1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục và vui chơi giải trí của trẻ nhập cư thành phố thủ dầu một, tỉnh bình dương nghiên cứu trường hợp tại lớp học tình thương phường phú cường tp thủ dầu một

110 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 891,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài: Dựa vào kết quả từ đề tài, có thể đưa ra các biện pháp nhằm hỗ trợ và nâng cao

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI

học tình thương phường Phú Cường TP Thủ Dầu Một

Sinh viên thực hiện: Ngô Thị Thanh Trúc, Nam, Nữ: Nữ

Dân tộc: Kinh

Lớp, khoa: D12XH01, Khoa Công tác xã hội

Năm thứ: 4/Số năm đào tạo: 4

Ngành học: Công tác Xã hội

Người hướng dẫn: Thạc sĩ Nguyễn Thị Hồng Thắm

Trang 3

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: Khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục và vui chơi giải trí của trẻ

nhập cư Thành Phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương- Nghiên cứu trường hợp tại lớphọc tình thương phường Phú Cường TP Thủ Dầu Một

- Sinh viên thực hiện: 01

- Lớp: D12XH01, Khoa: Công tác xã hội

Năm thứ: 4 Số năm đào tạo:4

- Người hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Hồng Thắm

Thứ nhất, thực trạng trẻ nhập cư trong việc tiếp cận với các vấn đề về y tế và

chăm sóc sức khỏe

Trẻ em với nhu cầu được chăm sóc sức khỏe là một điều cần thiết, bởi trẻ em cóđược sự chăm sóc tốt mới có được sự phát triển hoàn thiện về cả thể chất và tinh thần.Qua nghiên cứu cho thấy trẻ em nhập cư tuy được hưởng các chế độ chăm sóc sứckhỏe tại cộng đồng một cách công bằng như mọi trẻ em khác, mà không có sự phânbiệt đối xử nào trong chăm sóc sức khỏe cho trẻ của gia đình vẫn còn nhiều khó khăn.Tuy nhiên về mặt chăm sóc sức khỏe cho trẻ của gia đình cho thấy điều kiện kinh tếcủa các hộ khảo sát phần lớn đều thuộc diện rất khó khăn nên nhóm trẻ được khảo sát

Trang 4

hầu hết không có được cơ hội chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở, trung tâm y tế mà chỉ được chăm sóc và điều trị tại nhà Qua khảo sát cho thấy trẻ chưa được đáp ứng đầy

đủ các nhu cầu sinh lý như ăn, mặc, ngủ, nghỉ tức là nhu cầu cơ bản bậc 1 của tháp nhu cầu Maslow Chính vì việc trẻ nhập cư sống như vậy thì sẽ có nhiều tiềm tàng nguy hiểm gây nên nhiều tác động tiêu cực đến tâm lý cũng như tình trạng sức khỏe

của trẻ nhập cư

Thứ hai, thực trạng trẻ nhập cư trong việc tiếp cận các dịch vụ về giáo dục Trẻ nhập cư ở lớp tình thương thiệt thòi hơn rất nhiều trong việc được học tập sovới nhiều đứa trẻ khác Nếu chiếu theo tháp nhu cầu của Maslow thì nhu cầu giáo dụcthuộc nhu cầu cơ bản (nhu cầu cấp 1 là nhu cầu về ăn, uống, ngủ, nghỉ, học hỏi và

hiều biết để duy trì giống nòi), tuy nhiên đối với trẻ nhập cư các em vẫn chưa tiếp cận

được với các nhu cầu này Thực tế cho thấy rằng trẻ nhập cư lao động sớm không cóđiều kiện tiếp xúc với các lớp học chính quy do nhiều nguyên nhân khác nhau Vì thếvới sự mong mỏi của gia đình và sự hỗ trợ của chính quyền đã phần nào giúp trẻ thỏamãn được nhu cầu học tập của trẻ cũng như được hòa nhập trong môi trường giáo dụcphổ cập là được học tập ở các lớp học tình thương Phần lớn các gia đình nhập cư làm

kinh tế mà không có tay nghề thường rất khó tiếp cận với các mô hình giáo dục chính

thức mà chỉ tiếp cận được chương trình giáo dục phi chính thức là các mô hình lớphọc tình thương Tuy nhiên, với những giới hạn hiện tại của lớp học tình thương nêntrẻ chỉ được hỗ trợ giáo dục ở bậc tiểu học Nhu cầu được học lên của trẻ có khả năng

sẽ không được đáp ứng nếu không có sự hỗ trợ nhiều hơn nữa và sự chung tay góp sức

từ các ban ngành chính quyền đoàn thể như gia đình, nhà nước cần có trách nhiệm bảođảm cho trẻ em thực hiện tốt việc học tập, học hết chương trình phổ cập giáo dục vàcần tạo điều kiện cho trẻ em, đặc biệt là trẻ nhập cư ở các lớp học tình thương có cơhội được học ở trình độ cao hơn

Thứ ba, thực trạng trẻ nhập cư trong việc tiếp cận với vấn đề vui chơi giải trí.Thời gian dành cho hoạt động giải trí thường gắn liền với thời gian rỗi, là nhữngkhoảng thời gian mà cá nhân không bị bức bách bởi những nhu cầu sinh tồn, không bịchi phối bởi những nghĩa vụ cá nhân hoặc sự đòi hỏi bởi nhu cầu vật chất Con ngườihoàn toàn tự do, thoát khỏi những băn khoăn, lo lắng thường nhật Gắn vào lý thuyếtnhu cầu của Maslow thì nhu cầu vui chơi giải trí thuộc tháp nhu cầu thứ 3 tức là nhu

Trang 5

cầu về xã hội (nhu cầu cấp cao) nó thể hiện sự liên kết, chấp nhận, được tạo điều kiện

để có cơ hội để mở rộng giao lưu, vui chơi, giải trí Và vui chơi giải trí là một nhu cầuvăn hóa không thể thiếu của con người, đặc biệt đối với trẻ em Các hoạt động vuichơi, giải trí lành mạnh rèn luyện cho trẻ những phẩm chất cơ bản về trí tuệ, đạo đức,thể chất theo quy luật của cái đẹp Trong quá trình phát triển của trẻ, hoạt động vuichơi giải trí đóng vai trò không kém phần quan trọng so với các hoạt động thiết yếukhác như bổ sung dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe cho trẻ…Thế nhưng trên thực tế ta

có thể thấy được sân chơi miễn phí dành cho trẻ thì hầu như không có Việc thiếu hụt

sân chơi trầm trọng dễ dẫn đến tình trạng nhiều trẻ chọn quán Internet, những tụ điểmphức tạp làm “sân chơi” Và đó cũng là nguyên nhân vì sao nhiều trẻ em nhập cư mà

có điều kiện hay những trẻ thường trú thường hư hỏng, bỏ học để đi chơi, tụ tập đánhnhau, hay có thể ngồi lì trong quán game online hết ngày này sang ngày khác…v.v.Tất cả những điều đó là do việc thiếu sân chơi lành mạnh gián tiếp gây nên Đối vớitrẻ nhập cư thì cuộc sống của trẻ luôn phải cuốn theo những mưu sinh bộn bề của cuộcsống, việc trẻ nhập cư bị cuốn vào vòng xoáy thường ngày mà quên đi những nhu cầugiải trí lành mạnh cần có trong một xã hội đang phát triển hiện đại như ngày nay, thứ

mà con người luôn muốn có và sở hữu chúng và đặc biệt là đối với các trẻ em nhậpcư

5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng

và khả năng áp dụng của đề tài:

Dựa vào kết quả từ đề tài, có thể đưa ra các biện pháp nhằm hỗ trợ và nâng cao

cơ hội cho trẻ nhập cư được tiếp cận với các dịch vụ về y tế, giáo dục và vui chơi giải trí

Kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ nâng cao sự hiểu biết về người nhập cư nóichung và trẻ nhập cư ở lớp học tình thương phường Phú Cường nói riêng Thông quakết quả nghiên cứu này sẽ là nguồn tài liệu cho các nghiên cứu sau nhằm giúp ngườinhập cư có cơ hội dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các dịch vụ về y tế, giáo dục và vuichơi giải trí

6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ họ

tên tác giả, nhan đề và các yếu tố về xuất bản nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ

sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):

Trang 7

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:

Họ và tên: Ngô Thị Thanh Trúc

Sinh ngày: 03 tháng 10 năm 1994

Nơi sinh: phường Phú Cường, TP Thủ Dầu Một, T Bình Dương

Lớp: D12XH01, Khóa: 2012 - 2016

Khoa: Công tác xã hội

Địa chỉ liên hệ: Số 54/36, đường Hai Bà Trưng, Khu 10, phường Phú Cường, thànhphố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Điện thoại: 0979031094, Email: Ngothithanhtruc0310@icloud.com

II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm

Ngành học: Công tác Xã hội Khoa: Công tác xã hội

Kết quả xếp loại học tập: Trung Bình Khá

Trang 8

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

2 Ý NGHĨA LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Trang 9

a) Ý nghĩa lí luận

b) Ý nghĩa thực tiễn

3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

a) Nghiên cứu ngoài nước

b) Nghiên cứu trong nước

4 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

a) Mục tiêu tổng quát

b) Mục tiêu cụ thể

5 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

a) Đối tượng, khách thể nghiên cứu

b) Phạm vi nghiên cứu

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

8 CẤU TRÚC ĐỀ TÀI

PHẦN 2: NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.2 Cách tiếp cận trong nghiên cứu

1.2.1 Thuyết nhu cầu

1.2.2 Ứng dụng của lý thuyết

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y TẾ, GIÁO DỤC VÀ VUI CHƠI GIẢI TRÍ CỦA TRẺ NHẬP CƯ QUA BA TRƯỜNG HỢP ĐIỂN CỨU CA

2.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu phường Phú Cường

Trang 10

2.2 Lớp học tình thương phường Phú Cường

2.3 Tổng quan về chính sách

2.3.1 Chính sách và những văn bản có liên quan đến Chương trình BVCS&GDTE ở phường Phú Cường

2.3.2 Chương trình hành động vì trẻ em Bình Dương GĐ 2013-2020

2.3.3 Chương trình BVTE tỉnh Bình Dương GĐ 2011-2015

2.3.4 Kế hoạch liên ngành về công tác BVCS&GDTE giữa Sở Lao động ThươngBinh- xã hội và Sở Giáo dục & Đào tạo tỉnh BD GĐ 2014 – 2020

2.3.5 Quyết định phê duyệt đề án CSTE mồ côi không nơi nương tựa, TE bị bỏ rơi,

TE bị nhiễm HIV/AID, TE là nạn nhân của chất độc hóa học, TE khuyết tật nặng và

TE bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa dựa vào cộng đồng trên địa bàn tình BD GĐ

2014 – 2020

2.4 Trường hợp gia đình nhập cư 1

2.5 Trường hợp gia đình nhập cư 2

2.6 Trường hợp gia đình nhập cư 3

CHƯƠNG 3: THẢO LUẬN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Tiếp cận về dịch vụ y tế của trẻ nhập cư

3.2 Tiếp cận về dịch vụ giáo dục của trẻ nhập cư

3.3 Tiếp cận về dịch vụ vui chơi giải trí của trẻ nhập cư

Các phát hiện chính của đề tài

Hạn chế của đề tài và gợi ý các hướng nghiên cứu tiếp theo

 BVCS & GD: Bảo vệ chăm sóc và giáo dục.

 GDTE: giáo dục trẻ em.

Trang 11

 TECHCĐB: trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

 BVCSTE: bảo vệ chăm trẻ em.

 LĐ TBXH: lao động thương binh xã hội.

Trang 12

dần theo các năm 2,36% năm 1989 và 3,60% năm 2004, theo dự báo cục thống kêThành Phố Hồ Chí Minh Bên cạnh đó di cư kéo theo việc cha mẹ mang con cái đicùng để chăm sóc nuôi dưỡng nhưng trên thực tế trẻ di cư rất khó tiếp cận về các dịch

vụ giáo dục, y tế, sức khỏe, xã hội, vui chơi giải trí…v.v

Việt Nam là nước đầu tiên khu vực châu Á và nước thứ hai trên thế giới phêchuẩn Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em làmối quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước, gia đình và xã hội Nó trở thành truyền thốngtốt đẹp của dân tộc Việt Nam, dành mọi sự yêu thương cho trẻ, luôn đặt lợi ích của trẻlên hàng đầu với phương châm “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” Đi kèm vớiphương châm này thì nước ta cũng đã đầu tư nhiều vào việc bảo vệ, chăm sóc và giáodục trẻ em để mỗi trẻ đều có được cuộc sống an toàn và hạnh phúc nhất

Với tốc độ phát triển nhanh như hiện nay ở đất nước ta những năm gần đây tỉ lệnghèo đang được giảm xuống, đời sống người dân được cải thiện một cách rõ rệt dẫnđến việc chăm sóc và giáo dục trẻ em cũng được cải thiện hơn thông qua việc ngườidân sử dụng các dịch vụ BHYT, BHXH với trên 70% vào năm 2014, tỉ lệ biết chữngười lớn trên 90% vào năm 2009 và trẻ em là 88% năm 2005 theo cục thống kê năm

2010 Tuy vậy không phải sự phát triển này đều giúp tất cả mọi người nhất là vớinhững người nhập cư đặc biệt là trẻ em chưa hoàn toàn hưởng được hết các dịch vụ về

y tế, giáo dục và vui chơi giải trí…

Là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của khu vực phía Nam, BìnhDương cũng đã có sự phát triển vượt bậc đáng kể trong những năm gần đây về mọimặt Có thể nói Bình Dương hôm nay đang là một điểm sáng trên bản đồ kinh tế ViệtNam với những thành tựu đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế như việc thu hút vốnđầu tư nước ngoài (FDI) Bên cạnh đó Bình Dương còn là một trong những tỉnh cónhiều khu công nghiệp nổi tiếng như: khu công nghiệp Sóng Thần, VISIP, Việt NamSingapore….v.v Chính vì điều đó mà nơi đây đã thu hút được một lượng lớn ngườidân từ các tỉnh lân cận nhập cư vào địa bàn nhằm tìm kiếm cơ hội việc làm và định cưsinh sống nên Bình Dương đã trở thành một tỉnh có tốc độ tăng dân số cao, theo kếtquả điều tra dân số ngày 1/4/2009 là 7.3% Thủ Dầu Một là một trong những trungtâm thành phố của tỉnh Bình Dương có tỉ lệ dân nhập cư cao do gần các khu côngnghiệp, trung tâm hành chính, chợ đầu mối lớn trong đó có chợ Phú Cường Và Phú

Trang 13

Cường cũng là trung tâm của Thành Phố Thủ Dầu Một nên dân nhập cư chiếm sốlượng khá đông trên 1.000 hộ (hơn 3.000 nhân khẩu) so với tổng số hộ 5,639 hộ dân,theo tài liệu báo cáo dân số của phường Phú Cường năm 2014 Những hệ lụy kéo theo

từ dòng di cư đến phường Phú Cường là rất lớn cho chính bản thân những người di cư,

mà hơn hết đó là trẻ em- những đứa trẻ phải theo gia đình đi làm kinh tế

Chính vì thế mà tôi chọn đề tài “Khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục và vui chơi giải trí của trẻ nhập cư Thành Phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương- Nghiên cứu trường hợp tại lớp học tình thương phường Phú Cường TP Thủ Dầu Một“ để có một cách nhìn khác về việc tiếp cận các dịch vụ của trẻ nhập cư nơi đây,

bên cạnh đó cung cấp thêm những thông tin, số liệu cho chính quyền địa phương đểgiúp đỡ trẻ phần nào vơi bớt khó khăn trong cuộc sống

2 Ý NGHĨA LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.

a) Ý nghĩa lí luận.

Đề tài góp phần tìm hiểu việc tiếp cận các dịch vụ của trẻ nhập cư và sử dụngcách tiếp cận của phương pháp nghiên cứu định tính để vận dụng và lý giải về khảnăng tiếp cận các dịch vụ về y tế, giáo dục, vui chơi giải trí của trẻ nhập cư tại lớp họctình thương phường Phú Cường TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

b) Ý nghĩa thực tiễn.

Kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ làm sáng tỏ khả năng tiếp cận các dịch vụ

về y tế, giáo dục, vui chơi giải trí của trẻ nhập cư tại lớp học tình thương phường PhúCường TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo cho các bạn sau này về đề tài trẻnhập cư nói chung và trẻ nhập cư tại địa bàn phường Phú Cường nói riêng Bên cạnh

đó có thể làm nguồn tài liệu thêm cho ủy ban, chính quyền địa phương trong các lĩnhvực về tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, vui chơi giải trí của trẻ nhập cư

Trang 14

3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ.

a) Nghiên cứu ngoài nước

Theo công ước của LHQ về quyền trẻ em thì trẻ em có 4 nhóm quyền cơ bảnnhư quyền được sống còn, quyền được phát triển, quyền được bảo vệ, quyền đượctham gia Chính vì thế quyền của trẻ em luôn được Nhà nước Việt Nam quan tâm vàbảo vệ Tùy theo mỗi quốc gia mà áp dụng độ tuổi quy định của trẻ thì được gọi là trẻ

em nhưng nhìn chung trẻ em trên tất cả các nước đều cần sự quan tâm và hỗ trợ củachính phủ, bộ máy nhà nước trực thuộc nơi trẻ sống bảo vệ trẻ, đặc biệt là đối với trẻnhập cư để trẻ có thể tránh khỏi các nguy cơ rủi ro không đáng có

Một số tài liệu nghiên cứu ngoài nước, công trình khoa học mà tôi đã nghiêncứu và tham khảo để rút ra được những quan điểm, cái nhìn của mỗi tác giả về đề tàitrẻ em nhập cư ngoài nước như sau

Về vấn đề trẻ em di cư nói chung, có tài liệu nghiên cứu D Lange-FSA,Oklahoma, “Children youth and migration”, Unicef 2002 nói về những khó khăn màtrẻ di cư ở các nước Châu Âu đang phải gánh chịu, theo nghiên cứu thì Trung Quốc có19.810.000 trẻ em di cư , gần 20% của tổng số dân nhập cư Con số không nhỏ nàycho thấy tình trạng trẻ nhập cư đang ngày một tăng nhanh không những ở Châu Âu

mà còn ở Châu Á và trong đó có Việt Nam Nghiên cứu này nhấn mạnh vào cách tiếpcận các quyền của trẻ trong đó có việc không phân biệt đối xử với trẻ di cư Và trẻ di

cư cần được hưởng đầy đủ các quyền như trong công ước LHQ đã nêu, nghiên cứuphân chia loại trẻ em di cư theo gia đình và trẻ di cư một mình để thấy được nhữngthuận lợi và khó khăn của trẻ di cư đang gặp phải Về thuận lợi đối với cuộc sống nhưkinh tế phát triển hơn so với lúc chưa di cư, ngoài ra di cư như một “chiến lược sốngsót” đối với họ, giúp họ thể hiện tinh thần đoàn kết hơn với gia đình, nâng cao sự sẻchia đùm bọc yêu thương gia đình hơn Bên cạnh đó di cư cũng mang đến rất nhiềuvấn đề khó khăn như: bị phân biệt đối xử, thiếu các giấy tờ khai sinh, quốc tịch, thiếucác dịch vụ y tế, giáo dục, vui chơi giải trí cho trẻ nhập cư, trẻ nhập cư phải lao độngsớm…Ngoài ra ngôn ngữ giao tiếp cũng là một vấn đề đáng quan tâm khi mà nó vừa

là cơ hội cũng vừa là thách thức đối với người nhập cư nói chung và trẻ nhập cư nóiriêng

Trang 15

Về mảng chăm sóc sức khỏe cho trẻ nhập cư, tác giả đã tiếp cận được công

trình nghiên cứu của Jill F N Kilanowski, MSN, RN, CPNP, “health disparities: carnival and migrant worker children ” Jill F N Kilanowski, MSN, RN, CPNP The

Ohio State University 2006, theo đó bài viết nói về việc đánh giá tình trạng sức khỏecủa trẻ di cư trong độ tuổi từ 0 đến 12 tuổi để thấy được sự chênh lệch giữa hai nhómtrẻ di cư và trẻ tại địa phương Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng

và định tính để thống kê số liệu kết hợp quan sát phỏng vấn nhóm trẻ di cư trong độtuổi từ 0 đến 12 để qua đó thấy được tình trạng sức khỏe của trẻ di cư và trẻ thườngtrú Nghiên cứu cho rằng có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề sức khỏe của trẻ di

cư như: trình độ học vấn, phân biệt giới, tình hình kinh tế xã hội thấp, không có nhà ở,thiếu các giấy tờ…v.v tác động qua lại lẫn nhau làm cho dân di cư luôn bị phân biệttrong đời sống xã hội dẫn đến tình trạng sức khỏe của trẻ nhập cư cũng không đảmbảo Điểm mạnh của bài viết là có thể chỉ ra cụ thể sự chênh lệch về các về đề sứckhỏe như (chiều cao, cân nặng, độ tuổi, giới tính…) của hai nhóm trẻ di cư và trẻ ở tạiđịa phương Tác giả cũng nêu ra phát hiện mới cho bài viết của mình như trẻ có điềukiện chăm sóc sức khỏe tốt hơn so với lúc trước khi di cư, tuy nhiên trẻ di cư vẫnkhông được chăm sóc sức khỏe tốt như những trẻ cư trú tại địa phương về các vấn đềnhư: tiêm chủng phòng ngừa, bệnh răng miệng, chăm sóc da, chế độ dinh dưỡng… Qua đó cho thấy trẻ di cư theo gia đình phải đối mặt với rất nhiều mối nguy hiểm nhưmôi trường sống, vốn văn hóa, trình độ giáo dục, phân biệt giới là các yếu tố tác độngkhông nhỏ đến tình trạng sức khỏe của trẻ nhập cư Tuy nhiên, bài viết lại chưa đưa ranhững lí giải về những số liệu khảo sát được mà chỉ dừng lại ở việc mô tả, nhận xét sốliệu

Về mảng nghiên cứu vấn đề giáo dục cho người nhập cư là nghiên cứu mangtính toàn quốc của Friedrich Heckmann và các cộng sự (2008), “EDUCATION AND MIGRATION strategies for integrating migrant children in European schools and societies”, European Commission's Directorate-General for Education and Culture,

2008 nói về việc góp phần thúc đẩy chất lượng và công bằng trong nền giáo dục Châu

Âu Nghiên cứu đề cập đến bản chất, nguyên nhân và biện pháp khắc phục cho nềngiáo dục đối với trẻ em (di cư hay dân tộc thiểu số) bị thiệt thòi về tuyển sinh trongloại hình trường học, thời gian đi học, các chỉ số thành tích, tỷ lệ bỏ học, các nền văn

Trang 16

hóa…v.v Ngoài ra nghiên cứu còn nêu cao các chính sách, chương trình và các biệnpháp để cải thiện tình hình khó khăn của trẻ nhập cư Bài viết đánh mạnh vào cácchính sách, chống phân biệt đối xử với người nhập cư, chú ý nhiều hơn đến từng vấn

đề của trẻ, cho học ngôn ngữ thứ hai sao cho phù hợp với nơi nhập cư để có thể pháttriển một cách tốt nhất Nghiên cứu cho thấy tình hình trẻ em nhập cư khi đi học vớithời gian ngắn và ít hơn nhiều so với trẻ ở bản xứ Bên cạnh đó, tình trạng quá tải củacác em ở các lớp học “đặc biệt” này ngày càng nhiều, tỷ lệ các em đi đến trường thì ít

do không đủ điều kiện nhập học đồng nghĩa với việc trẻ càng có nhu cầu học ở nhữnglớp “đặc biệt” này càng cao hơn Nghiên cứu nêu cao tinh thần chống phân biệt đối xửtrẻ (di cư, nhập cư) để từ đó nâng cao cơ hội của trẻ nhập cư trong việc tiếp cận nềngiáo dục

Nhìn chung nghiên cứu về trẻ nhập cư ngoài nước nhấn mạnh vào việc tìm racác chính sách để giúp đỡ cho trẻ được thể hiện cụ thể qua từng nhóm trẻ, độ tuổi củatrẻ Bên cạnh đó các tác giả luôn xem trọng vấn đề trẻ bị phân biệt đối xử bởi nhiềunguyên nhân khác nhau nhưng với mục đích cuối cùng là mọi tác giả đều muốn đemlại quyền bình đẳng cho trẻ em nói chung và trẻ nhập cư nói riêng

b) Nghiên cứu trong nước.

Trẻ em là tương lai của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia và là tương lai cho toàn thếgiới, vì thế sự phát triển toàn diện và tốt nhất của trẻ luôn là sự quan tâm hàng đầu củamỗi quốc gia Cũng chính vì thế có rất nhiều công trình nghiên cứu về trẻ cũng như vềnhững nhu cầu, đời sống (giáo dục, chăm sóc, sức khỏe, dinh dưỡng, vui chơi- giải trí,lao động sớm…) của trẻ Dưới đây là một số công trình nghiên cứu,tài liệu, tạp chíkhoa học, tiểu luận và mà tôi đã tham khảo và rút ra được những quan điểm, cái nhìncủa mỗi tác giả về đề tài trẻ em nhập cư và đời sống của trẻ em nghèo nhập cư

Tại việt Nam tỷ lệ dân nhập cư đang tăng dần qua các năm, theo dự báo cụcthống kê Thành Phố Hồ Chí Minh thì sự di cư từ nông thôn lên các trung tâm, thànhthị chiếm tỉ lệ cào vào năm 1989 là 2,36% và 2004 là 3,60%, theo dự báo cục thống kêThành Phố Hồ Chí Minh Trong đó tỷ lệ trẻ em di cư theo cha mẹ chiếm tới 2/3 là trẻ

có độ tuổi 15 đến 19 đang tham gia lao động và đa số trẻ không được tham gia tiếpcận các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục và vui chơi giải trí Vì thế Đảng và Nhà nước

Trang 17

ta cũng đã có nhiều chính sách quan tâm, hỗ trợ nhằm cải thiện đời sống vật chất cũngnhư đời sống tinh thần cho trẻ em nói chung và trẻ di cư nói riêng.

Đầu tiên phải kể đến đó là công trình nghiên cứu có quy mô trên toàn quốc của

tác giả Đặng Bích Thủy (2010), “Hội nhập kinh tế và những tác động đến thực hiện quyền trẻ em ở Việt Nam”, tạp chí xã hội học, số 1 (109), năm 2010 cho ta thấy được

sự khác nhau cơ bản của trẻ em và trẻ có hoàn cảnh khó khăn tại Việt Nam về các dịch

vụ y tế, dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục…Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiêncứu định lượng và định tính để nghiên cứu nhóm trẻ em và trẻ em có hoàn cảnh khókhăn để thống kê các biến số, thu thập số liệu từ các nguồn và bảng hỏi điều tra về trẻtại Việt Nam Bài viết nhấn mạnh sự bất bình đẳng xã hội, nghèo đói, di cư và các tệnạn xã hội…tất cả là đều liên quan đến việc mở cửa và hội nhập của đất nước Bài viếtcũng trình bày rõ những thuận lợi và thách thức của trẻ em và trẻ em nghèo ở ViệtNam về các dịch vụ như y tế: tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm từ 42%năm 1991 còn 25,2% năm 2005 (Theo báo cáo của viện dinh dưỡng tại Hội nghị Quốc

Tế về dinh dưỡng Hà Nội năm 2008) Về giáo dục: chi tiêu ngân sách cho giáo dục ởViệt Nam tăng gấp 3 lần trong giai đoạn từ 1991 đến 2002 Bên cạnh đó bài viết cũngnêu lên những thách thức từ quá trình toàn cầu ảnh hưởng đến quyền của trẻ gay gắt lànhững rủi ro xuất phát từ sự nghèo đói-nguyên nhân dẫn đến sự thất học và suy dinhdưỡng và các rủi ro về sức khỏe đã ảnh hưởng nghiên trọng đến đời sống của trẻnghèo và trẻ nhập cư Điển hình như trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe gánh nặng tàichính đã chuyển từ Nhà nước sang cho người sử dụng Ước tính khoảng 80% tổng chiphí y tế được chi trả trực tiếp bởi người sử dụng, còn ngân sách Nhà nước chỉ tài trợdưới 15%, phần còn lại được trang trải bởi các tài trợ nước ngoài và các chính sáchbảo hiểm khác (Số liệu của Bộ y tế 2002 Dẫn theo Ari Kokko và cộng sự 2008).Ngoài ra bài viết còn nêu điểm mới ở những thách thức cho tương lai của trẻ em đứngtrước nguy cơ toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng nhanh Bài viết đưa ra khá nhiềukhía cạnh về trẻ em tuy nhiên vẫn chưa đưa ra những lí giải về những số liệu khảo sátđược mà chỉ dừng lại ở việc mô tả, nhận xét số liệu

Cũng với đề tài nghiên cứu tình hình trẻ em tại Việt Nam ta cần phải nhắc đếncông trình nghiên cứu có quy mô toàn quốc của UNICEF Việt Nam (2003), “Báo CáoPhân Tích Tình Hình Trẻ Em Tại Việt Nam 2010” Báo cáo UNICEF Việt Nam,

Trang 18

nghiên cứu được viết dựa trên việc phân tích số liệu điều tra trẻ em Việt Nam vào năm

2010 Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính để thống

kê các biến số, điều tra bảng hỏi và phỏng vấn trẻ dưới 18 tuổi ở Việt Nam và chỉ tậptrung vào trẻ có HCĐB Với bài viết này tác giả đã đưa ra rất nhiều số liệu để chứngminh những tình trạng khó khăn mà trẻ di cư đang gặp phải Trong chương 5 trang

230 có nêu “trẻ em nhập cư phải đối mặt với nguy cơ bị gạt ra ngoài cuộc sống xã hội

do các em không được đăng ký cư trú tại nơi ở mới Thiếu giấy tờ chứng minh tình trạng cư trú khiến cho những trẻ này không tiếp cận được với các dịch vụ công thiết yếu như y tế, giáo dục và thường phải đối mặt với nguy cơ bị bóc lột và xâm hại cao”

mục tiêu của nghiên cứu này là kêu gọi giảm sự bất bình đẳng về khả năng tiếp cậncác dịch vụ của trẻ có HCĐB Nghiên cứu tìm hiểu những nguyên nhân có ảnh hưởngđến quyền của trẻ như các hành vi và giá trị liên quan đến gia đình, truyền thống vàvăn hóa Việt Nam Nghiên cứu mang tính kế thừa nguồn dữ liệu sẵn qua việc phântích thực trạng của trẻ en Việt Nam và phát huy tối đa hơn thông qua việc lí giải vềnhững số liệu đã khảo sát được Tuy nhiên, các chính sách được nêu ra trong bài viếtchưa đồng bộ và nhất quán gây khó khăn cho công tác giải quyết vấn đề và cần thờigian về lâu về dài

Cùng với các nghiên cứu trẻ em di cư về đăng ký cư trú, hộ khẩu cho người

nhập cư có bài viết của tác giả Trần Đan Tâm (2007) “Vấn đề của người nhập cư vào TPHCM”, tạp chí khoa học và xã hội số 04 (104) năm 2007 cho ta một cách nhìn khác

hơn về người di cư dưới góc độ chính sách về đăng ký hộ khẩu Bài viết sử dụngphương pháp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính tập trung khảo sát, thống

kê số liệu ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TPHCM kết hợp với quan sát và phỏngvấn dân nhập cư các vấn đề về y tế, giáo dục, vui chơi giải trí và điều kiện hạ tầng…v.v để cho người đọc có thể hình dung rõ hơn về người nhập cư khi nói về những khókhăn của họ trong đó không thể không nhắc đến vấn đề về đăng ký hộ khẩu tạm trú.Điểm mạnh của bài viết này là tác giả đã nêu ra những thực trạng khó khăn của ngườinhập cư mà họ đang phải gánh chịu với khó khăn trước mắt là việc giải quyết hộ khẩucho dân nhập cư thì cuộc sống của họ sẽ phần nào ổn định hơn Tuy nhiên bài viếtcũng còn một số điểm hạn chế như chỉ chú trọng vào việc đăng ký hổ khẩu cho dânnhập cư (khó khăn trước mắt) nhưng về lâu dài còn có nhiều vấn đề khác chưa được

Trang 19

quan tâm Bên cạnh đó các chính sách pháp luật chưa đồng bộ, ảnh hưởng kinh tế pháttriền không đồng đều khiến cho dân nhập cư chịu rất nhiều khó khăn như việc tiếp cậncác dịch vụ giáo dục: khảo sát cho thấy tỷ lệ trẻ nghỉ học sớm trong nhóm nhập cưtăng nhanh hơn nhóm khác theo cấp lớp, với lý do nghỉ học được nêu ra nhiều nhất làkhó khăn về kinh tế, tiếp theo đó là vì không có hộ khẩu…Về y tế: dân nhập cư quanniệm rằng họ là những người trẻ, khỏe, có sức lao động tốt mới đến thành phố làmviệc nên vấn đề sức khỏe không là khó khăn đối với họ, mặt khác với phương châmtiết kiệm tối đa thời gian cho việc chi cho y tế (cả thời gian và tiền bạc) là “xa xỉ” đốivới người nhập cư Về tiếp cận các dịch vụ đô thị: chính sách nhà nước đã tạo điềukiện tối đa cho người dân nhập cư KT3 về 6 lĩnh vực như học hành, xin cấp điệnnước, làm giấy khai sinh, làm giấy tờ nhà đất và xin việc Một ví dụ minh họa là họcũng còn phải chịu khó khăn không khác gì KT4 như để ngăn chặn tình trạng quá tải

xe máy, cấp quản lý nghỉ ngay đến việc không cho KT3 đăng ký chủ quyền xe, trongkhi trước đó quy định này đã có lần xóa bỏ Hạn chế này đã mang lại không ít phiềntoái cho người nhập cư nói chung và KT3 nói riêng

Nhìn chung dưới góc độ chính sách về đăng ký hộ khẩu thì Nhà nước nên tạođiều kiện dễ dàng cho dân di cư trong việc đăng ký hộ khẩu, cần có các tiêu chí rõràng, dễ hiểu để phần nào giúp cho người di cư có thể nhanh chóng hơn trong việcđăng ký Bên cạnh đó việc đăng ký hổ khẩu cho dân nhập cư (khó khăn trước mắt)nếu được giải quyết thì về lâu dài còn có nhiều vấn đề khác cũng cần được quan tâmnhư chính sách pháp luật cần được đồng bộ để không làm ảnh hưởng đến sự phát triểnkinh tế giữa thành thị và nông thôn thì người di cư sẽ không cần phải chịu nhiều khókhăn thêm nữa

Bên cạnh những việc về đăng ký hộ khẩu, các giấy tờ cho trẻ nhập cư thì việccần phải đảm bảo cho trẻ nhập cư được hưởng các quyền lợi là rất quan trọng Chính

vì thế cần có những nghiên cứu về đảm bảo quyền lợi cho trẻ ở từng khu vực để cócách nhìn chính xác hơn về trẻ nhập cư tại khu vực đó Đối với việc nghiên cứu vềđảm bảo quyền lợi cho trẻ nhập cư phải kể đến bài viết của tác giả Trần Minh Tuấn

(2010) “Đảm bảo quyền lợi lao động di cư hiện nay”, trên tạp chí khoa học -kinh tế xã

hội số 7 năm 2010 trang 24 -27 cho ta thấy được những hạn chế trong việc tiếp cậncác dịch vụ của người dân di cư Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng

Trang 20

để thống kê và thu thập dữ liệu về lao động di cư tại TP HCM Bài viết nêu cókhoảng 30% dân số của TP HCM là người di cư, trong đó có tới 2/3 là lao động trẻ từ

15 đến 19 tuổi chiếm khoảng 70% người di cư vì lý do kinh tế, 41% thay đổi việc làm,30% mong muốn cải thiện điều kiện sống Bài viết trình bày rất nhiều số liệu nghiêncứu về lao động di cư tại TP.HCM nhằm làm tăng tính thuyết phục hơn, bên cạnh đócòn nêu ra được những vấn đề cơ bản đặt ra trong việc đảm bảo quyền lợi của ngườilao động di cư như: thu nhập thấp không được đảm bảo, hạn chế trong việc tiếp cậncác dịch vụ xã hội y tế, giáo dục, vui chơi giải trí, điều kiện nhà ở chật chội, thiếu thốn

và chưa được sự quan tâm của chính quyền sở tại… đã cho ta thấy được phần nàonhững khó khăn mà người di cư đang phải gánh chịu Theo thống kê kết quả khảo sátcủa Bộ Văn hóa -Thể thao và Du lịch về đời sống văn hóa công nhân tại 45 doanhnghiệp ở 13 tỉnh, thành phố cho thấy: 60% công nhân không xem tivi, nghe đài, 85%không đọc sách báo, 80% không tập thể dục thể thao thường xuyên, 65% không cónhu cầu về văn hóa, 65% công nhân không tham gia vào các hoạt động tuyên truyền

và 65% không tham gia vào các hoạt động văn nghệ quần chúng Di cư chẳng nhữngkhông bảo đảm được quyền lợi cho bản thân người di cư mà còn ảnh hưởng đến giađình và con cái của họ Trẻ di cư không được hưởng các quyền lợi để tiếp cận các dịch

vụ xã hội mà cũng không có các dịch vụ về đời sống như vui chơi giải trí để trẻ cóđược một sân chơi lành mạnh Bài viết đề cập đến khá nhiều khía cạnh nhưng chưađưa ra những lí giải về những số liệu khảo sát được mà chỉ dừng lại ở việc mô tả, nhậnxét số liệu

Bên cạnh đó để hiểu rõ hơn về đời sống của dân di cư khác với dân địa phươngnhư thế nào thì ta cần biết được những đặc điểm của người dân di cư Bài viết của tácgiả Đỗ Ngọc Khải nói về những đặc điểm cơ bản của dân di cư sẽ cho ta một cái nhìn

sơ nét về cuộc sống với rất nhiều khó khăn mà dân di cư đang gặp phải và đặc biệt là

trẻ em di cư Theo tác giả Đỗ Ngọc Khải (2009) ”kết quả khảo sát nghèo đô thị tại Hà Nội và TP HCM năm 2009: Những đặc điểm cơ bản của nhóm di cư”, trên tạp chí

khoa hoc -kinh tế xã hội số 12 năm 2010 trang 15 -18 nêu về sự khác nhau của việctiếp cận các dịch vụ của dân di cư và dân thường trú Bài viết sử dụng phương phápnghiên cứu định lượng và định tính để thống kê, thu thập thập số liệu dân di cư tại HàNội và TP HCM kết hợp với quan sát và phỏng vấn dân di cư về các dịch vụ tiếp cận

Trang 21

của họ Bài viết thu thập thông tin, số liệu về đời sống kinh tế của người di cư tácđộng trực tiếp đến việc tiếp cận các dịch vụ: giáo dục, y tế, việc làm,….để thấy được

sự khác biệt của người dân thường trú và người di cư thông qua việc tiếp cận các dịch

vụ đó Bài viết cho ta thấy được việc tiếp cận các dịch vụ giáo dục và y tế của dân di

cư kém hơn so với dân địa phương như về giáo dục: trẻ di cư đa số không được đến

trường kể cả trường bán công vì lý do thiếu điều kiện và hồ sơ Về y tế: “hộ nghèo và

hộ cận nghèo là dân di cư tuy được chính quyền địa phương quan tâm hỗ trợ, tạo điều kiện khám chữa bệnh nhưng việc tiếp cận dịch vụ y tế của họ vẫn hạn chế hơn dân thường trú Tính chung còn 56,6% dân di cư chưa có BHYT do họ chưa biết về BHYT, không biết mua BHYT ở đâu (21,9%), do không có hộ khẩu (16,3%), do thiếu tiền (18,5%) Điểm hạn chế của bài viết này là chỉ nêu ra các chính sách giải quyết nhưng

không thống nhất làm cho việc giải quyết vấn đề còn gặp nhiều trở ngại

Qua các bài viết trên ta có thể cơ bản thấy được phần nào về đời sống của ngườinhập cư thông qua việc tiếp cận các dịch vụ là rất khó khăn, với những số liệu cụ thểđược điều tra ở 2 nơi Hà Nội và TP.HCM Cùng với tỷ lệ dân di cư ngày càng đông

mà đa phần là trình độ học vấn và chuyên môn thấp nên dân di cư phải chịu nhiềuthiếu hụt hơn so với dân thường trú về việc tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục và vuichơi giải trí dành cho trẻ Trẻ em nhập cư đang ngày càng thiếu đi những sân chơilành mạnh dành cho lứa tuổi mẫu giáo, tiểu học…v.v, những khu vui chơi thiếu nhi,các công viên công cộng dần ngày một ít Vì thế cần có các công trình nghiên cứu đểchỉ ra sự thiếu hụt sân chơi dành cho trẻ em nói chung và trẻ nhập cư đến các thànhphố lớn nói riêng Một trong các nghiên cứu đó là bài viết của nhóm tác giả Nguyễn

Văn Tiên, Nguyễn Hoàng Mai (2006) “ Di dân đến các thành phố lớn ở Việt Nam: Những vấn đề thực tiễn và chính sách”, Xã hội học số 3 (95) năm 2006 nói về thực

trạng việc tiếp cận các dịch vụ về đời sống của người di cư về các lĩnh vực y tế, giáodục và vui chơi giải trí ở hai đô thị lớn là Hà Nội và TP.HCM Bài viết sử dụngphương pháp nghiên cứu định lượng và định tính để khảo sát và thống kê số liệu kếthợp với quan sát, phỏng vấn nhóm người di cư về thực trạng tiếp cận các dịch vụ vàđời sống của họ Về y tế: do thiếu kiến thức và thu nhập thấp nên người di cư đếnkhám tại các cơ sở rất hạn chế, đa phần tự mua thuốc về nhà chữa trị.Về giáo dục: trẻ

di cư chịu nhiều thiệt thòi hơn trẻ thường trú do không có hộ khẩu thường trú và thu

Trang 22

mức phí cao nên nguy cơ dẫn đến bỏ học là điều có thể xảy ra Về vui chơi giải trí: đờisống văn hóa tinh thần đối với trẻ di cư còn rất nhiều hạn chế, thiếu hụt nhất là cơ sởvăn hóa, sinh hoạt thể thao, vui chơi giải trí…nguyên nhân chủ yếu là do thiếu sótngay từ khu quy hoạch các doanh nghiệp, KCN…và chính quyền cũng không quantâm nhiều đến các dịch vụ vui chơi giải trí nơi đây, đặc biệt là cho các trẻ nhập cư Bên cạnh những khó khăn mà người di cư đang phải gánh chịu ta không thểkhông phủ nhận những thuận lợi mà di cư mang lại như người di cư đóng góp khôngnhỏ cho sự phát triển kinh tế của bản thân người di cư, của gia đình họ cũng như thúcđẩy nền kinh tế của đất nước Di cư đông góp phần thúc đẩy phát triển các ngành dịch

vụ, công nghiệp khác phát triển theo, góp phần trao đổi kinh tế, văn hóa và kỹ thuậtgiữa vùng đô thị và nông thôn, khuyến khích trao đổi sản phẩm hàng hóa ở hai nơi,góp phần quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo Bên cạnh đó còn rất nhiều khókhăn như: luồng di cư đông, gia tăng dân số không đồng đều tạo sức ép tác động tiêucực đến đời sống con người Người dân di cư đến các đô thị lớn ngày càng đông nêncần phải có các chính sách pháp luật để phân bố dân cư đồng đều và hưởng đầy đủquyền lợi….Nhìn chung trẻ di cư luôn phải chịu thiệt thòi trong việc di chuyển, thíchnghi và làm quen với môi trường mới, việc tiếp cận đến các dịch vụ giành cho ngườinhập cư cũng không được đáp ứng một cách đầy đủ do nhiều yếu tố tác động như: vănhóa, môi trường, ngôn ngữ, trình độ học vấn, độ tuổi, giới tính, màu da… tác độngqua lại lẫn nhau khiến cho người nhập cư đang phải đối mặt với rất nhiều khó khănđặc biệt là trẻ em nhập cư

Qua các công trình nghiên cứu, tài liệu, tiểu luận tạp chí khoa học trên đây đãcho thấy thực trạng việc tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục và vui chơi giải trí của trẻnhập cư vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn Các nghiên cứu và bài viết đã đưa ra mộtcách nhìn cụ thể về việc tiếp cận các dịch vụ của trẻ nhập cư, đặc biệt quan tâm đếncác chính sách dành cho trẻ em nói chung và trẻ nhập cư nói riêng để có thể phần nào

hỗ trợ trẻ, giúp trẻ phát triển tốt hơn trong cuộc sống Các bài nghiên cứu đa phần đều

sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính để thống kê, thu thập dữliệu, phỏng vấn và điều tra bảng hỏi về chủ đề cần nghiên cứu Tuy nhiên các giảipháp mà nghiên cứu đưa ra vẫn chưa thống nhất về các chính sách, ngoài ra nghiêncứu chỉ đề cập đến những số liệu thống kê nhưng phần lớn vẫn chưa lý giải những con

Trang 23

số khảo sát và nhận xét số liệu Với đề tài “Khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục

và vui chơi giải trí của trẻ nhập cư Thành Phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Nghiên cứu trường hợp tại lớp học tình thương phường Phú Cường TP Thủ Dầu Một” đề tài không những tìm hiểu những mục tiêu thực trạng tiếp cận các dịch vụ,

Dương-những thuận lợi khó khăn của trẻ nhập cư mà còn giải thích Dương-những số liệu thống kê từphương pháp nghiên cứu có được để phần nào làm cho đề tài được sáng và mới mẻhơn

4 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.

5 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.

a) Đối tượng, khách thể nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: khả năng tiếp cận

dịch vụ về y tế, giáo dục và vui chơi giải trí của trẻ nhập cư

Trang 24

Khách thể nghiên cứu: trẻ nhập cư phường Phú Cường và hiện đang theo họclớp học tình thương phường Phú Cường

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

- Phương pháp nghiên cứu trong đề tài nghiên cứu này tôi sử dụng phương phápnghiên cứu định tính

- Phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm quan sát, phỏng vấn sâu để tìmhiểu rõ và cụ thể hơn về thực trạng về khả năng tiếp cận các dịch vụ về y tế, giáo dục

và vui chơi giải trí của trẻ ở lớp học tình thương phường Phú Cường

Công cụ thu thập thông tin được sử dụng trong phương pháp nghiên cứu địnhtính gồm: biểu đồ tháp nhu cầu Maslow để tìm hiểu rõ hơn về khả năng tiếp cận cácdịch vụ của trẻ nhập cư đang theo học trên địa bàn phường hiện nay

Trang 25

Công cụ quan sát: tôi sử dụng phương pháp này để thu thập thông tin từ

thực tế thông quá quá trình quan sát tại nhà trẻ, môi trường trẻ tiếp xúc như: lớp học,bạn bè, các mối quan hệ xung quanh v.v để hiểu rõ hơn về đời sống của trẻ

Công cụ phỏng vấn được sử dụng để thu thập thông tin chi tiết về những

người được phỏng vấn như: trẻ nhập cư đang theo học nơi đây, phụ huynh hay ngườitrực tiếp đứng ra nuôi dưỡng trẻ (ba và mẹ), cán bộ đoàn viên phụ trách lớp học vàngười dân hàng xóm sống trong nhóm nhập cư nơi trẻ đang sống để từ đó có thể hiểu

rõ hơn về cộng đồng cũng như những nhu cầu về đời sống của trẻ nhập cư

Chọn mẫu phỏng vấn sâu: phương pháp được sử dụng là chọn mẫu

không xác suất dựa trên sự phán đoán

Xác định cỡ mẫu: do các hạn chế trong nghiên cứu nên tôi xác định cỡ

mẫu phỏng vấn sâu theo phương pháp ước lượng cỡ mẫu: trong đó số mẫu cần có củaphỏng vấn sâu là 13 mẫu, bao gồm: 6 mẫu là người thân trẻ nhập cư đang học ở lớphọc, 3 mẫu trẻ nhập cư, 1 mẫu đoàn viên dạy lớp học, 1 mẫu là cán bộ trực tiếp quản

lý lớp học, 1 mẫu là người dân hàng xóm và 1 mẫu là trưởng khu phố nơi trẻ đangsống

Phân bố mẫu phỏng vấn sâu: 3 mẫu là ba của trẻ nhập cư; 3 mẫu là mẹ

của trẻ nhập cư; 3 mẫu trẻ nhập cư; 1 mẫu trưởng khu phố nơi trẻ đang cư trú; 1 mẫuban giám hiệu lớp học; 1 mẫu cán bộ trực tiếp lớp học; 1 mẫu dân hàng xóm

Cách thức phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp cá nhân được lựa chọn vào

mẫu nghiên cứu

Biểu đồ tháp nhu cầu của Maslow: nhằm cho chúng ta thấy rõ những

nhu cầu nhất định của con người theo từng cấp và cần được đáp ứng như thế nào đểmột cá nhân có thể hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinhthần

7 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU.

- Thực trạng trẻ nhập cư ở lớp học tình thương phường Phú Cường trong việctiếp cận các dịch vụ về y tế, giáo dục và vui chơi giải trí như thế nào ?

- Những thuận lợi và khó khăn của trẻ nhập cư ở lớp học tình thương phườngPhú Cường khi tiếp cận các dịch vụ về y tế, giáo dục và vui chơi giải trí ?

Trang 26

8 CẤU TRÚC ĐỀ TÀI.

Mở đầu

Chương 1 Cơ sở lý luận

Chương 2 Thực trạng việc tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục và vui chơi giải trí của trẻ nhập cư qua ba trường hợp điển cứu

Chương 3 Thảo luận về kết quả nghiên cứu

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

PHẦN 2: NỘI DUNG

Trang 27

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Di cư –Nhập cư

Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc (1958) về di dân (migration) thì: di dân là

một hình thức di chuyển trong không gian của con người từ một đơn vị địa lý hànhchính này đến một đơn vị địa lý hành chính khác, kèm theo sự thay đổi chỗ ở thườngxuyên trong khoảng thời gian di dân xác định Như vậy di dân hay di cư bao gồm haiquá trình: xuất cư và nhập cư

Xuất cư (emigration): là quá trình chuyển đi của dân cư từ một vùng hay một

quốc gia này sang một vùng hay một quốc gia khác để sinh sống thường xuyên hoặctạm thời (trong một khoảng thời gian dài)

Nhập cư (immigration): là quá trình chuyển đến của dân cư từ một vùng hay một

quốc gia khác để sinh sống thường xuyên hay tạm thời (trong một khoảng thời giandài)

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam về di cư: Sự di cư của người là sự thay đổi

chỗ ở của các cá thể hay các nhóm người để tìm chỗ ở tốt hơn, phù hợp hơn nơi ở cũ

để định cư

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam về nhập cư: Nhập cư là hành động di chuyển

chỗ ở đến vào một vùng hay một quốc gia mới Dân nhập cư là người dân di chuyển

Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì trẻ em di cư: là trẻ em rời nơi

cư trú ban đầu của mình để đến một nơi cư trú mới cách xa nơi cư trú ban đầu Thuậtngữ này được sử dụng vừa để chỉ những trẻ em di cư từ quốc gia này sang quốc giakhác lẫn các em di cư từ nông thôn ra sống ở thành thị; những trẻ em không có nơi cư

Trang 28

trú ổn định và thường di chuyển từ nơi này sang nơi khác.Trẻ em có thể trở thành di

cư theo quyết định của cha mẹ hoặc người chăm sóc hoặc chính trẻ em tự quyết địnhhoặc cùng với các trẻ em khác quyết định thay đổi nơi cư trú Nhóm trẻ này dễ bị xâmhại do thiếu sự hỗ trợ từ các mạng lưới dựa vào cộng đồng Các em thường khôngđược đến trường, dễ trở thành trẻ em lang thang (mặc dù các em có thể vẫn sống cùnggia đình) và bị bóc lột lao động hoặc tình dục

Trong đề tài này tôi hiểu trẻ em di cư theo định nghĩa của Luật Bảo vệ, chăm sóc

và giáo dục trẻ em

1.1.4 Dịch vụ xã hội

Dịch vụ xã hội được Liên hợp quốc định nghĩa như sau: Dịch vụ xã hội cơ bản

là các hoạt động dịch vụ cung cấp những nhu cầu cho các đối tượng nhằm đáp ứngnhững nhu cầu tối thiểu của cuộc sống

Dịch vụ xã hội cơ bản được chia thành 4 loại chính

Dịch vụ đáp ứng những nhu cầu vật chất cơ bản: Việc ăn uống, vệ sinh,

chăm sóc, nhà ở….mọi đối tượng yếu thế là trẻ em, người tàn tật mất khả năng laođộng đều phải được đáp ứng nhu cầu này để phát triển về thể lực

Dịch vụ y tế: Bao gồm các hình thức khám chữa bệnh, điều dưỡng phục

hồi chức năng về thể chất cũng như tinh thần cho các đối tượng

Dịch vụ giáo dục: Trường học, các lớp tập huấn, đào tạo kỹ năng sống,

các hình thức giáo dục hoà nhập, hội nhập và chuyên biệt…

Dịch vụ về giải trí, tham gia và thông tin: Đây là loại hình dịch vụ xã

hội rất quan trọng đối với các đối tượng thuộc nhóm đối tượng công tác xã hội, hoạtđộng giải trí như văn nghệ, thể thao,… nâng cao sự tự tin, đẩy mạnh hoà nhập tốt hơnvới cộng đồng, nâng cao sự hiểu biết, kiến thức cho đối tượng…

Trong đề tài này tôi hiểu dịch vụ xã hội là hoạt động cung cấp, đáp ứng nhu cầucho các cá nhân, nhóm người nhất định nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xãhội

1.1.5 Nhu cầu

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con

người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để

Trang 29

tồn tại vă phât triển Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểmtđm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khâc nhau.

Theo quan niệm của Mâc: “Nhu cầu lă đòi hỏi khâch quan của mỗi con người

trong những điều kiện nhất định, đảm bảo cho sự sống vă phât triển của mình”

Theo quan điểm A.Maslow chia nhu cầu thănh 5 loại:

1 Nhu cầu vật chất (sinh lý): thức ăn, không khí, nước uống…

2 Nhu cầu an toăn (bảo vệ): nhă ở, việc lăm, sức khoẻ…

3 Nhu cầu giao tiếp xê hội : Tình thương yíu, được hoă nhập

4 Nhu cầu được tôn trọng: Được chấp nhận có một vị trí trong một nhómngười…

5 Nhu cầu tự khẳng định mình: Nhu cầu hoăn thiện, được thể hiện khảnăng vă tiềm lực của mình

Trong đề tăi năy tôi hiểu nhu cầu theo quan điểm của Maslow với 5 loại nhu cầuđược phđn chia từ cấp thấp cho đến cấp cao

1.1.6 Khâi niệm KT3 – KT4

Theo luật dđn sự (năm 2006) thì KT3: lă sổ tạm trú dăi hạn ở một tỉnh, thănh

phố trực thuộc Trung ương khâc với nơi đăng ký thường trú Ví dụ: Công dđn có hộkhẩu thường trú ở tỉnh Khânh Hòa nhưng hiện sinh sống ở TP.HCM, khi đăng ký tạmtrú dăi hạn ở TP.HCM thì giấy đăng ký năy chính lă KT3

Vă theo luật dđn sự (năm 2006) thì KT4: lă sổ tạm trú ngắn hạn ở một tỉnh, thănh

phố trực thuộc Trung ương với nơi đăng ký thường trú Trường hợp năy tương tự KT3nhưng thời hạn đăng ký tạm trú ngắn hơn (có thời hạn nhất định, Theo Luật cư trú sửađổi 2013 thì thời hạn của sổ tạm trú tối đa chỉ lă 24 thâng Từ ngăy 28/10/2014, Thông

tư 35/2014/TT-BCA hướng dẫn về tạm trú, thường trú chính thức có hiệu lực Nhưvậy, Sổ tạm trú dăi hạn cũng chỉ có giâ trị tối đa lă 24 thâng)

1.2 Câch tiếp cận trong nghiín cứu.

1.2.1 Thuyết nhu cầu

Nhă tđm lý học Abraham Maslow (1908- 1970) Ông lă một nhă Tđm lý học nổitiến người Mỹ Ông lă một người đâng chú ý nhất với sự đề xuất về Thâp nhu cầu vẵng được xem lă cha đẻ của chủ nghĩa Nhđn văn trong Tđm lý học

Trang 30

Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu củacon người vào những năm 1950 Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầunhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đếncuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần.

Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của conngười bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu Ông đã đem các loạinhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinhtrước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của conngười tư thấp đến cao

Sơ đồ tháp nhu cầu của Abraham Maslow

Tháp nhu cầu của Maslow

(Nguồn: An sinh nhi đồng và gia đình- Nguyễn Thị Nhẫn, Huỳnh Minh Hiền)

Những nhu cầu về sinh lý (nhu cầu cấp thấp nhất, cơ bản nhất của con người): lànhững nhu cầu cần thiết và tối thiểu nhất đảm bảo cho con người tồn tại như ăn, uống,mặc, tồn tại và phát triển nòi giống và các nhu cầu của cơ thể khác

Những nhu cầu được bảo vệ (nhu cầu cấp thấp thứ hai): là những nhu cầu về antoàn, không bị đe dọa về tài sản, công việc, sức khoẻ, tính mạng và gia đình

Những nhu cầu về xã hội (nhu cầu cấp cao): là những nhu cầu về tình yêu, đượcchấp nhận, bạn bè, mong muốn được tham gia vào một tổ chức hay một đoàn thể nàođó

Những nhu cầu được tự trọng (nhu cầu cấp cao): là những nhu cầu về, tôn trọngngười khác, được người khác tôn trọng, tự đánh giá và được tổ chức đánh giá;

Nhu cầu được bảo vệNhu cầu sinh lý

Nhu cầu được tôn trọngNhu cầu xã hội

Tự khẳng định mình

Trang 31

Những nhu cầu về tự khẳng định (nhu cầu cấp cao nhất): là những nhu cầu vềchân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, hài hước, mong muốn phát triển toàn diện cả về thểlực và trí tuệ

Maslow đã chia các nhu cầu thành 2 cấp: cấp cao và cấp thấp:

- Cấp thấp gồm các nhu cầu sinh lý và được bảo vệ

- Cấp cao gồm các nhu cầu xã hội, tự trọng và tự thể hiện

Sự khác biệt giữa hai loại này là chúng thoả mãn từ bên trong và bên ngoài củacon người

Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn

có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhucầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này,

họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sốnghàng ngày

Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao Nhữngnhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, vui

vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân v.v

Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậccao này Khi con người được thoả mãn bậc dưới đến một mức độ nhất định thì tự nónảy sinh các nhu cầu bậc cao hơn Ví dụ: Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếuuống họ sẽ không quan tâm đến các nhu cầu về vẻ đẹp, sự tôn trọng

1.2.2 Ứng dụng của lý thuyết nhu cầu.

Theo tháp nhu cầu của Maslow thì nhu cầu được chia thành 2 dạng là nhu cầucấp thấp và nhu cầu cấp cao Theo đó nhu cầu cấp thấp bao gồm nhu cầu sinh lý vànhu cầu được bảo vệ Nhu cầu sinh lý (physiological needs) còn được gọi là nhu cầucủa cơ thể (body needs), bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống,ngủ, không khí để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái,…đây lànhững nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người

Ông bà ta cũng đã sớm nhận ra điều này khi cho rằng: “Có thực mới vực đượcđạo”, cần phải được ăn uống, đáp ứng nhu cầu cơ bản để có thể hoạt động, vươn tớinhu cầu cao hơn Chúng ta có thể kiểm chứng dễ dàng điều này khi cơ thể không khỏemạnh, đói khát hoặc bệnh tật, lúc ấy, các nhu cầu khác chỉ còn là thứ yếu Chính vì thế

Trang 32

mà người ta cần đến sự bảo vệ, sự ổn định trong cuộc sống, sống trong xã hội có phápluật, có nhà cửa để ở,… Các chế độ bảo hiểm xã hội, chăm sóc sức khỏe, chế độ dinhdưỡng để thể hiện sự đáp ứng nhu cầu an toàn này.

Thang bậc nhu cầu cũng được áp dụng có hiệu quả trong việc giáo dục trẻ em

Từ nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí cho đến sự phát triển lành mạnh của trẻ như các yếu tốdinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe và giáo dục Trong khi vui chơi, trẻ có thể tự sắm vai,

tự do hoạt động và làm theo những gì mình thích thì các em sẽ có một tư duy rộng mởhơn Có cơ hội tiếp xúc với các môi trường xung quanh để mở mang tri thức Từ đócác em sẽ có được những cơ hội trải nghiệm với thực tế, rèn luyện bản thân để đápứng linh hoạt với các tình huống đó Thông qua đó trẻ em cũng thể phát triển tốt vềthể lực cụng như trí lực của mình

Ngoài việc tạo ra sân chơi lành mạnh cho các em thì việc các em được học, đượctiếp thu và được giáo dục như thế nào để đáp ứng các mặt cơ bản của con người Việc

áp dụng lý thuyết nhu cầu trong giáo dục giúp cho gia đình và nhà trường có thể nắmbắt được tâm lí của trẻ, sự khó khăn, thiếu hụt của trẻ đang gặp phải ở vị trí nào trongtổng quan tháp nhu cầu để có những thay đổi, điều chỉnh và rút ra những phương phápgiáo dục phù hợp nhất nhằm phát huy tối đa tiềm năng của trẻ Với mục tiêu cuối cùng

là đảm bảo cho các trẻ đều được phổ cập giáo dục nhằm cho các trẻ có cơ hội khámphá, rèn luyện và phát triển tốt nhất mọi tiềm năng của trẻ

Mỗi con người đều có những nhu cầu nêu trên để tồn tại và duy trì sự sống.Cũng như người lớn, trẻ em cũng có những nhu cầu trên để tồn tại và phát triển.những nhu cầu trên đều đi theo một trình tự nhất định, khi được thỏa mãn những nhucầu cơ bản nhất như ăn, uống, ngủ, nghỉ, hít thở… thì con người mới bắt đầu xuất hiệnnhững nhu cầu cao hơn Tuy nhiên nếu những nhu cầu cơ bản nhất của con người nóichung và đặc biệt là trẻ em nói riêng không được đáp ứng thì sức khỏe, tâm lý và nhâncách của trẻ sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều đặc biệt là đối với trẻ nhập cư

Trang 33

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y TẾ, GIÁO DỤC VÀ VUI CHƠI GIẢI TRÍ CỦA TRẺ NHẬP CƯ QUA BA TRƯỜNG HỢP ĐIỂN CỨU CA

2.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu phường Phú Cường.

Phường Phú Cường là phường trung tâm của thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh BìnhDương và là địa danh có lịch sử lâu đời với nhiều di tích lịch sử từ thời Pháp thuộc.UBND tỉnh nằm trên đồi xưa kia cũng là khu hành chính của thực dân Pháp thời xưa.Cùng ngay gần đó là khu chợ Thủ Dầu Một, là chợ lớn nhất Bình Dương cũng đượchình thành từ thời đó (đã phá bỏ xây lại chợ mới do xuống cấp) Vì phường là trungtâm tỉnh từ thời cai trị của thực dân Pháp nên bây giờ vẫn còn rất nhiều các kiến trúcphương Tây cổ xưa Thời Việt Nam Cộng hòa Phú Cường là xã trung tâm của quận lịChâu Thành với 5 ấp: Bộng Dầu, Chánh, Chánh Trong, Chánh Ngoài và Chợ

Phú Cường cũng là phường có diện tích nhỏ nhất 244,89 ha.

Số hộ gia đình 5.639 (theo tài liệu báo cáo dân số của phường Phú Cường năm

2014.) với số dân 23.344 nhân khẩu đông nhất trong các phường xã của Thủ Dầu Một

và cũng là nơi buôn bán sầm uất nhất ở Thủ Dầu Một nói riêng cũng như Bình Dương nói chung

Tổ chức hành chính: Phường Phú Cường gồm 14 khu phố với 100 tổ dân phố

Trang 34

Giao thông: những tuyến đường giao thông chính như đường Cách Mạng Tháng

Tám, đường Bạch Đằng (chợ Hoa Xuân), đường Quang Trung (tập trung nhiều trungtâm hành chính), đường BS Yesin (con đường tơ lụa), đường Điểu Ông , Nguyễn TháiHọc (đường chợ chính) và một số tuyến đường khác có thể thông qua một số địa bànlân cận của Phường khác

Vị trí địa lý:

 Phía Đông giáp với phường Phú Hòa, Phú Lợi

 Phía Tây giáp với xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi, Thành Phố HCM

 Phía Nam giáp với phường Chánh Nghĩa

 Phía Bắc giáp với phường Hiệp Thành

 Phía Tây Bắc xã Chánh Mỹ

 Phía Đông Nam phường Phú Thọ

Sơ đồ địa bàn nghiên cứu (phường Phú Cường).

(Nguồn: http://bandotructuyen.com )

2.2 Lớp học tình thương phường Phú Cường

Trang 35

Với mục đích đem đến con số cái chữ đến những trẻ nhập cư, những trẻ emnghèo có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn phường Ủy ban phường chỉ đạo trực tiếpđoàn thanh niên phường Phú Cường tham gia giúp đỡ, hỗ trợ các em bằng cách mở

mô hình “lớp học tình thương phường Phú Cường” để các em có được một mội trườnghọc tập và vui chơi lành mạnh

Lớp học được thành lập từ ngày 5/1/2015 tính đến nay cũng đã được 1 năm đivào hoat động Với mục tiêu là giúp các em biết đọc biết viết để sau này có thể họctiếp văn hóa vì đa phần các bé ở đây trình độ chỉ ở mức mẫu giáo và lớp 1 Lý do làcác em hầu hết không có hộ khẩu, giấy khai sinh ở địa phương nên không thể theo học

ở những lớp chính quy của nhà nước mà phải theo cha mẹ đi tìm kế sinh nhai

Thời gian đầu đi vào hoạt động lớp gặp khá nhiều vấn đề khó khăn do gia đìnhquan niệm không cần phải đi học chữ, các em chỉ cần theo ba mẹ đi làm ăn kinh tế.Nhưng sau khi được các bạn đoàn viên, cán bộ phụ trách lớp học hướng dẫn và giảithích thì phụ huynh cũng đã có khuynh hướng thay đổi dần Các bé được sự vận động

từ chính quyền địa phương đến cha mẹ của các em, đoàn viên thanh niên trực tiếp đi

rà xót danh sách, đến từng hộ gia đình vận động các em đi đến lớp đề theo học lại từđầu Lớp học tình thương được xây dựng trên mảnh đất của ủy ban cấp cho và vậnđộng bàn ghế, sách vở từ những trường học trong địa bàn và các mạnh thường quângiúp đỡ cùng với giáo viên, tình nguyện viên cũng là những cô giáo, anh chị có tâmhuyết và yêu thương và muốn giúp đỡ các bé Lớp học không chỉ dạy cho các em họcchữ mà qua đó còn lồng ghép những buổi sinh hoạt ngoại khóa, kể chuyện, văn nghệ

và trò chơi vận động để khuyến khích các em thêm hứng thú học tập Ngoài ra, thì vàocác dịp lễ, tết cũng tổ chức cho các em vui chơi và tặng quà như Quốc tế thiếu nhi 1/6,đêm hội trăng rằm 15/8 âm lịch và tết…

Các bé ở đây đa phần là con của những người dân lao động nghèo đang sốngtrọ trên địa bàn phường mà không có hộ khẩu và giấy khai sinh cho các bé đến lớpđược Và từ đó lớp học tình thương đã được hình thành để cho các bé có thể đến lớphọc tập và vui chơi bên cạnh sự chung tay giúp đỡ của nhiều người Thời gian học là 3buổi/ tuần, thứ 2,4,4 từ 18h đến 20h mỗi buổi Qua một năm đi vào hoạt động thì tỉ sốlớp cũng đã dần ổn định là 15 em, trong đó độ tuổi nhỏ nhất là 6 tuổi và lớn nhất là 15tuổi

Trang 36

Lớp học tình thương hình thành cũng là một môi trường tốt cho các trẻ nhập cưnơi đây học tập và vui chơi trong những giờ phút rãnh rỗi Bên cạnh đó nó có thể giúpcho các em có thể tránh xa các môi trường xấu và tệ nạn xã hội như hiện nay

vụ, chăm sóc và giáo dục Đặc biệt là với nhóm trẻ nhập cư, chính vì vậy có khá nhiềuchương trình được đề ra thực hiện Đây là một số chương trình tiêu biểu và sát với nộidung đề tài

2.3.2 Chương trình hành động Vì trẻ em Bình Dương GĐ 2013-2020 Mục đích

Xây dựng môi trường sống an toàn, thân thiện và lành mạnh để thực hiện tốt hơncác quyền trẻ em Từng bước giảm khoảng cách chênh lệch về điều kiện sống của cácnhóm trẻ em và trẻ em giữa các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Nâng cao chấtlượng cuộc sống và tạo cơ hội phát triển bình đẳng cho mọi trẻ em

Đối tượng, phạm vi và thời gian

Đối tượng: Trẻ em, ưu tiên trẻ có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ sống trong khu nhà trọ.Phạm vi: Chương trình thực hiện trên toàn tỉnh

Thời gian: Thực hiện từ năm 2013 đến năm 2020 Năm 2015 tổ chức sơ kết giữa

kỳ và năm 2020 tổ chức tổng kết Chương trình

Các hoạt động chủ yếu của chương trình

Truyền thông, giáo dục, vận động xã hội để nâng cao nhận thức và chuyển đổihành vi thực hiện quyền của trẻ em

Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch BVCS & GDTE

Rà soát, nghiên cứu, đề xuất, bổ sung pháp luật, chính sách liên quan đến côngtác BVCS & GDTE và thực hiện quyền trẻ em

Khuyến khích và vận động các tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức

xã hội, tổ chức nghề nghiệp, gia đình, người dân và trẻ em tham gia BVCS & GDTE;

Trang 37

cung cấp dịch vụ BVCS & GD, vui chơi, giải trí, thể thao, du lịch, thông tin và truyềnthông cho trẻ em Gia đình và cộng đồng có trách nhiệm tham gia thực hiện các quyềncủa trẻ em, tạo mọi điều kiện cho trẻ em được học tập, chăm sóc sức khỏe, vui chơi,giải trí; tạo cơ hội, điều kiện thuận lợi cho trẻ em chủ động tham gia các hoạt độngBVCS & BVTE và các hoạt động khác phù hợp với lứa tuổi Củng cố, kiện toàn quỹbảo trợ trẻ em để tăng cường vận động các nguồn lực thực hiện Chương trình ưu tiênTECHCĐB.

Củng cố hệ thống tổ chức, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tácbảo vệ, chăm sóc trẻ em ở các cấp, kiện toàn mạng lưới cộng tác viên, tình nguyệnviên BVCSTE ở cơ sở

Phường Phú Cường cũng đã thực hiện các hoạt động trên hằng năm đều tổ chứccác cuộc thi tim hiểu về chăm sóc sức khỏe cho các hộ gia đình tham gia, phổ biếnpháp luật cho người dân và cho trẻ em thông qua các hoạt động lồng ghép sinh hoạtđoàn cơ sở do chính các anh chiến sĩ công an tại phường thực hiện Bên cạnh đó còn

có rất nhiều các hoạt động bổ ích khác như: khám và phòng ngừa các bệnh cho bà mẹđang mang thai, khám sức khỏe tiền hôn nhân cho cả nam và nữ để có thể phòng ngừakịp thời Hằng năm đều tổ chức tim các đợt vắc xin phòng ngừa cho trẻ dưới 6 tuổi

Tổ chức các cuộc triển khai, tuyên truyền cho người dân buôn bán giữ gìn vệ sinh antoàn thực phẩm để bảo vệ quyền lợi cho người dân cũng như cho các trẻ emnhỏ….v.v Thông qua các hoạt động trên phường Phú Cường muốn đảm bảo chấtlượng sống cho trẻ em, giảm đi sự chênh lệch về khoảng cách và độ tuổi của các em.Nhằm hướng đến nâng cao chất lượng về cuộc sống cho người dân nói chung và trẻ

Đối tượng, phạm vi và thời gian

Trang 38

Đối tượng: Trẻ em, ưu tiên TECHCĐB, trẻ có nguy cơ cao rơi vào HCĐB, trẻ

em bị xâm hại, trẻ em bị bạo lực Người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18tuổi vi phạm pháp luật

Phạm vi: Chương trình được thực hiện trên phạm vi toàn tỉnh; ưu tiên địaphương có nhiều TECHCĐB và trẻ có nguy cơ cao rơi vào HCĐB tại 30 xã, thị trấncủa 7 huyện, thị xã

Thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2015

Các dự án của chương trình

Dự án truyền thông, giáo dục và vận động xã hội

Dự án nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ

em, tình nguyện viên tham gia công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Dự án xây dựng và phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em

Dự án xây dựng và nhân rộng các mô hình trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệtdựa vào cộng đồng

Dự án nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Phú Cường đã thực hiện chương trình này và đã kết thúc năm 2015, chương trìnhthành công trong năm vừa rôi Có thể nói các dự án của chương trình này đã giúp đỡkhông ít TECHCĐB có được nơi ăn uống nghỉ dưởng và không còn phải gặp nhiềukhó khăn vất vả trong cuộc sống Năm qua không những Uỷ ban phường nói chung

mà đoàn thanh niên phường nói riêng đã giúp đỡ hơn 200 trường hợp trẻ em có hoàncảnh cơ nhở, trẻ đi lạc gia đình và tìm được về người thân Những trẻ em có HCĐBthì được nhận học bổng Lương Thế Vinh, thắp sáng ước mơ và trẻ em nghèo hiếu họcnhận được phần quà và học bổng này phần nào giúp đỡ các em vượt qua khó khăn và

có nghị lực sống tiếp cùng với gia đình Ngoài ra còn có Uỷ ban phường vẫn còn đangduy trì lớp học tình thương vào buổi tối để giúp cho các trẻ nhập cư có một môitrường học tập an toàn và lành mạnh Tuy chương trình này đã kết thúc nhưng môhình hoạt động của lớp học tình thương vẫn còn đang tiếp diễn cho đến thời điểm hiệntại vì đây là mô hình ý nghĩa và có thể sẽ giúp đỡ trẻ em trong những giai đoạn kếtiếp

2.3.4 Kế hoạch liên ngành về công tác BVCS&GDTE giữa Sở Lao động Thương Binh – xã hội và Sở Giáo dục & Đào tạo tỉnh BD GĐ 2014 – 2020.

Trang 39

Mục đích

Tăng cường phối hợp chỉ đạo và triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị CT/TW ngày 5/11/2012 của Bộ Chính trị (khóa XI) về tăng cường sự lãnh đạo củaĐảng đối với công tác BVCS & GDTE trong tình hình mới; các nhiệm vụ BVCS &GDTE và thực hiện quyền của trẻ em của hai ngành nhằm xây dựng môi trường antoàn, thân thiện, đảm bảo cơ hội học tập và phát triển bình đẳng cho mọi trẻ em trênđịa bàn tỉnh

20-Đối tượng, Phạm vi, thời gian.

Thời gian, phạm vi:

Giai đoạn I (2014-2015): Triển khai tại thành phố Thủ Dầu Một, Thị xã Thuận

Nghiên cứu, xây dựng cơ chế phối hợp giữa hai ngành về công tác BVCS &GDTE ở các cấp

Nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý giáo dục, giáoviên về BVCS & GDTE các cấp tỉnh, huyện, xã

Trang 40

Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về công tác BVCS & GDTE chohọc sinh, cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, nhân viên, cha mẹ trẻ em, học sinh trong

cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, cơ sở trợ giúp trẻ em ở địa phương

Phối hợp tổ chức một số chương trình, hoạt động cụ thể trong công tác bảo vệ,chăm sóc, giáo dục trẻ em

Tiếp nối với kế hoạch này phường Phú Cường cũng đã có triển khai và thực hiệnsong song với chương trình hành động vì trẻ em Bình Dương 2012-2020 và chươngtrình bảo vệ trẻ em tỉnh 2011-2015 vừa kết thúc đợt vừa rồi Tuy nhiên bên cạnh đó

mô hình lớp học tình thương cũng là một trong số các hoạt động sẽ được tiếp diễntrong thời gian tới với mục đích cuối cùng là bảo vệ quyền lợi cho trẻ em nhằm xâydựng một môi trường an toàn, thân thiện dành cho trẻ em

2.3.5 Quyết định phê duyệt đề án CSTE mồ côi không nơi nương tựa, TE bị

bỏ rơi, TE bị nhiễm HIV/AID, TE là nạn nhân của chất độc hóa học, TE khuyết tật nặng và TE bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa dựa vào cộng đồng trên địa bàn tình BD GĐ 2014 – 2020:

Mục đích:

Tạo chuyển biến về nhận thức, ý thức trách nhiệm và hành động tích cực trongtoàn xã hội về công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; Huyđộng sự tham gia của xã hội, nhất là gia đình và các nguồn lực khác trong cộng đồngđối với việc chăm sóc, trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để ổn định cuộcsống, có cơ hội thực hiện các quyền của trẻ em và hòa nhập cộng đồng theo quy địnhcủa luật pháp Thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệtkhó khăn nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống phù hợp với tình hình phát triển củatỉnh Bình Dương

Đối tượng, phạm vi và thời gian:

Đối tượng: trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em nhiễm

HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em khuyết tật nặng và trẻ em

bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa dựa vào cộng đồng

Phạm vi: trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Thời gian: giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2020.

Các hoạt động:

Ngày đăng: 20/07/2021, 08:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w