Đặc điểm tự nhiên biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ
1.2.1 Vị trí địa lý biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ
Vùng Đông Nam Bộ bao gồm 6 tỉnh, thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu Khu vực này giáp Campuchia ở phía Bắc và Tây Bắc, Biển Đông ở phía Nam, Đồng bằng sông Cửu Long ở phía Tây - Tây Nam, và Tây Nguyên cùng duyên hải Nam Trung Bộ ở phía Đông - Đông Nam Với diện tích tự nhiên 23.605 km², Đông Nam Bộ chiếm 7,1% tổng diện tích cả nước, trong đó có 2 tỉnh, thành tiếp giáp với Biển Đông.
Bà Rịa – Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh
Vùng Đông Nam Bộ có vị trí địa lý đặc biệt với điểm cực Bắc tại xã Bù Gia Mập, huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước (12°17'B), điểm cực Nam ở phường 1, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (10°19'B), điểm cực Tây tại xã Tân Bình, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh (105°48'Đ), và điểm cực Đông ở xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (107°35'Đ).
Bờ biển Đông Nam Bộ dài 127 km, kéo dài từ ranh giới huyện Xuyên Mộc (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) và huyện Hàm Tân (tỉnh Bình Thuận) đến ranh giới huyện Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh) và huyện Gò Công Đông (tỉnh Tiền Giang).
Vùng biển Đông Nam Bộ là một khu vực biển ấm, với ngư trường rộng lớn và hải sản phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản Nơi đây gần với các tuyến đường biển quốc tế, tiềm năng cho giao thông vận tải biển, đồng thời có thềm lục địa nông rộng giàu tiềm năng dầu khí Khu vực ven biển này còn sở hữu nhiều bãi biển đẹp và khu sinh thái, trở thành điểm đến nghỉ mát và du lịch nổi tiếng như Vũng Tàu và Cần Giờ.
Từ cuối thế kỷ 18, cửa biển Cần Giờ đã trở thành một điểm trấn quan trọng về quân sự và thương mại, phục vụ cho các khu vực như Gia Định, Sài Gòn, Gò Công và Mỹ Tho Trong quá trình di dân của người Việt, nhiều hải cảng nhỏ đã được hình thành, nổi bật là cảng Cần Giờ, Cần Giuộc và Nhà Bè.
2 Trong đó, bờ biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu dài 114 km, bờ biển TP.Hồ Chí Minh dài 13 km
3 Lấy sông Vàm Cỏ làm ranh giới
Vị trí các tỉnh, thành Đông Nam Bộ trong vùng Nam Bộ
Đông Nam Bộ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, với nhiều điều kiện và lợi thế nổi bật cho công nghiệp và dịch vụ Khu vực này dẫn đầu trong công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đặc biệt trong phát triển kinh tế biển, công nghiệp dầu khí và hóa dầu, cùng với dịch vụ cao cấp và du lịch.
Vùng ven biển Đông Nam Bộ là khu vực kinh tế năng động với mức tăng trưởng cao, tập trung nhiều trung tâm kinh tế, công nghiệp và dịch vụ Nơi đây sở hữu lực lượng lao động dồi dào, tay nghề cao cùng nhiều cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học Hệ thống đô thị phát triển và các khu công nghiệp mạnh mẽ đã trở thành đầu mối giao lưu giữa các tỉnh phía Nam và quốc tế, nhờ vào mạng lưới giao thông đường bộ, đường biển và đường hàng không thuận lợi, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội và mở rộng quan hệ kinh tế liên vùng và quốc tế.
Địa hình và địa mạo biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ đặc trưng bởi vùng đồng bằng và bình nguyên rộng lớn, nối liền cao nguyên Nam Trung Bộ với đồng bằng sông Cửu Long Khu vực này có địa hình tương đối bằng phẳng, với độ cao trung bình từ 20 đến 200m so với mực nước biển, hướng từ Tây Nam lên Đông Bắc Cấu trúc địa chất của Đông Nam Bộ được chia thành ba tầng: tầng trên cùng là đá ba zan trẻ dày khoảng 100m, bị phong hóa tạo thành lớp đất đỏ ba zan; tầng giữa là lớp phù sa cổ; và tầng dưới cùng là đá gốc cát kết và đá phiến.
Địa hình Đông Nam Bộ được chia thành bốn vùng chính: vùng đất đỏ bazan ở Đông Bắc (bao gồm Bắc Bà Rịa, Long Khánh, Bình Long, Phước Long); vùng đất phù sa cổ ở khu vực trung du (các tỉnh Biên Hòa, Bình Dương, Tây Ninh); vùng đất phù sa mới ở phía Nam (tỉnh lỵ Biên Hòa, Bình Dương hướng ra biển); và vùng đồng bằng trũng thấp Đồng Tháp Mười.
Trên bề mặt địa hình bằng phẳng, các núi đá xâm nhập granit nổi bật với những ngọn núi đơn độc như núi Bà Đen cao nhất (986m, Tây Ninh) và các núi khác như Chứa Chan (818m, Đồng Nai), Bà Rá (733m, Bình Phước), Mây Tàu (716m, Bà Rịa) và Thị Vải (446m, Bà Rịa) Ngoài ra, còn nhiều ngọn núi khác như núi Cậu, núi Lớn, núi Nhỏ, núi Nứa, Minh Đạm, Bửu Long, Châu Diên, Châu Thới, núi Ông Trịnh, núi Dinh và núi Thị.
Vùng biển Đông Nam Bộ có diện tích đặc quyền kinh tế khoảng 300.000 km², với địa hình chủ yếu là bờ biển bồi tụ cửa sông, tạo nên các bãi bồi và bãi triều rộng lớn, là môi trường thuận lợi cho rừng ngập mặn phát triển Bờ biển dài hơn 130 km, gồm hai đoạn cao và thấp; đoạn cao bắt đầu từ mũi bán đảo Bãi Trước (Vũng Tàu) và kéo dài qua Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc với các giồng, đụn, bãi cát Ngược lại, đoạn thấp là vùng trũng sình lầy với nhiều cửa rạch sâu vào Rừng Sác Đặc biệt, thềm lục địa phía Nam của vùng biển này có các bể trầm tích Tân sinh chứa lượng dầu khí lớn.
Vùng biển Đông Nam Bộ có độ sâu 50 m, cách bờ 40-60 hải lý, với nền đáy bằng phẳng và ít dốc Chất đáy chủ yếu là bùn, cát và vỏ sò, trong đó bùn chiếm khoảng 50% diện tích Khu vực Tây Bắc Côn Đảo có các hố trũng sâu, hình thành từ các khe nứt kiến tạo do núi lửa cổ, bị mài mòn theo thời gian bởi các dòng chảy qua các eo biển.
1.2.3 Đặc điểm khí hậu, thủy văn biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ
Vùng biển đảo Đông Nam Bộ, nằm trong miền khí hậu phía Nam, có đặc điểm khí hậu cận xích đạo với nhiệt độ cao và sự phân hoá rõ rệt theo mùa Mỗi năm, khu vực này nhận lượng mưa dồi dào, trung bình từ 1.500 đến 2.000 mm.
Mùa khô tháng 6, thường bị hạn, ít mưa Trên vùng đất thấp, mưa dưới 2.000 mm
Từ vùng Bà Rịa – Vũng Tàu đến cửa sông Đồng Nai lượng mưa dưới 1.500mm, mua khô kéo dài 5- 6 tháng trong năm
Khí hậu của vùng này tương đối ôn hòa và ít xảy ra thiên tai Sự biến đổi thời tiết qua các năm rất nhỏ, không có hiện tượng lạnh quá mức và ảnh hưởng của bão được hạn chế.
Trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu đã làm thay đổi lượng mưa, dẫn đến lưu lượng nước tăng cao vào mùa mưa và giảm sút vào mùa khô Điều này gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng như trượt lở đất, sụt lún, xói mòn, hoang hóa đất, gia tăng lũ quét và hạn hán, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống kinh tế của địa phương.
Tiểu kết luận chuyên đề
Đông Nam Bộ sở hữu điều kiện tự nhiên thuận lợi, tạo cơ hội phát triển kinh tế biển mạnh mẽ, đặc biệt trong khai thác dầu khí, thủy hải sản, du lịch và cảng biển Vùng này có nguồn dầu mỏ và khí thiên nhiên lớn nhất Việt Nam, mang lại lợi thế lớn cho ngành công nghiệp khai thác dầu khí, dịch vụ dầu khí và các ngành công nghiệp sử dụng dầu khí làm nguyên liệu và nhiên liệu, như điện, đạm, khí hóa lỏng và luyện cán thép.
Bờ biển Đông Nam Bộ dài và có nhiều địa điểm kín, sâu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng hệ thống cảng đa dạng, thúc đẩy phát triển vận tải và các ngành kinh tế biển Khu vực này cũng sở hữu tiềm năng du lịch lớn với các bãi tắm nổi tiếng và di tích lịch sử, văn hóa, như Côn Đảo Thềm lục địa rộng lớn là lợi thế cho ngành khai thác và đánh bắt hải sản Khí hậu ôn hòa, ít bão lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành dịch vụ, thương mại, công nghiệp, nông lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, cùng với cơ sở vật chất và hạ tầng đồng bộ.
Việc khai thác tài nguyên biển Đông Nam Bộ chưa hợp lý đang dẫn đến suy giảm môi trường và nguồn lợi Các hoạt động hàng hải, nước thải từ khu công nghiệp và tốc độ đô thị hóa gây ô nhiễm nước và trầm tích ven biển Hơn nữa, việc chặt phá rừng ngập mặn đã làm mất cân bằng tự nhiên Sự xây dựng không theo quy hoạch các công trình kiến trúc và dịch vụ ven biển đã gây biến đổi địa hình, thay đổi dòng chảy và dẫn đến hiện tượng ngập nước, bồi lắng và xói lở Tình trạng mặn hóa và phèn hóa cũng đang gây ô nhiễm nguồn nước, làm tổn hại đến hệ sinh thái ven biển.
Chuyên đề 2 ĐẶC ĐIỂM HÀNH CHÍNH VÀ CƯ DÂN BIỂN ĐẢO VIỆT NAM Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
Sự thay đổi địa lý hành chính
Các tỉnh, thành Đông Nam Bộ
Vùng Đông Nam Bộ bao gồm 6 tỉnh, thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu, với tổng diện tích tự nhiên là 23.605 km², chiếm 7,1% diện tích cả nước Trong số này, Bà Rịa-Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh là hai tỉnh, thành tiếp giáp với Biển Đông.
Diện tích trên đất liền của các tỉnh, thành Đông Nam Bộ Đơn vị: Km 2 Đông Nam Bộ 23.590,7
Bà Rịa - Vũng Tàu 1.989,5 TP.Hồ Chí Minh 2.095,5
Nguồn: Số liệu thống kê năm 2014; Tổng cục Thống kê - https://www.gso.gov.vn
Từ thế kỷ XVII, cộng đồng cư dân Đông Nam Bộ hình thành từ cư dân bản địa và lưu dân từ phía Bắc Cư dân bản địa bao gồm các dân tộc S’tiêng, Châu Ro và Mạ đã sinh sống lâu dài trong khu vực Từ cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVII, người Việt từ Đàng Ngoài đã di cư vào khai phá đất đai ở Sài Gòn và lưu vực sông Đồng Nai Đồng thời, một bộ phận người Hoa cũng đã chạy vào Đàng Trong để thoát khỏi áp bức của triều đình Mãn Thanh và gia nhập cộng đồng cư dân Việt.
Người Việt đã di cư đến vùng đất Thuận - Quảng của Chúa Nguyễn và Mô Xoài (Bà Rịa), Đồng Nai (Biên Hòa) để khai thác đất hoang, từ đó hình thành những làng đầu tiên của người Việt tại khu vực Đông Nam Bộ.
Năm 1620, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đã gả Công chúa Ngọc Vạn cho Quốc vương Chân Lạp Chey Chettha II, giúp Công chúa trở thành Hoàng hậu của Vương triều Chân Lạp Sự kiện này đã thu hút ngày càng nhiều cư dân Việt từ vùng Thuận - Quảng đến sinh sống và làm ăn tại lưu vực sông Đồng Nai, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của Chúa Nguyễn.
26 từng bước hợp pháp hóa sự kiểm soát của mình một cách hòa bình đối với vùng đất Đông Nam Bộ
Năm 1623, Chúa Nguyễn đã thành lập thương điếm tại Sài Gòn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) nhằm thu thuế Đến năm 1698, Chúa Nguyễn Phúc Chu đã cử Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh quản lý vùng đất Đồng Nai, thiết lập địa giới hành chính cho khu vực Đông Nam Bộ bằng cách chia đất Đông Phố và lấy Đồng Nai làm huyện.
Phúc Long đã xây dựng dinh Trấn Biên (Biên Hòa hiện nay) và huyện Tân Bình (Sài Gòn ngày nay), thiết lập dinh Phiên Trấn (dinh Gia Định hiện tại) với các chức vụ như lưu thủ, cai bạ, ký lục và các cơ đội thủy bộ Mở rộng lãnh thổ lên đến nghìn dặm với hơn 40.000 hộ dân, Phúc Long đã chiêu mộ người dân từ Bố Chính trở về Nam và thiết lập các xã thôn, phường ấp Ông cũng khai khẩn ruộng nương, định lệ thuế, và lập sổ đinh điền Đồng thời, người dân gốc Thanh được mời đến buôn bán tại Trấn Biên và Phiên Trấn, hình thành nên các xã Thanh Hà và Minh Hương, từ đó trở thành dân cư chính thức tại đây.
Chúa Nguyễn đã thiết lập quyền quản lý nhà nước đối với các vùng Đồng Nai và Sài Gòn, chính thức sáp nhập vào lãnh thổ Đàng Trong Ông tổ chức các đơn vị hành chính và bộ máy chính quyền từ cấp dinh trấn đến thôn xã, thực thi quyền lực trong quản lý đất đai, hộ khẩu, thu thuế và khai thác tài nguyên thiên nhiên Nhờ đó, Sài Gòn – Gia Định đã trở thành trung tâm hành chính và chính trị quan trọng của Đông Nam Bộ.
Vào nửa đầu thế kỷ XIX, triều Nguyễn đã lập địa bạ trên toàn Lục tỉnh Nam Kỳ (1836) nhằm quản lý chặt chẽ lãnh thổ trong bối cảnh quan hệ khu vực biến động Họ thiết lập và củng cố tổ chức hành chính, hoàn thiện bộ máy quản lý xã hội từ thôn (xã) đến tổng, huyện, phủ, tỉnh Lục tỉnh Nam Kỳ bao gồm Gia Định, Định Tường, Biên Hòa (Đông Nam Bộ) và Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên (Tây Nam Bộ).
Thực dân Pháp đã xâm lược Việt Nam bắt đầu từ năm 1858, chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ vào năm 1862 và 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ vào năm 1867 Đến năm 1874, qua Hòa ước Giáp Tuất, triều đình nhà Nguyễn đã chính thức công nhận chủ quyền của Pháp trên toàn bộ Lục tỉnh Nam Kỳ Sau khi hoàn tất việc chiếm đóng, thực dân Pháp đã thiết lập bộ máy cai trị thuộc địa trên vùng đất này.
19 Quốc sử quán triều Nguyễn (1962), Đại Nam thực lục tiền biên, Nxb Sử học, Hà Nội, tr.153
Vào ngày 14 tháng 8 năm 1862, Đề đốc Bonard, Thống đốc quân sự đầu tiên, đã ban hành Quyết định số 145 về tổ chức hành chính tỉnh Gia Định, bao gồm cả Sài Gòn Theo quyết định này, tỉnh Gia Định được chia thành ba phủ, mỗi phủ có ba huyện, dưới huyện có tổng, và dưới tổng có xã, thôn, lý, ấp Thời điểm đó, Sài Gòn vừa là tỉnh của Gia Định vừa là phủ lỵ của phủ Tân Bình, đồng thời là huyện lỵ của huyện Bình Dương, trong khi Chợ Lớn là huyện lỵ của huyện Tân Long, thuộc phủ Tân Bình.
Trong thập niên 1860 và nửa đầu thập niên 1870, Sài Gòn thuộc tỉnh Gia Định Ngày 15-3-1874, Tổng thống Cộng hòa Pháp đã ký sắc lệnh thành lập chính thức thành phố Sài Gòn.
Sau khi hoàn thành công cuộc xâm lược, thực dân Pháp bắt đầu khai thác thuộc địa lần thứ nhất theo sắc lệnh ngày 17-10-1887 Họ thành lập Liên bang Đông Dương, bao gồm Bắc kỳ, Trung Kỳ, Nam kỳ và Campuchia, dưới sự quản lý của Bộ Hải quân và Thuộc địa Trong đó, Nam kỳ được coi là xứ thuộc địa với 20 địa hạt, do các viên tham biện cai trị Các địa hạt thuộc vùng Đông Nam Bộ bao gồm Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Sài Gòn và Chợ Lớn.
Vào ngày 8 tháng 2 năm 1880, Tổng thống Pháp đã ban hành sắc lệnh thành lập Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ, một cơ quan tư vấn về kinh tế, nhằm hỗ trợ Thống đốc Nam Kỳ trong các vấn đề quản lý và phát triển kinh tế của khu vực này.
Nam Kỳ được chia thành 20 tỉnh, trong đó Đông Nam Bộ gồm các tỉnh Bà Rịa, Biên Hòa, Chợ Lớn, Gia Định, Tây Ninh, Thủ Dầu Một, với hai thành phố là Sài Gòn (thành phố cấp I) và Chợ Lớn (thành phố cấp II) Mỗi tỉnh do một công sứ người Pháp đứng đầu, tỉnh lớn có thêm phó sứ, hỗ trợ bởi Sở Tham biện và Hội đồng hàng tỉnh Thành phố do Chánh, Phó đốc lý quản lý, với Tòa đốc lý và Hội đồng thành phố cho thành phố cấp I, hoặc Ủy ban nhân dân cho thành phố cấp II Tại các tỉnh, có nhiều trung tâm hành chính hoặc Sở Đại lý, trong khi ở cơ sở (làng, xã), thực dân Pháp duy trì hệ thống chính quyền phong kiến với các chức sắc như xã trưởng, hương trưởng và Hội đồng kỳ hào.
Cách mạng tháng Tám – 1945 thành công, Đông Nam Bộ trở về với Việt Nam thống nhất: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Kể từ năm 1957, khu vực Đông Nam Bộ được gọi là Miền Đông Nam phần, trong đó chính quyền Sài Gòn đã chia thành 13 tỉnh thành, bao gồm Đô thành Sài Gòn và Gia Định.
20 Ngày 20-3-1894, Bộ Thuộc địa được thành lập, Đông Dương trực thuộc Bộ Thuộc địa
21 Nhiều tác giả, 2005, Đại cương lịch sử Việt Nam, Giáo dục, Hà Nội, tr.568