Tác giả Sơn Nam có tác phẩm:”lịch sử khẩn hoang miền Nam” đã trìnhbày lại tiến trình lịch sử của miền Nam trong việc mở mang đất đai canh tác,củng cố chính quyền, xác định biên giới, xây
Trang 1MỞ ĐẦU
1 LÝ do chọn đề tăi
Trong quâ trình phât triển của lịch sử Việt Nam, vấn đề mở mang, khaiphâ đất đai luôn được coi lă một vấn đề quan trọng Có hiểu được quâ trìnhNam tiến của dđn tĩc Việt Nam đồng thời cũng lă lịch sử khai hoang vùng đấtphía Nam chóng ta mới biết trđn trọng những thănh quả hết sức to lớn mẵng cha ta đạt được trong câc thế kỉ trước
Trong lịch sử Nam tiến của người Việt, thì quâ trình mở rộng lênh thổcũng như khai thâc trong thế kỉ XVI, XVII, XVIII dưới thời câc chóa Nguyễnchiếm vị trí hết sức đặc biệt Với sự cố gắng không ngừng, mă ở câc thế kỉnăy lênh thổ nước ta được mở rộng một câch mạnh mẽ nhất Đồng thời vớiquâ trình di dđn của người Việt đến những vùng đất mới, hăng ngăn xómlăng trù phú đê được mọc lín biến vùng đất đăng trong trở thănh một vùngđất sầm uất Điều năy đê tạo nín sự thay đổi to lớn của Đại Việt trong suốtmấy thế kỉ,dần kĩo trọng tđm văn hoâ kinh tế chính trị của cả nước xuốngphía nam Những thănh tựu đó đê đóng vai trò rất tích cực trong nền văn hoâViệt Nam
Việc nghiín cứu đề tăi năy sẽ giúp thấy rõ thím quâ trình câc chóaNguyễn lập ra cơ sở cât cứ vững chắc của mình, tạo cơ sở cho câc vua triềuNguyễn đầu thế kỷ XIX có điều kiện phât triển quy mô lênh thổ vă xđy dungchính quyền quốc gia thống nhất Điều nay sẽ góp phần đânh giâ thím triềuNguyễn sau nay về những đóng góp cũng như hạn chế đối với tiến trình phâttriển lịch sử dđn tĩc nói chung
Bản thđn em rất quan tđm đến lịch sử Việt Nam trong giai đoạn đấtnước Việt Nam bị chia cắt, đặc biệt muốn tìm hiểu về vùng đất ĐăngTrong dưới thời trị vị của câc chóa Nguyễn Vì tất cả những lÝ do đó nín
em đê quyết định chọn đề tăi: “Bước đầu tìm hiểu về quâ trình khai phâ,
mở mang vùng đất Đăng Trong của câc chóa Nguyễn (1558-1774)” lăm
Trang 2đề tài nghiên cứu của mình.
2 Lịch sử nghiên cứu vần đề
Do vị trí lịch sử và đặc điểm của vùng đất Đàng Trong dưới thời cácchóa Nguyễn, nên đã có nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâmđến
Một số sử gia miền Nam trước đây đã có một số công trình nghiên cứu
về thời kỳ này như:
Phan Khoang với tác phẩm sử học:”Việt sử xứ Đàng Trong”.Đây là mộtcông trình tương đối hoàn chỉnh,trong đó tác giả trình bày lần lượt về lịch sửvùng đất Đàng Trong,mà trọng tâm lúc này là Thuận Hoá.Các phần sau tácgiả trình bày về tổ chức chính quyền, thuế khoá, phong tục tập quán, giáodục Tác giả dành khá nhiều cho quá trình “nam tiến của dân tộc” Đề cậpđến công cuộc khẩn hoang tác giả chú trọng đến vùng Nam Bé, ở Thuận-Quảng tuy có đề cập song chưa cụ thể
Tác giả Sơn Nam có tác phẩm:”lịch sử khẩn hoang miền Nam” đã trìnhbày lại tiến trình lịch sử của miền Nam trong việc mở mang đất đai canh tác,củng cố chính quyền, xác định biên giới, xây dựng các cơ sở vật chất Tácphẩm đã cung cấp cho người đọc một cách khái quát quá trình thiên di, sinh
cơ lập nghiệp của lưu dân Việt trên vùng đất mới phía Nam gần ba thế kỷqua
Ngoài ra còn có nhiều công trình có liên quan đến vấn đề này cũng đãdược công bố trên các tạp chí, báo chí trung ương và địa phương
Tóm lại, nghiên cứu vấn đề này đã có nhiều tác giả quan tâm song domục đích và quan điểm của người viết nên các công trình trên chỉ khai tháctừng khía cạnh nhỏ hoặc cả vùng đất Đàng Trong Trên cơ sở những côngtrình đó, tác giả đã tiếp thu những kết quả để làm rõ vấn đề mình quan tâm
3 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Trang 33.1.Nhiệm vụ của đề tài
Đề tài chủ yếu tập trung tìm hiểu làm rõ việc các vùng đất từngbước một sát nhập vào lãnh thổ nước ta như thế nào và tìm hiểu lực lượngkhai phá những vùng đất này, các hình thức khai thác và kết quả đạt được rasao
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Tác giả đã tham khảo và sử dụng tư liệu trong”Phủ biên tạp lục”của LêQuý Đôn và "Ô châu cận lục” của Dương Văn An, "Lam sơn thực lục" củaNguyễn Trãi, "Lịch triều hiến chương loại chí" của Phan Huy Chó là nhữngnguồn tư liệu gốc rất quý giá về vùng đất Đàng Trong Đồng thời là mét sốsách chuyên khảo như "Lịch sử khẩn hoang miền Nam" của Sơn Nam, "Việt
sử xứ Đàng Trong" của Phan Khoang, "Xứ Đàng Trong lịch sử kinh tế xã hộiViệt Nam thế kỷ XVII - XVIII" của Litana do Nguyễn Nghị dịch Ngoài ra làmét số tài liệu tham khảo khác
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài thuộc lĩnh vực khoa học lịch sử, do đó phương pháp nghiên cứu
Trang 4chủ yếu là phương pháp lịch sử nhằm tái hiện lại những nét chung nhất vềlịch sử giai đoạn này Bên cạch đó phương pháp logic cũng được sử dụng đểđưa ra những nhận định, đánh giá mang tính khái quát Đồng thời là việc sửdụng các phương pháp sưu tầm tư liệu, tiếp thu và chọn lọc những nguồn sửliệu có liên quan đến đề tài, đối chiếu so sánh giữa các tư liệu để tìm ra các tưliệu có độ chính xác cao.
5 Đóng góp của đề tài
5.1 Về mặt khoa học
Đề tài trình bày một cách có hệ thống quá trình các chóa nguyễn từngbước xâm lấn, sát nhập các vùng đất vào lãnh thổ của mình, tạo thành mộtvùng cát cứ vững chắc của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, đồng thời làquá trình các cư dân Việt đến khai phá,làm ăn sinh sống
5.2 Về mặt thực tiễn
Đề tài góp phần tìm hiểu sâu sắc hơn về lịch sử Việt Nam giai đoạnnày Đóng góp những nguồn tư liệu quý cho việc giảng dạy phần lịch sử ViệtNam từ thời kì XVI đến nửa đầu thế kỉ XVIII, đồng thời việc nghiên cứu đềtài sẽ chỉ rõ được những thành quả thu được trong quá trình nam tiến Từ đógóp phần to lớn trong việc giáo dục các thế hệ trẻ, biết quý trọng những thànhquả mà tổ tiên, ông cha ta đã tạo ra
6 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài gồm 2 chương:
Chương 1: Công cuộc khẩn hoang xứ Thuận-Quảng.
Chương 2: Mở rộng lãnh thổ về phía Nam.
Cuối cùng là phần tài liệu tham khảo và phần phụ lục ảnh
Trang 5NỘỊ DUNG
Chương 1
CÔNG CUỘC KHẨN HOANG XỨ THUẬN - QUẢNG
1.1 Vùng đất Thuận - Quảng trước khi Nguyễn Hoàng vào cát cứ
Thuận- Quảng là một vùng đất chạy dọc theo dãy Trường Sơn, ngoảnhmặt ra biển Đông, nối liền hai đầu Nam Bắc của đất nước Thuận- Quảng làmột địa bàn quan trọng trong nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, quốcphòng của đất nước Trải qua nhiều triều đại phong kiến, công cuộc khai phávùng đất Thuận - Quảng đã được đặc biệt chú trọng
Vùng Thuận - Quảng được sát nhập vào lãnh thổ Đại Việt từ các thế kỉtrước và đến năm 1471, dưới thời vua Lê Thánh Tông, chính thức hình thànhhai đạo thừa tuyên: Thuận Hoá và Quảng Nam Thực chất, Thuận - Quảngvốn là vùng đất của nước Chiêm Thành nhưng đã bị các triều đại phong kiếnViệt Nam xâm lược và khai thác từ lâu đời Thuận Hoá là đất Địa lý, Ma linh,
Bố chính, Ô, Lý của Chiêm Thành bị các triều đại Lý, Trần chiếm đoạt từ thế
kỷ XI và thế kỷ XIV Quảng Nam còng là một phần đất Chiêm Thành từ đèoHải Vân đến đèo Cù Mông do Hồ Quý Ly và Lê Thánh Tông xâm chiếmtrong thế kỷ XV Ngay từ triều vua Lê Đại Hành, những cuộc tranh giành đấtđai đã diễn ra thường xuyên giữa hai nhà nước Việt –Chiêm Năm 982, vua
Lê Đại Hành đã sai Phụ Quốc là Ngô Tử An đem ba vạn người khai thôngnên con đường bộ từ cửa biển Nam giới đến châu Địa lí (là vùng đất QuảngBình ngày nay) Việc lập nên con đường bé đó rõ ràng đã thể hiện ý định tiến
về phía Nam của nhà nước phong kiến Việt Nam
Vào thời Lý, đất nước ta đã có một nền độc lập tương đối vững mạnh,
do đó ý muốn bành trướng lãnh thổ về vùng đất phía Nam ngày càng mạnh
mẽ, trở thành nhu cầu thường trực của triều đình phong kiến, mặc dù ngườiChiêm Thành đã chịu thần phục, nhưng với ý chí mở rộng bờ cõi, triều đình
Trang 6phong kiến Lý đã tìm cách buộc Chiêm Thành phải nhượng cho ta ba châu:
Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh (là đất Quảng Bình và phần bắc Quảng Trị ngàynay)và bắt đầu tiến hành cuộc di dân vào năm 1075
Đến thời Trần, công cuộc mở đất diễn ra một cách hoà bình Đến thời
vua Trần Anh Tông thì “người Việt đã vào đến tận Thừa Thiên Huế và địa đầu Quảng Nam”[4, tr.98] Trong đó có một sự kiện quan trọng trọng
việc mở rộng lãnh thổ về phía Nam của người Việt dưới triều đại Trần làviệc vua Chiêm Thành là Chế Mân dâng hai châu Ô, Lý cho nước ta để cầuhôn công chóa Huyền Trân Đến năm1307, vua Anh Tông đã cho đổi haichâu này thành Thuận châu và Hoá châu Sự kiện này diễn ra có ý nghĩa
vô cùng to lớn bởi hai châu Ô, Lý là bàn đạp quan trọng để sau này ngườiViệt dùng nó tiến vào phía Nam
Thời Lê, những cuộc xung đột, tranh chấp giữa Việt- Chiêm cũngthường xuyên xảy ra Người Chiêm đã nhiều lần đem quân quấy nhiễu vùngbiên giới nước ta gây ra sự bất hoà lớn Trước tình hình đó, vào năm 1471,vua Lê Thánh Tông đã quyết định đem quân đi đánh Chiêm Thành mở đấtđến tận hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hoà ngày nay
Trong quá trình sát nhập những vùng đất Êy vào nước ta, các triều đạiphong kiến Việt Nam còng đã từng bước tiến hành chính sách di dân và khẩnhoang Đó là những cuộc di dân mà triều đình xuống chiếu chiêu mộ, khuyếnkhích sau mỗi lần được đất Chiêm Thành Đồng thời đây cũng là nơi đi đàycủa những tù nhân phạm tội và đó cũng chính là lực lượng quan trọng tiến
hành chính sách khẩn hoang, lập ra các đồn điền: “Trong sè 43 đồn điền dưới thời vua Lê Thánh Tông có 4 sở thuộc về vùng đất Thuận – Quảng là: Trâu- Phong, Tân-Bình, Thăng-Hoa, Tư-Nghĩa”[5, tr28] Số cư dân Việt và số
hàng xóm của người Việt ở đây ngày càng tăng lên một cách nhanh chóng
Nếu nh thời kì nhà Minh đô hé “Phủ Tân Bình có 37 xã với 2132 gia đình,
4738 người; phủ Thuận Hoá có 79 xã với 1470 gia đình, 5663 người” [5,
Trang 7tr28], thì đến thời Hồng Đức, “thừa tuyên Thuận Hoá có 732 xã “ [5, tr28].
Điều đó thể hiện việc khai phá Thuận Hoá đã có những bước tiến rõ rệt.Ngay cả vùng Quảng Nam, mặc dù chỉ mới được thành lập năm 1471, là nơi
được khai thác muộn hơn nhưng cũng có những bước tiến quan trọng “gồm 3 phủ, 9 huyện với gần 500 xã”[5, tr.28].
Mặc dù, vùng đất Thuận - Quảng đã được chú ý khai thác từ lâu đờinhưng công cuộc khai thác vẫn còn khá sơ sài, chưa được đồng bộ và nhấtquán Nền kinh tế Thuận Quảng vẫn ở trọng tình trạng lạc hậu và thấp kém.Theo nh Dương Văn An viết trong “Ô châu cận lục” thì cho đến tận thế kỉXVI, Thuận - Quảng vẫn bị coi là vùng đất “Ô châu ác địa” là vùng đất miềnbiên viễn xa xôi của đất nước Nơi đó chứa toàn những thứ độc địa, là nơiđày đoạ của những tội nhân, tù đày Và dưới thời nhà Mạc thì những thứ phúthuế mà đất đai Ô châu nép lên triều đình toàn là các thứ lâm thổ sản, các sảnphẩm lấy từ tự nhiên như các hương liệu, ngà voi, sừng tê giác, da trâu,nhung hươu, mây gỗ…Rõ ràng, điều đó phản ánh một hình thái kinh tế tựnhiên còn lạc hậu, chưa có sự cải tạo đáng kể để phát triển thành một nềnkinh tế toàn diện hơn
Mặt khác, cho đến trước thế kỉ XVI, tại vùng đất Thuận - Quảng tổ chứclàng mạc còn khá rời rạc, chưa có một kết cấu vững chắc đầy đủ nh làng xã
cổ truyền của người Việt Ngay trong “Lịch triều hiến chương loại chí” cũng
đã viết: “Từ Lý Trần trở về trước phong hội chưa đến lúc mở mang, phong tục còn chất phác quê mùa, nhân dân thưa Ýt mà vắng vẻ, những nơi xa xôi còn lạc vào cõi khác”[2,tr.130].
Tuy còn nhiều khó khăn và lạc hậu nh vậy, nhưng vùng đất ThuậnQuảng có nhiều thuận lợi và nhiều khả năng xây dựng và phát triển, bởi đây
là địa bàn có ý nghĩa chiến lược trên nhiều lĩnh vực Đó là điều kiện tốt để họNguyễn xây dựng cơ sở cát cứ Vấn đề đặt ra là phải làm gì? và làm nh thếnào? để biến nơi đây thành một trung tâm, một căn cứ vững mạnh Điều đó
Trang 8đã trở thành hiện thực khi Nguyễn Hoàng và các con cháu của Người vào đâycát cứ bắt đầu từ năm 1558.
1.2 Nguyễn Hoàng vào cát cứ Thuận Hoá, mở đầu cho quá trình mở mang đất Đàng Trong
Vào đầu thế kỉ XVI, triều Lê lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng,Mạc Đăng Dung đã nhân cơ hội đó, nổi dậy cướp ngôi vua Lê và lập ra nhàMạc vào năm 1527 Tuy nhiên thời gian tồn tại của nhà Mạc khá ngắn ngủibởi không được nhân dân tin cậy và vấp phải sự chống đối quyết liệt của cáccựu thần nhà Lê, đứng đầu là Nguyễn Kim Ông đã chiêu mộ nghĩa binh âmmưu khôi phục nhà Lê Để danh chính ngôn thuận, vào năm 1533, ông cùngmột số cựu thần nhà Lê, tôn Lê Ninh – con vua Lê Chiêu Tông lên ngôi, lấyhiệu là Lê Trang Tông Từ đó, hào kiệt khắp nơi theo về ngày càng đông.Trong quá trình tiến quân ra Bắc tiêu diệt nhà Mặc, Nguyễn Kim được giaoviệc điều binh khiển tướng, tổng chỉ huy toàn bộ thuỷ lục quân Ông đượcphong chức Thái Tể Đô Tướng Tiết Chế tướng sĩ chu dinh thuỷ bộ Với
cương vị này, ông luôn tỏ ra là vị tướng có tài “Quân của ông tiến đâu thắng đó, thế mạnh như chẻ tre, binh tướng nhà Mạc phải rút lui dần để cố thủ”[7, tr.8] Nhưng giữa lúc đó, ông bị hàng tướng của nhà Mạc là Dương
Chấp Nhất đầu độc giết chết vào năm1545 Toàn bộ quyền lực rơi vào tayTrịnh Kiểm là con rể của Nguyễn Kim, để giữ vững quyền hành của mình,Trịnh Kiểm tìm cách loại trừ phe cánh của Nguyễn Kim, trước hết là các contrai của ông Người con trai đầu của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông bị ám hại.Giết xong Uông, kiểm bắt đầu củng cố địa vị, đưa tay chân của mình vàonắm giữ những việc then chốt Lúc này, Nguyễn Hoàng- người con thứ củaNguyễn Kim trở thành cái gai trước mắt Trịnh Kiểm Trịnh Kiểm tìm mọicách hãm hại nhưng chưa có dịp Nguyễn Hoàng hết sức lo lắng và tìm cáchthoát khỏi mối đe dọa đó Một hôm, ông đến thăm cậu là thái phó Nguyễn Ư
Kĩ, cho cậu biết hoàn cảnh của mình và dã tâm của Kiểm Thái phó bảo với
Trang 9ông rằng: “Kiểm đã hại anh cháu, bây giê đang tìm cách hại cháu để rứt hậu họa, vậy nên cháu hãy mau mau tránh xa Đất Thuận Hoá vốn là chốn xa xôi hiểm trở, có thể giữ yên được thân mình, cháu nên nhờ với chị cháu nói với Trịnh Kiểm cho khéo để xin vào trấn nhận đất đó, mới có thể mưu đồ việc lớn về sau” [7, tr.12] Ông cũng tìm đến Nguyễn Bỉnh Khiêm để xin vấn kế
và đoán hộ vận mình của mình và được trạng Trình viết cho tám chữ: “HoànhSơn nhất đái, vạn đại dung thân” (một giải Hoành Sơn có thể dung thân muônđời) Hiểu được gợi ý đó, Nguyễn Hoàng nhờ chị mình là Ngọc Bảo( vợ củaTrịnh Kiểm) xin cho mình vào trấn thủ đất Thuận Hoá
Trịnh Kiểm là người rất đa nghi, trước hành động xin vào Thuận Hoácủa Nguyễn Hoàng, không phải là không có nghi ngờ, mặt khác Trịnh Kiểmcũng nhìn thấy được vị trí hết sức quan trọng của vùng đất Thuận Quảng- nơi
cung cấp sức người sức của, rằng: “Thuận Hoá là nơi cung cấp binh lính của thiên hạ…thế đất hiểm trở, tính dân cương ngạnh, lại có nhiều lợi thế về tre,
gỗ miền núi, cá mắm miền biển; về mặt trọng yếu thật không nơi nào hơn”
[9, tr.26] Tuy nhiên Trịnh Kiểm cũng tính toán rằng, đất Thuận Hoá đanggặp khó khăn Đây là vùng đất mới còn lam sơn chướng khí, lại thêm quanquân nhà Mạc đang đóng, rất nguy hiểm Trịnh Kiểm lúc này còn đang mảiđối phó với quân Mạc ở mặt Bắc, không thể trực tiếp khống chế, kiểm soátđược Thuận- Quảng Do đó Trịnh Kiểm bằng lòng cho Nguyễn Hoàng vàođây vì nghĩ với những điều kiện như vậy Nguyễn Hoàng sẽ chẳng làm được
gì Mục đích của Trịnh Kiểm là muốn dùng Nguyễn Hoàng giữ vị trí phòngngự nơi đây để họ Trịnh rảnh tay tấn công quân Mạc ở miền Bắc Đồng thờiTrịnh Kiểm cũng hy vọng là Nguyễn Hoàng sẽ bị quân nhà Mạc giết chết Đó
là thâm ý muốn mượn tay nhà Mạc để giết chết Nguyễn Hoàng tránh tiếngcho mình Do đó Trịnh Kiểm đã tâu lên vua Lê xin cho Nguyễn Hoàng vàotrấn thủ Thuận Hoá
Đầu năm 1558, Nguyễn Hoàng dẫn con em và những người thân tín lên
Trang 10đường vào Thuận Hoá với quyền hạn rộng lớn là “phàm mọi việc ở địa phương không kể to nhỏ đều cho tuỳ tiện xử trí” [5,tr26] Sau đó vào năm
1570, Nguyễn Hoàng còn được giao cai quản luôn cả vùng đất Quảng Nam.Ông trở thành tổng trấn tướng quân trấn thủ cả đất Thuận Quảng MiềnThuận Quảng vốn rộng lớn, nhiều tiềm năng, có khả năng phát triển thànhmột khu vực kinh tế độc lập vững mạnh Mặt khác, với vị trí địa lí ngăn cách
ở vùng Bố Chính làm cho việc giao thông đi lại đây khó khăn, nhưng lại rấtthuận lợi cho họ Nguyễn cát cứ cố thủ vừa có khả năng cầm cự với quânTrịnh ở mạn Bắc, lại vừa có thể mở rộng về phương Nam nên rất có khả năngcho họ Nguyễn tiến hành mở rộng lãnh thổ, phát triển cơ sở cát cứ ThuậnQuảng là vùng đất không những có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa
về mặt quân sự Đó là điều mà trước đây chính Lê Lợi đã nhận định: “Tân Bình, Thuận Hoá là đất lòng dạ của ta, đã được đất Êy rồi thì không còn nỗi
lo ở phía trong nữa” [10, tr.60] Ngay cả Nguyễn Hoàng trước khi lâm chung cũng đã dặn lại con là Nguyễn Phóc Nguyên (chóa Hi Tông) rằng: “Đất Thuận-Quảng phía Bắc có núi Hoành Sơn và sông Gianh hiểm trở, phía Nam
có núi Hải Vân và núi Thạch Bi vững bền; núi sẵn vàng, sắt; biển có cá, muối, thật là đất dông võ của người anh hùng, nếu biết dạy dân, luyện binh
để chống chọi với nhà Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời, còn nếu thế lực không địch được thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chứ đừng quên lời dặn của ta”[4, tr.296-297] Qua lời dặn đó có thể thấy được chỉ
hướng mở rộng lãnh thổ để xây dựng cơ nghiệp của chóa Nguyễn mà ởđây là bành trướng về phía Nam- nơi tồn tại của hai quốc gia Chiêm Thành
và Chân Lạp đang trên đà suy vong
Chính do xuất phát từ ý đồ cát cứ, xây dựng thế lực riêng vùng đấtThuận -Quảng nên từ khi Nguyễn Hoàng vào, ông đã nhanh chóng lợi dụng
vị trí chiến lược của nơi đây để xây dựng thế phòng thủ, song song với việcđẩy mạnh phát triển kinh tế, làm chỗ dùa vững chắc cho dòng họ mình sau
Trang 11này chống lại chóa Trịnh, thiết lập nên vương triều riêng Dù bề ngoài ôngvẫn giữ đầy đủ quan hệ thân thuộc với Nam triều, giúp họ Trịnh tiêu diệt nhàMạc nhưng bên trong ông đã lo khai thác vùng Thuận- Quảng thành một khuvực kinh tế độc lập làm cơ sở cho việc cát cứ lâu dài và củng cố địa vị thốngtrị ở đây Đồng thời cũng bắt đầu từ năm 1558, với việc Nguyễn Hoàng lập
cơ sở ở Thuận - Quảng đã đánh dấu một bước ngoặt trong quá trình Nam tiếncủa người Việt: “Từ nay, cuộc tiến xuống phía Nam trở thành một phong tràotrọng yếu Từ thời điểm này, người Việt Nam,như một dòng sông chảy, tuychậm nhưng liên tục, vượt qua biên giới Việt- Chăm tiến xuống phíaNam”[6,tr.32]
1.3 Công cuộc khai phá đất đai, thành lập làng mới ở Thuận - Quảng 1.3.1 Tổ chức các lực lượng khai hoang
Mục đích của Đoan quận công Nguyễn Hoàng khi vào trấn thủ Thuận –Quảng là nhanh chóng xây dựng vùng này ngày càng vững mạnh, đủ sứcchống lại những cuộc tấn công của quân Trịnh và từng bước xây dựng mộtvương triều riêng Việc làm đầu tiên của chóa Nguyễn là phải tổ chức lại cáclàng xã, ổn định đời sống nhân dân để dễ bề cai trị Do đó ngay khi vào đây,ông đã tìm cách chiêu nạp nhân tài, thu phục nhân tâm Vấn đề đặt ra là phảigiải quyết ổn thoả cho số dân di cư vào đây ngày càng đông do nhiều lÝ dokhác nhau từ các vùng ở miền Bắc Do vậy chóa Nguyễn đã đặt ra việc “khẩnhoang lập làng” để ổn định đời sống của nhân dân
Lực lượng quan trọng nhất đối với công cuộc khẩn hoang xứ Thuận –Quảng chính là số người đi theo Nguyễn Hoàng từ năm 1558 Do uy danhcủa Nguyễn Kim sau những trận thắng quân nhà Mạc, đồng thời cùng dodanh vọng và đức tính của Nguyễn Hoàng nên khi ông vào trấn thủ ThuậnHoá rất nhiều người quê hương ông là huyện Tống Sơn-Thanh Hoá đã tìnhnguyện đi theo ông Thêm vào đó, mét sè quan lại, quân lính ở hai trấn ThanhHoá và Nghệ An cũng tình nguyện theo vào Họ là chỗ dùa chính quan trọng
Trang 12của chinh quyền họ Nguyễn và cũng là lực lượng khai thác Thuận – Quảngtrong buổi đầu Nguyễn Hoàng vào Nam lập nghiệp.
Lực lượng thứ hai bao gồm đông đảo nhân dân Đàng Ngoài, do khôngchịu đựng được chế độ hà khắc của vua Lê - chóa Trịnh với chính sách thuếkhóa nặng nề Thêm nữa, thiên tai, mất mùa lại liên tục xảy ra, nên cũng bỏtheo Nguyễn Hoàng vào đây sinh cơ lập nghiệp
“Mùa thu năm 1559, vùng Thanh – Nghệ bị lụt to, hàng trăm nghìn nhà cửa bị trôi dạt, mùa màng bị tổn hại thêm vào đó nhân dân đói khổ, nhiều người kéo nhau vào đất Thuận Hoá tính kế sinh nhai.
Năm 1572, nhân dân Nghệ An vừa bị chiến tranh tàn phá, vừa bị nạn đói nạ dịch hoành hành dữ dội, số người chết đói lên quá một nửa, số người còn lại phần nhiều bị phá sản lưu vong phải dạt ra vùng đông Bắc của nhà Mạc hay vào vùng Thuận Quảng của nhà Nguyễn làm cho thôn xóm Nghệ An nhiều nơi trở nên tiêu điều”[5,tr.29].
Như vậy, việc Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận-Quảng đã dẫn đến sựkiện là hàng loạt nông dân nghèo khổ ở miền Bắc đã di cư theo để làm ăn vàxây dựng cơ nghiệp trên mảnh đất Thuận Quảng Họ di cư vào do nhiều lÝ dokhác nhau, nhưng đa phần là do bất mãn với chính quyền phong kiến ĐàngNgoài
Thứ ba là lực lượng tù binh bắt được trong chiến tranh với họ Mạc và họTrịnh Ví dụ như năm 1572, Lập Bạo là một bộ tướng của nhà Mạc đem 60chiến thuyền có trang bị đầy đủ theo đường biển tiến vào đánh Thuận Hoáđịnh chiếm đất để đánh họ Trịnh ở Nghệ An Nguyễn Hoàng đã dùng mẹođánh tan quân Lập Bạo và dùng một số tù binh đó cho công cuộc khẩn hoang
Và sau này trong bảy lần giao tranh với quân Trịnh, chóa Nguyễn cũng bắtđược nhiều tù và hầu hết số tù binh này được sử dụng trong việc khai thác xứThuận-Quảng nói riêng và Đàng Trong nói chung
Một lực lượng rất quan trọng nữa chính là các cư dân bản địa Họ bao
Trang 13gồm nhiều thành phần tập hợp nhau lại thành các làng từ trước khi vùng đấtThuận-Quảng sát nhập vào Đại Việt Đó là các tù nhân bị đày đÕn đây từnhiều triều đại trước, là các cư dân Chăm (vì đây vốn là vùng đất của ChiêmThành) Trước khi Nguyễn Hoàng vào thì họ đang sống rời rạc, chưa chịu sựthống trị trực tiếp của triều đình Trung ương Đối với các lực lượng nàyNguyễn Hoàng và các chóa Nguyễn về sau đều thi hành những chính sáchmềm dẻo, động viên khuyến khích sức dân, quan tâm để nhanh chóng xâydựng xứ Thuận - Quảng trở thành cơ sở vững mạnh đủ sức chống chọi vớichóa Trịnh ở Đàng Ngoài.
Có thể nói,vùng đất Thuận-Quảng có thành phần dân cư hết sức phứctạp nhưng đó là nguồn lao động hết sức dồi dào và giàu kinh nghiệm Họ lànhững nông dân nghèo từ nhiều nơi đến qua nhiều thế hệ, mang theo cảnhững phong tục tập quán canh tác, kinh nghiệm sản xuất của quê hươngmình và nhanh chóng tiếp thu những phương thức khẩn hoang sản xuất của
cư dân bản địa Đồng thời họ cũng mang theo những hình thức làng xóm cổtruyền của người Việt đến vùng đất mới Cùng với việc mỏ mang bờ cõi, ôngcha ta với sự lao động không biết mệt mỏi đã quyết tâm biến vùng đất hoang
vu, khô cằn Êy thành những làng xóm trù phú, sầm uất, xứng đáng là mộttrung tâm của chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong
1.3.2 Các hình thức khẩn hoang.
Trong lịch sử khẩn hoang của chế độ phong kiến Việt Nam, trải qua cáctriều đại từ thời Lý, Trần, Lê đều có những đặc trưng khác nhau Chẳng hạnnhư thời Lê có hai hình thức khẩn hoang căn bản Thứ nhất là dùa vào lựclượng lính đồn điền do nhà nước trực tiếp tổ chức và quản lý Thứ hai là docác tầng líp nhân dân tự động tiến hành trong khuôn khổ những luật lệ quyđịnh của nhà nước phong kiến
Các hình thức khai hoang trên được các nhà nước phong kiến duy trì quacác giai đoạn sau này Xuất phát từ đặc điểm địa hình, điều kiện xã hội, yếu
Trang 14tố thiên nhiên chi phối nên trên mảnh đất Thuận-Quảng, chóa Nguyễn đã ápdụng những hình thức khẩn hoang khác nhau và trong mức độ nào đó nó đưalại những thành quả đáng kể Trong đó ở khu vực Thuận-Quảng hình thứckhai hoang của nhân dân phát triển rất mạnh Nhân dân khai hoang một cách
tự chủ, Ýt có sự ủng hộ của nhà nước và quy mô khai khẩn thường nhỏ Tuynhiên, do tiến hành thường xuyên trong thời gian dài nên kết quả đạt đượccũng khá lớn Còn hình thức khai hoang của nhà nước sử dụng binh lính tùbinh dù vẫn duy trì nhưng không phổ biến
Vùng đất Thuận-Quảng lúc này có một lực lượng cư dân đang sinh sốnggồm nhiều thành phần khác nhau nên rất phức tạp Điều đó đặt cho chóaNguyễn một vấn đề cần giải quyết là làm thế nào để ổn định dân cư đông đúccủa mình trên vùng đất còn hoang vắng chật hẹp này
Trước hết, chóa Nguyễn tổ chức cho dân chúng khai hoang bằng cách
mở rộng diện tích canh tác, thúc đẩy nông nghiệp phát triển bằng chính sách
“khai hoang lập làng” Chính quyền họ Nguyễn đã chia dân ra từng đoàn,cấp nửa năm lương thực, công cụ cho đi khai phá lập làng Êp cư trú làm ăn.Hình thức khai hoang, lập làng đầu tiên trên vùng đất Thuận-Quảng chính làquá trình khai khẩn những vùng hoang vu, lau sậy quanh nơi định cư Đây lànơi mà trước đây do dân số còn Ýt ỏi, điều kiện khai hoang lại chưa có nên
cư dân mới chỉ co côm trong mét khu vực hết sức nhỏ hẹp, diện tích canhtác Ýt Trong quá trình phát triển, dân số ngày càng tăng, nhu cầu về đấtthổ cư và đất canh tác theo đó cũng không ngừng tăng lên Điều đó đòi hỏi
họ phải khai hoang thêm những vùng đất xung quanh làng, làm cho diệntích canh tác rộng lên
Hình thức khẩn hoang thứ hai là hình thức khai hoang mang tính chấtđặc trưng của khu vực này, xuất hiện vào đầu thế kỉ XVII, XVIII khi mà dân
cư ngày càng đông đúc Trong khi đó đồng bằng lại không được mở rộng rabao nhiêu mà thậm chí còn bị thu hẹp lại do hiện tượng xâm lấn của các cồn
Trang 15cát ven biển Do đó, ở các làng xã lúc này có hiện tượng là tách từng bộ phậndân cư lên vùng gò đồi, trung du hoặc ra vùng đầm phá, vùng trũng,nơi mớiđược bồi đắp để khai hoang mở thêm các phường Êp Còn hình thức khẩnhoang lấn biển cũng có diễn ra ở Thuận-Quảng nhưng không có tính chất phổbiến Chỉ có một số làng làm nghề đánh cá ven các đầm phá đã chuyển lênlàm ruộng, họ đã khai phá vùng đất mới bồi đáp ven vùng đầm phá, cửa sông
để canh tác, lập làng…
Mét hình thức khẩn hoang nữa được áp dụng trên đất Thuận – Quảnglóc này là chóa Nguyễn đã sử dụng lực lượng binh lính để vừa làm nhiệm vụquân sự vừa làm nhiệm vụ khai hoang, phát triển sản xuất Với hình thức đócòng đưa lại một diện tích nhất định.Trên diện tích đó, những làng Êp mớiđược thành lập Hiện nay cũng còn rất nhiều làng mang tên những địa điểmđóng quân, những đồn ải thành luỹ trong cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn.Một hình thức khẩn khoang mà các chóa Nguyễn đã áp dụng và cũngđưa lại kết quả là việc sử dụng tù binh bắt được trong các cuộc giao tranh.Ngay từ khi vào Thuận Hoá, như trên đã nói năm 1572, chóa Nguyễn đãgiành thắng lợi với quân nhà Mạc do tướng Lập Bạo cầm đầu bắt được hàngngàn tù binh và số tù binh đó đã được chóa Nguyễn cho đi khai hoang lậplàng mới
Có thể thấy hình thức khai hoang trên được tổ chức với quy mô khônglớn lắm và cũng Ýt có sự chu cấp của nhà nước mà chủ yếu do dân chúngchủ động tiến hành nhưng cũng đã đưa lại những thành quả hết sức to lớn
1.3.3 Thành quả của công cuộc khẩn hoang
Công cuộc khai thác của nhà Nguyễn đã có tác dụng lớn trong việcphát triển kinh tế và làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt xứ Thuận-Quảng.Biến vùng đất Thuận-Quảng từ nơi hoang vu lạc hậu thành mảnh đất trùphú mà trong đó theo “Phủ biên tạp lục” có hơn 862 làng xã trong 2 phủ 8huyện và 3 châu Đồng thời kinh tế nông nghiệp ở đây cũng có bước phát
Trang 16triển đáng kể, đất hoang ngày càng bị thu hẹp, diện tích canh tác ngày càngtăng lên Cũng theo “phủ biên tạp lục” từ 7100 mẫu ruộng( thế kỉ XV) đến
1776 là 265.507 mẫu ruộng Với sức lao động bền bỉ, không biết mệt mỏicủa con người đã biết vùng đất Thuận-Quảng thành ruộng đất và xóm làngđông đúc Đất hoang được khai thác gần hết, từ nam Bố Chính (SôngGianh) cho đến tận đèo Hải Vân, tạo thành một đồng bằng hẹp ven bờ biển
và sát chân dãy Trường Sơn, theo những thung lũng các con sông, trong đó
đã có dân cư sinh sống và khai thác
Một thành tựu rất quan trọng nữa là số làng xã đã tăng lên một cáchđáng kể Trong những năm 1558 đến 1776 khi Lê Quý Đôn viết “Phủ biêntạp lục” thì số lượng làng xã ở đây đã tăng lên gấp đôi Chỉ riêng Thuận Hoá
số lượng làng xã là 862 làng trong 2 phủ 8 huyện 3 châu với 126.857 dânđinh các loại Xứ Quảng Nam tuy được khai thác muộn hơn nhưng với nhữngđiều kiện thuận lợi về thiên nhiên, nguồn lao động lại dồi dào nên đến giữa
thế kỷ XVIII, ở Quảng Nam "cũng đã có 16 huyện và nhiều thuộc với 95.731 dân đinh các loại" [8, tr.360] Ranh giới làng xã được hình thành trong quá
trình thành lập và mở mang phạm vi diện tích canh tác và mô hình của cáclàng mới này thường được mô phỏng theo các làng xã cổ truyền của cư dânViệt
Thuận-Quảng đã nhanh chóng trở thành căn cứ vững chắc cho dòng họNguyễn chống quân Trịnh và làm cơ sở cho dòng họ Nguyễn thực hiện quátrình Nam tiến về sau Công cuộc khai hoang lập làng xứ Thuận Hoá cũng đãlàm thay đổi bản đồ chính trị xứ Đàng Trong, trên cơ sở vùng đất chiếm được
từ sông Gianh vào Nam, chóa Nguyễn đã chia làm 12 dinh Trong đó Quảng gồm có các dinh: Bố Chính, Quảng Bình, Lưu Đồn, Cựu Dinh, ChínhDinh, Quảng Nam
Thuận-Công cuộc khẩn hoang xứ Thuận-Quảng cũng đưa đến kết quả quantrọng nữa là bên cạnh sản xuất nông nghiệp phát triển thì các ngành kinh tế