Ảnh hưởng của mức bón đạm đến số hạt trên quả của các giống vừng 71 Bảng 3.14a.. Vừng ở Nghệ An chủ yếu được trồng ở các huyệnđất cát ven biển Diễn Châu 3.050ha, Nghi Lộc 3.303 ha, Quỳnh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
- -NGUYỄN THỊ THẮM
Nghiên cứu xác định mức bón phân đạm thích hợp cho các giống vừng trên đất cát pha ven biển
Nghệ An trong vụ Xuân năm 2011
TểM TẮT KHểA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH: NễNG HỌC
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
- -Nghiên cứu xác định mức bón phân đạm thích hợp cho các giống vừng trên đất cát pha ven biển
Nghệ An trong vụ Xuân năm 2011
TểM TẮT KHểA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH: NễNG HỌC
Lớp: 48K2 – Nụng học Người hướng dẫn: ThS Nguyễn Tài Toàn
KS Cao Thị Thu Dung
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Thực tập tốt nghiệp là thời gian để người sinh viên có điều kiện rèn luyện tính
tự lực, độc lập trong suy nghĩ, bổ sung những kiến thức mới mẻ từ thực tiễn, nâng cao trình độ lý luận chuyên môn Tiếp tục rèn luyện đạo đức tác phong, quan điểm phục vụ của người cán bộ khoa học kỹ thuật
Để hoàn thành luận văn này tôi xin cam đoan:
+ Trong quá trình nghiên cứu, bản thân luôn nhiệt tình với công việc
+ Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực
+ Kết quả nghiên cứu của bản thân có được là nhờ sự giúp đỡ tận tình củahai giáo viên hướng dẫn thầy giáo Th.S Nguyễn Tài Toàn và cô giáo K.S Cao ThịThu Dung
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được cảm ơn và cácthông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ nguồn gốc
Vinh, tháng 7 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thắm
Trang 4LỜI CẢM ƠN!
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài khoá luận tốt nghiệp tôi luôn nhận được
sự giúp đỡ tận tình chỉ bảo của các thầy cô giáo trong khoa Nông Lâm Ngư, TrườngĐại học Vinh và bạn bè gần xa
Hoàn thành luận văn này cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Th.S.Nguyễn Tài Toàn và K.S Cao Thị Thu Dung đã nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốtquá trình thực hiện đề tài Đặc biệt thầy và cô luôn động viên khuyến khích vàmang đến cho tôi niềm tin, lòng say mê nghiên cứu khoa học
Xin chân thành cảm ơn thầy K.S Đinh Bạt Dũng và cô Đậu Thị Kim Chung
đã hướng dẫn tôi trong việc phân tích các chỉ tiêu sinh hóa
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ khoa Nông Lâm Ngư, tổ bộ mônNông Học và phòng thí nghiệm, thư viện đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi hoànthành khoá luận
Để hoàn thành được khoá luận này, tôi còn nhận được sự động viên, hỗ trợrất lớn về vật chất, về tinh thần của gia đình, bạn bè Tôi xin trân trọng biết ơnnhững tình cảm cao quý đó
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 7 năm 2011
Nguyễn Thị Thắm
Trang 5MỤC LỤC
1.3.3 Nghiên cứu phòng trừ cỏ dại, sâu bệnh và công nghệ sau thu
1.4.2 Tình hình sản xuất, năng suất và sản lượng vừng ở Việt Nam 25
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
Trang 62.3 Vật liệu nghiên cứu 28
2.6.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây và chiều cao cây cuối cùng 32
2.6.5 Theo dõi tính chống chịu trên đồng ruộng của các giống dưới các
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
3.2 Sự sinh trưởng của một số tính trạng hình thái theo thời gian của
Trang 7và năng suất của dòng các giống và dòng vừng nghiên cứu
Trang 8BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.2 Động thái tăng trưởng chiều cao của các giống vừng dưới các mức
Bảng 3.7b Ảnh hưởng của mức bón đạm đến tình hình sâu, bệnh hại của
Bảng 3.8a Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của phân đạm tới chiều
Bảng 3.8 b Ảnh hưởng mức bón đạm đến chiều cao cây cuối cùng của các
Bảng 3.9a Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của phân đạm tới đường
Bảng 3.9b Ảnh hưởng của mức bón đạm đến đường kính thân của dòng vừng
Bảng 3.10a Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của phân đạm đến chiều
Bảng 3.10b Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến chiều dài quả của các
Bảng 3.11a Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của phân đạm và giống
Bảng 3.11b Ảnh hưởng của mức bón đạm và giống khác nhau đến số hoa trên
Bảng 3.12a Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của phân đạm đến số
Bảng 3.12b Ảnh hưởng của giống và các mức đạm bón cho cây đến số quả 69
Trang 10cuối cùng của các giống
Bảng 3.13a Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của phân đạm đến số
Bảng 3.13b Ảnh hưởng của mức bón đạm đến số hạt trên quả của các giống vừng 71
Bảng 3.14a Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của phân đạm đến khối
Bảng 3.14b Ảnh hưởng của mức bón đạm đến khối lượng 1000 hạt
Bảng 3.15a Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của các mức bón đạm
Bảng 3.15b Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến năng suất cá thể
Bảng 3.16a Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của các mức bón đạm
Bảng 3.16b Ảnh hưởng của mức bón đạm đến năng suất lý thuyết của các giống 79Bảng 3.17a Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của các mức bón đạm
Bảng 3.17b Ảnh hưởng của mức bón đạm đến năng suất thực thu của các giống 82Bảng 3.18 Hàm lượng protein của các giống tại các mức bón đạm khác nhau 83Bảng 3.19 Hàm lượng lipit của các giống tại các mức bón đạm khác nhau 84
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.3 Động thái tăng trưởng số lá của các giống vừng địa phương nghiên
Hình 3.4 Động thái ra hoa của các giống vừng dưới các mức phân bón đạm khác nhau 52
Hình 3.6 Trung bình về chiều cao cây của các giống dưới các mức bón đạm khác nhau 61Hình 3.7 Trung bình về đường kính cây của các giống dưới các mức bón đạm
Hình 3.8 Chiều dài quả của các giống, dòng vừng dưới các mức bón đạm khác nhau 65Hình 3.9 Số hoa/thân chính của các giống vừng dưới các mức bón đạm khác nhau 67Hình 3.10 Số quả/thân chính của các giống vừng dưới các mức bón đạm khác nhau 69Hình 3.11 Số hạt/quả của các giống vừng dưới các mức bón đạm khác nhau 71Hình 3.12 Khối lượng 1000 hạt của các giống vừng với các mức bón đạm khác nhau 74Hình 3.13 Năng suất cá thể của các giống vừng dưới các mức bón đạm khác nhau 77
Hình 3.14 Năng suất lý thuyết của các giống vừng dưới các mức bón đạm khác nhau 79Hình 3.15 Năng suất thực thu của các giống vừng dưới các mức bón đạm khác nhau 82
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tầm quan trọng và ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Vừng, Sesamum indicum L., là một trong những cây lấy dầu quan trọng ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Nó được xem là “hoàng hậu” của cây có dầu thông qua ưu điểm tuyệt hảo của dầu từ hạt vừng (Falusi O.A và cs., 2001) [21] Vừng thuộc họ Pedaliacea và chi Sesamum (Hutchison J và Dalziel 1963) [27] Chi này có 36 loài,
trong đó 19 loài có nguồn gốc ở châu Phi (Weiss 1983; Uzo 1998) [45], (Trích dẫn qua
Akpan-Iwo G và cs., 2006) [15] và chỉ có Sesamum indicum L là loại duy nhất được
sử dụng trong trồng trọt Hàm lượng dầu bình quân trong hạt vừng đạt gần 50% và biếnđộng từ 34,4 đến 59,8% (Ashri 1995) [14]
Dầu vừng, có đặc tính không bị ôxi hóa, có thể cất giữ lâu mà không bị ôi, mặtkhác nó còn có hương vị đặc thù nên được sử dụng nhiều trong ngành công nghiệpthực phẩm như sản xuất dầu ăn, bánh kẹo… Hạt vừng là nguồn cung cấp một hàmlượng các chất như mangan, đồng, canxi, magie, sắt, phốt pho, vitamin B1, kẽm, vàchất xơ cho con người Cùng với những dưỡng chất quan trọng này, hạt vừng cònchứa hai hợp chất hữu cơ độc nhất vô nhị: sesamin và sesamolin Cả hai chất nàyđều thuộc nhóm chất xơ có ích đặc biệt được gọi là lignan, và có tác dụng làm giảmcholesterol trong máu, chống cao huyết áp và tăng nguồn cung cấp vitamin E ởđộng vật Sesamin cũng được biết là có khả năng bảo vệ gan khỏi tác hại ôxi hóa
(Kato và cs., 1998) [32] Vì những công dụng này mà vừng ngày càng được sử dụng
rộng rãi và được xem là một loại thực phẩm tốt cho sức khỏe con người
Cây vừng có một số đặc tính nông học quan trọng như: phổ thích nghi rộng, chịu hạnrất tốt, thời gian sinh trưởng ngắn, phát triển được trên đất nghèo dinh dưỡng, không cầnthiết đầu tư nhiều Vì vậy, vừng thường được dùng để trồng xen vụ, đặc biệt là ở nhữngvùng đất bạc màu hoặc đất cát ven biển của các miền nhiệt đới Tuy nhiên, vừng là loạicây trồng có độ rủi ro cao, tập quán trồng vừng của người dân là ít đầu tư phân bón,thâm canh và chăm sóc dẫn đến năng suất và sản lượng thấp Do sản lượng thấp vàkhông ổn định vừng lại bị đẩy vào các vùng đất nghèo dinh dưỡng hơn và sản lượng
Trang 13lại tiếp tục bị giảm sút, điều đó làm cho một số người đánh giá thấp vị trí của câyvừng khi nghĩ rằng vừng là loại cây trồng không có tính kinh tế.
Trên thế giới, vừng được trồng với quy mô khác nhau Châu Á là một khu vựctrồng vừng tương đối lớn, các nước có diện tích vừng nhiều như Trung Quốc
3500000 ha, Nhật Bản 10026 ha, Indonexia 15620 ha…
Ở Việt Nam, diện tích gieo trồng vừng tập trung chủ yếu 2 vùng chính là vùngĐồng Bằng ven biển miền Trung và vùng đất bạc màu Hà Bắc Với tổng diện tích là
40000 ha, năng suất bình quân đạt khoảng 4,6 ta/ha Nghệ An là một trong số ít vùngchuyên canh vừng ở Việt Nam, diện tích trồng vừng ở Nghệ An năm 2002 là 10546
ha và đến năm 2004 là 9957 ha Vừng ở Nghệ An chủ yếu được trồng ở các huyệnđất cát ven biển Diễn Châu (3.050ha), Nghi Lộc 3.303 ha), Quỳnh Lưu (586 ha),…với nhiều giống vừng được trồng phổ biến, trong đó có 2 giống vừng Vàng DiễnChâu và Đen Hương Sơn là những giống vừng địa phương có nhiều đặc điểm rất tốtnhư thích nghi với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu của vùng, đòi hỏi mức đầu tư thấp
và thích hợp với kiểu canh tác quảng canh,… nhưng năng suất và hàm lượng dầu lạikhông cao Giống vừng V6 là giống vừng nhập nội có nguồn gốc Nhật Bản Đây làgiống có năng suất tương đối cao, tuy nhiên, thời gian qua quá trình canh tác đã bộc
lộ một số nhược điểm như mẫn cảm với một số loại sâu bệnh nhất là bệnh héo xanh
vi khuẩn, quá trình chọn lọc nhằm giữ giống không đảm bảo do đó độ thuần khôngcao, sản lượng không ổn định
Ở Nghệ An, mặc dù diện tích vừng chỉ chiếm khoảng 7% tổng diện tích gieo trồngnhưng giá trị hàng năm vẫn chiếm tới 15% giá trị của ngành nông nghiệp (Phan Bùi Tân
và cs., 1996) (dẫn theo Hoàng Văn Sơn, 2004 [7]) Các kết quả nghiên cứu về hiệu quả
kinh tế của việc trồng vừng so với một số cây trồng khác trong điều kiện thâm canh chothấy, ở Nghệ An năm 2002 nếu tính giá trị bán lạc 350 USD/tấn lạc vỏ, năng suất đạt1.200 kg/ha, lạc đủ tiêu chuẩn xuất khẩu Năng suất vừng 500 kg/ha, giá bán 380 USA/tạthì giá trị thu nhập 1 ngày công trồng vừng là 1,022 USA/ngày công, còn lạc là 0,736USA/ngày công Nếu vừng được thâm canh tưới nước, đầu tư giống chống chịu sâu bệnhđưa năng suất đến 800-1000 kg/ha thì lợi nhuận sẽ là 200 USA/ha, gấp đôi so với lạc
Trang 14(Trần Văn Lài và cs., 1993) [5].
Nông dân Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng đã có tập quán trồng vừng
từ rất lâu đời nhưng việc trồng trọt chủ yếu theo tập quán, kinh nghiệm mà chưa cónhững hướng dẫn mang tính hệ thống khoa học như những cây trồng khác
Theo kết quả điều tra về năng suất vừng ở vùng ven biển Nghệ An cho thấynăng suất đạt được còn thấp so với tiềm năng của giống và có xu hướng giảm dầntheo thời gian Bên cạnh các yếu tố như tập quán canh tác, kinh nghiệm sản xuất thì
có thể thấy giống và phân bón là những nguyên nhân chính dẫn đến việc năng suấtvừng đạt được chưa cao
Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về giống, phân bón cho câyvừng và đã chỉ ra được tầm quan trọng của phân bón trong việc tăng năng suất trên
đơn vị diện tích (Kalaiselvan và cs., 2002 [29]; Malik và cs., 2003) [35] Việc bón đạm
và lân đã làm tăng số quả/cây, số hạt/quả, P1000 hạt, năng suất sinh vật học, năng suấthạt, hàm lượng dầu, chiều cao cây, số nhánh cấp 1/cây và hàm lượng protein (Sinharoy
và cs., 1990 [40], Ishwar và cs., 1994 [0]; và Mankar và cs., 1995) [36] Tại Việt Nam,
những nghiên cứu về bộ giống và phân bón cho cây vừng chưa nhận được sự quan tâmđúng mức của các nhà khoa học, mới chỉ có một số nghiên cứu của Nguyễn Vy [9, 10],Hoàng Văn Sơn [7]…
Cây vừng cũng như các loại cây trồng khác đều rất cần các nguyên tố dinhdưỡng, trong đó có một lượng lớn các nguyên tố đạm, lân và kali Đạm là mộtnguyên tố quan trọng bậc nhất trong các nguyên tố cấu tạo nên sự sống Đối vớithực vật nói chung và cây trồng nói riêng, Nitơ (N2) có vai trò sinh lý đặc biệt quantrọng đối với sinh trưởng, phát triển và hình thành năng suất Nitơ có mặt trong rấtnhiều hợp chất hữu cơ quan trọng có vai trò quyết định trong quá trình trao đổi chất
và năng lượng, các hoạt động sinh lý của cây trồng
Việc nghiên cứu tìm ra giống vừng mới phù hợp với điều kiện đất đai, thời tiết, khíhậu của vùng và cho năng suất và hàm lượng dầu cao là điều cần thiết Thành công củacác nhà khoa học khoa Nông Lâm Ngư, trường Đại học Vinh đã phát triển dòng vừng
Trang 15NV10, đây là dòng vừng được chọn lọc từ tập đoàn giống vừng trong nước và nhập nộibằng phương pháp chọn lọc cá thể giúp đáp ứng được yêu cầu trên.
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu xác định mức bón phân đạm thích hợp cho các giống vừng trên đất cát pha ven biển Nghệ An trong vụ Xuân năm 2011.”
2 Mục đích và yêu cầu nghiên cứu
có khả năng thích nghi khác nhau với điều kiện sinh thái cũng như điều kiện canhtác của vùng Vì vậy cần nghiên cứu để tuyển chọn bổ sung làm phong phú đa dạngthêm về giống, mang lại giá trị kinh tế cho cây vừng
Trang 16- Phân bón là yếu tố không thể thiếu đối với bất kỳ một loại cây trồng nào, phânbón giúp cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao Nhưng để sử dụngphân bón một cách phù hợp, có hiệu quả thì chưa được nghiên cứu nhiều Sử dụngphân bón không hợp lý sẽ làm giảm năng suất cây trồng Cần nghiên cứu để đưa ramức bón hợp lý cho từng loại cây trồng nói chung và cây vừng nói riêng.
- Mỗi giống cây trồng trong điều kiện cụ thể có khả năng thích nghi khác nhau vàđối với mỗi loại đất cụ thể khả năng cung cấp dinh dưỡng khác nhau Mặt khác nhu cầucủa mỗi cây trồng khác nhau là khác nhau để đảm bảo quá trình sinh trưởng và pháttriển, cũng như tạo năng suất Đối với vừng yếu tố dinh dưỡng đạm đóng vai trò quantrọng không thể thiếu, cần có những công trình nghiên cứu về lượng đạm bón và các thời
kỳ bón cho các giống vừng để tìm ra mức bón thích hợp và hiệu quả nhất cho sự sinhtrưởng phát triển và tạo năng suất của cây
- Những nghiên cứu theo hướng này sẽ giúp cho các nhà khoa học nôngnghiệp đưa ra được lượng phân bón hợp lý cho cây trồng Từ đó có thể phổ biến cho
bà con nông dân mức bón phù hợp nhằm đạt hiệu quả kinh tế ở mức tối đa
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Người dân Nghệ An với tập quán canh tác ít đầu tư hoặc không đầu tư chovừng thì hiệu quả mang lại còn thấp so với tiềm năng Chính vì vậy từ việc nghiêncứu đề tài sẽ bổ sung vào canh tác vừng phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu củavùng
- Trong những năm gần đây nhu cầu tiêu thụ vừng trong và ngoài nước tăngcao, giá trị thương phẩm ngày một nâng lên
- Trong bối cảnh diễn biến quá trình biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay, cầnduy trì, chọn tạo và phát triển các loại cây trồng có khả năng chống chịu với điềukiện ngoại cảnh (như nắng nóng, hạn hán ), vừng là một trong những cây có khảnăng chống chịu tốt trong điều kiện nắng nóng, hạn hán ở vụ Hè Thu và được cơcấu trồng vào vụ Hè Thu là vụ chính ở khu vực Miền trung để tận dụng, đồng thờinâng cao hiệu quả sử dụng đất, hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng trong năm (lạchoặc ngô - vừng - lúa)
Trang 17- Cần có những công trình điều tra nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thốngcác giống vừng này, đặc biệt về chế độ dinh dưỡng, nhằm đánh giá đúng tiềm năng
và năng suất, những ưu điểm và hạn chế của giống để góp phần làm căn cứ khoahọc cho việc duy trì và khuyến cáo công thức phân bón tối ưu cho canh tác vừng ởvùng đất cát pha ven biển Nghệ An nói chung và huyện Nghi Lộc nói riêng Đặcbiệt khi đưa một giống mới vào thử nghiệm sản xuất thì việc đánh giá xác định nhucầu đạm trong điều kiện vùng là quan trọng và từ đó làm cơ sở để khuyến nghị mứcbón phân đạm hợp lý cho người nông dân để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất chongười dân
Trang 18Tất cả các khâu của quá trình sản xuất giống cây trồng đều nhằm mục đíchcuối cùng là tạo ra những giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt, khả năngchống chịu với các điều kiện bất thuận cũng như các đối tượng sâu bệnh hại.
Trong các khâu của quá trình sản xuất thì giống là một yếu tố hết sức quantrọng, là yếu tố đầu tư ít tốn kém, nhưng đem lại hiệu quả kinh tế lớn Tuy nhiên,nhiều loại cây trồng lại mang tính khu vực hoá cao, mọi tính trạng và đặc tính đềubiểu hiện trong những điều kiện ngoại cảnh nhất định như: đất đai, khí hậu, thời tiết
và các biện pháp kỹ thuật
Thực tế cho thấy một số giống tốt được đưa vào sản xuất qua một số năm
đã trở nên thoái hoá giữa tác động trực tiếp của điều kiện tự nhiên như: thời tiết,khí hậu và trình độ thâm canh của người dân làm cho năng suất, phẩm chất giảm
và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế Chính vì vậy, việc chọn tạo thử nghiệm và sosánh, khảo nghiệm, đánh giá một số đặc điểm nông học để tạo ra các giống ưuviệt nhất, hiệu quả kinh tế cao phù hợp với từng vùng sinh thái và khả năngchống chịu với sâu bệnh hại chính đang là vấn đề đáng quan tâm hiện nay củacác nhà chọn giống
Không chỉ giống mà yếu tố kỹ thuật cũng đóng vai trò không kém phầnquan trọng, việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật như thế nào là vấn đề không thểxem nhẹ bởi trong quá trình sinh trưởng, phát triển và tạo năng suất thì yêu cầu
Trang 19các mức đầu tư khác nhau Đặc biệt việc cung cấp dinh dưỡng cho cây cần phảiđúng đủ và kịp thời.
1.1.1.1 Vai trò của Nitơ đối với đời sống cây trồng
Tỷ lệ Nitơ trong cây biến động trong phạm vi 0,5% (rơm rạ) đến 6% (bèo hoadâu), trong hạt biến động từ 0,8 – 1,2% (hạt thóc) đến 5,5 – 7,5% (hạt đậu tương)trọng lượng khô Giữa các bộ phận trong cây tỷ lệ Nitơ giảm dần theo thứ tự sauđây: hạt > lá > thân > rễ
Nitơ là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với cơ thể sống vì Nitơ là thành phần
cơ bản của prôtêin - chất biểu hiện có sự sống tồn tại
Nitơ là thành phần của các enzym - chất xúc tác sinh học, khiến cho các quátrình sống trong cây có thể thực hiện được trong điều kiện áp suất và nhiệt độ bìnhthường trong cơ thể sống
Nitơ nằm cùng với Photpho trong ADN và ARN, nơi khu trú các thông tin ditruyền của nhân bào
Nitơ là thành phần của diệp lục, nơi thực hiện các phản ứng quang hợp
Nitơ kích thích sự phát triển của bộ rễ, giúp cây trồng huy động mạnh mẽ cácchất khoáng khác trong đất
Do vậy Nitơ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của cây.Nitơ được xem là yếu tố có ảnh hưởng gần như là quyết định đến năng suất vàchất lượng sản phẩm
Cây hút Nitơ từ đất chủ yếu dưới dạng NO3- và NH4+ kết hợp với các xêtô axit,hình thành trong quá trình hô hấp, tạo thành axit amin và prôtêin
Do vậy khi bón nhiều Nitơ mà điều kiện khử NO3- không thuận lợi (thiếu vilượng cần cho hoạt động của men chuyển hoá chẳng hạn), Nitơ trong cây tồn tạinhiều dưới dạng NO3- không tốt cho người tiêu thụ sản phẩm Quá trình quang hợpkhông cung cấp đủ gluxit và quá trình hô hấp không cung cấp đủ xêtô axit cho cây,Nitơ trong cây lại tồn tại nhiều dưới dạng NH4 độc cho cây
Trang 20Cây hút Nitơ nhiều thì cũng hút nhiều các nguyên tố khác Bón nhiều Nitơcũng phải bón nhiều nguyên tố khác một cách cân đối mới có sản lượng cao, phẩmchất tốt
1.1.1.2 Đặc điểm của cây vừng
Đặc tính thực vật học của cây vừng
Vừng là cây thân thảo, thời gian sinh trưởng ngắn, từ 75-120 ngày nên trồngđược trong nhiều vụ trong một năm
* Rễ: Vừng có rễ cọc nhưng hệ thống rễ chùm rất phát triển Trên rễ cái đâm
ra nhiều rễ cấp 1, trên rễ cấp một đâm ra rễ cấp 2… Thời kỳ cây con, rễ cái sinhtrưởng tương đối nhanh hơn rễ bên, nhưng thời kỳ bắt đầu ra hoa thì ngược lại Kiểusinh trưởng của bộ rễ có mối quan hệ với điều kiện sinh thái, cho nên bộ rễ sinhtrưởng ở vùng khí hậu khô và nóng có khí hậu ẩm có khác nhau, ở vùng khí hậu khôthì hệ thống rễ phát triển nhanh, mạnh nhất đối với kiẻu cây có cành, còn kiểu cây ítcành, đơn thân thì yếu hơn Kiểu rễ cọc của cây vừng ở kiểu đơn cành phát triểnnhanh hơn ở kiểu nhiều cành, trong khi đó thì rễ chùm của kiểu nhiều cành lại pháttriển nhanh hơn
Sự phát triển của bộ rễ phụ thuộc rất nhiều vào tính chất, ở đất cát thì bộ rễphát triển mạnh hơn ở đất sét Nơi đất có độ ẩm cao thì bộ rễ lại phát triển kém Khigặp úng thì vừng sẽ dễ bị chết So với nhiều loại cây trồng khác thì bộ rễ của câyvừng phát triển chậm hơn, do đó mà khi gieo trồng vừng cùng lúc với cây khác thì
nó dễ bị các cây đó cạnh tranh làm cho sinh trưởng của vừng kém đi
* Thân và cành: Cây vừng thuộc loại thân thảo, thẳng, mặt ngoài thường cónhiều lông Mặt cắt của thân thường có hình vuông và có bốn rãnh sâu Các rãnhnày thay đổi tuỳ thuộc điều kiện ngày dài và mật độ quần thể của cây Nếu quan sát
kỹ mặt ngoài của thân cây thì sẽ thấy nó có ba loại khác nhau là loại thân nhẵn, loạicây có lông nhưng thưa và loại có nhiều lông Mật độ thưa dày của lông trên thân cóliên quan mật thiết đến tính chịu hạn của vừng
Chiều cao của thân cây thay đổi theo giống, môi trường và điều kiện trồngtrọt, thông thường từ 60 -120 cm, tuy nhiên cũng có những giống thấp hơn 60 cm và
Trang 21cao hơn 120 cm Trên thân có từ 25 - 50 lóng, độ dài lóng từ 3 - 12 cm Thườnggiống chín muộn thân cây cao, lóng dài hơn giống chín sớm.
* Lá: Lá vừng mọc cách và mọc đối Lá có nhiều hình dạng khác nhau và thayđổi tuỳ theo giống và vị trí trên cây Lá thường có hình trứng, hình tiêm hoặc hìnhthuôn dài, ở một số giống những lá dưới thấp có phân thuỳ, thậm chí có thể mọcthành cụm lá nhưng các lá phía trên cao thì thường nhọn, không phân thuỳ, mép lá
xẻ răng cưa không theo quy luật Lá vừng không có lá kèm phân bố dọc thân, cành
và sắp xếp không thống nhất Đa số giống mọc đối hoặc phía gốc mọc đối, phíangọn mọc cách, trường hợp cá biệt có giống lá mọc cách hoàn toàn hoặc phía gốcmọc cách, phía ngọn mọc đối Các lá ở vị trí phía dưới của thân thường to hơn các
lá phía trên Kích thước lá rất thay đổi từ 3 - 17cm và chiều dài của cuống lá từ 1 - 5
cm Lá có màu xanh thẫm và có sự thay đổi tuỳ thuộc vào độ màu mỡ của đất, khiquả đã chín lá sẽ chuyển sang màu vàng Trên mặt lá có lông tương tự màu lông củathân, cành và nhiều hay ít tuỳ thuộc vào giống và có chất nhờn Các khí khổng cótrên mặt lá có mật độ khác nhau tuỳ thuộc từng giống Múi lá có sự thay đổi khácnhau tuỳ theo độ dài của ngày và thời gian gieo trồng Số lá trên cây có sự tươngquan với độ dài của ngày Đối với các giống thuộc nhóm chín sớm và trung bình thì
sự tương quan đó càng chặt chẽ hơn
* Hoa: Hoa được mọc từ nách lá trên vị trí của thân và cành, số đốt trên trênthân mang hoa đầu tiên kể từ đất là đặc điểm di truyền của giống, có tương quanchặt chẽ giữa độ cao đóng quả, độ cao cây và năng suất Vừng có hai loại hoa là hoađơn và hoa chùm Trên nách của mỗi lá có thể ra 6 - 8 hoa Hoa đơn là đặc điểmtrội, có cuống hoa ngắn và mọc đối Đài hoa có 5 thùy nông, hình sợi và có lôngmềm Tràng hoa chia ra 5 thùy hình ống, hoa có hình chuông, dài khoảng 3 cm với
2 môi hoa yếu ớt, 3 tràng ở phía dưới liên kết lại tạo thành môi dưới
Thời gian ra hoa có quan hệ nhiều đến giống, điều kiện thời tiết và ánh sáng.Trong thời gian ra hoa nếu gặp mưa kéo dài thì tỉ lệ đậu quả sẽ giảm đi rõ rệt.Nhưng lúc ra hoa mà không may gặp hạn hán được tưới nước thì sẽ làm cho năngsuất của vừng tăng hơn so với việc tưới ở bất kỳ thời kỳ sinh sưởng nào của cây
Trang 22* Quả: Quả của vừng thuộc loại quả nang dài, chia ra 2 phần, bên trong quảchứa nhiều hạt xếp dọc từng ngăn do các vách giả tạo thành, số hạt trên quả là yếu
tố di truyền Trên quả có nhiều lông, mật độ lông này cũng là một trong những tiêuchuẩn để phân loại giống Số quả vừng trên mỗi mắt cũng thay đổi tùy theo giống,
có giống chỉ có một quả nhưng có giống có từ 3 - 5 quả hay nhiều hơn trên mỗi mắt
Số quả trên cây là đặc điểm di truyền của giống đồng thời cũng có quan hệ với sốhoa trên cây và tỷ lệ đậu quả, có những giống chỉ có 8 - 9 quả trong thời gian 9 ngày
và đạt được trọng lượng khô tối đa ở 27 ngày sau khi hoa nở
Quả dài từ 2 - 8 cm, rộng 0,5 - 2 cm, có 4 - 12 ngăn Chiều dài của quả có mốitương quan với số hạt trong quả và mật độ gieo trồng nhưng không tương quan vớikhối lượng của hạt
Quá trình chín của quả vừng diễn ra từ gốc lên ngọn như quá trình ra hoa trước
đó Khi quả đã chín già, nó sẽ tự tách ra theo các vách ngăn hạt và hạt sẽ rời ra Đốivới những giống có vách ngăn dày thì sau khi thu hoạch, phơi đập hạt sẽ khó hơncác giống có vách mỏng
* Hạt: Trong quả vừng có rất nhiều hạt nhỏ Hạt vừng có hình thon dẹt, mộtđầu nhọn, một đầu tròn, da mặt nhẵn hoặc nhám mang nhiều vân hình nhiều cạnh vàmột đường ngôi phân đôi hạt theo chiều dọc Mầu sắc hạt thường là trắng, nâu, đen,xám, vàng tuỳ từng giống khác nhau Hạt vừng dài 2 - 4 mm, chiều rộng khoảng1,5 - 2 mm và dày khoảng 1 mm
Hạt vừng chứa nhiều dầu và hạt alơron Bình thường trong hạt vừng cókhoảng 50% dầu, 25% protein, 5% khoáng chất, 1% canxi, 3% các chất hữu cơ, 4%chất xơ và 6% thuỷ phần
Một số giống vừng ở nước ta đã được nghiệm thu cho thấy tỷ lệ dầu thấpdưới 50%, giống vừng đen có cao hơn các giống vừng vàng và nâu, hàm lượngprotein dưới 30%, bình thường khoảng 20 - 22%, nhưng lại có chỉ số axít cao làmcho chất lượng vừng thấp, giá trị kinh tế thấp và gây khó khăn trong việc bảo quản
và chế biến
Trang 23Thời gian chiếu sáng dài có tác dụng làm tăng hàm lượng dầu nhưng sự thayđổi này tối đa cũng chỉ đến 5,9%.
Yêu cầu ngoại cảnh của cây vừng
* Nhiệt độ: Vừng có nguồn gốc nhiệt đới nên ưa ấm áp Trong một thời giansinh trưởng cần nhiệt độ tương đối cao Từ thời kỳ ra hoa đến quả chín cần tổngnhiệt nhiều nhất, chiếm tới 60 - 70% Dưới điều kiện nước đầy đủ ở 20 - 250C vừngnảy mầm mạnh nhất Trên 450C hoặc dưới 150C hạt nẩy mầm chậm, trên 500C hoặcdưới 120C hạt không nẩy mầm được Suốt thời gian sinh trưởng vừng cần nhiệt độbình quân trên 200C, tốt nhất là 22 - 280C Thời kỳ hình thành dầu cần nhiệt độ cao,nhất là giai đoạn đầu nên vừng phương nam hàm lượng dầu cao hơn vừng phươngbắc
* Ẩm độ: Vừng tương đối chịu hạn và sợ ngập úng nên nước ít quá hoặc nhiềuquá đều không lợi Ẩm độ đất dưới 30% sẽ ảnh hưởng đến sự hình thành các cơquan sinh thực và phát sinh quả rỗng, hạt lép Ẩm độ không khí dưới 80% ảnhhưởng đến sự nở hoa Nhưng nhiều mưa, úng nước thì hoa rụng nhiều và phát sinh
ra nhiều hoa dị hình, giảm sản lượng và phẩm chất
* Ánh sáng: Tuy vừng thuộc nhóm cây ngắn ngày nhưng do lịch sử trồng trọtlâu đời, phân bố rộng rãi trên thế giới nên có một số giống đã chuyển từ tính ngắnngày thành tính dài ngày và trong điều kiện ngày dài cho năng suất phẩm chất tốt
* Đất đai và chất dinh dưỡng: Vừng cũng như các loại cây trồng khác đều cần 3nguyên tố dinh dưỡng chủ yếu là đạm, lân và kali; nhưng tùy thời kỳ sinh trưởngphát triển mà hút N , P, K ,với tỷ lệ khác nhau
Nhìn chung vừng hút chất dinh dưỡng mạnh từ sau thời điểm ra hoa Vừng cần rấtnhiều đạm vì đạm có tác dụng lớn đến sự sinh trưởng của cây, nhất là sau khi ra nụ.Lân xúc tiến rễ mọc khỏe, tăng sức chống hạn, tăng them hoa, quả, xúc tiến hạt phátdục và chín sớm Lân còn tham gia vào quá trình hình thành dầu Kali giúp cây sinhtrưởng phát triển tốt, cân đối, có tác dụng chuyển hóa tinh bột thành dầu Yêu cầu pHđất đối với cây vừng là từ 6 - 8 và thích hợp nhất là 6,5 - 7,5
Trang 241.1.1.3 Quá trình sinh trưởng và phát triển của cây vừng
Thời gian sinh trưởng của vừng biến động từ 75 - 125 ngày, phổ biến khoảng
75 ngày Quá trình sinh trưởng và phát triển của cây vừng được chia làm 3 giaiđoạn:
* Nảy mầm: Hạt vừng gặp điều kiện thuận lợi, sau 3 - 7 ngày là mọc Câyvừng con rất non, bé sức chống đỡ kém Nói chung, vừng mọc sau 5 ngày ra đôi láthật đầu tiên và 3 - 4 ngày sau ra đôi lá thật thứ 2, về sau cứ 2 - 5 ngày thì thêm 1 - 2
lá thật Bộ rễ của cây con phát triển yếu về sau phát triển mạnh dần và đạt đỉnh caonhất lúc vừng ra hoa Ở 210 C vừng phát triển mạnh nhất, tỷ lệ nảy mầm đạt đến99%
* Nở hoa: Sau khi mọc 1 tháng vừng bắt đầu ra hoa Trong ngày hoa nở từ 4giờ sáng đến 6 giờ chiều và ngừng nở hoa vào khoảng 7 giờ tối Trình tự hoa nởtrên cây là từ dưới lên trên, từ trong ra ngoài, những giống vừng mỗi nách lá đóng 3quả trở lên thì nở hoa có hiện tượng vượt cấp Thời gian ra hoa kéo dài khoảng 2tháng, dưới điều kiện độ ẩm 97% số hoa nở chiếm 1/3 Độ ẩm bão hoà không ảnhhưởng đến nở hoa nhưng độ ẩm dưới 80% thì hoa khó nở
* Hình thành quả: Bầu nhụy cái sau khi bắt đầu kết hạt, quả hình thành và lớndần Trong bầu nhụy mỗi ngăn có từ 20 - 30 phôi châu sau này sẽ hình thành hạt.Thời kỳ này nhu cầu nước và chất dinh dưỡng rất lớn Ánh sáng đầy đủ xúc tiến quátrình hình thành dầu, xúc tiến sự vận chuyển các chất dinh dưỡng từ lá đến quả, hạtnên cần ngắt ngọn đúng lúc, ngắt lá đúng lượng
Quả lớn nhanh từ 9 ngày sau khi nở hoa mặc dù 24 ngày quả vẫn tiếp tục pháttriển Khối lượng khô cao nhất ở 27 ngày sau khi hoa nở
1.1.2 Cơ sở thực tiễn
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có điều kiện thuận lợi cho sự sinhtrưởng và phát triển của cây vừng, và trên thực tế nó cũng đã trở thành tập quán lâuđời của người nông dân Việt Nam nói chung và nông dân Nghệ An nói riêng, nhưngtrình độ sản xuất còn rất thấp, chủ yếu là dựa vào những lợi thế và điều kiện tựnhiên về khí hậu, đất đai, sản xuất còn quảng canh nên việc đầu tư không được quan
Trang 25tâm, kỹ thuật canh tác vẫn theo phương thức truyền thống, chưa có những hướngdẫn mang tính hệ thống khoa học như những cây trồng khác Cây vừng chỉ là cây
trồng phụ và trồng sau khi thu hoạch lạc Xuân Từ năm 1994, vị trí cây vừng trong
nền nông nghiệp tỉnh Nghệ An đã được nâng lên và Nghệ An được xem là vùngtrồng vừng trọng điểm của Việt Nam
Tại Nghệ An, riêng vụ hè thu năm 2002 diện tích các loại vừng trên toàn tỉnh
là 9.957 ha, chủ yếu các huyện đát cát ven biển như Diễn Châu (3050 ha), Nghi Lộc(3303 ha) Quỳnh Lưu (586 ha) Với 3 giống vừng được trồng phổ biến: vừngvàng, vừng đen và vừng V6 Trong đó vừng vừng đen là giống địa phương còngiống vừng V6 là giống nhập nội Từ năm 1992 đến nay việc du nhập giống vừngNhật Bản như giống V6 được trung tâm khuyến nông, khuyến lâm Nghệ An chọnlọc ra từ tập đoàn giống vừng do công ty Mitsui Nhật Bản đưa vào đã thay đổi cơcấu giống vừng Nghệ An Đây là giống có năng suất tương đối cao tuy nhiên đã bộc
lộ một số nhược điểm như mẫn cảm với một số loại sâu bệnh nhất là bệnh héo xanh
vi khuẩn, độ thuần chủng của giống không được đảm bảo, sản lượng không ổn định,chất lượng giống không đồng đều
Các giống vừng địa phương có nhiều đặc điểm tốt, thích nghi với điều kiện thổnhưỡng khí hậu của vùng, đòi hỏi mức đầu tư thấp, chống chịu sâu bệnh, kiểu canhtác quảng canh, phù hợp với quy mô nông hộ sản xuất nhỏ, ít đầu tư tuy nhiên đãtồn tại nhiều năm không được chọn lọc, phục tráng, năng suất lại thấp, hàm lượngdầu không cao
Trong tình hình đó cần có những công trình điều tra nghiên cứu một cách đầy
đủ, có hệ thống các giống vừng này, đặc biệt về chế độ dinh dưỡng, nhằm đánh giáđúng tiềm năng và năng suất, những ưu điểm và hạn chế của giống để góp phần làmcăn cứ khoa học cho việc duy trì và khuyến cáo công thức phân bón tối ưu cho canhtác vừng ở vùng đất cát pha ven biển Nghệ An nói chung và Nghi Lộc nói riêng.Một vấn đề quan trọng hiện nay là tuyển chọn giống phù hợp với điều kiệnsinh thái của vùng và khuyến nghị mức phân đạm bón phù hợp để mang lại hiệu quảkinh tế
Trang 261.2 Tình hình nghiên cứu cây vừng trên thế giới
1.2.1 Nguồn gốc phân loại và đặc điểm của cây vừng
Cây vừng (Sesamum indicum L.) là cây mùa hè lá rộng như cây bông, đậu
tương, đậu xanh Nếu trồng đầu vụ có điều kiện độ ẩm cao, dinh dưỡng tốt cây cao cóthể đạt tới 1,2 - 1,8 m, ở điều kiện hạn đạt 0,9 - 1,5 m phụ thuộc vào điều kiện mưa.Một số giống vừng có một thân chính và một số giống phân cành, một số giống quảđơn và một số giống quả chùm ở nách lá, cành Giống quả đơn phù hợp nhất trongsản xuất hiện nay ở Mỹ Cây vừng nhiều lá nhưng rụng lá khi chín, bắt đầu ra hoa sautrồng 36 - 45 ngày sau trồng và kết thúc ra hoa từ 70 - 90 ngày sau trồng, số hạt trênngăn quả 70 hạt Hạt chín sinh lý từ 90 - 110 ngày và hạt khô từ 130 -160 ngày sautrồng tùy thuộc vào giống, độ ẩm, dinh dưỡng và nhiệt độ [19]
Do vừng được con người trồng trọt từ rất lâu đời nên rất đa dạng Vào năm
1967 trên một cánh đồng ở Rajasthan, Ấn Độ, D.R Langham đã tìm thấy 22 kiểu hình
khác nhau (Langham, D.R et al., 2001) [33] Bedigian và Harlan (1985) [18] cho rằng
hầu hết các địa phương của Sudan đều có những giống vừng bản địa Vào năm 1999
ở Venezuela, nơi được báo cáo có 2 giống vừng được trồng nhưng Langham đã thuthập được 11 kiểu hình khác nhau trên một cách đồng [33]
Theo Amram Ashri, cây vừng là cây có hạt lấy dầu cổ xưa nhất (Bedigian vàHarlan, 1986) và là cây trồng hàng năm quan trọng ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới
ẩm, những vùng có diện tích canh tác nhỏ Đặc biệt, hầu hết diện tích trồng vừngtrên thế giới ở các nước đang phát triển, những nước trồng vừng lớn trên thế giới là
Ấn Độ, Trung Quốc, Sudan, Negeria và Uganda Cây vừng có những đặc điểm chủyếu là thời gian sinh trưởng ngắn 70 đến 150 ngày, thông thường 100 - 120 ngày.Cây vừng có thể cao đến 2 m, là cây ra hoa trình tự liên tục đến khi chín, quả chíntách quả [13]
1.2.2 Nghiên cứu chọn tạo giống vừng
Nghiên cứu cải tiến kiểu cây của vừng bằng chọn lọc phả hệ các thế hệ phân lysau lai được H Baydar thực hiện năm 2008 Con cái ở quần thể phân ly F2 đượcphân thành 8 dạng phù hợp với tổ hợp các tính trạng số noãn/quả, số quả trên chùm
Trang 27và tập tính phân cành Chọn lọc cá thể phù hợp ở F2 và cho phân ly chọn lọc đếnthế hệ F6 Chọn lọc có thể cải tiến kiểu cây của các dòng mỗi nhóm khi kết thúc quátrình chọn lọc Một số kiểu cây như đa noãn, đơn noãn, phân cành (BMB) và đanoãn, ba noãn, phân cành (BTB) được coi là kiểu cây lý tưởng trong chương trìnhchọn giống vừng năng suất cao Trong đó các dạng năng suất thấp như 3 noãn, 4noãn và không phân cành (QTN) có hàm lượng dầu cao nhất (49,3%), dạng năngsuất cao BMB có hàm lượng dầu thấp nhất (43,2%), mặc dù vậy dạng QTN có hàmlượng acid oleic thấp nhất (36,6%) Tổng hàm lượng vitamin E biến động giữa175,6 đến 368,9 mg/kg trong hạt của cùng một dạng vừng chọn lọc, năng suất caonhất chứa hàm lượng vitamin E nhỏ hơn [23].
D Ray Langham, Glenn Smith, Terry Wiemers, và Mark Wetze năm 2006 chorằng 99% vừng trồng trên thế giới là thu hoạch bằng tay, bởi vì cây vừng thuộc câyquả nang tách vỏ khi quả khô Khi sử dụng trực tiếp các dòng này ở Mỹ 60 - 90%hạt rơi trên mặt đất Hiệp hội nghiên cứu và thương mại sản phẩm cây vừng ở Mỹ
đã phát triển các giống vừng quả không tách vỏ, các giống này có thể để quả chínkhô trên đồng ruộng [19]
Eagleton và Sandover có công trình nghiên cứu đánh giá những triển vọng cho
sự sản xuất vừng thương mại dưới điều kiện tưới nước ở miền Tây bắc Australiavào giữa những năm 80 Từ 31 dạng vừng được nghiên cứu thẩm tra, hai dạng đãđược chọn cho sự đánh giá Hnan Dun một giống của Myanma, với đặc điểm hạtmàu trắng và sinh trưởng phân nhánh đã cho sản lượng 1,2 tấn/ha Được trồng trênđất sét Cunurra có tưới nước, chín trong 105 ngày Trên đất cát Cockatoo, sản lượngcủa Hnan Dun là 1,3 tới 1,6 tấn/ha Pachequino, một giống không phân nhánh, cónguồn gốc từ Mehico, chín chậm hơn so với Hnan Dun, cho sản lượng lên tới 1,8tấn/ha trong các thử nghiệm ở trên đất sét Cunurra, và hạt có màu trắng rõ nét được
ưa thích trong việc dùng làm bánh kẹo [15]
Nghiên cứu tương tác kiểu gen và môi trường của các giống vừng đã đượcZenebe Mekonnen và Hussien Mohammed nghiên cứu với các giống vừng ở 6 địaphương Phân tích biến động của hàm lượng dầu của 20 kiểu gen qua 6 môi trường cho
Trang 28thấy sự khác nhau ở mức có ý nghĩa cao (p = 0,01) giữa các địa phương và các kiểugen Kết quả gợi ý rằng các kiểu gen phản ứng khác nhau qua các môi trường và cầnphải phân tích sự ổn định của giống khi tạo giống [44].
1.2.3 Nghiên cứu phân bón cho vừng
Theo nghiên cứu của Thiagalingham và Bennett, với lượng phân Nitơ 60kg/ha bón vào thời điểm gieo dường như là thích hợp đối với các giống như Yori
77 Khi lượng phân Nitơ được chia đôi, việc bón nitơ trước lúc ra hoa làm tăng sảnlượng nhưng bón nitơ sau khi ra hoa làm sản lượng bị sụt giảm Rất ít công trình vềphản ứng của vừng đối với phân phốt phát và những kết quả sơ bộ không mang tínhthuyết phục Về các dinh dưỡng vi lượng, bón 1 mg Bo/kg đất ở các mảnh ruộng thínghiệm thì tăng lượng quả và trọng lượng hạt trên cây nhưng bón Bo với mức caohơn làm giảm sự phát triển của rễ và tăng tỷ lệ chồi cây/rễ [23]
Sản lượng hạt và phản ứng sản lượng của vừng tới phân bón bị ảnh hưởng bởi dinhdưỡng đất, ngày gieo, giống, mật độ, khoảng cách hàng và độ ẩm sẵn có trong suốtthời gian trồng vừng Mỗi yếu tố này có thể ảnh hưởng đến yêu cầu dinh dưỡng củacây và lượng phân bón tối thích Ước tính từ sự phân tích hạt vừng được thu hoạch
ở các vùng khác nhau của Astralia thấy rằng 1 tấn hạt vừng sẽ lấy khoảng 35 - 48
kg N/ha tùy thuộc vào mức dinh dưỡng của đất đai và địa phương [16, 17]
Muhamman M.A, Gungula D.T và Sajo A.A nghiên cứu ảnh hưởng của cácmức bón đạm và lân khác nhau đến đặc điểm hình thái và năng suất vừng tại Mubi,bắc Guinea Savanna của Nigeria Thí nghiệm được tiến hành trong 2 năm 2005 và
2006, với 4 mức bón N (0, 30, 60 và 90 kg/ha) và 4 mức lân ( 0, 15, 30, 45 kg/ha)
Họ cho rằng, mức đạm bón N đã có tác động mạn mẽ tới khối lượng khô của lá,khối lượng khô của cây ở 8 tuần sau gieo và tại thời điểm thu hoạch, số quả/cây,năng suất cá thể Tại mức bón đạm 90 kg/ha và mức bón lân 45 kg/ha cho kết quảtối ưu nhất [39]
Kogram và Steer kiểm tra đặc điểm sinh lý phát triển của vừng, đặc biệt là
sự phản ứng lại với những tỷ lệ khác nhau của nitơ trong các thử nghiệm nhàkính và trên đồng ruộng Các giống Aceitera và Hnan Dun được sử dụng trong
Trang 29các thử nghiệm nhà kính và Hnan Dun trong các thử nghiệm đồng ruộng Sựcung cấp nitơ cao đẩy nhanh sự nở hoa đầu tiên nhưng kéo dài thời gian chín củaquả đầu tiên, thời gian chín được tăng lên liên quan đến sự sản sinh thêm lá vàquả Số quả là sự hạn định chính xác sản lượng hạt trên một cây, trọng lượngtừng hạt và số hạt trên một quả thì kém quan trọng hơn nhiều Trọng lượng khôcủa quả là một hàm tuyến tính của diện tích lá trên một cây và cũng tương quanchặt với sản lượng hạt, cũng như là khoảng thời gian tồn tại của diện tích látrong thử nghiệm trên đồng ruộng Sản lượng hạt tăng một cách tuyến tính khihàm lượng nitơ của cây tăng tới 1,8 gam N/cây nhưng sau đó đạt đến trạng thái
ổn định ở 2,7 gam N Sự cung cấp nitơ đã ảnh hưởng đến thành phần hóa học củahạt bằng cách tăng hàm lượng protein nhưng không có ảnh hưởng đến hàm lượngdầu và hàm lượng các thành phần khác [31]
Bón phân cho vừng tùy theo loại đất, lượng mưa và thực tế canh tác ở mỗi địaphương, theo các tác giả bón đạm phù hợp như bảng sau:
Có thể bón lót trước trồng nhưng không nên ở mức cao quá 50 đơn vị đạm,cây nhìn đẹp nhưng không cho năng suất cao, bón lót trước trồng 10 - 20 đơn vịđạm kết hợp tưới nước là phù hợp PK yêu cầu như bông, PK là then chốt cho năngsuất cao đặc biệt vùng đất chua Hàm lượng đạm trong hạt vừng cao khoảng 25%,ước tính 1 tấn hạt vừng chứa 16 - 19 kg N, thân cây 1 tấn chứa 27 kg N trả lại chođất sau khi thu hoạch là lượng phân xanh quý cho canh tác
Nghiên cứu của Malik M.A và cs., 2003 về ảnh hưởng của các mức bón đạm
và các phương pháp khác nhau gieo đến năng suất của vừng Thí nghiệm với 3 mứcbón N (0, 40 và 80 kg/ha) và 4 phương pháp gieo (gieo hàng đơn, gieo hàng đôi,gieo lỗ và gieo vãi) Kết quả cho thấy: các mức bón đạm và phương pháp gieo khácnhau có ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng , yếu tố cấu thành năng suất và năng
Trang 30suất Với mức bón đạm 80 kg/ha cho năng suất và hàm lượng dầu là lớn nhất, đạtlần lượt 0,79 tấn/ha và 45,88% [36].
El-Nakhlawy F.S và Shaheen M.A nghiên cứu về tác động của các mức bónđạm khác nhau tới năng suất, yếu tố cấu thành năng suất và hàm lượng dầu của cácgiống vừng khác nhau ở Makkah, Ả -rập Xê – út Nghiên cứu được tiến hành trong
2 năm 2007 và 2008, bố trí theo kiểu ô vuông lớn - nhỏ với 4 mức bón đạm (0, 100,
150 và 200 kg/ha) với 3 giông vừng (vừng địa phương, giống Shandaweel và giốngSudan-1) và 4 lần nhắc lại Kết quả cho thấy: đạm đã có tác động tới ngày ra hoa,chiều cao cây, số nhánh/cây, số quả/cây, số hạt/quả, năng suất hạt giống và khốilượng hạt Giống vừng địa phương năng suất lớn nhất tại 2 mức bón đạm 150 và
200 kg/ha, đạt lần lượt là 862,47 và 869,45 kg/ha Giống Shandaweel năng suất xếpthứ 2 và đạt cao nhất tại 2 mức bón 150 và 200 kg/ha, đạt lần lượt là 733,37 và729,89 kg/ha Giống có năng suất thấp nhất dưới các mức bón đạm khác nhau làgiống Sudan-1 Tuy nhiên, không tìm thấy sự tương tác giữa đạm và giống hay phânđạm, giống đến hàm lượng dầu của các giống hàm lượng dầu của các giống vừngđịa phương, giống Shandaweel và giống Sudan-1 tương đương nhau đạt lần lượt là45,37%, 45,96% và 45,80% [20]
1.2.4 Nghiên cứu kỹ thuật thâm canh cây vừng
Yeates và cộng sự đã nghiên cứu về những hệ thống làm đất và luân canh đốivới vừng ở miền Tây Bắc Australia Họ cho rằng vừng là loại cây thích hợp cho sựchuyển đổi với những cây trồng chính lấy hạt có khu vực, bởi vì ngày gieo tối thíchcủa nó rơi vào những ngày thu hoạch cây ngũ cốc (ngô và lúa miến) và đậu xanh
Họ chỉ ra rằng ít thông tin sẵn có đề cập sự luân canh của vừng và bãi cỏ bị bỏ hoánhưng cho rằng một sự luân canh giữa vừng và bãi cỏ bị hoang hoá dường nhưkhông gây ra bất cứ khó khăn nào Tuy nhiên các cây họ đậu trong các bãi bỏ hoangthích nghi với điều kiện địa phương có thể sản sinh phần lớn hạt cứng và những hạtnày có thể nảy mầm và cạnh tranh với cây vừng ở vụ tiếp theo Không có một loạithuốc diệt cỏ nào được lựa chon đã được biết đến để kiểm soát cỏ dại thuộc loại họđậu này Làm đất theo phương pháp truyền thống được ưa thích bởi các nông dân đi
Trang 31đầu trong việc trồng vừng, đó là không làm đất khi gieo vì hạt vừng quá nhỏ (dẫntheo Kang C.W., 2001 [29]).
1.2.5 Phòng trừ cỏ dại, sâu bệnh và công nghệ sau thu hoạch
Sự sinh trưởng của vừng sau khi nảy mầm chậm và vì thế cỏ dại có thể pháttriển dẫn đến sự giảm sản lượng Hiện chưa có loại thuốc diệt cỏ trước nảy mầm cóhiệu quả, vì vậy đối với sự kiểm soát cỏ dại có hiệu quả chắc chắn phải chuyển sanglớp phủ bề mặt và các loại thuốc diệt cỏ sau khi nảy mầm Martin đã đề nghị nhữngthủ tục sau đây để kiểm soát cỏ dại trong các vụ trồng vừng: 1 Sau khi trồng cómưa, áp dụng thuốc diệt cỏ vào ngày trước khi gieo vãi một lớp thực vật để cungcấp một lớp phủ bề mặt có hiệu quả 2 Gieo ở tỷ lệ cây non để diệt trừ cỏ dại 3.Phun thuốc diệt cỏ trước nẩy mầm 4 Trước khi có sự khép tán, đánh giá chắc chắnnhững thiệt hại do cỏ gây ra tại thời điểm khép tán từ việc chuyển đổi trong diệntích bề mặt lá liên quan của cỏ dại 5 Phun thuốc diệt cỏ sau khi nẩy mầm nếu thấycần thiết [33, 34]
Yeates và cộng sự đã nghiên cứu về những hệ thống làm đất và luân canhđối với vừng ở miền Tây Bắc Australia Họ cho rằng vừng là loại cây thích hợpcho sự chuyển đổi với những cây trồng chính lấy hạt có trong khu vực, bởi vìngày gieo tối thích của nó rơi vào giữa các cây ngũ cốc (lúa và lúa miến) và đậuxanh Họ chỉ ra rằng ít thông tin sẵn có đề cập sự luân canh của vừng với nhữngbãi cỏ bị bỏ hóa nhưng cho rằng một sự luân canh giữa vừng và bãi cỏ hoang hóadường như không gây ra bất cứ khó khăn lớn nào Tuy nhiên, các cây họ đậutrong bãi cỏ hoang thích nghi với điều kiện địa phương có thể sản sinh phần lớnhạt cứng và những hạt này có thể nảy mầm và cạnh tranh với cây vừng ở vụ tiếptheo Không có một loại thuốc diệt cỏ nào được lựa chọn đã được biết đến đểkiểm soát cỏ dại thuộc họ đậu này Làm đất theo phương pháp truyền thống được
ưa thích bởi vì các nông dân đi đầu trong việc trồng vừng, đó là không làm đấtkhi gieo vừng vì hạt vừng quá nhỏ [25, 26]
1.3 Tình hình nghiên cứu cây vừng ở Việt Nam
Trang 321.3.1 Nghiên cứu chọn tạo giống vừng
Ở Việt Nam, trong lĩnh vực điều tra chọn giống, vào năm 1995, đứng trước mộtthực tiễn là giống vừng V6 có hiện tượng phân ly mạnh khi được gieo trồng trên vùngđất cát ven biển Nghệ An, Phan Bùi Tân và cộng sự đã tiến hành một chương trình chọnlọc các kiều hình biến dị có năng suất cao và đã chọn và nhân được một dòng có năngsuất cao hơn giống vừng V6 và đặt tên là giống V6 - CL Đây có lẽ là công trình điều tratuyển chọn giống cây vừng duy nhất trên địa bàn Nghệ An từ trước tới nay được công bố[10, 11]
Trần Văn Lài và cộng sự (1993) đã mô tả một số đặc điểm hình thái của 5 giốngvừng, các yếu tố thời tiết ảnh hưởng đến vừng và các biện pháp kỹ thuật canh tác, phòngtrừ sâu bệnh cho cây vừng [5]
Nghiên cứu về cây vừng ở Việt Nam và nhất là ở Nghệ An được chú ý hơn khitập đoàn Kodoya của Nhật Bản đã có những hợp đồng thu mua vừng của Việt Nam,
mở ra một thị trường mới cho cây vừng Việt Nam nói chung và cây vừng của tỉnhNghệ An nói riêng Trong 2 năm 1994 và 1995, Nguyễn Vy và các cộng sự ở ViệnKhoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Viện Nghiên cứu dầu thực vật, ViệnThổ nhưỡng - Nông hoá, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nghệ An đã tiếnhành 4 vụ khảo nghiệm các giống địa phương của Việt Nam cùng với một số giốngnhập nội và đi đến kết luận các giống địa phương vừa có năng suất thấp vừa khôngđáp ứng được những tiêu chuẩn về chất lượng để xuất khẩu Trong quá trình khảonghiệm một số giống nhập nội, bước đầu các nhà khoa học đã chọn được một sốgiống có năng suất cao, chất lượng tốt đáp ứng được những yêu cầu xuất khẩu trong
đó có giống vừng V6 (hạt màu trắng) và giống vừng V36 (hạt màu đen) có nguồngốc từ Nhật Bản được xem là giống có nhiều triển vọng Giá trị kinh tế của vừng V6
và một số cây trồng khác khi canh tác trên các loại đất như đất cát ven biển, đất bạcmàu, đất bạc màu cổ, đất phù sa đã được so sánh và các tác giả đã đi đến kết luậntrên những vừng đất bạc màu hoặc đất cát ven biển thì vừng là loại cây trồng chogiá trị kinh tế cao nhất [9]
1.3.2 Nghiên cứu về phân bón và kỹ thuật thâm canh cho cây vừng
Trang 33Trần Văn Lài và cộng sự (1993) đã mô tả Trần Văn Lài và cộng sự (1993)
đã mô tả một số đặc điểm hình thái của 5 giống vừng, các yếu tố thời tiết ảnhhưởng đến cây vừng và các biện pháp kỹ thuật canh tác, phòng trừ sâu bệnh chocây vừng [5]
Hoàng Văn Sơn và cộng sự (2004) đã nghiên cứu một số đặc điểm nông họccủa một số giống vừng ở Nghệ An và thu được kết quả là: các đặc điểm về chiềucao thân, đường kính thân, số hạt trên quả và trọng lượng 1000 hạt là những yếu tốquan trọng quyết định đến năng suất vừng; độ ổn định của các chỉ số về đặc tínhnông học của các giống vừng không chỉ phụ thuộc vào giống mà còn phụ thuộc vàochế độ phân bón [7] Lê Quang Phú (2009) đã nghiên cứu xác định dung lượng mẫuthích hợp cho một số tính trạng nông sinh học, sinh trưởng và phát triển của câyvừng [6]
Từ 2003 - 2005, Nguyễn Hữu Hơn đã nghiên cứu đề tài "Khảo nghiệm các biện
pháp kỹ thuật sản xuất vừng V6 vụ hè thu an toàn và hiệu quả kinh tế cao" và thu đượckết quả là: Giải pháp kỹ thuật "cày bừa ngay sau khi thu hoạch lạc xuân, lên luống rộng1,2 m, cao 15 cm và gieo vừng ngay" vừng phát triển tốt hơn các giải pháp khác; Bónphân NPK Việt Nhật loại 16:16:8 đã có hiệu quả cao hơn so với bón phân đơn và NPKloại 5:10:3; Phương pháp bón phân: Nền "bón lót 70% + 30% bón thúc lần 1 khi vừng
4 - 5 lá" là phương pháp tốt nhất [12]
Về sự hợp tác quốc tế trong nghiên cứu cây vừng, từ năm 1997 đến năm 2000,trung tâm Khuyến nông - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nghệ An đã phối hợpvới viện Phốt phát và Bồ tạt Canada (Potash & Phosphate Institute of Canada) tiến hànhnghiên cứu dự án mang tên “Balanced fertilization for maximum economic yield insesame - based cropping systems on marine sandy soils in Nghe An provice” Kết quảnghiên cứu của dự án cho thấy với tỉ lệ bón N - P2O5 - K2O là 195 - 165 - 180kg/ha kếthợp với phân chuồng sẽ cho sản lượng cao nhất và chất lượng hạt vừng tăng đáng kể.Cũng theo kết quả nghiên cứu của công trình này thì nếu cây vừng được luân canh vớicây lạc và ngô thì sẽ cho hiệu quả kinh tế cao và cải thiện đáng kể hàm lượng chất hữu
cơ trong đất [26]
Trang 34Hiện tại, ở Việt Nam chưa có nhiều các công trình nghiên cứu đầy đủ về các biệnpháp kỹ thuật nhằm thâm canh, tăng năng suất cây vừng Các nghiên cứu về phân bónhóa học chỉ tập trung vào phân tổng hợp NPK Chưa có công trình nào nghiên cứu riêng
rẽ về ảnh hưởng của các nguyên tố N, P, K đối với sự sinh trưởng, phát triển, năng suất
và các yếu tố cấu thành năng suất cây vừng
1.3.3 Nghiên cứu phòng trừ cỏ dại, sâu bệnh và công nghệ sau thu hoạch
Về sâu hại cây vừng và côn trùng ký sinh, Nguyễn Thị Thanh, Trần Ngọc Lân(2005) đã nghiên cứu về côn trùng ký sinh trên một số giống vừng ở huyện Nghi Lộc
- Nghệ An cho thấy sâu xanh (Helicoverpa armigera Hub.) là một trong các loài sâu
hại chính trên cây vừng ở huyện Nghi Lộc, Nghệ An; tập hợp côn trùng ký sinh sâu
xanh gồm: Xanthopimlla punctata Fabr., Ichneumon sp., Brachymeria sp., Elasmus sp.1, Elasmus sp.2, Trichhomalopsis sp., Tachinidae sp trong đó Ichneumon sp.,
Brachymeria sp., Elasmus sp.2 là các loài ký sinh chủ yếu trên sâu non và nhộng sâu
xanh hại vừng [8]
Chưa có nhiều các nghiên cứu về biện pháp phòng trừ cỏ dại và sâu bệnh hạicây vừng cũng như các biện pháp thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch nhằm đảmbảo năng suất và chất lượng hạt vừng ở Việt Nam
1.4 Tình hình sản xuất và năng suất vừng
1.4.1 Tình hình sản xuất và năng suất vừng trên Thế giới
Theo FAO (2007) [24], Châu Á và Châu Phi là hai khu vực sản xuất vừng lớnnhất, chiếm 66,4% và 29,1% sản lượng vừng thế giới 30% vừng sản xuất trên thếgiới phục vụ cho xuất khẩu trong đó Châu Á và Châu Phi là 2 khu vực xuất khẩuvừng lớn nhất chiếm tỷ lệ lần lượt là 46 và 40% sản lượng vừng xuất khẩu của thếgiới Châu Á nhập khẩu vừng gấp 1,64 lần sản lượng sản xuất ra và Châu Phi chính
là khu vực đáp ứng yêu cầu đang tăng cao của thị trường Châu Á Tổng giá trị xuấtkhẩu vừng trên thế giới năm 2007 xấp xỉ đạt 1,04 tỷ USD, trong đó Châu Á và ChâuPhi cũng đạt giá trị xuất khẩu cao nhất tương ứng 545,593 và 339,146 triệu USD.Giá trị xuất khẩu vừng của Châu Đại Dương không đáng kể chỉ đạt 103 nghìn USD
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất vừng và thương mại theo khu vực
Trang 35Khu vực
Diện tích (1000 ha)
Sản lượng (1000 tấn)
Nhập khẩu (tấn)
Giá trị nhập khẩu (1000 USD)
Xuất khẩu (tấn)
Giá trị xuất khẩu (1000
Bảng 1.2 Thống kê sản lượng vừng của một số nước trên thế giới
TT Quốc gia Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
Hiện nay, tuy diện tích không nhiều nhưng vừng được trồng khắp các châu lụctrên thế giới Sản lượng vừng hằng năm đạt khoảng 2 triệu tấn
Trang 361.4.2 Tình hình sản xuất, năng suất và sản lượng vừng ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, vừng đã được trồng từ lâu đời, từ Bắc vào Nam ở đâu cũng cóthể trồng vừng, trồng trên nhiều loại đất và ở nhiều vùng sinh thái khác nhau Vừng
là loại cây trồng không kén đất, có khả năng chịu hạn tốt, thời gian sinh trưởng ngắnnên dễ luân canh với các loại cây trồng khác cũng như tăng vụ để đạt hiệu quả kinh
tế Tuy nhiên, diện tích trồng vừng còn nhỏ lẻ, chưa phân thành vùng rõ rệt, vì chủyếu là để phục vụ nhu cầu của gia đình, chưa được người dân chú trọng đầu tư, do
đó năng suất đạt được còn thấp (3 - 4 tạ/ha)
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất vừng ở Việt Nam từ năm 2000 - 2009
Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ /ha) Sản lượng (tấn)
đó giảm dần Trong những năm gần đây, diện tích trồng vừng không tăng mà duy trì
ở 46.000 ha, với năng suất trung bình đạt 5,217 tạ/ha, thấp hơn trung bình của toànthế giới (6,247 tạ/ha) Sản lượng vừng có xu hướng giảm dần từ năm 2005 do diệntích trồng vừng không được mở rộng
1.4.3 Tình hình sản xuất, năng suất và sản lượng vừng ở Nghệ An
Trang 37Nghệ An là một trong số ít vùng chuyên canh vừng ở Việt Nam Tại Nghệ
An năm 2002 nếu tính giá bán lạc 350 USD/tấn lạc vỏ, năng suất lạc đạt 1.200kg/ha, lạc đủ tiêu chuẩn xuất khẩu Năng suất vừng 500 kg/ha, giá bán 380 USD/tạthì giá trị thu nhập 1 ngày công trồng vừng là 1,022 USD/ngày công, còn lạc là0,736 USD/ngày công Nếu vừng được thâm canh tưới nước, đầu tư giống chốngchịu sâu bệnh đưa năng suất đến 800 -1000 kg/ha thì lợi nhuận sẽ là 200 USD/1 ha,
gấp đôi của lạc (Trần Văn Lài và cs., 1993).
Bảng 1.4 Tình hình sản xuất vừng ở Nghệ An một số năm gần đây
Cây vừng chính vụ được trồng ngay sau khi thu hoạch lạc Xuân Hè Quá trìnhlàm đất rất đơn giản, người dân chỉ cần cày một lần và bừa nhẹ, nhặt sạch cỏ dại là cóthể gieo ngay để tranh thủ thời vụ khoảng thời gian trồng xen kẽ trong cơ cấu cây trồng(Lạc vụ Xuân hè - vừng hè thu - lúa (ngô, khoai lang) vụ mùa
Ở Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng, tiềm năng phát triển cây vừng cònrất lớn, như diên tích gieo trồng, tăng năng suất với áp dụng các kỹ thuật canh tác tiến
bộ, sử dụng các giống mới và quản lý sâu bệnh hại Vì thế, việc nhiên cứu chọn tạo cácgiống vừng năng suất cao, cũng như các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp để khaithác hết tiềm năng sản xuất của vùng là hết sức cần thiết
Trang 381.5 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên và kinh tế Nghệ An
Nghệ An là một tỉnh thuộc bắc trung bộ, có tọa độ địa lý từ 18035’- 19030’
vĩ độ bắc và 103052’-105042’ kinh độ đông với tổng diện tích đất tự nhiên1.637.068 ha
Điều kiện khí hậu thủy văn nghiên cứu tại vùng nghiên cứu
(Nguồn: Đài khí tượng thủy văn Bắc Trung Bộ)
Nghệ An là một trong những tỉnh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, chịu ảnhhưởng mạnh của gió phơn Tây Nam gây khô nóng vào mùa hè dặc biệt là các tháng
6, 7 và tháng 8
Trang 39Chương 2
VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu 4 nội dung sau:
1 Nghiên cứu quá trình sinh trưởng và phát triển của các giống vừng dưới cácmức bón phân đạm khác nhau trên đất cát pha ven biển Nghệ An
2 Nghiên cứu khả năng chống chịu của các giống vừng dưới các mức bónphân đạm khác nhau trên đất cát pha ven biển Nghệ An
3 Nghiên cứu yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống vừngdưới các mức bón phân đạm khác nhau trên đất cát pha ven biển Nghệ An
4 Nghiên cứu và xác định lượng phân bón đạm thích hợp cho dòng vừngNV10 so với các giống 2 vừng địa phương
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ tháng 3 đến ngày 10 tháng 7 năm 2011
Địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành trên nền đất cát pha của xã Nghi Phong, huyệnNghi Lộc, tỉnh Nghệ An
Đo đếm các chỉ tiêu (độ dài quả, hạt, các yếu tố cấu thành năng suất…) vàphân tích hàm lượng lipid, protein tại phòng thí nghiệm tổ Khoa học cây trồng,khoa Nông Lâm Ngư, trường Đại học Vinh
2.3 Vật liệu nghiên cứu
Giống vừng nghiên cứu
Thí nghiệm nghiên cứu ba giống vừng có nguồn gốc như sau:
1 Dòng vừng triển vọng NV10 do Khoa Nông Lâm Ngư Đại học Vinh cungcấp, ký hiệu trong thí nghiệm là G3
2 Giống vừng đen Hương Sơn (địa phương), ký hiệu trong thí nghiệm là G1
3 Giống vừng Vàng Diễn Châu (địa phương), ký hiệu trong thí nghiệm là G2
Trang 40 Phân bón nghiên cứu
Thí nghiệm nghiên cứu 4 mức phân đạm N1, N2, N3, N4 tương ứng lần lượt
- Thí nghiệm với 3 giống vừng và 4 mức phân bón đạm
- Mức phân nền: 5 tấn PC + 60 kg P2O5 + 60 kg K2O áp dụng cho toàn bộ thínghiệm, thí nghiệm cho biến động mức bón đạm là N1= 0 kg/ha, N2= 30 kg/ha, N3=