1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ tác động của quan hệ kinh tế việt nam trung quốc đến quốc phòng việt nam

225 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác Động Của Quan Hệ Kinh Tế Việt Nam - Trung Quốc Đến Quốc Phòng Việt Nam
Tác giả Bùi Đức Anh
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Quốc Phòng
Thể loại Luận Án Tiến Sĩ
Định dạng
Số trang 225
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp này được sử dụngtrong suốt quá trình nghiên cứu luận án.- Phương pháp chuyên ngành: Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu đặc thù của kinh tế chính trị la

Trang 1

cứu của riêng tôi Các tài liệu, số liệu trích dẫn trong luận án đều trung thực và có xuất xứ rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Bùi Đức Anh

Trang 2

1.1 Các công trình khoa học đề cập đến cơ sở lý luận về sự tác động của

quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung Quốc đến quốc phòng Việt Nam 10 1.2 Các công trình khoa học đề cập đến thực trạng tác động và giải pháp phát

huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của quan hệ kinh tế Việt

1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và

những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục giải quyết 22

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT

2.1 Khái niệm, nội dung, hình thức quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung Quốc 25

2.3 Quan niệm, nội dung tác động của quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung

Chương 3 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM

3.1 Tổng quan về quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung Quốc từ năm 2008 đến nay 68 3.2 Tác động tích cực, tiêu cực của quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung Quốc

3.3 Nguyên nhân tác động tích cực, tiêu cực và những vấn đề đặt ra cần giải quyết

để phát huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của quan hệ kinh tế Việt

Chương 4 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT HUY TÁC ĐỘNG

TÍCH CỰC, HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM - TRUNG QUỐC ĐẾN QUỐC PHÒNG VIỆT NAM 145 4.1 Quan điểm cơ bản phát huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực

của quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung Quốc đến quốc phòng Việt Nam 145 4.2 Giải pháp chủ yếu phát huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực

của quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung Quốc đến quốc phòng Việt Nam 157

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

4

5

Kinh tế quân sự

Năng suất các nhân tố tổng hợp

KTQSTFP

9 Thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi

công xây dựng công trình

EPC

-Trung

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia “núi liền núi, sông liềnsông” và chính đặc điểm này là một trong những nguyên nhân làm cho QHKTgiữa hai nước sớm được hình thành trong lịch sử Theo dòng chảy thời gian,cũng như quan hệ giữa hai nước nói chung, QHKT Việt Nam - Trung Quốccũng có sự vận động với những bước thăng trầm, thậm chí cả gián đoạn Hiệnnay trước bối cảnh toàn cầu hóa, quốc tế hóa diễn ra mạnh mẽ, trên tinh thần

“Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, hướng tới những lợi ích

chung để “cùng thắng”, QHKT Việt - Trung đã được thiết lập và phát triểnlên một tầm cao mới Song hành với sự hình thành và phát triển này là sự tácđộng mạnh mẽ của QHKT hai nước đến Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực

Đối với lĩnh vực quốc phòng, trong đó có TLQP, QHKT Việt Trung đã và đang có những tác động tích cực QHKT này thúc đẩy TLKT,tiềm lực KTQS phát triển thông qua mở rộng thị trường đầu ra và đầu vàocho sản xuất, phát huy lợi thế của quốc gia, khai thác nguồn lực từ TrungQuốc; thúc đẩy tiềm lực KH&CN phát triển thông qua hợp tác KH-CN giữahai nước, đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân và lực lượng vũ trang đốivới Đảng, Nhà nước… Bên cạnh những tác động tích cực, QHKT Việt -Trung cũng có những tác động tiêu cực đến tất cả các bộ phận cấu thànhquốc phòng, trong đó có TLQP Có những tác động tiêu cực đã hiện hữu, cónhững tác động mới xuất hiện nhưng ẩn chứa mức độ tác hại không thể coithường Đồng thời, cộng hưởng sự tác động tiêu cực đó trở thành một trongnhững nguyên nhân kìm hãm sự phát triển, làm cho QHKT Việt - Trung còntồn tại những hạn chế, kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năngcũng như mong muốn của hai Đảng và Nhân dân hai nước Thời gian tới,QHKT Việt - Trung cũng như sự tác động của nó đến quốc phòng sẽ cónhững biến chuyển mới bởi nhiều yếu tố, đặc biệt trước sự “trỗi dậy”, sự

-“quật khởi” của Trung Quốc cùng những biến động của khu vực và toàn cầu

Trang 5

Vì vậy yêu cầu cơ bản, tất yếu và cấp thiết đặt ra là phải nhận diện đầy đủsự tác động này Trong khi đó hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nàođã công bố đề cập một cách hệ thống, toàn diện đến tác động của QHKTViệt - Trung đến quốc phòng Việt Nam, đặc biệt là tác động đến bộ phậnquan trọng là TLQP; thực trạng tác động của QHKT hai nước đến TLQPchưa được đánh giá đầy đủ và các quan điểm, giải pháp nhằm thúc đẩyQHKT hai nước đồng thời phát huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêucực của nó đến quốc phòng chưa được chỉ ra một cách có hệ thống, khoahọc.

Vì vậy với mong muốn thúc đẩy QHKT Việt - Trung, góp phần thựchiện thắng lợi quan điểm của Đảng “Tiếp tục đưa quan hệ với các đối tác, nhất làcác nước láng giềng, các nước ASEAN, các nước lớn, các nước bạn bè truyềnthống đi vào chiều sâu, ổn định vững chắc” [3], đồng thời phát huy hơn nữa vaitrò của QHKT hai nước cho quốc phòng trong đó có TLQP , Nghiên cứu sinh

lựa chọn vấn đề: “Tác động của quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung Quốc đến

quốc phòng Việt Nam”, làm luận án tiến sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của QHKT

Việt - Trung đến quốc phòng Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2017, từ đó đềxuất một số quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những tácđộng tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực của QHKT Việt - Trung đếnquốc phòng Việt Nam

* Nhiệm vụ:

- Luận giải cơ sở lý luận về tác động của QHKT Việt - Trung đến

quốc phòng Việt Nam

- Đánh giá thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra những vấn đề cần giảiquyết để phát huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của QHKT Việt -Trung đến TLQP Việt Nam từ năm 2008 đến 2017

Trang 6

- Đề xuất quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những tácđộng tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực của QHKT Việt - Trung đếnquốc phòng Việt Nam.

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Tác động của QHKT Việt - Trung đến quốc phòng Việt Nam

* Phạm vi nghiên cứu:

- Luận án tập trung nghiên cứu sự tác động của QHKT Việt - Trung(QHKT giữa Việt Nam với Trung Quốc không tính Ma Cao, Hồng Kông, ĐàiLoan) đến TLQP với 4 bộ phận cấu thành là: TLKT, tiềm lực CT-TT; tiềm lựcKH&CN; TLQS

- Luận án giới hạn thời gian nghiên cứu từ năm 2008 (khi Việt Nam và TrungQuốc nâng mối quan hệ hai nước lên mức quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện)đến năm 2017

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận:

Luận án được nghiên cứu dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế chính trị, kinh tế quân sự, học thuyết bảo vệ Tổquốc, chiến tranh quân đội; đường lối của Đảng về phát triển, mở rộng quan hệ kinh tếđối ngoại và củng cố quốc phòng ở nước ta hiện nay

Mác-* Cơ sở thực tiễn:

Luận án được hoàn thành trên cơ sở kế thừa một số thông tin, số liệu từ cáccông trình đã công bố có liên quan, từ các báo cáo của các bộ, ngành hàng nămcó liên quan, cùng với sự thống kê và khảo sát thực tiễn của tác giả

* Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp chung: Để thực hiện đề tài, nghiên cứu sinh sử dụng nhiều

phương pháp trong đó lấy phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Trang 7

và duy vật lịch sử làm phương pháp chung Phương pháp này được sử dụngtrong suốt quá trình nghiên cứu luận án.

- Phương pháp chuyên ngành: Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu

đặc thù của kinh tế chính trị là phương pháp trừu tượng hoá khoa học Phươngpháp này được sử dụng trong cả 3 chương khi đã gạt bỏ khỏi đối tượng nghiêncứu những yếu tố, những sự kiện, hiện tượng không ổn định, bền vững, khôngcần thiết, nắm lấy cái ổn định, cần thiết, cái bản chất về sự tác động của QHKTViệt - Trung đến quốc phòng

- Các phương pháp khác: Bên cạnh phương pháp chung và phương

pháp chuyên ngành, luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khácnhư: Thống kê - so sánh; phân tích - tổng hợp; phương pháp chuyên gia;phương pháp lô gíc - lịch sử…

+ Phương pháp thống kê - so sánh được sử dụng chủ yếu ở Chương

2 khi đánh giá thực trạng QHKT Việt - Trung và thực trạng tác động củanó đến quốc phòng

+ Phương pháp phân tích - tổng hợp được sử dụng trong cả 3 chương củaluận án nhưng chủ yếu được sử dụng ở Chương 2 để đưa ra những nhận xét,đánh giá tác động tích cực, tiêu cực của QHKT Việt - Trung đến quốc phòng

+ Phương pháp lô gíc - lịch sử được sử dụng chủ yếu ở cuối chương 2khi nghiên cứu nguyên nhân tác động tích cực, tiêu cực và những những vấnđề đặt ra cần giải quyết để phát huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêucực của QHKT Việt - Trung đến quốc phòng

+ Phương pháp chuyên gia được sử dụng trong tất cả các nội dung củaluận án, qua đó tác giả tham khảo được ý kiến của các chuyên gia giỏi về lĩnhvực nghiên cứu làm cơ sở cho quá trình xây dựng và hoàn thiện luận án

5 Những đóng góp mới của luận án

- Đưa ra khái niệm về QHKT Việt - Trung và quan niệm về tác động củaQHKT Việt - Trung đến quốc phòng Việt Nam

Trang 8

- Chỉ ra các nhân tố chi phối sự tác động của QHKT Việt - Trung đến quốcphòng Việt Nam trong đó có TLQP.

- Chỉ ra nguyên nhân tác động tích cực, tiêu cực của QHKT Việt - Trungđến quốc phòng Việt Nam từ năm 2008 đến 2017

- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp mới nhằm phát huy tác động tích cực,hạn chế tác động tiêu cực của QHKT Việt - Trung đến quốc phòng Việt Nam

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

* Ý nghĩa lý luận của luận án:

- Luận án góp phần làm rõ cơ sở lý luận về tác động của QHKT ViệtNam - Trung Quốc đến quốc phòng Việt Nam

- Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho giảng dạy và nghiên cứumôn kinh tế chính trị học Mác - Lênin ở các học viện, nhà trường trong vàngoài quân đội

* Ý nghĩa thực tiễn của luận án:

Luận án góp phần cung cấp tài liệu cho các nhà quản lý hoạch địnhchương trình, kế hoạch phát triển QHKT Việt Nam - Trung Quốc cũng nhưcủng cố quốc phòng Việt Nam

7 Kết cấu của luận án

Luận án bao gồm phần mở đầu, tổng quan nghiên cứu vấn đề có liên quanđến đề tài, 04 chương, 11 tiết, phụ lục, danh mục công trình khoa học của tác giả,danh mục tài liệu tham khảo

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Các công trình khoa học đề cập đến cơ sở lý luận về sự tác động của quan hệ kinh tế Việt Nam

- Trung Quốc đến quốc phòng Việt Nam

* Các công trình khoa học đề cập đến những vấn đề lý luận về quốc phòng Việt Nam

Bài viết “Về khái niệm chiến lược bảo vệ Tổ quốc, chiến lược quốc phòng

và chiến lược quân sự” của tác giả với bút danh P.C (1990) đăng trên Tạp chí Quốc phòng toàn dân, Số tháng 10 -1990 [85, tr.82-85] đã đưa ra các khái niệm về

chiến lược bảo vệ Tổ quốc, chiến lược quốc phòng và chiến lược quân sự từ đó đisâu phân tích về chiến lược quốc phòng trong mối quan hệ với hai chiến lược còn lạitrên Trong đó, tác giả quan niệm “Chiến lược quốc phòng là chiến lược bảo vệ Tổquốc về quân sự trong thời bình và chuẩn bị cho chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (trongcác quy mô và tình huống khác nhau)” [85, tr.82] Nội dung của chiến lược quốcphòng bao gồm, nhiệm vụ cách mạng nói chung, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc nóiriêng; bản chất, mục đích, yêu cầu và nhiệm vụ của chiến lược quốc phòng; xâydựng TLQS và SMQS thường trực trên cơ sở xây dựng tiềm lực mọi mặt của đấtnước; kết hợp chiến lược quốc phòng với chiến lược an ninh, kinh tế, đối ngoại trongnhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; kế hoạch ứng phó với các cuộc xâm lược vũ trang bộphận trong thời bình và kế hoạch động viên thời chiến, chuyển đất nước từ thời bình,sang thời chiến, chuyển kinh tế từ thời bình sang thời chiến phục vụ cho chiến tranhvà yêu cầu dân sinh trong chiến tranh (theo yêu cầu của chiến lược chiến tranh -chiến lược quân sự); lãnh đạo tổ chức thực hiện

Luận án tiến sĩ Xây dựng tiềm lực kinh tế quân sự Việt Nam trong giai đoạn hiện nay [83] của tác giả Phạm Đức Nhuấn (2002) đã đi sâu nghiên cứu

việc xây dựng tiềm lực KTQS của Việt Nam Trong đó trên cơ sở đưa ra quan

Trang 11

niệm về tiềm lực KTQS, quan niệm về xây dựng tiềm lực KTQS và phân tíchnhững đặc điểm chi phối đến tiềm lực kinh tế quân sự của nước ta, tác giả chỉ

ra những vấn đề có tính quy luật và nội dung xây dựng tiềm lực KTQS ViệtNam Theo tác giả nội dung xây dựng tiềm lực KTQS gồm xây dựng bộ phậnhiện có và bộ phận tiềm tàng Xây dựng bộ phận hiện có của tiềm lực KTQStập trung vào: Xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng; phát triển sảnxuất hàng hóa nông, lâm và ngư nghiệp phục vụ trực tiếp nhu cầu quân sự;xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế kết hợp với xây dựng kết cấu hạ tầng quânsự; phát triển ngành xây dựng cơ bản phục vụ quân sự; xây dựng hệ thốngquỹ dự trữ quốc gia về vật chất phương tiện cho quân sự; xây dựng nguồnnhân lực phục vụ cho nhu cầu quân sự Xây dựng bộ phận tiềm tàng tập trungvào: Xây dựng dây truyền công nghiệp động viên trong nền kinh tế và côngsuất dự trữ của các doanh nghiệp quốc phòng; lập kế hoạch động viên vật chấtphương tiện trong các ngành kinh tế - kỹ thuật Xây dựng nguồn nhân lựcđộng viên cho nhu cầu quân đội

Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài Nghiên cứu xây dựng tiềm lực quốc phòng trên địa bàn Tây Bắc giai đoạn mới [134] của tác giả Đỗ Bá

Tỵ (2011) đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng TLQPtrên địa bàn Tây Bắc Trong đó báo cáo đã chỉ ra quan niệm về TLQP; nhữngyếu tố chi phối đến xây dựng TLQP trên địa bàn Tây Bắc; đánh giá thực trạngxây dựng xây dựng tiềm lực quốc phòng trên địa bàn Tây Bắc từ năm 2001đến 2011 và rút ra nguyên nhân và bài học kinh nghiệm Từ những vấn đề lýluận và thực tiễn trên, báo cáo đưa ra khái niệm, căn cứ, yêu cầu, nội dungxây dựng TLQP trên địa bàn Tây Bắc giai đoạn mới; đề xuất 4 nhóm giảipháp cơ bản (các giải pháp hướng vào nâng cao các thành tố cấu thành TLQP)qua đó nâng cao TLQP trên địa bàn Tây Bắc trong giai đoạn mới

Công trình Một số vấn đề quốc phòng - an ninh trong sự nghiệp đổi mới của tác giả Bùi Phan Kỳ (2012), Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội [61] đã

Trang 12

đi sâu, làm rõ những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về các vấnđề có liên quan đến quốc phòng, an ninh đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh vậndụng sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóngdân tộc, bảo vệ Tổ quốc; nêu rõ tính tất yếu phải đổi mới quốc phòng, an ninhtrong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước hiện nay; đề cập những vấn đề cótính định hướng và giải pháp về quốc phòng, an ninh; đồng thời làm rõ mốiquan hệ giữa hai chiến lược có liên quan mật thiết tới quốc phòng, an ninh làChiến lược quốc phòng và Chiến lược bảo vệ Tổ quốc Trong đó tác giả đãluận bàn về khái niệm chiến lược quốc phòng; xác định vị trí, vai trò, chứcnăng, nhiệm vụ và nội dung chủ yếu của chiến lược quốc phòng.

Công trình Những vấn đề cơ bản cấp thiết về chiến tranh, quân đội và

sức mạnh quân sự quốc gia trong thời đại hiện nay của Học viện Chính trị

(2012) [53] được kết cấu thành 3 phần với mục đích luận giải những vấn đề

cơ bản cấp thiết về chiến tranh, quân đội và SMQS quốc gia Công trình chỉ rasức mạnh quân sự quốc gia được hiểu là mạnh tổng hợp của các nhân tố kinhtế, chính trị, tinh thần, khoa học nghệ thuật quân sự, vũ khí trang bị, lực lượngquân sự và quần chúng nhân dân Về cụ thể, sức mạnh đó bao gồm: TLKT;tiềm lực CT-TT; tiềm lực khoa học kỹ thuật hiện đại; TLQS; mối quan hệgiữa tổ chức quân sự và chế độ kinh tế, văn hóa trong SMQS quốc gia

Công trình Thời kỳ đầu chiến tranh và những vấn đề đặt ra với quốc phòng của Việt Nam của tác giả Nguyễn Đình Chiến (2014), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội [28] đã phân tích những vấn đề đặt ra đối với quốc phòng

Việt Nam thời kỳ đầu chiến tranh Trong đó, công trình tập trung vào phântích các vấn đề: Xây dựng tiềm lực, lực lượng và thế trận quốc phòng toàndân; xây dựng phương thức vận hành của quốc phòng toàn dân và chuẩn bịtác chiến phòng thủ chiến lược thời kỳ đầu chiến tranh

Luận án tiến sĩ quân sự Xây dựng tiềm lực quốc phòng của các tỉnh biên giới Tây Bắc trong tình hình mới của Nguyễn Văn Tuyển (2016), Học

viện Quốc phòng, Hà Nội [132] đề cập đến một số vấn đề lý luận về xây dựng

Trang 13

TLQP, trong đó có chỉ ra nhận thức về TLQP (đưa ra quan niệm và giải thíchTLQP, phân tích những thành tố chủ yếu của TLQP là: TLKT, TLQS, tiềmlực KH&CN và tiềm lực CT-TT), đồng thời nêu ra quan điểm của Đảng vàNhà nước về xây dựng TLQP Quan điểm của Đảng về xây dựng TLQP đượcxác định là: Coi xây dựng TLQP của đất nước là vấn đề quan trọng, tạo nềntảng cho việc củng cố, nâng cao sức mạnh quốc phòng đáp ứng yêu cầu bảovệ Tổ quốc trong tình hình mới; xây dựng TLQP toàn diện, những tập trung chăm

lo bốn tiềm lực chủ yếu là TLKT, TLQS, tiềm lực KH&CN và tiềm lực CT-TT;Xây dựng tiềm lực CT-TT phải luôn coi trọng xây dựng Đảng trong sạch vữngmạnh, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, xây dựng “thế trận lòng dân” vữngchắc làm nền tảng; trong xây dựng TLKT, Đảng chủ trương kết hợp chặt chẽ giữaphát triển KT-XH với tăng cường quốc phòng, an ninh; trong xây dựng tiềm lựcKH&CN, Đảng coi đầu tư phát triển KH&CN là nền tảng và là động lực phát triểnkinh tế - xã hội; trong xây dựng TLQS, Đảng chủ trương xây dựng TLQS mạnhgắn chặt với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Ngoài các công trình cùng các tác giả tiêu biểu trên còn có nhiều bài báo củacác tác giả khác cũng đề cập đến những vấn đề lý luận cơ bản về quốc phòng ViệtNam như: “Một vài suy nghĩ về chiến lược quốc phòng” Hoàng Minh Thảo

(1991), Tạp chí Quốc phòng toàn dân, Số 9 Tháng 9 - 1991 [104, tr.39 - 43];

“Chính sách quốc phòng - một yếu tố quan trọng góp phần nâng cao ý thức quốc

phòng toàn dân” của Nguyễn Hữu Quyền (1993), Tạp chí Quốc phòng toàn dân, Số

tháng 7 - 1993 [94, tr.25- 28] “Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh

theo chiến lược bảo vệ Tổ quốc” của Trần Thái Bình (2014), Tạp chí Quốc phòng toàn dân, Số 11/2014 [9,tr.26-29]; “Công nghiệp quốc phòng sau 30 năm

đổi mới” của Nguyễn Nhâm (2015), Tạp chí Công nghiệp quốc phòng, Số 4

-2015 [82, tr.25-29]; “Xây dựng nguồn nhân lực trong quân đội - vấn đề cấp

thiết hiện nay” của Nguyễn Đình Chiến (2015), Tạp chí Thông tin nghiên cứu chiến lược quốc phòng, Số 14 (10.2015) [29, tr.44-49] Nội dung các bài viết

Trang 14

cũng hướng vào phân tích quốc phòng trong đó có đề cập đến các nội dung nhưtiềm lực, lực lượng và thế trận quốc phòng.

* Các công trình khoa học đề cập đến những vấn đề lý luận về quan hệ kinh tế Việt - Trung và tác động của nó đến quốc phòngViệt Nam

Buôn bán qua biên giới Việt - Trung: Lịch sử - Hiện trạng - Triển Vọng

là công trình do Nguyễn Minh Hằng chủ biên (2001), Nxb Khoa học xã hội,Hà Nội [48] Ở công trình này, các tác giả cho rằng hoạt động buôn bán của

cư dân biên giới góp phần: Đáp ứng và điều tiết cung cầu của hai bên, tạo racông ăn việc làm và thu nhập cho cư dân hai bên biên giới; kích thích sản xuấtvà dịch vụ ở vùng biên giới phát triển Tuy nhiên, buôn bán qua biên giới làhình thức buôn bán dân gian, tự phát, nhiều người tham gia, nên rất khó kiểmsoát và quản lý, dẫn đến buôn lậu và trốn thuế

Công trình Các khu kinh tế cửa khẩu biên giới Việt - Trung và tác động của nó tới sự phát triển kinh tế hàng hóa ở Việt Nam của Phạm Văn Linh (2001),

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [72] cho rằng khu kinh tế cửa khẩu có vai tròquan trọng, góp phần vào: Chuyển dịch, lưu thông hàng hóa cho phù hợp do có

cơ chế, chính sách ưu đãi từ đó phát huy lợi thế về quan hệ kinh tế - thương mạicửa khẩu biên giới, thu hút các kênh hàng hóa, đầu tư, thương mại, dịch vụ và dulịch từ các nơi trong cả nước và từ nước ngoài vào nội địa; đáp ứng nhu cầu vềkinh tế cho cả sản xuất và tiêu dùng trong cả phạm vi hẹp (đáp ứng nhu cầu tạikhu vực biên giới và vùng lân cận) và phạm vi rộng (đáp ứng nhu cầu của cácvùng và địa phương trong cả nước); góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúcđẩy phân công lao động, làm cho thị trường thông suốt đồng thời khai thác tiềmnăng, thế mạnh của từng vùng thông qua lợi thế về cơ chế, chính sách, qua đóthúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển

Báo cáo Đề tài cấp Bộ Tác động của mở cửa (Nghiên cứu trường hợp thị trấn Đồng Đăng và thị xã Lạng Sơn) của Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc

gia (2001), Hà Nội [124] đã tiếp cận nghiên cứu, đánh giá sự tác động của mở cửabiên giới đối với sự phát triển kinh tế của thị trấn Đồng Đăng và Thị xã Lạng Sơn

Trang 15

trên các khía cạnh vĩ mô Xem xét sự tác động đến tăng trưởng kinh tế, công trìnhđánh giá ở: Tốc độ tăng trưởng GDP; chỉ tiêu GDP trên đầu người Đánh giá sự tácđộng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, Công trình cho rằng: “Biên giới Việt -Trung được thông thương trong bối cảnh Đảng và Nhà nước ta thực hiện đường lốiđổi mới, thị trấn Đồng Đăng, thị xã Lạng Sơn trở thành trung tâm buôn bán, trungchuyển hàng hóa quốc tế quan trọng nên các ngành thương mại, du lịch, tiểu thủ

công nghiệp cũng phát triển theo” [124, tr.41] Nghiên cứu sự tác động đến cơ cấu

kinh tế ngành, công trình phân tích sự thay đổi về tỷ trọng của ngành nông, lâmnghiệp, ngành công nghiệp, ngành xây dựng cơ bản, ngành vận tải, ngành thươngmại - dịch vụ Bên cạnh đó mở cửa biên giới còn góp phần bảo đảm thu vượt chi chongân sách địa phương, đồng thời cùng với nghiên cứu những tác động tích cực, côngtrình chỉ ra tác động tiêu cực của mở của đến phát triển kinh tế của các địa phươngnày do cạnh tranh với hàng Trung Quốc, do hoạt động đầu tư ngầm - buôn lậu cùngnhững ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên Đáng chú ý làtrước khi phân tích sự tác động kể trên, công trình đã đưa ra quan niệm và phân biệt

ba hình thức chính của thương mại qua vùng biên là: Hình thức do nhân dân sống ởven đường biên hay còn gọi là hình thức dân gian; thương mại chính ngạch vàthương mại tiểu ngạch

Công trình The ASEAN - China Free Trade Area: genesis and implication,

Australion Jounal of International Affairs, vol.58, no.2(2004) của Cheng, JosephYu-shek (2004) [147] cho rằng việc Trung Quốc sử dụng các biện pháp tăngcường lợi ích lẫn nhau và phụ thuộc lẫn nhau là cách tốt nhất để làm xói mònnhận thức của các nước ASEAN và duy trì một “quyền lực trong khu vực”

Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến tư duy và đời sống kinh tế - xã hội ở Việt Nam do Tô Xuân Dân và Nguyễn Thành Công cùng chủ biên (2006),

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [38] đã đề cập đến sự tác động hai mặt của hộinhập kinh tế quốc tế đến các nước phát triển và các nước đang phát triển Đối vớicác nước đang phát triển, tác động tích cực của hội nhập kinh tế quốc tế bao gồm:

Trang 16

Mở rộng thị trường hàng hóa, dịch vụ; thu hút nguồn vốn đồng thời tiếp nhận khoahọc kỹ thuật và công nghệ cao từ bên ngoài; làm chuyển biến cơ cấu kinh tế theohướng hợp lý, tập trung vào phát triển công nghiệp và dịch vụ, khai thác những lợithế để phát triển, nâng cao sức cạnh tranh, thoát khỏi tình trạng tụt hậu về kinh tếcố hữu; bên cạnh đó hội nhập kinh tế quốc tế còn giúp các nước đang phát triểntăng cường xu hướng liên kết, hợp tác theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa, tạothế và lực trong quan hệ kinh tế quốc tế và sự phát triển bền vững Bên cạnh tácđộng tích cực, tác động tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế đến các quốc gia đangphát triển cũng được công trình chỉ ra, đó là: Tạo ra sự bất bình đẳng trong cạnhtranh khiến cho doanh nghiệp bị thua thiệt, bị phá sản hoặc thôn tính, đồng thờinền kinh tế có thể bị ảnh hưởng trước những tác động xấu về kinh tế từ bên ngoài;hội nhập kinh tế quốc tề còn có thể làm trầm trọng thêm các hiện tượng rối loạncho nền kinh tế, gây triệt tiêu các nguồn lực bên trong; gây bị động trong hoạchđịnh chính sách, chiến lược bởi sức ép từ bên ngoài

Công trình Triển vọng thương mại Việt Nam năm 2015 trong bối cảnh ACFTA của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia - Bộ Kế hoạch

và Đầu tư (2011), Hà Nội [125] đã phân tích lĩnh vực thương mại hàng hóa của

ACFTA (Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc) đồng thời đánh giá nhữngtác động của nó tới thương mại hàng hóa Việt Nam và một số hệ lụy của những tácđộng này tới cộng đồng doanh nghiệp và tới toàn bộ nền kinh tế Việt Nam Phân tích

cơ hội đối với thương mại hàng hóa Việt Nam khi tham gia ACFTA, công trình chỉra: Việt Nam có cơ hội tiếp cận thị trường rộng lớn đầy tiềm năng; thúc đẩy thươngmại Việt - Trung phát triển Tuy nhiên bên cạnh cơ hội là thách thức đối với thươngmại Việt Nam khi tham gia ACFTA như: Tăng áp lực nhập siêu từ Trung Quốc; nguy

cơ nhập ngành hàng công nghiệp thải loại, lạc hậu, tiêu hao nhiều nguyên nhiên liệuvà không thân thiện với môi trường; gia tăng áp lực cạnh tranh đối với hàng hóa

Phát triển khu kinh tế cửa khẩu với xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Lào Cai là luận án tiến sĩ kinh tế của Giàng Thị Dung (2015), Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung

Trang 17

ương, Hà Nội [40] Công trình tập trung phân tích vai trò và thực trạng của phát triểnkhu kinh tế cửa khẩu tỉnh Lào Cai đến xóa đói giảm nghèo của tỉnh này Trong đó,trên cơ sơ hệ thống hóa, phân tích các quan niệm về khu kinh tế cửa khẩu trong cáccông trình khoa học đã được công bố, tác giả luận án đã chỉ ra sự thống nhất haynhững nội dung giống nhau trong các quan niệm, từ đó xây dựng quan niệm về khukinh tế cửa khẩu và khái niệm về phát triển khu kinh tế cửa khẩu.

Bài viết “Phát triển du lịch biên mậu tại Lào Cai, Việt Nam” của Nguyễn Phạm

Hùng (2015) trong Hội thảo: Diễn đàn phát triển xã hội lưu vực sông hồng Việt Trung lần thứ V, Vân Nam - Trung Quốc [60, tr.76-85] đã đưa ra khái niệm “du lịch

-biên mậu” Khái niệm này phản ánh một loại hình du lịch độc đáo, là sự gắn kết củahai hình thức du lịch: Du lịch biên giới và du lịch mậu dịch

Ngoài các công trình, bài viết của các tác giả tiêu biểu trên còn có cácbài báo của các tác giả khác cũng đề cập đến những vấn đề lý luận cơ bản vềnội dung tác động của QHKT Việt - Trung đến quốc phòng như: “Hội nhậpkinh tế quốc tế nhìn từ các góc độ chính trị - đối ngoại, quốc phòng - an ninh

và văn hóa xã hội” của Đoàn Mạnh Hùng (2011), Tạp chí Kiến thức quốc phòng,

Số 4.2011 [59,tr.77 - 81]; “Hội nhập kinh tế quốc tế và một số vấn đề đặt ra đối

với quốc phòng Việt Nam” của Vũ Văn Khanh (2012), Tạp chí Công nghiệp quốc phòng và Kinh tế, Số Xuân Nhâm Thìn - 2012 [61, tr.8 -11]; “Hội nhậpkinh tế quốc tế với vấn đề quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới” của

Nguyễn Vĩnh Thắng (2014), Tạp chí Công nghiệp quốc phòng và Kinh tế, Số 3

-2014 [107, tr.7 - 9]; “Tác động của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế tới sự

biến động hệ chuẩn mực đạo đức ở nước ta” của Hoàng Chí Bảo (2015), Tạp chí Lý luận và Thực tiễn, Số 20(154) - 2015 [7,tr.10 - 23]

1.2 Các công trình khoa học đề cập đến thực trạng tác động và giải pháp phát huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung Quốc đến quốc phòng Việt Nam

Trang 18

Công trình China’s Trade and Economic Ralations with CLMV của tác

giả Hao Hongmei (2008) [148] đề cập đến QHKT giữa Trung Quốc và bốnnước Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam Trong đó có chỉ ra những lợiích mà bốn nước này có được từ khi nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng vớitốc độ cao và hội nhập với nền kinh tế khu vực; nhận định về tình trạng nhậpsiêu của Việt Nam trong QHKT với Trung Quốc, đồng thời đưa ra một số giảipháp để hạn chế tình trạng này như: Tăng cường phát triển công nghiệp hỗtrợ; nâng cao khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu…

Công trình Sự trỗi dậy về kinh tế của Trung Quốc và những vấn đề đặt

ra cho Việt Nam của Nguyễn Kim Bảo (2013), Viện Hàn lâm khoa học xã hội

Việt Nam, Viện nghiên cứu Trung Quốc, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội [8] tậptrung phân tích sự trỗi dậy về kinh tế của Trung Quốc trong 10 năm đầu thế kỷXXI trên các góc độ như: Tăng trưởng kinh tế; dự trữ ngoại tệ; ngoại thương; đầu

tư quốc tế Sự trỗi dậy đó đã đặt ra những vấn đề cho Việt Nam đó là: Quan hệthương mại bất đối xứng cùng với cơ cấu xuất nhập khẩu chưa được cải thiện làmcho lợi thế so sánh của Việt Nam sẽ bị “cố định hóa”, hậu quả là Việt Nam vướngvào “bẫy mậu dịch tự do”; Việt Nam chịu áp lực từ sự chuyển đổi mô hình “chếtạo tại Trung Quốc” sang “sáng chế tại Trung Quốc” và phải đối mặt với nguy cơtăng giá đồng Nhân dân tệ Trước áp lực và sự đối mặt này nếu Việt Nam khôngcân nhắc thận trọng và có sự lựa chọn thích đáng sẽ du nhập công nghệ sản xuấtlạc hậu từ Trung Quốc; ngoài ra Việt Nam còn phải đối mặt với sự cạnh tranh phânhưởng tài nguyên của Trung Quốc với các nước trong đó có Việt Nam, đối mặt vớinhững khó khăn trong hợp tác kinh tế “Vịnh Bắc Bộ mở rộng” Sự cạnh tranh nàytác động trực tiếp tới Việt Nam khi Trung Quốc thúc đẩy phát triển kinh tế biển,nâng cao năng lực khai thác, khống chế, quản lý biển Để đối mặt với những tháchthức có hiệu quả, công trình gợi mở bước đầu những phương hướng và giải phápcho Việt Nam Các giải pháp hướng vào: Khắc phục thâm hụt thương mại Việt -Trung; hạn chế khai thác tài nguyên thô; phát triển công nghiệp phụ trợ và nângcao hiệu quả đối với các dự án nước ngoài trúng thầu

Trang 19

Sự trỗi dậy về sức mạnh mềm của Trung Quốc và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam là công trình do Nguyễn Thị Thu Phương chủ biên (2013), Viện

Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Viện nghiên cứu Trung Quốc, Nxb Từ điểnBách khoa, Hà Nội [88] Công trình chỉ ra: Ngoại giao kinh tế cũng là một trongnhững nguồn lực cấu thành sức mạnh mềm của Trung Quốc và cùng với việc pháthuy có hiệu quả những lợi thế sẵn có từ quan hệ truyền thống, thời gian qua TrungQuốc tăng cường sức ảnh hưởng, vị thế và vai trò nước lớn tại Việt Nam Sự ảnhhưởng này thể hiện ở: Lôi cuốn Việt Nam theo mô hình phát triển Trung Quốc;xây dựng hình tương nước lớn có trách nhiệm Đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế, sựchủ động trong hợp tác và tài trợ kinh tế của Trung Quốc đối với Việt Nam đãgóp phần củng cố “đối tác tốt”; thông qua hợp tác văn hóa và tăng cường truyềnthông để khuếch chương sức hấp dẫn của nền văn hóa, mở rộng sức ảnh hưởngcủa văn hóa Trung Hoa Bên cạnh đó các tác giả còn chỉ ra những hạn chế, mặttrái của việc Trung Quốc sử dụng sức mạnh mềm đối với Việt Nam như: “Thanhdanh” sức mạnh mềm của Trung Quốc đang bị phá hoại bởi tình trạng nhập siêucùng hàng hóa kém chất lượng, hàng nhái hàng giả từ Trung Quốc vào ViệtNam; các khoản viện trợ được sử dụng để vụ lợi cho riêng mình như để tiếp cậncác nguồn tài nguyên thiên nhiên, năng lượng và các lợi ích chiến lược khác Từthực trạng trên để “ứng xử” với sức mạnh mềm của Trung Quốc, nhóm tác giả đãđưa ra cả đối sách và kiến nghị Trong đó, đối sách được xác định là: Đẩy mạnhtăng cường quan hệ chính trị và ngoại giao với Trung Quốc; nghiên cứu sâu sắcvà toàn diện chiến lược phát triển của Trung Quốc trong quan hệ thương mại;trên lĩnh vực văn hóa, Việt Nam cần ứng phó hiệu quả hơn với sức xâm lấn củasức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc Đặc biệt cần tăng cường các giải pháp vềquản lý nhằm loại trừ việc du nhập tràn lan các loại sản phẩm văn hóa và sảnphẩm hàng hóa phục vụ sản xuất và tiêu dùng kém chất lượng

Bài viết “Quan hệ Việt - Trung 65 năm: Thành quả và triển vọng” của Nguyễn Bá

Lan và Chúc Bá Tuyên (2015), Tạp chí Quan hệ quốc phòng, Số quý II/2015 [65, tr.16

Trang 20

-22] đề cập đến quan hệ Việt - Trung từ năm 1991 đến 2015 trên các lĩnh vực như: Quanhệ chính trị - đối ngoại; thương mại và đầu tư; giáo dục, văn hóa, du lịch và giao lưu nhândân và hợp tác về quốc phòng - an ninh Về hợp tác quốc phòng - an ninh, bài viết nhấnmạnh những thỏa thuận được ký kết giữa hai Bộ Quốc phòng hai nước, cơ chế Đối thoạicấp Thứ trưởng cùng việc trao đổi kinh nghiệm giữa hai bên.

Nghiên cứu, đánh giá đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam là công trình của Nguyễn Đình Liêm (2015), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội

[69] Về phương diện an ninh, quốc phòng, công trình chỉ ra các hoạt độngđầu tư trực tiếp của Trung Quốc có cả tác động tích cực và tác động tiêu cực.Về mặt tích cực: Hoạt động đầu tư của Trung Quốc vừa góp phần loại trừ cácxung đột quân sự giữa hai quốc gia đã từng xảy trong quá khứ, vừa gópphần kiềm chế các xung đột, đặc biệt là xung đột quân sự có khả năng xảy ragiữa hai nước Đồng thời cũng làm cho hai quốc gia có trách nhiệm hơntrong bảo đảm an ninh, quốc phòng trước các tác nhân gây bất ổn từ bên ngoài.Về mặt tiêu cực: Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam đe dọa an ninhkinh tế của Việt Nam thông qua cạnh tranh kinh tế, tình báo kinh tế; nhiều dự ánđầu tư trực tiếp của Trung Quốc được tiến hành tại những địa điểm có vị trí cótính nhạy cảm cao về an ninh quốc phòng như Tây Nguyên, Hà Tĩnh, MóngCái đồng thời việc quản lý lao động Trung Quốc tại Việt Nam lỏng lẻo dẫn tớisự ảnh hưởng và tiềm ẩn nguy hại đến an ninh, quốc phòng Để ứng phó với đầu

tư trực tiếp của Trung Quốc nói chung và ứng phó với tác động của nó đến quốcphòng nói riêng, công trình đưa ra các giải pháp: Trước hết cần hiểu rõ tư duyđầu tư trực tiếp kiểu Trung Quốc tại Việt Nam; tiếp cận phòng ngừa trong hợptác với Trung Quốc về đầu tư và tìm cách mở rộng đầu tư sang Trung Quốc;kiềm chế tác động tiêu cực thông qua triệt để khai thác các diễn đàn đa biên hoặckhai thác những vấn đề lịch sử chưa được giải quyết dứt khoát và thỏa đáng giữahai bên như vấn đề lãnh thổ, biển đảo, tội phạm xuyên biên giới để giảm thiểuhoặc sàng lọc những quan hệ đầu tư bất lợi từ phía Trung Quốc; khai thác những

Trang 21

điểm tương đồng giữa hai bên đồng thời học tập kinh nghiệm của nước ngoàitrong ứng xử với đầu tư trực tiếp của Trung Quốc.

Vấn đề nhập siêu trong quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc là

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Bích Ngọc (2016), Viện Hàn lâm Khoa họcxã hội Việt Nam, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội [80] Ở công trình này,tác giả cho rằng nhập siêu cũng có tác động hai mặt đến tăng trưởng kinh tếcủa Việt Nam Về mặt tích cực, nhập siêu trong thương mại Việt - Trung thời gianqua đã góp phần nhất định phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước khi cơ cấu nhập khẩu có thời điểm chủ yếu là hàng tư liệu sản xuất; góp phầnvào tăng trưởng xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu; giúp chuyển dịch cơ cấungành ở một số vùng miền Tuy không đánh giá thực trạng tác động tiêu cựccủa tình trạng nhập siêu trong quan hệ thương mại Việt - Trung đến tăngtrưởng kinh tế mà chỉ đưa ra những điểm yếu kém của cơ cấu nhập khẩu vàhàng hóa nhập khẩu trong thương mại Việt - Trung, từ đó Tác giả rút ra kếtluận: “1 Sự nhập siêu này không phải từ khu vực có trình độ công nghệ cao,công nghệ nguồn mà có thể làm thay đổi cơ cấu kinh tế Việt Nam theo hướnghiện đại Điều này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế xã hội của Việt Nam

2 Việt Nam đang “bán hộ” hàng Trung Quốc sang Mỹ… vì Việt Nam chủ yếunhập nguyên, vật liệu của Trung Quốc về gia công và xuất khẩu sang EU, Mỹ,phần giá trị gia tăng có được là vô cùng ít” [80, tr.107] Để hạn chế tình trạngnhập siêu trong thương mại Việt - Trung cũng như khắc phục những điểm yếukém, tác giả cho rằng: Việt Nam cần thay đổi mô hình tăng trưởng; đổi mới vềthể chế kinh tế trong đó có đổi mới cơ chế chính sách thương mại chung và đổimới cơ chế chính sách thương mại đối với Trung Quốc; tăng cường công tácquản lý nhà nước nhằm xiết chặt, khống chế tình trạng nhập siêu từ các nướckhác, đặc biệt là từ Trung Quốc vào Việt Nam; chủ động ứng phó với xu hướngquốc tế hóa đồng nhân dân tệ

Ngoài các công trình khoa học và bài báo của các tác giả trên đề cập đếnthực trạng tác động của QHKT Việt - Trung đến quốc phòng và giải pháp phát

Trang 22

huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của QHKT Việt - Trung đếnquốc phòng, còn có những tác giả với các bài báo đề cập đến thực trạng và giải

pháp này như: Luận án tiến sĩ kinh tế Chiến lược kinh tế của Trung Quốc đối với khu vực Đông Nam Á ba thập niên đầu thế kỷ XXI của Hoàng Thị Bích

Loan (2016), Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội [73]; bài viết “Nghiên cứu vềmối quan hệ giữa thương mại Việt - Trung và tăng trưởng kinh tế của Việt Namgiai đoạn 1992 - 2013” của Phạm Minh Lý, Phạm Thị Ngân, Lê Tuấn Lộc

(2015), Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, Số 442 - Tháng 3/2015 [76, tr.41 - 50];

“Thương mại biên giới Việt - Trung: hạn chế của mô hình hiện tại và những tác

động đến nền kinh tế Việt Nam” của Vũ Hoàng Linh (2015), Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, Số 444 - Tháng 5/2015 [70, tr.71 - 77]; “Nhân tố tiêu cực trong quan hệ kinh tế Việt Nam Trung Quốc” của Đỗ Minh Cao (2011), Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc, Số 7(119) [25, tr.45 - 54]…

1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục giải quyết

* Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố

Có thể khẳng định “Tác động của QHKT Việt - Trung đến quốc phòngViệt Nam” là chủ đề được nhiều tác giả quan tâm và đề cập đến trong c áccông trình khoa học Tuy nhiên, mỗi công trình lại tiếp cận nghiên cứu chủđề ở những góc độ, những khía cạnh khác nhau tùy thuộc vào mục đíchnghiên cứu của từng tác giả Căn cứ vào nội dung có thể khái quát lại kếtquả nghiên cứu của các công trình khoa học đó như sau:

Một là, đề cập đến những vấn đề lý luận về tác động của QHKT Việt

-Trung đến quốc phòng Việt Nam:

Thứ nhất, có nhiều công trình đã đề cập và phân tích về những vấn đề

lý luận cơ bản về quốc phòng Việt Nam như: Quan niệm, đặc trưng, nội dungquốc phòng Việt Nam như tiềm lực, lực lượng và thế trận quốc phòng Trong

Trang 23

đó nhiều công đi sâu phân tích các thành tố cấu thành TLQP như TLKT, tiềmlực CT - TT; tiềm lực KH&CN, TLQS

Thứ hai, một số công trình đã đề cập đến những vấn đề lý luận cơ bản về

QHKT Việt - Trung, trong đó chỉ quan niệm về một số hình thức cụ thể củaQHKT hai nước như du lịch biên giới, mậu dịch biên giới Một số công trìnhkhác liên quan đề cập đến lý luận về nội dung tác động của QHKT Việt -Trung đến quốc phòng Việt Nam trong đó chủ yếu đề cập đến tác động tích cựcvà tiêu cực của QHKT Việt - Trung đến tiềm lực kinh tế của quốc phòng

Hai là, đề cập đến thực trạng và giải pháp phát huy tác động tích cực

và hạn chế tác động tiêu cực của QHKT Việt - Trung:

Có nhiều công trình bàn đến thực trạng tác động của QHKT Việt Trung đến quốc phòng đồng thời đưa ra các giải pháp song chủ yếu đề cập đếnthực trạng và giải pháp phát huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực củaQHKT Việt - Trung đến đến tiềm lực kinh tế của TLQP Số công trình còn lại cóbàn đến song không chỉ ra trực tiếp mà gián tiếp đề cập đến một số nội dung,khía cạnh cụ thể của sự tác động đến các tiềm lực khác cũng như đến lực lượngvà thế trận quốc phòng nhưng thiếu tính hệ thống và đầy đủ

-* Những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục giải quyết

Từ đánh giá khái quát về các công trình có liên quan đến đề tài cho thấy kết quảnghiên cứu đạt được của các tác giả trong các công trình khoa học đã được công bố là

những “dữ liệu quý giá” cho tác giả luận án học tập, kế thừa Tuy nhiên, để đạt được

mục đích nghiên cứu, luận án cần tiếp tục giải quyết 04 vấn đề chủ yếu sau:

Một là, xây dựng quan niệm về QHKT Việt Nam - Trung Quốc đồng

thời xác định đầy đủ những nội dung, hình thức của QHKT này, trong đó cócác nội dung, hình thức đặc thù liên quan đến biên giới

Hai là, xây dựng quan niệm tác động của QHKT Việt Nam - Trung

Quốc đến quốc phòng Việt Nam, chỉ ra nội dung tác động của QHKT Việt - Trungđến quốc phòng Việt Nam và đi sâu phân tích những nội dung tác động đến TLQP

Trang 24

Ba là, đánh giá đúng và đầy đủ thực trạng tác động của QHKT Việt - Trung

đến TLQP Việt Nam trong thời gian từ năm 2008 đến năm 2017

Bốn là, đề xuất quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu phát huy những tác

động tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực của QHKT Việt - Trung đếnTLQP qua đó góp phần củng cố quốc phòng Việt Nam trong thời gian tới

Kết luận chương 1

QHKT Việt Nam - Trung Quốc cũng như sự tác động của nó đến quốcphòng Việt Nam là chủ đề thu hút được sự quan tâm của cộng đồng, đặc biệtlà giới học thuật trong và ngoài nước Vì vậy, nhiều khía cạnh hay nội dungcủa sự tác động này đã trở thành vấn đề nghiên cứu của nhiều công trình, bàibáo khoa học Tuy nhiên cho đến nay, chưa có một công trình nào tiếp cậnnghiên cứu chủ đề luận án dưới góc độ chuyên ngành kinh tế chính trị để đưa

ra cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng tác động của QHKT Việt - Trung đến quốcphòng Việt Nam, trong đó có sự tác động đến TLQP và theo đó cũng chưa cócông trình nào đưa ra hệ thống quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu có tínhkhả thi để phát huy tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của QHKTViệt - Trung đến quốc phòng Việt Nam Vì vậy luận án của tác giả là đề tài độclập, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố

Mặc dù các công trình, bài báo đã công bố chứa đựng những luận cứ,những định hướng khoa học quan trọng cùng những số liệu cụ thể hữu íchcho tác giả luận án kế thừa, tuy nhiên để thực hiện được mục đích nghiêncứu đặt ra, luận án cần tiếp tục trả lời thấu đáo các câu hỏi: Về mặt lý luận,QHKT Việt - Trung là gì?; QHKT này bao gồm những nội dung và nhữnghình thức nào?; Sự tác động của QHKT này đến quốc phòng Việt Nam làgì? Sự tác động này bao gồm những nội dung nào? Về mặt thực tiễn, từnăm 2008 đến năm 2017, QHKT Việt - Trung tác động tích cực, tiêu cựcnhư thế nào đến quốc phòng Việt Nam?; thời gian tới, để phát huy hơn tácđộng tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của QHKT Việt - Trung đến quốcphòng cần phải dựa trên những quan điểm và thực hiện giải pháp gì?

Trang 25

Trình tự trả lời các câu hỏi trên cũng là trình tự hay lô gíc nghiêncứu của các chương tiếp sau trong luận án và kết quả trả lời các câu hỏinày có thể xem là những đóng góp của luận án vào làm sáng rõ hơn chủđề rất đáng được quan tâm là QHKT Việt - Trung và sự tác động của nóđến quốc phòng Việt Nam

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA QUAN HỆ KINH TẾ

VIỆT NAM - TRUNG QUỐC ĐẾN QUỐC PHÒNG VIỆT NAM 2.1 Khái niệm, nội dung, hình thức quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung Quốc

2.1.1 Khái niệm quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung Quốc

Quá trình phát triển lực lượng sản xuất của nền kinh tế thế giới kéotheo nó là sự phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc Thực chất của sựphân công này là quá trình chuyên môn hóa đối với từng loại sản phẩm cho mỗiquốc gia, là quá trình tập trung việc sản xuất, cung cấp một hoặc một số loại sảnphẩm và dịch vụ vào một quốc gia nhất định, dựa trên những lợi thế của quốc giađó Vì vậy, mỗi quốc gia cần có sự hợp tác với quốc gia khác, chủ thể kinh tế khác.QHKT đối ngoại được hiểu là “toàn bộ quan hệ kinh tế của một quốc gia nhất địnhvới “bên ngoài” (các quốc gia, các tổ chức kinh tế quốc tế, các liên kết kinh tế vàcác công ty xuyên quốc gia, các công ty đa quốc gia”[62, tr.18]

Việt Nam là một quốc gia độc lập, là một chủ thể của nền kinh tế thế giới.Vì vậy, theo xu thế chung, nền kinh tế Việt Nam cũng cần mở rộng liên kết hợp tácvới các quốc gia và các chủ thế kinh tế khác, trong đó có Trung Quốc Ngoài cơ sởhình thành QHKT đối ngoại nói chung là phân công lao động quốc tế, QHKT Việt

- Trung còn được hình thành trên cơ sở những lợi ích mà hai bên mong muốn đạt

được trong mối quan hệ này Theo tác giả: QHKT Việt Nam - Trung Quốc được hiểu là một bộ phận QHKT đối ngoại của Việt Nam, bao gồm các hoạt động hợp tác về kinh tế giữa Việt Nam với Trung Quốc, được hình thành và phát triển trên cơ

Trang 26

sở phát triển lực lượng sản xuất, phân công lao động quốc tế và những lợi ích mà hai bên hướng tới

Quan niệm này cho thấy, QHKT Việt - Trung là một bộ phận cấu thànhQHKT đối ngoại của Việt Nam, bao gồm nhiều hoạt động kinh tế giữa hai nước.Nội dung, phạm vi của các hoạt động kinh tế này trước hết phụ thuộc vào sự thỏathuận giữa hai bên thông qua ký kết các văn bản pháp lý như: Hiệp định thươngmại biên giới Việt - Trung; Hiệp định hợp tác KH&CN hai nước; Hiệp định hợptác về giao thông vận tải giữa hai nước…

Là một bộ phận của QHKT đối ngoại Việt Nam nên QHKT Việt Trung cũng có cơ sở hình thành là sự phát triển lực lượng sản xuất, phân cônglao động quốc tế Bên cạnh đó, QHKT này còn được hình thành dựa trênnhững lợi ích kinh tế mà hai bên hướng tới Đối với Việt Nam, mục tiêu trongQHKT với Trung Quốc không nằm ngoài mục tiêu chung là nhằm mở rộngthị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,văn minh Đối với Trung Quốc, chiến lược kinh tế của nước này đối với ViệtNam được xác định dựa trên nền tảng Lý luận kinh tế đối ngoại của Đặng Tiểu

-Bình, Lý luận Xã hội hài hòa của Hồ Cẩm Đào, chính sách Mục lân, an lân, phú lân của Ôn Gia Bảo và Khái luận Mộng Trung Hoa của Chủ tịch Tập Cận Bình;

được cụ thể hóa trong Chính sách láng giềng tốt và Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm năm lần thứ 10, 11, 12 của Trung Quốc và được thể hiện thông quamột số khía cạnh như: Mở rộng giao thương, kết nối với Việt Nam giúp TrungQuốc vươn dài tầm ảnh hưởng của mình đến các nước trong khối ASEAN, mởrộng thị trường, tạo nguồn cung, đặc biệt là nguyên liệu, năng lượng cho nềnkinh tế vốn đang thâm dụng nhiều tài nguyên; thông thương, mở rộng QHKT với

-Việt Nam còn tạo điều kiện, cơ sở quan trọng thực hiện chiến lược “Đại khai phát miền Tây”, thực hiện trọng tâm liên quan đến tổng thầu (đây là một trong

bốn trọng tâm trong chiến lược “đi ra ngoài” của Trung Quốc)…

Trang 27

2.1.2 Nội dung, hình thức của quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung Quốc

Là một bộ phận QHKT đối ngoại của Việt Nam, QHKT Việt - Trungcũng được thực hiện với các nội dung cơ bản như: Quan hệ thương mại;quan hệ về đầu tư; hợp tác KH&CN; quan hệ về dịch vụ thu ngoại tệ…Tuy nhiên, do là QHKT đối ngoại giữa hai quốc gia có chung đường biêngiới nên các hình thức hợp tác thể hiện nội dung QHKT hai nước có sự đadạng, phong phú hơn Sự đa dạng, phong phú về hình thức trong QHKTViệt - Trung có thể tiếp tục được mở rộng với sự phát triển của lực lượngsản xuất, quy mô của nền kinh tế cùng sự chủ động, sáng tạo của hai bên

Một là, quan hệ về ngoại thương:

Ngoại thương trong QHKT Việt - Trung là sự trao đổi, mua bán hàng hóa,dịch vụ giữa Việt Nam với Trung Quốc Nội dung này được tiến hành theo các hìnhthức chung của mua bán hàng hóa quốc tế và hình thức thương mại biên giới

Theo Khoản 1, Điều 1 Nghị định số 187/2013/NĐ-CP của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài xác

định “hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, bao gồm các hoạt động xuất khẩu,nhập khẩu; tạm nhập, tái xuất; tạm xuất, tái nhập; chuyển khẩu; các hoạt động ủythác và nhận ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu; đại lý mua, bán, gia công và quá cảnhhàng hóa” [32] Quan hệ ngoại thương giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng đượctiến hành với các hình thức này Bên cạnh đó, là quốc gia láng giềng của nhau nêntrong ngoại thương hai nước xuất hiện một hình thức đặc thù là thương mại biêngiới Khoản 1, Điều 1 Hiệp định thương mại biên giới giữa Chính phủ nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoaký tại Bắc Kinh ngày 12 tháng 9 năm 2016 xác định: Thương mại biên giới là chỉhoạt động thương mại của doanh nghiệp hoặc thương nhân và cư dân biên giớiđược tham gia xuất nhập khẩu hàng hóa tại khu vực biên giới hai nước theo quyđịnh của pháp luật mỗi nước Giữa hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa của cư

Trang 28

dân biên giới với buôn bán biên mậu có sự khác nhau Nếu như chủ thể kinhdoanh của hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới là cư dânbiên giới, có hộ khẩu thường trú tại các khu vực tiếp giáp biên giới với các nướccó chung biên giới được mua bán, trao đổi các mặt hàng phù hợp với quy định vềhàng hoá thương mại biên giới thì chủ thể kinh doanh của buôn bán biên mậu làcông dân Việt Nam (bao gồm cả cư dân biên giới) Xét về chính sách thuế, kiểmdịch: Đối với hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới thì hànghoá do cư dân nước có chung biên giới sản xuất nhập khẩu vào Việt Nam dướihình thức mua, bán, trao đổi của cư dân biên giới được miễn thuế nhập khẩu nếugiá trị hàng hoá đó không quá 2.000.000đồng/1 người/1 ngày/1 lượt và không quá

4 lượt/1 tháng Bên cạnh đó do số lượng hàng hóa không nhiều nên ít bị kiểm travề kiểm dịch động thực vật cũng như sự kiểm soát của hải quan, bộ đội biênphòng mỗi khi đi qua cửa khẩu; đối với buôn bán biên mậu thì hàng hoá thươngmại biên giới phải được nộp thuế và các lệ phí khác theo quy định của pháp luậtViệt Nam và được hưởng các ưu đãi về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng hoáqua biên giới theo các thoả thuận song phương giữa Chính phủ Việt Nam vàChính phủ nước có chung biên giới đồng thời hàng hóa phải được kiểm dịch độngthực vật, an toàn vệ sinh thực phẩm và tiêu chuẩn, chất lượng, phải chịu sự kiểmtra của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành trước khi thông quan

Hai là, quan hệ về đầu tư: Là nhà đầu tư Trung Quốc bỏ vốn ra sang

đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn ra sang đầu

tư kinh doanh ở Trung Quốc

Các hình thức trong quan hệ về đầu tư Việt - Trung bao gồm:

Đầu tư trực tiếp: Là hình thức trong đó nhà đầu tư Trung Quốc trực tiếpđầu tư vào các dự án ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam trực tiếp đầu tưvào các dự án ở Trung Quốc Đây là hình thức đầu tư mà quyền sở hữu và sửdụng, quản lý vốn của chủ thể đầu tư thống nhất với nhau Nghĩa là nhà đầu

Trang 29

tư trực tiếp tham gia công tác tổ chức, quản lý và điều hành dự án đầu tư vàchịu trách nhiệm về kết quả, rủi ro trong kinh doanh và thu lợi nhuận

Đầu tư gián tiếp: Là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư Trung Quốc đầu tưvào Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam đầu tư sang Trung Quốc thông quaviệc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tưchứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu

tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư

Ba là, hợp tác KH&CN: Đây là tổng thể các hoạt động hợp tác về

KH&CN giữa Việt Nam với Trung Quốc

Nội dung này có các hình thức như: Chuyển giao sản phẩm, thành tựuKH&CN; đào tạo, bồi dưỡng nhân lực KH&CN; trao đổi kinh nghiệm vềKH&CN, về tăng cường tiềm lực KH&CN; hợp tác phát triển các tổ chức, cơ sởKH&CN; hợp tác cùng nghiên cứu thực hiện các dự án về KH&CN…

Bốn là, hợp tác dịch vụ thu ngoại tệ Nội dung này bao gồm các hình thức:

Dịch vụ du lịch: Đây là hình thức phổ biến trong QHKT đối ngoại nói chungvà trong QHKT Việt - Trung nói riêng Đáng lưu ý là hai quốc gia láng giềng nêntrong nội dung này xuất hiện các loại hình du lịch đặc trưng là du lịch biên giới và dulịch biên mậu Du lịch biên giới là một hình thức du lịch được phân loại dựa theo đặcđiểm hoạt động của địa lý điểm du lịch Du lịch biên giới vẫn mang bản chất củahoạt động du lịch, chỉ khác là địa điểm để triển khai các hoạt động du lịch ở đây làkhu vực gần với điểm chấm dứt chủ quyền về mặt lãnh thổ của một quốc gia có hoạtđộng thương mại biên giới sôi động Du lịch biên mậu là hoạt động du lịch tại cáckhu vực mậu dịch biên giới, kết hợp mua sắm, tham quan trải nghiệm tại những khuvực mậu dịch biên giới với việc tham quan, tìm hiểu thưởng thức văn hóa biên mậu,văn hóa truyền thống và cảnh đẹp thiên nhiên vùng biên, được tổ chức bởi các công

ty du lịch hoặc do du khách tự tổ chức Như vậy về thực chất du lịch biên mậu là sựkết hợp của hai hình thức du lịch: Du lịch biên giới và du lịch mậu dịch (du lịchmua sắm, du lịch đi chợ, chơi chợ)

Dịch vụ vận tải: Là hình thức chuyên chở hàng hóa và hành khách giữa

Trang 30

Việt Nam và Trung Quốc Nó bao gồm các hoạt động như: vận tải biển, vậntải đường sắt, đường bộ, đường không

Dịch vụ xuất khẩu lao động: Là hình thức Việt Nam đưa người laođộng và chuyên gia sang Trung Quốc làm việc hoặc ngược lại khi nước bênkia có nhu cầu về lao động Xuất khẩu lao động bao gồm xuất khẩu lao độngtại chỗ và ra nước ngoài

Các hình thức dịch vụ khác: dịch vụ bảo hiểm quốc tế, dịch vụ thôngtin, bưu điện, dịch vụ kiều hối, dịch vụ tư vấn, dịch vụ cung ứng tầu biển,

2.2 Những vấn đề cơ bản về quốc phòng Việt Nam

2.2.1 Quan niệm, nội dung quốc phòng Việt Nam

* Quan niệm về quốc phòng, quốc phòng Việt Nam

Xây dựng gắn liền với bảo vệ Tổ quốc là quy luật tồn tại và phát triển củadân tộc Việt Nam Khẳng định và vận dụng quy luật này, Đảng Cộng sản ViệtNam xác định: “Trong khi đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội,chúng ta không một chút nơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, luôn coi trọng QP-

AN, coi đó là nhiệm vụ chiến lược gắn bó chặt chẽ” [42, tr.39] Theo Từ điểnBách khoa quân sự việt Nam, quốc phòng là:

Công cuộc giữ nước của một quốc gia, gồm tổng thể các hoạtđộng đối nội và đối ngoại về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa,khoa học,… của Nhà nước và Nhân dân để phòng thủ đất nước,tạo nên sức mạnh toàn diện, cân đối, trong đó sức mạnh quân sựlà đặc trưng nhằm giữ được hòa bình, đẩy lùi, ngăn chặn các hoạt

động gây chiến của kẻ thù và sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức và qui mô [129, tr.848].

Pháp điển hóa, khái quát ngắn gọn quan niệm về quốc phòng, Luật Quốcphòng của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam số 39/2005/

QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 xác định: “Quốc phòng là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó sức mạnh quân sự

Trang 31

là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt” [75, tr.6]

Sách Trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2009 xác định:

Quốc phòng Việt Nam là nền quốc phòng toàn dân, bao gồmtổng thể các hoạt động về chính trị, kinh tế, ngoại giao, quân sự,văn hóa, khoa học… của Nhà nước và Nhân dân để tạo nên sứcmạnh toàn diện, cân đối, đồng bộ, trong đó sức mạnh quân sự làđặc trưng, lực lượng vũ trang là nòng cốt, nhằm giữ vững hòabình, ổn định đất nước, ngăn chặn các hoạt động phá hoại, gâychiến, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, đồng thời đánh bại chiếntranh xâm lược dưới mọi hình và quy mô [22, tr.33]

* Nội dung quốc phòng Việt Nam

Quốc phòng Việt Nam bao gồm ba nội dung hay ba yếu tố cấu thành cơ bảnlà: TLQP; lực lượng quốc phòng và thế trận quốc phòng

TLQP là khả năng về vật chất và tinh thần ở trong nước và ngoài nước màmỗi quốc gia, dân tộc có thể huy động nhằm mục tiêu bảo vệ đất nước, giữvững hòa bình, ngăn ngừa mọi âm mưu và hành động gây chiến của các thếlực thù địch, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược mọi quy mô có thểxảy ra TLQP của đất nước dựa trên nền tảng của TLKT, tiềm lực KH-CN,tiềm lực CT-TT và TLQS

Nền quốc phòng Việt Nam được xây dựng dựa trên sức mạnh toàn diệncủa các nguồn lực nên lực lượng quốc phòng phải bao gồm lực lượng củatoàn dân với lực lượng vũ trang nhân dân là nòng cốt Trong đó, lực lượngtoàn dân là lực lượng của các cấp, các ngành và quần chúng nhân dân Đây làlực lượng đông đảo nhất, nhanh nhất, kịp thời nhất và là chỗ dựa vững chắcnhất của quốc phòng Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh toàndiện là nhiệm vụ trọng tâm của xây dựng lực lượng quốc phòng Tại Khoản 1,Điều 12 Luật Quốc phòng 2005 xác định, “Lực lượng vũ trang gồm Quân đội

nhân dân, Công an nhân dân và Dân quân tự vệ” [75, tr.13].

Trang 32

Bên cạnh hai bộ phận cấu thành cơ bản trên, quốc phòng Việt Nam cònbao gồm thế trận quốc phòng Thế trận quốc phòng là sự tổ chức, triển khai,bố trí lực lượng và tiềm lực mọi mặt của đất nước và của toàn dân theo ý địnhchiến lược thống nhất, bảo đảm đối phó thắng lợi với mọi mưu toan và hoạtđộng của các thế lực thù địch xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toànvẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia, sẵn sàng chuyển hóa thành thế trận chiếntranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc nếu chiến tranh xảy ra Thế trận quốc phòngđược thể hiện ở: Thế trận lòng dân; khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố); phânvùng chiến lược gắn với hậu phương chiến lược theo ý định chiến lược bảo vệTổ quốc; hệ thống phòng thủ dân sự ở các cấp; vị trí đứng chân của các binhđoàn chủ lực theo kế hoạch phòng thủ cơ bản của đất nước và sự gắn kết thế trậnquốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân Trong đó, khu vực phòng thủtỉnh (thành phố) là một bộ phận hợp thành và là cái gốc, cái nền vững chắc củathế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân Mục đích hướng tới củaviệc hình thành khu vực phòng thủ là tranh thủ tiềm năng, thế mạnh của các địaphương, các ngành để tạo sức mạnh quốc phòng - an ninh tại chỗ; góp phần ngănngừa, đẩy lùi mọi nguy cơ dẫn đến mất ổn định về chính trị, trật tự an toàn xãhội; tạo môi trường hòa bình ổn định để tập trung phát triển kinh tế xã hội Trongthời bình, khu vực phòng thủ là nơi xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thếtrận an ninh nhân dân, thế trận chiến tranh nhân dân địa phương, hợp thành thếtrận quốc phòng toàn dân của cả nước Khi có chiến sự, khu vực phòng thủ là nơitổ chức, chỉ đạo, điều hành và tiến hành chiến tranh ở địa phương; nơi chủ độngphát hiện, đánh trả, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, ngăn chặn làm chậm tốc độtiến công của chúng Khu vực phòng thủ phải thực sự trở thành “mắt xích”,

“pháo đài” trong thế trận chung, kịp thời đáp ứng có hiệu quả mọi yêu cầu củachiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc; phải bảo đảm vững chắc với yêu cầu caonhất là: Khi có tình huống bảo vệ Tổ quốc xảy ra, thôn giữ được thôn, xã giữđược xã, huyện giữ được huyện, tỉnh giữ được tỉnh;

2.2.2 Đặc trưng của quốc phòng Việt Nam

Trang 33

Nếu như đặc trưng xét theo nghĩa danh từ là “Nét riêng và tiêu biểu,nhờ đó phân biệt được các sự vật hiện tượng”, xét theo nghĩa tính từ là “Cótính chất riêng khác và tiêu biểu” [146, tr.600] thì đặc trưng của quốc phòngViệt Nam có thể được hiểu là những đặc điểm riêng, những tính chất riêng,tiêu biểu của quốc phòng Việt Nam, qua đó có thể nhận diện và phân biệtđược quốc phòng Việt Nam với quốc phòng các nước khác.

Lịch sử hình thành và phát triển quốc phòng Việt Nam đến nay chothấy quốc phòng Việt Nam có những đặc trưng sau:

Một là, mục tiêu của quốc phòng là hòa bình và tự vệ

Hòa bình và tự vệ là mục tiêu duy nhất, là dòng chảy xuyên suốt quátrình hình thành và phát triển của quốc phòng Việt Nam Nó đối lập hoàn toànvới mục tiêu xâm lược, hiếu chiến và phản động Theo tư tưởng Hồ Chí Minh

“dùng binh là việc nhân nghĩa, muốn cứu nước, cứu dân” Hiện nay, mục tiêu nàykhông chỉ được khẳng định và thể hiện rõ trong Luật Quốc phòng, Sách trắng quốcphòng Việt Nam mà còn được xác định rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước.Luật Quốc phòng năm 2005 chỉ rõ, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam củng cố và tăng cường quốc phòng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Sáchtrắng Quốc phòng Việt Nam năm 2009 cũng chỉ ra, mục đích của nền quốc phòngtoàn dân là bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảovệ an ninh quốc gia trên mọi lĩnh vực, bảo vệ chế độ, bảo vệ mọi thành quả cáchmạng, bảo vệ sự nghiệp đổi mới đồng thời ngăn chặn, đẩy lùi mưu toan gây bạoloạn, xung đột vũ trang, chiến tranh xâm lược, giữ vững môi trường hòa bình, ổnđịnh để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đồng thời đánh bại mọi cuộc chiếntranh xâm lược Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung, phát triển năm 2011)khẳng định: Mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là “bảo vệ vững chắc độclập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước,Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảođảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại

Trang 34

mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệpcách mạng của nhân dân ta” [44, tr.81 - 82].

Thực tiễn thời gian qua cũng chứng minh hòa bình và tự vệ luôn là đíchhướng đến của mọi hoạt động quốc phòng Việt Nam thực hiện sự nghiệpcủng cố, tăng cường quốc phòng là nhằm xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổquốc; các biện pháp chính đáng, thích hợp được sử dụng để ngăn chặn, đẩylùi chiến tranh, đánh bại mọi âm mưu và hành động xâm lược của các thế lựcthù địch Công tác đối ngoại quốc phòng được thực hiện phù hợp với chínhsách đối ngoại độc lập, tự chủ, là bạn bè tin cậy của các nước, cùng phấn đấuvì hòa bình, độc lập và phát triển, chống chiến tranh dưới mọi hình thức; ViệtNam nhất quán không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quanhệ quốc tế; kiên trì giải quyết mọi bất đồng, tranh chấp chủ quyền, lãnh thổvới các quốc gia bằng giải pháp hòa bình trên cơ sở Hiến chương Liên hợpquốc và luật pháp quốc tế Việt Nam không tham gia bất cứ tổ chức liên minhquân sự nào và cũng không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự hoặc sửdụng lãnh thổ của mình để chống nước khác Mọi hoạt động quốc phòng củaViệt Nam không nằm ngoài mục tiêu, tính chất hòa bình và tự vệ Đây là đặctrưng chủ đạo cũng là bản chất của quốc phòng Việt Nam

Hai là, nền quốc phòng vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành.

Nếu như mục tiêu hòa bình và tự vệ là đặc trưng phản ánh bản chất củaquốc phòng Việt Nam thì vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành làđặc trưng phán ánh tư tưởng “dân là gốc” trong lịch sử dựng nước và giữnước của dân tộc Việt Nam, phản ánh nét độc đáo về lực lượng và sức mạnhcủa quốc phòng Việt Nam Nền quốc phòng vì dân thể hiện ở mọi hoạt độngquốc phòng Việt Nam đều xuất phát từ lợi ích của nhân dân, đều là để thựchiện nguyện vọng, ước muốn cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân.Mục đích “vì dân” đã cho phép quốc phòng có thể huy động sức mạnh tổnghợp to lớn cả về vật chất, tinh thần và sức dân cho mọi nhiệm vụ Vì vậy,

Trang 35

“Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và của cả hệ thống chính trị,trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt” [75, tr.8 - 9] đã trở thànhmột trong những nguyên tắc tiến hành hoạt động quốc phòng Cụ thể hơn, lựclượng quốc phòng được hình thành bao gồm lực lượng của toàn dân với lựclượng vũ trang nhân dân là nòng cốt Trong đó, lực lượng toàn dân là lựclượng của các cấp, các ngành và quần chúng nhân dân Đây là lực lượng đôngđảo nhất, nhanh nhất, kịp thời nhất và là chỗ dựa vững chắc nhất của quốc phòng.Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, vững mạnh là nhiệm vụtrọng tâm của xây dựng lực lượng quốc phòng Lực lượng nòng cốt này cũng

“từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” Như vậy nhân dân không chỉ là

một bộ phận mà còn là nguồn đóng góp nhân lực cho quốc phòng Bên cạnh đó,nhân dân còn đóng góp vật lực, tài lực chủ yếu để duy trì mọi hoạt động quốcphòng cả trong thời bình cũng như khi có chiến tranh xảy ra Nhân dân chính làcội nguồn sức mạnh vô tận của quốc phòng và vì dân không chỉ là mục đích phảnánh bản chất quốc phòng Việt Nam mà còn là điều kiện tiên quyết để quốc phòngcó được, nhân lên và phát huy sức mạnh vô địch đó

Ba là, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ xa, giữ nước từ thời bình

Chủ động bảo vệ Tổ quốc từ xa, giữ nước từ thời bình không chỉ là mộttrong những đặc trưng cơ bản của quốc phòng Việt Nam mà còn là phươngchâm chỉ đạo xuyên suốt trong hệ thống quan điểm giữ nước Việt Nam Sáchtrắng Quốc phòng Việt Nam năm 2009 chỉ rõ:

Tích cực, chủ động ngăn ngừa và đẩy lùi nguy cơ chiến tranh là mộttrong các nhiệm vụ trọng yếu của quốc phòng Việt Nam trong thời bìnhnhằm thực hiện chiến lược quốc phòng tối ưu là bảo vệ được chủquyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các quyền lợi quốc gia khác màkhông cần phải tiến hành chiến tranh… Quán triệt phương châm phòngthủ toàn diện, chủ động, bảo vệ Tổ quốc từ xa, quốc phòng Việt Nam

Trang 36

sử dụng các biện pháp tổng hợp nhằm giữ vững ổn định bên trong,ngăn ngừa các nguy cơ can thiệp từ bên ngoài [22, tr.20 -21]

Không chỉ được khẳng định ở Sách trắng Quốc phòng, đặc trưng nàycòn được phản ánh trong tư duy của Đảng qua các kỳ Đại hội Đặc biệt, Đạihội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định:

Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thốngchính trị, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh… chủđộng ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá củacác thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phitruyền thống mang tính chất toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trongmọi tình huống [44, tr.233]

Khẳng định lại đồng thời thể hiện sự phát triển trong tư duy của Đảngvề vấn đề này, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII nhấn mạnh: “Có kế sáchngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòngngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bêntrong có thể gây ra đột biến” [46, tr.148 - 149]

Bốn là, nền quốc phòng toàn dân gắn kết chặt chẽ với nền an ninh nhân dân

Giữa nền quốc phòng toàn dân với nền an ninh nhân dân có sự khácnhau về phương thức tổ chức lực lượng, về hoạt động cụ thể theo mục tiêuđược phân công song đều là hai lĩnh vực trọng yếu, thường xuyên, liên quanvà tác động trực tiếp đến bảo vệ Tổ quốc Vì vậy, không như một số quốc giakhác coi an ninh quốc gia là một bộ phận của quốc phòng hoặc quốc phòng làmột bộ phận của an ninh quốc gia, Việt Nam xác định quốc phòng và an ninhlà hai lĩnh vực khác nhau nhưng có mối quan hệ gắn bó, kết hợp chặt chẽ vớinhau Xây dựng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân trong đó có thế trậnbiên phòng toàn dân phải gắn kết chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng định: “Tăng cường quốc phòng, giữvững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường

Trang 37

xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công

an nhân dân là lực lượng nòng cốt Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân,kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân vững chắc” [44, tr.81-82] Sự kết hợp giữa xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận biênphòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân thể hiện tập trung ở những vấnđề chính như: Kết hợp trong công tác vận động quần chúng, xây dựng cơ sởchính trị, xã hội ở địa bàn đóng quân, xử lý các tình huống; cùng nhau tổchức, bố trí thành phong trào quần chúng rộng rãi bảo vệ Tổ quốc với cáchình thức thích hợp; xây dựng, bố trí lực lượng nòng cốt, nhất là ở cơ sở, bảođảm đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ; tổ chức mạng lưới bí mật trong thếtrận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và thế trận biên phòng

toàn dân; xây dựng thế trận trên các tuyến, các trận địa, các địa bàn, mục tiêu

trọng yếu; kết hợp trong việc làm trong sạch địa bàn, giữ bí mật quân sự, bí mậtquốc gia, sử dụng và hoạt động của các lực lượng có liên quan đến thực hiệnnhiệm vụ quốc phòng - an ninh; kết hợp trong khai thác, trao đổi, phân tích, đánhgiá, xử lý các loại thông tin cần thiết có liên quan, cả về địch, về ta, ở trong nướcvà ngoài nước, làm tham mưu đắc lực cho Đảng và chính quyền ở các cấp

2.3 Quan niệm, nội dung tác động của quan hệ kinh tế Việt Nam Trung Quốc đến quốc phòng Việt Nam

-2.3.1 Quan niệm tác động của quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung Quốc đến quốc phòng Việt Nam

Tác động hiểu theo nghĩa danh từ là quá trình biến đổi của sự vật hiệntượng do ảnh hưởng của một quá trình khác Theo nghĩa là động từ, tác độngđược Từ điển tiếng Việt xác định là “làm cho một đối tượng nào đó có những

biến đổi nhất định Văn học, nghệ thuật tác động mạnh đến tư tưởng, tình cảm Tác động của con người đến tự nhiên” [145, tr.1130] Như vậy, có thể

hiểu: Tác động là ảnh hưởng của sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượngkhác tạo nên sự biến đổi của các sự vật, hiện tượng

Trang 38

Trên cơ sở các quan niệm về tác động cùng những vấn đề lý luậnvề QHKT Việt Nam - Trung Quốc và những vấn đề cơ bản về quốc

phòng, tác giả quan niệm: Tác động của QHKT Việt Nam - Trung Quốc đến quốc phòng Việt Nam là sự ảnh hưởng mang tính khách quan từ các hoạt động kinh tế đối ngoại giữa Việt Nam với Trung Quốc đến các yếu

tố cấu thành quốc phòng Việt Nam, qua đó làm biến đổi quốc phòng Việt Nam theo chiều tích cực hoặc tiêu cực.

Quan niệm trên cần được hiểu ở những vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, tác động của QHKT Việt - Trung đến quốc phòng của Việt

Nam là khách quan Tính khách quan của sự tác động này xuất phát từ nguyênlý về mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chấtcủa chủ nghĩa Mác - Lênin Theo nguyên lý này, mọi sự vật, hiện tượng trongthế giới vật chất luôn có mối liên hệ qua lại, có sự tác động và chuyển hóa lẫnnhau Mặt khác, theo chủ nghĩa Mác - Lênin: Trong mối quan hệ giữa kinh tếvới quốc phòng, kinh tế quyết định đến quốc phòng và quốc phòng có tácđộng trở lại với kinh tế QHKT Việt - Trung là một bộ phận của kinh tế đốingoại của Việt Nam, một bộ phận cấu thành nền kinh tế quốc dân nên sự tácđộng của kinh tế với quốc phòng đã hàm chứa trong nó sự tác động củaQHKT Việt - Trung đến quốc phòng đất nước

Thứ hai, phương thức tác động của QHKT Việt - Trung đến quốc

phòng Việt Nam rất đa dạng, vừa trực tiếp, vừa gián tiếp; vừa tự phát, vừa tựgiác và đan xen với nhau trong từng yếu tố cấu thành quốc phòng Theo nghĩathông thường, trực tiếp là có quan hệ thẳng với đối tượng tiếp xúc, khôngquan khâu trung gian Vì vậy có thể hiểu tác động trực tiếp của QHKT Việt -Trung đến quốc phòng là sự ảnh hưởng của QHKT Việt - Trung đến các nhântố cấu thành quốc phòng mà không qua nhân tố trung gian nào đó Ngược lại,sự ảnh hưởng của QHKT Việt - Trung đến các nhân tố quốc phòng thông quamột nhân tố trung gian nào đó là tác động gián tiếp

Trang 39

Thứ ba, kết quả của sự tác động của QHKT Việt - Trung đến quốc

phòng có sự đan xen giữa tích cực tức là làm cho quốc phòng Việt Nam mạnhlên và tiêu cực nghĩa là làm cho quốc phòng Việt Nam yếu đi hoặc gây khókhăn, trở ngại cho việc tăng cường, củng cố quốc phòng; kết quả của sự tácđộng có thể thấy ngay, định lượng được hoặc thẩm thấu dần khó thấy, khóhoặc không thể định lượng được

Sở dĩ có thể thấy ngay, có thể định lượng được hoặc thẩm thấu dần khóthấy, khó hoặc không thể định lượng được kết quả của sự tác động bởi sự đa

dạng về “nội dung của đối tượng tác động” hay nói cách khác QHKT Việt

-Trung được tiến hành trên nhiều nội dung như đầu tư, thương mại, các hình

thức dịch vụ có thu ngoại tệ Mặt khác, quốc phòng hay “đối tượng chịu tác động” được hợp thành bởi nhiều yếu tố như: TLQP, lực lượng quốc phòng và

thế trận quốc phòng… và trong mỗi thành tố lại bao gồm nhiều bộ phận cụthể, trong đó có những bộ phận cụ thể chỉ thực sự được đo lường một cáchchính xác khi chiến tranh xảy ra, có những bộ phận có thể quan sát và địnhlượng được sự thay đổi của nó song có những bộ phận có tính trừu tượng màrất khó, thậm trí không thể định lượng quát sát được sự thay đổi

Thứ tư, kết quả tác động của QHKT Việt - Trung đến quốc phòng phụ

thuộc vào nhiều yếu tố song trước hết phụ thuộc vào kết quả QHKT Việt Trung, vào khả năng thẩm thấu những tác động tích cực và hạn chế giảmthiểu những tác động tiêu cực của quốc phòng Bên cạnh đó kết quả tác độngnày còn phụ thuộc vào môi trường diễn ra sự tác động như: Môi trường trongnước; môi trường khu vực, thế giới, trong đó có Trung Quốc với vai trò làmột trong những chủ thể cấu thành QHKT Việt - Trung Theo đó, QHKT Việt

Trung chi phối, quyết định mức độ tác động nhiều hay ít, mạnh hay yếu đếnquốc phòng Nếu như QHKT này phát triển theo hướng tích cực, đúng vớibản chất của ngoại thương là khai thác lợi thế so sánh, những điểm mạnh củamỗi bên để bổ sung cho nhau từ đó mang tới lợi ích cho các chủ thể thì nó có

Trang 40

tác động tích cực góp phần phát triển tiềm lực kinh tế, tạo “nền cốt vật chất”thúc đẩy quốc phòng; kết quả của sự tác động hay sự biến đổi của của QHKTViệt - Trung đến quốc phòng còn phụ thuộc vào chính bản thân quốc phòng.Nói cách khác nếu như quốc phòng khai thác, hấp thu được những tác độngtích cực đồng thời có sức đề kháng, hạn chế thấp nhất sự tác động tiêu cực thìbản thân quốc phòng sẽ mạnh lên dưới tác động của QHKT Việt - Trung cònngược lại sẽ bị ảnh hưởng theo chiều tiêu cực Đề cập đến quốc phòng với vaitrò nhân tố chi phối sự tác động ở đây chính là đề cập đến vai trò chi phối củachủ thể quốc phòng (Đảng, hệ thống chính trị, toàn dân và lực lượng vũ trang)đối với sự tác động đó Ngoài hai nhân tố cơ bản chi phối sự tác động trên, sựtác động của QHKT Việt - Trung đến quốc phòng còn phụ thuộc vào môitrường diễn ra sự tác động (môi trường địa lí, chính trị, kinh tế - xã hội) Môitrường thuận lợi không chỉ giúp cho QHKT hai nước phát triển mà còn thúcđẩy tác động tích cực của nó đến quốc phòng Ngược lại, diễn ra trong mộtmôi trường bất lợi, QHKT Việt - Trung sẽ bị kìm hãm, những tác động tiêucực của nó đến quốc phòng cũng gia tăng.

2.3.2 Nội dung tác động của quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung Quốc đến quốc phòng Việt Nam

Nội dung tác động của QHKT Việt - Trung đến quốc phòng Việt Namlà những tác động cụ thể của QHKT Việt - Trung đến các yếu tố cấu thànhquốc phòng, bao gồm: Tác động đến TLQP; tác động đến lực lượng quốcphòng và tác động đến thế trận quốc phòng Tuy nhiên, với phạm vi nghiêncứu được xác định, tác giả luận án tập trung nghiên cứu sự tác động củaQHKT Việt - Trung đến TLQP với 4 bộ phận cấu thành là: TLKT; tiềm lựcCT-TT; tiềm lực KH&CN và TLQS

2.3.2.1 Quan hệ kinh tế Việt - Trung tác động đến tiềm lực kinh tế

TLKT là “khả năng về kinh tế (bao gồm cả kinh tế quân sự) có thể huy động để phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng hoặc tiến hành

Ngày đăng: 20/07/2021, 10:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh (2016), Bộ đội Biên phòng Lạng Sơn bắt đối tượng vận chuyển 600 triệu đồng tiền giả, http://www.bienphong.com.vn/bdbp-lang-son-bat-doi-tuong-van-chuyen-600-trieu-dong-tien-gia/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ đội Biên phòng Lạng Sơn bắt đối tượng vận chuyển600 triệu đồng tiền giả
Tác giả: Hoàng Anh
Năm: 2016
2. Lê Đình Ân (2016), “Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2015: Những vấn đề đặt ra và dự báo trong năm 2016”, Tạp chí Cộng sản, Số 879 (1-2016), tr 64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2015: Những vấn đề đặtra và dự báo trong năm 2016”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Lê Đình Ân
Năm: 2016
3. Ban Chấp hành Trung ương (2013), Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết số 28-NQ/TW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Banchấp hành Trung ương khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trongtình hình mới
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2013
4. Ban Chấp hành Trung ương (2014), Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Nghị quyết số 33-NQ/TW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Banchấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển vănhóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đấtnước
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2014
5. Ban chỉ đạo Tổng kết, Ban Chấp hành Trung ương, Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 nămđổi mới (1986 - 2016)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
6. Ban Tuyên giáo Trung ương (2016), Tài liệu nghiên cứu các văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu các văn kiện đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2016
7. Hoàng Chí Bảo (2015), “Tác động của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế tới sự biến động hệ chuẩn mực đạo đức ở nước ta”, Tạp chí Lý luận và Thực tiễn, Số 20(154) - 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của kinh tế thị trường và hội nhập quốctế tới sự biến động hệ chuẩn mực đạo đức ở nước ta”, "Tạp chí Lý luậnvà Thực tiễn
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2015
8. Nguyễn Kim Bảo (2013), Sự trỗi dậy về kinh tế của Trung Quốc và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Viện nghiên cứu Trung Quốc, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự trỗi dậy về kinh tế của Trung Quốc và nhữngvấn đề đặt ra cho Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Kim Bảo
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2013
9. Trần Thái Bình (2014), “Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh theo chiến lược bảo vệ Tổ quốc”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, Số 11/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh theochiến lược bảo vệ Tổ quốc”, "Tạp chí Quốc phòng toàn dân
Tác giả: Trần Thái Bình
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w