Đồ án tốt nghiệp được thực hiện với mục tiêu nhằm xác định khả năng gây chết bọ phấn trắng Bemisia tabaci và rệp Aphis gossypii của nấm Paecilomyces lilacinus để làm cơ sở ứng dụng chúng trong phòng trừ các đối tượng này. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG GÂY CHẾT BỌ PHẤN TRẮNG
BEMISIA TABACI VÀ RỆP APHIS GOSSYPII CỦA NẤM
PAECILOMYCES LILACINUS
Ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Giảng viên hướng dẫn : TS NGUYỄN THỊ HAI Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THỊ XUÂN HƯƠNG MSSV: 1151110153 Lớp: 11DSH04
Trang 2kết quả trong Đồ án là trung thực Mọi thông tin trích dẫn trong Đồ án đều được ghi rõ nguồn gốc Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tp Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 8 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Xuân Hương
Trang 3thành tốt khóa học 2011 – 2015
Em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến những thầy cô trong khoa Công nghệ sinh học, Thực phẩm và Môi trường đã giảng dạy em trong bốn năm qua, những kiến thức mà em nhận được trên giảng đường đại học sẽ là hành trang giúp em vững bước trong tương lai
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Nguyễn Thị Hai người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, truyền đạt nhiều kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình thực hiện đồ án tốt nghiệp
Em xin gửi lời cảm ơn đến thầy Huỳnh Văn Thành, cán bộ phòng thí nghiệm Trường Đại học Công Nghệ TP.HCM đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để em có thể hoàn thành tốt đồ án
Em xin cảm ơn các anh chị phòng vi sinh Khu Nông Nghiệp Công Nghệ Cao TPHCM đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đồ án
Và em cũng gửi lời cảm ơn đến các bạn trong phòng thí nghiệm vi sinh, đặc biệt là bạn Huỳnh Thị Ngọc Trâm đã tận tình hỗ trợ, giúp đỡ cùng em trải qua những khó khăn trong quá trình thực hiện đồ án
Cuối cùng, con xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình đặc biệt là ba mẹ
đã luôn bên cạnh, cổ vũ, động viên tinh thần, tạo mọi điều kiện để con có thể hoàn thành tốt Đồ án tốt nghiệp này
Tp Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 8 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Xuân Hương
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH ẢNH vi
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1 1 Giới thiệu về nấm thuộc chi Paecilomyces 3
1.1.1 Phân loại khoa học 3
1.1.2 Đặc điểm sinh thái 4
1.1.3 Đặc điểm hình thái 4
1.1.4 Độc tố của nấm Paecilomyces spp 6
1.1.5 Chu kỳ sống và cơ chế tác động của Paecilomyces spp đối với ký chủ 7
1.2 Các chủng nấm Paecilomyces đã được phân lập 9
1.3 Một số thành tựu và ứng dụng của nấm Paecilomyces spp vào thực tiễn đời sống 13
1.3.1 Sản xuất enzyme 14
1.3.2 Sản xuất kháng sinh và hợp chất thứ cấp 15
1.3.3 Sản xuất thuốc bảo vệ thực vật 16
1.3.4 Xứ lý môi trường 16
1.4 Một số sản phẩm của Paecilomyces spp 17
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của nấm Paecilomyces spp 17
1.6 Các nghiên cứu về sử dụng Paecilomyces spp trong phòng trừ bọ phấn và các côn trùng chích hút khác 19
Trang 51.6.1 Tổng quan về bọ phấn trắng 19
1.6.2 Tổng quan về rệp 25
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 30
2.2 Thiết bị - hóa chất - vật liệu nghiên cứu 30
2.2.1 Thiết bị - hóa chất 30
2.2.2 Vật liệu 31
2.2.3 Các môi trường sử dụng 31
2.3 Phương pháp nghiên cứu 34
2.3.1 Phân lập nấm Paecilomyces lilacinus 34
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu khả năng sinh tổng hợp enyme chitinase của nấm Paecilomyces lilacinus 37
2.3.3 Định tính khả năng sinh enzyme protease của nấm Paecilomyces lilacinus 41
2.3.4 Đánh giá khả năng gây chết của bọ phấn và rệp của nấm Paecilomyces lilacinus 41
2.3.5 Khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sự phát triển của nấm Paecilomyces lilacinus 43
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 47
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 48
3.1 Phân lập nấm Paecilomyces lilacinus 48
3.2 Phương pháp nghiên cứu khả năng sinh tổng hợp enyme chitinase của nấm Paecilomyces lilacinus 51
3.2.1 Khả năng sinh tổng hợp chitinase của nấm Paecilomyces lilacinus trên môi trường thạch 51
Trang 63.2.2 Hoạt tính Chitinase của nấm Paecilomyces lilacinus 53
3.3 Khả năng tổng hợp enzyme protease của nấm Paecilomyces lilacinus 55
3.4 Đánh giá khả năng gây chết côn trùng chích hút của nấm Paecilomyces lilacinus 58
3.4.1 Đánh giá khả năng gây chết bọ phấn Bemisia tabaci của nấm Paecilomyces lilacinus 58
3.4.2 Đánh giá khả năng gây chết rệp Aphis gossypii của nấm Paecilomyces lilacinus 60
3.5 Khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sự phát triển của nấm Paecilomyces lilacinus 62
3.5.1 Khảo sát ảnh hưởng của pH đến sự phát triển của nấm Paecilomyces lilacinus 62
3.5.2 Khảo sát sự ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy khác nhau đến sự phát triển của nấm Paecilomyces lilacinus 65
3.5.3 Khảo sát ảnh hưởng của điều kiện chiếu sáng đến sự phát triển nấm Paecilomyces lilacinus 68
3.5.4 Khảo sát ảnh hưởng của nguồn Cacbon đến sự phát triển của nấm Paecilomyces lilacinus 70
3.5.5 Ảnh hưởng của các loại thuốc trừ nấm đến sự phát triển của nấm Paecilomyces lilacinus 72
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 75
4.1 Kết luận 75
4.2 Đề nghị 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc điểm hình thái của các chủng nấm Paecilomyces lilacinus phân lập
lại sau khi lây nhiễm trên bọ phấn 49
Bảng 3.2 Đường kính vòng phân giải chitinase của nấm Paecilomyces lilacinus 51
Bảng 3.3 Hoạt tính của enzyme chitinase sau 1,2,3,4,5 ngày nuôi cấy 54
Bảng 3.4 Khả năng tổng hợp enzyme protease của nấm Paecilomyces lilacinus 56
Bảng 3.5 Số bọ phấn Bemisia tabaci chết ở các ngày sau chủng 58
Bảng 3.6 Hiệu lực diệt bọ phấn của nấm Paecilomyces lilacinus 59
Bảng 3.7 Số rệp Aphis gossypii chết ở các ngày sau chủng 61
Bảng 3.8 Hiệu lực diệt rệp của nấm Pacilomyces lilacinus 61
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của pH môi trường đến sự phát triển của nấm Paecilomyces lilacinus 64
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy đến sự phát triển đường kính nấm Paecilomyces lilacinus qua các ngày 66
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của điều kiện chiếu sáng đến sự phát triển đường kính của Paecilomyces lilacinus 68
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của nguồn Cacbon đến sự phát triển đường kính của Paecilomyces lilacinus 71
Bảng 3.13 Ảnh hưởng của các loại thuốc trừ nấm đến sự phát triển nấm Paecilomyces lilacinus 73
Bảng 3.14 Tỷ lệ ức chế nấm Paecilomyces lilacinus của một số loại thuốc hóa học. 73
Trang 9DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Đặc điểm đại thể của Paecilomyces spp 5
Hình 1.2 Đặc điểm vi thể của Paecilomyces spp 6
Hình 1.3 Cấu tạo hóa học của độc tố paecilotoxin 7
Hình 1.4 Cành bào đài, thể bình, và bào tử của nấm Paecilomyces variotii 10
Hình 1.5 Cành bào đài, thể bình, và bào tử của nấm Paecilomyces lilacinus 12
Hình 1.6 Cành bào đài, bào tử của nấm Paecilomyces fumosoroseus 12
Hình 1.7 Cành bào đài, bào tử nấm Paecilomyces amoeneroseus 13
Hình 1.8 Các giai đoạn trong vòng đời của bọ phấn trắng 20
Hình 1.9 Cấu tạo ngoài của rệp 25
Hình 1.10 Cấu tạo ngoài của rệp 26
Hình 2.1 Hộp dùng để bố trí thí nghiệm……… 35
Hình 2.2 Các hộp dùng để đựng rệp bố trí thí nghiệm 42
Hình 3 1 Nấm phân lập lại từ bọ phấn Bemisia tabaci………48
Hình 3.2 Khả năng sinh tổng hợp enzyme chitinase của nấm Paecilomyces lilacinus (a, b, c, d là vòng phân giải chitinase của nấm Paecilomyces lilacinus qua 1, 2, 3, 4 NSC) 52
Hình 3.3 Biểu đồ thể hiện khả năng sinh tổng hợp enzyme chitinase của nấm Paecilomyces lilacinus qua 1,2,3,4 NSC 52
Hình 3 4 Hoạt độ enzyme chitinase sau các ngày nuôi cấy 54
Hình 3.5 Sự phân giải casein của nấm Paecilomyces lilacinus (a, b, c, d là vòng phân giải protease của nấm Paecilomyces lilacinus qua 1, 2, 3, 4 ngày) 56
Hình 3.6 Biểu đồ thể hiện sự phân giải casein của nấm Paecilomyces lilacinus qua 1,2,3,4 ngày nuôi cấy 57
Hình 3.7 Mẫu bọ phấn không bị kí sinh (a) và mẫu bọ phấn bị kí sinh (b) được soi bằng kính lúp soi nổi 59
Hình 3 8 Mẫu bọ phấn không bị ký sinh được soi bằng kính hiển vi quang học 60
Hình 3 9 Mẫu rệp không bị ký sinh được soi bằng kính hiển vi quang học 62
Trang 10Hình 3.10 Sự phát triển của Paecilomyces lilacinus trên môi trường có pH khác
nhau ở 14 NSC (a: pH5, b: pH6, c: pH7, d: pH8) 63
Hình 3.11 Đường kính nấm Paecilomyces lilacinus ở các pH môi trường 5, 6, 7, 8 qua các ngày nuôi cấy 64
Hình 3.12 Nấm Paecilomyces lilacinus ở ngày thứ 14 NSC 65
Hình 3.13 Nấm Paecilomyces lilacinus ở ngày thứ 14 sau khi cấy 66
Hình 3.14 Tản nấm Paecilomyces lilacinus ở ngày thứ 14 sau nuôi cấy 68
Hình 3.15 Sự phát triển của nấm Paecilomyces lilacinus ở các điều kiện chiếu sáng khác nhau 69
Hình 3.16 Tản nấm Paecilomyces lilacinus ở ngày thứ 14 NSC 70
Hình 3.17 Sự phát triển đường kính của nấm Paecilomyces lilacinus dưới nguồn Cacbon khác nhau 71
Hình 3.18 Nấm Paecilomyces lilacinus ở ngày thứ 14 sau khi cấy 72
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Rau là loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn của người Việt Nam Đặc biệt là các loại rau ăn quả họ cà như: cà chua, ớt, cà tím…lại càng được ưa chuộng vì chứa nhiều dinh dưỡng Tại thành phố Hồ Chí Minh, diện tích trồng các cây ăn quả dài ngày như cà chua, ớt, cà tím… chiếm 8- 17% tổng diện tích trồng rau (Nguồn: Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, 2013) Theo Chi cục Bảo vệ Thực vật thành phố, đây là các loại cây ký chủ chính của bọ phấn trắng Nguyễn Đỗ
Hoàng Việt (2009) cho biết, bọ phấn trắng Bemisia tabaci xuất hiện rất sớm (chỉ 7
ngày sau khi trồng) và gây hại nặng cho cây cà pháo ở Tây Ninh Tại các tỉnh ở miền Bắc Việt Nam, bọ phấn trắng xuất hiện và gây hại cho sản xuất cà chua Quan trọng hơn nữa, bọ phấn trắng là vecto duy nhất truyền virus gây bệnh xoăn vàng ngọn cà chua (Nguyễn Thơ, 1984; Ngô Bích Hào, Hà Viết Cường, 2010) với tỷ
lệ phát bệnh từ 40-100% Ngoài cây cà chua, virus còn lây nhiễm trên cây ớt cay, thuốc lá Bọ phấn là loài đa thực nên số lượng phát triển quanh năm trên đồng ruộng và việc phòng trừ bọ phấn truyền bệnh gặp nhiều khó khăn
Tương tự như bọ phấn trắng, rệp Aphis gossypii là côn trùng chích hút nhựa cây phổ
biến nhất trên thế giới Rệp gây hại trực tiếp và truyền bệnh virus cho nhiều loại cây trồng
Biện pháp phòng trừ các loài sâu chích hút này hiện nay chủ yếu là dùng thuốc hóa học Tuy nhiên, thuốc hóa học có độc tính rất cao, khó phân hủy trong điều kiện bình thường, sẽ tích tụ lại trong đất, nước, không khí và các sản phẩm nông nghiệp, làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người, và sinh vật có ích, gây hiện tượng kháng thuốc dẫn tới nguy cơ bùng phát dịch hại trên nhiều loại cây trồng
Trong số các tác nhân sinh học, nấm Paecilomyces spp đang được quan tâm
vì hiệu quả kí sinh cao đối với các loài côn trùng chích hút Nhiều nước trên thế giới
đã sản xuất sử dụng thành công nhiều loại chế phẩm sinh học có nguồn gốc từ nấm
Paecilomyces spp để phòng trừ nhiều loại sâu hại cây trồng Tuy nhiên, ở Việt
Trang 12Nam, những nghiên cứu và ứng dụng về loài nấm có ích này vẫn còn khá hạn chế
Với những lý do trên sinh viên chọn đề tài: “Đánh giá khả năng gây chết bọ phấn
trắng Bemisia tabaci và rệp Aphis gossypii của nấm Paecilomyces lilacinus.”
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định khả năng gây chết bọ phấn trắng Bemisia tabaci và rệp Aphis gossypii của nấm Paecilomyces lilacinus để làm cơ sở ứng dụng chúng trong phòng trừ các
đối tượng này
3 Nội dung nghiên cứu
Phân lập lại nấm Paecilomyces lilacinus trên bọ phấn trắng Bemisia tabaci
Đánh giá khả năng sinh enzyme ngoại bào của nấm Paecilomyces lilacinus
Đánh giá khả năng ký sinh bọ phấn Bemisia tabaci và rệp Aphis gossypii của nấm Paecilomyces lilacinus
Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của nấm Paecilomyces
lilacinus
Ảnh hưởng của các loại thuốc trừ nấm đến sự phát triển của nấm
Paecilomyces lilacinus
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1 1 Giới thiệu về nấm thuộc chi Paecilomyces
1.1.1 Phân loại khoa học
Chi Paecilomyces do Bainier mô tả vào 1907, sau đó được nhiều tác giả chấp
nhận chi mới này và bổ sung nhiều loài mới Chuyên luận về chi nấm này của Samson (1974) chấp nhận 16 loài đã mô tả, đồng thời tổ hợp mới 9 loài và đề nghị 6 loài mới, tất cả tập hợp trong 2 nhóm loài Nhóm loài thứ nhất là nhóm loài
Paecilomyces có các giai đoạn bào tử túi thuộc các chi Byssochlamys Westling, Talaromyces C.R.Benjamin và Thermoascus Miehe, gồm các loài ưa nhiệt ôn hòa
(mesophile), chịu nhiệt và ưa nhiệt, có khuẩn lạc màu nâu vàng hay các màu nâu
khác Nhóm loài thứ hai là nhóm loài Isarioides gồm các loài không có giai đoạn
bào tử túi, ưa nhiệt ôn hòa và có khuẩn lạc màu tím hồng, màu lục và màu vàng Nhiều loài trong nhóm hai này kí sinh gây bệnh côn trùng (Samson R.A.,1974)
Đến năm 2004, dựa trên các kỹ thuật phương tiện hiện đại các loài trong chi
Paecilomyces được Samson R.A hệ thống lại với 26 loài Năm 2005 nhóm tác giả
Liang Z.Q., Y.F., Chu, H.L và Liu, A Y đã tiến hành đề tra và thu thập các nguồn
nấm Paecilomyces tại Trung Quốc Kết quả điều tra thu thập đã phát hiện ra một số loài mới như Paecilomyces cylindricosporus sp nov, Paecilomyces gunnii Z Q
Liang, v.v Các loài này được thu thập từ đất và xác côn trùng bị nấm ký sinh tại vùng cao của tỉnh Hồ Bắc Cùng với các loài đã được ghi nhận trước đó, nhóm tác
giả đã xây dựng khóa định loại của 28 loài trong chi Paecilomyces thu thập tại
Trung Quốc
Trang 141.1.2 Đặc điểm sinh thái
Nấm Paecilomyces spp sinh sống trong đất, trong xác bã thực vật, trong thức
ăn, giấy…Một số loài được phân lập trên côn trùng ngủ nghỉ trong đất (theo trích dẫn Trần Ngọc Mai,2009) Trên thế giới có rất nhiều loài, có phổ ký sinh côn trùng
rộng, cả ở vùng nhiệt đới và ôn đới (Trần Văn Mão, 2002) Nấm Paecilomyces spp
dễ dàng tìm thấy ở đất tơi xốp, phân hữu cơ, và thức ăn, xác bã hữu cơ, dư thừa thực vật Chúng hiện diện ở những nơi ẩm ướt cả trong phòng và ngoài tự nhiên
Chi Paecilomyces có nhiều loài nhưng chủ yếu là hai loài Paecilomyces lilacinus và
Paecilomyce variotii Một vài loài Paecilomyces spp có khả năng chịu nhiệt như:
nhiệt độ tối ưu của Paecilomyces fulvus là 450
C, Paecilomyces crustaceous là dưới
550C (Samson, 1974) Hai loài nấm chịu nhiệt trên có khả năng làm hư hỏng thực phẩm nhưng cũng là loài quan trọng ứng dụng trong công nghiệp sản xuất các
enzyme chịu nhiệt Những nghiên cứu gần đây cho thấy nhiều loài Paecilomyces đem lại nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học hữu ích (Liang et al., 2003) Một số
loài quan trọng trong phòng trừ sinh học như:
Paecilomyces carneus: phân lập từ đất và xác chết côn trùng
Paecilomyces farinosus: phân lập từ đất
Paecilomyces fumosoroseus: phân lập từ đất, bơ, gelatin, côn trùng
Paecilomyces lilacinus phân lập được từ xác bã hữu cơ, trứng tuyến trùng và
đôi khi còn ở côn trùng chết, rừng cao su (Crop Protection Compennium,
2002)
1.1.3 Đặc điểm hình thái
1.1.3.1 Đặc điểm đại thể
Paecilomyces spp là loại nấm sợi được tìm thấy trong đất hay xác côn trùng
Khi được nuôi cấy trong môi trường nhân tạo nấm thường phát triển khá chậm, có dạng thảm nhung, dạng bó sợi và thường lúc đầu có màu trắng sau đó khi bào tử phát triển thì chuyển sang màu hồng nhạt, màu tím hay màu lục nhạt (nên thường
Trang 15được gọi là nấm tím) tùy vào từng loài Cũng có loài màu nâu hay vàng sẫm Sợi nấm mềm, có vách, trong suốt và rộng từ 2,5 - 4 µm (Wikipedia) Khuẩn lạc thường mọc toả tròn, mép khuẩn lạc trơn nhẵn hoặc có răng cưa Khuẩn lạc kết chặt tạo thành các cột bào tử đính theo các vòng tròn đồng tâm quanh điểm cấy Theo kết quả nghiên cứu của một số tác giả như Barnett và Barry (1972), Lawrence (1994),
De Hoog (1972), Luangsa – Ard et al (2006) thì ngoài đặc điểm khuẩn lạc, và kích thước cơ quan sinh bào tử, hình dạng và kích thước của bào tử là những chỉ tiêu cơ
bản để phân biệt và định danh các loài khác nhau của Paecilomyces
Hình 1 1 Đặc điểm đại thể của Paecilomyces spp
(Nguồn: www.pf.chiba-u.ac.jp)
1.1.3.2 Đặc điểm vi thể
Cuống bào tử phân sinh phân nhánh, nhẵn kích thước 4-7 x 30 -120 µm, mức
độ phân nhánh của nấm phình to, phía trên nhỏ và uốn cong Cuống bào tử bình thường sắp xếp dạng vòng hoặc không đồng đều, ở đỉnh có nhiều thể bình mọc thành cụm vòng, thể bình có chiều dài 2-7µm, phân gốc phình to hình elip, phần cổ hình trụ dài Phần đỉnh thể bình lần lượt kéo dài phân chia thành các bào tử phân sinh một tế bào hình trứng kích thước 2.5-4 x 3.5 -5 µm Bào tử phân sinh đơn bào,
Trang 16không màu, mọc thành chuỗi, hình bầu dục, bề mặt nhẵn hoặc có gai (Đỗ Thị Hồng, 2007)
Hình 1 2 Đặc điểm vi thể của Paecilomyces spp
(Nguồn: http://thunderhouse4-yuri.blogspot.com/2012_06_01_archive.html)
1.1.4 Độc tố của nấm Paecilomyces spp
Độc tố chính của nấm Paecilomyces spp là paecilotoxin (leucinostatins), là
một trong các tác nhân gây ra cái chết cho kí chủ Paecilotoxin có cấu trúc cực kỳ phức tạp, là một chuỗi peptide thẳng gồm nhiều acid béo chưa bão hòa ở đầu N và amine ở đầu C Paecilotoxin có pháp danh hóa học là (2S) - N- [(1S) - 1 - [[(1S) - 1-[[(1S)-1-[2[2- (3 - arbamoyl - propylcarbomoyl) - propan- 2ylcarbamoyl]propan - 2- ylcarbamoy]-3-methylbutylcarbomoy]-3-methyl-butyl] carbomoyl] propan-2- ycarbomoyl] - 2 - hydroxy - 3 - methyl - butyl] - carbomyl] - 5 - hydroxyl -3methyl
- 7oxo-nonyl ] - 4 - methyl - 1 - [(E,4S) - 4 - methylhex – 2 - carboxamide (Nevalainen Helena, 1977)
enoyl-pyrrolidin-2-Sản phẩm của paecilotoxin có rất nhiều dạng, nhưng khá giống nhau ở mỗi chủng, thường thì độc tố chính là Paecilotoxin A hoặc Paecilotoxin B Tùy từng loài khác nhau mà có sinh ra các độc tố khác như: bysochlamic acid, variotin, ferriubin, viriditoxin, indole-3-acetic acid, fusigen và patulin Các hợp chất chuyển hoá thứ cấp này có thể gây ra tác động diệt tuyến trùng
Trang 17Hình 1 3 Cấu tạo hóa học của độc tố paecilotoxin
1.1.5 Chu kỳ sống và cơ chế tác động của Paecilomyces spp đối với ký chủ
Chu kỳ sống của Paecilomyces spp có thể chia làm 3 giai đoạn: đầu tiên các
bào tử sẽ tiếp xúc với côn trùng qua lớp vỏ và lớp chân lông Các bào tử bám vào lớp vỏ của côn trùng, nảy mầm và phát triển một ống mầm trong 8 - 16 giờ Ống mầm phát triển dưới dạng một vòi bám xuyên qua biểu bì côn trùng và đi vào trong xoang máu Vòi bám là một tế bào có kích thước gấp 2 - 3 lần bào tử, có dịch nhầy
để bám vào vỏ côn trùng Sự xâm nhập của nấm đạt được bằng cách tiết ra hỗn hợp enzyme bao gồm chitinase, protease và áp lực cơ học Sau khi tế bào đơn nảy mầm, bào tử sẽ xâm nhập và lưu thông trong xoang máu của côn trùng, nhân lên, và sử dụng chất dự trữ trong cơ thể côn trùng để sinh trưởng và sinh sản Các sợi nấm phân nhánh tạo thành một mạng lưới chằng chịt trong cơ thể côn trùng
Paecilomyces spp sản sinh ra các hợp chất, phá bỏ hệ thống miễn dịch của côn
trùng, cạnh tranh với các vi sinh vật tiềm tàng, giết chết vật chủ trong 7 - 14 ngày Cuối cùng sau khi ký chủ chết, nấm sẽ lan ra khỏi biểu bì rồi bao lấy cơ thể của côn trùng và phát triển thành đảm bào tử Khi gặp điều kiện phù hợp sẽ sản sinh ra bào
tử, bào tử sẽ được phát tán rồi lây nhiễm cho các vi sinh vật khác Tuy nhiên, chu
kỳ sống được hoàn thành trong điều kiện phải thích hợp, trong khoảng 48 - 72 giờ
và không có sự có mặt của vi sinh vật hoại sinh
Trang 18Thông thường đối với các loại bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn hay do virus thì chúng lây truyền thông qua đường ruột hay đường thức ăn, nhưng đối với nguồn bệnh là vi nấm thì chủ yếu là do sự tiếp xúc trực tiếp hay qua trung gian truyền bệnh Trung gian đó có thể là những loài ký sinh hay côn trùng ăn thịt
Nấm Paecilomyces spp tấn công vào xoang máu của bọ phấn thông qua lớp
biểu bì hoặc đường miệng Bọ phấn chết là sự kết hợp của nhiều yếu tố như tổn thương mô cơ do sự xâm chiếm, suy giảm nguồn dinh dưỡng và nhiễm độc tố do nấm tiết ra khi ở trong cơ thể côn trùng
Quá trình bám của bào tử nấm vào cơ thể của côn trùng là một quá trình thụ động nhờ gió và nước Đầu tiên bào tử của nấm sẽ bám lên thành biểu bì Bào tử của nấm có một lớp bên ngoài là bó sợi đan xen là các đuôi kị nước Độ bám dính của bào tử trên bề mặt biểu bì một phần là nhờ các đuôi kị nước Lectins, một loại cacborhydrate glycoprotein được phát hiện có trên bào tử, giúp cho việc bám vào bề mặt biểu bì côn trùng dễ hơn Khi đạt tới điều kiện thích hợp bào tử sẽ nảy mầm và tăng trưởng nhanh chóng với sự tác động của các điều kiện sẵn có của nước, chất dinh dưỡng, oxy cũng như pH, nhiệt độ và bởi sự tác động của hợp chất độc tố trên
bề mặt côn trùng Nấm nảy mầm trong phạm vi có đủ nguồn Carbon và Nitơ
Nấm xâm nhập vào côn trùng bằng quá trình lây nhiễm, xâm nhập qua lớp biểu bì hay tạo áp lực cơ học nhờ giác bám Lớp biểu bì của côn trùng có hai lớp: ngoài là epicuticle và trong là procuticle Epicuticle có cấu trúc phức tạp là một lớp mỏng không có chitin nhưng chứa protein, phenol ổn định và được bao phủ bởi một lớp sáp có chứa acid béo, lipid, sterol Các procuticle phần lớn có các sợi chitin bên trong hỗn hợp protein, lipid, quinon Nấm cần xuyên qua lớp biểu bì vào cơ thể côn trùng để có thể lấy được chất dinh dưỡng cần cho sự tăng trưởng và sinh sản Sự xâm nhập vào cơ thể côn trùng bao gồm cả sự phân hủy của enzyme do nấm tiết ra
Trang 19cùng của ống mầm phát sinh từ bào tử Giác bám gắn vào biểu bì côn trùng là nhờ tương tác kị nước giữa các thành bào tử và các lipid nằm trong lớp biểu bì trên Sau
đó, ống mầm xuyên qua lớp biểu bì dưới, nội bì rồi vào xoang máu Các nghiên cứu còn cho thấy có sự tham gia của các chất truyền tin nội bào như Ca2+ và cAMP (cyclicadenosine monophosphate) trong sự hình thành giác bám trong trường hợp khi lớp biểu bì cứng khó xuyên qua Sau khi xâm nhập vào trong cơ thể côn trùng, nấm thường tạo ra rất nhiều sợi nấm ngắn Những sợi nấm này được phân tán khắp
cơ thể theo dịch máu, chúng tiêu diệt dần các tế bào bạch huyết
Sau đó, sợi nấm xâm nhập mô, phá hủy tất cả các tế bào bạch huyết rồi làm chết vật chủ Sự sinh sản của nấm trước hết là sự biến đổi thành phần dịch thể làm giảm tác dụng oxy hóa khử lympo trong máu Do nấm sinh sản nhiều sẽ làm tắc hệ tuần hoàn của côn trùng, làm côn trùng biếng ăn, đồng thời chất độc sinh ra làm thay đổi sinh hóa của cơ thể và làm tê liệt thần kinh, từ đó làm rối loạn và mất chức năng sinh lý Sau khi côn trùng chết, nấm tiếp tục hoại sinh cơ thể côn trùng rồi phát triển sợi nấm ra toàn bộ cơ thể côn trùng và hình thành bào tử
Quá trình xâm nhập vào cơ thể côn trùng còn nhờ vào sự hỗ trợ mạnh mẽ của các enzyme và hệ enzyme Một loạt các loại enzyme ngoại bào có thể thủy phân các thành phần chính của lớp biểu bì côn trùng như chitinase, lipase, esterase, lipoxygenase và ít nhất bốn loại protease khác nhau đã được ghi nhận có vai trò quan trọng trong việc xâm nhiễm Do cấu trúc phức tạp của lớp biểu bì côn trùng nên cần có sự phối hợp hoạt động của nhiều enzyme khác nhau Trong đó, chitanase
và endoprotease là hai enzyme giữ vai trò quan trọng nhất
1.2 Các chủng nấm Paecilomyces đã được phân lập
Xếp theo hệ thống phân loại nấm của Anisworth, 1966, 1970, 1971, Mccoy
và ctv (1988), Samson và ctv (1988) đã cho rằng Paecilomyces spp thuộc ngành
phụ lớp nấm bất toàn Deueromycetes, giống Paecilomyces Có rất nhiều loài trên
thế giới, khoảng 31 loài phân bố trê diện rộng trong đó có thể kể đến là
Trang 20Paecilomyces farinosus, Paecilomyces tenuipes, Paecilomyces cicadae, Paecilomyces lilacinus,… (trích dẫn bởi Nguyễn Phước Vĩnh, 2008)
Paecilomyces vatiotii Bainier (1907)
Khuẩn lạc phát triển rất nhanh, có màu vàng nâu hoặc vàng đất Cuống bào
tử đính mọc rậm rạp Thể bình có hình trụ hoặc elip Bào tử có dạng hình cầu, elip, hình thoi, màu sắc từ trong suốt đến vàng, bề mặt trơn láng, kích thước 3 -5 x 2 4
µm, hình thành từ chuỗi phân ly dài Hậu bào tử thường hiện diện đơn lẻ hay trong một chuỗi ngăn, màu nâu, có hình dạng từ hình cầu đến hình quả lê, đường kính 4 -
8 µm (theo trích dẫn của Domsch, Gam và Anderson,1980)
Hình 1 4 Cành bào đài, thể bình, và bào tử của nấm Paecilomyces variotii
Nguồn: (http://www.cbs.knaw.nl/publications/1006/content_files/sim6fig1.jpg)
Paecilomyces lilacinus
Được tìm thấy đầu tiên trong trứng tuyến trùng vào năm 1966 và sau này
được phát hiện ký sinh trên trứng của tuyến trùng Meloidogyne incognita ở Peru
Hiện tại, có thể phân lập loài nấm này ở trong đất và thỉnh thoảng là ở cả trong côn
trùng Đường kính khuẩn lạc dao động trong khoảng 5 - 7cm trong 14 ngày ủ ở
nhiệt độ phòng 270C ± 20C Sợi nấm ban đầu có màu trắng sau đó chuyển sang màu hồng khi sinh bào tử Sợi nấm trong suốt và sinh ra các thể hình bình cổ hẹp với số lượng lớn các bào tử gắn lỏng lẻo tạo thành hình chuỗi dài Các thể bình phình ra ở phần gốc và thon nhỏ lại ở cổ Bào tử trần hình elip đến hình thoi (Samson, 1975)
Trang 21Trong nghiên cứu của Eng (2001), có 82,9% trong số 41 nông trại được khảo
sát ở Sarawalk có sự hiện diện của P.lilacinus, mặc dù người ta đã sử dụng các loại thuốc diệt nấm Từ đó có thể nhận thấy P.lilacinus có khả năng thích ứng cao với
điều kiện sống, có phạm vi thích ứng rộng và có khả năng phát triển tốt ở 26 –
300C
Theo Fransen (1990) và Lacey et al (1996) vi nấm là tác nhân sinh học duy nhất ký sinh trên cơ thể bọ phấn trắng và một trong số đó có loài Paecilomyces
lilacinus Khi một bào tử của Paecilomyces lilacinus nằm trong đất tìm thấy được kí
chủ nhất định, nó sẽ tiết ra hệ enzyme để xuyên qua lớp da ngoài của côn trùng
Paecilomyces lilacinus cũng có thể xâm nhập vào cơ thể côn trùng qua lỗ thở, hậu
môn và cả đường miệng Sau đó phát triển thành các ống mầm và hình thành nhiều sợi nấm, sợi nấm có thể lây lan trong lớp dịch giữa các tế bào hay các mô rồi bao phủ cả bên trong và bên ngoài cơ thể côn trùng rồi sinh ra bào tử Theo nhiều nghiên cứu thì đa phần sự tử vong của côn trùng là do sự cạn kiệt chất dinh dưỡng, phá hoại các mô và các độc tố mà vi nấm tạo ra trong cơ thể côn trùng
Một báo cáo gần đây của Gortari et al (2008) thì Paecilomyces lilacinus là một loài vi nấm có khả năng ký sinh trứng của tuyến trùng trong điều kiện in vitro Hai chủng ngoài tự nhiên P Lilacinus LPSC # 876 và P Lilacinus LPSC # 44 được
phân lập từ đất trong tại công viên trung tâm của thành phố La Plata và trên một
cánh đồng nông nghiệp ở Argentina cho thấy có khả năng ký sinh trên trứng của T
cannis Theo kết quả thực nghiệm của tác giả thì tỷ lệ ký sinh trứng T cannis của 2
chủng tuyến trùng nhiên P Lilacinus LPSC # 876 và P Lilacinus LPSC # 44 lần
lượt là 65,6% và 63,2%
Trang 22Hình 1 5 Cành bào đài, thể bình, và bào tử của nấm Paecilomyces lilacinus
Nguồn: (http://www.cbs.knaw.nl/publications/1006/content_files/content.htm)
Paecilomyces fumosoroseus Wize
Khuẩn lạc phát triển tương đối trên môi trường Malt – Agar, có đường kính khoảng 4cm sau 14 ngày ở 250C, ban đầu màu trắng, sau đó chuyển sang màu hồng đậm Sợi nấm trong suốt, bề mặt trơn láng, rộng 1.5 – 3.5 µm Cuốn bào tử đính mọc thẳng đứng từ bên dưới chất nền hoặc từ sợi nấm, chiều dài tối đa khoảng 100µm, rộng 1,5 - 2µm, bên trên có từ 4 đến 6 thể bình với kích thước 5.7 – 8 x 1 -2µm Bào tử có dạng hình trụ hoặc hình thoi , bề mặt trơn láng, có màu biến đổi từ trong suốt đến hồng, kích thước 3 – 4 x 1 -2 µm (theo trích dẫn của Domsch, Gam
và Anderson, 1980)
Hình 1 6 Cành bào đài, bào tử của nấm Paecilomyces fumosoroseus
(http://www.cbs.knaw.nl/publications/1006/content_files/sim6fig13.jpg)
Trang 23 Paecilomyces amoeneroseus P.Henn
Khuẩn lạc phát triển rất chậm trên môi trường Malt – Agar, chỉ đạt khoảng 2,5 - 3cm sau 14 ngày ở 250C sợi khuẩn ty từ trong suốt đến đỏ, rộng từ 1,5 – 2,5
µm bao gồm những nhánh phức tạp có nhiều vòng xoắn chứa 2 – thể bình Bào tử nhỏ 2,5 – 3,5 x 1,7 – 2,2 µm, có dạng hình cầu, elip, thỉnh thoảng có xuất hiện hình trụ, trong suốt, bề mặt trơn láng (theo trích dẫn của Domsch, Gam và Anderson, 1980)
Hình 1 7 Cành bào đài, bào tử nấm Paecilomyces amoeneroseus
sử dụng để diệt sâu đo Trichoplusia ni, sâu xanh Spodoptera frugiperda, sâu ăn tạp
Spodoptera litura (Yoshinori Tanada và Harry K Kaya,1993) Nấm Paecilomyces
spp có hiệu quả cao đối với việc phòng trị sâu do có độc tố gọi là Mycotoxin Ở Ấn
Độ, các nhà khoa học đã chứng minh được nếu sử dụng nấm Paecilomyces spp với
nồng độ 108 bào tử.ml-1 chủng vào sâu non, sâu non sẽ chết sau 6-8 ngày Khi chết xác sâu sẽ bị khô lại, sau đó nấm sẽ phát triển và cơ thể của sâu sẽ bị bao phủ bởi lớp nấm màu xanh (Vimala Devi, P.S 1994) Ngoài ra, người ta còn sử dụng nấm
Trang 24Paecilomyces spp để phòng trừ sâu hại bông, sâu cuốn lá lúa, sâu đục thân bắp
(Trần Văn Mão, 2002)
– Đến nay Nhật Bản, Mỹ, Ấn Độ và Bỉ đã sản xuất nấm Paecilomyces
fumosoroeus có khả năng thương mại hóa trên thị trường có tên thương mại là
PreFeRal, Priority, Pae – Sin để phòng trừ Rệp Sáp và Rầy mềm (Yasuhisa Kunimi,2004 trích dẫn bởi Lê Thị Thanh Thảo,2006)
– Từ năm 2010 đến nay, nhóm nghiên cứu nấm ký sinh côn trùng – Viện Bảo Vệ Thực Vật đã tiến hành điều tra, thu thập và phân lập được một số loài nấm ký sinh tự nhiên trên sâu hại tại các tỉnh phía Bắc và Tây Nguyên Trên ve sầu
hại cà phê ở Đắk Lak đã xác định được nấm Paecilomyces cicadae (Miquel)
Samson ký sinh trên sâu non
– Kết quả đánh giá bước đầu cho thấy nấm Paecilomyces spp đạt hiệu quả phòng trừ rầy nâu 75-80% trong điều kiện nhà lưới Nấm Paecilomyces cicadae
có hiệu quả phòng trừ ve sầu hại cà phê đạt từ 50-60% trên đồng ruộng tại Đăk Lăk
Nấm Paecilomyces sp có mặt rất phổ biến trên đồng ruộng Ngoài rầy nâu, chúng
còn ký sinh trên nhiều loài côn trùng khác, giữ vai trò quan trọng trong việc điều hòa số lượng côn trùng, bảo đảm sự cân bằng của hệ sinh thái Sử dụng các chế phẩm sinh học từ các loài nấm ký sinh để hạn chế sử dụng các loại thuốc hóa học BVTV nhất là các loại thuốc trừ bệnh cây, có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo vệ sự đa dạng sinh học và quản lý dịch hại
1.3.1 Sản xuất enzyme
Paecilomyces spp được biết đến như một chủng nấm sản xuất và cung cấp
nguồn enzyme tiềm năng Paecilomyces spp tiết ra enzyme để dễ xâm nhập vào ký
chủ hơn và giúp chúng phát triển nhờ thủy phân cơ chất hay thâm chí còn lấn át các loài vi sinh vật khác phát triển Đã có nhiều nghiên cứu về sự sản sinh enzyme của
Paecilomyces spp., nhiều nhất là về các enzyme hydrolase: protease, cellulase,
dextranase
Trang 25Paecilomyces spp sinh ra ba loại protease: acid, trung tính và kiềm Các
protease acid và trung tính có thể ứng dụng trong công nghệ sản xuất bia và bánh kẹo Protease kiềm thì ứng dụng trong công nghiệp thuộc da
Paecilomyces spp thuộc nhóm nấm Ascomycetes có mặt trong đất, nước,
không khí, gỗ, tàn dư thực vật, đất… Paecilomyces spp còn gọi là nấm thối mềm,
vì chúng có khả năng phân hủy cellulose
Dextranase (α -1,6-D-glucan, 6 glucanohydrolase; EC: 3.2.1.11) có nhiều ứng dụng trong y học và nền công nghiệp vì nó thủy phân dextran Sự hiện diện của dextran có nhiều tác động tiêu cực ở mức độ chế biến như mất sucrose, tăng độ nhớt của quá trình siro và phục hồi kém của sucrose Sử dụng dextran sẽ giải quyết được các vấn đề này Dextranase có thể thủy phân hay ức chế quá trình tổng hợp glucans,
có thể được sử dụng trong điều trị mảng bám răng Nó cũng được sử dụng để tạo ra các dextran có trọng lượng phân tử thấp và gây độc cho tế bào Hơn nữa, dextranase
có ảnh hưởng tiêu cực đến sự tổng hợp isomaltooligosaccharides, chất ức chế hoạt động của các cơ chất có lợi cho vi khuẩn đường ruột probiotic Và loại enzyme này
cũng đã được tiết ra bởi nhiều loài nấm trong đó có nấm Paecilomyces spp
1.3.2 Sản xuất kháng sinh và hợp chất thứ cấp
Paecilomyces spp sản xuất các hợp chất thứ cấp Những nghiên cứu gần
đây đã chỉ ra rằng một số loài Paecilomyces spp có thể tổng hợp các hợp chất có
hoạt tính sinh học rất hữu ích
Fingolimod là hợp chất được tổng hợp dựa trên chất chuyển hóa thứ cấp do nấm tổng hợp là myriocin (ISP-I), là một chất ức chế miễn dịch mạnh đã được phê duyệt bởi FDA (U.S Food and Drug Administration) như là một loại thuốc điều trị mới cho chứng đa sơ cứng Fingolimod đã được tổng hợp bởi nhóm nghiên
cứu Tetsuro Fujita ở Đại học Kyoto (1992) ISP-I được thu nhận từ P cicadae
Fingolimod có tiềm năng được sử dụng trong liệu pháp ghép cơ quan Các nhà khoa học cho rằng nó có thể ngăn ngừa mạnh các phản ứng miễn dịch thông qua trung
Trang 26gian lympo bào để đáp ứng việc cấy ghép cơ quan mới Ngoài ra, fingolimod còn được cho rằng làm tăng tế bào nội mô và bảo vệ chức năng của chúng
Một chất tương tự như anarcadic acid được tách chiết từ P variotii Hợp chất
này lần đầu tiên được cô lập từ nguồn tự nhiên và được đánh giá hoạt tính kháng khuẩn chống lại các tác nhân gây bệnh cho người bao gồm cả các chủng đa kháng thuốc MDR (Multidrugresistan)
Paecilomyces farinosus B05 đã được nghiên cứu để tách chiết các thành
phần polysaccharide ngoại bào từ môi trường lên men và sản xuất để ứng dụng vào sản xuất các chất chống oxy hóa Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các
polysaccharide được chiết xuất từ P farinosus có hoạt tính chống oxy hóa cao, chỉ
thấp hơn vitamin C một ít
1.3.3 Sản xuất thuốc bảo vệ thực vật
Việc sử dụng các vi sinh vật tự nhiên để phòng trừ các dịch hại là một công việc quan trọng hiện nay trong ngành nông nghiệp vì sự an toàn, thân thiện với môi trường và hiệu quả cao
Ở Ai Cập đã sản xuất Priority - một sản phẩm từ P fumosoroseus để diệt trừ
các loại côn trùng Đây là thuốc trừ sâu sinh học giúp diệt trừ bướm trắng để bảo vệ cây cà chua, dưa leo, cây cảnh Sản phẩm chứa bào tử của chủng nấm
P.fumosoroseus, và được xem là có khả năng lây nhiễm ở tất cả giai đoạn (trứng, ấu
trùng, nhộng, bướm trưởng thành) Ngoài ra trên thị trường còn có một số sản phẩm
như Pelicide, Bio - Nematon, PL Plus chứa bào tử nấm P.lilacinus nhằm phòng trừ
tuyến trùng gây hại cho cây nằm trong đất
1.3.4 Xứ lý môi trường
Nấm là đối tượng thường được sử dụng trong hệ thống lọc khí sinh học để xử
lý ô nhiễm không khí thông qua việc sử dụng khả năng của nấm để biến đổi các chất ô nhiễm hữu cơ và vô cơ thành hợp chất ít độc hại hơn
Formaldehyde là một chất phổ biến và nó là sản phẩm của các nguồn sinh học và từ môi trường (sinh ra từ nhà máy công nghiệp) Formaldehyde có độc tính
Trang 27cao do phản ứng không đặc hiệu với protein và nucleic acid, vì thế nó là chất gây ô nhiễm môi trường
P variotii đã được thử nghiệm xử lý formaldehyde do chủng nấm này có
enzyme S - hydroxymethylglutathione dehydrogenase Enzyme này có tính đặc hiệu
cơ chất rất cao với cơ chất là formaldehyde Ngoài ra, enzyme alcohol oxidase từ P
variotii có khả năng làm giảm lượng formaldehyde đáng kể và là tiềm năng cho
NoFly WP là thuốc trừ sâu sinh học chứa chủng nấm Paecilomyces
fumosoroseus nhằm kiểm soát bọ trĩ và bọ phấn trắng trên thực vật ở nhiều giai
đoạn sống của chúng như: trứng, ấu trùng và con trưởng thành
Khi sản phẩm được sử dụng, bào tử của P.fumosoroseus sẽ bám vào côn
trùng, nảy mầm và xâm nhập qua lớp cutin Khi ký sinh được ký chủ, chúng sẽ phát triển nhanh chóng, phá vỡ tế bào dẫn đến bị mất chức năng sống Côn trùng sẽ chết trong vòng từ 3 - 10 ngày, phụ thuộc vào nhiệt độ Khi côn trùng chết, bào tử của nấm sẽ nảy mầm trên bề mặt của côn trùng ở nhiệt độ và độ ẩm thích hợp, làm cho
cơ thể côn trùng bị phủ một lớp tơ xám trắng ra bên ngoài Trong điều kiện bất lợi,
sẽ không có sự hình thành bào tử tuy nhiên ta có thể nhận thấy sự ký sinh của nấm qua màu sắc của cơ thể côn trùng khi chết, đó là màu nâu hay qua sự méo mó của
cơ thể côn trùng
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của nấm Paecilomyces spp
– Ảnh hưởng của nguồn dinh dưỡng là yếu tố quan trọng cho sinh trưởng và phát triển của nấm Nếu môi trường không tốt nấm mọc yếu hoặc không mọc và sẽ hạn chế khả năng gây bệnh đối với côn trùng Trong quá trình hình thành bào tử, nấm cần các nguồn C, N Các nguồn Carbon đã được nghiên cứu ảnh
Trang 28hưởng là: glucose, sucrose, arabinose, mannose và acid citric đều ảnh hưởng đến sự
phát triển của Paecilomyces spp (Bharati et al., 2007) Kết quả cuối cùng thu được:
sucrose là cơ chất tốt nhất (8,725 cm) cho sự tăng trưởng; tiếp theo là glucose (5,625 cm) Mannose có khả năng thấp nhất, các cơ chất khác có tác dụng vừa
phải Còn đối với nguồn Ni-tơ, Bharati et al (2007) đã sử dụng các nguồn Nitơ thử
nghiệm: ammonium photphase, sodium nitrate, glycin, calcium nitrate, ammonium
nitrate để nghiên cứu khả năng sử dụng Nitơ của Paecilomyces spp Kết quả thu
được Calcium nitrate là nguồn Nitơ tốt nhất rồi đến glycin, natri nitrate, ammonium nitrate Ammonium phosphate được vi nấm sử dụng ít nhất
– Nhiệt độ và ẩm độ cũng ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển
của bào tử nấm Paecilomyces spp., khi nuôi cấy nấm Paecilomyces farinosus ở các
điều kiện nhiệt độ khác nhau cho thấy nhiệt độ 150C có lợi cho sự hình thành bào tử hơn là 24-260C, nhưng ở nhiệt độ 180
C tỷ lệ ký sinh cao hơn 18% so với nhiệt độ
250C Nguyên nhân này có thể là do nhiệt độ thấp sẽ làm giảm quá trình dị hóa và làm tăng quá trình đồng hóa, từ đó làm tăng hoạt chất cho cá thể (Trần Văn Mão,2002)
– Gần đây Stathers, T.E., D Moore và C Prior (2004) đã cho công bố những kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ đế sự phát triển của nấm
Paecilomyces spp và xác định nấm Paecilomyces spp thích hợp ở nhiệt độ 280C và
Nấm côn trùng nói chung rất cần ánh sáng cho sự phát triển và nấm Paecilomyces
spp cũng không ngoại lệ Vì vậy,ánh sáng là nhân tố không thể thiếu trong sự hình
thành bào tử của nấm Paecilomyces spp (Trần Văn Mão,2002) Các nhà khoa học cũng cho biết nấm Paecilomyces spp khi tấn công vào cơ thể côn trùng nếu gặp
những điều kiện không thích hợp về nhiệt độ và ẩm độ, ánh sáng thì nấm sẽ tạo nên
Trang 29những thể chịu đựng (resistant structures) để đối phó lại với môi trường (Penland,1982)
– Ảnh hưởng của các loại môi trường: Theo Sung Mi Shim (2003) nghiên cứu rằng có sự chênh lệch về sự phát triển của nấm trên hai môi trường PDA (6,73 cm sau 14 ngày nuôi cấy) và Czapeck - Dox (6,25 cm sau 14 ngày nuôi cấy)
Vì vậy, PDA là môi trường tốt nhất cho sự sinh trưởng và phát triển của nấm
– Ảnh hưởng của độ pH: thường nấm sống trong phạm vi pH = 3,5 - 8 Nhưng nấm côn trùng ưa pH acid và nấm phát triển thích hợp ở pH = 5,5 - 6 Theo
như nghiên cứu của Sung Mi Shim et al (2003), thì giá trị pH phù hợp cho sự phát triển của P.fumosoroseus nằm trong khoảng 6 - 9, còn nấm P.japonica phát triển tối
ưu ở pH 7 (Choi et al., 1999), P sinclairii phát triển tối ưu ở pH 8 (Shim et al.,
2003)
– Ảnh hưởng của độ thoáng khí: nấm côn trùng đa số đều thuộc loại hiếu khí, khi nấm phát triển chúng đòi hỏi có lượng oxy thích hợp trong dụng cụ nhân nuôi hay trong cả biên độ rộng của không gian nuôi cấy, nếu phù hợp nấm sẽ phát triển tốt
1.6 Các nghiên cứu về sử dụng Paecilomyces spp trong phòng trừ bọ phấn và
Trang 30Hình 1 8 Các giai đoạn trong vòng đời của bọ phấn trắng
(Nguồn: organicsoiltechnology.com) 1.6.1.2 Đặc điểm sinh thái
Bọ phấn là một trong những dịch hại nguy hiểm đối với nhiều loài cây trồng
Ký chủ của bọ phấn chủ yếu là thực vật hạt kín hai lá mầm, trong đó cây họ cam quýt (Rutaceae) là ký chủ của hơn 60 loài, cây họ dâu tằm (Moracea) là ký chủ của
hơn 80 loài Ở các nước ôn đới, bọ phấn Trialeurodes vaporariorum gây hại nặng cho cây trồng trong nhà kính và ngoài đồng ruộng, bọ phấn Aleyrodes proletella gây
hại nặng cho rau họ thập tự Ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, các loài
Trang 31Aleurodicus dispersus, Trialeurodes vaporariorum và Bemisia tabaci gây hại thiệt
nghiêm trọng cho bông và nhiều loại cây trồng khác có giá trị kinh tế cao
Cho đến nay trên thế giới đã ghi nhận 1556 loài, chúng thuộc 161 giống của
3 phân họ Aleurodicinae, Aleyrodinae, Udamoselinae (Evans,2008) Theo kết quả điều tra của Viện Bảo vệ thực vật (BVTV) các năm 1967 - 1968, 1977 - 1978, 1997
- 1998, ở nước ta có 7 loài bọ phấn có tên khoa học là: Aleurocanthus spiniferus,
Aleurocanthus woglumi, Aleurocanthus spp gây hại trên cam quýt; Aleurocybotus indicus gây hại trên lúa; Dialeurodes citri gây hại trên na; Parabemisia myricae gây
hại trên đậu tương, thuốc lá, đậu đỗ, dưa chuột, cà chua, cà tím Theo kết quả điều tra mới đây của các tác giả Nguyễn Thị Thu Cúc, Lê Thị Tuyết Nhung, Lê Quang
Khải, thành phần bọ phấn nước ta đã được bổ sung thêm 4 loài: Aleurodicus
dispersus gây hại trên ổi; Aleyrodes proletella gây hại trên súp lơ xanh; Dialeurolonga rusotigmoides, Ochamoplatus citri gây hại trên cam, quýt
Trứng có hình quả lê hoặc quả trứng, có cuống gắn chặt cố định trên các mô
lá và thời gian pha trứng từ 8-31 ngày Phần mở rộng của cuống nhỏ móc dính này
là phương tiện để thụ tinh Mỗi con cái có thể đẻ 80 trứng, số lượng trứng thay đổi theo mùa
Ấu trùng tuổi 1 - 3 có thể di chuyển và gây hại trong phạm vi ngắn; Tuổi 4 thường được gọi là nhộng Ấu trùng mới nở có màu kem nhạt và dần dần chuyển sang một màu đen bóng Chúng hình thành các tua sáp và phủ một lớp sáp trên cơ thể Ngay sau khi nở, các ấu trùng di chuyển tìm vị trí thích hợp để định cư gây hại Thời gian phát dục của tuổi 1: 4 - 7 ngày, tuổi 2: 3 - 7 ngày và tuổi 3: 3 - 8
Trang 32ngày Mỗi lần lột xác là có sự thay đổi màu sắc từ màu nhạt chuyển sang hơi đen Hầu hết tuổi 2, 3 của ấu trùng có hình bầu dục hoặc thuôn dài và có những khe (nếp gấp) thở cạn ở thành bụng và lưng Đó là các lỗ thở và có thể hỗ trợ cho việc dẫn truyền không khí
Giai đoạn nhộng (ấu trùng tuổi 4) là nhộng giả vì chúng có hoạt động ăn trong giai đoạn đầu, kéo dài 9-14 ngày sau đó vũ hóa thông qua khe hình chữ 'T' trên lưng vào buổi sáng
Cả ấu trùng và trưởng thành đều chích vào mô cây trồng và hút dịch nhưng giai đoạn ấu trùng gây thiệt hại nặng nhất cho cây mía
Khi ấu trùng phát triển, chúng phủ một lớp bọc bằng sáp trắng giúp bảo
vệ khỏi các tác động bên ngoài, nhất là thuốc trừ sâu, đây là đặc điểm riêng biệt của bọ phấn trắng ở các pha phát dục, trừ pha trứng
1.6.1.4 Tổng quan về tác hại do bọ phấn trắng gây ra
Bọ phấn trắng (B tabaci) là một trong những loài loài dịch hại nông nghiệp
nguy hiểm nhất trên phạm vi toàn cầu (Philip A Stansly et.al, 2010) Chúng gây hại cho hầu hết các loài cây trồng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (Luko Hilje et al, 2001) Các cây trồng là kí chủ của bọ phấn trắng lên đến 600 loài thuộc 5 họ cây phổ biến bao gồm cây họ đậu (99 loài), cây họ cúc, họ bông, họ cà và họ thầu dầu Ngoài tác hại trực tiếp đến sinh trưởng phát triển của cây, bọ phấn trắng còn là vecto truyền bệnh virus cho cây Đây chính là tác hại quan trọng nhất của bọ phấn trắng Các tác giả cho biết, bọ phấn trắng là vecto truyền hơn 150 loại virus gây
bệnh cho cây trồng (Polston and Anderson 1997; Jones 2003) Trên cây cà chua, các cây họ ớt, bọ phấn trắng là vecto duy nhất truyền virus gây xoăn vàng ngọn cà chua (virus Tomato Yellow Leaf Curl Virus: TYLCV) (Ghanim M et al 1998; Ghanim M, Czosnek H, 2000; Liu et al, 2013; Rubinstein G, Czosnek H., 1997) Cùng quan điểm này, Muniyappa et al (2000); Sylvia Jelinex (2010) cho biết, bệnh xoăn lá cà chua do virus (Tomato leaf curl virus: ToLCV) và bệnh xoăn vàng ngọn
cà chua (TYLCV) gây hại nặng cho sản xuất cà chua tại Ấn Độ, Úc và nhiều nước
Trang 33Châu Á được lan truyền bởi bọ phấn trắng Chúng tấn công cây trồng từ khi cây mới mọc và phát triển, gây hại cho đến khi thu hoạch Tỷ lệ cây bị bệnh chiếm từ 50 đến 100% Nhiều diện tích cây trồng bị đốn bỏ vì tác hại của virus Thiệt hại do bọ phấn trắng lên đến hàng tỷ đô la/năm (Gill, 1992; Zalom et al 1995; Heinz 1996; Henneberry et al 1997; Henneberry et al 1998; Chu and Henneberry 1998 Bọ phấn trắng là dịch hại nguy hiểm nhất cho hầu hết các loại cây trồng trong nhà kính (Premalatha K và Rajangam J, 2010) Trong điều kiện nhà kính, bọ phấn trắng tấn công mạnh trên cây rau ăn trái như cà chua, ớt ngọt, cà tím, dưa leo… (Cock, 1986) Tại Mỹ, bọ phấn trắng gây hại làm giảm 13% năng suất dưa lê (Jetter et al 2001)
Bọ phấn trắng đã hình thành tính kháng đối với khoảng 35 hoạt chất thuốc trừ sâu
được báo cáo trên ít nhất 20 nước trên thế giới (Elbert và Nauen, 2000; Cahill và ctv., 1995; Ahmad và ctv., 2002; Kranthi và ctv., 2002; Horowitz và ctv., 1998; Prabhaker và ctv., 1992; Cahill và ctv., 1996a; Dittrich và ctv., 1990; Denholm và ctv., 1998) Mất mát do bọ phấn trắng gây ra trên toàn cầu, ước tính trên 300 triệu
đô la Mỹ/năm (De Barro and Driver 1997; White 1998) Vì vậy, việc nghiên cứu để xây dựng biện pháp phòng trừ bọ phấn trắng đã và đang được đặc biệt chú ý (Philip
A et.al, 2012) Một chương trình quản lý tổng hợp bọ phấn trắng mang tính quốc tế (Tropical Whitefly IPM Project) đã được triển khai từ năm 1996 đến năm 2004 và
đã xác định được rằng việc lạm dụng thuốc hóa học nguyên nhân gây nên sự bùng phát của loài dịch hại này ở các nước vùng nhiệt đới (Francisco J Morales, 2006)
Tại Việt Nam, bọ phấn trắng được coi là dịch hại chính và là vecto truyền bệnh virus trên nhiều loại cây trồng (Lê Thị Liễu, Trần Đình Chiến, 2005; Trần Đình Phả et al 2009) Trên cây cà chua ở miền Bắc, chúng xuất hiện và gây hại trong suốt cả vụ Trong số 33 loài bọ phấn trắng thu được trên các cây trồng ở Hà
Nội, Bemisia tabaci là luôn xuất hiện thường xuyên, gây hại nặng trên nhiều loại
cây trồng như đậu đỗ, cà chua, bắp cải, xu hào, súp lơ (Đàm Ngọc Hân, 2010)
Bọ phấn trắng non và bọ phấn trưởng thành thường tập trung ở mặt dưới lá
cà chua, ổi, ớt chích hút dịch cây Khi mật độ bọ phấn cao làm cây suy yếu, có thể
Trang 34bị héo, vàng lá, thậm chí có thể chết Chất bài tiết của bọ phấn trắng có đường tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển hại cây
Bọ phấn thường gây hại trong mùa khô, chúng có phân tán trên phạm vi rộng nhờ gió
Ngoài ra, bọ phấn còn là vật trung gian truyền bệnh xoăn lá do virus gây ra
và gây hại trên nhiều loại cây trồng khác nhau trong đó có nhóm cây rau thực phẩm
bị hại nghiêm trọng nhất là cà chua, ớt Bệnh xoăn lá có thể xuất hiện ngay từ khi cây còn nhỏ trong vườn ươm cho đến khi trồng ra ruộng và thu hoạch, phổ biến nhất là cây bắt đầu ra hoa Bệnh xuất hiện càng sớm thì mức độ thiệt hại càng nặng Cây bị bệnh còi cọc, lá biến màu vàng nhạt, trong khi gân lá còn xanh tạo thành những vết xanh vàng loang lổ, lá nhỏ lại, nhăn nheo và thô cứng, các lá ngọn bị xoăn, cây sinh trưởng kém, thấp nhỏ, phân nhiều nhánh cằn không phát triển được Đốt thân hoặc các đốt ngắn lại và hơi uốn cong Cây bị bệnh sớm và nặng có thể chết Nếu bị muộn và nhẹ thì những lá non ra sau mới bị xoăn, cây có thể ra hoa và trái nhưng rụng nhiều Nếu có trái thì trái nhỏ, méo mó, cứng, chất lượng kém
Virus lây lan bằng dịch cây, bằng tiếp xúc cơ giới và chủ yếu là do bọ phấn
chích hút từ cây bệnh rồi truyền sang cây khỏe Bọ phấn Bemisia tabaci là côn
trùng môi giới truyền bệnh Virus lan truyền rất nhanh, khi bọ phấn bắt đầu ăn cây
cà chua, virus được truyền đi trong vòng 15 - 30 phút Mật độ bọ phấn càng cao thì
tỷ lệ cây bị bệnh xoăn lá càng nhiều Bệnh không tồn tại lan truyền qua hạt giống và qua đất Hàng năm, bệnh thường phát sinh mạnh từ tháng 10 đến đầu tháng 11 và gây hại nặng vụ cà chua xuân - hè tháng 3 - 4, đặc biệt khi trời ấm và nắng, ít mưa Mức độ bị bệnh ở các giống cũng khác nhau: giống cà chua lai dễ nhiễm bệnh hơn các giống cà chua thuần; các giống mới nhập nội dễ nhiễm hơn các giống trồng qua nhiều năm; các giống cà chua địa phương có khả năng kháng bệnh virus cao
Trang 36Hình 1 10 Cấu tạo ngoài của rệp
(Vickers L H, 2012)
1.6.2.2 Đặc điểm sinh thái
Rệp Aphis gossypii có khoảng 4700 loài, chúng có thể kí sinh trên nhiều
loại cây trồng và cỏ dại khác nhau như các cây ngô, lúa mì, khoai tây, bông, ớt, hoa hồng, cam, quýt,… thuộc các họ lúa, họ dưa, họ cà, họ có múi,… gây thiệt hại hàng tỷ đô la Mỹ mỗi năm cho ngành nông nghiệp trồng trọt Rệp là nhóm côn trùng chích hút phổ biến nhất hiện nay, phân bố tập trung nhất ở các vùng ôn đới, một số sống ở cả cận nhiệt đới và nhiệt đới với số lượng khoảng 3700 loài rệp đã được biết trên thế giới (Holman J., 2009) Các loại rệp phá hoại cây trồng
mạnh như rệp bông Aphis gossypii Glover, rệp ngô Aphis maydis, rệp
đậu…chúng thường ẩn ở phần mặt dưới của lá, thân non và chích hút nhựa tại đó (Von Dohlen C., Rowe C., Heie O.,2006) vừa làm cạn nguồn dinh dưỡng của cây vừa tiết ra chất đường mật không chỉ làm đóng khí khổng của lá mà còn góp phần
Trang 37tăng sự phát triển của mốc đen, làm ngăn cản ánh sáng đến các mô quang hợp, ảnh hưởng nghiêm trọng tới trao đổi chất và năng suất cây trồng Ngoài ra, việc chích hút nhựa cây của các loài rệp làm lây lan virus gây bệnh từ cây bệnh sang các cây khỏe mạnh
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu và thống kê của các nhà khoa học, nước ta chịu sự ảnh hưởng của hơn 250 loài rệp khác nhau Tại đồng bằng sông Cửu Long, cây sầu riêng bị rệp sáp phá hoại Một số cây ăn quả ở thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận cũng bị ảnh hưởng bởi nhiều loài rệp làm giảm năng suất và thiệt hại về kinh tế Cây cà phê tại một số vùng ở Tây Nguyên cũng đang gặp phải vấn nạn rệp sáp và rệp bông Tại tỉnh Đắc Lắc, rệp sáp kí sinh trên chùm hoa và quả non gây thiệt hại từ 8 –25% Tại tỉnh Đắc Nông, rệp đã tấn công gây hư hại trên 500 ha, trong đó gây thiệt hại nặng cho hơn 200 ha (Bá Thăng, 2012)
1.6.2.3 Đặc điểm hình thái
Cơ thể rệp chia thành ba phần (đầu, ngực, bụng), có ba cặp chân phân đốt, mắt kép và có một cặp râu, cơ thể được bao bọc bởi bộ xương ngoài bằng chitin, chiều dài từ 1 – 10 mm (Hình 1.1) Rệp có một lớp biểu bì mềm, có cánh (dạng màng) hoặc không cánh Phần lớn thân rệp có màu xanh lá cây, đen, nâu, hồng hoặc không màu
Rệp có thể sinh sản theo cả hình thức đơn tính và hữu tính Vào mùa thu, khi có sự thay đổi về cường độ chiếu sáng, nhiệt độ, sự giảm sút về nguồn thức
ăn hoặc chất lượng thức ăn, rệp cái sinh ra cả rệp đực và rệp cái con Đặc điểm
di truyền của rệp đực giống hệt rệp mẹ ngoại trừ việc ít hơn một nhiễm sắc thể giới tính Rệp con hữu tính có thể thiếu cánh, thậm trí thiếu vòi chích hút (McGavin G C.,1999) Khi trưởng thành, rệp cái giao phối với rệp đực rồi đẻ trứng Trứng sống sót qua mùa đông khắc nghiệt rồi nở ra rệp cái có cánh hoặc không cánh (Hình 1.2) Các rệp cái sẽ sinh sản vô tính ra rệp cái không cánh hoặc rệp cái có cánh (khi khan hiếm thức ăn) để bay đến cây kí chủ khác Tuy nhiên, trong môi trường ấm áp như ở vùng nhiệt đới hoặc trong nhà kính, rệp
Trang 38có thể sinh sản vô tính trong nhiều năm Trong vòng đời, một rệp cái có thể sinh
ra 31 đến 93 rệp con theo hình thức sinh sản này (Hồ Khắc Tín,1981) Đặc biệt, một số loài có khả năng sinh sản lồng, khi rệp cái mẹ sinh ra rệp cái con thì rệp cái con cũng chuẩn bị sinh ra thế hệ tiếp theo đã có sẵn trong cơ thể nó Cách sinh sản này có thể ảnh hưởng đến kích thước của rệp và tốc độ sinh sản tăng lên (Jahna G C., Almazanb L P., Paciab J B., 2005)
Trong điều kiện thuận lợi, vòng đời trung bình của một cá thể rệp khoảng
30 ngày Rệp con sinh ra sẽ phát triển trong khoảng 4 đến 10 ngày để trưởng thành và bắt đầu sinh sản ra các thế hệ mới (Lloyd J E.,3013)
1.6.2.4 Tổng quan về tác hại do rệp gây ra
Khi cây trồng vượt qua giai đoạn cây con, bắt đầu phân cành lúc này xuất
hiện các loại sâu hại như rầy xanh, rệp Aphis gossypii (Vũ Khắc Nhượng,1991) Rệp Aphis gossypii phát sinh và gây hại mạnh trong điều kiện nhiệt độ 23 – 250C,
ẩm độ 80 -85% (Lê Lương Tề, 2005) Mưa to, ẩm độ cao sẽ làm giảm mật độ và hạn chế sự phát sinh của rệp Khi mật độ cao hoặc thức ăn không còn phù hợp, rệp
Aphis gossypii hình thành loại hình có cánh để di chuyển sang cây khác và tiếp tục
gây hại (Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003) Rệp tập trung sinh sống ở ngọn cây và lá
non, chúng làm cành lá cong queo, hình dạng thay đổi, không phát triển…Rệp A
gossypii là loại rệp điển hình ở Việt Nam, chúng có thể phát triển quanh năm trên
một phạm vi kí chủ rất rộng gồm các cây trong họ bầu bí, bông, cà, cúc và hàng loạt cây thân gỗ, trong đó phổ biến nhất là các loại dưa, bầu bí, bông, cà, ớt và khoai sọ
Ngoài ra rệp Aphis gossypii còn là tác nhân truyền bệnh virus gây bệnh khảm qua
các thế hệ sau, không có thời gian ủ virus trong cơ thể và virus chỉ tồn tại trong cơ thể nó dưới 4 giờ sau mỗi lần chích hút, nhưng rệp có khả năng hấp thụ virus sau khi chích hút cây bệnh dưới 1 phút có thể truyền bệnh (Nguyễn Thị Nghiêm, 1996)
Ngoài ra một số nhà khoa học đã nghiên cứu về diễn biến mật độ rệp Aphis
gossypii trên một số cây trồng cho rằng rệp thường xuất hiện trên cây khoai tây và
cây ớt tại Ấn Độ vào tháng 8,9,10 và tiếp tục phát triển cho tới tháng 4,5,6 Trong thời kì này chúng hình thành 2 đỉnh cao về số lượng Đỉnh cao lần 1 có mật độ thấp
Trang 39hơn vào khoảng cuối tháng 11, lần 2 vào tháng 2 với mật độ rất cao sau đó mật độ
giảm dần (Verma và Parihar,1990) Trong quá trình nghiên cứu về rệp Aphis
gossypii đã phát hiện mức độ thích nghi của rệp với môi trường và nguồn thức ăn
có liên quan chặt chẽ đến đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của rệp (George,1983) Sau khi rệp gây hại trên một số cây trồng chúng thường có hiện tượng phát tán tìm kí chủ mới bằng cách mọc cánh xuất hiện nhũng cá thể có cánh trong quần thể bay đi hoặc nhờ gió để phát tán Hoạt động phát tán của rệp cao nhất vào đầu tháng 3, số lượng rệp bay vào buổi sáng thường cao hơn rất nhiều so với buổi chiều Theo Yayma và Ronald (2007) khi mật độ quần thể rệp cao, chúng sẽ sản sinh nhiều rệp trưởng thành có cánh và có thể di cư để tìm nguồn thức ăn mới Với tốc độ sinh sản nhanh, số lượng rệp con được đẻ ra của một con cái nhiều và vòng đời ngắn cộng với sự đa thực của chúng, có thể khẳng định rệp bông có sức gây hại rất lớn
Rệp có khả năng gia tăng quần thể rất nhanh trong điều kiện thuận lợi Ấu trùng và rệp trưởng thành tập trung mặt dưới lá, nhất là đọt non, bông, chồi hút nhựa làm cho các bộ phận này bị khô héo hoặc để lại những vết thâm đen trên lá Trên cây ớt, rệp gây hại trầm trọng ở tầng giữa rồi đến tầng trên, hại ít nhất ở tầng dưới Rệp thường sống tập trung ở mặt dưới lá ớt nhất là lá bánh tẻ Ở những cây đã
ra hoa, quả, thu hoạch thường cao hơn đối với giai đoạn phát triển thân lá Khi mật
độ rệp cao thì chúng bắt đầu di chuyển nhiều lên các lá non và các chồi ngọn, khi đó
ở tầng trên các lá non, chồi ngọn, nụ, hoa mật độ rệp nhiều hơn so với hai tầng lá giữ và dưới Rệp thường tập trung với số lượng lớn ở đọt non làm lá bị quăn và phân tiết ra thu hút nhiều muội đen trên lá, thân, cành kể cả nụ, hoa Ngoài tác hại làm giảm năng suất, chất lượng cây ớt còn truyền 1 số loại virus gây bệnh từ những cây bệnh sang các cây khỏe mạnh
Trang 40CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ ngày 7/8/2014 đến ngày 13/7/2015 tại phòng thí nghiệm trường Đại Học Công Nghệ TPHCM
2.2 Thiết bị - hóa chất - vật liệu nghiên cứu
2.2.1 Thiết bị - hóa chất
2.2.1.1 Thiết bị
Nồi hấp khử trùng
Máy đo quang phổ UV-Vis 2550
Máy ly tâm Universal 320
Que cấy điểm
Lame đếm Thoma, kính hiển vi, kính lúp sôi nổi, máy lắc Voltex
Pipet, cốc thủy tinh, micropipet 1000µl, 100µl và đầu tuýp
Bông thấm nước, bông không thấm nước
Bao nhựa, dây thun, giấy báo