Trờng Đại học Vinh Khoa ngữ vănVinh – 2010 Lời nói đầu Về tác phẩm "Một mình một ngựa" của Ma Văn Kháng - các công trình nghiên cứu hầu nh cha có, đặc biệt là dới góc độ ngôn ngữ.. Ngôn
Trang 1Trờng Đại học Vinh Khoa ngữ văn
Vinh – 2010
Lời nói đầu
Về tác phẩm "Một mình một ngựa" của Ma Văn Kháng - các công trình nghiên cứu hầu nh cha có, đặc biệt là dới góc độ ngôn ngữ Bởi vật Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết "Một mình một ngựa" của Ma Văn Kháng" là một đề tài mới và khó nhng cũng không ít lý thú Những hạn chế nhất định là
điều không tránh khỏi Chúng tôi mong nhận đợc sự góp ý của những ngời quan tâm đến đề tài.
Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhận đợc sự ủng hộ nhiệt tình của TS Trịnh Thị Mai cũng nh những ý kiến đóng góp thiết thực của các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Ngôn ngữ, khoa Ngữ văn, Đại học Vinh Nhân đây cho phép
Trang 2chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo hớng dẫn cùng tập thể thầy cô giáo khoa Ngữ văn nói chung, tổ Ngôn ngữ nói riêng đã đóng góp những ý kiến quý báu cho việc hoàn thành luận văn.
Nội dung:
Chơng 1: Một số vấn đề chung liên quan đến đề tài
1.1 Thể loại tiểu thuyết và đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết 10
Trang 31.1.2 Ngôn ngữ tiểu thuyết 11 1.2 Nhân vật trần thuật và ngôn ngữ trần thuật 13
1.3.2 Về tiểu thuyết Một mình một ngựa 17
Chơng 2: Đặc điểm ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết
2.2.3 Sử dụng các điển tích, điển cố, giai thoại 28
2.3 Đặc điểm câu văn trần thuật trong tiểu thuyết Một mình một ngựa 29
2.3.1 Đặc điểm về độ dài của câu văn trần thuật trong tiểu thuyết
Trang 4ời kể chuyện ( ngời trần thuật) và ngôn ngữ của nhân vật Cả hai loại ngôn ngữnày đều rất quan trọng làm nên phong cách của nhà văn, đặc biệt là ngôn ngữtrần thuật Nói đến ngôn ngữ của một tác phẩm trớc hết phải nói đến ngôn ngữtrần thuật bởi vì ngôn ngữ trần thuật là nơi bộc lộ ý thức sử dụng ngôn ngữ cóchủ ý của nhà văn, bộc lộ cách lý giải cuộc sống từ cách nhìn riêng và cá tínhsáng tạo của tác giả
1.2 Nền văn học sau 1975 đang bớc vào thời kỳ đổi mới toàn diện từcảm hứng sáng tác, quan niệm về con ngời và đặc biệt là phơng diện ngônngữ Những thành tựu nền văn học sau 1975 là rất đáng ghi nhận với nhiều tácgiả xuất sắc Trong số đó phải kể đến Ma Văn Kháng, tác giả đã gây đợckhông ít sự chú ý, làm xôn xao d luận qua hàng loạt tiểu thuyết Tiểu thuyếtnói riêng và những sáng tác của ông nói chung đang vận động theo hớng hiện
đại hóa Ông là một trong những tác giả tiêu biểu có nhiều đóng góp quantrọng về phơng diện ngôn ngữ cho nền văn học sau 1975
Trang 51.3 Tiểu thuyết Một mình một ngựa đợc Ma Văn Kháng viết từ giữa năm
2007 Đây là cuốn tiểu thuyết thứ 13, cuốn tiểu thuyết mới nhất của ông Vànăm 2009 tác phẩm đã đợc Hội nhà văn Hà Nội trao giải với số phiếu 9/12phiếu Đây là một vinh dự cho nhà văn lão làng Ma Văn Kháng đồng thờicàng chứng minh ông vẫn là một cây bút hàng đầu của văn học đơng đại ViệtNam Góp phần làm nên thành công đó của tiểu thuyết chính là do cấu trúcchặt chẽ, các chi tiết đợc đan cài vào nhau một cách tài tình xuyên suốt Đặcbiệt, Ma Văn Kháng với lối kể chuyện hóm hỉnh đã tạo nhiều điểm nhấn ấn t -ợng từ ngôn ngữ trần thuật
Đề tài tìm hiểu "Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết "Một mình một
ngựa" của Ma Văn Kháng" của chúng tôi chắc chắn sẽ góp thêm một tiếng
nói khẳng định tài năng của một nhà văn lớn đã ở độ tuổi xa nay hiếm
2 Lịch sử vấn đề
Vấn đề trần thuật v ngà ng ôn ngữ trần thuật trong tác phẩm văn học luôn là ng
một vấn đề được nhiều người quan tâm Trần Đình Sử trong Tự sự học đã b nà ng
về vấn đề cấu trúc tự sự trên các phương diện: điểm nhìn trần thuật, ngườitrần thuật, giọng điệu trần thuật, tác giả h m à ng ẩn Cũng trong cuốn sách n yà ng
đó cú nhiều tác giả b n và ng ề những vấn đề liên quan đến trần thuật: PhùngNgọc Kiếm đã b n và ng ề vấn đề Tr“ ần thuật trong truyện ngắn” v cho rà ng ằng:
V
“ ới truyện ngắn, cách kể chuyện, cách trần thuật có ý nghĩa rất quan trọng.
Trần thuật trong truyện ngắn phải khắc phục dung lượng ngôn từ hạn chế của thể loại Do vậy, để tạo hiệu quả nghệ thuật nhiều nhất cho dung lượng ngôn
từ ít ỏi, trần thuật trong truyện rất ngắn phải hướng tới mục tiêu gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc về cái được kể, từ cái được kể; hoặc phải tạo ra lối trần thuật đa chức năng: lời kể có nhiều khả năng trần thuật, gi u s àu s ức khêu gợi ” Tác giả Trần Huyền Sâm cũng đã b n và ng ề Hình t“ ượng người trần thuật trong tác phẩm Người tình của Maguerrite-duras” Nhìn chung các tác
giả đã cho thấy vai trò to lớn của trần thuật trong các tác phẩm tự sự.Trongtiểu thuyết vấn đề ngôn ngữ trần thuật đóng vai trò quan trọng Tác giả TrầnMinh Đức trong b i vià ng ết “ B n v àu s ề khía cạnh trần thuật trong tiểu thuyết”
Trang 6( Nguồn e.van, ng y 30/11/2009) cho rà ng ằng: Ngôn ng“ ữ trần thuật (narrative language)-yếu tố tư duy của người viết Do vậy, ngôn ngữ trần thuật l n àu s ơi bộc lộ ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của nh v àu s ăn, thể hiện quan điểm của tác giả hay quan điểm của người kể chuyện đối với cuộc sống được miêu tả Ngôn ngữ trần thuật có những nguyên tắc thống nhất trong việc lựa chọn các phương tiện tạo hình v bi àu s ểu hiện ngôn ngữ để thể hiện cảm xúc, quan điểm của tác giả ” Đã có nhiều công trình luận văn b n và ng ề ngôn ngữ trần thuật
trong một tác phẩm cụ thể: Đặc điểm ngôn ngữ trần thuật trong Tự sự 265
ng y c àu s ủa Hồ Anh Thái của Nguyễn Thị Hương ( luận văn tốt nghiệp, 2008).
Còn về tác giả Ma Văn Kháng, từ tác phẩm đầu tay " Phố cụt" đến hàng
loạt tiểu thuyết, truyện ngắn sau này đã luôn thu hút đợc sự quan tâm nghiêncứu của giới phê bình nghiên cứu Cho đến nay đã có hàng loạt công trình, bàiviết về tiểu thuyết và truyện ngắn của Ma Văn Kháng Trớc hết có thể kể tênmột số nhà phê bình nghiên cứu nh: Phong Lê, Việt Dũng, Đỗ Phơng Thảo,Nguyễn Thị Tiến
Giáo s Phong Lê đã nhận xét: "Có thể nói đến một thơng hiệu Ma Văn
Kháng từ Ma mùa hạ trở về sau, làm nên một dấu ấn riêng, khác biệt với nhiều ngời, mọi chất liệu hiện thực kiểu Ma Văn Kháng Đặc biệt là ngôn ngữ, nếu muốn tìm đến sự phong phú của ngôn ngữ- áp cận vào thì hiện tại tôi nghĩ cần đọc Ma Văn Kháng và trớc đó là Tô Hoài Đó là hai trong số ít ngời viết
có đợc một kho chữ thật rủng rỉnh để tiêu dùng" Tác giảTrần Cơng trong Mùa lá rụng trong vờn-một đóng góp mới của Ma Văn Kháng nhận xét:
"Càng ngày sự kết hợp giữa miêu tả và biểu hiện ở Ma Văn Kháng càng huần
nhụy cùng với văn chơng duyên dáng và trong sáng(có gọt giũa nhng không cầu kỳ, kiểu cách theo lối làm văn) cùng với các thủ pháp nghệ thuật đã đợc vận dụng một cách thuần thục nh dùng ẩn dụ, so sánh, liên tởng, lập thế tơng phản, song hành, sử dụng đối thoại tất cả những cái đó không bộn bề, rối rắm, mà đợc điều hành nhịp nhàng cân đối bởi một t duy nghệ thuật cần mẫn sắc sảo".
Năm 2009 tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng đoạt giải
thởng của Hội nhà văn Hà Nội.Trớc sự kiện này đã có rất nhiều tờ báo: ThểThao văn hóa, Ngời lao động, baodatviet.vn…đã có bài giới thiệu về tiểuđã có bài giới thiệu về tiểu
Trang 7thuyết này(nhng chỉ với tính chất sơ bộ).Và phải kể đến bài viết của tác giả
Đỗ Hải Ninh với nhan đề: “Khuynh hớng tự truyện trong tiểu thuyết Một“
mình một ngựa của Ma Văn Kháng” ” đăng trên phongdiep.net
ngày28/07/2009 mới là bài viết độc lập đầu tiên bàn về tiểu thuyết "Một mình
một ngựa", tác giả này khẳng định: “Không có nhiều đột phá, cách tân trong nghệ thuật tự sự nhng Một mình một ngựa cách kể chuyện hóm hỉnh, tạo đợc những điểm nhấn ấn tợng … Đi từ cái cá thể đến tính phổ quát, với ý thức tạo Đi từ cái cá thể đến tính phổ quát, với ý thức tạo dựng thế giới hình ảnh, Ma Văn Kháng đã đem lại cho câu chuyện kể về đời mình những màu sắc của tiểu thuyết trong sự kết hợp hài hòa với tự truyện.”
Tác giả cũng đã chỉ ra hạn chế của tác phẩm: “Tuy nhiên, tác phẩm sẽ thành
công hơn nếu khai thác hết chiều sâu ở nhân vật, chẳng hạn nhân vật Yên, từ
sự xuất hiện khá ấn tợng ở đầu truyện, có thể khám phá thế giới tâm hồn của nhân vật đầy sức sống này nhiều hơn nữa Đôi chỗ còn sa đà vào dẫn giải dài dòng khiến cho tác phẩm nghiêng về tính luận đề, lộ ý tởng ”
Ngoài ra còn có các công trình là luận văn, luận án nghiên cứu về MaVăn Kháng Có thể kể tên một số công trình của các tác giả nh: Phạm Mai
Anh (1997), Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Ma Văn Kháng từ sau 1980;
Đào Tiến Phi (1999), Phong cách truyện ngắn Ma Văn Kháng trong truyện
ngắn sau 1975; Hoàng Thị Thúy (2000), Sáng tác của Ma Văn Kháng từ đầu thập kỉ 80 lại nay; Hà Thị Thu Hà (2003), Thi pháp truyện ngắn Ma Văn Kháng sau 1975; Ngô Trí Cơng (2004), Ngôn ngữ hội thoại nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng
Tóm lại, điểm qua các công trình nghiên cứu về Ma Văn Kháng, chúngtôi nhận thấyhầu hết các công trình này nghiên cứu từ góc độ lý luận phê bìnhvăn học, còn từ góc độ ngôn ngữ rất ít Đến nay cha có bài viết nào tìm hiểu
về ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng nói chung và tiểu
thuyết Một mình một ngựa nói riêng Chính vì thế, chúng tôi chọn đề tài
"Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết "Một mình một ngựa" của Ma Văn
Kháng" làm đối tợng nghiên cứu.
3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu " ngôn ngữ trần thuật" trong một tiểu thuyết mới nhất
của Ma Văn Khánglà tiểu thuyết Một mình một ngựa ( NXB Phụ nữ, 2009).
Trang 83.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Có ba nhiệm vụ đặt ra trong đề tài "Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu
thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng":
- Phân tích các đặc điểm ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Một mình
một ngựa ở các phơng diện từ ngữ, câu văn, các biện pháp tu từ nổi trội.
- Tìm hiểu giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Một mình một ngựa
- So sánh Ma Văn Kháng với một số nhà văn cùng thời để thấy đợc nétriêng trong ngôn ngữ trần thuật của ông Đồng thời so sánh ngôn ngữ trầnthuật trong các tác phẩm của Ma Văn Kháng trớc đây với ngôn ngữ trần thuật
trong tiểu thuyết mới nhất Một mình một ngựa để thấy sự đổi mới trong cách
Đây là đề tài đầu tiên đi sâu nghiên cứu ngôn ngữ trần thuật trong tiểu
thuyết Một mình một ngựa dới góc nhìn ngôn ngữ học có kết hợp với một số
kiến thức lý luận có tính liên ngành nh Lý luận văn học, Thi pháp học Từ các
đặc điểm của ngôn ngữ trần thuật trong Một mình một ngựa so sánh với ngôn
ngữ trần thuật của một số nhà văn nh Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái đểthấy đợc phong cách riêng của Ma Văn Kháng
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn có 3 chơng:
Chơng 1: Một số vấn đề chung liên quan đến đề tài.
Chơng 2: Đặc điểm ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết " Một mình một ngựa".
Chơng 3: Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết " Một mình một ngựa".
Sau cùng là tài liệu tham khảo
Trang 9Chơng 1 một số vấn đề chung liên quan đến đề tài
1.1 Thể loại tiểu thuyết và đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết
1.1.1 Về thể loại tiểu thuyết
Trong lịch sử văn học nhân loại, từ lâu tiểu thuyết đã chiếm vị trí thenchốt, là “hình thái chủ yếu của nghệ thuật ngôn từ” Những thành tựu văn họcrực rỡ của nhân loại hầu nh tập trung ở thể loại tiểu thuyết Từ những pho tiểuthuyết chơng hồi của Trung Quốc đến những bộ tiểu thuyết đồ sộ của phơngTây đã trở thành nguồn mạch dồi dào góp phần làm cho diện mạo của thể loạingày càng phong phú, đa dạng ở Việt Nam, tiểu thuyết tuy xuất hiện muộnhơn song vẫn đợc xem là một thể loại quan trọng Sự xuất hiện của nó đánhdấu một bớc tiến trong lịch sử văn học, tiểu thuyết nhanh chóng trở thành
“món ăn tinh thần” không thể thiếu trong đời sống văn học Tuy nhiên hiểuthế nào là tiểu thuyết thì lại là vấn đề không dễ dàng có sự thống nhất.Về vấn
đề thế nào là tiểu thuyết đang có nhiều sự tranh luận sôi nổi ở mỗi khu vựckhác nhau, hay những thời điểm khác nhau hoặc cùng một thời đại nhng ởnhững tác giả khác nhau vẫn có những ý kiến không giống nhau ở Châu Âu,tiểu thuyết đợc gọi bằng thuật ngữ Roman Roman là tên gọi chung chỉ nhữngtác phẩm mà nói chung thờng chứa đựng 2 yếu tố chính: phiêu lu và ái tình ởAnh, tiểu thuyết đợc gọi là Novel
Cũng bàn về tiểu thuyết, Biêlinxki cho rằng: “Tiểu thuyết là sự tái hiện
thực tại với sự thật trần trụi của nó Tiểu thuyết xây dựng những bức tranh toàn vẹn, sinh động, thống nhất ”
ở Việt Nam, ngời đầu tiên bàn về tiểu thuyết là Phạm Quỳnh Ông cho
rằng: “Tiểu thuyết là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tự ngời
ta, phong tục xã hội hay là những sự lạ tích kì, đủ làm cho ngời đọc hứng thú ”
Nhóm Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật
ngữ văn học định nghĩa: “Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng
phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng”[9,tr.328] Có thể xem đây là ý kiến tơng đối khái quát, rõ ràng, dễ hiểu
Trang 10và đã rút ra đợc những đặc trung cơ bản của thể loại tiểu thuyết trong sự đốisánh với thể loại sử thi.
1.1.2 Ngôn ngữ tiểu thuyết
Vì tiểu thuyết là một “thể loại văn chơng đang biến chuyển và còn cha
định hình” (M.Bakhtin) nên việc nghiên cứu đặc trng của thể loại tiểu thuyết
nói chung, đặc trng ngôn ngữ tiểu thuyết nói riêng còn có những khó khănnhất định Trên cơ sở có sự kế thừa, tích hợp có lựa chọn, phát huy một sốthành tựu của các nhà nghiên cứu về vấn đề này, chúng tôi đa ra một số đặc tr-
ng về ngôn ngữ tiểu thuyết nh sau:
Ngôn ngữ tiểu thuyết là ngôn ngữ nghệ thuật, nên ngôn ngữ tiểu thuyếtnói riêng, ngôn ngữ nghệ thuật nói chung có những đặc điểm khác với ngônngữ phi nghệ thuật Nếu ngôn ngữ phi nghệ thuật (tức ngôn ngữ tự nhiên) là hệthống tín hiệu thứ nhất, thì ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ tiểu thuyết là hệthống tín hiệu thứ hai đợc cấu thành từ hệ thống tín hiệu thứ nhất Về mặtchức năng xã hội, nếu ngôn ngữ phi nghệ thuật đảm nhận chức năng giao tiếp,những phẩm chất thẩm mĩ nếu có thì chỉ đóng vai trò phụ, thứ yếu thì ở ngônngữ nghệ thuật, ngôn ngữ tiểu thuyết chức năng thẩm mĩ xuất hiện ở bình diệnthứ nhất, nó đẩy chức năng giao tiếp xuống bình diện thứ hai Mặt khác, tính
hệ thống đều có ở ngôn ngữ phi nghệ thuật và ngôn ngữ nghệ thuật song có sựkhác nhau về chất Tính hệ thống của một yếu tố ngôn ngữ nghệ thuật đợc xác
định bởi vị trí và vai trò của nó trong hệ thống các hình tợng của tác phẩm vàphong cách cá nhân tác giả Còn đối với ngôn ngữ phi nghệ thuật, tính hệthống gắn với sự khu biệt xã hội đối với ngôn ngữ
Về bình diện nghĩa, nếu ngôn ngữ phi nghệ thuật chỉ có một bình diệnnghĩa, thì ngôn ngữ nghệ thuật có hai bình diện nghĩa (một bình diện hớngvào hệ thống ngôn ngữ văn học với ý nghĩa của các từ, của các hình thức ngữpháp, mặt khác hớng vào hệ thống các hình tợng của tác phẩm nghệ thuật).Phạm vi sử dụng phơng tiện ngôn ngữ của ngôn ngữ tiểu thuyết - nghệ thuậtrộng hơn ngôn ngữ phi nghệ thuật Đặc biệt, ngôn ngữ nghệ thuật - tiểu thuyết
là chuẩn mực hoàn thiện do quá trình lao động bền bỉ, sáng tạo của nhà văn utú
Mặt khác, cũng chính do ngôn ngữ tiểu thuyết là ngôn ngữ nghệ thuậtnên ngôn ngữ tiểu thuyết cũng mang những đặc điểm chung của ngôn ngữ
Trang 11nghệ thuật: tính hình tợng, tính cấu trúc, tính truyền cảm, tính cá thể và cụ thểhóa.
Nh chúng ta đã biết, ngôn ngữ tiểu thuyết thuộc ngôn ngữ tự sự xét trong
sự khu biệt với ngôn ngữ trữ tình và ngôn ngữ kịch Do vậy, ngôn ngữ tiểuthuyết một mặt mang những đặc điểm của ngôn ngữ thể loại tự sự, còn cónhững đặc điểm khác biệt so với thể trữ tình và kịch Ngôn ngữ tác phẩm trữtình, đặc biệt là ngôn ngữ thơ giàu tính nhạc, biểu hiện ở vần, nhịp và sự cân
đối, ngôn ngữ thờng đa ngời đọc vào những chân lí bí ẩn, thâm thúy, kì ảo,giàu chất thơ của đời sống Nếu ngôn ngữ của tác phẩm kịch phải có tính hành
động, tính khẩu ngữ phù hợp với tính cách nhân vật thì ngôn ngữ trong tácphẩm tự sự lại là ngôn ngữ khách quan, yên tĩnh Do vậy, ngôn ngữ ngời trầnthuật thờng trầm tĩnh, nhịp điệu ngôn ngữ tự sự thờng khoan thai hơn chứkhông nh nhịp điệu của ngôn ngữ hành động kịch là luôn luôn vận động tớinhững mục đích đã định Nh vậy, sự khác biệt này là do đặc trng phản ánh đờisống của mỗi thể loại qui định
Trên đây là những đặc trng chung của ngôn ngữ tiểu thuyết khi xét ngônngữ tiểu thuyết thuộc tác phẩm tự sự Tuy nhiên, tìm hiểu đặc trng ngôn ngữtiểu thuyết nhất thiết phải chỉ ra đặc trng ngôn ngữ tiểu thuyết trong sự sosánh ngôn ngữ tiểu thuyết với những thể loại khác trong cùng hệ thống tácphẩm tự sự
ở truyện ngắn, ngôn ngữ ngời trần thuật thờng là chấm phá Còn ở tiểuthuyết cũng là giọng điệu trầm tĩnh, khoan thai nhng phức tạp hơn Ngôn ngữthờng hớng vào những suy t của tác giả về nhân vật, về đời ngời, về sự phântích cặn kẽ các diễn biến tình cảm Ngôn ngữ thể hiện cái nhìn hiện tợng từnhiều chiều, sử dụng nhiều giọng nói Ngôn ngữ tiểu thuyết hấp thu mọi loạilời nói của ngôn ngữ đời sống, phá vỡ khoảng cách lời trong văn học và ngoàivăn học, tạo nên ngôn ngữ đối thoại giữa các giọng khác nhau
Tất nhiên sự phân chia đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết mang tính chất đặcthù này so với ngôn ngữ thuộc những loại khác cũng chỉ có tính chất tơng đối.Rồi mỗi thể loại xét về mặt ngôn ngữ cũng có những u và nhợc điểm riêng.Tiểu thuyết ra đời sau mang trong mình nó tinh hoa về ngôn ngữ của ngôn ngữthuộc thể loại khác xuất hiện trớc và tồn tại cùng nó Mặt khác, ở các thể loạikhác: truyện ngắn, truyện vừa là những thể loại vẫn đang phát triển cũng có sự
Trang 12kế thừa những mặt tích cực của đặc trng thể loại tiểu thuyết nói chung, ngônngữ tiểu thuyết nói riêng.
1.2 Nhân vật trần thuật và ngôn ngữ trần thuật
1.2.1 Nhân vật trần thuật
Trong tác phẩm văn học, đặc biệt là các tác phẩm tự sự nhân vật chính làphơng diện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực Nhân vật còn là một hìnhthức để thể hiện những quan niệm của tác giả về con ngời và cuộc sống Nói
nh Hà Minh Đức: “Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình
về một cá nhân nào đó, về một loại ngời nào đó, về một vấn đề nào đó củahiện thực” Về vấn đề này, Nguyễn Tuân cho rằng qua nhân vật, nhà văn thểhiện suy nghĩ của mình về cuộc sống “và cũng dựa vào nhân vật để biểu hiện
t tởng của mình” “Nhân vật là sứ giả truyền đi cái thế giới quan, nhân sinhquan của mình” (Nguyễn Tuân - Tô Hoài và truyện Tây Bắc) Nguyễn MinhChâu cũng khẳng định: “Qua nhân vật mà ngời viết đàm luận với ngời đọc vềvai trò và số phận con ngời sống giữa xã hội và cuộc đời”
Trong các tác phẩm tự sự, ngời trần thuật còn đợc gọi là “ngời kểchuyện” và tham dự vào câu chuyện nh là một nhân vật Mọi diễn biến, mọi
sự kiện và mọi kiến giải đều thông qua quan điểm của nhân vật này, đem lạihiệu quả nghệ thuật đáng kể Một mặt, nó “làm tăng ảo ảnh của ngời đọc vềtính khách quan của nội dung câu chuyện, có nghĩa là tăng thêm tính thuyếtphục của hiện thực đời sống mà tác phẩm phản ánh” Mặt khác, “thể hiện mộtcách sinh động những đặc điểm chủ quan của ngời kể chuyện để ngời đọcgián tiếp nhận biết qua cả hệ thống biến cố và cách trình bày những biến cốtheo cách mà anh ta thâu nhận”
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Ngời trần thuật là một nhân vật h cấu
hoặc có thật mà văn bản tự sự là do hành vi ngôn ngữ của anh ta tạo thành Trong khi kể miệng, ngời trần thuật là một ngời sống sinh động Trong trần thuật viết phi văn học (nh báo chí, lịch sử), ngời trần thuật nói chung đồng nhất với tác giả Nhng trong tác phẩm trần thuật mang tính chất văn học thì ngời trần thuật lại khác, nó bị trừu tợng hóa đi, trở thành một nhân vật hoặc
ẩn hoặc hiện trong tác phẩm tự sự ” [9,tr.221]
Nhân vật trần thuật đã giúp cho các nhà văn kể lại diễn biến câu chuyệntheo cảm nhận của ngời trong cuộc một cách sinh động, chân thực giống nh
Trang 13trong cuộc đời thực, ngời đọc sẽ bị cuốn hút vào câu chuyện một cách tựnhiên, tò mò và đầy hứng khởi
1.2.2 Ngôn ngữ trần thuật
Văn học là nghệ thuật ngôn từ Đều lấy ngôn ngữ làm chất liệu nhng mỗithể loại văn học lại có cách tổ chức với những đặc trng riêng Nếu nh kịch chủyếu sử dụng ngôn ngữ đối thoại, thơ trữ tình khai thác ngôn ngữ chủ yếu ở ph-
ơng diện bộc lộ cảm xúc thì văn xuôi tự sự trong đó có tiểu thuyết là ngôn ngữtrần thuật Ngôn ngữ trần thuật là ngôn ngữ nhà văn dùng để xây dựng câuchuyện, nó bao gồm ngôn ngữ trần thuật và ngôn ngữ nhân vật
Ngôn ngữ trần thuật giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong hệ thống
ph-ơng thức tự sự, nó là sự thể hiện trên nền hiện thực toàn bộ t tởng, tình cảmcủa nhà văn, giọng điệu tác phẩm, cấu trúc tác phẩm Qua ngôn ngữ trần thuậtngời đọc nhận ra phong cách, cá tính của tác giả Đối với nhà văn, ngôn ngữtrong tác phẩm văn học là sự khúc xạ của ngôn ngữ đời sống Song đây là thứngôn ngữ đã đợc lựa chọn, đợc sắp xếp và đợc cách điệu hóa theo ý muốn chủquan của nhà văn.Trong dòng chảy của văn xuôi đơng đại đang có nhữngchuyển biến mạnh mẽ cùng với nhịp sống mới Nó hớng tới diễn tả một dòngchảy mãnh liệt, bề bộn, phức tạp của đời sống xã hội và tâm hồn con ngời.Ngôn ngữ trần thuật trong tác phẩm văn chơng đợc xem xét trên các khíacạnh: từ ngữ, câu văn trần thuật, biện pháp tu từ Ngôn ngữ trần thuật gópphần thể hiện phong cách và cá tính sáng tạo của nhà văn
1.3 Tác giả Ma Văn Kháng và tiểu thuyết "Một mình một ngựa"
1.3.1 Vài nét về Ma Văn Kháng và các sáng tác của Ma Văn Kháng
Nhà văn Ma Văn Kháng tên khai sinh: Đinh Trọng Đoàn, sinh ngày 01tháng 12 năm 1936 Quê gốc: Phờng Kim Liên, quận Đống Đa, thành phố HàNội, là đảng viên ĐCS VN, hội viên Hội nhà văn Việt Nam (1974)
Từ tuổi thiếu niên Ma Văn Kháng đã tham gia quân đội và đợc đi học ởkhu học xá Trung Quốc Năm 1960, ông vào đại học s phạm Hà Nội Tốtnghiệp ông lên dạy học ở tỉnh Lào Cai, từng là hiệu trởng trờng trung học Vềsau ông đợc tỉnh ủy điều về làm th ký cho bí th tỉnh ủy, rồi làm phóng viên,phó tổng biên tập báo của Đảng bộ tỉnh Ông khá am hiểu phong tục tập quáncủa bà con các dân tộc Bí danh Ma Văn Kháng đợc dùng là bút danh đã nóilên sự gắn bó và tình yêu của ông đối với miền đất ông từng hoạt động trên 20năm, nơi ông coi nh quê hơng thứ hai của mình Sau khi đất nớc thống nhất từ
Trang 14năm 1976 đến nay ông về công tác tại Hà Nội, từng làm Tổng biên tập, phógiám đốc NXB Lao động.
Từ tháng 03/1985 ông là ủy viên Ban chấp hành, ủy viên Đảng đoàn Hộinhà văn khóa V, Tổng biên tập tạp chí văn học nớc ngoài của hội ở cơng vịnào, ông cũng là ngời dễ mến, sống chan hòa với mọi ngời Năm 1961 Ma
Văn Kháng bắt đầu viết văn Phố cụt, truyện ngắn mở đầu văn nghiệp của Ma
Văn Kháng đợc in trang trọng trên trang nhất tuần báo Văn nghệ, số 136,ngày 03/03/1961 và đã đợc giới văn học, bạn đọc chú ý
Trong lĩnh vực truyện ngắn, ông vinh dự nhận giải thởng cuộc thi viếttruyện ngắn 1967-1968(giải nhì-không có giải nhất), giải thởng cây bút vàng
cho truyện ngắn trong cuộc thi truyện ngắn và ký 1996 – 1998 do Bộ công an
và Hội nhà văn Việt Nam đồng tổ chức.Và đặc biệt tập truyện ngắn Trăng soi
sân nhỏ đã đa ông tới nhận phần thởng của Hội đồng văn xuôi Hội nhà văn
Việt Nam (1995), nhận giải thởng văn học Đông Nam á (1998) Đây là phầnthởng quý giá tôn vinh thành tựu của văn học Việt Nam
Nếu nh ở mảng truyện ngắn, Ma Văn Kháng tỏ ra là một ngòi bút khá
điêu luyện về nghề nghiệp thì ở tiểu thuyết, sức sáng tạo của ông cũng khiến
đồng nghiệp nể trọng Qua 13 cuốn tiểu thuyết đã in ta thấy ông đã khai thácthành công về mảng đề tài miền núi và đô thị, với các nhân vật thuộc tầng lớp
lao động trung lu và trí thức: Tiểu thuyết Gió rừng (1977), Đồng bạc trắng
hoa xòe (1980), Vùng biên ải (1983).
Từ đầu những năm 80 và nhất là bớc vào thời kỳ đổi mới, ba tiểu thuyết
Ma mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vờn (1985), Đám cới không có giấy giá thú (1989) lần lợt ra đời, làm sôi nổi đời sống văn học Hội nhà văn Việt Nam
đã trao giải thởng loại B cho cuốn tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vờn (1986).
Đặc biệt ở tuổi đã cao, nhà văn vẫn chứng tỏ đợc sức bền của ngòi bút
cũng nh sức thu hút của mình Đó là khi cuốn tiểu thuyết "Một mình một
ngựa" (NXB Phụ nữ, 2009) đã đạt giải thởng của Hội nhà văn Hà Nội 2009
Nhìn lại con đờng văn chơng gần 50 năm, có thể thấy ông đã có gần 20
đầu sách, chủ yếu là thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết Và ở thể loại nào MaVăn Kháng cũng có những thành tựu và đóng góp nhất định cho văn học ViệtNam đơng đại
Với kinh nghiệm làm báo lâu năm và là một ngời viết cần mẫn có bềdày về thành tựu sáng tác, Ma Văn Kháng đã nêu lên một tấm gơng về một
Trang 15nhà văn – nhà báo chiến sỹ, gắn bó với đời sống nhân dân, bền bỉ phấn đấucho sự phát triển của xã hội, cho sự hoàn thiện của nhân cách, cho sự hữu ích
về cái hay, cái đẹp của văn chơng
1.3.2 Về tiểu thuyết "Một mình một ngựa"
Ngày 11/09/2009 Hội đồng chung khảo giải thởng Hội nhà văn Hà Nội
đã họp phiên cuối cùng, tại trụ sở 19 Hàng Buồm, Hà Nội và đã tiến hành bỏphiếu kín sau khi đã thảo luận chuyên môn Kết quả xét giả thởng năm nay có
ba tác phẩm nhận đủ số phiếu để đợc trao Cùng với giải lý luận phê bình đợc
trao cho "Bút pháp của ham muốn", tập tiểu luận phê bình của Đỗ Lai Thúy (NXB Tri thức); giải dịch văn học đợc trao cho "Nhẫn thạch", tiểu thuyết của
Atiq Rahimi (Pháp) bản dịch của Nguyên Ngọc, từ nguyên bản tiếng Pháp
(NXB Hội nhà văn, Nhã Nam) thì giải văn xuôi thuộc về "Một mình một
ngựa" của Ma Văn Kháng (NXB Phụ nữ) với 9/12 phiếu.
Tiểu thuyết "Một mình một ngựa" đợc nhà văn thai nghén cách đây 3
năm Đó là “năm 2006, khi bớc vào tuổi 70 tôi đã có ý định “gác bút” rồi Bạn
bè thấy thế liền bảo: “Xem có còn cái gì viết nốt đi đã” Vậy là tôi lục lạitrong trí nhớ thì ra còn sót lại khoảng thời gian tôi đang làm Hiệu trởng trờngcấp ba ở Lào Cai thì đợc điều sang làm th ký cho Bí th tỉnh ủy Lào Cai vàcũng có rất nhiều chuyện xảy ra trong thời gian này mà tôi cha đụng đến Thế
là tôi bắt đầu viết Tôi viết dễ dàng và cũng thật lắm đấy, toàn là nhữngchuyện tôi đã trải qua Vì đó cũng là thời gian tôi đi làm cán bộ, làm con ngời
đợc phân công, có cơ hội gặp gỡ, lăn lóc trong hiện thực” (Nhà văn Ma VănKháng trả lời phỏng vấn báo Thể thao và văn hóa.)
Cũng theo đánh giá của Hội nhà văn: “Tiểu thuyết "Một mình một
ngựa"…đã có bài giới thiệu về tiểu gợi nhớ bộ tiểu thuyết trờng thiên ở giai đoạn đầu sự nghiệp của nhà
văn, đã ghi dấu ấn trong dòng văn học về miền núi phía Bắc: "Đồng bạc trắng
hoa xòe", "Vùng biên ải", "Trăng non", "Gặp gỡ ở La Pan Tẩn" ở "Một mình một ngựa" bên cạnh những vấn đề tâm huyết đợc đặt ra nh phẩm chất con ngời
cách mạng, bản lĩnh và ý chí con ngời trớc những thử thách hiểm nghèo thìvấn đề tổ chức và quản lý trong thực tiễn vùng cao cũng đợc xới lên một cáchquyết liệt và thấu hiểu Những trang văn thấm đẫm cảnh sắc núi rừng Tây Bắc,những rung động của tình yêu, của tình bạn, tình đồng bào làm cho tác phẩmtrở nên dễ đọc và dễ chia sẽ Tác phẩm không phải là sự đột phá, cũng khôngmới mẻ so với chính nhà văn Ma Văn Kháng Nhng điều đợc ghi nhận ở đây
Trang 16là sự vững vàng về tay nghề tiểu thuyết, cả trong kỹ thuật và nghệ thuật, vànhững vấn đề đợc đặt ra một cách thẳng thắn, không né tránh
Đây là cuốn tiểu thuyết thứ 13 của ông và chắc hẳn không thể so sánh độ
ảnh hởng của nó với những cuốn tiểu thuyết ông viết trớc đó: Đồng bạc trắng“
hoa xòe”, “Mùa lá rụng trong vờn” hay “Đám cới không có giấy giá thú ,”song nó một lần nữa khẳng định Ma Văn Kháng vẫn là nhà tiểu thuyết đơng
đại hàng đầu Việt Nam Tác phẩm chứng tỏ sức bền của cây bút tiểu thuyết
Ma Văn Kháng
Trang 17ng chứ không phải nhờ bản thân các biến cố, các câu chuyện đợc kể Đặc
điểm ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Một mình một ngựa đợc chúng tôi
tìm hiểu ở các phơng diện: từ ngữ, câu văn, các biện pháp tu từ
2.2.Đặc điểm từ ngữ trong lời văn trần thuật của tiểu thuyết "Một
mình một ngựa".
Từ ngữ là sản phẩm chung của toàn dân, nó là sản phẩm của một quátrình lịch sử, văn hóa lâu dài Vốn là nhà văn có phông văn hóa rộng, a sự say
mê, khám phá hiện thực đời sống ở góc nhìn đa chiều, tổng hợp, do vậy, tiểu
thuyết của Ma Văn Kháng nói chung, tiểu thuyết Một mình một ngựa nói
riêng luôn chứa sự đa dạng về ngôn ngữ Không chịu lặp lại mình và với mongmuốn đi đến tận cùng hành trình sáng tạo, xem “viết tiểu thuyết là cuộc đi săn
hổ dữ” cho nên tơng ứng với một hiện thực đời sống muôn mặt, tác giả cũng
luôn lựa chọn cho mình phơng thức biểu đạt riêng Trong tiểu thuyết Một
mình một ngựa Ma Văn Kháng đã sử dụng đa dạng các vốn từ tiếng Việt.
2.2.1 Sử dụng từ ngữ địa phơng
Theo Đinh Trọng Lạc: “Từ địa phơng là những từ chỉ đợc dùng trong cácphơng ngữ, các thổ ngữ”[14,tr.30] Khảo sát lời văn trần thuật trong tiểu
thuyết Một mình một ngựa chúng tôi nhận thấy, vốn từ địa phơng mà nhà văn
dùng đều là các từ ngữ của các dân tộc thiểu số phía Bắc.Từ ngữ địa phơng
đ-ợc dùng rất đa dạng trong tiểu thuyết này
a.Về từ:
Từ địa phơng trong tiểu thuyết "Một mình một ngựa" chủ yếu là các từ
loại danh từ, động từ, số từ:
Trang 18-Số từ: Nâng, thoong, tham, thí, hả, xốc, chất…(Một, hai, ba, bốn, năm,
sáu, bảy…)
-Danh từ:
Danh từ chỉ động vật: con tu ma (con chó), con tu mu (con lợn)
Danh từ chỉ món ăn : tầu xì (hột đậu xay)
-Động từ : xíu dề (ăn tối), cụp (bẫy, bắt)
b Về ngữ
- Dùng các thành ngữ, tục ngữ của ngời dân tộc: khẩu năng chiêu họa
(trẻ ngời non dạ); tứ thái nhất thang (bốn món mặn, một món canh); vài căn nà,mạ căn trá (trâu gần ruộng, ngựa gần mạ), Tung cong bấu đẩy dú / Thú cong bấu đẩy kin (Bụng cong khong đợc ở / Đũa cong không đợc ăn) ; Đẩy kin
đừng lùm thú / Đẩy dú đừng lủm cong(Đợc ăn đừng quên đũa / Đợc ở đừng quên ơn)
- Dùng cụm từ chủ vị: khắc điêu khúy tu mạ xông khẩn (một mình một
“Thì thầm nh nói với chính mình, rồi ngồi thụp xuống, ông Quyết Định nâng
trên tay một chùm quả đậu Nâng, thoong, tham, thí, hả, xốc, chất…Một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy…Nh sợ không đảm bảo sự chính xác tuyệt đối,
ông đếm số quả trên một cây đậu bằng chính thứ tiếng Tày mẹ đẻ của ông ”[11,tr.83] Qua cách dùng số từ (bằng tiếng địa phơng) hiện lên hình ảnh mộtngời lãnh đạo -ông Quyết Định gần gũi với cuộc sống dân nghèo, đồng thờitrong niềm vui ông vẫn không quên tiếng của dân tộc mình, ông vẫn dùngcách đếm đó nh một niềm vui, nh một sự tự hào…
Trang 19Hay lúc khác trong cả câu dài nhà văn cũng đã chêm vào đó một từ địa
phơng: “Nhiều đêm, nồi cháo bắc lên rồi, ông Đồng mới nai nịt áo quần, đi
tay không lên rừng, leo lên từng cây gu bắt chim ngủ đêm về nấu ăn xíu dề
kia ” [11,tr.182]
Nh vậy, xen kẽ trong những trang tiểu thuyết, nhà văn Ma Văn Kháng đã
sử dụng những từ địa phơng của các tỉnh miền núi phía Bắc (tiếng Mông, tiếngTày, tiếng Giáy) Có đợc vốn từ địa phơng nh vậy là do ông đi nhiều, viếtnhiều.Đi đâu ông cũng cóp nhặt, cũng quan sát, cũng ghi chép để rồi ông
“ních” những chất liệu từ cuộc sống vào trong “ngăn kéo” của mình Nhiềungời bảo Ma Văn Kháng là ngời “ có của ăn của để” vì lúc nào ông cũng
“rủng rỉnh” về ngôn ngữ và vốn sống Thật vậy, sử dụng một mật độ vừa phảicác từ địa phơng, qua đó, ngời đọc dờng nh cảm nhận đợc vốn từ ngữ phongphú của nhà văn Ma Văn Kháng cũng nh làm tăng sự hiểu biết, thích thú chochính mình khi tiếp nhận cuốn tiểu thuyết này Đọc tác phẩm ngời đọc dờng
nh đợc tri nhận rất nhiều “vốn”: vốn từ, những hiểu biết trong nét nghĩ của
ng-ời dân tộc( thông qua các tục ngữ, thành ngữ dân tộc)…
2.2.2 Sử dụng thành ngữ, tục ngữ
Thành ngữ, tục ngữ là sự chiêm nghiệm đúc kết từ ngàn đời nay của ôngcha xa Nó có cấu trúc đơn giản lại đợc diễn đạt bằng những từ ngữ, hình ảnhgần gũi với cuộc sống con ngời nên nó thờng dễ nhớ, dễ hiểu, nó tránh đợc sựtối nghĩa Thành ngữ, tục ngữ là sự cô đúc, sự rút gọn từ chính con ngời, từchính cuộc đời, nên đó còn là một cách triết lý về cuộc đời của ông cha ta Từ
điển thuật ngữ ngôn ngữ học định nghĩa thành ngữ là “cụm từ hay ngữ cố định,bền vững, có tính nguyên khối Về ngữ nghĩa không nhằm diễn đạt trọn một ý,một nhận xét nh tục ngữ mà nhằm thể hiện một quan niệm dới một hình thứcsinh động, hàm súc”
Và nhà văn Ma Văn Kháng đã rất tài tình khi sử dụng các thành ngữ, tục
ngữ vào tiểu thuyết Một mình một ngựa.
a Đặc điểm về cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ:
Qua khảo sát, chúng tôi chia ra hai nhóm:
Nhóm 1: Dùng nguyên câu, gồm:
- Lợc giắt trâm cài.
- Xuôi chèo mát mái.
Trang 20- Tung cong bấu đẩy dú.
Thú cong bấu đẩy kin
(Bụng cong không đợc ở Đũa cong không đợc ăn)
- Cờ ngoài bài trong
- Cày thuê cuốc mớn
Trang 21- Ba cây chụm lại nên non
Chỉ với 370 trang mà có đến 56 thành ngữ, tục ngữ đợc sử dụng (cha kểqua lời thoại nhân vật), chiếm 15,1% Đây là một tỉ lệ tơng đối lớn làm tăngtính minh xác cho lời trần thuật, đồng thời đảm bảo tính khách quan trong câuchuyện
b Xét về nội dung thể hiện
Thành ngữ, tục ngữ đợc vận dụng trần thuật trong tiểu thuyết của Ma VănKháng rất linh hoạt và có sự biến hóa.Tùy vào từng trờng hợp cụ thể mà nó
đem đến những ý nghĩa, nội dung khác nhau
Trang 22- Thể hiện sự tình:
Để miêu tả về sự lạc hậu nghèo nàn cuộc sống ở Pha Linh nhà văn đãthông qua hình tơng cụ thể là chủ nhiệm Sùng A Mang để thể hiện điều đó
Trong con mắt của Toàn: “thấy nó đúng với hình dung của mình qua lối văn
dùng ngay cái thân tàn ma dại của mình làm công cụ trực quan để diển tả
cuộc sống của chủ nhiệm Sùng A Mang ở hội nghị Mờng Thông ngày nào.”
[11,tr.127] "Thân tàn ma dại" chính là cách nói hình ảnh về thân hình tiều tụy, ốm yếu, trông thảm hại Nh vậy, thành ngữ “thân tàn ma dại” đã nói lên
đợc sự khắc nghiệt của con ngời cuộc sống ở vùng đất Pha Linh
Hay khi nói về vai trò của ông Duyễn trong các cuộc họp ở O tròn, tácgiả đã đề cao nhân vật này Nhà văn xem ông là ngời thực sự có tài năng trong
việc điều khiển những cuộc họp: “ có lúc cãi nhau í om, có khi ông nói gà bà
nói vịt , cũng không sao " ” Ông nói gà bà nói vịt " gợi không khí mỗi ngời một
phách, không thống nhất, không ăn nhập đợc với nhau Chỉ với thành ngữ nàycũng đã phần nào cho thấy những cuộc họp hội nghị kém hiệu quả, kém chấtlợng của ban thờng vụ ở một tỉnh miền núi một thời
- Thể hiện tính cách nhân vật:
Khi xây dựng hình tơng nhân vật ông Quyết Định, Ma Văn Kháng đãkhắc họa những nhân vật này nh: khiêm nhờng kiên định, vì công việc tậpthể…đã có bài giới thiệu về tiểu Ngời đọc dễ dàng nhận biết đợc tính cách ấy thông qua cách dùng từ
của tác giả Thật vậy, đó là hình ảnh một con ngời: “Không nịnh nọt mọi ngời.
Không nao núng, dao động Bí th tỉnh ủy lúc này tởng nh một cá thể cô độc,
nhng ngoài mềm trong cứng thật sự là một linh hồn thép, một lập trờng kiên
định, trớc sau nh một”[11,tr.46].Trong công việc là vậy, trong cuộc sống
riêng t ông Quyết Định cũng thể hiện là ngời rất yêu vợ mình dù ông có ít thời
gian dành cho gia đình: “ Yên yêu dấu của anh ơi, em hãy đi cùng anh đến tận
góc bể chân trời nhé, em yêu”[11,tr.239] "Góc bể chân trời" chỉ nơi xa xôi
cách biệt Qua đây, thể hiện tình yêu thủy chung, gắn bó của ông Quyết Địnhvới ngời vợ của mình – Yên dù trong bất cứ trong hoàn cảnh nào
Hay có khi cũng với thái độ trân trọng con ngời Duyễn dù có nhiều hạn
chế nhng cũng hiện lên: ông Duyễn không phải là ng“ ời thông minh sắc sảo,
năng động nhng ông chịu thơng chịu khó Ông biết nhờng nhịn ông biết điều
Trang 23hòa công việc” [11, tr.283] "Chịu thơng chịu khó" chính là sự vợt lên hoàn
cảnh của con ngời
Góp thêm giọng điệu hài h ớc, dí dỏm
Nhân vật Trần Quàn – Bí th thị ủy Đồng Cam nhng lại là một tên du thủ, duthực, dâm đãng Đây là một trong hai nhân vật “kỳ hình dị tớng” của tiểu
thuyết Một mình một ngựa Nhiều khi, khi kể về nhân vật này, ngời kể chuyện
vẫn cố ý xen vào đó những thành ngữ nhằm góp phần mua vui cho ngời đọc.Thật vậy, Trần Quàn trớc khi là Bí th Cam Đồng từng làm chuyện xấu là
“chiếm đoạt” vợ bạn Vì nhanh nhẹn, khéo léo, nắm vững kỹ thuật, chiến thuậtnên Quàn vào làm huyện đội cán sự, tập sự Và Quàn cũng đã đợc khuyên:
“Con gái đàn bà thích thì thích thật nhng nó hay hại đàn ông, nó không thơng
đàn ông bằng cơm gạo đâu Gần gụi nó ít thôi Lòng vả nh lòng sung Thằng nào chẳng giống thằng nào, nhng mày không khéo chùi mép để con nào nó ểnh bụng ra thì ăn đòn của tao đấy” 11, tr.147 Qua lời kể của ông Duyễn
thì “ vào độ tuổi 30, Quàn phát tiết một cách không kiềm chế bản năng phóng
dục Vẫn chứng nào tật ấy, thấy đàn bà con gái nh quạ thấy gà con Nhìn đàn
bà con gái là dán mắt vào ngực vào hông ngời ta ở Bản Viền, anh ta tán tỉnh cùng lúc cả cô Rin và Múi, hai chị em cùng một tiểu đội ở Là Dìn Thàng, Quàn gạ gẫm vợ chủ tịch xã ở Pao Mao Chải, d luận nói anh ta đã ngủ với một bà góa và làm cô cấp dỡng ngời Xá mang thai Còn ở Sín Mần, Quàn sờ soạng một lúc cả mời cô trong tiểu đội nữ dân quân.ở Quang Kim dân bắt quả tang lúc tối trời vừa tan buổi học, Quàn co kéo một cô tên là ỏn, nữ dân
quân, vào một bụi rậm bên đờng”.11,tr.151 "Chứng nào tật ấy" là thành
ngữ nhằm chỉ những thói quen xấu cứ lặp đi lặp lại mà không sửa đợc TrầnQuàn dù đã đợc nhắc nhở vẫn không thay đổi bản tính của mình, vẫn là một “quái trạng tình dục, thói dâm đãng”.Thế mà sau này chính hắn lại trở thành Bí
th thị ủy Cam Đồng Nh vậy, trong một câu văn trần thuật chỉ với thành ngữ
"chứng nào tật ấy" đợc sử dụng dã vừa khắc họa đợc tính cách nhân vật vừa
tạo đợc sự hài hớc cũng pha chút ngậm ngùi trong giọng điệu trần thuật
Nh vậy, thành ngữ, tục ngữ trong lời văn trần thuật ở tiểu thuyết Một
mình một ngựa đợc dùng với tỷ lệ tơng đối lớn (15,1%) Tác giả đã rất linh
hoạt trong cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ, có khi dùng nguyên câu, lúc khác
Trang 24lại chỉ dùng một bộ phận trong câu ( có từ chêm xen, đảo trật tự, chỉ dùng mộtyếu tố của thành ngữ) Thông qua cách sử dụng các thành ngữ, tục ngữ này,các lớp nhân vật trong tác phẩm dần hiện lên một cách sinh động Ông Quyết
Định hiện lên với vẻ đẹp thủy chung, kiên định trớc sau nh một với cách mạng, với đồng bào với cả ngời vợ của mình Toàn – ngời th ký nhạy cảm tâm
đầu ý hợp với ông Ông Văn Hiến với thân hình thấp bé nhẹ cân lại là con
ng-ời láu tôm láu cá Chịu thơng chịu khó là một phẩm chất đáng trân trọng của
ông Duyễn Trần Quàn, Bí th thị ủy Đồng Cam lại là một tên du thủ du thực.
Nh vậy, thành ngữ, tục ngữ làm cho nhân vật trong tiểu thuyết hiện lên mộtcách sinh động và đầy đặn hơn Trong khi đó nếu không dùng thành ngữ, tụcngữ thì nhân vật của Ma Văn Kháng cha thể và không thể có đợc sự sinh động
đó Thật vậy, nh ta đã biết tính cách nổi trội của ông Duyễn là chịu thơng chịu
khó Nhng khi tác giả không dùng thành ngữ này mà lại dùng cách diễn đạt
khác : Ông Duyễn là ngời rất biết nín nhịn, chịu đựng trong mọi hoàn cảnh thì cách diễn đạt này dài dòng mà không cô đúc Tóm lại, với cách dùng thànhngữ, tục ngữ thì sau khi gấp trang sách ngời đọc vẫn nhớ và có thể nắm bắtngay những đặc điểm nội trội của nhân vật
Đồng thời, dùng hình thức thành ngữ, tục ngữ trong lời văn trần thuật đãgóp phần làm tăng tính minh xác cho lời kể vừa tạo sự sinh động trong câuchuyện
2.2.3 Sử dụng các điển tích, điển cố, giai thoại
Ngoài ra Ma Văn Kháng cũng đã rất thành công khi sử dụng các điểntích, điển cố, giai thoại của văn học Việt Nam cũng nh văn học nớc ngoài.Nhân vật Toàn khi bắt gặp một rừng trúc cũng đã nhớ ngay một câu thơ
cổ: "Kìa! Một rừng trúc óng vàng hay một bức sơn mài vang lộng ánh kim?
Lắng nghe nh thấy mỗi đốt trúc đang cất tiếng tiêu bay vi vút, Toàn ngẩn ngơ
nhớ tới câu thơ cổ: Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng" [11,tr.132] Câu thơ
vừa cho thấy sự hiểu biết sâu rộng của Toàn hay chính anh cũng chính là mộtcon ngời ngay thẳng nh chính cây trúc kia?
Có thể nhận thấy một điều rằng, khi nói về tính cách nhân vật Ma VănKháng rất thờng xuyên sử dụng các điển tích, điển cố, giai thoại Với cáchdùng nh vậy làm cho các nhân vật hiện lên sinh động và giàu hình ảnh Chẳnghạn, khi ông Duyễn nhận xét về Trần Quàn, Ma Văn Kháng đã so sánh tính
cách của Trần Quàn có nét giống với Trơng Phi: "Khi thì gầm gào nh Trơng
Trang 25Phi trên cầu Tràng Bản "[11,tr.141] Đó là tính nóng nảy, mạnh mẽ của Trần
Quàn có phần giống nhân vật Trơng Phi trong tiểu thuyết “ Tam quốc diễn
nghĩa” của La Quán Trung Lúc khác nhà văn lại sử dụng tích đại trợng phu
Lạn Tơng Nh nhịn nhục cái ngông ngạo của tớng quân Liêm Pha nớc Triệu thời Đông Chu bên Tàu để nói sự nhín nhục của ông Đồng với ông Văn Hiến.
Đây là tích Lạn Tơng Nh có công dùng mu bảo toàn đợc viên ngọc quý nên
đợc vua Triệu phong là thợng đại phu, đứng trên cả Liêm Pha đại thần Do vậyLiêm Pha tức giận, ganh ghét, thậm chí còn nói ra miệng là sẽ hãm hại NhngLạn Tơng Nh chỉ một mực nhịn nhục, đến mức các thực khách cuae Lạn đòi
bỏ ông đi Tuy nhiên sau họ mới hiểu, ông nhịn nhờng chẳng qua là do coitrọng việc nớc Bởi nếu ông và Liêm Pha là hai cây trụ cột của nớc Triệu màkhông giữ đợc hòa khí thì đất nớc sẽ suy yếu…Nh vậy khi dùng điển tích nàycũng là khi tác giả phác họa bức chân dung ông Đồng Đó là một bức chândung đẹp có tầm kiến văn, có nghĩa khí và cũng vì việc chung mà nhịn nhục,chịu đựng với ông Văn Hiến
Qua việc sử dụng các tích xa, thơ cổ vào xen kẽ trong các lời trần thuậtcàng cho thấy vốn hiểu biết phong phú của nhà văn, đồng thời làm cho cácnhân vật nổi rõ hơn trớc mắt ngời đọc
Một điều dễ nhận ra đó là trong tiểu thuyết Một mình một ngựa nhà văn
chỉ sử dụng các điển tích văn học, trong khi đó ở tác phẩm Nguyễn Huy Thiệpthì tác giả này chủ yếu sử dụng điển tích đời sống Những điển tích đời sống
ấy khiến cho tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp dày hơn, lung linh hơn và sâu sắchơn Tuy nhiên có những chỗ sự ám chỉ ấy làm văn chơng ông mất đi sự taonhã, trần trụi Trái lại, những điển tích Ma Văn Kháng dùng trong tác phẩmcủa mình là điển tích văn học, nó vừa gợi sự sâu sắc vừa tạo nên nét tao nhã,chất “hiền lành” trong tác phẩm của ông Nh vậy,cùng là điển cố nhng vớimỗi nhà văn sẽ có cách sử dụng khác nhau tùy vào phong cách tác giả và cátính sáng tạo riêng, do đó sẽ đem lại hiệu quả khác nhau
2.3 Đặc điểm câu văn trần thuật trong tiểu thuyết "Một mình một
ngựa"
2.3.1 Đặc điểm về độ dài của câu văn trần thuật trong tiểu thuyết " Một mình một ngựa"
Khảo sát tiểu thuyết Một mình một ngựa, chúng tôi thấy đặc điểm khác
biệt của tiểu thuyết này trong việc tổ chức hình thức câu văn khác so với
Trang 26những nhà văn cùng thời đó là có sự đối lập giữa câu dài và câu ngắn Tác giảPhan Mậu Cảnh trong “ Lý thuyết và thực hành văn bản tiếng Việt” có sơ bộchia câu thành hai loại: Câu ngắn với độ dài 1-10 âm tiết, còn trên 10 âm tiết
đợc gọi là câu dài Riêng chúng tôi cho rằng: câu ngắn từ 1-5 âm tiết, câu dàitrên 20 âm tiết, còn loại 5-15 âm tiết là câu có độ dài trung bình
Bảng : Phân loại câu theo âm tiết
4171(100%)
Nhìn vào bảng có thể nhận thấy số câu dài đợc Ma Văn Kháng sử dụngnhiều với 1262 câu, gấp 2,23 lần so với câu ngắn
2.3.1.1 Sử dụng câu dài
Trang 27Câu dài là một dạng câu không thể thiếu trong thể loại tự sự nói chung,tiểu thuyết nói riêng, nó rất phù hợp với việc miêu tả nội tâm nhân vật, tả cảnhhay tờng thuật lại một sự việc hiện tợng nào đó Đây là dạng câu xuất hiệnnhiều trong tiểu thuyết Việt Nam từ trớc cách mạng cho đến những năm gần
đây Vì thế, sử dụng câu dài trong văn bản tiểu thuyết là thông thờng song xử
lý tần số xuất hiện của nó trong văn bản, trong các trạng huống nh thế nào đểmang sắc thái riêng thì không dễ
ở trong tiểu thuyết Một mình một ngựa nhà văn Ma Văn Kháng đã rấtdụng công khi sử dụng những câu văn dài, tạo nên sự đối lập giữa những câuvăn rất ngắn và những câu văn rất dài
Câu văn dài đợc nhà văn sử dụng trong nhiều trờng hợp khác nhau
Đó là câu văn dài sử dụng khi để miêu tả hành động của nhân vật Đây là ấn
tợng ban đầu khi Toàn gặp Yên: "Quay lại nhìn, Toàn thấy ngời phụ nữ nọ,
một vóc hình óng ả vẫn còn đứng ở mép nớc con ngòi, đang giơ tay lên cao vẫy vẫy, phía sau chị là quầng sáng một sớm mùa thu ấm áp hồng hồng nh trang điểm" (46 âm tiết) 11,tr.9 Hay lúc khác khi diễn tả hành động “nhìn”
ông Quyết Định của Toàn tác giả viết: "Ngẩng lên nhìn ông Quyết Định, quan
sát gơng mặt ông,nghe ông nói, Toàn nhận ra, ông vẫn cố giữ phong thái điềm tĩnh, cân nhắc thận trọng thờng khi, nhng cũng rất rõ ràng là ở ông đã xuất hiện dấu hiệu mệt mỏi lấn cấn và rụt rè".11,tr.165 Câu văn trải dài với 51
âm tiết, ngoài để diễn tả hành động “nhìn” của Toàn dờng nh ngời đọc cònthấy đợc sự quan tâm của anh với ông Quyết Định( Toàn nhận ra từng sự thay
đổi trên gơng mặt ông bí th tỉnh ủy) Đây cũng chính là điều dễ hiểu khi Toàn
đợc tác giả giới thiệu là ngời nhạy cảm, anh hiểu nỗi lòng và nhũng tâm sự sâukín của ông Quyết Định
Cũng để miêu tả cảnh vật thiên nhiên tác giả đã viết: "Bên đờng, những bụi
cây chó đẻ già đã khô nỏ, để hở những vòm rỗng không bên dới, trong khi trên ngọn cây những chùm hoa xanh lơ màu phấn đua nở cuống quýt mà vẫn rng r-
ng buồn" (40 âm tiết) 11,tr.15
Đặc biệt, bức tranh thiên nhiên của đại ngàn nh mở rộng, trải dài trớc mắt
ng-ời đọc hơn khi Ma Văn Kháng đã dùng câu văn với 45 âm tiết để miêu tả nó:
"Hàng ngàn hàng vạn, hàng ức, những đại thụ đô lực sĩ thân tròn một ngời ôm
không xuể san sát nhau nh đũa trong rọ, cây chen cây, cành giao cành, tranh
đua và nơng tựa nhau, xanh um một thế trận trùng trùng".11, tr.133