ta đã từng biết, ngôn ngữ là công cụ của giao tiếp và t duy.Ngôn ngữ đợc mã hóa bằng chữ viết (hay còn gọi là các từ ngữ) Đối với mỗingành nghệ thuật, các từ ngữ chuyên dùng đều có sự khác nhau, đây là do đặctrng, tính chất của từng ngành quy định chi phối

Trang 36

Trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, từ ngữ là công cụ đắc lực nhất đểtruyền đạt những t tởng ý nghĩ và mong muốn của mỗi nhà văn, nhà thơ tới độcgiả Trong văn học nghệ thuật, từ ngữ ở mỗi thể loại cũng có sự khác nhau: từngữ của thể loại văn xuôi khác thơ Nh Valéry đã từng nói: chữ trong thơ vàtrong văn xuôi tuy giống nhau về hình thức nhng khác nhau về giá trị [57].

Trong cuốn Ngôn ngữ thơ Việt Nam Hữu Đạt cũng đã có nhận xét: khác với các

thể loại khác (văn xuôi, kịch), trong thơ, mỗi chữ thờng nằm trong mối quan hệ,liên hệ nhiều chiều cùng với các chữ khác ở trong câu Nghĩa là mỗi chữ có thểtham gia vào nhiều mối liên hệ, quan hệ khác nhau, và vì thế có khả năng biểuhiện nhiều cấp độ ngữ nghĩa khác nhau [11, tr.39]

Do đặc trng của ngôn ngữ thơ, từ ngữ trong thơ phải đợc tác giả lựa chọn

kĩ lỡng, sử dụng làm sao thật đắc địa, không thể thay thế Trong địa hạt thơ ca,

từ ngữ không bị cố định về nghĩa nh trong từ điển “Đặc điểm nổi bật trong thơ

là các chữ khi tham gia vào cấu trúc nhiều khi không còn giữ nguyên nghĩa đen,nghĩa cơ bản hay nghĩa gốc của nó nữa, mà nó thờng có một ý nghĩa mới, đó là

ý nghĩa biểu trng” [11, tr.41]

Do sự độc đáo, sự khác lạ của từ ngữ trong thơ đã làm cho từ ngữ trong thơ

đảm nhận đợc nhiều chức năng tạo ra: Âm điệu, vần điệu, nhịp điệu, nhạc điệu Tạo ra các biện pháp tu từ: ẩn dụ, so sánh, nói lái, nghịch nghĩa, chuyễn nghĩa,

đảo cú pháp, đảo ngữ mà không một thể loại nào có thể có nhiều đặc trng nhvậy Jakopson từng nói: “Mỗi chữ trong thơ đều đã bị biến tính, biến dạng, bị

“bóp méo” đi so với ngôn ngữ hằng ngày” Chính sự khác thờng, trái khoáy đólàm cho thơ ca luôn có sức gợi cảm lớn, lời thơ ít nhng cảm xúc và ý nghĩa rấtphong phú

2.2.2 Sáng tạo từ ngữ trong Bóng chữ

Muốn tìm hiểu và khám phá một tác giả, ta không thể bỏ qua hệ thống từngữ Đây là một trong những cái cửa đầu tiên phải mở nếu muốn bớc chân vàothế giới nghệ thuật của tác phẩm Nắm đợc cách dùng từ ngữ trong tác phẩm vàngữ nghĩa trong mỗi từ trong tác phẩm văn học là điều rất quan trọng

Lê Đạt là nhà thơ luôn đặt ra vấn đề chữ nghĩa hàng đầu khi cầm bút Lê Đạtluôn có ý thức đổi mới, sáng tạo trên từng con chữ Ông luôn tâm niệm làm thơtức là làm chữ, "chữ bầu lên nhà thơ" và nhà thơ là "phu chữ" Lê Đạt đã từngnói: “Thơ dùng những từ thông dụng nhng đã kinh qua một cấu trúc, một tổchức, một công nghệ đặc biệt” [24]

Ngày đăng: 20/12/2013, 18:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristote, Lu Hiệp (1999), Nghệ thuật thơ ca, Văn tâm điêu long, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca, Văn tâm điêu long
Tác giả: Aristote, Lu Hiệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
2. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỷ thơ Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ Việt Nam
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
3. Nguyễn Phan Cảnh (1987), Ngôn ngữ thơ, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1987
4. Hoàng Cầm, (1994), “ Cảm nghĩ khi đọc Bóng chữ ”, Tác phẩm mới (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm nghĩ khi đọc Bóng chữ
Tác giả: Hoàng Cầm
Năm: 1994
5. Hoàng Cầm (2008), “ Nói về thơ Lê Đạt ”, http://BBC VIETNAMESE.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nói về thơ Lê Đạt
Tác giả: Hoàng Cầm
Năm: 2008
6. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1981
7. Nguyễn Thị Lan Chi (2008), Đặc điểm thi pháp thơ Lê Đạt qua hai tập Bóng chữ và Ngó lời, Luận văn thạc sĩ, Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đặc điểm thi pháp thơ Lê Đạt qua hai tập Bóng chữ và Ngó lời
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Chi
Năm: 2008
8. Mai Ngọc Chừ (1991), Vần thơ Việt Nam dới ánh sáng ngôn ngữ học, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ Việt Nam dới ánh sáng ngôn ngữ họ
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1991
9. Võ Tấn Cờng (1995), “ Lê Đạt ng ời phu chữ thanh xuân”, Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Đạt ngời phu chữ thanh xuân
Tác giả: Võ Tấn Cờng
Năm: 1995
10. Phan Huy Dũng (1999), Kết cấu thơ trữ tình nhìn từ góc độ loại hình, Luận án tiến sĩ ngữ văn, Đại học s phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu thơ trữ tình nhìn từ góc độ loại hình
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1999
11. Hữu Đạt (2000), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2000
12. Lê Đạt (1994), “ Chữ bầu lên nhà thơ ”, báo Văn nghệ (34) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữ bầu lên nhà thơ"”, báo "Văn nghệ
Tác giả: Lê Đạt
Năm: 1994
13. Lê Đạt (1994), “ Tha thẩn Thơ … ”, báo Văn nghệ (50, 51) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tha thẩn Thơ"… ”, báo "Văn nghệ
Tác giả: Lê Đạt
Năm: 1994
14. Lê Đạt (1997), “ Hãy tạo ra những lỗ tai mới ”, báo Văn nghệ (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy tạo ra những lỗ tai mới"”, báo "Văn nghệ
Tác giả: Lê Đạt
Năm: 1997
15. Lê Đạt (2001), “ Mấy ý kiến ngắn về thơ , ” Tạp chí Ngôn ngữ (số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy ý kiến ngắn về thơ , "” Tạp chí "Ngôn ngữ
Tác giả: Lê Đạt
Năm: 2001
16. Lê Đạt (2003), “ Nghiệp thơ ”, Tạp chí Sông Hơng (63) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp thơ"”, Tạp chí "Sông Hơng
Tác giả: Lê Đạt
Năm: 2003
17. Lê Đạt (2003), “ Đ ờng chữ”, Phụ san thơ báo Văn nghệ (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: §ờng chữ"”, "Phụ san thơ" báo "Văn nghệ
Tác giả: Lê Đạt
Năm: 2003
18. Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Minh Thuyết, Đoàn Thiện Thuật, (1999), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Minh Thuyết, Đoàn Thiện Thuật
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
19. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
20. Cao Xuân Hạo (2001), Tiếng Việt mấy vấn đề về ngữ âm - ngữ pháp - ngữ nghĩa, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt mấy vấn đề về ngữ âm - ngữ pháp - ngữ "nghĩa
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 - Luận văn ngôn ngữ trong tập bóng chữ của lê đạt
Bảng 1 (Trang 32)
Bảng 2 - Luận văn ngôn ngữ trong tập bóng chữ của lê đạt
Bảng 2 (Trang 33)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w