Cố học giả Lê Bá Thuyên với đề tài luận án PTS Lịch sử "Chiến lược toàn cầu của Mỹ và tác động của nó trong quan hệ quốc tế hiện nay" bảo vệ năm 1995; cuốn sách "Hoa Kỳ: cam kết và mở rộ
Trang 1Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử loài người, Ýt nhất từ thời cận đại, các nước lớn, cáccường quốc từng đóng vai trò quyết định trật tự thế giới và chi phối hệ thốngcác quan hệ quốc tế (QHQT) Đường hướng vận động, phát triển của lịch sửthế giới phụ thuộc chủ yếu vào tham vọng và lợi Ých chiến lược của các nướclớn, vào sự hoà hoãn hoặc chiến tranh giữa các nước lớn Thời kỳ chiến tranhlạnh, Liên Xô và Mỹ đã tồn tại với tư cách hai siêu cường đứng đầu hai hệthống chính trị - xã hội đối lập, kiềm chế, chi phối lẫn nhau, đồng thời chiphối đời sống chính trị thế giới và hệ thống các QHQT Cuộc chiến tranh lạnhkéo dài hơn bốn thập niên đó đã đặt cả thế giới vào tình trạng đối đầu căngthẳng và thù địch
Đến đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, do tác động của hàng loạt cácnhân tố chủ quan và khách quan, bên trong và bên ngoài, cuộc chiến tranhlạnh kết thúc, Liên Xô và trật tự thế giới hai cực tan rã Từ thời điểm này,cộng đồng các quốc gia - dân téc vận động và phát triển trong một hoàn cảnhlịch sử rất mới và rất khác thời kỳ chiến tranh lạnh, vừa tạo ra những cơ hội,vừa đặt ra những thách thức mới đối với họ Tình hình thế giới sau chiếntranh lạnh diễn biến phức tạp, diện mạo một trật tự thế giới mới thay cho trật
tự hai cực đã tan rã vẫn chưa định hình Sau mấy thập niên chiến tranh lạnh,một mặt các nước lớn nhỏ đều muốn có môi trường quốc tế hòa bình, ổn định
để phát triển, nên nhìn chung đều điều chỉnh chiến lược, chính sách đối ngoạitheo hướng tránh đối đầu, tăng cường hợp tác, liên kết, hội nhập trên các tầngnấc khác nhau Mặt khác, các nước - trước hết là các nước lớn - còng cạnhtranh gay gắt với nhau nhằm giành giật vai trò, vị trí có lợi nhất cho mìnhtrong trật tự thế giới mới đang hình thành Động thái quan hệ giữa các nướclớn diễn ra hết sức phức tạp, chứa đầy những yếu tố khó lường Trong khi đó,
Trang 2các nước lớn và quan hệ giữa các nước lớn thời kỳ sau chiến tranh lạnh vẫnđóng vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội loài người.
Quan hệ giữa Nga và Mỹ với tư cách là quan hệ giữa hai nước lớn không nằm ngoài tình hình chung đó Song quan hệ Nga - Mỹ là cặp quan hệ cónhững nét đặc thù Không chỉ trong thời kỳ chiến tranh lạnh, hiện nay quan hệNga - Mỹ, bất luận những biến thiên của lịch sử, vẫn là cặp quan hệ chủ chốt,đóng vai trò rất quan trọng trong hệ thống các QHQT Sự vận động của quan
-hệ Nga - Mỹ sau chiến tranh lạnh, dù theo hướng nào, cũng tác động lớn đếncục diện thế giới, đến đời sống chính trị và an ninh thế giới Tuy nhiên, quan
hệ giữa Nga và Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh diễn biến khá phức tạp, phảnánh rõ nét nhất, điển hình nhất thực trạng quan hệ giữa các nước lớn hiện nay
Do vậy, việc nghiên cứu làm rõ thực trạng quan hệ giữa hai nước lớn Nga - Mỹthực sự hữu Ých, thực sự cần thiết đối với tất cả các nước lớn nhỏ Hơn nữa,việc nghiên cứu đó không chỉ nhằm xác định diện mạo của một mối quan hệ
cụ thể giữa hai nước lớn, mà còn góp phần làm sáng tỏ hơn một số vấn đề lýluận đặt ra trong quan hệ giữa các nước lớn và giữa các nước lớn với cácnước nhỏ nói chung trong thời kỳ quá độ từ trật tự thế giới hai cực sang trật tựthế giới mới
Do điều kiện lịch sử đặc biệt của mình, hơn nửa thế kỷ qua Việt Namluôn nằm trong toan tính chiến lược của các nước lớn như Pháp, Mỹ, Liên Xô,Trung Quốc, Nhật Bản Những nước lớn đó, nhất là Liên Xô và Mỹ, đã cónhững tác động rất lớn, cả hai chiều tích cực và tiêu cực, đến sự nghiệp đấutranh vì hòa bình, độc lập dân téc của nhân dân Việt Nam Liên Xô tan rã, chế
độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô bị thủ tiêu làm thay đổi tương quanlực lượng trên trường quốc tế từ trạng thái cân bằng sang có lợi cho Mỹ và cácnước tư bản chủ nghĩa (TBCN) phát triển Quan hệ giữa Nga - đã từng là đồngminh chiến lược của Việt Nam, và Mỹ - đã từng là đối thủ chiến lược của ViệtNam, dù vận động, phát triển theo hướng nào (hòa hoãn, hợp tác hay căng thẳng,xung đột) thì cũng đều ảnh hưởng đến nước ta với tư cách là một nước nhỏ, có
Trang 3lợi Ých chiến lược là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội (CNXH) Thựctiễn quan hệ giữa Nga và Mỹ từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc cho thấyViệt Nam đã và sẽ còn phải chịu sức Ðp và ảnh hưởng qua lại của quan hệNga - Mỹ Thực tế này đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cấp thiết củachính sách đối ngoại Việt Nam trong quan hệ với Nga và Mỹ Việc nghiên cứu
sự vận động của quan hệ Nga - Mỹ sau chiến tranh lạnh và ảnh hưởng củaquan hệ đó đến Việt Nam không chỉ nhằm rót ra những bài học kinh nghiệmcần thiết nhằm thúc đẩy quan hệ Việt - Nga và Việt - Mỹ, mà còn cung cấpnhững luận cứ khoa học góp phần đưa phương châm đối ngoại cân bằng trongquan hệ với các nước lớn vào thực tiễn hoạt động đối ngoại cho sát đúng vớitừng nước lớn cụ thể
Vì tất cả những lẽ đó, Nghiên cứu sinh đã chọn đề tài "Sự vận động của quan hệ Nga - Mỹ sau chiến tranh lạnh và ảnh hưởng của quan hệ đó đến Việt Nam" làm đề tài luận án.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quan hệ giữa Nga và Mỹ không phải là một đề tài mới mẻ đối với giớinghiên cứu ở nước ngoài, nhất là ở Nga và Mỹ Các vấn đề như vai trò, vị thếquốc tế của các nước lớn hiện nay và trong tương lai, chính sách đối ngoạicủa Nga và của Mỹ, quan hệ Nga - Mỹ trong các lĩnh vực chính trị - đốingoại, kinh tế - thương mại, đã được Ýt nhiều đề cập trong nhiều công trìnhnghiên cứu khác nhau của các tác giả nước ngoài Trong các công trình này,
đáng chú ý là các cuốn sách: "Sự đảo lộn của thế giới địa - chính trị thế kỷ
XXI" của Maridôn Tuareno (Pháp); "Mỹ thay đổi lớn chiến lược toàn cầu" của
Lý Thực Cốc (Trung Quốc); "Hưng thịnh và suy vong của các cường quốc";
"Chuẩn bị cho thế kỷ XXI" của Pôn Kennơđy (Mỹ); "Dự báo thế kỷ 21" của tập thể các tác giả Trung Quốc; "Bàn cờ lớn" của Z Brzezinski (Mỹ); "Sự
biến đổi" của A.Côdưrép (Nga); "Nước Nga hướng về châu Á" của M L.
Titarencô, v.v Ngoài ra, nhiều bài viết đề cập đến các khía cạnh cụ thể của đề
Trang 4tài đã được đăng tải trên các Ên phẩm chuyên ngành của Nga như các tạp chí:Kinh tế thế giới và QHQT; Mỹ: Kinh tế, Chính trị, Tư tưởng; Sinh hoạt quốc tế;
Tư tưởng tự do; Báo Độc lập, v.v Trong các Ên phẩm này, đáng chú ý nhất là
tờ tạp chí rất có uy tín, chuyên nghiên cứu về Mỹ ở Nga, tờ "Mỹ: Kinh tế,Chính trị, Tư tưởng" (ra đời từ tháng 1 năm 1970, đến tháng 1 năm 1999 đổi tên
là "Mỹ - Canada: Kinh tế, Chính trị, Văn hóa") Đây là tờ tạp chí đã nhiều nămliền đăng tải các bài viết, các công trình nghiên cứu của nhiều học giả có tiếngtăm, có bề dày nghiên cứu về Mỹ, về chính sách đối ngoại của Mỹ, về quan
hệ Nga - Mỹ, như S Rôgốp, G Trôfimencô, B Krêmenhúc, A Ótkin, T.Saklêina, v.v Đặc biệt, các bài viết của S Rôgốp đăng trên các số 3/1995,10/1996, 11/1997, 2/1998, 7 và 8/1998, 2/2000 của Tạp chí trên và một số Ênphẩm khác như Tạp chí Tư tưởng tự do, Báo Độc lập, đã phác họa nhữngđường nét cơ bản, những thăng trầm của quan hệ Nga - Mỹ qua các giai đoạnkhác nhau thời kỳ sau chiến tranh lạnh Tác giả chỉ ra những kết quả hợp tác
đã đạt được, cũng như những mâu thuẫn, xung đột lợi Ých trong quan hệ Nga
Mỹ, nhấn mạnh ý đồ của Mỹ kiềm chế Nga khôi phục ảnh hưởng chính trị
-an ninh trên trường quốc tế
Ngoài các công trình của các tác giả Nga, các bài nghiên cứu liên quanđến đề tài của các tác giả Mỹ như M Manđenbaum, Aron Leon, G Duglac, còng được đăng tải trên các Ên phẩm chuyên ngành kể trên của Nga Tuynhiên, cách nhìn nhận, sự đánh giá các vấn đề như chiến lược đối ngoại củaNga, của Mỹ, quan hệ Nga - Mỹ, v.v không phải luôn luôn có sự thống nhấtgiữa các tác giả Nga, giữa các tác giả Mỹ với nhau, cũng như giữa các tác giảNga và các tác giả Mỹ Thực tế này đòi hỏi nghiên cứu sinh phải biết kế thừa
có chọn lọc công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài, và chỉ trên cơ
sở xem xét các sự vật, hiện tượng lịch sử một cách khách quan, chân thực vàbằng phương pháp luận mácxít thì mới có thể đưa ra sự đánh giá xác đáng vềnhững vấn đề thuộc đề tài nghiên cứu
Trang 5Ở Việt Nam, cũng đã có một số công trình nghiên cứu tập thể và cánhân Ýt nhiều đề cập đến chiến lược, chính sách đối ngoại của Mỹ, của Nga,quan hệ Mỹ - Việt, quan hệ Nga - Việt Trong số các công trình này, đáng chú
ý là các bài viết, sách tham khảo, đề tài khoa học của một số cơ quan nghiêncứu các vấn đề quốc tế như: Trung tâm nghiên cứu châu Âu, Trung tâm nghiêncứu Bắc Mỹ, Học viện QHQT (Bộ ngoại giao), Viện QHQT (Học viện CTQG
Hồ Chí Minh), các tạp chí chuyên ngành về QHQT, v.v Cố học giả Lê Bá
Thuyên với đề tài luận án PTS Lịch sử "Chiến lược toàn cầu của Mỹ và tác động
của nó trong quan hệ quốc tế hiện nay" (bảo vệ năm 1995); cuốn sách "Hoa Kỳ: cam kết và mở rộng", Nxb KHXH, Hà Nội, 1997; cũng như một số bài
viết của tác giả về chiến lược, chính sách đối ngoại của Mỹ đăng trên các tạpchí chuyên ngành là những công trình có tính chất chuyên sâu nhất về đề tài này.Còn việc nghiên cứu quan hệ Nga - Mỹ ở Việt Nam thì thực sự chỉ mới ở giaiđoạn ban đầu, số lượng các bài viết về chủ đề này rất hạn chế Hơn nữa, cáccông trình được công bố về quan hệ Nga - Mỹ mới chỉ dừng lại ở việc mô tảthực trạng quan hệ Nga - Mỹ ở một vài lĩnh vực, chưa có tính hệ thống vàkhái quát
Chủ đề quan hệ Việt - Nga và Việt - Mỹ giành được sự quan tâmnhiều hơn từ các nhà nghiên cứu Việt Nam Trong số các công trình nghiên
cứu về các chủ đề này, đáng chú ý là các cuốn sách "Quan hệ kinh tế Việt
Nam - Liên bang Nga: Thực trạng và triển vọng" (Nxb KHXH, Hà Nội,
1995); "Về mối quan hệ giữa Việt Nam - Liên bang Nga trong giai đoạn hiện
nay" (Nxb CTQG, Hà Nội, 1997); "Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ" (Nxb
Thế giới, Hà Nội, 2000) Đây là những công trình công phu của các tập thểtác giả và cá nhân về sự vận động khá phức tạp của các cặp quan hệ Nga -Việt và Mỹ - Việt từ sau khi Liên Xô tan rã Song do phạm vi nghiên cứu đặt
ra, nên quan hệ Nga - Việt và Mỹ - Việt chưa được xem xét từ góc độ quan hệgiữa các nước lớn và một nước nhỏ trong bối cảnh thế giới mới sau chiếntranh lạnh Đặc biệt ảnh hưởng của quan hệ Nga - Mỹ với tư cách là quan hệ
Trang 6giữa hai nước lớn, đến Việt Nam, với tư cách là một nước nhỏ, trong thời kỳsau chiến tranh lạnh, hầu như chưa được nghiên cứu cả ở các nước ngoài cũngnhư ở Việt Nam.
Tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài luận án ở nướcngoài và Việt Nam cho thấy sự cần thiết phải có một công trình nghiên cứutoàn diện, có hệ thống và sâu sắc hơn về đề tài này
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu của luận án là góp phần làm rõ thực chất sự vận
động của quan hệ giữa Liên bang Nga (LB Nga) và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ,trên cơ sở đó nêu lên ảnh hưởng của mối quan hệ này đến Việt Nam trong bốicảnh thế giới đã và đang thay đổi thời kỳ sau chiến tranh lạnh
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu của luận
án là:
- Khái quát lịch sử quan hệ Xô - Mỹ thời kỳ chiến tranh lạnh, đặc biệt
là sự điều chỉnh chiến lược, chính sách đối ngoại của Nga và của Mỹ trongthập niên 90
- Phân tích thực trạng vận động của quan hệ giữa Nga và Mỹ trong cáclĩnh vực chủ yếu là chính trị - an ninh, kinh tế - thương mại, khoa học - kỹthuật, đồng thời nêu ra một số dự báo về triển vọng của mối quan hệ này
- Phân tích ảnh hưởng của quan hệ Nga - Mỹ đến Việt Nam trong sựtương tác giữa các cặp quan hệ của tam giác Nga - Mỹ - Việt, từ đó nêu một
số kiến nghị nhằm thực hiện thành công chính sách đối ngoại với các nướclớn nói chung, với Nga và Mỹ nói riêng
Phạm vi nghiên cứu của luận án:
- Về mặt thời gian: Sù vận động của quan hệ Nga - Mỹ và ảnh hưởng
của quan hệ Nga - Mỹ đến Việt Nam được nghiên cứu chủ yếu từ sau khiLiên Xô tan rã đến cuối thập niên 90 của thế kỷ XX
Trang 7- Về mặt nội dung: Luận án đặt trọng tâm ở việc phân tích thực trạng
quan hệ Nga - Mỹ trong thập niên 90 và triển vọng của mối quan hệ đó trướchết trên lĩnh vực chính trị - an ninh
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luậnmácxít Trong quá trình nghiên cứu và xử lý tài liệu tham khảo, luận án quántriệt phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về thời đại và quan hệ giữacác quốc gia - dân téc; về hòa bình và cùng tồn tại hòa bình giữa các nước cóchế độ chính trị - xã hội khác nhau; tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, hợptác quốc tế, v.v Luận án bám sát các quan điểm đánh giá tình hình quốc tế vàkhu vực của Đảng cộng sản Việt Nam được thể hiện trong các văn kiện từ Đạihội VI đến nay, coi đây là nguồn cung cấp những căn cứ lý luận, định hướng
tư tưởng trong nghiên cứu một đề tài vào loại khó và nhạy cảm
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận án là phương pháp lịch sử
và phương pháp logic Các phương pháp khác như phân tích và tổng hợp, sosánh và đối chiếu, thống kê, v.v được sử dụng như là những phương pháp hỗtrợ cần thiết cho hai phương pháp chủ yếu nêu trên
5 Những điểm mới về khoa học của luận án
- Nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ thống sự vận động củaquan hệ Nga - Mỹ từ sau khi Liên Xô tan rã đến cuối thập niên 90, trên cơ sở
đó bước đầu làm rõ tính chất quan hệ giữa các nước lớn và vai trò của cácnước lớn nói chung trong thời kỳ quá độ từ trật tự thế giới hai cực sang trật tựthế giới mới
- Luận án đưa ra một số đánh giá bước đầu về ảnh hưởng của quan hệNga - Mỹ đến Việt Nam, từ đó nêu một số kiến nghị nhằm xử lý đúng đắn cácmối quan hệ giữa Việt Nam với từng nước lớn cụ thể
- Góp phần luận giải và làm sáng tỏ thêm chính sách đối ngoại độc lập
tự chủ, phương châm cân bằng trong quan hệ với các nước lớn của Việt Nam
Trang 86 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,giảng dạy và học tập, cũng như cho những ai quan tâm đến vấn đề này
7 Kết cấu của luận án
Ngoài danh mục các công trình khoa học của tác giả, tài liệu tham khảo,luận án có 184 trang, gồm phần mở đầu, 3 chương với 8 tiết và phần kết luận
Trang 9Chương 1
SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA NGA VÀ MỸSAU
CHIẾN TRANH LẠNH sau ChiÕn tranh l¹nh
Chiến tranh lạnh, theo định nghĩa của các nhà ngôn ngữ học, là "tìnhtrạng căng thẳng và không khí thù địch của một nước này gây ra đối với mộtnước khác" Song cuộc chiến tranh lạnh mà giới cầm quyền Mỹ phát động sauchiến tranh thế giới thứ hai và kết thúc vào đầu thập niên 90 là cuộc chiếntranh chưa từng có tiền lệ trong lịch sử Tình trạng đối đầu căng thẳng và thùđịch giữa hai cường quốc đứng đầu thế giới - Liên Xô và Mỹ - đã chi phốitoàn bộ hệ thống QHQT và là nguyên nhân gây nên hàng loạt cuộc "chiếntranh nóng" cục bộ Hiện nay chiến tranh lạnh xét trên bình diện toàn cầu đãkết thúc, song ở nơi này nơi kia vẫn có biểu hiện tiếp diễn, và hệ thốngQHQT hiện nay không khỏi không chịu những hệ quả của nó Quan hệ Nga -
Mỹ sau chiến tranh lạnh là mối quan hệ tiếp nối quan hệ Xô - Mỹ trước đây,tất nhiên tính chất quan hệ khác hơn nhiều Do vậy, trước khi khảo sát quan
hệ Nga - Mỹ sau chiến tranh lạnh, chúng tôi trình bày khái lược lịch sử quan
hệ Xô - Mỹ thời kỳ chiến tranh lạnh
1.1 KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ QUAN HỆ XÔ - MỸ THỜI KỲ CHIẾN TRANH LẠNH
Tháng Mười năm 1917, cuộc Cách mạng "Mười ngày rung chuyển thếgiới" thành công ở nước Nga, cho ra đời một Nhà nước kiểu mới - Cộng hòaXHCN Xô viết LB Nga Ngay từ sau Cách mạng tháng Mười, Cộng hòaXHCN Xô viết LB Nga và sau đó là Liên bang CHXHCN Xô viết đã kiên trìcuộc đấu tranh nhằm thiết lập quan hệ chính trị và kinh tế - thương mại với
Mỹ nói riêng, các nước khác nói chung, theo nguyên tắc được V.I.Lênin khởi
Trang 10xướng về cùng tồn tại hòa bình giữa các nước có chế độ chính trị - xã hộikhác nhau Song nếu như từ những năm 1924 - 1925, nhiều nước, trong đó cócác nước TBCN lớn như Anh, Pháp, Italia đã chính thức công nhận và thiết lậpquan hệ ngoại giao với Liên Xô, thì Mỹ là cường quốc duy nhất trong thậpniên 20 không thiết lập quan hệ với Liên Xô Phải trải qua một quá trình đấutranh lâu dài của chính quyền Xô viết, và do tác động của rất nhiều nhân tốkhác nữa, mà tới tháng 11 năm 1933, Liên bang Xô viết và Hợp chủng quốcHoa Kỳ mới chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Cũng từ đây bắt đầu mộtgiai đoạn mới trong quan hệ ngoại giao giữa hai cường quốc, về sau là haisiêu cường đứng đầu hai hệ thống chính trị - xã hội đối lập trong QHQT thế
kỷ XX
Từ khi chính thức công nhận lẫn nhau và thiết lập quan hệ ngoại giao,quan hệ Xô - Mỹ vận động hoàn toàn không đơn giản trong tất cả các lĩnh vựcchính trị - quân sự, kinh tế - thương mại, văn hóa - khoa học - công nghệ
1.1.1 Quan hệ Xô - Mỹ trong lĩnh vực chính trị - quân sự
Vào cuối những năm 30, trong bầu không khí nóng bỏng của QHQT
do việc hình thành ba lò lửa chiến tranh thế giới và do bản chất của chủ nghĩa
đế quốc, nhìn chung Mỹ thực hiện "chính sách trung lập", "không can thiệp",thực chất là âm mưu mượn tay người khác đánh nhau để đứng giữa trục lợi.Chính H.Truman (lúc đó là Thượng nghị sĩ, đến 4/1945 là Tổng thống Mỹ),ngay sau khi Đức tấn công Liên Xô, đã tuyên bố trắng trợn: "Nếu chúng tathấy Đức sẽ thắng thì chúng ta phải giúp Nga, còn nếu Nga sẽ thắng thì chúng
ta phải giúp Đức, và như vậy, mặc cho họ giết hại lẫn nhau càng nhiều càngtốt" [113, tr 435] Chỉ khi phát xít Đức, Italia đã thôn tính nhiều nước ở châu
Âu, châu Phi, còn Nhật đánh chiếm Trân Châu, gây cho Mỹ những tổn thấtnặng nề, lợi Ých và an ninh Mỹ bị đe dọa, thì Mỹ mới tham chiến, cùng Liên
Xô và một số nước khác thành lập Mặt trận đồng minh chống phát xít(1/1/1942) Sau đó Mỹ và Liên Xô ký Hiệp ước Xô - Mỹ về những nguyên tắc
Trang 11tương trợ trong quá trình chiến tranh chống xâm lược (11/7/1942) Nhữnghành động đối ngoại này của hai nước đã góp phần tạo những biến chuyểntích cực, có ý nghĩa to lớn trong việc đoàn kết và hợp tác chiến đấu giữa Liên
Xô và Mỹ nói riêng, các lực lượng chống phát xít nói chung trên toàn thế giới
để đánh bại chủ nghĩa phát xít
Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc với chiến thắng của Liên Xô
và các nước trong khối Đồng minh đã mở ra một thời kỳ mới trong QHQThiện đại, dẫn đến những biến chuyển sâu sắc trong đời sống chính trị thế giới.Trong khối Đồng minh chống phát xít, Mỹ là nước duy nhất không nhữngkhông bị chiến tranh tàn phá, mà còn lợi dụng được chiến tranh để làm giàunhanh chóng Với sức mạnh kinh tế đi đôi với sức mạnh quân sự, nhất là sựđộc quyền vũ khí hạt nhân, Mỹ trở thành một cường quốc hùng mạnh Đây làmột trong những nhân tố cơ bản thúc đẩy tham vọng bá chủ toàn cầu của Mỹ.Tổng thống Mỹ H.Truman trong diễn văn đọc ngày 6 tháng 4 năm 1946 đãkhẳng định: "Ngày nay Hoa Kỳ là một quốc gia mạnh, không có một quốc gianào mạnh hơn Điều đó có nghĩa là với sức mạnh như thế chúng ta có nghĩa
vụ nắm quyền lãnh đạo thế giới " [89, tr.119]
Tuy nhiên, tham vọng bá chủ thế giới của Mỹ đã gặp phải những cảntrở rất lớn Vốn là nước đi tiên phong trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa
đế quốc, Liên Xô bước ra khỏi Đại chiến thế giới lần thứ hai với uy tín quốc
tế đã tăng cao Nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới đã tỏ rõ sức mạnh củamình trên thực tế, trở thành trụ cột của phong trào cách mạng thế giới NgoàiLiên Xô, một loạt Nhà nước dân chủ nhân dân ở Đông Âu và châu Á đã đượcthành lập, lùa chọn con đường đi lên CNXH Hệ thống XHCN thế giới dầndần được hình thành và củng cố Cùng với sự lớn mạnh của hệ thống XHCNthế giới, phong trào giải phóng dân téc, phong trào công nhân ở các nướcthuộc địa và TBCN cũng phát triển mạnh, tạo thành những dòng thác lớn tấncông vào dinh lũy của hệ thống ĐQCN thế giới Như vậy, sau chiến tranh thế
Trang 12giới thứ hai, tương quan lực lượng trên trường quốc tế thay đổi không có lợicho Mỹ.
Để thủ tiêu những lực cản đó (mà lực cản lớn nhất là Liên bang Xô viết),
Mỹ đã dùng mọi phương sách, biện pháp, thủ đoạn ngoại giao để, thứ nhất,
lôi kéo, tập hợp lực lượng chống lại Liên Xô và ngăn chặn ảnh hưởng của
CNCS Thứ hai, Mỹ bắt đầu công khai thực hiện một chính sách đối ngoại thù
địch với Liên Xô trong tất cả các lĩnh vực, trước hết là lĩnh vực chính trị - đốingoại
Trên cơ sở một học thuyết do G.Kennan, Chủ tịch ủy ban vạch chínhsách đối ngoại của Chính phủ, cựu đại sứ Mỹ tại Liên Xô đề ra, Tổng thống
Mỹ H.Truman tháng 3 năm 1947 đã cho ra đời một học thuyết đối ngoạimang tên "Học thuyết Truman" Nội dung cơ bản của Học thuyết Truman là
Mỹ phải đảm trách sứ mệnh lãnh đạo thế giới tự do, phải bằng mọi biện phápkinh tế, quân sự để giúp đỡ, trước mắt là Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, sau nữa làcác dân téc trên thế giới chống lại sự đe dọa của chủ nghĩa cộng sản (CNCS).Nếu G.Kennan được coi là "kiến trúc sư" cho chiến lược "Chiến tranh lạnh",thì diễn văn của thủ tướng Anh W.Sớcsin tại Phuntơn ngày 5/3/1946 và Họcthuyết Truman được coi là châm ngòi nổ cho cuộc "chiến tranh lạnh" chốngLiên Xô và CNCS (Theo một số tài liệu, "chiến tranh lạnh" - cold war - là từ
do Barút, tác giả của kế hoạch nguyên tử lực của Mỹ ở LHQ đặt ra, xuất hiệnlần đầu trên báo Mỹ ngày 26/7/1947 Nhưng rất nhiều nhà nghiên cứu cho rằng
"chiến tranh lạnh" trên thực tế đã bắt đầu trước khi chiến tranh thế giới thứhai kết thúc, cụ thể là tại Hội nghị tam cường Mỹ - Anh - Xô tại Ianta tháng 2năm 1945) Như vậy thế giới Phương Tây đứng đầu là đế quốc Mỹ đã chínhthức đề ra một chiến lược đối ngoại thù địch với Liên Xô và các nước XHCN
"Đặc trưng tiêu biểu của chiến tranh lạnh là gây tình hình căng thẳng, đe dọadùng bạo lực, bao vây kinh tế, phá hoại chính trị, đẩy mạnh chạy đua vũ trang
Trang 13và chuẩn bị chiến tranh, thành lập các khối liên minh xâm lược, tiến hành chiếntranh tâm lý chống cộng" (Từ điển bách khoa Việt Nam, Tập 1, 1995, tr 463).
Như vậy, với sự ra đời của Học thuyết Truman, mối quan hệ đồngminh giữa Liên Xô với Mỹ và các nước Phương Tây trong Mặt trận Đồngminh chống phát xít đã chấm dứt; bắt đầu một tình trạng đối đầu ngày càngcăng thẳng, quyết liệt giữa hai cường quốc Xô - Mỹ Cuộc đối đầu Xô - Mỹgay gắt và toàn diện trở thành trục trung tâm của chính sách đối ngoại hai siêucường và là yếu tố cơ bản chi phối các mối QHQT trong suốt nhiều thập niên
kể từ sau chiến tranh thế giới thứ II Các mối QHQT này được diễn đạt bằngthuật ngữ "Trật tự hai cực Ianta" hay "Trật tự thế giới hai cực Xô - Mỹ" - métcực do Liên Xô đứng đầu, cực kia là Mỹ
Để dễ bề tập hợp các lực lượng trên thế giới vào một mặt trận do Mỹđứng đầu chống Liên Xô, Mỹ đã ra sức thổi phồng mối đe dọa từ Liên Xô vàCNCS đối với "thế giới tự do", bắt đầu triển khai thực hiện chiến lược toàncầu "Ngăn chặn Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản" (gọi tắt là "Chiến lược ngănchặn") Tháng 6 năm 1947, Bộ trưởng ngoại giao Mỹ lúc đó là G.Macsan đưa
ra cái gọi là "Chương trình tái thiết châu Âu" hay "Kế hoạch Mácsan" Nộidung chủ yếu của kế hoạch này là Mỹ sẵn sàng viện trợ quy mô lớn để phụchồi nền kinh tế các nước châu Âu, để "tạo ra những điều kiện chính trị và xãhội giúp cho các thể chế tự do có thể tồn tại" Song viện trợ theo "kế hoạchMácsan" chỉ được thực hiện với rất nhiều điều kiện nghiêm ngặt, được quyđịnh trong "Đạo luật viện trợ nước ngoài" mà Quốc hội Mỹ thông qua tháng 4năm 1948 Có 16 nước, về sau thêm CHLB Đức, đã chấp nhận "Kế hoạchMácsan" của Mỹ
Về quân sự, Mỹ đã sử dụng tối đa các ưu thế quân sự và sự độc quyền
vũ khí hạt nhân để lôi kéo các nước đồng minh lớn nhỏ vào các liên minhquân sự song phương và đa phương Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
Trang 14(North Atlantic Treaty Organisation - NATO) đã chính thức ra đời ngày4/4/1949 tại Oasinhton Việc thành lập NATO trước hết nhằm mục đích tăngcường sức mạnh quân sự của Mỹ, biến NATO trở thành công cụ quan trọngnhất để Mỹ thực hiện kế hoạch thống trị thế giới Sự ra đời của NATO đã đẩylục địa châu Âu vào cuộc chạy đua vũ trang quy mô lớn và có thể dẫn tớinguy cơ bùng nổ chiến tranh thế giới thứ ba Đặc biệt, năm 1955, sau khiđược Mỹ và các nước Phương Tây tái vũ trang, được kế hoạch Mácsan phụchồi kinh tế, CHLB Đức gia nhập khối NATO, trở thành bàn đạp chính củacuộc chiến tranh lạnh chống Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu cũng nhưphong trào giải phóng dân téc đang lan rộng trong tất cả các thuộc địa của Mỹ vàcủa các nước TBCN phát triển.
Ở châu Á, Mỹ đã từng bước biến Nhật Bản thành nước lệ thuộc Mỹ,thành căn cứ quân sự khu vực Đông Bắc Á Tháng 9/1951, với việc ký vớiNhật Hiệp ước hòa bình San Franxisco, Mỹ đã mở đường cho chủ nghĩa quânphiệt Nhật ngóc đầu dậy Đặc biệt, với việc ký Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật(8/9/1951), Mỹ được phép bố trí các lực lượng vũ trang trên đất Nhật Mặc dù
Mỹ - Nhật tuyên bố Hiệp ước này nhằm "duy trì hòa bình thế giới và an ninhViễn Đông", song thực chất đã chính thức hóa việc thiết lập các căn cứ quân
sự của Mỹ ở Nhật để trước hết phong tỏa, bao vây Liên Xô ở hướng châu Á Thái Bình Dương Kể từ khi Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật được ký kết, Mỹthực tế đã sử dụng Nhật Bản phục vụ mục đích khống chế Liên Xô
-Ngoài Liên minh quân sù - chính trị Mỹ - Nhật, Mỹ còn thành lập cácliên minh quân sự song phương và đa phương khác ở khu vực: Mỹ - Philipin(30/8/1951); Mỹ - Óc - NiuDilân (Hiệp ước an ninh Thái Bình Dương,1/9/1951); Mỹ - Hàn Quốc (1/10/1953); Mỹ - Pakistan (19/5/1954); Mỹ - ĐàiLoan (2/12/1954); nhất là khối SEATO (8/9/1954) gồm Mỹ, Anh, Pháp, Óc,NiuDilân, Philippin và Thái Lan
Trang 15Như vậy, sau chiến tranh thế giới thứ II, Mỹ đã từng bước hình thành thếtrận liên hoàn với các cấp độ khác nhau từ châu Âu - Đại Tây Dương (CA-ĐTD)sang châu Á - Thái Bình Dương (CA-TBD) với mục đích bao vây, phong tỏa,kiềm chế, tiến tới tiêu diệt Liên Xô, ngăn chặn CNCS Mỹ đã chi nhữngkhoản tài chính khổng lồ cho ngân sách quân sự hàng năm và viện trợ quân sựcho các nước thành viên khối NATO, SEATO và các đồng minh song phươngkhác Thực chất chiến lược toàn cầu "Ngăn chặn" của Mỹ không chỉ nhằmchống Liên Xô, chống CNCS, mà còn thực hiện các mục tiêu phát triển nước
Mỹ hùng mạnh cả về kinh tế, quân sự và chính trị làm chỗ dùa để thực hiệntham vọng bá chủ thế giới của Mỹ Chiến lược "Ngăn chặn" đã được nhiềulần điều chỉnh qua các đời Tổng thống Mỹ từ 1947 đến 1991, song mục tiêuđối ngoại xuyên suốt là thống trị thế giới và tiêu diệt CNCS thì không hề thayđổi
Để đối phó lại âm mưu của các thế lực đế quốc hiếu chiến PhươngTây đứng đầu là Mỹ, Liên Xô buộc phải tìm mọi cách tăng cường sức mạnhchính trị - quân sự của mình Một mặt, Liên Xô tập trung các nguồn lực xâydựng quân đội hùng mạnh, nền quốc phòng hiện đại, nghiên cứu chế tạo được
vũ khí hạt nhân (năm 1949) để phá thế độc quyền vũ khí hạt nhân của Mỹ.Mặt khác, Liên Xô tích cực triển khai kế hoạch xây dựng hệ thống an ninh tậpthể Do châu Âu có vị trí địa - chính trị, địa - chiến lược quan trọng đối vớihòa bình, ổn định thế giới, cũng là nơi tập trung các lợi Ých sống còn củaLiên Xô và Mỹ, nên chính sách đối ngoại của Liên Xô nhìn chung rất chútrọng châu Âu Theo sáng kiến của ĐCS Liên Xô, tháng 9 năm 1947, tạiVacsava (Ba Lan), đã diễn ra Hội nghị đại biểu các ĐCS Liên Xô, Bungari,Hungari, Ba Lan, Rumani, Tiệp Khắc, Nam Tư, Pháp và Italia Hội nghịthông qua bản tuyên bố rằng thế giới lúc này đã chia thành hai phe: pheĐQCN do Mỹ đứng đầu và phe XHCN do Liên Xô đứng đầu Hội nghị quyếtđịnh thành lập cơ quan thông tin của một số ĐCS và công nhân với tên gọi
Trang 16"Cục thông tin quốc tế" (KOMINFORM) Còn sau đó, để đối phó với khối
NATO, tháng 5/1955, tại Vacsava đã ra đời một Liên minh chính trị - quân sự
của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu với việc ký kết Hiệp ước hữu nghị,
hợp tác và tương trợ Vacsava (gọi tắt là Hiệp ước Vacsava)
Cùng với sự tồn tại của khối NATO do Mỹ chi phối và chỉ huy, sù ra
đời của khối Vacsava do Liên Xô đứng đầu đã đẩy lục địa châu Âu đến một
cuộc đối đầu trực tiếp giữa hai khối chính trị - quân sự hùng mạnh nhất Sự
đối đầu căng thẳng, cuộc chạy đua vũ trang quy mô lớn (từ vũ khí hạt nhân
chiến lược và chiến thuật đến vũ khí thông thường) giữa hai khối là biểu hiện
đặc trưng nhất của quan hệ Xô - Mỹ trong thời kỳ chiến tranh lạnh Cuộc chạy
đua vũ trang đó đạt tới đỉnh cao vào những năm 70, khi hai bên cân bằng vũ
khí hạt nhân Mỹ đã thiết lập hơn 2000 căn cứ quân sự với khoảng 1,5 triệu
quân đóng ở nước ngoài (trong tổng số 3.477.000 quân thường trực Mỹ) Liên
Xô cũng đưa hàng chục vạn quân đóng ở các nước khối Vacsava (tập trung ở
CHDC Đức), ở Mông Cổ và biên giới Xô - Trung [89, tr 243]
Bảng 1.1: Tương quan vũ khí hạt nhân chiến lược
Đơn vị tính: chiếc
Bảng 1.2: Tương quan vũ khí thông thường
X e t T à u Đ ạ i b T r ự c M á y b
Nguồn: Bảng 1.1 và 1.2: Dẫn theo C M Rôgốp, "Nga và Mỹ trước
ngưỡng cửa thế kỷ 21", Tạp chí Tư tưởng tự do, sè 5/97 (Tiếng Nga), tr 95.
Ngoài ra, sự đối đầu giữa hai cực Xô - Mỹ còn biểu hiện qua các cuộc
chiến tranh nóng cục bộ giữa các đồng minh của Mỹ, một bên, với các đồng
minh của Liên Xô, một bên khác Hàng loạt cuộc chiến tranh khu vực ở nhiều
nơi trên thế giới (Trung Đông, Đông Dương, bán đảo Triều Tiên, v.v.) có sự
dính líu, can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp của Mỹ và Liên Xô
Trang 17Tuy nhiên, dù buộc phải lao vào cuộc chạy đua vũ trang với Mỹ, Liên
Xô vẫn kiên trì cuộc đấu tranh trên mặt trận đối ngoại vì hòa bình, an ninh và
phát triển Trên các diễn đàn quốc tế, trong các cuộc tiếp xúc, đàm phán ở các
tổ chức khu vực cũng như trong quan hệ song phương Xô - Mỹ, các đại diệncủa Liên Xô bằng nhiều phương pháp, phương tiện ngoại giao kiên trì đấutranh nhằm giải trừ quân bị, cấm thử, cấm phổ biến vũ khí hạt nhân, thiết lập
hệ thống an ninh tập thể giữa các nước có chế độ chính trị - xã hội khácnhau, v.v Về phía Mỹ, do tác động của nhiều nhân tố khác nhau, cũng buộcphải bắt đầu các cuộc tiếp xúc, đàm phán với Liên Xô về các vấn đề trên Từthập niên 70 bắt đầu có những bước tiến đáng kể trong việc cải thiện quan hệ
Xô - Mỹ Tháng 5/1972, Tổng thống Mỹ R.Nichxơn đến thăm Liên Xô, haibên có những cuộc hội đàm quan trọng, kết quả đã ký được các văn kiện có ýnghĩa rất tích cực là:
1- Hiệp ước về hạn chế hệ thống phòng thủ chống tên lửa (ABM);2- Hiệp định tạm thời về hạn chế vũ khí tiến công chiến lược (SALT-1)
Tháng 7 năm 1974, Hiệp ước ABM được bổ sung thêm một Nghị địnhthư quy định mỗi bên chỉ triển khai một hệ thống ABM với số lượng tên lửagiảm một nửa so với ABM-1972 (ABM-1972 quy định mỗi bên Xô - Mỹ cóhai hệ thống phòng thủ chống tên lửa, một ở thủ đô và một ở khu vực có tênlửa chiến lược, với không quá 200 tên lửa chống tên lửa) [113, tr 410] Cóthể nói, Hiệp ước ABM là Hiệp ước tạo cơ sở cho hai nước Liên Xô và Mỹ kýHiệp định SALT-1 và sau đó là SALT-2 Các Hiệp ước ABM, SALT-1 vàSALT-2 đã tạo nên sự cân bằng chiến lược về lực lượng hạt nhân, vừa giữcho hai siêu cường thoát khỏi nguy cơ một cuộc chiến tranh hạt nhân, vừa hạnchế đáng kể cuộc chạy đua vũ trang quy mô toàn cầu
Nhưng từ năm 1981, khi R.Rigân lên làm Tổng thống Mỹ, quan hệ
Xô - Mỹ bắt đầu căng thẳng trở lại Vị Tổng thống thuộc Đảng Cộng hòa này
Trang 18đó thực hiện hàng loạt cỏc động thỏi đối ngoại nguy hiểm, như bố trớ tờn lửatầm trung hiện đại "Pershing" và "Cruise" ở một số nước chõu Âu, vạch ra kếhoạch "Chiến tranh giữa cỏc vỡ sao" hay "Sỏng kiến phũng thủ chiến lược"(SDI) nhằm phỏ thế cõn bằng quõn sự với Liờn Xụ Năm 1985, chi phớ quốcphũng Mỹ lờn tới gần 400 tỷ USD, chiếm 28% ngõn sỏch Liờn bang và 7%GDP [5, tr 3] Cũn Liờn Xụ, theo tài liệu của Mỹ, cũng chi phớ quốc phũnglờn tới gần 280 tỷ USD, chiếm khoảng 50% ngõn sỏch Liờn bang và 10%GDP hàng năm [178] Theo số liệu của cơ quan kiểm soỏt lực lượng vũ trang
và giải trừ quõn bị Mỹ, chi phớ quốc phũng tớnh theo đầu người của Mỹ lớnhơn 6 lần chỉ số chung của thế giới, lớn hơn 3 lần so với cỏc nước Tõy Âu vàlớn hơn 6 lần so với Nhật Bản [178] Học thuyết quõn sự của Rigõn "Phảnứng linh hoạt mới" được mệnh danh là "Học thuyết chạy đua vũ trang, khụiphục vị trớ đứng đầu thế giới"
6 lần so với Nhật Bản [178] Học thuyết quân sự của Rigân "Phản ứng linhhoạt mới" đợc mệnh danh là "Học thuyết chạy đua vũ trang, khôi phục vịtrí đứng đầu thế giới" đó dẫn đến tỡnh trạng hết sức phức tạp và căng thẳngtrong quan hệ Xụ - Mỹ cũng như quan hệ giữa nhiều nước khỏc trong suốtnhiệm kỳ đầu của Tổng thống Rigõn
Năm 1985 đỏnh dấu bước khởi đầu quỏ trỡnh thay đổi cú tớnh chất bướcngoặt trong chớnh sỏch đối ngoại cũng như đối nội của Liờn Xụ.M.Goúcbachốp lờn nắm quyền lónh đạo ở Liờn Xụ, với "Tư duy chớnh trịmới" đó cú những điều chỉnh chiến lược đối ngoại nhằm chuyển biến quan hệ
từ đối đầu sang đối thoại với Mỹ Rất nhiều cuộc gặp cấp cao chớnh thức vàkhụng chớnh thức giữa M.Goúcbachốp với R.Rigõn rồi với G.Busơ đó đượctiến hành Cuộc gặp chớnh thức cấp cao Xụ - Mỹ cú ý nghĩa quan trọng đầutiờn là cuộc gặp giữa M Goúcbachốp và R.Rigõn tại Rõygiavớch (Aixơlen).Tại đõy, những người đứng đầu hai Nhà nước Liờn Xụ và Mỹ đó bắt đầunhững cuộc đàm phỏn khỏ phức tạp về cắt giảm vũ khớ hạt nhõn, kể cả vũ khớ
Trang 19hạt nhân chiến lược Những cuộc đàm phán tiếp nối sau đó đã dẫn đến chỗnhiều văn kiện song phương Xô - Mỹ đã được ký kết, trong đó quan trọngnhất là Hiệp ước về vũ khí hạt nhân tầm trung (Intermediate-range NuclearForces - INF) tháng 12/1987 Theo Hiệp ước này, hai bên thỏa thuận phá hủykhoảng 3% kho vũ khí hạt nhân của mỗi nước gồm hàng trăm tên lửa tầmtrung và tầm ngắn, có khả năng tiếp cận mục tiêu xa dưới 3.400 dặm và chophép tiến hành kiểm tra bất ngờ các cơ sở hạt nhân của nhau Tháng 12 năm
1989 diễn ra cuộc gặp không chính thức, song thực sự là "cuộc gặp lịch sử"giữa M.Goócbachốp và G.Busơ tại đảo Manta trên Địa Trung Hải Tại đây,Tổng bí thư BCH trung ương ĐCS Liên Xô M.Goócbachốp và Tổng thống
Mỹ G.Busơ tuyên bố từ nay Liên Xô và Mỹ không coi nhau là kẻ thù, thỏathuận cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến lược và tăng cường hợp tác với nhau đểgiải quyết các vấn đề quốc tế, Đây là cuộc gặp thu hót sự chú ý của dư luậnthế giới và được coi là thời điểm bắt đầu kết thúc thời kỳ "chiến tranh lạnh"giữa hai siêu cường Gần một năm sau, tháng 11 năm 1990, Hội nghị Parislịch sử diễn ra với sự có mặt của G.Busơ, M.Goócbachốp, các nhà lãnh đạocủa 20 quốc gia thành viên khối NATO và khối Vacsava Tại đây các nhàlãnh đạo kể trên đã ký điều ước không xâm phạm lẫn nhau và chính thức ratuyên bố chung chấm dứt Chiến tranh lạnh (Hiến chương Paris 11/1990)
Kể từ đó, quan hệ Xô - Mỹ thực sự chuyển từ đối đầu sang đối thoại,hợp tác giải quyết những vấn đề quốc tế, những tranh chấp, xung đột vũ tranggiữa hai khối và giữa một số nước ở các khu vực trên thế giới (Ápganistan,Cămpuchia, Namibia, Trung Đông, ) Trong số những thỏa hiệp, nhượng bộbất lợi cho Liên Xô của M.Goócbachốp phải kể đến việc Tổ chức Hiệp ướcVacsava tuyên bố tự giải thể tháng 3/1991
Một hiệp ước có ý nghĩa tích cực hơn, đánh dấu lần hòa dịu cuối cùngtrong quan hệ Xô - Mỹ là "Hiệp ước hạn chế và giảm bớt vũ khí tiến côngchiến lược" (START-1) được G.Busơ và M.Goócbachốp ký ngày 31 tháng 7
Trang 20năm 1991 Theo các thỏa thuận đạt được giữa hai Tổng thống, Mỹ và Liên Xô
sẽ thủ tiêu khoảng 1/3 kho vũ khí hạt nhân chiến lược của mỗi bên trong vòng
7 năm tính từ ngày ký
Tuy nhiên, do tác động của hàng loạt nhân tố, cả chủ quan lẫn kháchquan, cả bên trong lẫn bên ngoài, siêu cường Liên bang Cộng hòa XHCN Xôviết - mét trong những nhà nước hùng mạnh bậc nhất trong nền chính trị thế
kỷ XX - đã phải chấm dứt sự tồn tại của mình vào cuối năm 1991 Tính từthời điểm lịch sử này, 15 nước Cộng hòa Xô viết chính thức trở thành cácquốc gia độc lập, có chủ quyền, những chủ thể pháp lý quốc tế mới, đượcLiên hợp quốc và cộng đồng quốc tế thừa nhận
Sù tan rã của Liên bang Xô viết và sự ra đời của 15 quốc gia độc lậptrong không gian hậu Xô viết cũng đồng nghĩa với sự tan rã của trật tự thế giớihai cực để bắt đầu cho quá trình tìm kiếm, kiến tạo một trật tự thế giới mới
Như vậy, cuộc "chiến tranh lạnh" do giới cầm quyền Mỹ phát độngsau chiến tranh thế giới thứ hai, kéo dài hơn 4 thập niên giữa hai siêu cường
Xô - Mỹ đứng đầu hai khối đối địch, có đặc trưng cơ bản là tình trạng đối đầu
và không khí thù địch, từ đây chấm dứt Kể từ thời điểm này, trong lĩnh vựcquan hệ quốc tế bắt đầu một thời kỳ mới - thời kỳ "sau chiến tranh lạnh"
1.1.2 Quan hệ kinh tế - thương mại và khoa học - kỹ thuật Xô - Mỹ
Quan hệ kinh tế - thương mại chính thức giữa Liên Xô và Mỹ được đánhdấu bằng "Hiệp định về quan hệ thương mại Xô - Mỹ" ký ngày 13 tháng 7năm 1935 Sau một thời gian thực hiện, Hiệp định thương mại Xô - Mỹ năm 1935được điều chỉnh, rồi được thay bằng Hiệp định thương mại ký ngày 4 tháng 8năm 1937 Hiệp định thương mại Xô - Mỹ năm 1937 ghi rõ rằng Mỹ và Liên Xô
sẽ giành cho nhau quy chế tối huệ quốc (MFN) vô điều kiện và không hạn chếtrong tất cả các lĩnh vực liên quan đến thuế quan mậu dịch, thuế doanh thu, thể
lệ và thủ tục xuất khẩu, đến việc bán và sử dụng hàng Nga ở Mỹ và Liên Xô
Trang 21Phía Mỹ bảo đảm rằng mọi ưu tiên, ưu đãi nêu trên, đã hoặc sẽ được Mỹgiành cho nước thứ ba, cũng sẽ ngay lập tức giành cho Liên Xô Còn phía Liên
Xô thì có nghĩa vụ thực hiện các biện pháp nhằm tăng khối lượng hàng nhập khẩu
từ Mỹ
Có thể nói, Hiệp định thương mại năm 1937 tạo nền tảng pháp lý đầutiên thúc đẩy quan hệ kinh tế - thương mại Xô - Mỹ phát triển khá mạnh chođến vài năm sau chiến tranh thế giới thứ II
Tuy nhiên, cùng với việc phát động cuộc "chiến tranh lạnh", Mỹ bắtđầu thực hiện những biện pháp hạn chế thương mại với Liên Xô Chẳng hạn,
từ đầu năm 1947, chính phủ Mỹ ngừng cung cấp máy móc, thiết bị cho LiênXô; năm 1949 áp dụng chế độ cấp quota sang châu Âu nhằm chống lại LiênXô, Đặc biệt, Mỹ bắt đầu thi hành Luật kiểm soát xuất khẩu, mà theo luậtnày, người ta đã áp dụng các hạn ngạch có tính chất phân biệt đối xử đối vớihàng Mỹ xuất sang Liên Xô Năm 1951, Mỹ thông qua cái gọi là Luật Bettlanhằm bắt các nước khác thống nhất với Mỹ trong chính sách hạn chế thươngmại với Liên Xô Cuối cùng, ngày 21 tháng 6 năm 1951, Mỹ đơn phương hủy
bỏ Hiệp định thương mại Xô - Mỹ năm 1937 Tính từ thời điểm này, quan hệkinh tế - thương mại giữa hai nước bắt đầu suy giảm mạnh
Nhìn chung, cho đến tận đầu thập niên 90, quan hệ kinh tế - thươngmại Xô - Mỹ ở mức rất thấp và luôn bị sự đối đầu về ý thức hệ giữa hai hệthống chính trị - xã hội chế ước ở mức đáng kể Những quan hệ làm ăn buôn bángiữa hai nước không hiếm khi trở thành vật hy sinh của cuộc đối đầu tư tưởng
Êy, nên thường mang tính chất không vững chắc, bị gián đoạn hoặc đổ vỡ Cơcấu trao đổi kinh tế thời kỳ "chiến tranh lạnh" giữa hai nước có đặc trưng nổibật là biến dạng và rất mất cân đối Trên thực tế, thương mại Xô - Mỹ giớihạn ở việc Liên Xô mua từ Mỹ ngò cốc cho gia súc và một số lô hàng nhỏ cácthiết bị đồng bộ, còn bán sang Mỹ một khối lượng hạn chế sản phẩm từ dầu
mỏ, hàng hóa học, một số sản phẩm truyền thống như rượu vốt ca, trứng cá,
Trang 22cua Cỏn cõn thương mại núi chung nghiờng về phớa cú lợi cho Mỹ nhiềuhơn.
Vật cản nghiờm trọng trong việc phỏt triển quan hệ kinh tế - thươngmại bỡnh thường giữa Liờn Xụ và Mỹ cũn do cú những barie đủ loại, trước hết
là trong cỏc bộ luật của Mỹ Cỏc bộ luật này đưa ra nhiều điều kiện chớnh trịkhỏc nhau làm hạn chế đỏng kể quan hệ kinh tế, đặc biệt là trong cỏc lĩnh vựccụng nghệ cao Chẳng hạn, điều luật Giắcxơn - Vanich khột tiếng ra đời năm
1974, bổ sung cho phần II của Luật thương mại Mỹ, nhằm ngăn cấm giành chocỏc nước XHCN quy chế tối huệ quốc (MFN) trong thương mại và ngăn cản cỏcnước này tham gia vào cỏc chương trỡnh kinh tế đối ngoại của chớnh phủ Mỹ,
Về quan hệ khoa học - cụng nghệ Xụ - Mỹ, thỡ trong bối cảnh đối đầugay gắt giữa hai khối, quan hệ đú khụng thể khụng mang tớnh chất hạn hẹp,tạm thời Cỏc trớ tuệ siờu việt ở cả hai nước thường chỉ chỳ ý tập trung nghiờncứu làm sao đạt được ưu thế quõn sự so với phớa bờn kia Tuy nhiờn, hai nướccũng đó ký được một số Hiệp định về hợp tỏc trong lĩnh vực khoa học, kỹthuật, cụng nghệ, nhất là từ những năm 70 Chẳng hạn, năm 1972 ký Hiệpđịnh về hợp tỏc khoa học - kỹ thuật; năm 1973 ký Hiệp định về hợp tỏc tronglĩnh vực sử dụng năng lượng nguyờn tử vào mục đớch hũa bỡnh; năm 1974 kýHiệp định về hợp tỏc nghiờn cứu và sử dụng khoảng khụng vũ trụ vào mụcđớch hũa bỡnh, v.v Chuyến bay vũ trụ mà hai nước thực hiện năm 1975 theochương trỡnh nghiờn cứu vũ trụ "Soiuz - Apollon" đó đi vào lịch sử như làđỉnh cao của quan hệ hợp tỏc Xụ - Mỹ hiếm hoi
Về tổng thể, từ năm 1933 đến 1991, Liờn Xụ và Mỹ đó ký cỏc hiệpđịnh, hiệp ước trong cỏc lĩnh vực kinh tế - thương mại, khoa học - kỹ thuật -cụng nghệ như sau:
Bảng 1.3: Quan hệ kinh tế - thương mại Xụ - Mỹ 1933-1991 qua cỏc hiệp
định đó ký qua các hiệp định đã ký
Trang 23Bảng 1.4: Cỏc Hiệp định hợp tỏc khoa học - kỹ thuật - cụng nghệ mà Liờn
Xụ và Mỹ đó ký
mà Liên Xô và Mỹ đã ký
Nguồn: Bảng 1.3 và 1.4 dẫn theo Kredin, Tạp chớ Đời sống quốc tế, số
4/1998, tr.12 (Tiếng Nga)
Để thực hiện cỏc hiệp định, hiệp ước, thỏa ước đó ký, Liờn Xụ và Mỹ
đó thành lập một số cơ quan liờn chớnh phủ nhằm thực thi, giỏm sỏt và điềutiết quan hệ tương ứng với cỏc văn bản đú Tuy nhiờn, trờn thực tế khụng phảimọi điều khoản đó được hai bờn thỏa thuận trong cỏc văn bản ấy được thựchiện nghiờm chỉnh và đầy đủ, chưa núi đến việc nhiều hiệp định, hiệp ướcđược ký mà khụng được thực hiện
Trong lĩnh vực quan hệ kinh tế đối ngoại, cú một điểm rất đỏng chỳ ý
là tỡnh trạng biệt lập, đúng cửa, đúng khung quan hệ kinh tế trong khối SEV(Hội đồng tương trợ kinh tế) của Liờn Xụ Tất nhiờn, cú tỡnh trạng này là do
Mỹ và cỏc nước Phương Tõy thực hiện chớnh sỏch bao võy, cấm vận, phongtỏa kinh tế Liờn Xụ và cỏc nước XHCN, vốn sinh sau đẻ muộn lại bị chiếntranh tàn phỏ nặng nề Hoàn cảnh lịch sử đú đó đẩy lựi khả năng mở rộngquan hệ hợp tỏc kinh tế - thương mại, khoa học - cụng nghệ của Liờn Xụ với
Mỹ núi riờng, với thế giới bờn ngoài khối SEV núi chung Song điều đỏng núi
là, khi đúng khung quan hệ kinh tế - thương mại trong khối SEV, Liờn Xụ đóthực hiện quan hệ đú chủ yếu theo kiểu bao cấp nờn vừa kộm hiệu quả, vừalóng phớ cỏc nguồn lực Hậu quả là Liờn Xụ đỏnh mất cỏc lợi thế so sỏnhtrong phõn cụng lao động quốc tế; nền kinh tế Liờn Xụ tụt hậu ngày càng xa
so với Mỹ và cỏc nước tư bản phỏt triển
Đú là di sản quan hệ chớnh trị - quõn sự, kinh tế - thương mại và khoahọc - kỹ thuật song phương mà Nga và Mỹ kế thừa khi bước sang thời kỳ "sauchiến tranh lạnh" Rừ ràng chỉ để vứt bỏ những chướng ngại vật mà "chiếntranh lạnh" để lại khụng thụi cũng đó cần khụng ít nỗ lực và thời gian của cả
Trang 24hai nước Thế mà bức tranh thế giới thời kỳ "sau chiến tranh lạnh" lại có mộtđặc điểm nổi bật là rất không rõ ràng Đúng như một học giả Phương Tây đãnhận xét, "Với việc chấm dứt chiến tranh lạnh, thế giới trở nên Ýt nguy hiểmhơn, nhưng đồng thời cũng Ýt ổn định hơn và khó tiên đoán hơn" [137] Sùtan rã nhanh chóng của Liên Xô trong tư cách một cơ cấu địa - chính trị ổnđịnh trong khi chưa có một cơ cấu chuyển tiếp thích hợp khiến cho các mốiQHQT bị xáo trộn, gây khó khăn rất lớn cho nhiều nước, trước hết là LB Nga
và các nước Cộng hòa Xô viết cũ Các mối quan hệ giữa LB Nga và Mỹ cònliên quan chặt chẽ đến thực trạng chính trị, kinh tế, xã hội của từng nước, đến ý
đồ và tham vọng của ban lãnh đạo từng nước trên trường quốc tế, đến các lĩnhvực quan hệ đa phương khác, đến những thay đổi to lớn đã và đang diễn ratrong đời sống xã hội loài người trên phạm vi toàn cầu và ở các khu vực khácnhau, v.v Chúng tôi sẽ tập trung xem xét các quan hệ chính trị - đối ngoại,quân sù - an ninh, kinh tế - thương mại và khoa học - công nghệ giữa hai đốithủ cũ này trong tổng thể các mối quan hệ chằng chịt, ràng buộc và chi phốilẫn nhau đó
1.2 SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA LIÊN BANG NGA
TỪ SAU KHI LIÊN XÔ TAN RÃ ĐẾN CUỐI THẬP NIÊN 90
Nói về Nga - nước Cộng hòa lớn nhất, có tiềm lực mạnh nhất của Liênbang Xô viết - thì ngay từ ngày 12/6/1990, Xô viết tối cao Cộng hòa XHCN
Xô viết LB Nga đứng đầu là B.Enxin đã ra Tuyên bố về chủ quyền quốc giacủa Nga Sự kiện này đánh dấu bước khởi đầu của việc hình thành một "nướcNga mới" từ lúc còn nằm trong thành phần của Liên Xô Đúng một năm sau,Cộng hòa XHCN Xô viết LB Nga tiến hành cuộc bầu cử Tổng thống Nga đầutiên B.Enxin tróng cử Tổng thống, càng xúc tiến mạnh mẽ hơn cuộc đấutranh giành quyền lực với chính quyền trung ương Liên bang Nhưng cũngphải sau khi Liên Xô chính thức bị xóa tên trên bản đồ chính trị thế giới, thìNga cũng như các nước Cộng hòa Xô viết cũ khác mới thật sự trở thành các
Trang 25quốc gia độc lập, có chủ quyền, những chủ thể pháp lý quốc tế mới, đượcLHQ và cộng đồng quốc tế thừa nhận.
LB Nga bước ra vũ đài quốc tế không chỉ như một trong những nước
kế thừa chính thống Liên Xô, mà còn được tiếp nhận quy chế đặc biệt "Quốcgia kế tục Liên Xô" Quy chế này thể hiện ở ba khía cạnh sau:
1 Nga được LHQ đồng ý chuyển giao chiếc ghế ủy viên thường trựcHội đồng bảo an vốn do Liên Xô nắm giữ trước đây;
2 Các đại sứ của Liên Xô trước đây ở tất cả các nước được thừa nhận
là đại sứ LB Nga mà không cần chuyển giao đặc nhiệm - trao lại ủy nhiệm thư;
3 Trong các nước Cộng hòa của siêu cường hạt nhân Liên Xô cũ, chỉ
LB Nga được thừa nhận là cường quốc hạt nhân, "nót bấm hạt nhân" thuộc vềTổng thống Nga (trước đây vũ khí hạt nhân của Liên Xô được bố trí trên lãnhthổ của 4 nước Cộng hòa thành viên: Nga, Ucraina, Bêlôrussia, Cadắcstan)
Ngoài ra, LB Nga còn có những ưu thế vượt trội, những lợi thế khôngchỉ so với các nước Cộng hòa Xô viết cũ khác, mà còn so với nhiều nước lớntrên thế giới Được kế thừa phần lớn di sản kinh tế, quân sự, tiềm lực khoahọc, kỹ thuật và tiềm lực trí tuệ của Liên Xô trước đây, cộng với những lợithế khách quan khác, LB Nga có tất cả những yếu tố cấu thành sức mạnh củamột cường quốc Các yếu tố, nhân tố đó là:
Thứ nhất, với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, lớn và quý
hiếm trên một lãnh thổ rộng 17.075.400 km2, LB Nga có thể tự cung ứng hoàntoàn nhiên, nguyên liệu cho các ngành công nghiệp của mình Nga hiện cũng
đã có một cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh và hiện đại;
Thứ hai, LB Nga có tiềm lực quân sự mạnh, đặc biệt vẫn có một kho
vũ khí hạt nhân chiến lược lớn, và trong lĩnh vực này Nga vẫn là siêu cường;
Thứ ba, với dân số khoảng 148 triệu người (đứng thứ 6 thế giới), chất
lượng dân số cao, nước Nga có tiềm năng trí tuệ lớn LB Nga có đội ngò đông
Trang 26đảo các nhà bác học, cán bộ khoa học và công nhân lành nghề, có một nềnkhoa học cơ bản hàng đầu thế giới;
Thứ tư, sức mạnh tinh thần và ý chí của quảng đại người Nga Dân téc
Nga là một dân téc không những có lòng yêu nước rất cao, có tố chất ngoancường và không dễ lùi bước, mà còn giỏi chịu đựng, hy sinh, có tinh thần tậpthể;
Thứ năm, LB Nga có vị trí địa - chính trị đặc thù, có một không hai
trên thế giới: vị trí án ngữ giữa các cường quốc Đại Tây Dương cũ và cáccường quốc CA-TBD mới Trong xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa hiện nay,yếu tố thứ năm này rất được coi trọng (Cựu thứ trưởng ngoại giao Mỹ,chuyên gia về Nga - S.Tanbốt nói rằng nước Nga giữ chiếc chìa khóa có thể
mở hoặc đóng những cánh cửa khác)
Tuy nhiên, so với Liên Xô trước đây, LB Nga hiện nay đã suy yếu
tương đối, đang gặp phải rất nhiều khó khăn Về hiện trạng kinh tế, Nga đang
ở thế bất lợi, đang phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của cuộc khủnghoảng kinh tế trầm trọng và kéo dài suốt từ sau khi Liên Xô tan rã Thêm vào
đó, việc Liên Xô tan rã làm cho quan hệ liên kết kinh tế giữa Nga với cácnước Cộng hòa Xô viết cò - vốn là mối liên kết của một nền kinh tế thốngnhất trong đa dạng, bị phá vỡ và gián đoạn Theo đánh giá của các chuyên giakinh tế, sự cắt đứt các quan hệ kinh tế truyền thống này đã làm suy giảm 1/3,thậm chí tới 50 - 70% mức sản xuất chung của từng nước Cộng hòa, kể cả LBNga Ngoài ra, sự giải thể của Hội đồng tương trợ kinh tế (3/1991) đã làmNga mất đi thị trường nước ngoài truyền thống, nơi chiếm tới 2/3 hoạt độngxuất nhập khẩu của Liên Xô trước đây Thị trường truyền thống bị phá vỡ,gián đoạn và thu hẹp, thị trường mới chưa được khai thông, hoạt động kinh tếđối ngoại của Nga lại còn gặp phải những khó khăn, phức tạp khác nữa Đó làviệc hàng hóa Nga chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới; là việcNga không thu hót được nhiều viện trợ đầu tư nước ngoài; là khoản nợ nướcngoài tính đến năm 1992 mà Nga kế thừa từ Liên Xô là 103 tỷ USD, trong đó
Trang 27nợ đến hạn phải trả ngay trong năm 1992 là 6 tỷ USD [169], v.v Bảng 1.5cho chóng ta thấy rõ hiện trạng nền kinh tế Nga từ sau khi trở thành quốc giađộc lập.
Bảng 1.5: Các chỉ số kinh tế cơ bản của LB Nga
Nguồn: Dẫn theo I.U Ivanốp, "So sánh GDP của Nga và các nước
SNG khác…", T/c Những vấn đề kinh tế , sè 1 1998 tr 105-115 (Tiếng Nga).
Về chính trị, nước Nga trong suốt thập niên 90 chưa hề tạo lập được
sự ổn định chính trị Trên chính trường Nga đã và đang diễn ra cuộc đấu tranhgiành quyền lực gay gắt và quyết liệt giữa các lực lượng, các phe phái chínhtrị khác nhau, thậm chí đối lập nhau Ngoài ra còn diễn ra cuộc đấu tranh giữachính quyền trung ương và các chủ thể của Liên bang Các khu vực, các nướcCộng hòa tự trị đấu tranh với chính quyền Trung ương để hoặc đòi quyền tựchủ, tự quyết lớn hơn, hoặc đòi ly khai, đặc biệt nóng bỏng và hết sức phứctạp là khu vực Bắc Cápcadơ Do đó, nền chính trị Nga vẫn tiềm Èn khá nhiềunhân tố bất trắc, khó dự báo
Về quân sù - an ninh, tuy được kế thừa phần lớn di sản quân sự khổng lồ
cả về hải lục không quân, các tổ hợp, nhà máy quốc phòng, nền công nghiệpquốc phòng, v.v khá hiện đại của siêu cường quân sự Liên Xô trước đây, song
cơ sở vật chất - kỹ thuật và tinh thần của toàn bộ di sản đó đã bị xuống cấpnghiêm trọng Kinh tế Nga suy giảm, không tạo được nguồn tài chính cần thiết,thậm chí tối thiểu để nâng cấp, bảo dưỡng, chưa nói đến việc hiện đại hóa lựclượng vũ trang Nga Trong khi đó, an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ củanước Nga chưa được bảo đảm vững chắc, nhất là khu vực phía Nam rộng lớncủa nước Nga vốn vẫn là địa bàn hoạt động của chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩaHồi giáo cực đoan, địa bàn tranh giành ảnh hưởng của các thế lực khác nhau trênthế giới
Trang 28Tình trạng kinh tế suy thoái trầm trọng, chính trị bất ổn, an ninh quốcgia và cá nhân không được bảo đảm đã tác động rất xấu đến đời sống củangười dân lao động Nga, làm gia tăng sự bất bình trong xã hội Nga Đánh giáhiện trạng nước Nga "hậu Xô viết", một học giả Phương Tây nhận xét, "Nga
có xu hướng tồn tại như một chính thể đa nguyên với nền dân chủ và luậtpháp yếu kém, một xã hội dân sự mới phôi thai, một nền kinh tế dùa trên khaithác nguyên liệu thô và một dân số bần cùng hóa"[91]
Trên trường quốc tế, tuy có được quy chế đặc biệt "Quốc gia kế tụcLiên Xô", song vị thế quốc tế của LB Nga bị giảm sút đáng kể Tương quanlực lượng trên trường quốc tế đã thay đổi rất bất lợi cho LB Nga "Nước Ngamới" phải đối mặt với những thách thức, những nguy cơ chủ yếu sau:
Về kinh tế, nguy cơ tụt hậu ngày càng xa so với các nước phát triển ở
châu Âu và trên thế giới đã trở thành một nguy cơ thực sự đối với LB Nga.Thậm chí do suy thoái kinh tế kéo dài mà GDP/người của Nga hiện nay kémmột số nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ la tinh Theonhững chỉ số khách quan của tiềm lực kinh tế, LB Nga đang bị đẩy vào số các
"quốc gia hạng hai" và rơi vào vị trí rất bất lợi trong phân công lao động quốc
tế Do đó, LB Nga có nguy cơ không lọt vào số các trung tâm sức mạnh chủyếu, một cực chủ yếu của trật tự thế giới mới sau chiến tranh lạnh
Trong lĩnh vực bảo đảm an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, nước
Nga cũng đang đối mặt với những nguy cơ lớn Đó là, thứ nhất, sự tan rã củaLiên Xô, sự giải thể của tổ chức "Hiệp ước Vacsava" và "Hội đồng tương trợkinh tế" đã làm Nga mất đi vai trò chi phối và vùng đệm chiến lược ở TrungĐông Âu, ở khu vực Bantích Trong khi đó, khối NATO có xu hướng mởrộng, áp sát biên giới phía Tây của nước Nga Thứ hai, các nước Cộng hòa Xôviết cũ đều đã là các quốc gia độc lập, có chủ quyền, những chủ thể pháp lýquốc tế mới, thế mà quan hệ giữa Nga với các "nước ngoài mới" đó (hay
"nước ngoài gần", "láng giềng gần") không hoàn toàn suôn sẻ, chưa nói đến
Trang 29các mâu thuẫn, xung đột, tranh chấp với họ Ngoài ra, ở hướng Đông, trongquan hệ Nhật - Nga còn có vấn đề quần đảo Curin chưa được giải quyết, trongkhi Liên minh quân sự Nhật - Mỹ đang không ngừng được củng cố.
Nguy cơ thứ ba: Trong bối cảnh thế giới sau chiến tranh lạnh và sau
Liên Xô, LB Nga không có kẻ thù công khai và trực tiếp, nhưng cũng không
có đồng minh, luôn có nguy cơ bị cô lập trên trường quốc tế Nguy cơ này là
có thật và ngày càng nghiêm trọng hơn khi quá trình liên kết kinh tế quốc tế,
xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa đang được xúc tiến mạnh mẽ, mọi quốc gialớn nhỏ, mạnh yếu dù muốn hay không cũng bị cuốn hót theo
"Nước Nga mới" ra đời trong bối cảnh trong nước và quốc tế phức tạpnhư vậy, nên bộ máy chính quyền của Tổng thống B.Enxin đứng trước nhiềuvấn đề nan giải trong hoạch định và thực thi chính sách đối nội cũng như đốingoại Để đưa nước Nga sớm ra khỏi cuộc khủng hoảng, suy thoái toàn diện,trầm trọng, kéo dài ở trong nước và tiếp tục duy trì vị trí, vai trò cường quốccủa mình trên trường quốc tế, ban lãnh đạo Nga đã đề ra nhiều chính sách vàbiện pháp nhằm thực hiện ba mục tiêu chiến lược tổng quát sau:
1- Ổn định và phát triển nền kinh tế thị trường trên cơ sở tư nhân hóa;2- Ổn định tình hình chính trị - xã hội trong nước đi đôi với việc xâydựng một thể chế chính trị theo hướng đa nguyên, đa đảng và dân chủ hóakiểu Phương Tây;
3- Giữ vững tiềm lực quân sự vốn có, trên cơ sở đó củng cố vị trícường quốc của "nước Nga mới" trên trường quốc tế
Căn cứ vào các mục tiêu chiến lược có tính chất định hướng trên,chính sách đối ngoại của LB Nga được hoạch định và điều chỉnh trong quátrình phát triển từ khi nước Nga độc lập đến nay Nhìn chung, LB Nga chủtrương từ bỏ ý thức hệ trong QHQT, thiết lập quan hệ đối ngoại với tất cả cácnước trên cơ sở hợp tác, đối tác, theo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi
Trang 30Thế nhưng trên thực tế, đặc điểm nổi bật của chính sách đối ngoại Nganhững năm đầu sau khi trở thành quốc gia độc lập là đặt trọng tâm vào việc xâydựng mối quan hệ với các nước Phương Tây, trước hết với Mỹ và các nước tưbản phát triển Tây Âu Trên cơ sở cho rằng "nước Nga mới" và các nước này cónhững giá trị chung, hai bên không có lợi Ých đối nghịch nhau, LB Nga đã thựchiện chính sách đối ngoại đặt Phương Tây lên vị trí hàng đầu, "tìm mọi cách choPhương Tây thấy Nga là người mình" Việc ban lãnh đạo Nga lùa chọn chính sáchđối ngoại thiên về Phương Tây những năm đầu sau khi Liên Xô tan rã (được cáchọc giả Nga khái quát bằng thuật ngữ "chính sách đối ngoại định hướng Đại TâyDương" - Atlanticheskaja Orientassia) còn xuất phát từ những tính toán như sau:
Thứ nhất, cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội ở LB Nga bắt nguồn từ
mô hình phát triển kiểu Xô viết, do đó để ổn định và phát triển, nước Nganhất thiết phải tiến hành cải cách kinh tế và thể chế chính trị theo mô hình cácnước Phương Tây;
Thứ hai, nước Nga cần nguồn viện trợ, vốn đầu tư, khoa học và công
nghệ hiện đại, phương pháp quản lý hiện đại của các nước Phương Tây, trướchết là các nước G7;
Thứ ba, nước Nga là bộ phận không thể chia cắt của châu Âu xét về
lịch sử, văn hóa, địa - kinh tế, địa - chính trị, vì vậy, sự phát triển của "nướcNga mới" không thể tách rời sự phát triển của châu Âu; cải thiện và tăngcường quan hệ với Mỹ và Tây Âu là điều kiện đầu tiên để nước Nga quay trở
về hội nhập với châu Âu Mà hội nhập toàn bộ với châu Âu còn là để xóa bỏtâm lý của Phương Tây về "mối đe dọa của một đế chế hiếu chiến", để tạodựng hình ảnh một nước Nga mới, một "cường quốc dân chủ" trong con mắtcác quốc gia văn minh, phát triển nhất thế giới
Như vậy, mục tiêu bao trùm của chính sách đối ngoại "định hướngĐại Tây Dương" là nhanh chóng cải thiện quan hệ với các nước phương Tây để
Trang 31nước Nga sớm trở thành thành viên đầy đủ và bình đẳng của câu lạc bộ các nướcTBCN phát triển Mục tiêu này được thể hiện phần nào trong tuyên bố của Tổngthống Nga B.Enxin: "Chóng ta trở về nơi mà chúng ta đã luôn ở đó - trở vềvới khối Đồng minh, có thể nói là trở lại liên minh với các cường quốc PhươngTây Nhưng chúng ta trở lại với tư thế mạnh hơn và sáng suốt hơn sau khi đã
tù mình nếm trải những bài học cay đắng của chủ nghĩa cực quyền " [32, tr.300] Bé trưởng ngoại giao Nga A.Côdưrép thì tuyên bố: "Đối với nước Ngamới - cường quốc dân chủ, Mỹ và các nước Phương Tây không phải là mối
đe dọa, mà là những người bạn thật sự và sẽ là đồng minh, điều đó cũng tựnhiên như trước đây họ đã là kẻ thù tất nhiên của Liên Xô!" [147, tr 224]
Ngoài ra, cũng phải thấy rằng do ra đời trong bối cảnh lịch sử rất phứctạp như đã nêu trên, nên dù muốn hoặc không, LB Nga cũng phải thực hiệnchính sách đối ngoại ngả về Phương Tây trong những năm đầu sau khi Liên
Xô tan rã Bộ trưởng Ngoại giao Nga A Côdưrép khẳng định: "Thực tế đã chỉ
ra rằng hợp tác toàn diện với Phương Tây là sự lùa chọn duy nhất đúng, trướchết xét trên quan điểm lợi Ých dân téc của nước Nga" [147, tr 211]
Xuất phát từ những quan điểm, cách tính toán như trên và điều kiệnlịch sử cụ thể của nước Nga sau chiến tranh lạnh, trong giai đoạn 1991 - 1993,ban lãnh đạo Nga đã khai thác mọi khả năng (nhiều khi bằng mọi giá, kể cảnhững nhượng bộ, thỏa hiệp vô điều kiện) trong quan hệ với các nước PhươngTây, nhằm sớm đưa nước Nga hòa nhập thế giới Phương Tây Điều này thểhiện qua hàng loạt các động thái đối ngoại của LB Nga trong các vấn đề quốc
tế như các vấn đề của Nam Tư cũ; cấm vận Irắc; hòa bình ở Trung Đông; rútquân khỏi các nước Trung Đông Âu, khỏi các nước Bantích; không phản đốiNATO mở rộng sang phía Đông,
Tuy nhiên, sau hơn hai năm thực hiện chính sách đối ngoại "địnhhướng Đại Tây Dương", những kết quả mà nước Nga đạt được quá Ýt ỏi.Thành công đáng kể nhất là Nga bình thường hóa và thiết lập quan hệ với
Trang 32nhóm các nước công nghiệp phát triển nhất (G7), với Tổ chức Hợp tác vàphát triển kinh tế (OECD); được kết nạp vào IMF, WB, IBRD, nhờ đó nhậnđược một khoản tín dụng và viện trợ tài chính nhất định Tuy nhiên, cáckhoản tài chính và viện trợ đó luôn đi kèm những điều kiện nghiêm ngặt nhưvới các nước đang phát triển Trên thực tế, một "kế hoạch Mácsan" mới màNga trông chờ từ các nước Phương Tây đã không diễn ra Những viện trợkinh tế nhỏ giọt không giúp được gì cho một nền kinh tế đang lao xuống dốc,còn những cải cách nóng vội, rập khuôn theo mô hình Phương Tây cũng chỉdẫn đến sự bế tắc, vì nước Nga "hối hả đi tới dân chủ và thị trường nhưng lạiquên mất rằng để có dân chủ và thị trường như ngày nay, các nước côngnghiệp Phương Tây đã phải trả giá qua 200 năm!" [99] Nhìn chung nước Ngavẫn phải đứng ngoài lề quá trình liên kết kinh tế sôi động ở cả hướng Tây(EU) lẫn hướng Đông (APEC), cũng không tìm được chỗ đứng trong các tổchức chính trị - quân sự quan trọng khác do các nước Phương Tây lập ra thời
kỳ chiến tranh lạnh
Vậy là nhìn chung LB Nga không đạt được mục tiêu thể hiện nhữngtham vọng quá lớn của "Chính sách đối ngoại định hướng Đại Tây Dương".Hơn nữa, đường lối nhượng bộ, thỏa hiệp Phương Tây đã làm Nga mất đi vaitrò của một trong những nước chủ yếu quyết định quá trình sắp xếp lại lựclượng ở châu Âu thời kỳ sau Liên Xô Kết quả là các nước Phương Tâynghiễm nhiên giành được quyền xác định xu hướng, tính chất, nhịp độ củaquá trình đó Mỹ, NATO và EU ngày càng đóng vai trò chủ đạo trong việchình thành và củng cố hệ thống kinh tế, chính trị và an ninh mới ở châu Âu
Vị thế quốc tế của LB Nga suy giảm rõ rệt so với Liên Xô trước đây Đó cũng
là một trong những nguyên nhân làm gia tăng làn sóng bất bình trong xã hộiNga và cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa các phe phái, lực lượng chính trị,đẩy những mâu thuẫn đã tích tụ trong lòng nước Nga lên tới đỉnh điểm vàotháng 10.1993 - sù đối đầu giữa chính quyền hành pháp và cơ quan lập pháp
Trang 33Nga Tiếp đó là cuộc bầu cử Đuma quốc gia đầu tiên, tháng 12 năm 1993, vớithắng lợi thuộc về Đảng Dân chủ tự do của G.Girinốpski (dẫn đầu về số phiếutróng cử) và Đảng cộng sản LB Nga (xếp thứ hai), v.v
Tình hình trên đặt ra hàng loạt các vấn đề cấp bách đòi hỏi chính phủNga phải xem xét lại, phải điều chỉnh chính sách đối nội cũng như đối ngoạicủa mình Có thể nói từ năm 1994, LB Nga bắt đầu có những điều chỉnh quantrọng, căn bản, có tính chất bước ngoặt trong chính sách đối ngoại
Điểm nổi bật của sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của LB Nga từnăm 1994 là lấy "định hướng Âu - Á" (Evraazisskaja Orientassja) thay cho "địnhhướng Đại Tây Dương" Chính sách đối ngoại "định hướng Âu - Á" xuất phát
từ chỗ ban lãnh đạo Nga nhận thức sâu sắc hơn vị trí địa - chính trị đặc thùcủa nước Nga - một cường quốc Âu - Á với tất cả những bản sắc riêng có của
nó, bản sắc lưỡng thể Âu - Á Song điều quan trọng hơn là sau những thất bại
do chính sách đối ngoại phiến diện, chứa đầy ảo tưởng về thế giới PhươngTây, giới cầm quyền Nga mới nhận ra rằng mặc dù các nước Phương Tâykhông xem Nga là kẻ thù, nhưng cũng không coi Nga là bạn bè, là đồng minhcủa họ, thậm chí không coi Nga là đối tác cần bàn bạc, tham khảo ý kiến trongcác vấn đề quốc tế và khu vực mà hai bên cùng quan tâm Do đó, ban lãnh đạoNga xác định rõ phải xây dựng một chính sách đối ngoại độc lập hơn, năngđộng hơn, đảm bảo tốt hơn lợi Ých quốc gia Nga trên cơ sở cân bằng các mốiquan hệ với cả Phương Tây, Phương Đông lẫn Phương Nam, không quá nghiênghoặc xem nhẹ hướng nào Như vậy, việc khẳng định chính sách đối ngoại
"định hướng Âu - Á" hoàn toàn không có nghĩa là nước Nga phủ nhận hoặccoi nhẹ quan hệ với Mỹ và các nước Phương Tây Mục đích của sự điều chỉnhnày chỉ là nhằm khắc phục tính phiến diện, ảo tưởng, sự thái quá trong quan
hệ với các nước Phương Tây, đồng thời chú trọng hơn việc phát triển quan hệhợp tác với các nước CA-TBD, đặc biệt là các nước SNG, Trung Quốc, Ên Độ,ASEAN, v.v
Trang 34Sự khẳng định chính sách đối ngoại mới của Nga được Tổng thốngB.Enxin nhấn mạnh trong Thông điệp Liên bang đọc trước Đuma quốc giaNga ngày 24 tháng 2 năm 1994:
Năm 1994 chóng ta phải chấm dứt những sự nhượng bộ đơnphương đã trở thành một thãi quen xấu Chúng ta ủng hộ chủnghĩa hiện thực trong việc tiến tới giải quyết các vấn đề an ninhchâu Âu Nhưng trong khi tôn trọng chủ quyền của các quốc gia
và các tổ chức, nước Nga vẫn phản đối việc mở rộng NATO bằngcách kết nạp các quốc gia khác ở châu Âu mà không phải là Nga.Đây là con đường dẫn tới mối đe dọa mới cho châu Âu và cho cảthế giới Nước Nga không phải là một vị khách ở châu Âu mà làmột nước tham gia đầy đủ vào Cộng đồng châu Âu và có quyền
được hưởng phóc lợi của Cộng đồng Chúng ta sẽ xuất phát từ tiền
đề này [31]
Tuyên bố trên của Tổng thống Nga đánh dấu bước ngoặt quan trọngtrong chính sách đối ngoại của nước Nga thời kỳ "sau Liên Xô" Nhưng cũngphải từ sau khi E.Primacốp lên làm Bộ trưởng ngoại giao thay A.Côdưrép(1/1996), chính sách đối ngoại Nga mới chuyển hướng rõ rệt cả về lý thuyết
và thực tiễn
Về lý thuyết và văn bản, thì quá trình soạn thảo một chính sách đối
ngoại và an ninh quốc gia cho nước Nga diễn ra một cách chậm chạp, khókhăn, với những tranh luận gay gắt về đường hướng đối ngoại và an ninh Tấtnhiên, khách quan mà nói, việc xây dựng một luận thuyết đối ngoại cho "nướcNga mới" là điều hoàn toàn không dễ dàng, không đơn giản Sự thực là từ đầunăm 1993, Bộ trưởng ngoại giao A.Côdưrép đã đệ trình ủy ban đối ngoạithuộc Xô viết tối cao Nga bản "Khái niệm chính sách đối ngoại của Liên bangNga" Sau mấy tháng, văn bản này được sửa chữa, được rút ngắn, có tên gọimới là "Những luận điểm cơ bản của chính sách đối ngoại Liên bang Nga",
Trang 35được Tổng thống Nga phê chuẩn tháng 4 năm 1993 [191] "Những luận điểm
cơ bản " nêu lên 9 lợi Ých quan trọng sống còn của nước Nga (không xếptheo thứ tự) như sau:
1- Bảo đảm chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ;
2- Duy trì sự ổn định và trật tự theo Hiến pháp;
3- Khắc phục khủng hoảng nội bộ bằng các cải cách chính trị và kinh
6- Bảo vệ quyền và lợi Ých của công dân Nga và các tổ chức của Nga
Trang 36Ých quốc gia quan trọng sống còn của Nga và các ưu tiên trong chính sáchđối ngoại Về đối ngoại, Tổng thống Nga nêu các lợi Ých chính trị đối ngoạiđược ưu tiên trong giai đoạn 1996 - 2000 là:
- Ở mức toàn cầu: Tham gia tích cực và đầy đủ vào việc xây
dựng một hệ thống QHQT sao cho trong hệ thống đó, Nga có được
vị trí tương xứng với tầm quan trọng về mặt lịch sử, chính trị, kinh
tế và trí tuệ của nước Nga; tương xứng với khả năng và yêu cầuchính trị - quân sự, đối ngoại của nước Nga;
- Ở mức khu vực: Bảo đảm môi trường xung quanh ổn định,
an ninh; thúc đẩy và củng cố vị thế chính trị - quân sự và kinh tếNga trên trường quốc tế thông qua các thiết chế hợp tác khu vực;
- Ở mức tiểu khu vực: Phát triển quan hệ toàn diện, cùng có lợi
với các quốc gia mới độc lập, đẩy mạnh quá trình liên kết SNG [191].Trên cơ sở các văn bản nêu trên, giới hoạch định chính sách đối ngoại
và Hội đồng an ninh quốc gia Nga tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, điều chỉnh quanniệm, quan điểm đối ngoại Năm 1997, họ cho ra đời bản "Học thuyết an ninhquốc gia của Liên bang Nga" (được Tổng thống B.Enxin phê chuẩn vào 12/1997).Đây là một văn bản chính trị, trình bày những phương hướng và nguyên tắcquan trọng nhất của chính sách Nhà nước, là cơ sở cho việc soạn thảo cácchương trình cụ thể trong lĩnh vực bảo đảm an ninh quốc gia của LB Nga Vềđối ngoại, Học thuyết an ninh quốc gia LB Nga xác định lợi Ých quốc giaquan trọng sống còn hàng đầu của Nga là củng cố quan hệ liên kết với cácnước SNG Học thuyết cũng nhấn mạnh cần thiết lập một trật tự thế giới đacực, chống lại ý đồ dùng sức mạnh quân sự để đưa ra các quyết định đơnphương về những vấn đề mấu chốt của nền chính trị thế giới Đối với Nga,văn bản này xác định Nga đang có những cơ hội mới đảm bảo an ninh quốcgia cho mình, song cũng đang gặp phải những nguy cơ liên quan đến sự thayđổi vị thế của Nga trên thế giới và những phức tạp trong việc tiến hành các cải
Trang 37cách trong nước Sau khi nêu ra những cơ hội, những thuận lợi cho Nga hộinhập rộng hơn vào nền kinh tế thế giới, cho sự hợp tác của Nga với cộng đồngthế giới trong các vấn đề an ninh quốc tế, Học thuyết nhấn mạnh rằng mộttrong những nguy cơ thực sự đối với nước Nga là việc NATO mở rộng vềphía Đông, đe dọa an ninh quốc gia Nga Trong khi đó, những cơ chế đaphương còn chưa đủ hữu hiệu để gìn giữ hòa bình và an ninh cả trên phạm vitoàn cầu (Liên hợp quốc), lẫn cấp độ khu vực (OSCE, SNG), đã hạn chế khảnăng của Nga sử dụng các cơ chế này trong việc bảo đảm an ninh quốc giaNga, các lợi Ých quốc gia Nga bằng các phương tiện chính trị và pháp lý Dovậy, Học thuyết an ninh quốc gia LB Nga năm 1997 đã nêu rõ: "Nhân tố kiềmchế là sức mạnh của quân đội Nga, mà trụ cột của nó là lá chắn tên lửa hạtnhân của đất nước Trong trường hợp có sự tấn công Nga, đe dọa chủ quyềnnước Nga, gây cho Nga những tổn thất lớn, Nga có quyền đáp lại bằng cácphương tiện hiện có, bao gồm cả vũ khí hạt nhân" [186].
Về phía khối quân sự Bắc Đại Tây Dương, thì bất chấp phản ứng gaygắt của Nga, cả trên lý thuyết và thực tiễn ngày càng tỏ rõ là một liên minhquân sự hiếu chiến với những tham vọng rất lớn Tháng 4 năm 1999, NATOthông qua "Khái niệm chiến lược mới", vạch đường hướng hoạt động củaNATO trong thế kỷ tới, xóa bỏ thuyết phòng thủ trước đây, định rõ nhữngchức năng nhằm tiến hành các hành động quân sự ngoài lãnh thổ của các quốcgia thành viên để "bảo đảm an ninh châu Âu và bên ngoài châu Âu"
Trước "Khái niệm chiến lược mới" mang tính chất tiến công và nguyhiểm, nhất là sau đó NATO còn đơn phương thông qua quan điểm coi Nga làmột trong những đối thủ tiềm tàng của khối này, LB Nga đã xúc tiến việc sửađổi Học thuyết an ninh quốc gia 1997 Ngày 10 tháng 1 năm 2000, QuyềnTổng thống, hiện nay là Tổng thống Nga B.Putin, đã ký sắc lệnh thông qua
"Chiến lược an ninh quốc gia Liên bang Nga"
Trang 38So với "Học thuyết an ninh quốc gia Liên bang Nga" năm 1997, vănbản này có những thay đổi quan trọng Về đối ngoại, sự đánh giá tình hình thếgiới có khác trước Văn bản mới nói tới hai khuynh hướng khác nhau trongQHQT: khuynh hướng thứ nhất là thiết lập trật tự thế giới đa cực; khuynhhướng thứ hai liên quan đến tham vọng của Phương Tây đứng đầu là Mỹmuốn xây dựng một cơ cấu QHQT do họ khống chế và giải quyết các vấn đềthen chốt của thế giới bằng sức mạnh quân sự Chiến lược an ninh mới củaNga cho rằng mức độ và các nguy cơ trong lĩnh vực quân sự và an ninh đangtăng lên, do đó đặt ra yêu cầu nâng cao hơn nữa tiềm lực quân sự và nguyêntắc sử dụng sức mạnh quân sự để đảm bảo an ninh cho nước Nga Ngoài ra,chiến lược an ninh mới cũng coi việc đấu tranh chống chủ nghĩa khủng bố vàtội phạm có tổ chức, lập ra cơ chế phối hợp chống khủng bố quốc tế là mộttrong những ưu tiên hàng đầu.
Hơn nữa, khi các nước lớn ở cả hướng Tây lẫn hướng Đông khôngngừng củng cố, tăng cường tập hợp lực lượng với xu thế vừa hợp tác, vừacạnh tranh, Nga hiểu rõ Nga không thể xác lập được vị thế một trong nhữngtrung tâm sức mạnh thế giới nếu không có đồng minh, chí Ýt là đối tác tincậy Vì vậy, khắc phục tình trạng cô lập, thiếu đồng minh và đối tác tin cậytrên trường quốc tế được xác định là một trong những nhiệm vụ then chốt củachính sách đối ngoại Nga
Song có thể nói, bước tiến đáng kể nhất là việc sau khi được Tổngthống V.Putin phê chuẩn, ngày 28 tháng 6 năm 2000, nước Nga cho công bốbản "Chiến lược đối ngoại của Liên bang Nga" Như vậy là sau nhiều nămnghiên cứu, thử nghiệm, điều chỉnh, sửa đổi, lần đầu tiên nước Nga có mộtchiến lược đối ngoại hoàn chỉnh So với "Những luận điểm cơ bản của chínhsách đối ngoại Liên bang Nga" được công bố tháng 4 năm 1993, thì văn bảnchiến lược đối ngoại mới này vừa có những điều chỉnh quan trọng, vừa đưa ra
Trang 39một cách hệ thống và rõ ràng các quan điểm tạo thành nội dung và phươnghướng cơ bản chỉ đạo hoạt động đối ngoại của nước Nga
Với 5 phần lớn, "Chiến lược đối ngoại của Liên bang Nga" đã đề cập
từ các luận điểm chung, tình hình thế giới và chính sách đối ngoại Nga sau chiếntranh lạnh, cho đến những ưu tiên của Nga trong việc giải quyết các vấn đềtoàn cầu cũng như các vấn đề khu vực Chiến lược ghi rõ: "Ưu tiên tối cao trongđường lối đối ngoại của Nga là bảo vệ lợi Ých con người, xã hội và Nhà nướcNga"; "Một đường lối đối ngoại thành công của Liên bang Nga phải được xâydựng trên cơ sở tuân thủ sự cân bằng giữa các mục tiêu và khả năng đạt đượccác mục tiêu đó" Trong khuôn khổ đường lối đối ngoại như vậy, Chiến lượcnêu 7 mục tiêu đối ngoại chủ yếu của nước Nga, trong đó mục tiêu thứ nhấtlà:
Bảo đảm an ninh vững chắc cho đất nước, bảo vệ và củng
cố chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ của Nga, cũng như những địa vịnào của Nga trong cộng đồng quốc tế đáp ứng tối đa lợi Ých của
LB Nga như là một cường quốc vĩ đại, một trong những trung tâm
có ảnh hưởng cao nhất trên thế giới hiện nay và những địa vị cầnthiết để tăng cường tiềm lực chính trị, kinh tế, trí tuệ và tinh thầncủa nước Nga [149]
Khi nói về chính sách đối ngoại Nga, Chiến lược mới nêu rõ: "Liênbang Nga sẽ theo đuổi chính sách đối ngoại độc lập và xây dựng Chính sách
đó dùa trên sự nhất quán, có thể thấy trước và chủ nghĩa thực dụng cùng có lợi.Chính sách đó phải hoàn toàn rõ ràng, có tính đến lợi Ých hợp pháp của cácnước khác và nhằm tìm kiếm những giải pháp chung"; "Nét đặc trưng củachính sách đối ngoại Nga là sự cân bằng, đòi hỏi phải kết hợp tối ưu những cốgắng ở tất cả các hướng" Trong phần nói về những ưu tiên trong việc giảiquyết các vấn đề toàn cầu, Chiến lược đối ngoại nêu 5 lĩnh vực được ưu tiênlà:
Trang 401- Hình thành một cấu trúc thế giới mới, trong đó Nga đặc biệt nhấnmạnh vai trò trung tâm chính yếu điều hành các QHQT trong thế kỷ 21 làLiên hợp quốc;
2- Củng cố an ninh quốc tế: Nga chủ trương đấu tranh làm giảm hơnnữa việc sử dụng bạo lực trong các QHQT và củng cố sự ổn định chiến lược
và khu vực; lấy Hiệp ước ABM năm 1972 làm hòn đá tảng trong việc duy trì
ổn định chiến lược;
3- Quan hệ kinh tế quốc tế: Nga nêu rõ ưu tiên chủ yếu ở lĩnh vực này
là nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế của nước Nga;
4- Nhân quyền và các QHQT;
5- Công tác thông tin tuyên truyền cho hoạt động đối ngoại
Trong phần nói về những ưu tiên khu vực, Chiến lược đối ngoại của
LB Nga đặc biệt nhấn mạnh sự hợp tác đôi bên và nhiều bên với các nướcSNG và nhiệm vụ an ninh quốc gia Đáng chú ý là lần đầu tiên trong chiếnlược đối ngoại Nga, ngoài việc khẳng định quan hệ với SNG là hướng ưu tiên
số 1, còn đề cập đến tất cả các khu vực trên thế giới: từ châu Âu với OSCE,
EU, NATO, Tây Âu, Trung Đông Âu, Bantích, Bancăng, đến quan hệ với
Mỹ, với các nước CA-TBD, nhất là Trung Quốc và Ên Độ, tiếp đó là NhậtBản, các nước Đông Nam Á, Iran, Trung Đông, châu Phi, Trung và Nam Mỹ.Tóm lại, việc thông qua "Chiến lược đối ngoại của Liên bang Nga" tháng 6năm 2000 là bước đột phá về mặt lý luận có ý nghĩa rất quan trọng trong việcxác định đường hướng chiến lược của hoạt động đối ngoại của nước Nga trongthế kỷ XXI [Xem: 149]
Trong hoạt động thực tiễn, sù điều chỉnh chính sách đối ngoại của
Nga được biểu hiện trước hết trong lĩnh vực chính trị - đối ngoại, quân sù - anninh và chú trọng hơn quan hệ kinh tế - thương mại Tổng thống Nga B.Enxinnhấn mạnh: