Đây được xem là mốc đánh dấu một bước đổi mới trong nghệ thuậtngôn từ, thể hiện sự đổi mới, sáng tạo của tác giả, đặc biệt về ngôn ngữ.Trong tác phẩm này, Hồ Anh Thái đã sử dụng một hệ t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
NG¤N ng÷ trÇn thuËt trong truyÖn ng¾n hå anh th¸i
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Trang 2Vinh - 2010
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
NG¤N ng÷ trÇn thuËt trong truyÖn ng¾n hå anh th¸i
Trang 4Vinh - 2010
Trang 5M Ở ĐẦU 7
1 Lý do ch n ọ đề à 7 t i
2 L ch s v n ị ử ấ đề 8
3 M c ích nghiên c u ụ đ ứ 13
4 Ph m vi nghiên c u ạ ứ 13
5 Phương pháp nghiên c uứ 13
6 C u trúc lu n v nấ ậ ă 13
Chương 1 TH LO I TRUY N NG N, NGÔN NG TRUY NỂ Ạ Ệ Ắ Ữ Ệ NG N, TRUY N NG N C A H ANH THÁIẮ Ệ Ắ Ủ Ồ
1.1 Th lo i truy n ng n v ể ạ ệ ắ à đặ đ ểc i m ngôn ng truy n ng nữ ệ ắ 14
1.1.1 Th lo i truy n ng nể ạ ệ ắ 14
2.1.2 Ngôn ng truy n ng nữ ệ ắ 17
1.2 Nhân v t tr n thu t v ngôn ng tr n thu tậ ầ ậ à ữ ầ ậ 19
1.2.1 Nhân v t tr n thu tậ ầ ậ 20
1.2.2 Ngôn ng tr n thu tữ ầ ậ 21
1.3 Gi i thi u v H Anh Thái v truy n ng n c a ôngớ ệ ề ồ à ệ ắ ủ 22
1.3.1 V i nét v H Anh Thái à ề ồ 22
1.3.2 Th lo i truy n ng n trong sáng tác c a H Anh Tháiể ạ ệ ắ ủ ồ 25
Chương 2 C I M NGÔN NG TR N THU T TRONG TRUY N ĐẶ Đ Ể Ữ Ầ Ậ Ệ NG N H ANH THÁIẮ Ồ
2.1 Ngh thu t tr n thu t trong truy n ng n H Anh Tháiệ ậ ầ ậ ệ ắ ồ 28
2.1.1 Vai tr n thu t trong truy n ng n H Anh Tháiầ ậ ệ ắ ồ 28
2.1.2 Các phương th c tr n thu t trong truy n ng n H Anh Tháiứ ầ ậ ệ ắ ồ 29
2.2 Các phương ti n ngôn ng trong l i tr n thu t truy n ng n c a H ệ ữ ờ ầ ậ ở ệ ắ ủ ồ Anh Thái 36
2.2.1 Đặ đ ểc i m t ng trong l i tr n thu t ừ ữ ờ ầ ậ 36
Ti u k t chể ế ương 2 67
GI NG I U VÀ CÁC BI N PHÁP TU T C A NGÔNỌ Đ Ệ Ệ Ừ Ủ
Trang 6NG TR N THU T TRONG TRUY N NG N H ANHỮ Ầ Ậ Ệ Ắ Ồ
THÁI
3.1 Khái ni m gi ng i u v v n ệ ọ đ ệ à ấ đề ọ gi ng i u trong truy n ng n đ ệ ệ ắ ng i đươ đạ 68
3.1.1 Khái ni m gi ng i uệ ọ đ ệ 68
3.1.2 Gi ng i u tr n thu t trong truy n ng n ọ đ ệ ầ ậ ệ ắ đương đạ 69i 3.2 Gi ng i u tr n thu t v các phọ đ ệ ầ ậ à ương th c ngôn ng th hi n gi ng ứ ữ ể ệ ọ i u trong truy n ng n H Anh Thái đ ệ ệ ắ ồ 71
3.2.1 Tính a thanh trong gi ng i u tr n thu t đ ọ đ ệ ầ ậ 71
3.2.2 Gi ng h i họ à ước, châm bi m ế 73
3.2.3 Gi ng i u tr tìnhọ đ ệ ữ 81
3.2.4 Gi ng gi u nh iọ ễ ạ 84
3.3 Các bi n pháp tu t trong ngôn ng tr n thu t truy n ng n H Anh ệ ừ ữ ầ ậ ở ệ ắ ồ Thái 94
3.3.1 Bi n pháp so sánhệ 95
3.3.2 Bi n pháp n dệ ẩ ụ 100
3.3.3 Bi n pháp ch i chệ ơ ữ 102
3.3.4 Bi n pháp l pệ ặ 103
Ti u k t chể ế ương 3 104
K T LU NẾ Ậ 106 TÀI LI U THAM KH OỆ Ả
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trên văn đàn Việt Nam gần đây đã xuất hiện một đội ngũ hùng hậu cácnhà văn trẻ cả về tuổi đời và tuổi nghề Tài năng và sức trẻ cùng với sự “mởcửa” của chính sách văn nghệ giúp họ “làm mưa làm gió” với ý thức tạo nênmột sức sống mới cho văn học nước nhà Có thể kể ra đây nhiều tên tuổi trởthành hiện tượng nổi bật như: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh,Phan Thị Vàng Anh trong số đó, Hồ Anh Thái được xem là một gương mặt
đã và đang gây được sự chú ý của dư luận những năm gần đây
Mặc dù không nổi bật ngay từ khi xuất hiện như một số nhà văn cùngthời, nhưng hơn 20 năm cầm bút, Hồ Anh Thái cũng tạo ra cho mình nhữngthành tựu nhất định Qua mỗi tác phẩm ta có thể nhận ra một tư duy văn họchết sức sắc sảo Hồ Anh Thái có sở trường nắm bắt những cái mới, thời sựcủa cuộc sống đương đại Tác phẩm của Hồ Anh Thái, nhất trong lĩnh vựctruyện ngắn chứa đựng nét độc đáo, mới lạ góp phần tạo nên một phong cáchmới là phong cách Hồ Anh Thái Đặc biệt phải nói đến việc sử dụng các yếu
tố ngôn ngữ trong truyện ngắn của Hồ Anh Thái đã làm nên dấu ấn sáng táctrong việc khám phá hiện thực, cuộc sống và con người đương đại
Sáng tác của Hồ Anh Thái bao gồm cả hai mảng tiểu thuyết và truyệnngắn và ở thể loại nào cũng đạt nhiều thành công nhất định Thể loại truyệnngắn là một mảng đặc sắc bởi nó chứa đựng rõ nhất đặc trưng về tư tưởng, chủ
đề, giọng điệu của ông Người ta thấy ở thể loại này nhiều điều mới lạ, hấp dẫn
từ nội dung, tư tưởng đến các thủ pháp nghệ thuật, nó cũng là nơi nhà văn cóthể thể nghiệm và biểu đạt mọi suy nghĩ sáng tạo của mình đến với bạn đọc
Ngôn ngữ trần thuật là một trong những phương diện cơ bản nhất củaphương thức tự sự, một yếu tố quan trọng để tạo nên hình thức nghệ thuật củatác phẩm trong đó có truyện ngắn Vì vậy, việc nghiên cứu về góc độ ngôn
Trang 8ngữ trong truyện ngắn Hồ Anh Thái có ý nghĩa quan trọng trong việc đánhgiá, nhìn nhận những đóng góp của các nhà văn vào những thành công củaVHVN đương đại
Sự độc đáo, mới lạ của truyện ngắn Hồ Anh Thái trên thực tế đã được
dư luận quan tâm Đã có một số bài viết, hoặc một vài cuốn sách, luận vănkhoa học nghiên cứu đánh giá về các phương diện tác phẩm của Hồ Anh Thái.Nhưng chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trầnthuật trong sáng tác truyện ngắn của tác giả này Chúng tôi cho rằng việcnghiên cứu ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái là một việclàm cần thiết để tiếp cận và đánh giá một tác giả được khẳng định trong vănhọc Việt Nam thời kì đổi mới Xuất phát từ những lí do đó, chúng tôi chọn
vấn đề “Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn của Hồ Anh Thái” làm đề
tài nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
Sáng tác của Hồ Anh Thái mặc dù không gây sự ồn ào như một vàihiện tượng khác của văn xuôi đương đại Việt Nam, nhưng hơn 20 năm cầmbút, Hồ Anh Thái đã bền bỉ tạo nên một dòng chảy, đủ để lại những ấn tượngkhó phai trong lòng người đọc Ông đã thực sự lao động cật lực trên từng conchữ, đã tạo cho mình một cách viết mới mẻ, một văn phong mang dấu ấn cánhân sâu sắc
Không bằng lòng với chính mình, Hồ Anh Thái luôn luôn thay đổi tựlàm mới từ hệ thống đề tài, cảm hứng đến hệ thống nhân vật và đặc biệt làngôn ngữ Nguyễn Đăng Điệp khẳng định: “Hồ Anh Thái đang cuốn mìnhvào quá trình đổi mới văn chương bằng việc nỗ lực thoát khỏi lối tự sự đơnđiệu, kể lể dài dòng nhạt nhẽo” [48, tr.337] Là nhà văn có ý thức trách nhiệmvới nghiệp viết, Hồ Anh Thái quan niệm: “Người viết văn phải là người vất
vả lao động đến từng chữ, mà là chữ sáng tạo, nếu không thì nhiều nghề khác
Trang 9nhau cũng viết được ra chữ, đâu cần đến nhà văn” Tác giả rất có ý thứctrong quá trình tìm tòi ngôn ngữ để ứng dụng trong từng hoàn cảnh cụ thể Dovậy, “cấu trúc ngôn ngữ của Hồ Anh Thái không bằng phẳng mà “lổn nhổn”một cách cố ý Điều này khiến cho hình ảnh đời sống trong tác phẩm của anh
gần gũi hơn với hơi thở của đời” [47, tr.354] Hồ Anh Thái thực sự có những
tìm tòi, thể nghiệm về nghệ thuật ngôn từ trong hàng loạt truyện ngắn và tiểuthuyết
Cuốn tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng ngay từ khi ra đời đã
gây được tiếng vang lớn trong dư luận, nhận được nhiều lời khen ngợi, trong
đó chủ yếu là khen ngợi những đóng góp mới mẻ của nhà văn trên phươngdiện ngôn ngữ Xuân Cang nhận ra "hương vị riêng", “theo anh đi suốt cuộc
đời lan toả vào những người xung quanh” [48, tr.391] bởi nhà văn đã tái hiện
được một cách sinh động bằng ngôn ngữ mang sác thái riêng Theo XuânThiều thì sức mạnh văn học thể hiện trong cuốn tiểu thuyết của Hồ Anh Tháichính là những “điều chân thành” nhà văn gửi gắm qua “quan hệ nhân vật”,
“ngôn từ chuẩn xác” và “cách bố cục của tác phẩm” [48, tr.409] Sang đến
Cõi người rung chuông tận thế, hầu hết đều thống nhất chủ đề chính trong
cuốn tiểu thuyết là cuộc đấu tranh dữ dội, dai dẳng giữa cái thiện - cái ác củacõi người Đây được xem là mốc đánh dấu một bước đổi mới trong nghệ thuậtngôn từ, thể hiện sự đổi mới, sáng tạo của tác giả, đặc biệt về ngôn ngữ.Trong tác phẩm này, Hồ Anh Thái đã sử dụng một hệ thống ngôn ngữ đadạng: “Bình dân, bác học, chơi chữ, tiếng lóng”, với nhiều giọng điệu “trầntình, tự sự, chất vấn ” Nguyễn Đăng Điệp cho rằng: “ Nhà văn đã biếtvượt qua sự du dương của ngôn từ và tình trạng thơ hoá để sáng tạo ra mộtcấu trúc ngôn ngữ khá lạ ” [47, tr.285]
Trên đây là một số nhận định về ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Anh Tháigiúp chúng ta hình dung phong cách của nhà văn Mặc dù có sự khác biệt về
Trang 10thể loại nhưng nhìn chung chúng ta thấy cả tiểu thuyết lẫn truyện ngắn đều có
sự thống nhất trong cách sáng tạo ngôn từ
Tiếng thở dài qua rừng kim tước là tập truyện ngắn để lại dấu ấn sâu sắc
trong lòng người đọc Ngô Thị Kim Cúc khẳng định nó chính là một “hànhtrang đi vào những thân phận người bất hạnh luôn đưa tới những tiếng thở dàisâu tận bên trong” [46, tr.318] Hay nhà văn Lê Minh Khuê nhận xét: “ cộngvới cách dựng truyện độc đáo, ngôn ngữ truyện giản dị nên đã tạo ra sức lôicuốn mạnh mẽ” [46, tr.350] Đồng thời, Hồ Anh Thái hiểu rất rõ cuộc sống sốphận con người nơi đây, nên cách sử dụng ngôn ngữ của Hồ Anh Thái đạt đến
độ kết tinh có sức biểu cảm cao Hệ thống ngôn ngữ có sự trau chuốt, hómhỉnh, vui tươi, ý nhị và đôn hậu thấm đẫm chất nhân văn Đặc biệt tác giả sửdụng kết hợp sáng tạo với lớp ngôn từ tôn giáo, triết học, góp phần tạo nênkhông khí ấn độ vừa cổ điển, vừa trầm lặng lại vừa bí ẩn nhưng không hề khôkhan mà thấm đẫm chất trữ tình nhẹ nhàng và sâu lắng Sự kết hợp hài hoàgiữa các lớp ngôn từ khác nhau tạo nên tính uyển chuyển hấp dẫn cho tácphẩm Đánh giá thành công tác phẩm, nhà văn Mỹ W.D.Ehrhart trong lời giớithiệu bản in tiếng Anh của cuốn sách viết: “Đây là cuốn sách giá trị và đángthưởng thức của một trong những nhà văn xuất sắc thuộc thế hệ sau chiếntranh Việt Nam” [46, tr.358]
Đến tập truyện ngắn Tự sự 265 ngày, Hồ Anh Thái đã tập trung khắc
hoạ chân dung kẻ sĩ thời đại và những vấn đề nổi cộm trong đời sống hiện đại
Có thể thấy từ tập truyện ngắn Tự sự 265 ngày trở đi “nhà văn hình thành một
giọng văn hoàn toàn khác nhau thời kì đầu: trào lộng, châm biếm hóm hỉnh vàsắc sảo những câu chuyện, những thói tật đáng cười trong xã hội” [44, tr.245]
Điểm nhìn trần thuật của Hồ Anh Thái trong Tự sự 265 ngày được đề cập tới
trong một bài viết của Lê Quang Toản “Hồ Anh Thái ẩn mình khéo léo vàomạch truyện và nhập vai ngọt quá nên độc giả hiền lành có thể vừa đọc vừa
Trang 11cười mà nhíu mày tự nhủ: bình tĩnh, cẩn thận, coi chừng nguy hiểm ” [44,
tr.237] Vì vậy ngôn ngữ trần thuật cũng được thay đổi Ngôn ngữ trong Tự
sự 265 ngày của Hồ Anh Thái chính là chất hài hước, châm biếm - thứ ngôn
ngữ giản dị, tự nhiên, gần gũi, thường nhật, sử dụng linh hoạt khẩu ngữ, thành
ngữ, tục ngữ một cách sáng tạo Theo Ngô Thị Kim Cúc, trong Tự sự 265
ngày: “ở đâu, với ai, trong chuyện gì, Hồ Anh Thái cũng tìm ra được bao
nhiêu là cái hài hước, đáng cười, mà lại cười một cách rất đúng mực, chỉnchu, rất an toàn” [44, tr.231]
Trong bài Một giọng văn khác, Vân Long cũng cảm nhận: “Với thủ
pháp sử dụng thành ngữ, khẩu ngữ của đời thường, với lối viết tràn câu, tràndòng, bỏ dấu Hồ Anh Thái đã tạo ra một vị trí riêng cho mình ở thể văn này.Phải chăng đây là cách để anh tiềm nhập sâu hơn nữa vào thực tại cuộc sốngtrong đan xen lẫn lộn giữa cái mới đích thực và sự học đòi nhố nhăng, dùngtiếng cười thông minh để phê phán chúng” [44, tr.246] Tập truyện ngắn nàythực sự khiến người ta băn khoăn theo như bài viết Nguyễn Chí Hoan trong
bài viết Nhà văn không cười “hình như tác giả chỉ mượn tiếng cười và nhà
văn không cười” [44, tr.252]
Nói về vấn đề giọng điệu, Nguyễn Đăng Điệp còn đề cập đến tính
“động” trong phong cách và giọng điệu của nhà văn” [44, tr.347] “Sự thayđổi giọng điệu các tác phẩm của Hồ Anh Thái cho thấy anh là người khôngmuốn gặp lại mình Mỗi một tác phẩm, mỗi một chặng sáng tác là một tonekhác nhau” [44, tr.347] Hồ Anh Thái cũng là nhà văn “đặc biệt chú ý thayđổi các điểm nhìn nghệ thuật, người kể chuyện không đơn giản kể chuyệntheo kiểu liệt kê những điều đã được chứng kiến một cách đơn giản Cáchthay đổi cấu trúc kể như đã nói cho câu chuyện trở nên khách quan hơn, mạchchuyện trở nên biến hoá hơn” [44, tr 351]
Ngoài hai tập truyện ngắn được coi rất thành công, đánh dấu hai thờiđiểm sáng tác cũng như hai nét phong cách của Hồ Anh Thái, các tập truyện
Trang 12Mảnh Vỡ của đàn ông, Bốn lối vào nhà cười và gần đây là Sắp đặt và Diễn
cũng thu hút nhiều sự quan tâm của người đọc
Theo Võ Anh Minh: “Ở thời kì đầu, khi tràn đầy ước mơ khát vọng,
niềm tin, nhà văn cũng nhận ra nỗi đau con người: Mảnh vỡ của đàn ông, Gặp
nhau có một lần, Ai là quỷ dữ Thời kì thứ hai, tác giả dành nhiều trang viết
cho những suy tư trăn trở về kiếp sống Cuộc đổi chác, Tiếng thở dài qua rừng
kim tước, Lá quốc thư Thời kì hiện tại, khi nụ cười gần như chiếm lĩnh trọn
vẹn tác phẩm của Hồ Anh Thái thì ẩn tàng dưới đó luôn là những triết lí sâu
sắc như: Sắp đặt và Diễn, Bốn lối vào nhà cười ” [47, tr.282].
Nhận xét chung về ngôn ngữ Hồ Anh Thái, theo Nguyễn Đăng Điệp:
“Cùng với những cây bút khác như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài,Nguyễn Thị Thu Huệ Hồ Anh Thái đã góp phần tạo nên một động hìnhngôn ngữ mới và giọng điệu văn xuôi khác hẳn so với văn xuôi giai đoạn
1945 - 1975” [47, tr.354].
Tất cả những nhận xét trên đây của các nhà nghiên cứu, các nhà văn,nhà phê bình trong và ngoài nước về các sáng tác của Hồ Anh Thái đều lànhững đóng góp mới mẻ giúp cho việc tìm hiểu về tác giả được cụ thể và sâusắc hơn Ngoài những ý kiến đánh giá trên, cũng có một số luận văn, luận án,vấn đề ngôn ngữ trần thuật trong sáng tác của Hồ Anh Thái đã được nhắc đến.Tuy nhiên chưa có một công trình nào đi sâu vào nghiên cứu một cách hệthống, toàn diện về vấn đề ngôn ngữ đặc biệt là ngôn ngữ trần thuật trongtruyện ngắn Hồ Anh Thái Nhận ra khoảng trống này, chúng tôi tiến hànhkhảo sát, nghiên cứu về ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái.Những ý kiến đánh giá trên là cơ sở khoa học để chúng tôi triển khai côngtrình nghiên cứu của mình
Với luận văn này, chúng tôi mong muốn góp thêm một cái nhìn mớicủa mình vào việc nghiên cứu một phương diện sâu sắc về ngôn ngữ trong
Trang 13truyện ngắn Hồ Anh Thái, qua đó, thấy được những nỗ lực không ngừng củanhà văn trong hành trình sáng tạo nghệ thuật.
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn chỉ nghiên cứu ngôn ngữ trần thuật trong một số tập truyệnngắn của Anh Thái với những phương diện căn bản: Điểm nhìn trần thuật, cácquan điểm trần thuật, và đặc điểm ngôn ngữ trần thuật trong một số tập truyện
ngắn tiêu biểu Chúng tôi mong muốn với đề tài này sẽ góp thêm một cách
nhìn vào tìm hiểu quá trình vận động và sáng tạo nghệ thuật của một nhà vănhiện đại
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sẽ sử dụng phương pháp thống kê ngôn ngữ học, phươngpháp miêu tả, phương pháp đối chiếu, phương pháp phân tích tổng hợp
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn sẽ được triển khai thành
3 chương:
Chương 1 Thể loại, ngôn ngữ truyện ngắn và truyện ngắn Hồ Anh Thái.Chương 2 Đặc điểm ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái Chương 3: Giọng điệu và các biện pháp tu từ của ngôn ngữ trần thuật
trong truyện ngắn Hồ Anh Thái
Sau cùng là Tài liệu tham khảo.
Trang 14Chương 1
THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN, NGÔN NGỮ TRUYỆN NGẮN,
TRUYỆN NGẮN CỦA HỒ ANH THÁI
1.1 Thể loại truyện ngắn và đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn
1.1.1 Thể loại truyện ngắn
Biêlinxki từng nói: “Nếu có tư tưởng của thời đại thì cũng có nhữnghình thức của thời đại” Truyện ngắn là một trong những hình thức của thờiđại, cũng như bao thể loại khác của văn học, là câu chuyện về đời người, về
số phận con người Mỗi nhà văn khi cầm bút đều muốn thông qua tác phẩmgửi gắm một cách nhìn hiện thực hay một triết lí nhân sinh Truyện ngắn đãthực sự thu hút sự quan tâm đối với người viết, độc giả, các nhà nghiên cứu,phê bình Vì vậy, khái niệm truyện ngắn được rất nhiều người bàn đến, vớinhững cách nhìn khác nhau
Theo Từ điển văn học, truyện ngắn là “hình thức tự sự loại nhỏ”.
“Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung mô tả mộtmảnh cuộc sống, một biến có hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạnnào đó của đời sống nhân vật, biểu hiện một mặt nào đó của tính cách nhân
vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của đời sống xã hội” [15, tr.197] Còn Từ
điển thuật ngữ văn học định nghĩa truyện ngắn là “tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội
dung của thể loại bao trùm hầu hết các phượng diện của đời sống: đời tư, thế
sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn được viết ra đểtiếp thu một mạch, đọc một hơi không nghỉ” [11, tr.370] Theo các tác giả do
Hà Minh Đức làm chủ biên bộ sách Lí luận văn học cũng xác định: “Truyện
ngắn là hình thức ngắn của tự sự, khuôn khổ ngắn nhiều khi làm cho truyệnngắn có vẻ gần gũi với các hình thức truyện kể dân gian như truyện cổ, truyệncười, hoặc gần với những bài kí ngắn Nhưng thực ra không phải, nó gần với
Trang 15tiểu thuyết hơn cả bởi là hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đương thời Nộidung thể loại truyện ngắn có thể khác nhau: đời tư, thế sự hay sử thi nhưngcái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn có thể kể về cuộc đời hay một đoạnđời, một sự kiện hay một “chốc lát” trong cuộc sống nhân vật, nhưng cáichính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện mà ở cái nhìn tự sự đối
với cuộc đời” [9, tr.397] Trong 150 thuật ngữ văn học, ở mục Truyện ngắn,
Lại Nguyên Ân viết: “Truyện ngắn là một thể loại của tác phẩm tự sự cỡ nhỏ,thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đời sốngcon người và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là giới hạn về dung lượng,tác phẩm truyện ngắn thích hợp vói người tiếp nhận, độc giả, đọc nó liền mộtmạch không nghỉ” [1, tr 11]
Nguyễn Công Hoan đã giải thích truyện ngắn như sau: “Truyện ngắnkhông phải là truyện, mà là một vấn đề được xây dựng bằng chi tiết với bố tríchặt chẽ và bằng thái độ với cách đặt câu, dùng tiếng có cân nhắc Muốntruyện là truyện ngắn chỉ nên lấy một trong ngàn ấy ý làm ý chính, làm chủ đềcho truyện Những chi tiết trong truyện chỉ nên xoay quanh chủ đề ấy thôi”
[18, tr.160] Trong bài báo Tôi đã viết truyện như thế nào, Nguyễn Công Hoan
khẳng định: “Ngắn (là hình thức) và thanh giản (là tinh thần), đó là hai đứctính cơ bản của truyện ngắn” [40, tr.287]
Như vậy, nếu tiểu thuyết là một hình thức tự sự cỡ lớn, miêu tả cuộc
sống trong quá trình phát triển, với bộn bề những sự kiện, số phận nhân vật,xung đột, và chiều kích không gian, thời gian ở tầm vĩ mô thì truyện ngắn là
một hình thức tự sự cỡ nhỏ, chỉ thể hiện cái "mặt cắt của dòng đời" (Nguyễn Minh Châu) Nếu tiểu thuyết mở ra với diện rộng thì truyện ngắn tập trung xoáy vào một điểm Có thể là một khoảnh khắc trong cuộc đời một con người.
Có khi chỉ là một tâm trạng, một nỗi buồn, một tình yêu chớm nở, nhưng nhàvăn phải lựa chọn một khoảnh khắc, một thời điểm nào đó mà nhân vật thể
Trang 16hiện mình đầy đủ nhất Thông qua đó, nhà văn có thể khái quát một triết línhân sinh cao cả về cuộc đời, con người.
So với tiểu thuyết, truyện ngắn tuy là thể loại có dung lượng nhỏ nhưng
lại có cách phát hiện nghệ thuật đời sống theo chiều sâu cho nên sức chứa của
truyện ngắn vẫn rất lớn Nó có thể trở thành “toà đại lầu chứa đựng cả tinhthần của thời đại” nhờ phương thức biểu hiện “qua một con mắt mà truyền đạtđược cả tinh thần con người” (Lỗ Tấn) Nhiều truyện ngắn của các nhà vănbậc thầy thế giới thế giới và Việt Nam như A.Tsêkhôp, Gôgôn, Lỗ Tấn,G.Môpatxăng, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao đều là những tác phẩm “cósức chứa nội tại lớn lao, cũng có thể bao quát toàn bộ đời sống, có thể đạt tớikích thước anh hùng ca và có được tác dụng nghệ thuật chẳng khác gì một
sáng tác đồ sộ khác” (ý kiến của T.Man) Như vậy ngắn gọn là đặc trưng rất
cơ bản của truyện ngắn Nhưng đó là sự ngắn gọn của một sức tải, sức chứalớn lao tạo nên một dư ba ám ảnh người đọc, như lời nhà văn Nguyên Ngọc,
“trong độ 3 trang, mấy nghìn chữ mà rõ mặt cả một cuộc đời, một kiếp người,một thời đại" "Các truyện ngắn bây giờ rất nặng Dung lượng của nó là dunglượng của cả cuốn tiểu thuyết” (Trao đổi về truyện ngắn năm 1992 với nhàvăn Nguyên Ngọc)
Truyện ngắn thường ít nhân vật, mỗi truyện ngắn thường “chỉ dăm bangười” [40, tr.379] “Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho mộttrạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội, hoặc trạng thái tồn tại của con người”[43, tr.371] Truyện ngắn không phải là nơi các nhân vật phải hiện ra đầy đủmọi vẻ như nó vốn có Có những truyện ngắn chỉ trong vòng mấy trang mà cóthể khái quát được số phận, cuộc đời của nhân vật Bởi truyện ngắn được xem
là một “chốc lát” (Nguyễn Thành Long), “là một trường hợp trong đời sống”
(Nguyễn Kiên), cho nên, khoảnh khắc có ý nghĩa nhất trong toàn bộ đời sốngnhân vật, cũng có thể chính là “cái khoảnh khắc chứa cả một đời người, mộtđời nhân loại” (Nguyễn Minh Châu)
Trang 17Cốt truyện của truyện ngắn thường nói về các sự kiện diễn ra trong mộtkhông gian, thời gian hạn chế Kết cấu của truyện ngắn không chia thànhnhiều tầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tươngphản hoặc liên tưởng Bút pháp trần thuật của truyện ngắn thường là nhữngnét chấm phá.
Đặc trưng tiêu biểu của truyện ngắn là ngắn gọn, hàm súc nên chi tiếtphải cô đọng, và mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm chiều sâu Người viếttruyện ngắn phải biết gạt bỏ những chi tiết rườm rà, xoáy sâu vào những chitiết đắt giá Ngôn ngữ truyện ngắn phải gọn và sắc Truyện ngắn vốn là thểloại rất nhạy cảm với những biến đổi của đời sống xã hội Với hình thức gọnnhẹ, luôn bắt kịp những vận động của xã hội, có thể nói truyện ngắn như một
“hàn thư biểu” soi rõ từng biểu hiện âm thầm, cũng như dữ dội của cuộc sống.Thông qua nhân vật, nhà văn muốn thể hiện những chiêm nghiệm, những triết
lý trong cuộc đời
Trên đây là một số ý kiến và cách hiểu của các nhà văn, nhà nghiêncứu, phê bình trong và ngoài nước về thể loại truyện ngắn trên nhiều góc độkhác nhau Cho đến nay, truyện ngắn đã và đang là thể loại đang thu hút sựquan tâm của đông đảo độc giả và có một sức hấp dẫn với rất nhiều cây bút.Lựa chọn thể loại này để thử sức và khẳng định mình, các nhà văn trẻ nhưNguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Hồ Anh Thái đã đem lại cho văn
xuôi nước ta cả cái mới lẫn cái lạ
2.1.2 Ngôn ngữ truyện ngắn
Văn học là nghệ thuật ngôn từ M.Gorki khẳng định: “Ngôn ngữ là yếu
tố thứ nhất của văn học” Các tác giả Từ điển thuật ngữ văn học cũng cho rằng
“ngôn ngữ là công cụ, là chất liệu cơ bản của văn học, là một trong những yếu
tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách tài năng của nhà văn” [11,tr.183]
Trang 18Có thể nói không có ngôn ngữ sẽ không có văn học, bởi lẽ, văn học lấyngôn ngữ làm chất liệu, làm phương tiện biểu đạt Ngôn ngữ bao giờ cũngmang tính hệ thống nội tại đồng thời quan hệ chặt chẽ với hiện thực TrầnĐình Sử cho rằng: “ngôn ngữ văn học một thời kỳ luôn gắn với đặc trưng tưduy hình tượng của thời ấy” Có thể nói, mỗi lĩnh vực đời sống đều có một
“kiểu” ngôn ngữ của riêng nó “Mỗi chữ đều soi bóng hoàn cảnh và tình hình
xã hội lúc chữ ấy ra đời Người viết văn không thể ngồi bóp óc nghĩ cách traudồi câu chữ mà phải đi vào thực tế đời sống mới bồi bổ được chữ nghĩa cho
ngòi bút” (Tô Hoài - Công việc viết văn).
Truyện ngắn bao gồm những câu chuyện trong đời sống Vì vậy, ngônngữ truyện ngắn trước hết là ngôn ngữ đời sống, bắt nguồn từ đời sống Ngônngữ truyện ngắn chứa đựng nhiều phong cách, nhiều giọng nói xen lẫn nhau,hoà hợp nhau, tranh luận và cả đối chọi nhau Nó mạnh mẽ, khoẻ khoắn vàđầy sức sống Nếu như ngôn ngữ thơ thường du dương, đậm tính nhạc, cónhịp điệu, thì ngôn ngữ truyện ngắn ở dạng phản ánh bản chất cuộc sống conngười Mặt khác, là những “lát cắt cuộc đời” nên truyện ngắn mang mọi sắcđiệu, cung bậc của cuộc sống Vì thế, ngôn ngữ trong truyện ngắn có khi dudương ngân nga, có lúc lại thô ráp trần trụi
Ngôn ngữ trong truyện ngắn nhiều khi tự đối thoại, tự tranh cãi Cho nên
nó có tính chất nước đôi Đây là một nét độc đáo đặc trưng của truyện ngắnhiện đại - truyện ngắn của những khả năng, bởi tự nó không đem đến cho tamột kết luận khẳng định hay bác bỏ, dứt khoát, áp đặt Nó đặt ta trước ngưỡng
sự lựa chọn, hay nói như M.Bakhtin “trước sự liên minh của lưỡng lự”
Bufon đã từng nói: “Phong cách chính là con người” Tìm hiểu phongcách nghệ thuật là đi vào nhận diện cách sử dụng ngôn ngữ trong tác phẩmcủa nhà văn Mỗi nhà văn cầm bút viết truyện ngắn với những phong cáchkhác nhau thì có sự lựa chọn ngôn ngữ khác nhau Macxim Gorki cho rằng:
Trang 19“Muốn học viết phải bắt đầu từ truyện ngắn, bởi viết truyện ngắn nó luyệncho tác giả biết tiết kiệm từ ngữ, biết cách cô đọng” Còn nhà văn Ma VănKháng thì lại khẳng định: “Câu chữ tiêu dùng cho truyện ngắn là cả một sự nỗlực lớn và nó như là yếu tố quyết định cho sự thành bại của một truyện ngắn”(Dẫn theo Nguyễn Thị Vân) [42 tr 26].
Một nhà văn đích thực phải ý thức về mình như một nhà ngôn ngữ vàngôn ngữ là “yếu tố đầu tiên quy định cung cách ứng xử” của nhà văn đó, làphương tiện để nhà văn giao tiếp với bạn đọc Đối với văn chương, ngôn ngữkhông chỉ là “cái vỏ của tư duy” mà còn biểu hiện tài năng, cá tính và quanđiểm nghệ thuật Vì vậy, đứng trước một thực tế sáng tác, một hiện thực cuộcsống giống nhau, nhưng mỗi nhà văn bằng tài năng, trí tuệ và tính cách củamình sẽ có cách sử dụng vốn từ ngữ khác nhau và cũng đưa lại những hiệuquả nghệ thuật riêng
Nguyễn Đình Thi đã từng tâm sự: “Chữ trong văn xuôi cần có men.Câu chữ trong truyện ngắn nói riêng là men, nó toả hương, nó rủ rê, nó quyến
rũ ta, nó là cái hồn của câu chuyện” [15, tr.29] Hồ Anh Thái là nhà văn tàinăng, tâm huyết với đời, là người có ý thức trách nhiệm cao trước ngòi bútcủa mình Chính vì thế trên văn đàn có rất nhiều tên tuổi viết truyện ngắn nổitiếng, nhưng Hồ Anh Thái vẫn tạo cho mình một phong cách riêng, văn phongmang dấu ấn ngôn ngữ riêng
1.2 Nhân vật trần thuật và ngôn ngữ trần thuật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì trần thuật “là một phương diện cơ
bản của phương thức tự sự đồng thời là việc giới thiệu khái quát thuyết minh
miêu tả đối với nhân vật, sự kiện hoàn cảnh cách nhìn của một người trần
thuật nhất định ( ) thành phần của trần thuật không chỉ là một lời thuật vàchức năng chủ nó không chỉ kể việc Nó bao trùm cả việc miêu tả đối tượng,phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình luận trữ tình ngoại đề
Trang 20lời ghi chú của tác giả Trần thuật là phương diện kết cấu của phương thức tự
sự, thể hiện mối quan hệ chủ thể - khách thể trong loại hình nghệ thuật này”[11, tr.297] Như vậy, rõ ràng trần thuật là một phương diện cơ bản củaphương thức tự sự Và nó đóng một vai trò rất lớn trong việc cấu thành tácphẩm, trong đó có nhân vật trần thuật và ngôn ngữ trần thuật
1.2.1 Nhân vật trần thuật
Trong tác phẩm văn học, đặc biệt là các tác phẩm tự sự, nhân vật chính
là phương diện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực Nhân vật còn là mộthình thức thể hiện những quan niệm của tác giả về con người và cuộc sống.Nói như Hà Minh Đức, “Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức củamình về một cá nhân nào đó, về một loại người nào đó, về một vấn đề nào đócủa hiện thực” [9, tr.126] Về vấn đề này, Nguyễn Tuân cho rằng, qua nhânvật, nhà văn thể hiện suy nghĩ của mình về cuộc sống “và cũng dựa vào nhânvật để biểu hiện tư tưởng của mình” “Nhân vật là sứ giả truyền đi cái thế giới
quan, nhân sinh quan của mình” (Nguyễn Tuân - Tô Hoài và Truyện Tây Bắc).
Nguyễn Minh Châu cũng khẳng định: “qua nhân vật mà người viết đàm luậnvới người đọc về vai trò và số phận con người sống giữa xã hội và cuộc đời”[Dẫn theo Nguyễn Thị Vân, 42, tr.43] Qua đó, truyện ngắn có thể miêu tả,khắc hoạ sắc nét, đầy ấn tượng chiều sâu tính cách, tâm hồn và số phận conngười Nhân vật chính là linh hồn của tác phẩm văn học
Trong các tác phẩm tự sự, người trần thuật còn được gọi là “người kể
chuyện” và đôi khi tham dự vào câu chuyện như là một nhân vật Mọi diễn
biến, mọi sự kiện và mọi kiến giải đều thông qua quan điểm của nhân vật này,đem lại hiệu quả nghệ thuật đáng kể Một mặt, nó làm tăng ảo ảnh của ngườiđọc về tính khách quan của nội dung câu chuyện, có nghĩa là tăng thêm tínhthuyết phục của hiện thực đời sống mà tác phẩm phản ánh Mặt khác, thể hiệnmột cách sinh động những đặc điểm chủ quan của người kể chuyện để người
Trang 21đọc gián tiếp nhận biết qua cả hệ thống biến cố và cách trình bày những biến
cố theo cách mà anh ta thâu nhận
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “Người trần thuật là một nhân vật hư
cấu hoặc có thật, mà văn bản tự sự là do hành vi ngôn ngữ của anh ta tạothành Trong khi kể miệng người trần thuật là một người sống sinh động.Trong trần thuật viết phi văn học (như báo chí, lịch sử), người trần thuật nóichung đồng nhất với tác giả Nhưng trong tác phẩm trần thuật mang tính chấtvăn học thì người trần thuật lại khác, nó bị trừu tượng hoá đi trở thành mộtnhân vật hoặc ẩn, hoặc hiện trong tác phẩm tự sự” [11, tr.221]
Nhân vật trần thuật đã giúp cho các nhà văn kể lại diễn biến câu chuyệntheo cảm nhận của người trong cuộc một cách sinh động, chân thật giống nhưtrong cuộc đời thực, người đọc sẽ bị cuốn hút vào câu chuyện một cách tựnhiên, tò mò và đầy hứng khởi
1.2.2 Ngôn ngữ trần thuật
Văn học là nghệ thuật ngôn từ Đều lấy ngôn ngữ làm chất liệu nhưngmỗi thể loại văn học lại có cách tổ chức với những đặc trưng riêng Nếu nhưkịch chủ yếu sử dụng ngôn ngữ đối thoại, thơ trữ tình chủ yếu khai thác ngônngữ ở phương diện bộc lộ cảm xúc thì văn xuôi tự sự trong đó có truyện ngắnlại sử dụng ngôn ngữ trần thuật
Trong tác phẩm tự sự, “trần thuật là phương diện cơ bản của phươngthức tự sự, là việc giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật,
sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của một người trần thuật nhất định”[11, tr.307]; “trần thuật tự sự bao giờ cũng được tiến hành từ phía người nào
đó, một loại người môi giới giữa các hiện tượng xảy ra, linh hồn của sự trầnthuật thường là “vô trọng lượng và vô hình” nhưng đồng thời lời nói củangười trần thuật thì không chỉ có tính tạo hình mà còn có ý nghĩa biểu hiện.Lời ấy không chỉ cho thấy đặc điểm của khách thể trần thuật mà còn cho thấy
Trang 22cả bản thân người nói” [11, tr.287] “Trần thuật là thành phần lời của tác giả,của người trần thuật hoặc của một người kể chuyện Trần thuật là phươngthức chủ yếu cấu tạo nên tác phẩm ở việc kể, miêu tả các hành động và cácbiến cố trong thời gian; mô tả chân dung, hoàn cảnh hành động, tả ngoại cảnh,
tả nội thất, bàn luận; lời nói bán trực tiếp của các nhân vật” [11, tr.338] Ngônngữ trần thuật do vậy là ngôn ngữ nhà văn dùng để xây dựng câu chuyện, lànơi bộc lộ rõ ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của nhà văn
Như vậy, ngôn ngữ trần thuật giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong
hệ thống phương thức tự sự Nó là sự thể hiện toàn bộ tư tưởng, tình cảmcũng như giọng điệu, cấu trúc tác phẩm Qua ngôn ngữ trần thuật, người đọcnhận ra phong cách, cá tính của tác giả Đối với nhà văn, ngôn ngữ trong tácphẩm văn học là sự khúc xạ của ngôn ngữ đời sống Song đây là thứ ngôn ngữ
đã được lựa chọn, được sắp xếp và được cách điệu hoá theo ý muốn chủ quancủa nhà văn Trong dòng chảy của văn xuôi đương đại, ngôn ngữ đang cónhững chuyển biến mạnh mẽ cùng với nhịp sống mới Nó hướng tới diễn tảmột mọi bề bộn, phức tạp của đời sống xã hội và tâm hồn con người
1.3 Giới thiệu về Hồ Anh Thái và truyện ngắn của ông
1.3.1 Vài nét về Hồ Anh Thái
Hồ Anh Thái sinh ngày 18/10/1960, quê gốc ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu,
Nghệ An nhưng như nhà văn tâm sự trong Nhà văn việt Nam: “thực ra tôi chỉ
biết quê qua lời kể của cha mẹ tôi” vì ông sinh ra và lớn lên ở Hà Nội HồAnh Thái thuộc thế hệ nhà văn lớn lên trong những năm chiến tranh và trưởngthành trong thời hậu chiến Năm 1977, Hồ Anh Thái tốt nghiệp THPH và trởthành sinh viên Đại học Ngoại giao Sau khi nhận bằng cử nhân năm 1983,
Hồ Anh Thái làm việc tại Bộ Ngoại gia, và trong thời gian này, ông đã làmnghĩa vụ quân sự hai năm Khi trở về, Hồ Anh Thái là thư kí của Đại sứ quánViệt Nam tại Ấn Độ Trong thời gian này, Hồ Anh Thái đã không ngừng phấn
Trang 23đấu, nỗ lực hết mình tiếp tục học ở Ôxtrâylia và Ấn Độ, và nhận bằng Tiến sĩvăn hoá phương Đông năm 1995 Không chỉ làm việc đúng chuyên ngành củamình, Hồ Anh Thái còn được mời thỉnh giảng ở một số trường Đại học của
Mĩ như Đại học Tổng hợp Washington
Năm 1986, với tinh thần “cởi trói”, “bật đèn xanh”, văn học Việt Nambước vào quỹ đạo mới Sự chuyển biến này hiện thực hoá khát vọng cởi tróicủa văn nghệ sĩ, xác lập một chỗ đứng, một cách nhìn mới về hiện thực cộngvới những cách tân táo bạo trong Văn học Việt Nam đương đại Trong dòngchảy văn học thời kì đổi mới có sự đóng góp không nhỏ của Hồ Anh Thái HồAnh Thái là nhà văn có thành tựu, được xem là “hiện tượng” của văn học thời
Vốn có sở trường nắm bắt những cái mới, mang tính thời sự của cuộcsống đương đại, nên tác phẩm Hồ Anh Thái có khả năng bao quát phạm vihiện thực rộng lớn cả ở bề rộng lẫn bề sâu
Hồ Anh Thái bước vào làng văn khá sớm, 17 tuổi đã trình làng truyện
ngắn đầu tiên (Bụi phấn), và truyện ngắn đầu tay ấy đã gây được sự chú ý bởi
cách viết già dặn Theo dòng thời gian, Hồ Anh Thái đã từng bước tạo chomình một vị trí trong nền văn xuôi đương đại cũng như trong lòng độc giả.Cho đến nay, có khoảng 20 cuốn sách được xuất bản, trong đó có một số tácphẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ, Ấn Độ
Trang 24Các sáng tác của ông ra đời vào quãng thời gian cuối 80 đầu năm 90 và liên
tục được nhận các giải thưởng như: truyện ngắn hay 1983 - 1984 của báo Văn
nghệ với truyện ngắn Chàng trai ở bến đợi xe; giải thưởng Văn xuôi 1986
-1990 của Hội nhà văn Việt Nam và Tổng liên đoàn lao động Việt Nam với
tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng; giải thưởng năm 1995 của Hội liên hiệp VHNT Việt Nam với truyện ngắn Người đứng một chân
Ngoài ra, có thể kể đến nhiều tác phẩm tiêu biểu như: Vẫn chưa tới
mùa đông (tiểu thuyết, 1986); Trong sương hồng hiện ra (tiểu thuyết, 1990); Mảnh vỡ của đàn ông (tập truyện ngắn, 1993); Lũ con hoang (tập truyện ngắn,
1993); Tiếng thở dài qua rừng kim tước (tập truyện ngắn 2000), Tự sự 265
ngày (Tập truyện ngắn 2001) và Bốn lối vào nhà cười (Tập truyện ngắn,
2004) Gần đây, tập truyện ngắn Sắp đặt và Diễn cũng thu hút được sự quan
tâm của độc giả
Đặc biệt, những tác phẩm của Hồ Anh Thái viết về Ấn Độ tuy cónhững điều không mấy xa lạ nhưng vẫn khiến độc giả phải ngỡ ngàng bởi
những phát hiện tinh tế Nguyễn Đăng Điệp trong bài Chiêm nghiệm chắt lắng
từ những chuyến đi, cho rằng: “Có thể nói, mảnh đất Ấn Độ xa xôi là vùng đất
có nhiều duyên nợ hơn cả với Hồ Anh Thái, không bằng lòng với những ghichép, hay những cảm nhận có tính bề nổi, Hồ Anh Thái đã cố gắng chạm đếnnhững nỗi đau thân phận, những bi kịch xót xa, những cảnh tượng dở khóc dởcười” [46, tr.290] Trước khi những truyện ngắn đó được bạn đọc trong nướcbiết đến, thì nó đã được chào đón nồng nhiệt ở Pháp, Mỹ và đặc biệt Ấn Độ.Người ta coi “những mũi kim châm Á Đông đã điểm trúng huyệt tính cách ẤnĐộ” khiến họ “nhìn thấy đúng cái bóng dáng đang quẩn dưới chân mình”(Tiến sĩ Văn học người Ấn K.Pandey) [46, tr.266]
Điểm qua tất cả các sáng tác của Hồ Anh Thái, có thể thấy chính sự ưamạo hiểm, muốn tự thay đổi mình, làm mới mình và khả năng lao động miệt
Trang 25mài cùng với “phông” văn hoá rộng đã tạo cho Hồ Anh Thái một vị thế, một
“thương hiệu” trong nền văn xuôi đương đại
1.3.2 Thể loại truyện ngắn trong sáng tác của Hồ Anh Thái
Hồ Anh Thái viết tiểu thuyết, truyện ngắn, và gần đây xuất bản tập tiểu
luận Họ trở thành nhân vật của tôi Không ít tiểu thuyết của ông được đánh giá cao như Người và xe chạy dưới ánh trăng, Trong sương hồng hiện ra, Cõi
người rung chuông tận thế Nhưng truyện ngắn mới là mảng thành công hơn
cả của Hồ Anh Thái Nó tập trung thể hiện sâu đậm tư tưởng, chủ đề, giọngđiệu của nhà văn “Người ta thấy ở đây những yếu tố mới lạ, hấp dẫn từ nội
dung tư tưởng đến các thủ pháp nghệ thuật” [46, tr.2] Trong bài Hơn cả sự
thật, Nguyễn Anh Vũ nhận xét: “Hồ Anh Thái viết truyện ngắn rất có duyên.
Độc giả đã từng rất thích thú bởi cái cười dí dỏm, châm biếm trong Món tái
dê, Những cuộc kiếm tìm hay mơ màng, sâu lắng trong chất trữ tình trong Mảnh vỡ của đàn ông, Chàng trai ở bến đợi xe hoặc suy ngẫm, chiêm
nghiệm nhiều tính triết lý trong Lằn ranh giới, Tiếng thở dài qua rừng kim
tước” Truyện ngắn của Hồ Anh Thái đã gặt hái được những thành công trong
việc thể hiện cái nhìn đa chiều về cuộc sống, sự khám phá con người nhưnhững “mảnh vỡ”, và những sáng tạo nghệ thuật độc đáo
Hồ Anh Thái là nhà văn có thái độ nghiêm túc và đam mê với nghiệpvăn của mình Đường văn của Hồ Anh Thái là một đường riêng, có quan điểmsáng tác nghệ thuật của riêng mình Ông cho rằng: “Người viết văn phải làngười vật vã lao động trên từng con chữ, mà là chữ sáng tạo” [42; tr.5] Mỗicâu, mỗi chữ đều phải suy ngẫm, lẫy lọc và là sự rút ruột nhả tơ của ngườicầm bút, dùng ngôn ngữ để nói hết những băn khoăn trăn trở của mình vềcuộc sống, về số phận cá nhân con người Đúng như trong một truyện ngắn
cùng tên của nhà văn: Nói bằng lời mình Dường như đó cũng là một tuyên
ngôn nghệ thuật của ông Lao động nghệ thuật với nhà văn còn là một công
Trang 26việc đòi hỏi sự nghiêm túc, lăn lộn, "đục đẽo" trên từng con chữ Hồ AnhThái là nhà văn dám nhìn thẳng vào những “mảnh vỡ” cuộc sống, những bikịch của kiếp người Ông không hề né tránh sự thật, không hề né tránh nỗiđau con người Mà trái lại ông đưa ra trước mắt người đọc những sự thật vềnỗi đau của con người một cách trung thực, tỉnh táo.
Truyện ngắn Hồ Anh Thái không có sự “ổn định”, mà luôn “xê dịch”,nên giọng điệu trong sáng tác của ông cũng luôn có sự “xê dịch” Mỗi chặng
là một tone khác nhau Ở thời kỳ đầu, giọng văn chính trong các tác phẩm là: nhẹ nhàng, trong sáng, tươi tắn thể hiện qua Chàng trai ở bến đợi xe, Sao anh
không đến, Cánh võng không người Đến "thời kỳ Ấn Độ", giọng văn có
phần tỉnh táo, sắc lạnh qua Tiếng thở dài qua rừng kim tước, Đàn kiến, Đi khỏi
thung lũng mới đến nhà, và cả giọng chiêm nghiệm triết lý sâu sắc trong Chuyện cuộc đời Đức Phật, Kiếp người đi qua Ở thời hiện tại thì giọng hài
hước, giễu nhại trở thành chủ âm qua các tập truyện Tự sự 265 ngày, Bốn lối
vào nhà cười,
Truyện ngắn Hồ Anh Thái không chỉ thể hiện cái nhìn mới về conngười, về hiện thực đời sống, mà còn có sự đa dạng trong giọng điệu, sự mới
mẻ về ngôn ngữ nghệ thuật Hồ Anh Thái không còn viết bằng thứ ngôn ngữ
sử thi, hào hùng, ngợi ca, mà viết bằng ngôn ngữ đời thường, mang hơi thởcủa cuộc sống Một kiểu ngôn ngữ “giản dị, trong sáng, linh hoạt, mới mẻ, vàrất đỗi Việt Nam” [45, tr.110] Trong những tác phẩm của mình, Hồ Anh Thái
đã tự do đưa vào trang viết của mình ngôn ngữ đậm cá tính của nhân vật - thứngôn ngữ được cá thể cao độ Ngôn ngữ Hồ Anh Thái bao quát được tất cảcác mặt của cuộc sống Đọc truyện ngắn Hồ Anh Thái, ta nhận thấy bên cạnhngôn ngữ thô nhám, góc cạnh của cuộc sống thường nhậtlà cả một hệ thốngngôn ngữ thị dân Ngôn ngữ truyện ngắn của Hồ Anh Thái cũng như giọngđiệu, mỗi thời kỳ là một thứ ngôn ngữ khác Nếu ở thời kỳ tiền Ấn Độ ngôn
Trang 27ngữ trong sáng nhẹ nhàng, tươi tắn; ở thời kỳ Ấn Độ ngôn ngữ có phần sắclạnh, tỉnh táo, và triết lý sâu sắc; ở thời kỳ hậu Ấn Độ ngôn ngữ hài hước,giễu nhại là chủ yếu.
Đặt truyện ngắn Hồ Anh Thái trong “dòng chảy” truyện ngắn Việt Namđương đại, ta thấy rõ Hồ Anh Thái đã chọn cho mình một lối đi riêng Chínhlối đi riêng đó đã tạo nên một Hồ Anh Thái đa phong cách, đa giọng điệu HồAnh Thái cũng là nhà văn không tự thỏa mãn với chính mình, ông luôn cốgắng bứt phá để làm mới mình Sự mới mẻ đó có thể dễ dàng nhận ra qua mỗichặng đường sáng tác Cho nên, truyện ngắn Hồ Anh Thái luôn khiên cho độcgiả đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác
Trang 28Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
HỒ ANH THÁI
2.1 Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái
2.1.1 Vai trần thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái
Có một thời, sự thành công của một tác phẩm văn xuôi chủ yếu đượcđánh giá thông qua những phương diện như: chủ đề tư tưởng, nhân vật, cốttruyện, ngôn ngữ Người ta thừa nhận có “phong cách cá nhân”, hay “phongcách ngôn ngữ” nhưng vẫn chưa đi đến chỗ thừa nhận vai trò quan trọng củanghệ thuật trần thuật Trong khi đó, chính nhờ lối kể chuyện mà người đọc cóthể nhận diện được những nhà văn với những nét đặc trưng chứ không phảinhờ bản thân các biến cố, các câu chuyện được kể Vì vậy, điểm nhìn và vai
kể không trùng khít với nhau nhưng có liên hệ tương tác Nên trong mộtchừng mực nào đó, thành công của trần thuật còn là ở nghệ thuật chọn vai kểphù hợp với hệ thống điểm nhìn
Đi vào khảo sát lĩnh vực truyện ngắn của Hồ Anh Thái, chúng tôi thấytác giả sử dụng chủ yếu hai hình thức vai trần thuật là: vai trần thuật lộ diện -ngôi thứ nhất và vai trần thuật ẩn mình - ngôi thứ ba
Vai trần thuật hay còn gọi là người kể chuyện ở ngôi thứ ba là người kểchuyện xuất hiện gián tiếp qua nhân vật nào đó trong tác phẩm (người kểchuyện không được biểu thị trực tiếp bằng đại từ ở ngôi thứ nhất) Người kểchuyện ở ngôi thứ ba (nhân vật kể chuyện) cùng với người kể chuyện ở ngôithứ nhất (người kể chuyện xuất hiện trực tiếp xưng “tôi” hoặc “chúng tôi”) làhai yếu tố cấu thành nên hình tượng người kể chuyện Người trần thuật ở ngôithứ nhất không phải là mới trong lịch sử tự sự, nhưng là ít so với người kểchuyện ở ngôi thứ ba Khi các nhà văn trần thuật theo ngôi thứ nhất tức là
Trang 29muốn có nhiều cơ hội để nhân vật tôi được miêu tả kĩ nhất Nếu như trước
đây, nhân vật người trần thuật luôn đứng cao hơn các nhân vật khác nhândanh công lí, lẽ phải Người trần thuật hôm nay có mặt lại luôn đi bên cạnhcon người, chia sẻ với con người Hồ Anh Thái lựa chọn cho mỗi truyện ngắn
của mình là một vai kể phù hợp Như tập truyện ngắn Tự sự 265 ngày, nhân vật tôi vừa là người kể chuyện ở ngôi thứ nhất vừa là nhân vật đối tượng trong
cốt truyện và có quan hệ với tất cả các nhân vật khác Lời người kể chuyệnvừa là lời nhân chứng, vừa là người trong cuộc, vừa là lời xâu chuỗi cả mộtloạt sự kiện, bản chất, cả sự bình luận và thái độ Mặt khác thông qua nhân
vật kể chuyện tôi, Hồ Anh Thái muốn tái hiện lại một phần mặt trái của tầng
lớp công chức, trí thức rởm đời, kệch cỡm, gian manh và đố kỵ Vì thế, trongmột chừng mực nào đó, thành công của trần thuật còn là ở nghệ thuật chọnvai kể phù hợp với hệ thống điểm nhìn và cốt truyện
2.1.2 Các phương thức trần thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái
Khi xây dựng tác phẩm, một trong những điều khó khăn đối với nhàvăn là phải lựa chọn cho mình một chỗ đứng thích hợp để kể câu chuyện: kể
từ điểm nhìn nào, người trần thuật tham dự trực tiếp vào câu chuyện hay đứngngoài diễn biến của câu chuyện Việc xác định chỗ đứng hay nói đúng hơn làviệc lựa chọn phương thức trần thuật chịu sự quy định của tư tưởng chủ đề mànhà văn có ý định trình bày trong tác phẩm Vì thế, phương thức trần thuật làmột yếu tố quan trọng trong trần thuật nói riêng và trong sáng tác văn học nóichung Tìm hiểu truyện ngắn Hồ Anh Thái, chúng tôi nhận thấy, tác giả sửdụng hai phương thức trần thuật: trần thuật khách quan và trần thuật chủ quanngôi thứ nhất
2.1.2.1 Trần thuật khách quan
Đây là kiểu trần thuật người kể xuất hiện ở ngôi thứ ba, không tham dựvào câu chuyện và có ý thức giữ một khoảng cách nhất định với nhân vật
Trang 30Người kể chuyện ở kiểu trần thuật này là người “biết hết”, tở tường mọi biến
cố hay trình tự số phận của nhân vật, nhưng chỉ đứng ngoài diễn biến của câuchuyện được kể Với quan điểm trần thuật này, câu chuyện được kể dướinhiều góc nhìn, nhiều quan điểm và nhiều cách lý giải khác nhau nhằm tạonên tính chân thực khách quan, lôi cuốn người đọc
Tuy không chiếm tỷ lệ cao trong sáng tác của Hồ Anh Thái, nhưng kiểutrần thuật khách quan được ông sử dụng khá hiệu quả Hồ Anh Thái sử dụngphương thức trần thuật khách quan ở nhiều dạng khác nhau Có kiểu trần thuậtngôn ngữ được dùng một cách lạnh lùng tỉnh táo, tức là người kể chuyện luônđứng ngoài câu chuyện, tách biệt với nhân vật Nhà văn Tsekhop đã từng viết:
“Trong cuộc sống và trong sáng tác văn học, sự lạnh lùng là không thể thiếu,chỉ có sự lạnh lùng mới nhìn được sự việc một cách tỏ tường” [34, tr.80] Xuấtphát từ ý thức này, một số truyện ngắn của Hồ Anh Thái đã trần thuật theo lối
khách quan lạnh lùng đến mức tàn nhẫn trong Bãi tắm, Chim anh chim em,
Bóng ma trên hành lang, Chín triệu, ba triệu, hai triệu và Bóng rổ Ở ba tác
phẩm này, bằng thái độ khách quan, nhà văn đã vẽ nên bức chân dung củanhững công chức nhỏ nhen, tầm thường luôn đố kị ghen ghét lẫn nhau Tác giảkhông biểu lộ tình cảm, nhiều câu văn lạnh lùng tưởng như vô âm sắc, nhiềuđoạn văn giống như ghi âm lại từ một cuộc đối thoại
Trong truyện Bóng ma trên hành lang có đoạn: “Ngày hôm sau Tảo gặp
Lập, giọng ôn hòa, tớ nói thế vì lo cho cậu Em nói thế cũng vì lo cho anh Tớ
lo nếu vợ cậu biết thì khốn Em lo nếu vợ anh biết thì chị ấy chỉ còn thiến tóc
đi tu Tớ không đùa đâu Em cũng không đùa, đàn ông như anh hoặc là thánhnhân, hoặc là đồng cô, hoặc máy móc trục trặc, hai khả năng trước là không
có, vậy máy móc của anh ấy hỏng hóc thì chị ấy đi tu may ra sướng nốt nửađời người” [44, tr.66-67] Ngay khi miêu tả cái chết của Mai, tác giả dùng thứngôn ngữ sắc lạnh, vô cảm, khiến người đọc cảm thấy chua xót: “Đúng lúc
Trang 31điện tắt phụt, Phan chạy ra Sáu người cũng từ các phòng xô ra Mai đã chết.
Cô bị điện giật khi mở cánh cửa tủ lạnh mất điện Lập khi ấy không để ý đến
vợ, hắn bế đứa con nhỏ đang đứng trước lan can, nghe tiếng rú bèn chạy radập cầu dao, nhưng không kịp Lập đang chờ nghe tiếng rú của Tảo cơ” [44,tr.72] Với lối trần thuật này, với cách sử dụng ngôn ngữ này, tác giả khiếnngười đọc rùng mình trước những con người có trái tim máu lạnh Khi bịcuốn vào guồng quay khốc liệt của danh lợi, của cám dỗ quyền lực và vậtchất, thì đó cũng là thời điểm khô chết của đời sống tâm hồn, tình cảm Conngười bình thản giết nhau một cách đáng sợ Nhà văn đã ẩn mình rất khéo léo
để người đọc có thể tự mình lần theo từng diễn biến của câu chuyện
Nhìn vào bề mặt ngôn ngữ và cách kể chuyện lạnh lùng, người đọc cóthể cho rằng nhà văn quá tàn nhẫn và khinh bạc Nhưng khám phá ở bề sâumạch truyện thì dường như đó chỉ là một cách đánh lạc hướng người đọc Vàngười đọc sẽ nhận ra tình thương và sự trăn trở lo âu của nhà văn trước sựxuống cấp của đạo đức xã hội, từ đó, đánh thức lương tâm người đọc Vớicách trần thuật này, Hồ Anh Thái đã đưa người đọc đến một kiểu "phản ứngthử", kích thích người đọc để họ nhận thức vấn đề một cách sâu sắc hơn
Trong truyện ngắn của Hồ Anh Thái, bên cạnh ngôn ngữ trần thuật
khách quan lạnh lùng, ta còn bắt gặp sắc thái trữ tình đằm thắm Tiếng thở dài
qua rừng kim tước là tác phẩm tiêu biểu cho lối trần thuật này Bằng cái nhìn
khách quan nhưng đầy sự cảm thông, nhà văn đã kể lại mọi diễn biến tâmtrạng của Nilam trong những tình huống bi kịch của cuộc đời mình Thươngcon, Nilam khao khát cho con một cuộc sống tốt đẹp Nhưng cũng vì thươngcon, Nilam cũng quyết định giết chết con mình, giải thoát cho nó khỏi sự khắcnghiệt của số phận Lòng người mẹ trẻ đầy giông bão Ở một số "phân đoạn",ngôn ngữ mang màu sắc xót xa: “Nilam uống nửa chai rượu, đổ nửa chai vàocái khăn mặt bông rồi tấp vào cái khắn ướt sũng lên mặt con bé sơ sinh Cô
Trang 32dùng con dao đào một cái hố nhỏ Đứa bé chỉ giãy nhẹ có mấy cái rồi lịm dần,xem ra nó cũng là đứa hiền lành Hiền lại càng không nên sống, chỉ tổ cho cáicuộc đời nanh nọc và độc địa này vùi dập” Cách kể bình tĩnh, lạnh lùngnhưng đưa lại một trạng thái cảm xúc vô cùng mạnh mẽ Người đọc thấy sợ,lại càng thấy xót xa cho thân phận các nhân vật Sự di chuyển linh động điểmnhìn đã giúp cho nhà văn khám phá được vẻ đẹp kì diệu tiềm ẩn trong conngười Nilam cũng như nỗi đau tinh thần mà cô phải chịu đựng Cũng vì thế,nhân cách Nilam được soi sáng từ nhiều phía, và lời tố cáo những hủ tụcnghiệt ngã càng thêm sức nặng.
Những tác phẩm khác cũng tiêu biểu cho lối trần thuật khách quan như:
Bến Ôsin, Tin thật lòng, Chơi, Cả một dây theo nhau đi, Nham, Lọt sàng xuống nia, Món tái dê còn mang cả sắc thái giễu nhại Qua lời kể của nhà văn, các
nhân vật giống như những diễn viên trên sân khấu hài kịch Các vấn đề củacuộc sống hiện đại cũng vì thế mà hiện lên rõ ràng trên trang viết
Ngoài ra, Hồ Anh Thái còn sử dụng kiểu trần thuật khách quan của
truyện ngụ ngôn truyền thuyết trong các truyện: Kiếp người đi qua, Thi nhân,
Một bà năm ông, Người đứng một chân Người trần thuật thường đứng ở
ngôi thứ ba, là người biết hết mọi biến cố trong câu chuyện Kể lại câu chuyệnngày xưa với tư cách là một người thư ký thành thực, nhà văn muốn để ngườiđọc cùng suy ngẫm về những triết lý sâu xa và những bài học quý báu về cáchứng xử giữa con người với con người
Mặc dù không sử dụng thường xuyên kiểu trần thuật khách quan,nhưng cách kể chuyện của Hồ Anh Thái vẫn có những nét độc đáo Kiểu trầnthuật này giúp nhà văn di chuyển điểm nhìn linh động hơn, khái quát hơn, baoquát được những hiện thực rộng lớn hơn, và đồng thời tạo nên tính kháchquan, chân thực cho câu chuyện được kể Hơn nữa, sự pha trộn giữa lối kểchuyện khách quan và những sắc thái tình cảm đầy tính chủ quan đã khiến các
Trang 33truyện ngắn có màu sắc mới lạ, hiện đại Đây là một trong những sáng tạo của
Hồ Anh Thái Chính nét mới mẻ đó đã chi phối đến ngôn ngữ và giọng điệutrần thuật trong sáng tác của ông
Trần thuật chủ quan với vai trò của nhân vật trong truyện thường tồn tạidưới dạng nhân vật kể chuyện mình và nhân vật kể chuyện người khác Kiểu
này xuất hiện ở các truyện: Phòng khách, Tờ khai visa, Sân bay, Tự truyện,
Chạy quanh công viên một tháng, Chàng trai ở bến đợi xe, Những cuộc kiếm tìm, Mảnh vỡ của đàn ông, Mây mưa mau tạnh Dù nhân vật “tôi” kể chuyện
mình hay chuyện người khác, thì đều có điều kiện trực tiếp bộc lộ thái độ, tìnhcảm, suy nghĩ, đánh giá của mình và tạo cho truyện màu sắc chủ quan rõ nét
Những truyện ngắn được Hồ Anh Thái trần thuật theo điểm nhìn củanhân vật xưng “tôi” đều là những truyện khá đặc sắc Ở các truyện ngắn như:
Phòng khách, Tờ khai visa, Sân bay, Chạy quanh công viên mất một tháng, Hồ
Anh Thái đều lựa chọn lối kể chuyện dân chủ, mang mầu sắc thân tình, suồng
sã, nghĩa là nhân vật kể chuyện mình bằng khẩu ngữ đời sống hàng ngày
Chẳng hạn, thông qua cách kể của nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Phòng
khách, nhà văn khắc họa nhiều chân dung của số đông các trí thức thời hiện
Trang 34đại Đó là những kẻ đã ham hố lao vào cuộc đua danh vọng, tiền tài mà bán rẻnhân cách của mình: “Phòng khách nhà tôi thành phòng chờ, tiền trạm, trạmtrung chuyển, trung tâm đảm bảo tư cách, trung tâm dịch vụ chắp nối” Hay
những nhận xét của nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Sân bay: họ thậm chí
“giẫm đạp lên nhau, bước qua cổ nhau để giành bằng được cái phút thảnh thơichờ máy bay cất cánh” Nhân vật “tôi” tha hồ được kể chuyện nhà, chuyện cơquan, chuyện đường phố, chuyện đấu đá, đố kị lẫn nhau
Người kể luôn tỏ ra là một người rất suồng sã, ưa mỉa mai, giễu cợt:
“Chúng tôi thuộc nhóm nghiên cứu Ai chẳng biết nghiên cứu là thế nào Cảmột thế giới xôn xao dâng trào xối xả là thế cứ ri rỉ chảy qua ngòi bút Láchcách qua máy chữ, lọc sọc qua máy tính và trang giấy phẳng lì, trắng dã mắt
nhìn lại Nói gọn không có cánh nghiên cứu cũng chẳng chết ai” (Tự truyện).
Như vậy, khoảng cách giữa người kể và bạn đọc được rút ngắn Với lối
kể này, Hồ Anh Thái đã phát huy được tối đa chất hài hước, châm biếm vốn là
sở trường của ông
Ở truyện Mảnh vỡ của đàn ông, nhân vật “tôi” kể chuyện mình nhưng
thực chất lại đánh giá về những người phụ nữ xung quanh mình: người mẹ,người chị hàng xóm, người vợ Đóng vai một người hiểu biết, có thể xétđoán mọi việc, nhân vật “tôi” đã chỉ ra những người phụ nữ quanh anh ta chỉ
là những “mảnh vỡ” của đàn ông Mẹ anh thì sống như người mất hồn, mộng
du với những ám ảnh với hình bóng người chồng đã mất Chị Thạch là mảnh
vỡ của người chồng hèn hạ Còn Duyên, một cô gái trong sáng, không may bịtật nguyền Cô may mắn có được một mái ấm gia đình nhưng hạnh phúc ấythật mỏng manh, dễ vỡ bởi người chồng thương vợ nhưng vẫn ấp ủ mối tìnhvới người đàn bà khác Người kể chuyện ở đây vừa là người con, vừa là người
em, vừa là người chồng với tấm lòng thương cảm sâu sắc trước những mảnh
vỡ định mệnh, những số phận bất hạnh
Trang 35Bên cạnh kiểu trần thuật tham dự với vai trò nhân vật trong truyện là
trần thuật với vai trò người dẫn truyện, tiêu biểu như: Người Ấn, Người đứng
một chân, Trại cá sấu Ở đây, nhân vật “tôi” xuất hiện với tư cách là một
người nghe, người làm chứng không bình luận gì thêm Truyện ngắn Người
Ấn là minh chứng cho sự thế hiện này Trong truyện ngắn này, người trần
thuật chỉ làm nền để một nhân vật khác (người Ấn) tự kể chuyện của mình một câu chuyện chứa đựng thế giới tâm linh sâu thẳm khó nắm bắt của tâmhồn người Ấn Độ Để tăng thêm phần thuyết phục, câu chuyện có sự đan xem
-cả hai lối kể trần thuật khách quan và chủ quan Đoạn đầu kể về một ngườiđàn ông quyết tâm đứng trên một chân để đòi tiền xây đền cho làng mình:
“Từ đó, sáng sáng Annada lại ra đứng chỗ ấy, đứng bằng một chân, khi chânphải, lúc chân trái, trước khi xe đưa viên giám đốc ra xe đến nhà máy”.Nhưng bất ngờ, cuối truyện, người kể bỗng ở đâu xuất hiện và khẳng định vaitrò nhân chứng của mình: “Tôi có dịp đi qua làng Khusi thì ra đám khách dulịch đang xúm quanh một người đàn ông đứng bằng một chân, nghe nói đãđứng như thế từ lâu lắm, nhưng chỉ mãi gần đây mới trở thành kỳ quan duynhất của làng Khusi Tôi tìm được một chỗ đứng trước mặt ông ta, lập tứcđược ông ta bắt chuyện bằng câu hỏi tôi là người nước nào”
Đọc truyện ngắn Hồ Anh Thái, ta nhận thấy có khi tác giả nhảy vào câuchuyện, để cho nhân vật gọi mình là “nhà văn Hồ Anh Thái” để chứng thực
một điều gì đó Trong Trại cá sấu, nhà văn còn lấy chính mình ra để chế giễu
nhại: “Chị em khen cái áo len mới mua của nàng trông rất trang nhã, nàngkhoe ngay là cái áo của Bảo Ninh đem tặng Nàng chìa cái ví đầm Gucci khoe
ví của Nguyễn Quang Thiều tặng Nàng mua táo Mỹ đem đến cho chị em ănbảo táo Hồ Anh Thái hôm qua đi Mỹ mang về Chị em lại cười thầm, BảoNinh, Nguyễn Quang Thiều còn nghe được chứ Hồ Anh Thái bọ không ăncủa ai thì thôi, ai mà ăn gì của bọ”
Trang 36Trong một bài phỏng vấn Hồ Anh Thái, nhà báo Lê Hồng Lâm đã nhậnđịnh: “Người ta thường dùng nhân vật để phát biểu quan điểm của tác giả, còn
ở đây nhân vật lại mượn tác giả làm nhân chứng cho mình ” [44, tr.255-256].Điều đó thể hiện lối kể chuyện thân tình, suồng sã trong văn Hồ Anh Thái.Với cách kể chuyện này, quan hệ giữa nhà văn - nhân vật - độc giả trở nêngần gũi nhau hơn, và khoảng cách giữa nghệ thuật và hiện thực đời sống đãđược rút ngắn
2.2 Các phương tiện ngôn ngữ trong lời trần thuật ở truyện ngắn của Hồ Anh Thái
2.2.1 Đặc điểm từ ngữ trong lời trần thuật
M.Gorki nói: “Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của văn học” Có thể nói
không có ngôn ngữ sẽ không có văn học Các tác giả Từ điển thuật ngữ văn
học cũng cho rằng: “ngôn ngữ là công cụ, là chất liệu cơ bản của văn học, là
một trong những yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách tàinăng của nhà văn” [11, tr.183] Đều lấy ngôn ngữ làm chất liệu, nhưng mỗithể loại văn học lại có những cách tổ chức riêng với những đặc trưng riêng.Bởi vậy, muốn hiểu một cách sâu sắc, cặn kẽ bản chất thẩm mĩ của ngôn từtrong tác phẩm văn học cũng như phong cách ngôn ngữ, cá tính sáng tạo, tàinăng của nhà văn thì nhất thiết phải gắn ngôn từ với thể loại, vì “mỗi thể loạiđòi hỏi một thứ ngôn ngữ riêng, ngôn ngữ của thể loại ấy” [27, tr.59] Nếunhư kịch chủ yếu sử dụng ngôn ngữ đối thoại, thơ trữ tình khai thác ngôn ngữ
ở phương diện bộc lộ cảm xúc, thì văn xuôi tự sự có tham vọng tái hiện bộmặt cuộc sống, tâm lí con người trong sự sâu rộng, đa chiều vốn có của nó.Ngôn ngữ tự sự là ngôn ngữ của cuộc sống đời thường Nó chấp nhận mọi lớp
từ, mọi biến thái, mọi chiều kích, thậm chí cả sự xô bồ, phồn tạp đến cực độ.Không phải văn xuôi không cần trau chuốt, nhưng sự trau chuốt từ ngữ củamột cây bút văn xuôi rất khác với sự trau chuốt của một nhà thơ Đối với
Trang 37người viết văn xuôi tự sự, áp lực rõ nhất là làm sao từ ngữ phải lột tả được đốitượng một cách chính xác nhất qua cái nhìn của anh ta Có thể áp dụng quanniệm này để xem xét mọi cấp độ ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, trước hết
là ở cấp độ từ ngữ
Từ ngữ là sản phẩm chung của toàn dân, nó là kết quả của một quátrình lịch sử, văn hoá lâu dài Vốn là nhà văn có phông văn hoá rộng, ưa sựsay mê, khám phá hiện thực đời sống ở góc nhìn đa chiều, do vậy tác phẩmcủa Hồ Anh Thái luôn chứa đựng sự đa dạng về ngôn ngữ Hồ Anh Thái rấttinh tế trong việc nắm bắt chiều sâu tâm lý, tâm trạng của nhân vật Với việc
sử dụng lớp từ khẩu ngữ, lớp từ láy, thành ngữ, tục ngữ trong các truyện ngắncủa mình, Hồ Anh Thái đã làm nổi bật được những gì mà ông muốn nói
2.2.1.1 Khẩu ngữ
Mỗi nhà văn có một gu sử dụng ngôn ngữ riêng và chính sự khác nhaulàm nên độc đáo cho mỗi ngòi bút Trước đây, chúng ta từng biết nghệ thuậtvới lối hành văn trau chuốt, mượt mà đến cầu kì, mỗi câu mỗi chữ khi lọt vàotrang văn của ông phải trải qua sự gọt rũa công phu Chúng ta biết một ThạchLam với ngôn ngữ nhẹ nhàng, trong sáng, tinh tế Bên cạnh có một Nam Caovới ngôn ngữ mang đậm dân dã mà chua chát Tất cả những nét riêng đó đềuđược tạo nên từ việc lựa chọn từ ngữ của nhà văn Nếu như Nguyễn Tuân cầu
kì với lớp từ Hán Việt thì Nam Cao lại dân dã với lớp từ sinh hoạt Đối vớithế hệ nhà văn trong và sau chiến tranh, đang hình thành xu thế sử dụng ngônngữ mới, xây dựng phong cách mới Hồ Anh Thái là một nhà văn như thế
Khẩu ngữ là ngôn ngữ thuộc phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, khác hẳnvới phong cách viết Tuy nhiên khi đã đi vào tác phẩm nghệ thuật, nó tạo ra
màu sắc tu từ riêng Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học cho rằng: “Đó
là một hệ thống kí hiệu có thể được thể hiện bằng âm thanh và có chức năngđáp lại một kích thích tố hữu quan (thường đòi hỏi phản ứng ngay lúc ấy) một
Trang 38cách năng động, tức là sự phản ứng phải hoàn chỉnh và nêu rõ mặt cảm xúccũng như mặt nội dung của các sự kiện hữu quan” [43, tr.170].
Đọc truyện ngắn Hồ Anh Thái, ta sẽ bắt gặp thứ ngôn ngữ giản dị, tựnhiên, rất gần gũi với cuộc sống hàng ngày của chúng ta Việc tác giả dùngkhẩu ngữ tự nhiên thuần túy hay lối nói bỗ bã, suồng sã, ít nhiều có tính chấtlưu manh đặt vào lời của các nhân vật không chỉ khiến cho nhân vật trở nênsinh động, gần gũi với đời thực hơn
Chỉ lướt qua một số cách nói ta có thể nhận thấy điều đó như: Chả
được; một đống; mà rú mà gào; Úi dào ôi!; chả thèm; sướng phát rồ; lộn tiết; tức lộn ruột; úi giời ơi!; rống lên; chồm lên; chả thế nào; hộc máu; đớp lấy; bỏ mẹ mày; đấm vào mồm; úi giời thế à!; thật tình; khốn nỗi; xộc vào; è cổ; ngậm miệng; chó chết; lũ khốn; thiến; chó dái; đĩ mồm; thậm thụt; rồ lên; rú lên; mất toi; vồ lấy; chộp lấy; hết ý chưa; bóp chặt lại; vứt quách; còn phải nói; giật nẩy người; xốc dậy; mẹ mày!; thối mồm; ối mẹ ơi!; dở hơi; đớp này; bậy nào; ấm ớ; nhảy xổ; vờn lấy; buột mồm; ngồi xổm; dằn mặt; thôi cũng đành; phập một cái; chả là; nói thế; nồng nỗng; chết khiếp; ơi hời; như thể; khóc ơ hờ; cần quái gì; ghê rợn
quá (Chạy quanh công viên một tháng; Chàng trai ở bến đợi xe; Diễn;
Những cuộc kiếm tìm; Một bà năm ông; Món tái dê; Bến Ôsin; Tờ khai visa; Sân bay; Tự truyện; Phòng khách).
Chúng tôi đã khảo sát số lượng và mật độ sử dụng từ khẩu ngữ trongtruyện ngắn của Hồ Anh Thái, kết quả cụ thể như sau:
Trang 39Bảng 2.1 Từ khẩu ngữ trong truyện ngắn Hồ Anh Thái
TT Tác phẩm Số câu
trần thuật
Số câu có từ khẩu ngữ Tần số Tỉ lệ
27 Tiếng thở dài qua rừng kim tước 249 18 1/13,8 7,2%
Trang 40Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy hệ thống từ khẩu ngữ trong truyệnngắn của Hồ Anh Thái có những đặc điểm riêng Thứ nhất, tần số xuất hiện từkhẩu ngữ trong truyện ngắn chiếm tỉ lệ rất lớn, bình quân cứ 13,6 câu văn trầnthuật thì có một câu chứa từ khẩu ngữ, tỉ lệ chung là 9,3% Thứ hai, hệ thống
từ ngữ này lại tạo bởi, có thể là những từ ngữ thông tục có trong tiếng phổthông, có thể từ ngữ có trong tiếng phổ thông nhưng được nhà văn dùng vớinghĩa khác Một nguyên nhân nữa khiến cho hệ thống từ khẩu ngữ của HồAnh Thái có tính ổn định, có nét sáng tạo là nhà văn sử dụng chúng một cáchsáng tạo và rộng rãi, hoặc khi dùng tác giả muốn tạo mối quan hệ thân mật,suồng sã trong giao tiếp, hoặc để tham gia khắc hoạ tính cách, phẩm chất,những tật xấu của nhân vật hoặc để tạo ấn tượng khó quên trong lòng ngườiđọc Như vậy là, hệ thống từ thông tục trong sáng tác của Hồ Anh Thái cótính ổn định, có sự sáng tạo, thể hiện mục đích nghệ thuật rõ nét
Trong truyện ngắn Phòng khách, có những đoạn ngôn ngữ mang đậm
màu sắc của cuộc sống hàng ngày, khiến người đọc cảm giác như tác giả đangtán gẫu với ai đó, chẳng hạn: “Tôi tự ý rời trường, theo một thầy dạy võ Vănchả được thì võ Thì võ vậy Võ sư do bạn bè dẫn mới Mặt xương xương khả
ái Tôi không chịu được đàn ông một đống mặt một đống bụng Võ sư chữngchạc cân đối Chỉ mỗi tội chiều cao 1 mét 55”
Tác giả còn dùng những kiểu khẩu ngữ hài hước, trào lộng giọng điệurất đặc trưng:
- “Đám thực khách khốn khổ cứ phải quằn quại giẫy giụi trên xa lông,
trằn mông trượt khu gây ra những âm thanh nhân tạo chứng tỏ không phải tôi Bủm bỉm bủm bỉm Bíp Bíp” [44, tr.18].
- “Người nào suốt một đêm qua bồn chồn mất ngủ chờ sáng, sơ sểnh đến mức phải mở mồm hỏi mượn bút thì lập tức bị nhìn như đến nhầm bến xe
đi Mù Cang Chải” [44, tr.27]