Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ gọi tắt là đạo Cao Đài, một tôn giáo rất trẻ xuất hiện vào đầu thế kỷ XX trên mảnh đất Nam Bộ, đã tồn tại và phát triển được do đáp ứng được những nhu cầu này, do đ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Tôn giáo hiện là một vấn đề phức tạp nhưng lại rất nhạy cảm trong mỗi nước và trên thế giới.Việc giải quyết đúng đắn vấn đề tôn giáo là yêu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài của sự nghiệp phát triển đất nước
Cao Đài là một tôn giáo rất trẻ, xuất hiện vào đầu thế kỷ XX (1926) tại Nam Bé Ngay những ngày đầu thành lập, tôn giáo này đã lôi cuốn ồ ạt hàng vạn người, sau đó trở thành một trong những tôn giáo lớn ở Việt Nam Tính đến năm 1975, chưa đầy nửa thế kỷ đã thu nạp gần 3 triệu tín
đồ Đây được xem là hiện tượng xã hội đặc biệt thu hót sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu văn hóa và lịch sử ở Việt Nam Là một tôn giáo địa phương nhưng Cao Đài có bộ máy hành chính đạo khá chặt chẽ và hoàn chỉnh như bộ máy nhà nước từ Trung ương đến cơ sở Lịch sử giáo hội tuy ngắn ngủi, song có thời kỳ lại cấu kết với đế quốc phản động để chống phá cách mạng Bảy thập kỷ trôi qua với bao chuyển biến lớn lao của thời cuộc, đạo Cao Đài cũng biến động phức tạp Vì vậy việc nghiên cứu tôn giáo Cao Đài, trong đó việc tìm hiểu ảnh hưởng của nó đối với đời sống tinh thần trong nhân dân, đặc biệt đối với đồng bào có đạo là đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách
Dùa vào quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo làm cơ sở lý luận, lấy phép biện chứng duy vật làm phương pháp phân tích, kết hợp giữa phương pháp lôgíc và lịch sử để diễn đạt, luận văn cố gắng trình bày lịch sử hình thành và phát triển, những biểu hiện và xu hướng biến đổi của đạo Cao Đài, đặc biệt phân tích ảnh hưởng của đạo Cao Đài đối với đời sống tinh thần ở Tây Ninh hiện nay Trên cơ
sở đó đưa ra những giải pháp phù hợp để giải quyết vấn đề tôn giáo Cao Đài, góp phần xây dựng và phát triển đời sống tinh thần của nhân dân một
Trang 22 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này
ở nhiều khía cạnh khác nhau Có thể dẫn ra: Ông Trần Văn Giàu với tác
phẩm "Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng
tháng Tám năm 1945" (KHXH 4/1975); Nguyễn Thành Danh viết về "Sự thật của một giáo phẩm", xí nghiệp in Hoàng Lê Kha - Tây Ninh năm
(1978); Giáo sư Trần Quang Vinh "Lịch sử của đạo Cao Đài (1926-1937)";
Lê Anh Dòng "Lịch sử đạo Cao Đài thời kỳ tiềm Èn (1920-1926)"; Nguyễn Chí Mú "Tôn giáo và hiện thực - mét số những vấn đề đặt ra hiện nay", Tạp chí Triết học (số 2-1998); Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn "Đạo Cao Đài một
khách thể một thế ứng xử", (30/10/1993); Hiến Chương Đại Đạo Tam Kỳ
Phổ Độ, Tòa thánh Tây Ninh (1997); "Một số tôn giáo lớn ở Việt Nam", Ban Tôn giáo Chính phủ, Hà Nội (1995); "Những vấn đề tôn giáo hiện
nay", Viện nghiên cứu tôn giáo, NXB KHXH (1994); "Các hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển của chúng", NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
(1994); Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn "Bước đầu tìm hiểu đạo Cao Đài" NXB
KHXH (1995); cùng một số luận văn về tôn giáo Cao Đài như: Nguyễn
Văn Ron: "Bước đầu tìm hiểu một số biểu hiện đặc thù của đạo Cao Đài" (1995); Võ Văn Phuông "Đạo Cao Đài và quá trình đấu tranh loại bỏ mặt
chính trị phản động của giáo phái Cao Đài Tây Ninh trong giai đoạn cách mạng hiện nay" (1995); Lê Ngọc Hòa "Lễ hội Cao Đài Tây Ninh (1997)"
Những công trình đó đã đề cập nhiều khía cạnh quan trọng của các yếu tố về tôn giáo nói chung và Cao Đài nói riêng Tuy nhiên thực trạng luôn đặt ra nhiều vấn đề và trên thực tế chưa có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu đạo Cao Đài dưới góc độ triết học Đó là sự bỏ ngỏ của chúng
ta về nhận thức, khi thực tế những tín đồ Cao Đài ở miền Nam có đến hơn
2 triệu người Vì vậy đề tài này muốn góp một tiếng nói nhỏ vào sự nghiên cứu đạo Cao Đài dưới góc độ triết học
Trang 33 MỤC ĐÍCH NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Mục đích: Trên cơ sở làm sáng tỏ nguồn gốc, đặc điểm của đạo Cao
Đài, luận văn phân tích những ảnh hưởng của nó đối với đời sống tinh thần
ở Tây Ninh
Từ mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây:
- Trình bày nguồn gốc và đặc điểm của đạo Cao Đài
- Phân tích ảnh hưởng của đạo Cao Đài đối với đời sống tinh thần ở Tây Ninh
- Đề xuất một số giải pháp để xây dựng đời sống tinh thần ở Tây Ninh liên quan đến ảnh hưởng của đạo Cao Đài
4 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Cơ sở lý luận: Luận văn dùa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm về tôn giáo của Đảng cộng sản Việt Nam nhất là trong các văn kiện đại hội VI, VII, VIII, các Nghị định văn bản của Chính phủ về tôn giáo để phân tích những vấn đề đặt ra
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó đặc biệt chú trọng phương pháp phân tích và tổng hợp, kết hợp lịch sử với lôgíc
5 ĐỐI TƯỢNG PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đây là một công trình nghiên cứu về tôn giáo Cao Đài Tây Ninh, dưới góc độ triết học Đạo Cao Đài có mặt ở nhiều địa phương nhưng tập trung nhất vẫn là ở Tây Ninh Do vậy đề tài nghiên cứu giới hạn ở Cao Đài Tây Ninh Sự khảo sát cũng chủ yếu là những ảnh hưởng của đạo Cao Đài
Trang 46 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Đóng góp về mặt khoa học: Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm
sự hình thành phát triển và những đặc điểm của đạo Cao Đài
- Bước đầu phân tích đánh giá những ảnh hưởng của đạo Cao Đài với đời sống tinh thần ở Tây Ninh, từ đó đề xuất một số giải pháp để xây dựng, phát triển đời sống tinh thần của nhân dân ở địa phương
* Ý nghĩa thực tiễn của luận văn.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu
và học tập triết học nhất là chuyên đề về tôn giáo Luận văn cũng sẽ bổ Ých cho những nhà hoạch định chủ trương chính sách đối với công tác tôn giáo, nhất là đạo Cao Đài
7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 5Chương 1
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN
VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẠO CAO ĐÀI
Từ giữa thế kỷ XIX cho đến nay, không riêng gì ở Việt Nam, trên thế giới xuất hiện nhiều thứ đạo cùng với sự tiếp tục tồn tại các tôn giáo cũ, hàng loạt các giáo phái mới ra đời Nhiều phong trào xã hội, chính trị xuất hiện mang màu sắc tôn giáo Theo thống kê, chỉ riêng trong thế kỷ XX, trên thế giới có trên ba, bốn ngàn hiện tượng tôn giáo lớn nhỏ ra đời nhưng số trụ lại được với thời gian không nhiều chỉ khoảng hơn chục đạo tồn tại với
số tín đồ khiêm tốn, phần đông là từ các tôn giáo khác tách ra Những tôn giáo đó đều có chung một đặc điểm là: phải dùa vào các tôn giáo truyền thống ở nơi xuất phát, biến đổi Ýt nhiều về mặt giáo lý và nghi thức, dưới nhãn hiệu cải cách, canh tân, thêm hoặc bớt những yếu tố trong điều kiện
xu thế giao lưu văn hóa được mở rộng Các đạo giáo mới đó tìm ra được mục đích hấp dẫn bằng nhiều vẻ: cả về tôn giáo, chính trị, kinh tế, văn hóa , trước hết với quần chúng tại chỗ, sau đó mới phát triển ra bên ngoài Những tôn giáo đứng được phụ thuộc nhiều vào bản thân (nội dung, hình thức), vào các nhân vật sáng lập và nhất là đáp ứng được tâm lý xã hội của quần chúng tín đồ Ở đó quần chúng thấy được một cái gì hấp dẫn (tuy có thể nhiều hay Ýt) so với các tôn giáo cùng thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ gọi tắt là đạo Cao Đài, một tôn giáo rất trẻ xuất hiện vào đầu thế kỷ XX trên mảnh đất Nam Bộ, đã tồn tại và phát triển được do đáp ứng được những nhu cầu này, do đã tìm ra được mét lực thu hót, một cung cách thích hợp tâm linh tôn giáo của những người nông dân tứ xứ Nam Bé, trong đó có Tây Ninh
1.1 HOÀN CẢNH KINH TẾ XÃ HỘI VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠO CAO ĐÀI
Trang 6Sự xuất hiện của một tôn giáo mới hay một hiện tượng tôn giáo không bao giê là điều ngẫu nhiên, mà nó được qui định bởi một bối cảnh lịch sử nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu tâm lý, tín ngưỡng của một bộ phận cộng đồng dân cư, cộng đồng lãnh thổ trước khi trở thành phổ biến Chính vì thế, đạo Cao Đài cũng như các tôn giáo khác chỉ là hình thái ý thức xã hội ra đời gắn liền với quá trình phát triển của xã hội Suy cho cùng
sự ra đời, phát triển và mất đi của một tôn giáo là do sự phát triển của điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội nhất định Muốn tìm nguồn gốc ra đời của tôn giáo nào phải tìm ngay ở "thế giới trần tục" chứ không phải ở đấng siêu nhiên nào Khoa học mác xít kiên quyết bác bỏ những lời khẳng định thiếu khoa học của những nhà thần học rằng: tôn giáo ra đời do ý định của đấng siêu nhiên nào đó Ăngghen nói: "Bất cứ tôn giáo nào cũng đều chỉ là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc người ta những sức mạnh ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh mà trong đó có sức mạnh ở thế gian mang hình thức siêu thế gian" [1, 547-549] Luận điểm trên giúp cho ta hướng nghiên cứu vào điều kiện kinh tế - chính trị - tư tưởng cho sự xuất hiện tôn giáo nói chung và đạo Cao Đài nói riêng Nói cách khác, sự xuất hiện và phát triển của đạo Cao Đài có thể lý giải bằng chính môi trường sinh ra nã
Hoàn cảnh kinh tế - chính trị - xã hội
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Pháp là nước thắng trận song còng là nước bị tổn thất nặng nề nhất, lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng Để hàn gắn vết thương chiến tranh, đế quốc Pháp ra sức bóc lột thuộc địa ở Đông Dương nơi có thể đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường thế giới lúc bấy giê Trong đó Việt Nam là một trong những trọng điểm của chính sách bóc lột Êy, trở thành miếng mồi ngon cho bọn tư bản tài chính Pháp Tình hình đó dẫn đến những biến đổi lớn về chính trị, kinh
tế, xã hội nước ta thời bấy giê
Trang 7Vào những năm cuối của thế kỷ XIX và khoảng 20 năm đầu của thế
kỷ XX, xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ của Pháp Khác với Trung bộ, Bắc bộ, Nam Bộ là nơi thực dân Pháp áp đặt quyền cai trị trực tiếp với một bộ máy giúp việc người Việt Trong lĩnh vực nông nghiệp, thực dân Pháp không xóa bỏ địa chủ phong kiến mà duy trì dung dưỡng để biến chúng thành tên lính xung kích trong việc cướp ruộng đất của nông dân và bóc lột sức lao động của nhân dân ta Chúng đầu tư và
mở rộng một số xí nghiệp công thương nghiệp sẵn có, đặc biệt là mở ra những đồn điền cao su ở vùng đất đỏ Nam kỳ và Cao Miên, chiếm đoạt hàng loạt mẫu ruộng, đất rừng, đồng cỏ, cùng với nó là thi hành chế độ mộ phu cực kỳ tàn bạo
Chính sách thuế khóa nặng nề, hàng trăm thứ thuế bất công được đặt ra, các độc quyền rượu, thuốc phiện, muối, vừa thâm độc vừa tàn ác, vừa đem lại nhiều lợi nhuận cho ngân khố thực dân Pháp, vừa đầu độc dân ta về thể xác lẫn tinh thần Chính sách thuế nặng nề, cộng với nạn cho vay nặng lãi
mà thủ phạm chính là ngân hàng Đông Dương của chủ nghĩa tư bản tài chính Pháp đã bao trùm lên làng quê Việt Nam như một bệnh dịch khủng khiếp
Nông dân mất đất, một số Ýt vào nhà máy, xí nghiệp hầm mỏ đồn điền của Pháp và của một số tư bản Việt Nam để bán sức lao động trở thành người công nhân, còn đại đa số trở thành những tá điền bán sức lao động ngay trên mảnh đất của chính mình trước đây, hoặc lang thang vất vưởng không có việc làm
Tất cả các giai cấp trong xã hội Việt Nam lúc đó tuy mức độ khác nhau, hoặc Ýt hoặc nhiều có mâu thuẫn với thực dân Pháp Mâu thuẫn cơ bản trong thời kỳ này là mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp và mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ Nhưng mâu thuẫn nổi lên, mâu thuẫn chủ yếu vẫn là giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với bọn đế quốc xâm lược Pháp
Trang 8Tình hình Êy đã đưa cuộc đấu tranh của tầng líp nhân dân nhất là ở Nam Bộ chống thực dân Pháp ngày càng quyết liệt Tuy nhiên, do hạn chế của giai cấp mình, nông dân không thể tự giải phóng được Lúc đó lại chưa
có sự lãnh đạo dìu dắt của Đảng cộng sản - mét chính Đảng của giai cấp vô sản, do vậy, cuộc đấu tranh của nhân dân lần lượt bị thực dân Pháp dìm trong bể máu Bế tắc trong cuộc sống và bế tắc trong đấu tranh chống thực dân Pháp càng thúc đẩy số đông quần chúng tìm đến tôn giáo, trong đó đạo Cao Đài, những mong được sù an ủi che chở, do tôn giáo này khi mới xuất hiện Ýt nhiều mang tính phản kháng xã hội đương thời
Một vấn đề tư tưởng quan trọng dẫn đến sự ra đời và phát triển của đạo Cao Đài là sự khủng hoảng, suy thoái của các tôn giáo, đạo lý đương thời Nhân dân Nam Bộ có nhu cầu tín ngưỡng rất lớn Khi đạo Cao Đài chưa ra đời, số đông nhân dân theo đạo Phật, đạo Nho và một số Ýt theo đạo Công giáo Nhưng đến giai đoạn này, những tôn giáo Êy mất dần uy tín
vì chậm thích nghi với sự phát triển của xã hội Đạo Công giáo lúc đó dưới mắt của người Nam Bộ, gắn liền với sự xâm lược của thực dân Pháp, nên bị nghi ngờ, thậm chí khinh ghét Đạo Nho là một học thuyết đạo đức, chính trị chỉ phù hợp với chế độ quân chủ nông nghiệp, đến nay không còn thích hợp với nhân dân Nam Bé đang chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự phát triển của công nghiệp và xu hướng Âu hóa (do Pháp áp dụng ở Nam
kỳ chế độ thuộc địa trực trị) Đạo Phật tiểu thừa tại chỗ với phương châm
"Tự độ, tự tha" chỉ giải thoát cho ai xuất gia tu hành, khó hòa nhập với phong tục, lối sống của người Nam Bộ Đạo Phật Đại thừa bị suy vị từ mấy thế kỷ trước, nay lại chia rẽ thêm nhiều tông phái, nhất là sự xâm nhập các yếu tố mê tín dị đoan của đạo Lão Đạo thờ cóng tổ tiên trong đó có đạo ông bà, tuy gần gũi nhưng chưa đủ thỏa mãn tâm linh tôn giáo Nói tóm lại, sự suy sụp của các tôn giáo và đạo lý đương thời đã tạo ra khoảng trống
về tư tưởng tín ngưỡng, tạo điều kiện cho đạo Cao Đài ra đời và phát triển
Trang 9Tham gia trực tiếp vào việc hình thành đạo Cao Đài còn có tục cầu hồn, cầu tiên và nhất là tư tưởng "Tam giáo đồng nguyên" (Phật, Lão, Nho) vốn có ở nước ta từ lâu đời Đặc biệt, từ đầu năm 1920, phong trào "Thần linh học" một hình thức mê tín của các nước phương Tây, tương tự như tục cầu hồn, cầu tiên, đã thâm nhập vào Nam Bộ, được đông đảo tầng líp trung lưu: tư sản, địa chủ, tiểu tư sản, công chức đón nhận Nó nhanh chóng hòa nhập với tục cầu tiên, trở thành phong trào "cầu cơ" - "chấp bót" (gọi tắt là
cơ bót) phát triển khá sôi nổi trong những năm 1924 - 1925 - 1926 ở vùng Sài Gòn, Gia Định, Cần Thơ, Mỹ Tho, Tân An dẫn đến việc ra đời đạo Cao Đài
Có thể nói sự ra đời và phát triển của đạo Cao Đài ở Nam Bộ vào những năm đầu thế kỷ XX là do tổng hợp những nguyên nhân Đó là: sự bế tắc của nhân dân trong cuộc sống; đấu tranh chống thực dân Pháp thất bại
do chưa có đường lối chính trị đúng đắn soi đường; sự thoái hóa của các tôn giáo đương thời và truyền thống "tam giáo đồng nguyên" Cộng vào đó,
là tục cầu hồn, cầu tiên và sự thâm nhập của tâm linh học NÕu không có những nguyên nhân trên thì một nhóm tư sản, địa chủ, tiểu tư sản, công chức Pháp - những người sáng lập đạo Cao Đài cũng không thể ra đời và phát triển được
Nhìn chung, đạo Cao Đài ra đời trong bối cảnh lịch sử nhất định và phát triển mạnh mẽ trong cộng đồng dân cư Nam Bộ dưới chiêu bài hòa bình, tự do, dân chủ Cơ sở của đạo Cao Đài là người nông dân yêu nước, trong khi hạt nhân lãnh đạo lại là những tri thức công chức, do Pháp đào tạo và làm việc cho Pháp, cho nên định hướng của từng chi phái chịu ảnh hưởng khá mạnh tinh thần yêu nước hay mưu cầu danh lợi cá nhân của hạt nhân lãnh đạo Về mặt tín đồ, theo số liệu Ban Dân vận Trung ương đến năm 1975 số tín đồ Cao Đài đã lên đến 3 triệu người Lực lượng đông đảo tín đồ là quần chúng nông dân lao động yêu nước, họ vào đạo vì nhiều lý
do khác nhau, có thể vì mê tín, vì lầm lạc, vì mâu thuẫn giai cấp, vì lợi Ých
Trang 10mong muốn độc lập, tự do, hạnh phóc Người tín đồ Cao Đài gắn bó với đạo vì tư tưởng đoàn kết tương trợ, thương yêu đùm bọc lẫn nhau trong sản xuất và trong sinh hoạt xã hội Song, trong quá trình theo đạo họ bị đầu độc bằng giáo lý mơ hồ, phản động, bằng luận điệu chống cộng, bị quyến rò bằng lợi Ých vật chất, bị khống chế, kìm kẹp bởi bộ máy hành chính đạo và ngụy quân, ngụy quyền Vì thế nhiều người, đôi khi họ nhìn cách mạng, một cách sai lệch, lẫn lộn giữa bạn và thù Một vấn đề quan trọng là đạo Cao Đài dù phát triển khá nhanh và mạnh nhưng không phải tuyệt đại đa số nhân dân một khu vực hành chính nào đó đều là tín đồ Cao Đài Ngay tỉnh Tây Ninh, tín đồ Cao Đài chỉ chiếm dưới 50% dân số (thống kê tín đồ Cao Đài các tỉnh Nam Bộ năm 1943, 1966, 1993 còng cho thấy tình hình như thế) Phát triển ra miền Trung và miền Bắc Việt Nam thì kết quả không cao lắm vì bối cảnh ra đời của đạo Cao Đài liên quan chặt chẽ đến cư dân Nam
Bộ Tình hình trên cùng nội dung của giáo lý Cao Đài trong bước đầu xây dựng chưa được trọn vẹn, nếu không có sự thay đổi sẽ không còn sức thuyết phục, nếu trình độ dân trí được nâng cao, nhất là khi những yếu tố công nghiệp và khoa học kỹ thuật len dần vào nông thôn Đó là điều cần suy nghĩ về tương lai của đạo Cao Đài [46, 145]
1.2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẠO CAO ĐÀI
Ra đời năm 1926 đến nay đạo Cao Đài vÉn tồn tại như một tôn giáo
ở Việt Nam và được Nhà nước công nhận Tòa thánh Cao Đài Tây Ninh, Trung ương của phái Cao Đài Phổ Độ do Phạm Công Tắc, Lê Văn Trung
và Cao Hoài Sang lãnh đạo là nơi sinh hoạt mạnh mẽ nhất của đạo Cao Đài, với sự tập trung tín đồ cao nhất và là chi gốc từ đó phân tách ra hầu hết các hệ phái khác Vì vậy, có thể nói Cao Đài Tây Ninh mang tính tiêu biểu cho những đặc điểm sinh hoạt tôn giáo của đạo Cao Đài, vì hầu hết các hệ phái đều xây dựng giáo hội theo Pháp chánh truyền - Tân luật được xây dựng từ những năm đầu thành lập đạo
Trang 111.2.1 Những nét tương đồng và khác biệt của đạo Cao Đài đối với các tôn giáo khác
- Xét về nguồn gốc: đạo Cao Đài ra đời cũng giống như các tôn giáo
lớn khác là đều bắt nguồn từ hiện thực xã hội Đạo Phật ra đời ở Ên Độ bắt nguồn từ những trào lưu tư tưởng chống lại chế độ đẳng cấp và đạo Bà La môn; Đạo Công Giáo ra đời khoảng thế kỷ thứ IV - II (trước công nguyên),
do những mâu thuẫn cơ bản, sâu sắc và quyết liệt giữa chủ nô và nô lệ Nó
đã bùng nổ thành các cuộc khởi nghĩa vũ trang mang tính quần chúng rộng rãi chống lại các giai cấp chủ nô và quân xâm lược không chỉ ở những vùng
bị chinh phục mà ngay cả chính quốc Tuy nhiên, đế quốc La Mã lúc đó còn rất mạnh đã nhanh chóng đàn áp các cuộc khởi nghĩa mét cách dã man tàn bạo Trong tâm trạng mệt mỏi và tuyệt vọng, quần chúng lao khổ trông chờ vào sự giúp đỡ của lực lượng siêu nhiên, một vị thần hay một đấng cứu thế để đánh đổ đế quốc La Mã, giải phóng dân téc xây dựng một vương quốc của sự công bằng Tôn giáo ra đời trong hoàn cảnh như thế Đối với đạo Cao Đài cũng xuất phát từ hoàn cảnh chính trị xã hội, nhưng nguyên nhân ra đời của đạo Cao Đài là một vấn đề còn có cách nhìn nhận khác nhau Theo thống kê của Fayne Su san Werner trong giới sáng lập Cao Đài
cã 39% là địa chủ; 37% là tiểu tư sản; 8% là kỳ hào; 16% là các nhân vật hoạt động tôn giáo [34, 2]
Như vậy trong chõng mực nhất định cũng có thể so sánh sự ra đời của Đạo Cao Đài với đạo Ki tô sơ kỳ -phong trào của nô lệ và các dân téc Phương Đông chống lại sự xâm lược của Đế quốc La Mã thời Cổ đại Tuy nhiên có sự khác nhau giữa đạo Ki tô và đạo Cao Đài Đạo Ki tô do những người nô lệ khởi xướng, còn đạo Cao Đài do những tầng líp trên (tư sản, địa chủ, tiểu tư sản) chủ trương
- Xét về tính chất chính trị: Các tôn giáo theo mức độ đều mang bản
sắc hoặc ảnh hưởng Ýt nhiều tính chất chính trị sâu sắc, nhưng đối với đạo
Trang 12Cao Đài màu sắc chính trị lại nổi bật Biểu hiện trước hết đạo Cao Đài là sản phẩm của giai cấp địa chủ và tư sản Với tổ chức này họ đầu cơ chính trị, lợi dụng sự bế tắc của nhân dân Nam Bé trong cuộc đấu tranh yêu nước,
để qui tụ lực lượng thực hiện ý đồ giành quyền lãnh đạo chính trị trong những năm 20 của thế kỷ XX này, còn tôn giáo chỉ là cái vỏ bên ngoài Cụ thể là những người thành lập và cầm đầu đạo Cao Đài đã ngày càng đi sâu vào hoạt động chính trị Họ thành lập quân đội và luôn hướng về phía cải lương, muốn biến Cao Đài thành quốc đạo với mục tiêu là thiết lập chế độ quân chủ ở Việt Nam Với xu hướng đó mặc dù là một tôn giáo, nhưng những người cầm đầu Cao Đài đã xây dựng hội thánh với cả bộ máy có tổ chức từ Trung ương đến địa phương giống như một kiểu Nhà nước quân chủ lập hiến hoàn chỉnh Bộ máy này có phân biệt nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn của từng cơ quan, cũng như thứ bậc của từng chức sắc, rõ ràng
tỷ mỷ với ý đồ là khi giành chính quyền, họ sẽ dùng bộ máy hành chính đạo thay cho bộ máy Nhà nước Trong quá trình hình thành và phát triển Cao Đài có hàng loạt các tổ chức chính trị như: "Việt Nam Phục Quốc"
"Liên tôn chống cộng", "Hòa bình chung sống", "Mặt trận thống nhất toàn lực quốc gia", và hàng loạt các tổ chức chính trị khác kể cả việc thành lập quân đội Cao Đài Điều đó thể hiện rõ tính chất chính trị của đạo Cao Đài hết sức rõ nét Nét tiêu biểu nhất của tính chất chính trị của đạo Cao Đài trong quá trình hoạt động là vọng ngoại và chống cộng sản
- Xét về đặc điểm giáo lý và sự thờ phụng: Giáo lý đạo cao Đài
không có hệ thống các tín điều có chiều sâu dùa trên những cơ sở triết học, thần học như những tôn giáo khác Những điều đạo Cao Đài coi là giáo lý bao gồm những khái niệm về "tam giáo", "ngò chi", "Cao Đài" "Cao Đài Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ", chỉ là sự vay mượn, kết hợp giáo lý tôn giáo, tín ngưỡng Cổ, Kim, Đông, Tây (phần này sẽ trình bày rõ hơn trong phần đặc điểm về giáo lý và sự thờ phông)
Trang 13- Xét mối quan hệ giữa đạo Cao Đài với các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh Tây Ninh:
Với lịch sử hình thành phức tạp, nhiều cộng đồng dân cư, Tây ninh tồn tại nhiều tín ngưỡng dân gian và sự tồn tại, phát triển của 4 tôn giáo lớn: Ki tô giáo, Phật giáo, Hồi giáo và Cao Đài Các tôn giáo đều có đối tượng tín đồ riêng, những cơ sở thờ phụng riêng được Nhà nước công nhận
và hoạt động theo luật đạo, theo chính sách tôn giáo của Nhà nước.Thế nhưng không thể phủ nhận vai trò chủ đạo của đạo Cao Đài trên địa bàn tỉnh Tây Ninh với số lượng tín đồ đông đảo, thánh đường lộng lẫy nguy nga, và trung tâm của một tôn giáo bản địa Mối quan hệ giữa đạo Cao Đài với các tôn giáo khác trên cùng địa bàn do vậy cũng hết sức phức tạp thể hiện ở những điểm sau đây:
Với tư tưởng "Tam giáo đồng nguyên" hay "Tam kỳ phổ độ" trên điện thờ của đạo Cao Đài có mặt đấng thiêng liêng của các tôn giáo khác
Có những ngày lễ hội tôn giáo Cao Đài cũng như ngày kỷ niệm các tôn giáo khác như: Vía Đức phật thích ca (ngày 15 tháng 4),và Đức Jesus chirst (ngày 25 tháng 12) Tuy nhiên các tôn giáo vẫn giữ khoảng cách với đạo Cao Đài vì ngay từ những ngày đầu thành lập, Cao Đài đã muốn tạo dựng một tôn giáo bao trùm lên toàn thể các tôn giáo khác và đã thật sự lấn át các tôn giáo đương thời ở Tây Ninh
Với đạo Phật, đạo Cao Đài có nhiều va chạm, ngay từ những ngày khai đạo Lợi dụng suy yếu của Phật giáo, đạo Cao Đài tự xưng là Phật giáo canh tân, lấy thế của các quan lại hào lý không những chiếm tín đồ mà còn cả chùa chiền của đạo Phật, gây nên sự bất mãn của các nhà sư, các nhà Phật học Việc ra mắt đạo Cao Đài tại chùa Từ Lâm - mét cơ sở của Phật giáo là một minh họa rõ nét tình hình này (mặc dù sau đó nhà chùa đã đòi lại và đạo Cao Đài phải tiến hành xây dựng Đền Thánh tạm ở Long Thành)
Trang 14Với đạo Thiên chóa, Cao Đài cũng không gây được sự hòa hợp, vì tín đồ Ki tô giáo luôn coi chóa Ki tô là hơn hết trong khi đó họ cảm thấy chóa của mình trong Cao Đài lại chiếm địa vị khá khiêm tốn Họ chỉ cảm thấy tự hào vì có sự đóng góp của đạo mình cho một tôn giáo mới ra đời chứ không muốn chuyển đạo sang Cao Đài.
Mặc dù không công khai nhưng trong sinh hoạt đạo, bằng hình thức sinh hoạt cộng đồng, sự giúp đỡ cộng đồng những người ngoại đạo (không tôn giáo hoặc tín đồ tôn giáo khác), Cao Đài đang ráo riết thực hiện ý đồ lôi kéo thu hót tín đồ các tôn giáo khác về phía mình, và đây chính là mối quan
hệ tế nhị, phức tạp nhất giữa Cao Đài với các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
1.2.2 Đặc điểm về thế giới quan, nhân sinh quan
- Quan điểm thế giới quan của Cao Đài tập trung ở đoạn giáo lý sau: Nhất thái cực (tức là một đấng tối cao vô hình hay là trời) sinh ra lưỡng nghi (âm và dương) Lưỡng nghi sinh ra tứ tượng (bốn hiện tượng tự nhiên là: nắng, mưa, sáng, tối) Tứ tượng sinh ra ngũ hành (kim, méc, thủy, hỏa, thổ) Ngò hành sinh bát quái (càn, khảm, chấn, cấn, tốn, ly, khôn, đoài) Bát quái sinh sinh hóa hóa thành thế giới muôn vật muôn loài (Tức vật chất, thảo méc, côn trùng, cầm thó, thần thánh, tiên, phật ) sinh sinh, hóa hóa lưu hành trong tam thiên thế giới (ba ngàn thế giới) và lục thập bát địa cầu (68 địa cầu) Tất cả sự vật đều có linh hồn, từ thó vật hồn đến nhân hồn, thần, thánh, tiên, phật hồn"
Cũng như các tôn giáo khác, đạo Cao Đài tin vào cái siêu tự nhiên, cái không phục tùng những quy luật khách quan thoát khỏi mối liên hệ phụ thuộc nhân quả Không chỉ thế mà "Đức Chí Tôn" còn xóa bỏ và tạo ra những quy luật tự nhiên như: mưa, gió, sấm, chớp, sáng, tối sáng tạo ra nhiều điều mầu nhiệm " huyền bí" Theo quan điểm của chủ nghĩa vô thần khoa học và triết học mác xít thì thế giới tồn tại vô tận và đa dạng, song nó
Trang 15lại thống nhất ở tính vật chất Không có thế giới thiên đường địa ngục, nơi
cư trú của thánh thần, ma quỷ nào cả Cùng một đối tượng phản ánh là thế giới hiện thực, nhưng khoa học và tôn giáo đối lập nhau: khoa học phấn đấu phản ánh ngày càng gần với những gì đang tồn tại, ngược lại tôn giáo phản ánh sai lệch, méo mó,biến dạng đi Những lực lượng trần gian bình thường lại mang hình thức phi trần gian
Sù thừa nhận lực lượng nào đó tạo ra và điều khiển thế giới là nội dung chủ yếu của thế giới quan tôn giáo Thế giới này là do "Đức Chí Tôn" dùng thanh khí, mà tạo ra loài người và đất, biến thành vạn vật Vì Đức Chí Tôn là chóa tể vạn loài "có quyền năng vô đối", "Thống ngự vạn linh" [18, 41] Đạo Cao Đài rõ ràng là giải thích sự hình thành thế giới theo quan điểm duy tâm Điều khác nhau cơ bản nữa giữa tôn giáo và khoa học Mác - Lênin là tôn giáo giải thích sai lầm về nguyên nhân nỗi khổ và đề ra phương pháp sai lệch tiêu cực Nếu đạo Ki tô qui nguyên nhân nỗi đau khổ bất hạnh của con người vào tội tổ tông, "Đạo Phật coi đời là "bể khổ" do "tham, sân, si" và thuyết "luân hồi" thì đạo Cao Đài quan niệm nguyên nhân nỗi khổ đau của chúng sanh là do "loài người tiến hóa tăng lực mà sinh ra tự đắc tự tôn", chỉ biết lo cho xác thịt mà thôi, không chuyên lo cho "đệ nhị xác thân và tinh thần, và do tâm lý tập quán của các nước, của các sắc dân chi phối nhau, nghịch lẫn nhau, thù địch nhau mà tranh tranh đấu đấu không ngõng [6, 75], vì thế mà bị
"đọa đày" gây nên trường oan nghiệt cho toàn thế giới Muốn thoát khỏi đau khổ, xây dựng một cuộc sống hạnh phóc không phải là đấu tranh xóa bỏ chế độ bóc lột mà phải luyện đệ nhị xác thân cho đầy đủ sự tinh khiết, là phải thương loài vật, phải thương tất cả để chấm dứt cái oan nghiệt Êy cứu vít quần sanh thoát khỏi vòng địa lạc hoàn toàn Quan điểm đó không chỉ nhồi nhét cho con người một hệ thống quan niệm phản khoa học, mà còn giáo dục người ta tư tưởng coi thường mọi cái trên trần gian thế tục coi như nơi "ăn gởi ở nhờ" do đó mọi vấn đề xã hội đều lùi vào hàng thứ yếu,
Trang 16Đạo Cao Đài ra đời còn có sự hoàn thiện và đóng góp rất đắc lực của công cụ đàn cơ Đàn cơ, về bản chất là công cụ hoạt động tín ngưỡng tôn giáo (ở cả phương Đông và phương Tây), nhằm mục đích xin (cầu) thần linh ban cho con người những điều mong muốn hoặc biết được sự vận động biến hóa mầu nhiệm (cơ) Vì thế gọi là cầu cơ.
Đối với quá trình ra đời và hoàn thiện của đạo Cao Đài, đàn cơ có vai trò hết sức đắc lực mà như một số nhà nghiên cứu đã nhận xét: đối với Cao Đài giáo, đàn cơ là sự thiêng liêng, huyền diệu và là linh hồn của đạo, dùa vào cầu cơ để xây dựng cả một hệ thống giáo lý, giáo luật tổ chức và phong các chức sắc của đạo - so với các tôn giáo khác đó là một đặc điểm đặc sắc của đạo Cao Đài
Đàn cơ mà đạo Cao Đài sử dụng thuộc loại đàn cơ gốc Trung Hoa
Ở Trung Quốc, nó được xếp vào hệ tín ngưỡng dân gian, xuất hiện sớm và
có một quá trình phát triển lâu dài gắn với tên tuổi các vị thần linh như Tử
Cô, Lý Bạch Ban đầu, đàn cơ được sử dụng để xem việc nông tang, xem việc thi cử, công danh, tiền đồ, vận hạn, xin thuốc chữa bệnh và cả trong việc thi ca xướng họa
Thời Minh -Thanh (Trung quốc), đàn cơ phát triển khá mạnh, thậm chí còn được dùng trong cả đời sống chính trị cung đình Khi các tốp Minh - Hương phương bạt sang Nam Bộ Việt Nam, họ đã lập ra nhiều đàn cơ, chính Ngô Văn Chiêu, một trong những người đầu tiên sáng lập đạo Cao Đài, ngay từ đầu năm 1902 đã biết cầu cơ để xin thuốc chữa bệnh cho mẹ của mình (ở đàn cơ Minh Thiện - Thủ Dầu Một)
Cùng với tính chất Êy, ở Phương Tây từ lâu đã có bàn xây theo thông linh học (Spirutisme) và rồi người Việt Nam, nhất là các công chức làm cho Pháp nhanh chóng tiếp cận Song, so với đàn Trung Quốc bàn xây thông linh học phương Tây tỏ ra bất tiện hơn (theo suy nghĩ của người Việt Nam) Đó cũng là điều lý giải tại sao bốn ông Cao Quỳnh Diêu, Cao Quỳnh
Trang 17Cư, Phạm Công Tắc và Cao Hoài Sang (là những người khai đạo) đang sử dụng bàn xây thông linh học phương Tây lại chuyển sang đàn cơ Trung Quốc Lúc đó, sự gặp gỡ giao lưu của những người vốn sử dụng hai loại đàn cơ khác nhau Êy đã không loại trừ nhau mà cùng thống nhất mục đích
sử dụng đàn cơ nhằm làm ra đời một tôn giáo mới: Đạo Cao Đài
Là những người thuộc tầng líp trên của xã hội, những người sáng lập đạo Cao Đài trong quá trình sử dụng đàn cơ chắc chắn biết rõ về thực chất của đàn cơ Đó chính là tính chất hư hư thực thực của nó, chính Phạm Công Tắc (sau này là Hé pháp đã có dịp đánh giá: "Cơ bót có đủ quyền tạo đạo, nhưng cũng có quyền diệt đạo", còn ông Lê Văn Trung (người giữ chức quyền giáo Tông) đã nói: "Hãy cẩn thận về cơ bót, đạo khai nhờ cơ bót, đạo thiêng liêng quyền diệu do cơ bót, đến khi nền đạo bị chia rẽ nhiều chi phái cũng do cơ bót, nếu đạo bị đả phá khinh thường cũng tại cơ bót" [28, 185]
Đối với người lao động, dân trí thấp lại đang bị bần cùng về kinh tế,
bế tắc về chính trị và tinh thần thì khó mà nhận được cái chân, cái giả của đàn cơ Song bÊt luận ai, kẻ biết Ýt, người biết nhiều, kẻ chưa biết, người
đã biết tất cả điều có niềm tin nhất định vào kết quả của đàn cơ - rằng đó
là sự hiệp thông của con người với các đấng thiêng liêng, là lời phán bảo của Đức Chí Tôn - Ngọc đế Cao Đài và của các bậc thần tiên khác Sự hiệp thông nhân - thần Êy là một cơ sở cho sù ra đời của mỗi tôn giáo
Do bị lừa bịp nên "Cơ bót" được đông đảo tín đồ tin tưởng Nhưng thời gian vẫn là ánh sáng soi đường cho sự thật, bản chất của nó cứ bộc lé dần ra, khiến cho nhiều người nghi ngờ, biết bao câu hỏi đặt ra xung quanh
cơ bót vì " cơ bót" vẫn là hư hư, thiệt thiệt, vì mọi việc chi mà có tính phàm của con người hùn vốn vào đó thì điều hư nhiều, thiệt Ýt [25, 239]
Trong khi đó thì người ta cũng thấy Tòa thánh Tây Ninh chỉ dành độc quyền tiếp xúc với thầy cho một vài nhân vật cao cấp có khả năng lãnh
Trang 18đạo chính trị, tư tưởng của đạo như: Cao Quỳnh Diêu, Phạm Công Tắc - được đấng Chí Tôn phong là: "Tá cơ tiên hạt đạo sĩ" và "Hộ giá tiên đồng
tá cơ đạo sĩ" Thực chất "các người cầu cơ đều là quan chức thuộc các phòng của Phủ Thống đốc" Điều đó cũng nói lên rằng cơ bót là phương tiện công cụ, là vũ khí sắc bén được bao bọc bởi cái vỏ "Linh thiêng, Huyền Diệu" của một số chức sắc chóp bu, họ dùng để xây dựng đạo, tập hợp lực lượng và khi cần còn dùng để phế truất những kẻ không ăn cánh hoặc đề bạt cất nhắc, và sắp xếp nhân sự trong hàng ngò chức sắc Cao Đài
"Phải chăng nhóm Trương Hữu Đức - Phạm Tấn Đãi lợi dụng cơ bót, mượn quyền thiêng liêng tối cao, sát phạt hạ nhóm Trần Quang Vinh" [3, 25] và việc giáng cơ phong cấp cho hai tỉnh trưởng ngụy là Nguyễn Văn Nhã và Nguyễn Phát Đạt từ cấp hiền tài vượt 3 cấp lên chánh phối sư là
sự vận động ngầm của tay sai đế quốc, do sự sắp xếp trước [3, 15]
Trong sách "Thẩm án đại đạo", một đạo hữu Cao Đài tố cáo rằng:
"cơ bót là một điều quan trọng nhất của đạo, đạo nên hư, cũng do cơ bót Mấy vạn nhân sinh sống chết cũng do cơ bót, cơ bót chẳng phải là món đồ chơi mà ở Tây Ninh cơ bót chỉ về tay Diêu Hễ buồn thì phò loan chấp bót, khi thì vịnh ngâm thơ phú, khi thì hỏi chuyện nọ kia, rồi dần dần chẳng biết
vị tiên nào về, xem rõ văn thì đều là văn của Diêu Nếu theo hội thánh Tây Ninh bây giê thì nhân sinh phải chết dưới tay Diêu"
Thực chất cơ bót là công cụ lừa bịp, giả dối, phản động phục vụ cho mục đích chính trị nhất định của giới lãnh đạo Cao Đài, là hình thức mê tín
dị đoan mà đạo Cao Đài dùng để củng cố và phát triển nên đạo khi quần chúng chưa giác ngộ cách mạng
Vì thế sau này khi đàn cơ đã hoàn thành sứ mạng xây dựng và hoàn thiện một hệ thống giáo lý, giáo luật và tổ chức của đạo thì đương nhiên cũng cần chấm dứt Việc kết thúc cầu cơ của đạo Cao Đài cũng là một việc- thiết nghĩ - đã được nâng đến tầm nghệ thuật khi những người nắm trọng trách Cao Đài lúc đó đã sử dụng triệt để lời "phán bảo" của Đức Chí Tôn Đó là,
Trang 19trong buổi cầu cơ ngày 1-6-1927 Đức Chí Tôn đã giáng cơ rằng: "Đến cuối kỳ tháng 6 này thì phải ngưng hết bót truyền đạo" Vì thế, Tòa thánh thôi không dùng hoặc dùng không rộng rãi cơ bót nữa Và ngày 6 - 7 -1976 Tòa thánh tiếp tục tuyên bố không dùng cơ bót nữa, đó là tuyên bè mang ý nghĩa tích cực, phù hợp với đạo, với đời Việc phong chức sắc của đạo Cao Đài, theo tinh thần đại hội đại biểu Cao Đài Tây Ninh ngày 5 - 4 -1997 thì từ nay áp dụng theo điều lệ cầu phong, cầu thăng theo luật công cử thay cho hình thức cầu cơ.
- Quan điểm nhân sinh quan đạo Cao Đài cho rằng con người có phần xác và phần hồn, con người sau khi chết linh hồn còn tồn tại Nếu có công đức sẽ về sống sung sướng nơi Bạch Ngọc kinh (thiên đường) Nếu có tội thì vướng mãi trong vòng luân hồi sinh tử Đạo Cao Đài đã khuyên mọi người "Xả phú cầu bần" "Xả thân cầu đạo", tu hành để diệt dục để được
là đứng bậc đế vương nơi trái địa cầu này, chưa đặng vào bực chót của địa cầu 67 Trong địa cầu 67, nhơn loại cũng phân ra đẳng cấp dường Êy Cái quý trọng của mỗi địa cầu càng tăng thêm hoài, cho tới đệ nhất cầu Tam thiên thế giới, qua khái Tam Thiên thế giới thì mới đến Tứ Đại Bộ Châu Qua Tứ Đại Bộ Châu mới vào đặng Tam Thập Lục Thiên; vào Tam thập Lục Thiên rồi phải chuyển tu hành nữa mới đặng lên Bạch Ngọc Kinh, nơi
mà đạo phật gọi là Niết bàn [46, 345-346]
Theo đạo Cao Đài thì chính đạo đức con người là cái thang vô
Trang 20cùng "Thầy" hoặc hơn "Thầy" Vì lẽ đó đạo Cao Đài khuyên con người nên
tu hành, làm đủ phận người, công bình chính trực để khi hồn xuất ra khỏi xác thì cứ theo đẳng cấp gần trên mà luân hồi lại nữa Tuy nhiên, nếu như vậy thì cũng biết đến chõng nào mới hiệp hội cùng "Thầy", vậy nên "Thầy" cho một quyền rộng rãi hơn cho cả nhân loại càn khôn thế giới biết là nếu: biết ngộ kiếp một đời tu đủ trở về cùng "Thầy" - và như vậy Đạo là nơi con người nên quí trọng, nếu giữ được trọn đường tu hành sẽ sớm trở về "Bạch Ngọc Kinh"
Nhìn chung quan điểm nhân sinh quan của đạo Cao Đài là người được nhập môn hành đạo phải tuân theo thế luật: phải thương yêu nhau, liên lạc giúp đỡ nhau, lấy lòng thành thật mà đối đãi nhau, dìu dắt nhau trong đường đạo đường đời Khi nhập đạo rồi thì phải quên đi những việc oán thù khi trước, phải tránh các việc ganh ghét tranh đua và kiện cáo, phải nhẫn nhịn và hòa thuận với nhau Nếu có xích mích, phải vui vẻ nghe người đứng đầu trong họ phân giải Phải giữ "tam cương ngò thường" là nguồn cội của nhơn đạo, nam thì hiếu để, trung tín, lễ nghĩa, liêm sỉ; nữ thì tam tòng, tứ đức và công dung ngôn hạnh Khi ra giao thiệp với đời phải tập và giữ tánh: ôn, lượng, cung, khiêm, nhượng Đối với đạo hữu phải luôn nuôi nấng cái tình thù tạc cho khăng khít cái dây liên lạc Trong hàng tín đồ còn ở thế phải nhớ hai dịp là tang và hôn Việc hôn là việc rất trọng trong đời người, phải chọn hôn trong người đồng đạo, hoặc người ngoài ưng thuận nhập môn thì mới được kết giai ngẫu Trong việc cóng tế vong linh thì khuyên dùng toàn đồ chay cho được phước hơn, nhưng không cấm
lễ nhạc và phải dùng lễ nhạc theo tân luật Nếu trong đạo có người gặp tai nạn thình lình thì tất cả mọi người trong họ đạo đều tùy hỷ chung nhau, tương trợ nhau qua lúc ngặt nghèo Người trong đạo không làm nghề sát sinh hại vật, hay những nghề tồn phong bại tục Trong sinh hoạt phải thật cần kiệm
Trang 21Tóm lại, con người sống ở trần thế nên giữ cho chơn thần an tịnh,
đừng xao xuyến lương tâm, phải thuận hòa, phải không được tiếng lớn, phải siêng năng giúp Ých cho nhau, dìu dắt nhau trong đường đạo Có như vậy thì con người mới thấy cuộc sống có ý nghĩa và khi chết mới mong được về Bạch Ngọc kinh [46, 394]
đó khi thiết kế tổ chức giáo hội, họ rập khuôn theo kiểu bộ máy nhà nước Nhật, nhưng nhiều chỗ bổ sung rườm rà và quan liêu hơn [25, 194]
Đứng trước sự phát triển số lượng tín đồ tôn giáo, trong xây dùng tổ chức Cao Đài Tây Ninh đã dùa vào những yếu tố văn hóa có sẵn do tập quán và thãi quen của tín đồ để tạo ra bầu không khí văn hóa quen thuộc đó
là sử dụng lại các hình thức cũ, chủ yếu là các hình thức tôn giáo lớn là mô hình tổ chức có hệ thống chặt chẽ của đạo Thiên chóa Tòa thánh Tây Ninh trở thành một thứ "Nhà nước trong một Nhà nước" như kiểu Tòa thánh Vatican với số lượng đông đảo chức sắc phỏng theo hàng giáo phẩm của đạo Ki tô, nhưng được thay thế bằng những từ Hán - Việt cầu kỳ để tăng thêm vẻ huyền bí Có thể nói mô hình giáo hội Ki tô là nguyên mẫu của mô hình khởi thủy đạo Cao Đài Tuy nhiên, sau ngày lập đạo Ýt lâu, hàng loạt các cơ quan khác lần lượt ra đời làm cho mô hình này biến đổi để trở thành chính nó như ngày nay [46, 158]
Trang 22Giáo lý đạo Cao Đài không có hệ thống các tín điều có chiều sâu dùa trên những cơ sở triết học, thần học như những tôn giáo khác, mà chỉ là
sự vay mượn, kết hợp giáo lý tôn giáo, tín ngưỡng Cổ, Kim, Đông, Tây Những điều đạo Cao Đài coi là giáo lý bao gồm những khái niệm về "tam giáo", ngò chi " Cao Đài", "Cao Đài Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ", thể hiện
ở các đặc điểm sau:
- Giáo lý Cao Đài lúc bắt đầu xây dựng chưa thật trọn vẹn và cũng khó trọn vẹn, chỉ đóng góp nhỏ bé trong sự phát triển tư tưởng đương thời Những người sáng lập đạo Cao Đài không lưu ý đến việc xây dựng giáo lý, dường như họ chỉ làm nhiệm vụ dung hợp các tôn giáo có trước góp nhặt những yếu tố cần thiết và tùy theo giáo phái của mình mà có thể nghiêng về phần phổ độ, hoặc tự rèn luyện thêm cho mình Trong các sách về giáo lý của đạo Cao Đài như thánh ngôn hợp tuyển có không Ýt điều diễn đạt không đúng giáo lý của các tôn giáo được thâu góp, do sự hạn chế vốn tri thức đương thời của những người sáng lập Giáo lý đạo Cao Đài nhiều chỗ nôm na, lại có nhiều chỗ tối nghĩa, mâu thuẫn niềm tin vào đạo của các tín đồ
có khi lại được củng cố ở những Thánh ngôn và thường họ không hiểu [46, 158]
- Khác với các tôn giáo khác có xu hướng "hòa nhi bất đồng", đạo Cao Đài được xây dựng trên xu thế hòa nhập các tôn giáo làm một Đó là
sự tiếp nối, nhưng mở rộng truyền thống của tôn giáo Việt Nam từ trước đến nay: chấp nhận trên điện thờ của tôn giáo các thần thánh thuộc các tôn giáo khác nhau Hầu hết mọi nơi ta thấy sự hiện diện của các vị thần thánh của ba tôn giáo chính: Khổng, Phật, Đạo và các tôn giáo bản địa Ở đạo Cao Đài, ta thấy sự hòa trộn các yếu tố cần thiết của các tôn giáo để đúc nên một tôn giáo với cách hiểu hợp với thời gian và hợp với tâm lý - xã hội
Trang 23con người Nam Bộ Sự hòa trộn đó vẫn tuân thủ xu thế hòa hợp mà không đối đầu giữa các tôn giáo truyền thống [46, 27].
- Tinh thần hợp nhất các tôn giáo được giải thích với khái niệm Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ và Quy Nguyên Tam Giáo, Hiệp nhất ngò chi Tư tưởng tam giáo (Phật, Lão, Nho) được xem như là trung tâm giáo lý của đạo Cao Đài với 3 tư tưởng: Từ bi (Phật), Bác ái (Lão), Công bình (Nho)
và hiệp nhất ngò chi tức thống nhất 5 ngành đạo: Nhân đạo (do Khổng Tử chủ trương), Thân đạo (do Khương Tử Nha lập), Thánh đạo (do Jesus christ
Ki tô lập), Tiên đạo (do Lão Tử lập), Phật đạo (do Thích Ca lập) Vì nhiều tôn giáo tập trung trong đạo Cao Đài nên gọi là Đại Đạo Điều đó được viết trong "Đại đạo vấn đáp căn nguyên" của Thái Thơ Thanh, (Nguyễn Ngọc Thơ) rằng: " Phàm các tôn giáo lớn trên thế giới đều hay đều tốt tất cả, Những nhà sáng lập ra các tôn giáo đều là các bậc cao thượng trên đời từ bi bác ái cả Mục đích của đạo Cao Đài Tam Kỳ Phổ Độ chúng tôi mong kết hợp hết thảy các tôn giáo trên thế giới mà khảo cứu đi đến chỗ truy tầm nguyên ủy những đều cao thâm tinh khiết"
Sự tổng hợp giáo lý các tôn giáo được thể hiện rõ trong thờ phụng của Cao Đài gồm: thượng đế và các bậc giáo chủ của các tôn giáo, trên bàn thờ Cao Đài, dưới Thiên Nhãn là Thích Ca, Lão Tử, Khổng Tử (tam giáo), Quan Âm, Lý Thái Bạch, Quan Thánh (tam trần) Giêsu Ki tô, Khương Thái Công Cả thảy 8 vị
Đạo Cao Đài thờ Đức Chí Tôn bằng hình ảnh con mắt, gọi là Thiên Nhãn (mắt trời) và cho rằng Thiên Nhãn trong sáng như gương nên không mảy may gì xảy ra dưới phàm trần mà thượng đế không biết Thượng đế của đạo Cao Đài được gọi bằng nhiều tên: Ngọc Hoàng, Ngọc đế, Cao Đài huyền khung, Cao thượng đế, Ngọc Hoàng Đại Thiên tôn nhưng tên thông dụng là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát vì theo giáo lý Cao Đài danh xưng này thể hiện được sự tổng hợp các tôn giáo
Trang 24Về ý nghĩa chữ "Tam Kỳ Phổ Độ", đạo Cao Đài giải thích từ khi có loài người đến khi đạo Cao Đài ra đời thượng đế đã hai lần cứu rỗi ("Phổ độ") chúng sinh Lần thứ nhất ("Nhất kỳ phổ độ") gọi là "Hội tý thượng nguyên" gồm: Thái thượng đạo tổ, tiền thân của đạo Lão, Phục Hy - tiền thân của đạo Nho; Nhiên đăng Phật cổ - tiền thân của đạo Phật Lần thứ hai (Nhị kỳ phổ độ) gọi là ("Hội sửu trung nguyên") gồm thích ca Mâu Ni - Lập đạo phật, Thái thượng lão - quân lập đạo tiên, Khổng tử lập đạo Nho, chóa Giêsu Ki tô lập đạo Thánh Đạo Cao Đài cho rằng hai lần cứu rỗi này thượng đế thấy điều kiện nơi phàm trần gặp khó khăn "Năm châu sống lẻ loi" nên đã cho lập ra nhiều tôn giáo, mỗi tôn giáo phù hợp với phong tục tập quán từng vùng, từng quốc gia, trong những thời gian khác nhau Đến nay điều kiện đi lại dễ dàng, "Năm châu chung chỗ, bốn phương chung nhà" hơn nữa vì tồn tại nhiều tôn giáo riêng rẽ đã sinh ra mâu thuẫn xung đột giữa tôn giáo này với tôn giáo khác, nên thượng đế phải lập ra một tôn giáo mới chung cho mọi người: Đạo Cao Đài.
Giáo lý đạo Cao Đài còn giải thích thêm, nếu như hai lần phổ độ trước, thượng đế giao quyền lập đạo cho người phàm trần thì lần thứ ba còng
là lần cuối cùng với đạo Cao Đài, thượng đế trực tiếp đứng ra làm giáo chủ, một bài thơ của Cao Đài viết rằng:
"Phật trời, trời phật cũng là ta.
Nhành nhóc chia ba cũng một già Thích đạo, Gia tô tay chưởng quản Thương dân xuống thế độ lần ba"
Một đặc điểm nổi bật trong sự thờ phụng của đạo Cao Đài là đưa các yếu tố tâm linh, tín ngưỡng truyền thống vào sinh hoạt tôn giáo Cao Đài Đó là tục thờ nữ thần và thờ cóng tổ tiên Việc thờ nữ thần của đạo
Cao Đài thể hiện qua các đền thờ phật mẫu tồn tại song hành cùng các
Trang 25thánh thất địa phương và lễ vía Diêu Trì Phật Mẫu là lễ hội lớn nhất, ngang với lễ vía Đức Chí Tôn hàng năm Với truyền thống coi trọng thờ cóng tổ tiên hơn bất cứ một tôn giáo nào khác, đạo Cao Đài biến việc thờ cóng tổ tiên thành nội dung sinh hoạt chủ yếu của đạo, khoác cho nó những nghi lễ hết sức cầu kỳ Tại bất cứ thánh thất nào thì hậu điện cũng là nơi đặt bàn thờ Cửu huyền thất tổ, bất cứ điện thờ phật mẫu nào ngay gian chính điện, hai bên bàn thờ phật mẫu là hai bàn thờ chơn linh nam và nữ, tại tư gia, các tín đồ đều lập bàn thờ tổ tiên phía dưới bàn thờ Thiên Nhãn.
1.2.5 Đặc điểm về sinh hoạt lễ nghi
Đặc điểm quan trọng và rõ rệt nhất ở đạo Cao Đài Tây Ninh trong sinh hoạt là xây dùng cho mình một cơ sở xã hội mang tính cộng đồng Đạo
đã tạo nên một cơ sở xã hội vững chắc gồm các thành viên gắn bó nhau xung quanh thánh thất và điện thờ phật mẫu với tư cách là trung tâm văn hóa tâm linh ở đây tính cộng đồng và đạo quyện chặt với nhau làm một ngay từ buổi đầu, có thể có ý thức hay vô thức, nhưng lâu dần thành một tục lệ, mét tập quán mà mỗi thành viên nào trong cái làng nhỏ bé Êy không chấp hành thì bị coi là lạc lõng Có thể nói, mọi công việc trọng đại của mỗi gia đình (như tang ma, cóng giỗ, cưới hỏi, sinh con, dựng nhà, ốm đau ) đều được tập thể cộng đồng tham gia một cách tự nguyện Mặc dù
có những hình thức hay lễ nghi tôn giáo, song tính thiêng liêng rất mờ nhạt; các nghi thức được thực hiện như một tập quán (điều này gợi nhớ đến các đám tương tự ở nông thôn Bắc bộ, với sự tham gia của cả làng, cả họ như
đó là công việc chung một cách tự nguyện [46, 149]
Có thể nói sinh hoạt tôn giáo có nội dung là sinh hoạt cộng đồng mà thánh thất là tiêu biểu của cộng đồng cũng như ngôi đình vậy Nhu cầu sinh hoạt cộng đồng của người nông dân Nam Bộ nói chung và Tây Ninh nói riêng vốn bắt nguồn từ tâm lý truyền thống từ ngàn xưa nơi đất cũ (tính cộng đồng làng Bắc Bộ) giê đây trở nên cần thiết hơn do chính cuộc sống
Trang 26khẩn hoang vùng đất mới, sự đối chọi với ma thiêng nước độc, với thiên nhiên và bệnh tật khiến họ cần dùa vào nhau và Cao Đài đã đáp ứng được nhu cầu Êy: nhu cầu được sinh hoạt trong cộng đồng, nhu cầu được dùa vào cộng đồng với những mối liên hệ ổn định của nó.
Trong sinh hoạt cộng đồng, tín đồ Cao Đài Tây Ninh hành đạo và
xử thế theo những luật lệ, lễ nghi được qui định trong giáo lý như: thực hiện ngò giới cấm; tứ đại điều quy; việc ăn chay
Lễ nghi của đạo Cao Đài rườm rà, cầu kỳ và phản ánh tinh thần tổng hợp các tôn giáo qua lễ phẩm, lễ sỉ, lễ phục Tuy nhiên các sinh hoạt
lễ nghi của đạo Cao Đài rất gần gũi và phù hợp với trình độ nhận thức của
số đông nông dân Nam Bé, trong hoàn cảnh kinh tế - xã hội nhất định hơn thế nữa nhiều luật lệ, lễ nghi, cách thức hành đạo đã ăn sâu vào cuộc sống, trở thành phong tục tập quán lối sống của đông đảo quần chúng tín đồ [6, 193]
Đạo Cao Đài là một thực thể khách quan, một tôn giáo đang tồn tại
Do đó, về các phương diện, đạo chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh xã hội đầy biến động của hơn nửa thế kỷ qua Đạo đã trải qua những giai đoạn manh nha, hình thành và phát triển thành nhiều giáo phái, với sự phân rã do nhiều thế lực " đạo" và "đời" khác nhau
Tây Ninh đã trở thành trung tâm của Cao Đài với số lượng tín đồ đông đảo cũng xuất phát từ sự qui định hoàn cảnh lịch sử hình thành cộng đồng dân cư tín ngưỡng ở mảnh đất này, chủ yếu là nhu cầu mang tính chất truyền thống và sinh hoạt cộng đồng của người nông dân Nam Bộ và các yếu tố tín ngưỡng truyền thống trong sinh hoạt như thờ cóng tổ tiên, thờ nữ thần của người Việt xưa, mà Cao Đài đã khai thác tổng hợp thành nội dung thờ phụng của mình đáp ứng tâm lý tín đồ Với sự chặt chẽ trong tổ chức thờ phụng, lễ nghi, sinh hoạt , đạo Cao Đài đã có ảnh hưởng nhất định trong đời sống tinh thần, trong sinh hoạt văn hóa xã hội của người dân
Trang 27Tây Ninh nhất là tín đồ Cao Đài Tuy nhiên với sự chưa hoàn chỉnh về giáo
lý, với những nghi thức rườm rà, với lượng tín đồ theo đạo một cách vội vã
và có phần gượng Ðp, cơ hội, Đạo Cao Đài nói chung và Cao Đài Tây Ninh nói riêng đang và sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển ở giai đoạn hiện nay
Trang 28Chương 2
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO CAO ĐÀI ĐỐI VỚI MỘT SỐ LĨNH VỰC CỦA ĐỜI SỐNG TINH THẦN
2.1 ĐẠO CAO ĐÀI VỚI CHÍNH TRỊ
Đạo Cao Đài trong quá trình tồn tại và phát triển có mối quan hệ với chính trị khá sâu sắc và chặt chẽ Trước và sau khi đạo Cao Đài ra đời, tình hình chính trị ở Việt Nam nói chung và ở Nam Bộ nói riêng nổi lên các
xu hướng khác nhau Có hai xu hướng chính: xu hướng cải lương, dân chủ
tư sản mà đại biểu là Đảng Lập hiến (1925) của Bùi Quang Chiêu, Hội Phục Việt (1925) của nhóm Phan Bội Châu và xu hướng cách mạng yêu nước, ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga với các đại biểu là tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, Công hội đỏ, ba đảng cánh mạng theo xu hướng cộng sản và phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh
Tình hình chính trị đó tác động đến đạo Cao Đài khá mạnh mẽ và cũng phân hóa những người lãnh đạo đạo Cao Đài thành hai xu hướng chính: theo cách mạng chống đế quốc thực dân và theo thế lực phản cách mạng, đế quốc
Xu hướng theo cách mạng yêu nước chống đế quốc của những người trong đạo Cao Đài tiêu biểu là Tòa thánh Minh Chơn đạo Hậu Giang,
do Ngọc Chưởng Pháp Trần Đạo Quang lập năm 1932 (đặt ở Ngọc Sắc, Minh Hải)
Năm 1933 thành lập cơ quan Trung ương ở Giồng Bớm, các thánh thất chăm lo việc đạo, việc đời cho tín đồ, luôn đề cao đoàn kết nội bộ và đoàn kết với các tôn giáo khác
Tháng 4 - 1933 Đại hội cộng đồng giáo lý các tôn giáo (Cao Đài, Phật giáo, Thiên chóa giáo) tại thánh thất Ngọc Phước, do Trần Đạo Quang
Trang 29và Cao Triều Phát làm chủ tọa danh dự và chủ tịch đã nhất trí các mục tiêu đoàn kết, tu hành chân chính, cứu khổ chúng sinh.
Năm 1939 thành lập "Đoàn thanh niên đạo đức" do Cao Triều Phát làm tổng trưởng với mục tiêu giáo dục thanh niên Cao Đài đạo đức, thương đạo, yêu nước
Năm 1945, đạo Hữu và chức sắc của phái Cao Đài Minh Chơn Đạo tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở nhiều nơi Nhiều chức sắc của đạo tham gia chính quyền đoàn thể cấp tỉnh, huyện, trong đó có Cao Triều Phát tham gia Ủy ban giải phóng dân téc tỉnh Bạc Liêu, vào Mặt trận Việt Minh tỉnh và đến tháng 1 năm 1946 là đại biểu Quốc hội tỉnh Bạc Liêu Một số thanh niên trong đoàn thanh niên đạo đức thành lập đội du kích và gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam
Cuối năm 1947, Đại hội 12 hệ phái Cao Đài ở Đồng Tháp Mười đã thành lập ra "Cao Đài cứu quốc" Cao Đài cứu quốc vừa hướng dẫn việc tu hành, vừa động viên tín đồ, chức sắc tham gia vào các cơ quan chính quyền
và quân đội cách mạng Đến năm 1954 theo tinh thần Hiệp định Giơ-ne-vơ,
tổ chức Cao Đài cứu quốc giải thể Một số chức sắc Cao Đài tập kết ra Bắc, các chi phái trở về tu hành riêng rẽ
Thời kỳ chống Mỹ - Ngụy, tháng 4 năm 1955 tại Tòa thánh Minh Chơn Đạo, Cao Đài với 5 Tòa thánh (Minh Chơn Đạo - Cà Mau, Cao Thượng Bửu tòa Bạc Liêu, Chiếu Minh Long - Cần Thơ, Thiên Châu Minh
- Bến Tre, Bạch Y Liên đoàn - Rạch Giá) đã họp để thành lập Liên giao I nhằm giúp nhau tu hành chống Mỹ - Ngụy đàn áp khủng bố
Ngày 11- 11- 1927 tại thánh thất tây Cần Thơ 18 hệ phái Cao Đài họp để ra đời Liên giao II Trong đó bao gồm Liên giao I, Ban chỉnh đạo đô thành và nhiều phái từ Đà Nẵng trở về Cà Mau
Liên giao II có chung tiếng nói: bảo vệ đạo pháp, chống bắt lính, chống lợi dông đạo, chống khủng bố người yêu nước, chống chiến tranh đòi hòa bình
Trang 30Liên giao II đã tổ chức nhiều buổi cầu nguyện hòa bình khắp các thánh thất và tham gia vào sự nghiệp chống Mỹ cứu nước cho đến ngày miền Nam giải phóng, Tổ quốc thống nhất.
Tham gia tích cực vào sự nghiệp giải phóng dân téc do Đảng cộng sản lãnh đạo, các hệ phái tiêu biểu là Tòa thánh Minh Chơn Đạo - những nhà lãnh đạo và đông đảo tín đồ đạo Cao Đài đã góp phần to lớn vào sự nghiệp chung của dân téc, công lao đó đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận Trong đó cụ Cao Triều Phát, Chủ tịch Cao Đài 12 phái hợp nhất, cố vấn Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ, đại biểu Quốc hội của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (khóa I) đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh (số 32/ SL ngày 25/9/1949) thưởng Huân chương Độc lập hạng nhì
Sự đóng góp Êy của đạo Cao Đài luôn được xem là những trang tươi đẹp, rạng rỡ trong lịch sử phát triển của đạo
Tuy nhiên, bên cạnh xu hướng cách mạng, xu hướng chống cộng của đạo Cao Đài cũng khá đậm sắc
Ngay từ khi mới thành lập, thực dân Pháp đã tìm cách nắm và sử dụng đạo Cao Đài Trước hết đạo Cao Đài là sản phẩm của địa chủ và tư sản
Giai cấp tư sản Việt Nam ra đời muộn, lại bị thực dân Pháp chèn
Ðp nên có xu hướng đi vào con đường cơ hội, cải lương, thỏa hiệp Tuy vậy một bộ phận của giai cấp tư sản (tiêu biểu ở Nam Bộ) ôm Êp tham vọng giành quyền lãnh đạo chính trị ở Việt Nam để xây dựng một chế độ chính trị theo kiểu quân chủ lập hiến Mưu đồ thì lớn nhưng không có khả năng tập hợp lực lượng quần chúng Một bộ phận tư sản ở Nam Bộ đã liên kết với địa chủ, tiểu tư sản, công chức thành lập đạo Cao Đài, với tổ chức này, họ đầu cơ chính trị, lợi dụng sự bế tắc của nhân dân Nam Bé trong cuộc đấu tranh yêu nước để quy tụ lực lượng hòng thực hiện ý đồ trên Vì vậy đạo Cao Đài là sản phẩm của giai cấp địa chủ, tư sản Nam Bộ trên con đường mưu giành quyền lãnh đạo chính trị trong những năm 20 của thế kỷ
Trang 31này, còn tôn giáo chỉ là cái vỏ bên ngoài Trong các hệ phái của đạo Cao Đài thì Cao Đài Tây Ninh có ưu thế hơn cả vì có trung tâm Tòa thánh được coi là đạo gốc, là hệ phái lớn nhất có tín đồ đông đảo nhất Vì thế Cao Đài Tây Ninh trở thành đối tượng quan tâm hàng đầu của thực dân Pháp Ngày 15-2-1932 Thượng viện Pháp biểu quyết đạo luật công nhận đạo Cao Đài Tư tưởng phục Pháp và hy vọng ở Pháp trong một số chức sắc Cao Đài là khá
rõ khi họ tuyên bố: Nước Pháp có đủ đức tính thiêng liêng dạy dỗ các sắc téc dân téc lạc hậu trở thành cơ sở đại đồng thế giới
Với mưu đồ trên, những người thành lập đạo Cao Đài đã ngày càng
đi sâu vào hoạt động chính trị, xây dựng cả bộ máy hành chính đạo từ trung ương đến cơ sở, xây dựng cả quân đội có bộ tham mưu, tác chiến hẳn hoi, để khi có thời cơ thì chuyển thành bộ máy nhà nước, phỏng theo kiểu tổ chức chính quyền của chế độ quân chủ lập hiến Họ đưa vào đạo màu sắc dân chủ tư sản như: "Tam quyền phân lập", "Dân chủ tập trung", "Lưỡng phái bình đẳng" để lôi cuốn thu hót quần chúng và chuẩn bị chờ dịp giành chính quyền thống trị, đưa Cao Đài thành "quốc đạo" Phạm Công Tắc đã khẳng định: "Có phải chúng ta theo chủ nghĩa Cao Đài không? nếu đúng như thế chủ nghĩa Cao Đài muốn tồn tại phải lập ra quân đội như thế quân đội phải
do chính trị điều khiển vì chúng ta làm chính trị [7, 31] Ông còn nói rõ thêm là: "Vậy chúng ta phải đem nhà vua để lập quyền cho dân quyền là chính sách của đạo Cao Đài, giúp quân chủ nhân quyền chúng ta sẽ hướng ra quân chủ nhân quyền để tạo tương lai cho quốc vận" [7, 41]
Công bằng mà nói khi mới ra đời, tín đồ Cao Đài là yêu nước, chống Mỹ Nhưng số chức sắc cao cấp bị Pháp mua chuộc, khống chế và lợi dụng ngay từ đầu nên đã lái tôn giáo Cao Đài chống lại cuộc vận động cách mạng của Đảng ta, đưa quần chúng từ chỗ yêu nước sang chỗ sợ trời
Từ chỗ lừa bịp quần chúng bằng luận điệu chống Pháp đến chỗ công khai nói đền ơn trả nghĩa cho Pháp vì "Pháp đã cho Cao Đài thành lập" Phạm Công Tắc nói với tín đồ rằng: "Nước Pháp và Việt Nam không phải là thù
Trang 32hận nhau vì chóng ta nhận thấy đã 80 năm đồng chịu khổ não, đồng chịu nhọc nhằn khai hóa [54], và phải xây dựng Việt Nam độc lập trong Liên hiệp Pháp" [18, 14] Cao Đài là sản phẩm như bọn thực dân mong muốn, vì thế nên Cu-lê đã viết: "Cao Đài là linh hồn Pháp - Việt" đề huề mà chúng ta
đã đào tạo 60 năm nay [16, 222]
Khởi thủy đạo Cao Đài là một công cụ chính trị, tuyên truyền của Pháp và bất kỳ lúc nào mà Pháp mạnh thì vẫn thế Nhưng bọn thực dân Pháp không tính hết khả năng của lịch sử, không đoán trước được mọi sự của ngày mai Khi mà quần chúng vào đạo đông thì sớm hay muộn, nhiều hay Ýt các chức sắc của đạo bắt buộc phải bàn đến những vấn đề xã hội, đạo Cao Đài trở thành lực lượng quan trọng và bắt đầu làm chính trị trực tiếp Đạo phát triển nhanh ở Nam Bộ, có ý đồ phát triển thành quốc đạo, và
có xu hướng chống Pháp - Điều này đã làm cho thực dân Pháp hoảng sợ, nên chúng khống chế, mua chuộc những người cầm đầu đạo Cao Đài, trong
số đó cũng không Ýt là thành phần cơ hội chính trị Từ đó những người cầm đầu đạo Cao Đài đã trở thành tay sai cho thực dân Pháp, thực hiện âm mưu thống trị của chúng Vì vậy những người cầm đầu đã dùng giáo lý thần quyền mê hoặc, đánh lạc hướng đấu tranh của quần chúng Họ đã đưa hàng ngàn thanh niên sang Pháp xung vào quân đội làm bia đỡ đạn cho Pháp trong chiến tranh thế giới thứ hai với luận điệu "trả ơn cho Pháp triều
đã cho phép đạo được thành lập" Khi Pháp mạnh thì người ta theo Pháp, khi Pháp sắp thua thì người ta trở cờ, đó cũng là lẽ thường, một tổ chức có thể phục vụ cho đế quốc này thì cũng có thể chạy theo lời hứa hẹn của một
đế quốc khác Bởi vậy khi Pháp đầu hàng, phát xít Nhật vào xâm lược Đông Dương và Việt Nam, những người cầm đầu đạo Cao Đài đã bí mật gặp Nhật để nhận làm tay sai Khi Pháp biết được sự phản bội này đã bắt Phạm Công Tắc và 5 chức sắc cao cấp của đạo Cao Đài đày sang đảo Madagascar và đồng thời khủng bố đạo Tổng tư lệnh Trần Quang Vinh thay thế quyền lúc đó trực tiếp gặp một số tên đại diện của chính phủ Nhật
Trang 33là Kimura và Muchisuki để ký hợp tác nhận làm tay sai Hai bên đã ký kết thỏa thuận cùng có lợi Vinh hứa giúp Nhật đảo chính Pháp, cụ thể Vinh tập hợp hơn 3.000 thanh niên tín đồ từ các tỉnh về làm việc cho hãng National ở Sài Gòn Thực chất ban ngày đóng tàu chỉ là trá hình, ban đêm chúng tập luyện quân sự, phóng điệp, trinh thám, phục kích Sau đó lực lượng này được thành lập như một quân đội và góp phần đắc lực cho Nhật đảo chính Pháp Sau đó Nhật còn cho Cao Đài thành lập quân đội riêng, có
bộ tham mưu hẳn hoi Đến đây thì bộ mặt cơ hội của những người cơ hội cầm đầu Cao Đài đã lé rõ dần Cách mạng tháng Tám thành công, buộc quân đội Cao Đài phải đi theo cách mạng, nhưng thực chất họ ra rừng để lấn chiếm vùng giải phóng của ta, và những người cầm đầu vẫn tuyên bố dù quân đội Cao Đài gia nhập Việt Minh, nhưng Cao Đài vẫn là Cao Đài, Việt Minh vẫn là Việt Minh
Khi Pháp trở lại xâm lược lần thứ hai (1946) Trần Quang Vinh đầu hàng Pháp, Vinh ra lệnh cho quân đội Cao Đài bỏ Việt Minh về hợp tác với Pháp, nhân dịp này Minh đưa ra yêu cầu:
- Xin nhà cầm quyền Pháp trả Tòa thánh cho đạo và mở các thánh thất bị cấm hoạt động trước đây
- Trả tự do cho Phạm Công Tắc và 5 vị chức sắc bị đày, và nhiều chức sắc khác bị giam cầm
Ngày 21 tháng 8 năm 1946, Phạm Công Tắc được trả tự do về Sài Gòn và cùng ký tên nhận làm tay sai cho Pháp Kéo lực lượng vũ trang từ ngoài rừng do tướng Nguyễn Văn Thành chỉ huy về vùng địch nhận súng ống và dụng cụ chiến tranh do Pháp trang bị với lập trường thân Pháp, chống cộng Vì vậy trong cuộc kháng chiến 9 năm của nhân dân ta, quân đội Cao Đài đã cùng giặc Pháp đưa quân càn quét, đóng đồn bót, gom tín
đồ lập các "chu vi đạo" thực hiện kế hoạch đánh phá, gây tổn thất không Ýt cho cách mạng Tính chất chính trị, cơ hội của những người cầm đầu Cao
Trang 34để Họ đã thật sự phản lại dân téc, chống phá cách mạng, hết làm tay sai cho Pháp lại làm tay sai cho Nhật và rồi lại trở lại làm tay sai cho Pháp khi Pháp quay lại Bộ mặt tráo trở, cơ hội của họ đã không chịu thức tỉnh mà trái lại bản chất đó lại xuyên suốt quá trình lịch sử nước nhà Đó là khi Pháp thua buộc phải ký hiệp định Giơ-ne-vơ và rút quân về nước, đế quốc
Mỹ nhảy vào đưa Ngô Đình Diệm vào thành lập chính quyền tay sai cho thực dân kiểu mới ở Việt Nam Lúc này nội bộ tôn giáo Cao Đài phân hóa thành hai phe, thân Mỹ và thân Pháp, dẫn đến Èu đả thanh trừng nhau Phe thân Pháp do Phạm Công Tắc làm chỉ huy cấu kết với Bình Xuyên - Hòa Hảo thành lập Mặt trận thống nhất toàn lực quốc gia, nhưng bị Diệm đàn áp, phe này tan rã, Phạm Công Tắc và một số tay chân chạy sang Nam Vang (Campuchia) cư trú chính trị vào cuối năm 1955 và chết ở đó vào giữa năm
1959 Mỹ - Diệm đưa Cao Hoài Sang, Lê Thiện Phước, Phạm Tấn Đãi là chức sắc cao cấp về nắm quyền tôn giáo Cao Đài Trong quá trình làm tay sai, những người cầm đầu đạo càng bộc lé rõ bản chất phản động, họ dùng
"cơ bót" để loại bỏ chức sắc, chức vị tiến bộ, họ gom nhân dân vào các vùng thánh thất, thành lập các chu vi đạo, buộc nhập môn Riêng Tòa thánh Tây Ninh còn là nơi chứa hàng ngàn thanh niên vào trèn lính, khi cao điểm lên đến 20.000 người Thực chất đây là cái rọ chứa để đưa thanh niên xung vào quân đội Ngụy
Năm 1965 những người cầm đầu đạo Cao Đài cho ra đời cái gọi là
"Ban thế đạo" bất kỳ ngụy quân, ngụy quyền, tư sản, trí thức nếu có trình
độ học vấn theo quy định thì sẽ được phong "Hiền tài" (tương đương với lễ sanh) bá qua các bước bên dưới Đây là một cửa hợp pháp cho bọn tình báo, cảnh sát, ngụy quyền chui sâu leo nhanh vào đạo Đến năm 1975 có gần 2000 tên vào Ban thế đạo, điển hình như: Lê Thiện Phước là chức sắc cao cấp làm trưởng Ban thế đạo, là một tình báo CIA, Nguyễn Văn Nhã cựu tỉnh trưởng Tây Ninh leo lên thượng chánh phối sư lúc 40 tuổi, Nguyễn Tấn Ngưu thiếu tá cảnh sát đặc biệt Tây Ninh còng cho ta thấy thực chất
Trang 35của tổ chức này Từ đó biến Tòa thánh Tây Ninh thành nơi Èn nấp của bọn tình báo hoạt động nhằm thực hiện kế hoạch lâu dài của ngụy Những chức sắc cao cấp của đạo Cao Đài cũng được Mỹ - Ngụy sử dụng làm tình báo như Phạm Duy Nhung (Sĩ Tãi), Trương Văn Quảng (đại tá Cao Đài) làm tay sai mật vụ cho Trần Kim Tuyến và Cao Xuân Vỹ Lễ Sanh Giang Thành Phước và Bùi Văn Côn - giáo viên là tình báo của Cục an ninh quân đội Ngụy
Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ, trong khi nhân dân ta đổ biết bao nhiêu xương máu, mồ hôi để làm cuộc kháng chiến trường kỳ chống giặc ngoại xâm giải phóng đất nước, giành độc lập tự do cho dân téc thì những người cầm đầu đạo Cao Đài lại hết làm tay sai cho đế quốc này đến đế quốc khác, chống lại sự nghiệp cách mạng chung của toàn dân Thực chất họ không phải còn non nít về chính trị đến nỗi không nhận ra đâu là bạn đâu là thù nên đã đánh nhầm cách mạng, mà
họ chỉ vì tham vọng muốn làm vua một cõi, muốn mưu đồ đại sự để mưu cầu lợi Ých cá nhân cho một nhóm người cầm đầu đạo, họ đã phản bội dân téc
Sau ngày miền Nam giải phóng tháng 4 năm 1975, số phản động trong chức sắc đạo Cao Đài giảm nhiều, các hệ phái nhỏ không đủ sức hoạt động, các đảng phái tan rã hầu hết Tuy nhiên, có một bé phận vẫn không chịu từ bỏ ý đồ chính trị chống đối cách mạng
Đối với tín đồ hầu hết thuộc thành phần lao động bị áp bức bóc lột nặng nề, nên họ có tinh thần yêu nước, họ vào đạo vì lợi Ých riêng tư, bị quyến rò bằng giáo lý mơ hồ, bị khống chế kìm kẹp bằng bộ máy hành chính đạo và bộ máy ngụy quyền Sài Gòn, do đó về mặt tín ngưỡng họ cũng không cuồng tín, chống cộng như một số tên cầm đầu tôn giáo, trái lại
họ giúp Ých rất nhiều cho cách mạng trong cuộc đấu tranh giải phóng đất nước Sau ngày giải phóng quần chúng tín đồ hăng hái tham gia xây dựng lại quê hương dưới sự vận động và hướng dẫn của Đảng bộ tỉnh Tây Ninh Theo báo cáo của Ban tổ chức tỉnh ủy Tây Ninh tính đến 3/2000 toàn tỉnh
Trang 36phát triển 1.243 đảng viên xuất thân từ gia đình Cao Đài - là những cán bộ, các ban ngành, đoàn thể quần chúng, có những đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đặc biệt huyện Hòa Thành là huyện trọng điểm của tỉnh về phát triển thủ công nghiệp, văn hóa - xã hội
và cũng là trung tâm của đạo Cao Đài (Tòa thánh)
Ngày 5-4-1997 với sự thắng lợi của Đại hội Cao Đài Tây Ninh đã tạo ra sự phấn khởi, tin tưởng của đông đảo chức sắc, tín đồ đạo Cao Đài, đối với chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta Nhưng bên cạnh đó cũng có một số người cho rằng sau đại hội đạo sẽ bị xóa bỏ, tuy nhiên nhận thức có tính chất sai trái đó đã tỏ ra không phù hợp và không được ủng hộ
Cao Đài hải ngoại cũng đáng được chú ý về chính trị Tháng 12/1992, Cao Đài hải ngoại tổ chức đại hội tại Mỹ thành lập tổ chức "Việt kiều Cao Đài thống nhất đại đồng" gồm 3 ban: Truyền giáo, hành giáo, luật giáo Cao Đài hải ngoại thường có liên hệ với các nước mà trong đó có việc làm không được hoan nghênh và không khách quan, đó việc vu khống Nhà nước ta vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo và thu nhập tài liệu xấu chuyển ra ngoài
Lý giải về nguyên nhân của sự gắn bó sâu sắc, chặt chẽ với chính trị của đạo Cao Đài, nhất định phải đề cập đến sự ra đời và tồn tại của đạo Cao Đài ở một thời kỳ mà đời sống chính trị trong nước và quốc tế có những biến động đặc biệt sâu sắc và quyết liệt Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó thì chưa đủ mà một nguyên nhân nữa cần thấy là đạo này thường bị một số người trong giới chức sắc thao túng và chi phối theo lợi Ých chính trị của
họ Bao giê cũng vậy, trong tính phổ biến về vai trò của một tổ chức xã hội thì vai trò của các cá nhân cốt cán là rất quan trọng
Những người cộng sản Việt Nam chủ trương nhất quán chính sách tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào của công dân Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Chính sách Êy
đã tạo ra sự yên tâm, phấn khởi của tín đồ, chức sắc tôn giáo nói chung và
Trang 37đối với đạo Cao Đài nói riêng Trong các hệ phái của đạo Cao Đài đã có một số hệ phái gần đây nhất, hệ phái Cao Đài Tây Ninh đã được Nhà nước
ta công nhận tư cách pháp nhân của tổ chức hội thánh (9/5/1997) Điều đó
đã tạo ra những điều kiện tốt hơn để tín đồ yên tâm hành đạo, đồng thời để đồng bào theo đạo sát cánh cùng toàn thể dân téc thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà
2.2 ĐẠO CAO ĐÀI VỚI LỐI SỐNG ĐẠO ĐỨC
Do có sự hiện diện của các cộng đồng tôn giáo Thiên chóa, Phật giáo, Cao Đài, Hồi giáo cùng với phong tục tập quán, tín ngưỡng dân gian đã tạo nên sự đa dạng phong phó trong đời sống tâm linh của người dân Tây Ninh Tuy nhiên đạo Cao Đài với số lượng tín đồ đông đảo nhất chiếm hơn 40% dân số của tỉnh với 50 thánh thất, 43 điện thờ Phật Mẫu là trung tâm sinh hoạt tôn giáo ở các địa phương, có vai trò vô cùng quan trọng chi phối đến đời sống, lối sống và đạo đức của người dân Tây Ninh
Có thể nói: Nét đặc sắc của đạo Cao Đài là đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt cộng đồng của người dân Nam Bộ Đại đa số dân cư Tây Ninh là dân cư mới định cư đầu thế kỷ XX, đặc biệt là tín đồ Cao Đài di cư tới đây thành nhiều đợt, chủ yếu là các tỉnh miền Trung, từ đó ta hiểu được vai trò sinh hoạt đạo Cao Đài, với tư cách là một hình thức sinh hoạt cộng đồng,với những người định cư này là quan trọng như thế nào Bất cứ hành
vi nào trong cuộc sống như lao động sản xuất, sinh tử, lập gia đình, tương thân tương ái cho đến khi các hành vi tôn giáo như các ngày lễ hàng năm của cộng đồng, các việc lễ liên hoan đến gia đình, cá nhân đều được tham gia một cách vô tư (trong quan niệm của họ đó là một hình thức làm công quả)
Mặc dù có những hình thức nghi lễ tôn giáo, song ta thấy ở đây tính thiêng liêng hay tính tín ngưỡng rất mờ nhạt Các nghi thức được thực hiện
Trang 38nông thôn Bắc Bộ, với sự tham gia cả làng, cả họ Cũng như ở Bắc Bộ, mỗi người ở đây tham gia vào công việc như tham gia vào công việc chung một cách tự nhiên như thực hiện trách nhiệm của mình chỉ có một điều khác: ở đây công việc này được khoác một ý nghĩa mới - ý nghĩa tôn giáo là làm công quả Vì vậy có thể nói sinh hoạt tôn giáo mang nội dung là sinh hoạt cộng đồng.
Điều này còn được khẳng định qua hàng trăm cuộc phỏng vấn các tín đồ Tuyệt đại đa số không am hiểu nhiều và cũng không quan tâm nhiều đến giáo lý của đạo, mặc dù bản thân đạo Cao Đài cũng không xây dựng được một giáo lý hoàn chỉnh Tín đồ chỉ thực sự hào hứng khi ta hỏi về những điều cụ thể mà đạo đem lại cho mỗi người trong cuộc sống hiện thực này tức là về những sinh hoạt cộng đồng, trong đó mỗi người có trách nhiệm và được hưởng quyền lợi từ cộng đồng Cái gắn kết họ với đạo thực
sự là cái quyền lợi và cái trách nhiệm Êy là tình nghĩa tương thân, tương ái giữa những người cùng cộng đồng Thậm chí, hy vọng về đời sống mai sau trên thế giới mà đạo Cao Đài gọi là cõi thiêng liêng hằng sống (ngay cả tên gọi này cũng có người không biết, cũng như nhiều người không biết đến sự tích của các đấng được thờ phụng) không làm họ quan tâm nhiều Một số người nói về cõi thiêng liêng với một thái độ bất khả tri: "Người ta nói vậy thì tôi còng tin vậy chứ đã lên đâu mà biết" (Lời một chức việc) Thật là khó tin ở đây một tâm lý muốn được siêu thoát, muốn được sám hối, muốn được giải tội, hay niềm kinh sợ phán xét
Những công việc của cộng đồng trở thành nội dung hoạt động chính của một thánh thất Mỗi thánh thất đều có lịch sinh hoạt từng tháng hay hai tháng, thường là kín trong ngày Các chức việc và chức sắc tại các thánh thất luôn luôn bận việc hết đám này đến đám khác
Vai trò vị trí của đạo Cao Đài còn được thể hiện ở niềm tin và hành
vi tôn giáo của tín đồ Cao Đài Điều tra xã hội học tôn giáo tại Tòa thánh Tây Ninh của Viện nghiên cứu tôn giáo cho thấy 58% tín đồ Cao Đài tin
Trang 39vào số mệnh Họ tin rằng đời sống con người, thậm chí cả những hành vi hàng ngày đều do đấng Chí Tôn định đoạt, vì Thiên Nhãn (biểu tượng cho Đức Chí Tôn) thấu rõ mọi việc ở trần gian Mét con số khác: 100% tín đồ Cao Đài thực hiện hành vi đi lễ các thánh thất, đền thánh Đền thánh hay thánh thất đối với tín đồ Cao Đài Tây Ninh mặc nhiên đã là nơi hội tụ của mét cộng đồng, giống như ngôi đình hay nhà chùa ở các nơi khác.
Sinh hoạt đời sống, đạo đức văn hóa - xã hội của tín đồ Cao Đài còn
bị ràng buộc bởi lễ nghi, tổ chức của đạo Mọi chức sắc cũng như tín đồ ngoài việc làm lễ, răn giữ ngò giới, làm công quả tự nguyện tùy theo ý thích và năng lực từng người phải tuân thủ một cách chặt chẽ luật đạo, từ việc làm lễ tắm thánh cho trẻ sơ sinh, buộc trẻ nhỏ học đạo, làm lễ nhập môn, đến việc tổ chức lễ hôn phối, lễ cầu lành bệnh, đặc biệt là tang tế
Đó là việc đưa việc đạo vào việc đời và ngược lại Hơn thế nữa, ở đạo Cao Đài các tín đồ được tổ chức theo gia đình, khi cha mẹ đã vào đạo thì nghiễm nhiên con phải trở thành tín đồ khi đến tuổi trưởng thành
Do tính chất cộng đồng của mình, đạo Cao Đài có xu hướng phát triển tập trung ở một số làng, một số xã Nơi nào một cộng đồng Cao Đài chiếm ưu thế thì nó dễ lôi kéo bộ phận còn lại gia nhập Chính sinh hoạt có tính cộng đồng đã tạo cho nó khả năng lôi kéo những người cộng cư để hình thành nên những làng, những xã thuần đạo
Một nét nổi bật khác trong nội dung sinh hoạt tôn giáo của đạo Cao Đài chính là tín ngưỡng cổ truyền dân gian, trong đó có tục thờ nữ thần Tâm lý trọng thần nữ của người Việt ảnh hưởng tới các tôn giáo ở Việt Nam thể hiện nổi bật nhất, rõ ràng nhất tục thờ nữ thần và hơn nữa coi trọng vai trò của người phụ nữ như đạo Cao Đài
Tại Tòa thánh Tây Ninh, Báo Ân Từ - nơi thờ Diêu Trì Kim Mẫu, hay còn gọi là Phật Mẫu Phật Mẫu được người Cao Đài xem là người mẹ
Trang 40100 ức nguyên nhân xuống thế Qua hai kỳ phổ độ, mới độ rỗi được 8 Tới
kỳ thứ ba, Di Lặc sẽ đi lại thuyền Bát Nhã tới, chủ tọa đại hội Long Hoa để phán xét chúng sinh (ngày phán xét) và rước 92 ức nguyên nhân còn lại) Đây là một ngôi đền nguy nga rực rỡ chỉ thua kém đền thánh (đền chính), chỉ tại đây và tại đền thánh được dựng hai cột cờ đại phướn của đạo
Tại các địa phương cũng dựng các điện thờ Phật Mẫu song hành với các thánh thất Chẳng hạn vùng ngoại ô Tòa thánh có 60 thánh thất thì cũng
có 60 điện thờ Phật Mẫu [21] điện thờ Phật Mẫu cùng với thánh thất được
kể là hai loại đền thờ chính của đạo Cao Đài Trong điện thờ phật Mẫu người ta đắp nổi tượng phật Mẫu cùng 4 vị Tiên Đồng Ngọc Nữ (những người theo hầu bà), cùng cửu vị tiên Nương (những người được xem là thay mặt Phật Mẫu trong thời kỳ phổ độ thứ ba)
Đặc biệt hội yến Diêu Trì cung, cũng gọi là lễ hội Diêu Trì Phật Mẫu, tổ chức vào rằm tháng tám tại Báo Ân Từ trở thành lễ hội đông vui nhất của đạo, thu hót tín đồ khắp nơi và khách thập phương, được coi là một trong những lễ hội lớn ở Nam Bộ (Hội yến Diêu Trì cung là lễ hội đặc biệt do Hiệp thiên đài chủ trì và không tổ chức ở bất cứ địa phương nào, ngoài Tòa thánh Điều này đã khiến lễ hội mang tính "Trảy hội dân gian" khác các ngày kỷ niệm của các tôn giáo khác) Trong lễ hội này người ta rước múa lân, long, qui, phượng và nhiều hình thức diễn xướng dân gian khác nữa
Như vậy, địa vị của Phật Mẫu được đề cao đến mức, trong đạo chỉ
có 2 ngày đại lễ thì một ngày dành cho thầy và một ngày dành cho Phật Mẫu Tất cả các ngày lễ khác dù là Đức Phật Thích Ca, Đức Khổng Tử, Đức Lão Tử đều chính thức được xem là nhỏ hơn [6, 117]
Từ những quan niệm trên, địa vị của người phụ nữ trong đạo cũng được coi trọng: Bản thân thầy nhiều lần nhắc nhở sự bình đẳng nam nữ Sự