Mục tiêu nghiên cứu: - Hình thành cho được bộ tổng tập tài liệu và nội dung di văn Hán Nôm của toàn bộ 24 đình, chùa, miếu của thành phố Biên Hòa, phục vụ công tác nghiên cứu về lịch
Trang 11
Mục lục
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Mục tiêu nghiên cứu 6
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
3.1 Đối tượng nghiên cứu 7
3.2 Phạm vi nghiên cứu 7
4 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu 7
4.1 Cách tiếp cận 7
4.2 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Lịch sử vấn đề 8
6 Sản phẩm và khả năng ứng dụng 9
7 Bố cục và nội dung của đề tài 10
PHẦN NỘI DUNG 11
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiển 11
1.1 Tổng quan về đất và người Đồng Nai 11
1.1.1 Vùng đất 11
1.1.2 Con người 16
1.1.3 Sinh hoạt văn hóa cộng đồng 24
1.2 Thực trạng và tình hình nghiên cứu di văn Hán Nôm trong các đình, chùa, miếu ở Biên Hòa-Đồng Nai 29
1.2.1 Thực trạng di văn Hán Nôm ở đình, chùa, miếu Biên Hòa-Đồng Nai 29
1.2 2 Tình hình nghiên cứu 33
1.1 3 Tiểu kết 36
Chương 2: Lịch sử và di văn Hán Nôm trong các đình ở thành phố Biên Hòa-Đồng Nai 37
2.1 Đình Mỹ Khánh (Nguyễn Tri Phương), phường Bửu Hòa 37
2.1.1 Lịch sử hình thành 37
Trang 22
2.1.2 Nội dung di văn Hán Nôm 38
2.2 Đình Bình Trước, phường Thống Nhất 50
2.2.1 Lịch sử hình thành 50
2.2.2 Nội dung di văn Hán Nôm 53
2.3 Đình Tân Lân, phường Hòa Bình 70
2.3.1 Lịch sử hình thành 70
2.3.2 Nội dung di văn Hán Nôm 72
2.4 Đình Bình Thiền, phường Quang Vinh 97
2.4.1 Lịch sử hình thành 97
2.4.2 Nội dung di văn Hán Nôm 100
2.5 Đình Bình Kính (Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh), xã Hiệp Hòa 117
2.5.1 Lịch sử hình thành 117
2.5.2 Nội dung di văn Hán Nôm 119
2.6 Đình Tân Giám, xã Hiệp Hòa 130
2.6.1 Lịch sử hình thành 130
2.6.2 Nội dung di văn Hán Nôm 133
2.7 Đình Thành Hưng, xã Hiệp Hòa 152
2.7.1 Lịch sử hình thành 152
2.7.2 Nội dung di văn Hán Nôm 154
2.8 Đình An Hòa, xã An Hòa 163
2.8.1 Lịch sử hình thành 163
2.8.2 Nội dung di văn Hán Nôm 165
2.9 Đình Tân Phong, phường Tân Phong 177
2.9.1 Lịch sử hình thành 177
2.9.2 Nội dung di văn Hán Nôm 179
2.10 Đình An Hảo, phường An Bình 190
2.10.1 Lịch sử hình thành 190
2.10.2 Nội dung di văn Hán Nôm 192
2.11 Đình Phước Lư, phường Quyết Thắng 198
Trang 33
2.11.1 Lịch sử hình thành 198
2.11.2 Nội dung di văn Hán Nôm 199
2.12 Đình Đoàn Văn Cự, phường Tam Hiệp 209
2.12.1 Lịch sử hình thành 209
2.12.2 Nội dung di văn Hán Nôm 211
2.13 Tiểu kết 219
Chương 3: Lịch sử và di văn Hán Nôm trong các chùa ở Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 221
3 Chùa Đại Giác, xã Hiệp Hòa 221
3.1.1 Lịch sử hình thành 221
3.1.2 Nội dung di văn Hán Nôm 222
3 2 Chùa Ông, xã Hiệp Hòa 230
3.2.1 Lịch sử hình thành 230
3.2.2 Nội dung di văn Hán Nôm 232
3.3 Chùa Bửu Phong, phường Bửu Long 254
3.3.1 Lịch sử hình thành 254
3.3.2 Nội dung di văn Hán Nôm 256
3.4 Chùa Thanh Lương, phường Bửu Hòa 262
3.4.1 Lịch sử hình thành 262
3.4.2 Nội dung di văn Hán Nôm 264
3.5 Chùa Long Thiền, phường Bửu Hòa 297
3.5.1 Lịch sử hình thành 297
3.5.2 Nội dung di văn Hán Nôm 281
3.6 Chùa Hạnh Sơn, xã Tân Thạnh 309
3.6.1 Lịch sử hình thành 309
3.6.2 Nội dung di văn Hán Nôm 310
3.7 Tiểu kết 313
Chương 4: Lịch sử và di văn Hán Nôm trong các miếu ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 314
Trang 44
4 1 Miếu Bà Ngũ hành, phườn Quang Vinh 314
4.1.1 Lịch sử hình thành 314
4.1.2 Nội dung di văn Hán Nôm 315
4 2 Miếu Thiên hậu, phường Bửu Long 319
4.2.1 Lịch sử hình thành 319
4.2.2 Nội dung di văn Hán Nôm 322
4 3 Miếu Đắc Phước, phường Tân Vạn 335
4.3.1 Lịch sử hình thành 335
4.3.2 Nội dung di văn Hán Nôm 336
4.4 Miếu Ngũ hành, xã An Hòa 339
4.4.1 Lịch sử hình thành 339
4.4.2 Nội dung di văn Hán Nôm 342
4.5 Miếu Thổ thần (miếu Thành Hoàng) 344
4.5.1 Lịch sử hình thành 344
4.5.2 Nội dung di văn Hán Nôm 345
4.6 Miếu Thiên Hậu (chùa Thiên Hậu) 349
4.6.1 Lịch sử hình thành 349
4.6.2 Nội dung di văn Hán Nôm 351
4.7 Tiểu kết 353
Chương 5: Giá trị lịch sử, văn hóa qua di văn Hán Nôm trong các đình, chùa, miếu ở Biên Hòa-Đồng Nai 354
5.1 Giá trị lịch sử 355
5.2 Giá trị văn hóa 372
5.3 Tiểu kết 394
PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP 395
1 Kết luận 395
2 Kiến nghị 398
3 Giải pháp 400
TÀI LIỆU THAM KHẢO 402
Trang 55
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Biên Hòa – Đồng Nai có nhiều cơ sở tín ngưỡng đình, chùa, đền, miếu lưu giữ văn tự Hán Nôm thể hiện nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng, văn hóa tinh thân của người Việt, người Hoa Văn tự Hán Nôm là văn tự được nhà nước phong kiến Việt Nam sử dụng là hệ thống văn tự chính thống đến hơn mười thế kỉ, là một loại hình văn tự có thể nói được xem là văn hóa chữ viết đầu tiên của người Việt Nam, lưu giữ nhiều giá trị đời sống xã hội của người Viêt Nhưng nó cũng là loại văn tự mà ngày nay đã không được sử dụng là hệ thống văn tự chính thống của Việt Nam mà nó chủ yếu được tồn sinh nơi đình chùa hay được lưu giữ ở các thư tịch cổ xưa, thế hệ hôm nay ít người biết đến loại hình văn tự này Vì vậy khi tiếp xúc với loại hình văn ngôn này ít có ai đọc hiểu được, số người đọc và hiểu được những tinh hoa văn hóa mà cha ông để lại đếm trên đầu ngón tay Từ đó dẫn đến tình trạng mập mờ, hiểu sai, phản ánh sai và đi đến làm sai Một mặt làm cho đạo đức truyền thống xã hội Việt Nam ngày càng xuống cấp, mặt khác không phát huy hết được những giá trị truyền thống cha ông để lại qua văn bản Hán Nôm Đó chính là tính cấp thiết để triển khai thực hiện đề tài
Trong quá trình thiết trí, hay trùng tu tôn tạo hoành phi, câu đối Hán Nôm ở các đình, chùa, miếu trên địa bàn thành phố Biên Hòa cũng không thể tránh khỏi có những sai sót về tự dạng dẫn đến hiểu lệch về nội dung Do quá trình đô thị hóa diễn
ra với tốc độ cao của đời sống hiện đại, các loại hình văn tự Hán Nôm được chạm khắc, cẩn ốc lên gỗ hay lên vải lụa bị bỏ ngõ, tháo gỡ, thu xếp nhường không gian cho các sinh hoạt với mục đích kinh doanh, buôn bán, hay thuê mượn mặt bằng… làm ảnh hưởng lớn đến sự tồn sinh của loại hình văn tự này Cộng với việc người biết
về tự dạng Hán Nôm ngày càng ít đi, nếu không kịp thời điều tra, khảo sát, tìm hiểu
để minh định và phục dựng lại nguyên trạng, hay đa dạng các loại hình lưu trữ công nghệ hỗ trợ và in ấn, phát hành các ấn phẩm để lưu truyền, phát huy giá trị vốn có thì không gian tồn tại của nó sẽ mất đi trong một sớm một chiều
Trang 66
Với những lí do, tính cấp thiết nêu trên, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài:
Điều tra, khảo sát, tìm hiểu di văn Hán Nôm trong 24 đình, chùa, miếu ở Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Hy vọng khi thực hiện thành công, đề tài bổ sung
thêm nguồn tư liệu quý giá giúp các nhà quản lý văn hóa Thành phố Biên Hòa hoạch định chính sách quản lý văn hóa một cách hài hòa trong quá trình đô thị hóa của thành phố, phát huy được các giá trị vốn có của nó đối với thế hệ hôm nay và mai
sau Đóng góp thiệt thực trong việc thực hiện chương trình Khảo cứu di văn Hán
Nôm ở Đông Nam bộ nhằm phục dựng lại đời sống xã hội mà di văn Hán Nôm ở
đình, chùa, miếu thuộc Biên Hòa- Đồng Nai mang lại
2 Mục tiêu nghiên cứu:
- Hình thành cho được bộ tổng tập tài liệu và nội dung di văn Hán Nôm của
toàn bộ 24 đình, chùa, miếu của thành phố Biên Hòa, phục vụ công tác nghiên cứu
về lịch sử, văn hóa, tiến trình khai mở làng xã ở Biên Hòa xưa góp phần minh định chính xác hơn về lịch sử hình thành và phát triển đất và người Nam bộ nói chung
- Xác lập và lưu truyền những giá trị văn hóa tinh thần, giá trị đạo đức truyền thống của con người Việt Nam vùng Biên Hòa- Đồng Nai nói riêng và Đông Nam bộ nói chung nhằm giáo dục truyền thống những giá trị đó trong đời sống hiện đại hôm nay và mai sau
- Tìm hiểu về nhận thức, tư tưởng của người Biên Hòa qua các thời kỳ lịch sử thông qua khảo sát nội dung ý nghĩa của di văn Hán Nôm ở 24 đình, chùa, miếu Từ
đó, khắc họa được nội dung, đặc điểm của quan niệm về đạo lý nhân sinh, về ý thức cộng đồng, về tư tưởng triết học Nho, Phật, Lão của người Biên Hòa xưa Góp thêm
cơ sở nhận thức và khoa học, để tham khảo trong việc định hình chính sách cụ thể của Thành phố trong phát triển kinh tế, xã hội, nhất là định hướng phát triển về văn hóa và tín ngưỡng ở địa phương và khu vực Đông Nam bộ
Ngoài ý nghĩa về mặt khoa học được nêu trên, nghiên cứu đề tài còn là một
bước tiến để triển khai đề tài: Điều tra, khảo sát, tìm hiểu di văn Hán Nôm trong các
đình, chùa, miếu ở tỉnh Đồng Nai cũng như trong chương trình “Khảo cứu di văn
Trang 77
Hán Nôm ở vùng Đông Nam bộ” của trường Đại học Thủ Dầu Một trong chủ trương khuyến khích những công trình khoa học có ý nghĩa thiết yếu đáp ứng sứ mạng, mục tiêu của nhà trường đồng thời đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, gắn việc đào tạo của
Trường Đại học Thủ Dầu Một với việc phát triển kinh tế, xã hội ở miền Đông Nam bộ
Đề tài cũng sẽ tạo sự kết nối giữa những nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội như văn học, lịch sử, văn hóa, địa lí …
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Điều tra, khảo sát, tìm hiểu toàn bộ di văn Hán Nôm trong 24 đình, chùa, miếu
ở thành phố Biên Hòa- Đồng Nai Các vấn đề được tiến hành nghiên cứu: khảo sát, ghi chép lịch sử, vẽ sơ đồ phân bố các thành tố Hán Nôm, gõ vi tính, phiên âm, dịch nghĩa và chú giải một số trường hợp đặc biệt
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Toàn bộ di văn Hán Nôm có trong 24 đình, chùa, miếu thuộc thành phố Biên Hòa –Đồng Nai như hoành phi, câu đối, chữ thờ, văn bia, sắc phong … Cụ thể các di văn ở: Đình Tân Lân, đình Bình Thiền, đình Bình Trước, đình Mỹ Khánh, đình Nguyễn Hữu Cảnh, đình Thành Hưng, đình Tân Giám, đình An Hòa, đình Tân Phong, đình An Hảo, đình Phước Lư, đình Đoàn Văn Cự, chùa Thanh Lương, chùa Đại Giác, chùa Ông, chùa Bửu Phong, chùa Thanh Lương, chùa Long Thiền, chùa Hạnh Sơn; miếu Đắc Phước, miếu Bà Ngũ Hành, miếu Bà Thiên Hậu, miếu Ngũ Hành (xã An Hòa), miếu Thổ Thần, miếu Thiên Hậu (phường Hòa Bình)
4 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu
4.1 Cách tiếp cận:
Để thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp Văn bản học Hán Nôm, phương pháp duy vật lịch sử để khảo sát, so sánh, minh định, phân loại, đánh giá, phân tích và tổng hợp
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 8đề bên trong, bên ngoài của văn bản
Phương pháp điền dã: tiến hành các cuộc phỏng vấn sâu với các vị trong Ban quý tế đình, Ban quản lí hay chức sắc trụ trì …
Phương pháp phân tích để phân tích, tìm hiểu, đánh giá nội dung …
công: “Tìm hiểu liễn đối Hán Nôm trong đình, chùa, miếu tỉnh Bình Dương” của Hội
Khoa học Lịch sử tỉnh Bình Dương xuất bản, công bố tháng 3 năm 2017 Công trình
đã làm được một khối lượng công việc đồ sộ là ghi chép, phiên âm, dịch nghĩa, chú giải được hết các hoành phi, liễn đối ở 99 cơ sở thờ tự trong toàn tỉnh Bình Dương; đưa ra được những nhận định, đánh giá bước đầu về văn hóa Hán Nôm Bình Dương Riêng ở Biên Hòa- Đồng Nai cũng đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, cụ thể:
Năm 2002, Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Đồng Nai xuất bản cuốn“Những ngôi
chùa Đồng Nai”, chủ yếu giới thiệu về quá trình hình thành và phát triển của các
ngôi chùa; giới thiệu về các đời trụ trì và sinh hoạt văn hóa tâm linh ở chùa Vấn đề tìm hiểu về di văn Hán Nôm ở chùa thì hoàn toàn chưa được đề cấp tới trong tài liệu
Năm 2013, Bảo tàng Đồng Nai xuất bản cuốn“Nghi và văn cúng chữ Hán ở thành
phố Biên Hòa”, đây thực sự là cuốn tài liệu hết sức quý giá tìm hiểu về di văn Hán
Nôm ở đình để bảo tồn và phát huy giá trị về nghi lễ cúng đình và miếu ở Biên Hòa -
Trang 99
Đồng Nai Tuy nhiên, tài liệu này chỉ mới dừng lại ở việc tìm hiểu di văn Hán Nôm ở thể loại nghi và văn cúng mà không phải toàn bộ mọi thể loại di văn Hán Nôm ở đình, chùa, miếu,…thành phố Biên Hòa- Đồng Nai
Tập tư liệu sơ thảo “Di sản chữ Hán trong các đình, chùa, miếu mạo, từ đường ở
Biên Hòa, Đồng Nai” được tác giả Huỳnh Minh Đức thực hiện năm 1996, đây cũng
là tập tư liệu hết sức giá trị cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Hán Nôm ở Biên Hòa-Đồng Nai Song tập tư liệu này chỉ dừng lại ở sơ thảo, bước đầu nghiên cứu di sản Hán Nôm ở một số đình, chùa, miếu Một số ở đây không hẳn
đã trùng khít với 24 đình, chùa, miếu mà đề tài tiến hành tìm hiểu Hơn nữa tài liệu chỉ mới điều tra khảo sát, phiên âm, dịch nghĩa, có chú giải nhưng còn sơ lược, chưa rút ra các giá trị Một đặc điểm nữa là tư liệu chưa được in ấn, phát hành công bố mà chỉ tồn tại như những tài liệu chuyên môn của đơn vị, địa phương Nhóm nghiên cứu cũng chưa có cơ may để được tiếp xúc tập tài liệu này
Các nghiên cứu của Huỳnh Văn Tới, Phan Đình Dũng, Lương Thuý Nga, Nguyễn Tuyết Hồng, Hương Xuân cũng đã có những bài viết về đình, chùa, miếu Nhưng những nghiên cứu này quan tâm về lịch sử, văn hóa nghệ thuật của một số đình, chùa Khía cạnh về Hán Nôm hầu như chưa được đề cập đến nhiều, có chăng đề cập đến sắc phong của một vài ngôi đình, song cũng không tiến hành đánh máy phần chữ Hán
mà chỉ phiên âm Hán Việt rồi dịch nghĩa
Qua đó cho thấy chủ đề nghiên cứu về đình, chùa, miếu và di văn Hán Nôm ở Biên Hòa - Đồng Nai khá phong phú đa dạng Tuy nhiên vẫn còn khá khiêm tốn so với trữ lượng mà di văn Hán Nôm tồn tại ở đình, chùa, miếu, nhà cổ, đền vẫn còn
có những khía cạnh cần được khai thác tìm hiểu nhằm để phát huy các giá trị di sản Hán Nôm vốn có
Trang 1010
- Đóp góp vào việc tìm hiểu về lịch sử và di văn Hán Nôm ở 24 cơ sở tính ngưỡng như đình, chùa, miếu trên địa bàn Thành phố Biên Hòa- Đồng Nai Trong đó
có 12 ngôi đình, 6 ngôi chùa và 6 ngôi miếu
- Góp phần tìm hiểu về vùng đất và con người Biên Hòa - Đồng Nai qua tư liệu Hán Nôm ở 24 cơ sở tín ngưỡng đình, chùa, miếu
- Đóng góp cho thực tiễn nghiên cứu và giảng dạy, học tập về học phần Hán Nôm, thơ Đường trong NTPT, Văn học trung đại, Văn học Trung Quốc
- Góp phần thực hiện thành công chương trình “Khảo cứu di văn Hán Nôm
vùng Đông Nam bộ”
7 Bố cục và nội dung của đề tài
Đề tài nghiên cứu gồm ba phần: mở đầu, nội dung và kết luận Phần nội dung chính gồm năm chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiển
- Chương 2: Lịch sử và di văn Hán Nôm trong các đình ở thành phố Biên Hòa, tỉnh
- Chương 5: Giá trị lịch sử, văn hóa qua di văn Hán Nôm trong các đình, chùa, miếu
ở thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai
Trang 1111
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐẤT VÀ NGƯỜI ĐỒNG NAI
1.1.1 Vùng đất
Khi nhắc đến Đồng Nai, người ta thường đặt câu hỏi địa danh “Đồng Nai” có
từ bao giờ ? Khảo cổ học Đồng Nai đoán định lưu vực sông Đồng Nai đã có con người cư trú từ thời sơ kì đá cũ cách nay khoảng 700 ngàn đến 300 ngàn năm, song chưa có tư liệu nào ghi vùng đất này thuở đó gọi là gì Người Chơro – một trong những cư dân bản địa từ xa xưa từng gọi địa điểm Biên Hòa ngày nay với cái tên là
Bù Blih, song người ta cũng không biết địa danh này có từ bao giờ mà chỉ cho rằng
nó có từ khi Biên Hòa chỉ một làng nhỏ như bất kì xóm làng nào của đồng bào các
dân tộc ít người Trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1776), ghi “ Đất Đồng Nai
từ các cửa biển cần Giờ, soi Rạp, cửa Đại, cửa Tiểu toàn là rừng rậm hàng mấy ngàn dặm…đất ấy nhiều ngòi rạch, đường nước như mắc cửi, không tiện đi bộ Người buôn có thuyền lớn thì tất đèo thêm xuồng nhỏ để thông đi các kênh Từ cửa biển đến đầu nguồn đi sáu, bảy ngày hết thảy là đồng ruộng, nhìn bát ngát, nhìn phẳng như thế đấy, rất hợp trồng lúa nếp, lúa tẻ, gạo đều trắng dẻo” Trong Gia Định thành thông chí (1820), Trịnh Hoài Đức ghi: “Bà Rịa ở đầu trấn Biên Hòa là đất có danh tiếng, nên các phủ phía Bắc có câu ngạn rằng: cơm Nai Rịa, cá Rí Rang,
ấy là xứ Đồng Nai và Bà Rịa đứng đầu mà bao gồm cả Bến Nghé, Sài Gòn, Mỹ Tho, Long Hồ vậy” Ở Đại Nam nhất thống chí của quốc sử quán triều Nguyễn; Mục thị
điểm (chợ quán viết: “Chợ Lộc Dã ở phía nam hạ lưu Phước Long (sông Đồng Nai,
Nv cú) huyện Phước Chánh, nguyên xưa là cánh đồng hươu nai ở, nên đặt tên ấy, hoặc gọi Lộc động, tục danh chợ Đồng Nai cũng là chỗ này Xét sáu tỉnh Gia Định
mà thông xưng là Đồng Nai, vì khi đầu khai thác từ chỗ Đồng Nai trước hết, nên cứ
Lâm Hiếu Trung (Chủ biên) (1998), Biên Hòa -Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển,
Nxb Đồng Nai
Trang 1212
chỗ gốc cũng gồm đủ chỗ ngọn” Trong dịp kỉ niệm Biên Hòa- Đồng Nai 300 năm
hình thành và phát triển, địa danh Đồng Nai cũng được đề cập, với nhiều ý kiến
thuyết phục bạn đọc, trong đó nổi lên ý kiến của tác gia tham luận “Nguồn gốc, ý
nghĩa và phát triển của địa danh Đồng Nai”, Tác giả Lê Trung Hoa cho rằng địa
danh Đồng Nai xuất hiện bằng chữ quốc ngữ lần đầu tiên trong một báo cáo của Giáo hội Thiên Chúa về tình hình giáo dân ở Nam bộ năm 1747 Sau đó địa danh Đồng Nai xuất hiện vừa bằng chữ Nôm, vừa bằng chữ quốc ngữ vào năm 1772 trong cuốn
từ điển An Nam –La Tinh của Pigneau de Béhaine
Có thể nói rằng: có nhiều ý kiến nói về địa danh Đồng Nai, song chưa có ý kiến nào khẳng định chính xác về thời gian xuất hiện địa danh Đồng Nai Chỉ biết rằng địa danh Đồng Nai đã có từ xa xưa và đã đi vào sử sách, đi vào ca dao cách nay hàng trăm năm:
Làm trai cho đáng nên trai
Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai đã từng
và
Nhà Bè nước chảy chia hai,
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về
và
Đồng Nai gạo trắng như cò
Trốn cha, trốn mẹ, xuống đò theo anh
Thật vậy, tên gọi Đồng Nai không biết từ bao giờ đã đi vào lịch sử, ca dao đất Việt mà ngày nay khi nhắc đến Đồng Nai có lẽ ai cũng thuộc những câu ca dao này
Đã có nhiều công trình, nhiều bài viết của nhiều tác giả nổi tiếng trong và ngoài nước nói về địa danh Đồng Nai, vì vậy, ở đề tài nhóm nghiên cứu chỉ mạo muội khái lược
sơ bộ nhằm làm để dẫn để tìm hiều các phần tiếp theo của đề tài
Lâm Hiếu Trung (Chủ biên) (1998), Biên Hòa -Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển,
Nxb Đồng Nai
Trang 1313
Địa phận Đồng Nai, kể từ khi Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý vùng đất phương Nam (1698), lịch sử vùng đất Đồng Nai ngày nay đã nhiều lần thay đổi địa giới hành
chánh Theo sách Biên Hòa- Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển, trang 13,
khi vào kinh lý đất phương Nam, Nguyễn Hữu Cảnh đặt vùng đất Nam Bộ thành phủ Gia Định gồm hai huyện: là huyện Tân Bình và huyện Phước Long, Đồng Nai thuộc huyện Phước Long Đến giữa thế kỷ XVIII, đất Gia Định được chia làm ba dinh: trấn Biên, Phiên Trấn và Long Hồ Đến 1808, nhà Nguyễn đổi phủ Gia Định thành Gia Định thành, các Dinh đổi thành Trấn và vì vậy dinh Trấn Biên được đổi thành trấn Biên Hòa
Năm 1832, trấn được đổi thành tỉnh và vì vậy trấn Biên Hòa được đổi thành tỉnh Biên Hòa, gồm một phủ Phước Long và bốn huyện Đến năm 1837, tỉnh Biên Hòa đặt thêm phủ Phước Tuy Như vậy đến năm 1837, tỉnh Biên Hòa gồm hai phủ là Phước Long và Phước Tuy cùng các huyện Phước Chánh, Phước An, Bình An, Ngãi
An, Long Khánh và Long Thành
Trong thời kì thuộc Pháp rồi đến chống Pháp và chống Mỹ đơn vị hành chánh Đồng Nai đã được chia tách sáp nhập nhiều lần Ngay cả khi hòa bình thống nhất đất nước 30/4/1975, đơn vị hành chánh Đồng Nai cũng được chia tách sáp nhập nhiều lần
Hiện nay, Đồng Nai là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, phía đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía đông bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía tây bắc giáp tỉnh Bình Dương
và tỉnh Bình Phước, phía nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, phía tây giáp Thành phố
Hồ Chí Minh Đồng Nai có diện tích tự nhiên là 5.903.940 km2 ha, chiếm 1, 76% diện tích tự nhiên cả nước và 25, 5% diện tích tự nhiên vùng Đông Nam Bộ Theo số liệu thống kê năm 2010, toàn tỉnh có trên 2.281.705 người; mật độ dân số 386.511 người/km2
, được phân thành 11 đơn vị hành chánh, với 1 Thành phố, 1 Thị xã và 9 Huyện là: Thành phố Biên Hòa, Thị xã Long Khánh, 9 huyện (Long Thành, Nhơn
Đơn vị hành chánh có tính dân sự khác với tên gọi dinh Trấn Biên là chỗ trại quân gìn giữ bờ cõi
Trang 14, bao gồm một số loại đất như: đất phù sa, đất gley và đất cát có địa hình bằng phẳng, cũng có nhiều nơi trũng ngập nước quanh năm Đất đen, đất nâu, đất xám hầu hết có độ dốc dưới 80 ; đất đỏ có độ dốc dưới 150
Riêng đất tầng mỏng
và đất đá bọt có độ dốc cao
Tổng diện tích đất tự nhiên của Đồng Nai là 586.237 ha được chia thành 10 nhóm chính Đất xám chiếm 40.05%; đất đen 22,44%; đất đỏ 19,27%; đất gley (9,32%; đất nâu 1,94%, đất tầng mỏng 0,54%, đất cát 0,1%, đất có tầng loang lổ 0,02% còn lại là đất đá bọt Trong tổng số đất tự nhiên, diện tích đất nông nghiệp chiếm 49,1%, lâm nghiệp 30,4%, đất chuyên dùng 2,1%, đất chưa sử dụng chiếm 5,4% Với đặc điểm của từng loại đất như đất xám, đất đen, đất đỏ, đất đai ở Đồng Nai phù hợp với phát triển sản xuất nông nghiệp cây lúa, rau, màu cây ăn trái, cây công nghiệp lâu năm như điều, cao su, cà phê…và với loại đất xám, tương đối rắn phù hợp để xây dựng kết cấu hạ tầng ở Đồng Nai Trong tổng số diện tích lâm nghiệp,
ở Đồng Nai có hai loại rừng chủ yếu, là rừng nguyên sinh và rừng trồng, tiêu biểu nhất là rừng Quốc Gia Nam Cát Tiên Đất đai ở Đồng Nai cũng tàng tích nhiều loại khóang sản như kim loại quý (vàng), kim loại màu (bôxit), đá quý, nguyên liệu gốm
sứ (cao lanh, sét bột màu), vật liệu xây dựng, phụ gia xi măng, than bùn,… là những lợi thế để Đồng Nai khai thác phát triển kinh tế, xã hội địa phương và khu vực
Nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới vùng Nam Bộ, Đồng Nai có đặc điểm chung là nắng nóng và mưa nhiều, độ ẩm cao Một năm có hai mùa rõ rệt là mùa mưa
và mùa khô Mùa khô, nắng nóng kéo dài từ cuối tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong năm, nắng trung bình 2400-2500 giờ, thời gian nắng nhiều nhất là vào các tháng 2, 3, 4 Mùa mưa, bắt đầu từ tháng 5 đến cuối tháng 10, lượng mưa trung bình khá cao, khoảng 1.700 đến 1.800mm/năm, mưa nhiều nhất là các tháng 7, 8, 9 Nhiệt
độ trung bình ở Đồng Nai dao động từ 20 đến 300c Tùy mùa, nhiệt độ ở Đồng Nai có
Trang 1515
sự thay đổi từ 190c (tháng 12) đến 370c (tháng 4, 5) thậm chí lên tới 400c, nhưng sự thay đổi qua các tháng không lớn, nhất là vào các tháng mùa khô, khi có gió mùa Tây Nam thổi mạnh ở các vùng phía Bắc thì nhiệt độ có lúc giảm xuống dưới 200
C Sương mù vào đêm nhưng ban ngày nắng khô đến 37, 380C Song, trong những năm gần đây, do sự biến đổi về khí hậu mà lượng mưa của các tháng trong năm có xu hướng giảm, ngược lại các tháng nắng nóng, khô hạn trong năm có chiều hướng gia tăng hoặc có nhiều khi bất thường, không theo mùa Tuy nhiên, đây cũng là tình hình chung của cả nước và thế giới Nói chung, khí hậu ở Đồng Nai tương đối ôn hòa, ít thiên tai, bão lụt
Mạng lưới sông suối ở Đồng Nai tương đối thuận lợi, với nhiều sông suối chảy qua tiêu biểu như là sông Đồng Nai, sông La Ngà, sông Ray, sông Xoài, sông Thị Vải và nhiều nhánh sống, hồ chứa, suối rạch nhỏ khác rất thuận lợi cho việc lấy nước phục vụ sản xuất nông, công nghiệp và sinh hoạt của bà con trong tỉnh cũng như giao thông đường thủy Song mật độ sông suối ở Đông Nai phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở phía bắc và dọc theo sông Đồng Nai về hướng tây Nam
Mạng lưới giao thông đường bộ ở Đồng Nai rất thuận lợi với nhiều tuyến đường huyết mạch Quốc gia chạy qua như: Quốc lộ 1A, Quốc lộ 20, Quốc lộ 51, tuyến đường sắt Bắc – Nam và gồm nhiều tuyến đường liên tỉnh, các cảng Long Bình Tân, Gò Dầu, Phú Mỹ… lại gần với cảng Sài Gòn, sân bay Tân Sân Nhất rất thuận lợi cho việc đi lại của người dân và hoạt động giao thương phát triển kinh tế của tỉnh, khu vực phía Nam và cả nước Hơn nữa vùng đất Đồng Nai có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời, lại có nhiều tuyến điểm du lịch đã và đang được hình thành như: tuyến du lịch sông Đồng Nai, -Cù Lao phố-Bửu Long; tuyến du lịch sông Mây –Trị
An, tuyến thác Mai-Suối Mơ…
Với đặc điểm là địa phương có lịch sử - văn hóa truyền thống lâu đời, địa hình đất đai phù hợp phát triển nông, công nghiệp, lại giàu tài nguyên khoáng sản, được thiên nhiên ban tặng nhiều thắng cảnh đẹp, thuận lợi giao thông đường thủy, bộ tạo cho Đồng Nai một diện mạo hết sức hấp dẫn hội đủ thiên thời, địa lợi để phát triển kinh tế, xã hội Và trên thực tế, Đồng Nai đã tận dụng được những lợi thế này để phát
Trang 1616
triển về công nghiệp hình thành nên những cụm, khu công nghiệp ở Biên Hòa, Nhơn Trạch, Long Thành và nhiều địa phương khác trong tỉnh Phát triển nông nghiệp với nhiều loại cây ăn trái, cây hoa màu, cây lúa và cây công nghiệp dài ngày cùng kết hợp chăn nuôi gia súc gia cầm… phát triển kinh tế du lịch, dịch vụ với các tuyến du lịch trong tỉnh ngoài tỉnh và cả nuớc đã được nối kết, phát triển đem lại hiệu quả cao Nhìn chung, với lợi thế về địa hình đất đai và với bề dày truyền thống về lịch sử -văn hóa Đồng Nai đã khai thác phát triển kinh tế, xã hội thật đa dạng và phong phú 1.1.2 Con người
Đồng Nai nói riêng và Đông Nam Bộ nói chung, từ lâu đã có người cư trú
Theo sách Biên Hòa –Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển, trang 50, ở một số
địa phương trong tỉnh Đồng Nai như: Dầu Giây, An Lộc, Hàng Gòn, Cảm Tiểm, Bình Lộc, Núi Đất, Phú Quý… đã phát hiện những công cụ lao động của người cổ Đồng Nai thuộc sơ kì đá cũ như rìu tay, mũi nhọn, hòn ném, nạo, mảnh tước… được làm từ đá Bazan loại chất liệu rất phong phú ở Đồng Nai Đây là những bằng chứng xác thực được khảo cổ học Đồng Nai chứng minh và cho rằng ở thời đá cũ đã có con người sinh sống trên đất Đồng Nai Đại diện cho người Đồng Nai cổ đó chính là các dân tộc như Xtiêng, Mạ, Chơro, Kơho, M,
nông Qua những công cụ tìm thấy, cho biết người Đồng Nai ở buổi ban đầu chủ yếu sống bằng nghề săn bắt hái lượm Dần dần người cổ Đồng Nai biết sáng chế cuốc đá, rìu mài nhẵn, dao đá… để phục vụ cho trồng trọt, chăn nuôi (tiền nông nghiệp) thay thế săn bắt và hái lượm trước đó cũng là giai đoạn chuyển dần sang thời đá mới, rồi đồ sắt… Cùng với đó là sự phát triển về dân số của người Đồng Nai cổ để rồi họ đã dần định cư theo làng và bắt đầu có sự phân công lao động Tuy nhiên, cư dân Đồng Nai ở giai đoạn này cũng mới chỉ là các dân tộc đã kể trên mà chưa có sự di cư từ nơi khác tới Cho đến thế kỷ XVI, dân
số nơi đây vẫn còn thưa thớt, ngoài các dân tộc bản địa nói trên, ở Đồng Nai lúc này còn có sự hiện diện của người Khmer sinh sống rải rác trong một vài sóc nhỏ, nằm heo hút trên các giống đất cao chưa có người cai quản
Lâm Hiếu Trung (Chủ biên) Biên Hòa- Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển, Nxb Đồng
Nai, 1998
Trang 1717
Khoảng đến cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII, người dân từ các tỉnh miền Bắc, miền Trung, với muôn hoàn cảnh và lý do, họ lần lượt kéo nhau về đây làm ăn sinh sống và tạo dựng cuộc sống mới Những cuộc di dân này diễn ra lẻ tẻ, với những
lý do bỏ quê hương đi tìm cuộc sống mới chứ chưa có sự can thiệp của chính quyền nhà Nguyễn, bởi lẽ lúc này cũng là thời Trịnh - Nguyễn phân tranh Miền ác địa Thủy Chân Lạp vẫn còn vô chủ, mặc nhiên được xem như vùng trái độn giữa hai biên giới Việt và Miên Vì vậy bất kỳ dân tộc nào có gan dạ, có sức, có lực… ai ai muốn đến chiếm cứ khai phá vùng này lấy đất sinh sống đều được tự do, không bị cản trở, cấm đoán Khi chính quyền nhà Nguyễn tạo được ảnh hưởng của mình trên vùng đất Đồng Nai –Gia Định và mạnh lên từ cuối thế kỷ XVII, điều đó đã khuyến khích làn sóng di cư của người Việt đến vùng đất mới này ngày một đông Lịch sử đã ghi chép, khoảng cuối thế kỷ XVI đến đầu thể kỷ XVII cư dân người Việt từ vùng Ngũ Quảng
đã lũ lượt kéo nhau tới vùng đất phía Nam để sinh cơ lập nghiệp, tạo dựng cuộc sống mới với muôn hoàn cảnh và lý do khác nhau Điểm dừng chân đầu tiên của người Việt là vùng Mô Xoài (còn gọi là Mỗi Xuy tức Bà Rịa) địa đầu của vùng đất mới nằm trên trục giao thông đường bộ từ Bình Thuận vào Nam, lại nằm trên đường biển có vịnh biển Ô Trạm rất thuận lợi cho tàu thuyền cập bến Đây là một vùng rộng lớn từ
Long Hương, Phước Lễ đến đất đỏ ngày nay Theo Trịnh Hoài Đức “Gia Định thành
thông chí” thì lưu dân Việt Nam đã vào Mô Xoài từ các đời chúa Nguyễn Hoàng
(1558-1613), chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) chúa Nguyễn Phúc Lan 1648) chứ không phải họ theo đạo quân của Nguyễn Phúc yên vào Mô Xoài năm
(1635-1658 Đến sau nữa thế kỉ XVII số di dân người Việt đến vùng này đã khá đông, trong
đó có những di dân Thiên Chúa Giáo trốn chạy việc cấm đạo
Từ Mô Xoài, Bà Rịa, các thế hệ di dân tự do người Việt với phương tiện di chuyển chủ yếu là thuyền, ghe, xuồng theo thủy triều ngược dòng Đồng Nai và cả đi
bộ dọc theo sông tiến dần vào vùng Đồng Nai Các điểm định cư sớm nhất của họ ở khu vực Đồng Nai ngày nay là Nhơn Trạch, Long Thành, An Hòa, Bến Gỗ, Bàn Lân,
Trang 1818
cù lao Phố, cù lao Tân Chánh, cù lao Ngô, cù lao Kinh, cù lao Tân Triều …rồi đến Biên Hòa, Vĩnh Cửu vì những vùng này ghe thuyền dễ cập bến và là nơi sẵn nước ngọt phục vụ cho sinh hoạt và trồng tỉa Song song với đó, các vùng ven núi như núi Thiết Khâu (tục danh núi Lò Thổi), núi Ký (tục danh núi Bà Ký), núi Nữ Tăng (tục dang núi Bà Vãi ở địa phận huyện Long Thành), núi Sa Trúc (tục danh Núi Nứa)… cũng là nơi được lưu dân người Việt chọn làm nơi định cư, bởi nơi đây có điều kiện khai thác các nguồn lợi lâm sản như: săn bắt, khai thác gỗ, nứa, khai thác mỏ,
….Vùng giồng cao ven biển, nhất là có vùng hoặc cửa sông tốt cũng là một trong những nơi định cư làm ăn đầu tiên của người Việt Họ sống bằng săn bắn, bằng nghề chài lưới, làm mắm, làm ruộng … trồng tỉa Việc chọn đất khai khẩn, lập làng ấp của lưu dân người Việt diễn ra theo kinh nghiệm cuộc sống từ quê hương vùng Ngũ Quảng là hoàn toàn tự do theo sở thích riêng của từng nhóm hoặc từng gia đình dòng
họ, ai muốn ở đâu, lập làng ấp chỗ nào tùy theo ý thích mà chưa có sự quản lý về mặt hành chánh nhà nước Người Việt đến nơi này cùng với người Khmer và các dân tộc bản địa khai khẩn một vùng đất rộng lớn Đến cuối thế kỷ thứ XVII cũng là lúc nhà Nguyễn đã tạo được uy thế của mình ở vùng đất phương Nam, triều đình nhà nguyễn
đã tổ chức di dân vào vùng đất phía Nam và từng bước thiết lập hành chánh cho vùng đất này Tiến trình nhập cư của lưu dân người Việt vào đất Đồng Nai - Sài Gòn đã
diễn ra liên tục trong suất gần một thế kỷ Theo sánh Biên Hòa Đồng Nai 300 năm
hình thành và phát triển có thể nhìn nhận với một lược đồ như sau:
Vùng Mỗi Xuy – Bà Rịa là nơi khai thác sớm nhất, khu vực Long Hưng, Phước Lễ, đất đỏ đã có đông người Việt đến định cư khai thác vào cuối thế kỉ XVI
Từ đầu thế kỷ XVII và đến giữa thế kỷ này các vùng dọc ven sông Phước Long như Nhơn Trạch lên Long Thành đến Biên Hòa, Vĩnh Cửu lần lượt được người Việt đến khai khẩn lập làng và với những cánh đồng ruộng vườn trù phú
Lâm Hiếu Trung (Chủ biên) Biên Hòa- Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển, Nxb Đồng
Nai, 1998
Trang 1919
Nhìn chung, những lưu dân Việt thuộc lớp tiên phong đi vào vùng đất mới Đồng Nai-Gia Định lập nghiệp làm nhiều đợt trước cả thời Trịnh-Nguyễn phân tranh nhưng dâng lên thành làn sóng và mạnh mẽ hơn là vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII Phần đông họ chọn phương tiện tự động đi lẻ tẻ, hoặc cả gia đình, hoặc người khỏe mạnh đi trước tạo dựng cơ sở rồi đón gia đình đến sau, hoặc một vài gia đình cùng làng xóm kết nhóm cùng đi với nhau Phần lớn họ chọn thuyền buồm hay ghe bầu làm phương tiện di chuyển chính, bởi lúc bấy giờ việc di chuyển giữa các phủ miền Trung với vùng Đồng Nai-Gia Định chủ yếu là đường biển Dĩ nhiên lúc bấy giờ có nhiều người không có được ghe thuyền, đành phải chấp nhận mạo hiểm trèo đèo lội suối đi theo đường bộ, đi dần từng chặng một, đến mỗi địa phương ở lại một thời gian, thấy trụ được thì ở lại lập nghiệp, bằng không thì đi tiếp lần hồi cũng vào tới vùng đất mới Đồng Nai
Cùng với việc di cư tự do và có sự can thiệp của chính quyền nhà Nguyễn, một
bộ phận người Hoa (1679) vì ý đồ “phản Thanh phục Minh” không thành nên đã đến Đại Việt xin chúa Nguyễn cho phép vào miền Nam Việt Nam cùng với cư dân người Việt khai hoang mở mang bờ cỏi Được nhà Nguyễn chấp thuận, dưới sự hướng dẫn của tướng lĩnh Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch, người Hoa đã có mặt ở các tỉnh Nam Bộ và Tây Nam Bộ; từ Sài Gòn – Gia Định, Đồng Nai, Bình Dương cho đến một số tỉnh Tây Nam Bộ Họ đi đến đâu thì cùng với người Việt khai hoang sản xuất lập làng, lập phố xá đến đó
Đến năm 1698, khi Nguyễn Hữu Cảnh theo lệnh của chúa Nguyễn Phúc Chu vào kinh lược, thiết lập hệ thống quản lý hành chính, tổ chức việc khai thác đất đai và
ổn định trật tự xã hội thì vùng đất Đồng Nai đã hơn 40.000 hộ, với dân số khoảng 200.000 người
Công cuộc khai hoang và sản xuất của lưu dân người Việt cùng với các dân tộc bản địa trong thế kỷ XVII đã làm biến đổi bộ mặt kinh tế Đồng Nai Nơi đây vốn là
Lâm Hiếu Trung (Chủ biên) Biên Hòa- Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển, Nxb Đồng
Nai, 1998
Trang 2020
rừng hoang nê địa trở thành những cánh đồng lúa và hoa màu tốt tươi Song việc khai hoang và sản xuất của lưu dân Việt không thể diễn ra một cách đơn độc, bởi vùng đất Đồng Nai lúc này còn quá hoang vu, khí hậu độc, gây nhiều bệnh tật lại đầy dẫy những thú dữ và rắn rếp Hơn nữa sản xuất nông nghiệp vốn dĩ cần một lực lượng lao động dồi dào để làm cho kịp thời vụ, vì vậy đã buộc họ phải liên kết với nhau, sống cận kề nhau thành từng xóm, làng như quê hương họ đã từng sống để tương trợ nhau khi cần và vì vậy xóm làng đã từng bước được hình thành Khi dân số đông lên do sinh đẻ tự nhiên, do các đợt di cư sau bổ sung, xóm được mở rộng thành ấp, thành thôn, thành xã rồi tách ra thành thôn, xã mới Việc sản xuất nông nghiệp ngày càng cao phát triển có của ăn của để, các nông sản ngày càng phong phú nên người dân đã dần tính đến trao đổi nông sản để làm phong phú bữa ăn Bên cạnh phát triển sản xuất nông nghiệp, người dân bắt đầu nghĩ đến việc hình thành các ngành nghề thủ công khác như mộc, gốm, gạch ngói, nung vôi, dệt chiếu, vải, đúc đồng … để rồi dần hình thành nên nghề buôn bán Trong khi đó ở Đồng Nai, với Cù Lao Phố có hê thống sông bao quanh, giao thông thuận tiện với đường thủy từ Bắc xuống Nam, lên Cao Miên và xuống miền Tây Nam Bộ Những điều kiện này giúp cho nông nghiệp và thương nghiệp ở Đồng Nai sớm hình thành và phát triển Bộ phận lưu dân người Hoa đến đất Đồng Nai sinh sống, nông nghiệp không phải là thế mạnh của họ mà chỉ là kế sinh nhai tạm thời Họ đến Đồng Nai đốn chặt cây cối, phát cỏ rậm xung quanh khu vực định cư, khai thông nguồn nước, mở mang đường ngõ và phát triển thương nghiêp Thấy được những lợi thế mà Cù Lao Phố mang lại, người Hoa đã thu nạp thương nhân người Hoa và một số địa phương khác để rồi cùng người Việt từng bước hình thành nên thương cảng Cù Lao Phố sầm uất mang tầm cở quốc tế thời bấy giờ
Trên cơ sở của những lực lượng di dân, khai khẩn vùng đất phương Nam này năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu đã cử Lễ Thanh Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất này Và ông đã lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình dựng dinh phiên Trấn… “tại” mỗi dinh đặt chức lưu thủ, cai bộ và kỷ lụật để quản trị, nha thuộc có hai ty xá –lại để làm việc; quân binh thì có cơ, đội, thuyền, thủy bộ tinh binh và thuộc binh để hậu vệ Bên
Trang 21mộ được nhiều tầng lớp nhân dân về đây sinh cơ lập nghiệp và vì vậy, diện tích đất đai được khai hoang mở rộng
Đến năm 1920, nhiều Công ty đất đỏ và Đông Dương của tư bản Pháp đứng ra xin khai khẩn đất khắp các vùng đông Bắc xứ Đồng Nai để lập thành đồ điền cao su, mỗi sở rộng lớn, choáng hàng vạn mẫu Tây Do đó phát xuất phong trào tuyển mộ mỗi năm hàng ngàn dân di cư từ Bắc Việt đưa đến khai thác các đồn điền, lập phân thành từng làng trong các sở lớn, có chợ, bến xá, trường học nhà thờ, chùa, được trang bị hệ thống điện nước… Việc tuyển dụng tuy có khế ước, song khi vào một số nhân công ban đầu không chịu được phong lam chướng khí xa lạ, mang chứng sốt rét nên đã trốn khỏi đồn điền Lần về sau tình trạng này được cải thiện, bồi dưỡng nên công nhân vựng thêm ý chí tiếp tục làm việc, gây phong phú cho nguồn lợi kỹ nghệ Biên Hòa
Đến cuối năm 1954, sau Hiệp định Geneve, Đồng Nai lại tiếp nhận trên 60.000 đồng bào miền Bắc đến định cư lập nghiệp trên miền Đồng Nai nước ngọt Sau đó vào năm 1965, Đồng Nai đón nhận sự chuyển cư từ Phước Thành và các tỉnh bạn đến lập thành ấp An Bình tại xã Trảng Bom và nhiều đơn vị thuộc lực lượng đồng minh đến đồn trú rải rác khắp trong tỉnh Các đơn vị đã khai hoang phá rừng, mở thêm diện tích thương trường, lập nhiều khu quân sự kiên cố ở khắp mọi nơi, giúp thêm công việc làm ăn cho giới công nhân tạo phú túc cho ngành doanh thương, công, kỷ, tô điểm thị thành, đem lại phồn thạnh chung cho xứ sở Biên Hòa
Lương Văn Lựu (1976), Biên Hòa Sử Lược Toàn Biên- Tập I, Trấn Biên Cổ Kính
Trang 2222
Thời kỳ Mỹ xâm lược, chúng đã nhiều lần chia tách sáp nhập, thay đổi địa giới hành chánh nhằm để kìm kẹp và bình định Sau khi hòa bình lập lại 30/4/1975, rồi đến năm 1976, tỉnh Đồng Nai được thành lập trên cơ sở hợp nhất 3 tỉnh: Biên Hòa,
Bà Rịa - Long Khánh, Tân Phú Từ năm 1978 đến nay thêm nhiều lần điều chỉnh đơn
vị hành chính cấp huyện Kết quả của sự hội tụ cư dân ấy, ngày nay trên địa bàn Đồng Nai có hơn 30 tộc người cùng chung sống Bên cạnh dân tộc Kinh và dân tộc Hoa chiếm đa số, các dân tộc: Stiêng, Chro, Mạ, Kơho được xem là dân tộc bản địa cùng chung lưng đấu cật với nhau ra sức sản xuất tạo dựng cuộc sống ngày một tốt đẹp như ngày hôm nay
Một thời khai phá, thế hệ di dân ở Đồng Nai đã để lại dấu ấn lịch sử của mình
Sử sách của triều Nguyễn như Đại Nam nhất thống chí khi đề cập đến tỉnh Biên Hòa
rộng lớn trước đây, có nhắc nhiều những di tích mà có thể kể ở đây là:
Cổ Thành Biên Hòa ngày nay còn lại những dấu tích một vách tường thành bằng đá ong tại phường Quang Vinh, Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Cổ Thành được xây dựng thời Minh Mạng (khoảng năm 1834) Cổ Thành đóng góp rất quan trọng trong việc bố phòng, trấn an vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai Cùng với một số đền miếu như đàn Xã Tắc, đàn Tiên Nông, đền Trung Tiết đều được xây dựng thời Minh Mệnh
Văn miếu Trấn Biên ở địa phận Thôn Tân lại xây dựng (1715), cùng với đó là đình Tân Lại; miếu Hội Đồng và miếu Thành Hoàng Song song đó còn có các đền thờ (đình thần ) ghi dấu những bậc tiền nhân như: đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, đền thờ Nguyễn Tri Phương, đền thờ Đoàn Văn Cự, đền thờ Trần Thượng Xuyên Lại còn
cả những ngôi chùa cổ thường gắn liền với những chuyện tích lịch sử, truyền tích về những vua chúa, vị quan quân, những chư Tăng hay chuyện tích về Phật Pháp như:
Theo số liệu thống kê của Ban Dân tộc tỉnh Đồng Nai thực hiện năm 2014
Đồng Nai, 1998
Trang 23Với thời gian dâu bể, những công trình kiến trúc xưa chỉ còn là dấu tích, kí ức Một số di tích tồn tại với kiến trúc có nhiều đổi thay, gắn với sự kiện lịch sư-văn hóa, kiến trúc được nhà nước liệt hạng di tích
Có thể nói, trải qua các thời kỳ lịch sử đấu tranh để dựng nước và giữ nước, vùng Đồng Nai đã hội tụ biết bao cộng đồng cư dân từ khắp nơi, với bao thế hệ tiếp nối nhau về đây cùng chung lưng đấu cật, cùng nhau cải tạo thiên nhiên và đấu tranh chống ngoại xâm để tồn tại và phát triển Ở họ mang trong mình nhiều luồng văn hóa khác nhau nhưng khi được cùng chung sống với nhau trong cùng một cộng đồng người, những nét văn hóa đó đều được tiếp thu, hòa nhập và giao thoa với văn hóa những cộng đồng dân cư trên vùng đất mới tạo nên thiết chế văn hóa phù hợp với cộng đồng dân cư mới được hình thành và phát triển trong qúa trình khai hoang, lập làng xây dựng quê hương mới Do đó, trong cộng đồng dân cư Đồng Nai đã hình thành tâm lý tín ngưỡng cũng như những nghi thức vừa phong phú, thiết thực mà vẫn giữ gìn được bản sắc văn hóa truyền thống của người Việt như tín ngưỡng thờ thần, Phật, tổ tiên và một số tôn giáo khác như Công giáo, Tin lành (Thiên Chúa giáo), Cao đài, Hòa hảo … Đó là tín ngưỡng được kế thừa, gìn giữ từ thuở mở đất lập làng, với lòng tưởng nhớ quê hương, những người đi trước, những bậc “tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ” Rất nhiều đình, chùa, đền, miếu, đền thờ, nhà thờ … là những chứng tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng được xây dựng từ hơn trăm năm về trước vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay Đặc biệt là một số di tích như: đình (đền) Bình Kính, đình Tân Lân, đình Nguyễn Tri Phương, đình An Hòa, chùa Đại Giác, chùa Ông, chùa Long Thiền… là những di tích được xây dựng từ thuở mở đất lập làng, thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh, những vị có công lao với nhân dân, đất nước và các đấng,
Trang 2424
bậc đã phù hộ cho con dân được an cư lạc nghiệp, mùa màng bội thu, cuộc sống yên
ôn và ngày một phát triển đi lên
1.1.3 Sinh hoạt văn hóa cộng đồng
Qua mục tìm hiểu đất và người Đồng Nai cho thấy cư dân Đồng Nai gồm ba nhóm chính đó là nhóm dân tộc Kinh (chiếm phần đông), nhóm dân tộc Hoa và nhóm các dân tộc khác Ở mỗi nhóm cư dân có hình thức tổ chức sinh hoạt văn hóa cộng đồng có những đặc trưng riêng Chẳng hạn, đối với các dân tộc anh em, ở mỗi dân tộc lại có những lễ nghi truyền thống khác nhau như dân tộc Chơho có lễ hội Sa yang va, dân tộc Mạ có lễ hội Sa Yang Koi Ở dân tộc Kinh có ba hình thức sinh hoạt chính
là sinh hoạt văn hóa cộng đồng ở đình, chùa, đền, miếu, sinh hoạt văn hóa ở nhà thờ
họ (dòng họ), sinh hoạt văn hóa ở nhà thờ (nhóm di dân theo đạo Công giáo, Tin lành (Thiên Chúa giáo) Hòa hảo) Đối với dân tộc Hoa thì ở miếu, chùa, đền, bang hội
Đó là những nét sinh hoạt văn hóa được kế thừa từ quê hương xứ sở của họ mang theo
Sinh hoạt văn hóa cộng đồng của dân tộc Kinh (Việt)
Như đã nói ở trên, với nhiều giai đoạn lịch sử cận, hiện đại người Việt đến vùng đất Biên Hòa -Đồng Nai sinh cơ lập nghiệp, họ đã từng bước khẳng định sự tồn tại của cộng đồng bằng việc ra sức xây dựng một cuộc sống ổn định, phồn vinh và phát triển như ngày hôm nay Trong đời sống tinh thần, người Việt đã hình thành nên những cơ sở tín ngưỡng sinh hoạt văn hóa gắn kết cộng đồng, thỏa mãn nhu cầu tâm linh Đó chính là hệ thống đình, chùa, đền, miếu Ở Biên Hòa-Đồng Nai có rất nhiều
cơ sở tin ngưỡng từ đình, chùa, đền, miếu điển hình nhất là đình và chùa Đình làng
là một dấu ấn xác định sự hình thành của cộng đồng người Việt trên vùng đất mới (Biên Hòa- Đồng Nai) Khi nhà nước chưa quản lý, những người di dân tự do đến vùng đất mới gắn kết nhau trong làng qua hình thức cộng đồng chung trong tín ngưỡng thờ cúng mà ngôi đình là cơ sở tiêu biểu cho sự gắn kết đó Thông thường, mỗi làng người Việt đều có một ngôi Đình Tên gọi các ngôi đình gắn liền với tên gọi đầu tiên của làng khi mới thành lập, vì vậy người Việt quen gọi là đình làng Mặc dù cho đến nay, nhiều địa phương có sự thay đổi về tên gọi, nhưng tên gọi của đình vẫn
Trang 2525
giữ nguyên Đình là chỗ thờ thần Thành Hoàng, nơi dân làng hội họp, nơi tổ chức
sinh hoạt hội hè định kỳ, thường xuyên Có những giai đoạn đình ở Nam Bộ còn là trụ sở hành chánh của chính quyền địa phương Tính chất đa chức năng của đình làng Nam Bộ là một trong những nét cơ bản thể hiện sự phát triển truyền thống vốn có của ngôi đình Việt Nam mà người Việt trong quá trình khai khẩn đã mang theo từ miền ngoài vào Nhưng có thể nói, trước khi đình trở thành đa chức năng thì có lẽ đình phải là một cơ sở tín ngưỡng của những người dân cùng một địa bàn cư trú tạo nên để thờ thần bảo hộ của địa bàn đó Hệ thống đình ở Biên Hòa-Đồng Nai trải qua quá trình lịch sử đã không còn giữ được nguyên trạng như lúc ban đầu mới xây dựng Song với các thành tố kiến trúc như: cổng đình, bình phong, võ ca, tiền đình, chánh điện, hậu điện, nhà túc cùng đối tượng thờ và hình thức tổ chức lễ hội ở đình, đặc biệt
là loại hình văn tự Hán Nôm được thiết trí ở đình thì đình vẫn còn đó những nét văn hóa truyền thống của người Việt Mà khi tìm về đình làng ta như được sống trong bâu không khí của những nét xưa đang hiện hữu ở nay
Ở đình làng có nhiều lễ hội như: lễ Nguyên đán, lễ Khai hạ, lễ Thượng nguyên,
lễ Lập xuân, Đại lễ Kỳ yên Tục nước ta là nông nghiệp lúa nước nên phần nhiều lễ nghi ở đình làng người Việt liên quan đến nông nghiệp Trong số các lễ kể trên, đáng chú ý nhất là Đại lễ Kỳ yên Tùy thuộc vào mỗi đình mà việc tổ chức lễ Kỳ yên có sự khác nhau, có đình thì được tổ chức theo định kỳ hàng năm cũng có những đình ba năm mới đáo lễ một lần Lễ kỳ yên là lễ lớn, thu hút nhiều người dân địa phương tham gia gồm có các phần nghi lễ như: nghi thức Thượng Thần kì (treo cờ); nghi thức Thỉnh sắc (rước sắc Thần hoặc khai sắc); nghi thức lễ Túc yết (ra mắt thần- trình khấn những việc tổ chức lễ cho thần Hoàng biết); nghi thức lễ Tỉnh sanh (trình với thần về con vật hiến tế thần); nghi thức lễ Đàn cả (lễ chính của đại lễ kỳ yên); nghi lễ
tế Tiền hiền, Hậu hiền; nghi thức lễ Hồi sắc; nghi thức đưa khách Cũng tùy thuộc vào mỗi đình ở mỗi địa phương mà việc tổ chức lễ Kỳ yên có phần khác nhau về thời gian và các phần nghi lễ được tiến hành trong lễ
Huỳnh Quốc Thắng, Lễ hội dân gian ở Nam Bộ, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003
Trang 2626
Bênh cạnh hệ thống đình làng, miếu cũng là một trong những cơ sở tín ngưỡng dân gian tổ chức sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người Việt Miếu ở Biên Hòa- Đồng Nai có hai loại chính: miếu thờ gắn liền trong phạm vi đình làng và miếu thờ độc lập gắn với vườn nhà, ruộng ấp, khu dân cư Tên gọi của miếu thường gắn với đối tượng thờ ở miếu như miếu Bà, miếu Ông, song cũng có một số miếu tên gọi gắn liền với tên gọi cụ thể đối tượng thờ như: Ngũ Hành Nương nương, miếu Bà Chúa
Xứ, miếu Thổ thần, miếu Ông cọp, miếu Thần Hổ cũng có miến mà tên gọi gắn với đối tượng thờ và địa danh làng, ấp như: miếu Bà Bầu Hanh, miếu Bà Tam Hiệp, miếu Đắc Phước Kiến trúc và cách bài trí của miếu đơn giản hơn nhiều so với đình, thường ở dạng hình vuông hoặc chữ nhật, với bộ khung làm băng cây gỗ, mái lợp ngói hoặc tôn, tường gạch Có một cửa chính ra vào, hai bên cửa tùy theo đối tượng thờ trong miếu mà có câu đối khác nhau, thường bằng chữ Hán
Tuy vào đối tượng thờ của mỗi miếu mà trong năm ở miếu có những ngày cúng khác nhau Thông thường các ngày Sóc (mùng một), ngày Vọng (Rằm) trong tháng, ngày tết các miếu được mở cửa cúng bằng nhang, đèn, bông, bánh trái Ngày vía Bà – thường có liên quan đến Ngũ Hành Còn ở vị Thổ thần, miếu Ông, Sơn quân thì được vía, cúng trong dịp lễ kỳ yên theo lệ Trong lệ cúng ở những miếu Ông đá có tín chất tín niệm là thần của làng thì lễ Cầu an tổ chức như ở đình Ở những miếu thờ bà thì có Lễ hội Bóng rỗi-Địa nàng là nghi thức diễn xương tổng hợp, vừa mang tính nghi lễ vừa để giải trí Lễ hội Bóng rỗi- Địa nàng có những nghi
thức như: Khai tràng (khai mạc cuộc hát), do dàn nhạc diễn tấu gồm chiêng, trống, đàn nhị, kèn, sánh cái.; Chầu mời – Thỉnh tổ (mời Bà và các đối tượng được tùng tự
về tham dự cuộc lễ cúng); Chặp địa- Nàng (hát bội) Cuộc hát chỉ có hai nhân vật
(Địa và Nàng) theo cốt truyện đơn giản: tiên nữ hằng nga vâng lệnh Tây Vương Mẫu xuống trần để hái lộc cầu an cho dân chúng, nhờ Thổ địa (Địa) dẫn đi đến Huê Viên
để “ Khai mạch giếng tưới cây huê” Địa được dịp làm khó, vòi vĩnh, đùa giỡn với
tiên nữ Lối diễn vừa theo bài bản vừa ứng tác, hát nói, kể kết hợp với nhạc và vũ đạo
tuồng; Múa bóng; thỉnh lộc và chúc lộc
Trang 27mộ đến lễ Phật, hoặc vãn cảnh Trong năm có một số ngày lễ liên quan đến Phật giáo
mà người dân theo Phật thường hay đến để khấn vái, cầu xin cho tập thể cá nhân được bình an, may mắm, nhà nhà được ấm no hạnh phúc, đất nước thái bình thịnh vượng như ngày Rằm trong tháng, ngày Cúng sao, ngày lễ Phật đản, ngày lễ Vu lan Thánh đường là nơi người dân theo đạo hàng ngày đến để đọc kinh, dâng lễ cầu nguyện cho cá nhân, gia đình, dòng họ, đất nước và cả thế giới được hòa bình thịnh vượng Tuy nhiên ở chùa và nhà thờ hình sức sinh hoạt văn hóa mang tích chất tôn giáo nhiều hơn là sinh hoạt văn hóa cộng đồng
Sinh hoạt văn hóa cộng đồng của dân tộc Hoa
Do nhiều biến động của xã hội, nhiều dân tộc từ các nơi khác đã tìm đến vùng đất Đồng Nai sinh sống qua nhiều thời kì lịch sử Sự cộng cư nhiều thành phần dân tộc nói chung, trong đó có cộng đồng người Hoa nói riêng đã góp phần làm đa dạng sắc thái dân tộc người, sự phong phú về văn hóa của Đông Nai nói chung và Biên Hòa nói riêng Với hơn ba thế kỷ, kể từ đợt di dân đầu tiên đến Đồng Nai Từ cuối thế
kỷ thứ XVII, cộng đồng người Hoa đã có những đóng góp đáng kể trên vùng đất mới
mà họ chọn làm nơi sinh sống, cư trú Trải qua bao thăng trầm, biến động của xã hội, những thế hệ người Hoa đã kề vai sát cánh với các dân tộc cộng cư trên đất Đồng Nai
ra sức xây dựng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc Bên cạnh đời sống vật chất, đời sống văn hóa tinh thần cũng được cộng đồng người Hoa ở Biên Hòa – Đồng Nai chăm lo xây dựng đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng mà vốn dĩ đã có từ quê hương của họ Chứng tích cho nhu cầu ấy chính là các chùa, đền, miếu lần lượt được họ xây dựng
Trang 28Trong số những lễ hội người Hoa tổ chức nơi chùa, miếu, đền, nổi lên có lễ hội cúng vía Quan Thánh được tổ chức vào ngày 24 tháng 6 Âm lịch hàng năm với sự
tham gia của đông đảo thành viên trong cộng đồng Lễ hội gồm nhiều phần lễ và hội
khác nhau như: Khai lễ cầu an, chánh lễ cầu an, đấu giá lồng đèn, múa lân sư rồng,
lễ vật cúng Sau đó phụ tế dẫn đoàn bá tánh đến dâng hương tại các hương án trong miếu Tiếp theo các pháp sư, đạo sĩ thực hiện nghi thức cúng sao, giải hạn cho các bá tánh đăng ký danh sách Mục đích là cầu cho mưa thuận gió hòa, cuộc sống bình yên, làm ăn phát đạt Đến khuya, khoảng từ 23 giờ, các pháp sư tiếp tục hành lễ cầu siêu, cúng cô hồn, chiến sĩ trận vong trước hương án lập riêng ngoài sân, đại diện bang hội quỳ dâng sớ nghe pháp sư tụng kinh Phật giáo Lễ vật cúng là những món đồ chay, giấy tiền vàng bạc
Sáng ngày 24/6 âm lịch Ban Tổ chức sửa soạn các mâm cúng mặn để làm nghi thức cầu an gồm nhiều heo quay, vịt, gà mái, xôi, rượu, trà, hai mâm bánh đào, hai mâm bánh bò, trái cây, hương đăng, giấy tiền vàng mã… Ngoài ra còn có lễ vật của
bá tánh đến cúng, cúng xong đem về hoặc có thể chia lại cho miếu Nghi thức đầu tiên là thầy pháp sư khai quan điểm nhãn cho các tượng thờ, lồng đèn, tụng cung cầu
an cho bá tánh trong năm mưa thuận gió hòa, làm ăn phát đạt Trồng khai, Ban tế lễ
Trang 2929
mời người lớn tuổi đọc sớ, rồi các phụ tế dâng rượu, trà cho Quan Đế Kết thúc lễ là phần đốt chúc văn cùng giấy tiền vàng mã…Sau phần lễ, bá tánh tự do vào khấn Ông cũng như cầu an cho gia đình mình
Nhìn chung qua tìm hiểu nét sinh hoạt văn hóa cộng đồng dân cư ở Biên Đồng Nai là hết sức phong phú và đa dạng, thể hiện văn hóa truyền thống dân tộc được kế thừa và phát huy trên vùng đất Biên Hoa-Đồng Nai Song cũng không làm mất đi những nét văn hóa riêng của từng tộc người ở Đồng Nai nói chung và Biên Hòa nói riêng Sự thể hiện văn hóa truyền thống dân tộc chưa dừng lại ở đó, bởi hầu hết các điểm (di tích) để tổ chức lễ hội ở Biên Hòa- Đồng Nai đều có hoành phi câu đối bằng chữ Hán Nôm Văn hóa Hán Nôm là một bộ phận cấu thành văn hóa tân tộc, tìm hiểu văn hóa Hán Nôm nơi di tích là tìm hiểu về văn hóa truyền thống dân tộc 1.2 THỰC TRẠNG VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU DI VĂN HÁN NÔM TRONG CÁC ĐÌNH, CHÙA, MIẾU Ở BIÊN HÕA-ĐỒNG NAI
Hòa-1.2.1 Thực trạng di văn Hán Nôm ở đình, chùa, miếu Biên Hòa- Đồng Nai
Qua quá trình dựng và giữ nước người dân Biên Hòa - Đồng Nai đã tạo dựng nên một hệ thống các cơ sở tín ngưỡng hết sức phong phú và đa dạng đình, chùa, đền, miếu và các cơ sở thờ tự khác như nhà cổ, nhà thờ họ, mộ cổ Theo thống kê của Bảo tàng tỉnh Đồng Nai, hiện trên địa bàn thành phố Biên Hòa- Đồng Nai có trên 200 cơ
sở thờ tự có khắc ghi hoành phi câu đối Hán Nôm và một số thể loại khác cũng được ghi bằng chữ Hán Nôm như: sắc phong, nghi và văn cúng, văn bia, chữ thờ, bảng biểu Trong khuôn khổ đề tài chúng tôi chỉ tìm hiểu trong phạm vi 24 với hơn 200
cơ sở đình, chùa các loại Nhìn tổng thể, đình và chùa là những nơi có khắc ghi hoành phi câu đối nhiều nhất Những đình và chùa được xây dựng hàng trăm năm tuổi và có
số lượng thành tố Hán Nôm nhiều là đình Tân Lân (P Hòa Hình, Tp Biên Hòa), đình Bình Thiền (P.Quang Vinh, Tp Biên Hòa), đình Bình Kính (Nguyễn Hữu Cảnh), đình Tân Giám (xã Hiệp Hòa, Tp Biên Hòa), đình An Hòa (xã An Hòa, Tp Biên Hòa), đình Mỹ Khánh (Nguyễn Tri Phương), P Bửu Hòa, Tp Biên Hòa); chùa Ông, chùa Đại Giác (xã Hiệp Hòa, Tp Biên Hòa), chùa Long Thiền, chùa Thanh Lương
Trang 30Thể loại nghi và văn cúng ở địa bàn Thành phố Biên Hòa- Đồng Nai là nghi và cúng chữ Hán, chúng tôi không phát hiện nghi và văn cúng bằng chữ Nôm Thể loại
nghi và văn cúng ở Biên Hòa - Đồng Nai đã được Bảo tàng Đồng Nai sưu tập và xuất bản thành sách, với tựa đề “ Nghi và văn cúng chữ Hán ở Thành phố Biên Hòa”, Nxb
Đồng Nai, năm 2013 Sách gồm 590 trang, với bốn phần chính là phần Mở đầu, phần Nghi cúng, phần Văn cúng và phần Chú giải Sách đã được phát hành ở các đình trên địa bàn thành phố Biên Hòa- Đồng Nai, vì vậy, nhóm nghiên cứu không đề cập thể loại này trong đề tài Tuy nhiên, cũng xin được khái lược như sau: các bài văn cúng, văn tế ở đình, miếu thuộc Biên Hòa- Đồng Nai thường được viết bằng chữ Hán vào giấy hồng đơn, giấy vàng, giấy khổ A0, kích cỡ khoảng 60m x 90 cm Vào mỗi dịp cúng kỳ yên ở các đình hoặc vía Bà ở các miếu, Ban nghi lễ đình, miếu dùng để thực hành các nghi thức cúng tế, sau khi cúng xong sẽ được hóa chúc (đốt) Tuy nhiên, hiện nay ở một số đình, miếu sau khi nhờ người viết văn cúng tế xong thì mang đi photo và lưu lại một bản để sang năm dùng tiếp; các đình, miếu khác viết năm nào thì dùng cho năm đó Về văn cúng thì chủ yếu là văn tế: văn thỉnh sắc thần, văn đàn cả, túc yết, tiền hiền hậu hiền, Văn cúng miếu Bà, Văn giỗ Vua Hùng Về nghi cúng thì
có nghi Thỉnh sắc, nghi Tỉnh sanh, nghi Tiền hiền, nghi Kỳ yên, nghi Tống sắc hồi miếu…
Nội dung các bản văn cúng, tế thần, tiền hiền, hậu hiền, văn cúng miếu… là biểu hiện tấm lòng của hậu thế đối với các bậc tiền nhân có công khai khẩn, mở mang vùng đất, phù hộ cho quốc thái dân an Nội dung một bài văn cúng, văn tế gồm: phần
Trang 3131
đầu (lòng văn): nêu giờ, ngày, tháng, năm, nơi tổ chức lễ, nơi chốn tọa lạc của ngôi đình: thôn, xã, tổng, huyện; thành phần Ban tế tự gồm những ai, cung kính dâng lên thần những phẩm vật gì Một số bản văn cúng soạn sau này thường đề: xã (phường), huyện, thị xã, thành phố, tỉnh, nước Việt Nam Phần hai (lòng linh): liệt kê danh mục những vị thần được thờ tại đình mời đến chứng lễ Danh mục các vị thần này nhiều ít phụ thuộc vào mỗi đình Phần ba (lòng văn): là những lời tán tụng, tinh biểu công đức của Thần Ghi uy danh đức độ của Thần ủng hộ xóm làng, sĩ, nông, công, thương được vẹn vẻ mười mươi Sau đó bày tỏ lòng biết ơn của nhân dân đối với thần trong việc che chở, giúp đỡ nhân dân trong suốt thời gian qua, đồng thời cầu xin Thần ban cho phước huệ, an bình, mưa thuận gió hòa, khang ninh thịnh trị trong năm tới Câu kết của lòng văn là một câu cảm ơn Thần
Thể loại Bài kể trong các chùa ở Biên Hòa-Đồng Nai có số lượng không nhiều, chủ yếu ở các chùa có niên đại sớm như: chùa Thanh Lương, chùa Long Thiền (P
Bửu Hòa, Tp Biên Hòa) … Bài kệ thường được khảm vào gỗ hoặc viết lên tường là
một thể loại đặc thù trong kinh văn Về nguồn gốc, kệ là những bài văn vần thường là bốn câu, có khi tám câu với nhiệm vụ thâu tóm một cách cô đọng lời kinh bằng văn xuôi đã giảng thuyết Kệ còn là lời răn dạy đệ tử, hoặc lời trối trăng của các thiền sư trước lúc lâm chung Có khi đó còn là bài kệ được thi vị hóa, có thể gọi là thơ triết
lý bởi lẽ về hình thức, những bài này dùng thể thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn với ngôn ngữ lung linh, đầy hình ảnh đẹp, giàu chất thơ, ẩn tàng triết lý nhiệm màu của nhà Phật
Thể loại văn bia viết bằng chữ Hán ở các đình, chùa, đền, miếu thuộc Biên Hòa –Đồng Nai cũng không nhiều Văn bia ở đình Tân Lân (P Hòa Bình, Biên Hòa- Đông Nai) tuy được viết bằng chữ Hán, nhưng có niên đại sau này Ở đình Bình Thiền (P Quang Vinh, Tp Biên Hòa), đình Tân Giám (xã Hiệp Hòa, Tp Biên Hòa) tuy có thể văn bằng chữ Hán và được khắc lên đá và gỗ, song đó là bàn vọng ghi công đức của những người đóng góp trùng tu đình Về hình thức và chất liệu thể hiện
Trịnh Văn Lý, Lê Xuân Hậu, Di sản Hán Nôm ở Đồng Nai, Thông tin khoa học, kỷ niệm 40 năm
thành lập Bảo tàng Đồng Nai (1976-2016)
Trang 3232
bàn vọng có một số nét tương đồng với văn bia, vì vậy chúng tôi liệt kê loại này vào loại văn bia
Ngoài ra, ở Biên Hòa- Đồng Nai, được biết trong dân gian vẫn còn lưu giữ một
số sách viết bằng chữ Hán Nôm như văn cúng văn tế, sách dạy làm người, sách y dược, sách dạy chữ Hán, sách xem tướng số, xem ngày giờ làm nhà, hôn nhân, tang ma Tuy nhiên, với số lượng là bao nhiêu và được lưu giữ ở cá nhân (gia đình, dòng họ) hay tập thể nào ? thì hoàn toàn không rõ, bởi những thông tin mà nhóm nghiên cứu có được là do Bảo tàng Đồng Nai cung cấp Nhóm chưa có điều kiện để đi khảo sát, thống kê thực tế, hơn nữa trong phạm vị nghiên cứu của đề tài nhóm nghiên cứu chỉ dừng lại ở điều tra khảo sát di văn Hán Nôm ở một số đình, chùa, đền miếu trên địa bàn Thành phố Biên Hòa- Đồng Nai Nhân đây, nhóm nghiên cứu xin được điểm qua để những ai quan tâm về lĩnh vực này và có điều kiện đi điều tra khảo sát một cách chính xác và cụ thể hơn góp phần nghiên cứu về di văn Hán Nôm ở Biên Hòa- Đồng Nai một cách thấu đáo hơn
Qua khảo sát 24 trên tổng số hơn 200 đình, chùa, miếu, đền trên địa bàn Thành phố Biên Hòa, nhóm nghiên cứu được biết di văn Hán Nôm ở 24 di tích này cũng tương đối phong phú và đa dạng về thể loại như: sắc phong, văn bia, kệ, hoành phi, câu đối, chữ thờ, bài vị, biểu nghi và văn cúng, nhưng nhiều nhất vẫn là hoành phi câu đối Điểm đặc biệt là di văn Hán Nôm ở những cơ sở này hoàn toàn được viết (khắc, ghi ) bằng chữ Hán không có chữ Nôm và có niên đại trên dưới trăm năm Song cũng có một số di văn Hán Nôm mới được làm sau này như một số câu đối ở đình Bình Trước (p Thông Nhất Tp Biên Hòa) và một số đình, chùa, miếu khác Riêng đối với chữ Nôm nếu có thì cũng là những chữ Nôm đọc trại từ chữ Hán và phần nhiều là tên riêng của đình, chùa, miếu ví như: chữ trước (tên riêng đình Bình Trước) đọc trại từ chữ trúc trong chữ Hán, chữ thiền (tên riêng đình Bình Thiền) đọc trại từ chữ Thành trong chữ Hán, chữ nại đọc trại thành chữ Nai trong từ Đồng Nai (câu đối ở cổng đình Mỹ Khánh, P Bửu Hòa, Biên Hòa, Đồng Nai) Nhóm nghiên cứu hoàn toàn không thấy một thể loại nào được viết bằng chữ Hán Nôm trên (văn bản giấy) ngoài sắc phong, hay nghi và văn cúng ở đình, chùa, đền, miếu Việc tìm
Trang 3333
hiểu, nghiên cứu di văn Hán Nôm trong các đình, chùa, đền, miếu trên địa bàn Thành phố Biên Hòa nói chung và 24 di tích đề cập ở trên nói riêng cũng đã được Bảo tàng Đồng Nai quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu hơn 40 năm nay và đã có một số công trình,
bài viết của một số tác giả phát hành công bố
1.2.2 Tình hình nghiên cứu
Di sản Hán Nôm Đồng Nai xuất hiện và cùng tồn tại, phát triển theo tiến trình lịch sử của mảnh đất này suốt hơn ba thế kỷ qua và là mối dây liên kết quá khứ và hiện tại, là nguồn tư liệu quý cho các thế hệ tương lai hiểu về những nét đặc trưng của văn hóa Đồng Nai, văn hóa dân tộc
Nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản Hán Nôm ở Đồng Nai nói chung
và Biên Hòa nói riêng đã được Bảo tàng Đồng Nai đặc biệt quan tâm, chú trọng thực hiện trong 40 năm qua đã mang lại nhiều hiệu quả thiết thực Thực tế minh chứng ngay từ ngày đầu hình thành Bảo tàng, công tác này được gắn với một đối tượng cụ thể là di tích (đình, chùa, miếu, mộ cổ) Mục đích chính là giải mã di sản Hán Nôm hiện hữu trong các hoành phi, liễn đối, sắc phong, bia mộ… phục vụ cho công tác lập
hồ sơ xếp hạng di tích cấp Quốc gia, cấp tỉnh và trùng tu tôn tạo di tích Quá trình nghiên cứu này chỉ dừng ở việc khi lập hồ sơ di tích, nếu có di sản Hán Nôm mới tiến hành phiên âm, dịch nghĩa, chú giải Sản phẩm của quá trình thực hành mang tính chất quản lý, bó hẹp trong công tác gìn giữ, nghiên cứu Do vậy, di sản Hán Nôm ở các di tích sau khi được xếp hạng chưa được nhiều người biết tới, nội dung hàm chứa trong mỗi câu chữ chưa được phổ biến sâu rộng tới cộng đồng Bên cạnh đó, nhiều di sản Hán Nôm ở các di tích chưa được xếp hạng ẩn chứa nhiều nội dung có giá trị chưa kịp thời được giải mã, gìn giữ Sự hạn chế này cũng làm cho nhiều di sản Hán Nôm dưới tác động của quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội bị mai một theo thời gian Năm 2005, công tác quản lý di tích được bàn giao về Ban Quản lý Di tích
và Danh thắng Đồng Nai, đơn vị chủ quản vẫn tiến hành nghiên cứu di sản Hán Nôm theo hướng như trên; cũng đã mở rộng phổ biến di sản Hán Nôm tới ban tế tự các di tích, người dân, các đối tượng có nhu cầu nghiên cứu, học tập Tuy nhiên, tính
Trang 3434
chuyên sâu trong công tác nghiên cứu chưa thực sự được chú trọng, vấn đề phổ biến
di sản Hán Nôm, song song với giá trị di tích chưa được đề cao
Công tác nghiên cứu di sản Hán Nôm ở Biên Hòa- Đồng Nai chỉ thực sự mang tính hệ thống, định hướng khi Bảo tàng Đồng Nai nghiên cứu theo hướng chuyên sâu nhằm mục đích lưu giữ, phổ biến, phục vụ cộng đồng từ năm 2005 đến nay Quá trình nghiên cứu di sản Hán Nôm của Bảo tàng Đồng Nai được xác định theo hướng: theo loại hình di sản cụ thể (văn cúng tế, hoành phi, liễn đối, sắc phong…) và nghiên cứu tổng quan các loại hình di sản Hán Nôm phân theo đơn vị hành chính; lồng ghép nghiên cứu trong các đề tài bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể Nhân lực nghiên cứu ngoài cán bộ của Bảo tàng còn có sự phối hợp cùng các nhà nghiên cứu Hán Nôm có
uy tín ở Đồng Nai Qua đó, nhiều công trình đã hoàn tất, một số đề tài xuất bản thành sách phục vụ cộng đồng và trở thành tài liệu quý đối với ban quý tế các đình, miếu; giới nghiên cứu và những người có nhu cầu tìm hiểu học tập Một số chuyên đề, bài viết cũng như công trình đó đã nói lên được tình hình nghiên cứu văn hóa Hán Nôm
ở Đồng Nai nói chung
Riêng ở Biên Hòa- Đồng Nai, được quan tâm đặc biệt hơn, hay nói đúng hơn
là do các cơ sở thờ tự có thành tố Hán Nôm và có niên đại lâu đời phần nhiều tập trung ở Biên Hòa Biên Hòa lại là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh, là nơi giao thông thuận lợi và gần gủi hơn so với các huyện thị khác trong tỉnh nên khi tiến hành khảo sát, thống kê phục vụ cho nghiên cứu phần nhiều các học giả các nhà nghiên cứu đã chọn Biên Hòa trước Và trên thực tế, những bài viết và công trình nghiên cứu về Hán Nôm ở đình chùa, đền miếu đã được xuất bản nói ở trên là ở Biên
Hòa Ví như công trình: “Những ngôi chùa Đồng Nai (tập 1)” do Tỉnh hội Phật giáo Đồng Nai xuất bản năm 2002, “Nghi và văn cúng chữ Hán ở thành phố Biên Hòa”, Bảo tàng Đồng Nai xuất bản năm 2013, “Di sản chữ Hán trong các đình, chùa, miếu
mạo, từ đường ở Biên Hòa, Đồng Nai” ông Huỳnh Minh Đức thực hiện năm 1996
(tư liệu sơ thảo)
Năm 2002, Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Đồng Nai xuất bản cuốn“Những
ngôi chùa Đồng Nai”, chủ yếu giới thiệu về quá trình hình thành và phát triển của
Trang 3535
các ngôi chùa; giới thiệu về các đời trụ trì, và sinh hoạt văn hóa tâm linh ở chùa Vấn
đề tìm hiểu về di văn Hán Nôm ở chùa thì hoàn toàn chưa được đề cấp tới trong tài liệu
Năm 2013, Bảo tàng Đồng Nai xuất bản cuốn“Nghi và văn cúng chữ Hán ở
thành phố Biên Hòa”, đây thực sự là cuốn tài liệu hết sức quý giá tìm hiểu về di văn
Hán Nôm ở thể loại nghi và văn cúng để bảo tồn và phát huy giá trị về nghi lễ cúng đình và miếu ở Biên Hòa - Đồng Nai Tuy nhiên, tài liệu này chỉ mới dừng lại ở việc tìm hiểu di văn Hán Nôm ở thể loại nghi và văn cúng mà không phải toàn bộ mọi thể loại di văn Hán Nôm ở đình, chùa, miếu,…Thành phố Biên Hòa- Đồng Nai
Tập tư liệu sơ thảo “Di sản chữ Hán trong các đình, chùa, miếu mạo, từ đường
ở Biên Hòa, Đồng Nai” được tác giả Huỳnh Minh Đức thực hiện năm 1996, đây
cũng là tập tư liệu hết sức giá trị cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Hán Nôm ở Biên Hòa-Đồng Nai Song tập tư liệu này chỉ dừng lại ở sơ thảo, bước đầu nghiên cứu di sản Hán Nôm ở một số đình, chùa, miếu Một số ở đây không hẳn đã trùng khít với 24 đình, chùa, miếu mà đề tài tiến hành tìm hiểu Hơn nữa tài liệu chỉ mới điều tra khảo sát, phiên âm, dịch nghĩa, có chú giải nhưng còn sơ lược, chưa rút ra các giá trị Một đặc điểm nữa là tư liệu chưa được in ấn, phát hành công
bố mà chỉ tồn tại như những tài liệu chuyên môn của đơn vị, địa phương Và vì vậy, nhóm nghiên cứu chưa có cơ duyên để được tiếp cận tập tài liệu này, cho nên rất khó
để có thể đánh giá một cách toàn diện về tập tài liệu Điều đó cũng khẳng định rằng, nghiên cứu của nhóm là hoàn toàn mới, khảo sát thực tế từng địa điểm thuộc 24 di tích trên địa bàn Thành phố Biên Hòa Hay nói cách khác, nghiên cứu của nhóm không dựa vào những nguồn từ tiệu đã được tìm hiểu nghiên cứu của các học giả đi trước
Các nghiên cứu của Huỳnh Văn Tới, Phan Đình Dũng, Lương Thuý Nga, Nguyễn Tuyết Hồng, Hương Xuân, Lê Xuân Hậu, Nguyễn Trần Kiệt cũng đã có những bài viết về đình, chùa, miếu Những nghiên cứu này quan tâm về lịch sử, văn hóa nghệ thuật của một số đình, chùa Khía cạnh về Hán Nôm hầu như chưa được đề cập đến, có chăng đề cập đến sắc phong của một vài ngôi đình, nhưng cũng không
Trang 36Nhìn chung tình hình nghiên cứu Hán Nôm ở Đồng Nai nói chung Biên Hòa nói riêng đã được quan tâm tìm hiều trong suốt 40 năm qua và đã có một số công trình in ấn phát hành công bố Còn phần nhiều chưa được khai thác hoặc đã được tìm hiểu nhưng ở dạng tập sơ thảo chưa in ấn phát hành Trong nghiên cứu nhóm nghiên cứu không đưa thể loại nghi và văn cúng vào công trình vì đã được in ấn, phát hành Các thể loại khác như hoành phi câu đối, sắc phong, văn bia nhóm nghiên cứu cũng không dựa vào bất cứ một tài liệu nào trong số các tài liệu đã được công bố hoặc khảo sát trước đó Việc nghiên cứu của nhóm hoàn toàn đi thực địa từng cơ sở sao chép chụp hình đo vẽ cũng như phiên âm, dịch nghĩa là hoàn toàn do công sức của các thành viên trong đề tài thực hiện Để tiện theo dõi, nhóm nghiên cứu xin được trình phân chia thành từng nhóm điểm di tích khác nhau (nhóm di tích đình, nhóm di tích chùa, nhóm di tích miếu, đền) Trong từng nhóm di tích, chuyên đề cũng xin trình bày theo thứ tự: 1 Lịch sử hình thành 2 Sơ đồ di văn Hán Nôm 3 Nội dung di văn Hán Nôm Nội dung di văn Hán Nôm được đánh máy chữ Hán Nôm, phiên âm Hán Việt (phiên âm, nếu có), phần dịch nghĩa xin được in nghiêng
Phần rút ra giá trị xin trình bày một chương riêng
1.1.3 Tiểu kết
Hơn 300 năm hình thành và phát triển, vùng đất Biên Hòa-Đồng Nai đã hội tụ nhiều cộng đồng cư dân, với bao thể hệ về đây sinh cơ lập nghiệp, tạo dựng cuộc sống mới nơi vùng đất mới Thành quả của sự hội tụ và phát triển ấy là đã tạo dựng được một cuộc sống sung túc đủ đầy như ngày hôm nay Cùng với đó, đời sống tinh thần được thực hiện hết sức phong phú và đa dạng Mà chứng tích cho đời sống tinh thần ấy là cả một hệ thống cơ sở tín ngưỡng về đình, chùa, đền, miếu nhà thờ hết sức đồ sộ với những nghi lễ được thực hành và các thành tố Hán Nôm được thiết trí ở
Trang 3737
các cơ sở càng tô thêm vẻ cổ kính mang nhiều giá trị lịch sử- văn hóa truyền thống dân tộc được thể hiện trên đất Đồng Nai Dù đã được người con Đồng Nai quan tâm tìm hiểu phát huy giá trị của nó, song đâu đó vẫn còn những thành tố Hán Nôm nơi đình, chùa, miếu chưa được khai thác, phát huy giá trị cần tiếp tục được tìm hiểu và phát huy để hiểu hơn về vùng đất và con người Đồng Nai nói chung và Biên Hòa nói riêng
Trang 3838
Chương 2
LỊCH SỬ VÀ DI VĂN HÁN NÔM TRONG CÁC ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ BIÊN HÕA, TỈNH ĐỒNG NAI
2.1 ĐÌNH MỸ KHÁNH (NGUYỄN TRI PHƯƠNG), PHƯỜNG BỬU HÕA
2.1.1 Lịch sử hình thành
Đình Nguyễn Tri Phương tọa lạc khu phố 3, phường Bửu Hòa, Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Đình Nguyễn Tri Phương còn gọi là đình Mỹ Khánh hay đền thờ Nguyễn Tri Phương, là một cơ sở tín ngưỡng gắn bó với đời sống tinh thần của người dân Mỹ Khánh, Bửu Hòa, Biên Hòa-Đồng Nai từ xa xưa Đình có lịch sử phát triển gần 200 năm, với nhiều giá trị lịch sử - văn hóa gắn với đình Được biết nguyên thủy, đình có tên là đình Mỹ Khánh thờ thần Thành Hoàng Bổn Cảnh của làng Mỹ Khánh, được xây dựng năm 1873 (theo bảng biểu được ghi ở mặt tiền đình) Sau khi danh tướng Nguyễn Tri Phương mất, nhân dân Biên Hòa đã tạc tượng và thờ ông tại đình
Từ đó, đình làng Mỹ Khánh cũng được người dân gọi là đình Nguyễn Tri Phương hay còn gọi là đền thờ Nguyễn Tri Phương
Nguyễn Tri Phương tự Hàm Trinh, hiệu Đường Xuyên, sinh ngày 09 tháng 09 năm 1800, trong một gia đình có truyền thống yêu nước và hiếu học ở tỉnh Thừa Thiên Thuở thiếu thời, Nguyễn Tri Phương tỏ rõ là người thông minh có ý chí, hoài bão và đức độ hơn người Mới tuổi 23, ông đã được tiến cử vào làm việc tại triều đình nhà Nguyễn Qua ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, Nguyễn Tri Phương luôn được tin dùng và giữ nhiều trọng trách như: Thượng thư Bộ Lại, Bộ Công, Bộ Binh, Hiếu điện Đại học sỹ …Trước quân thù, ông là một dũng tướng và là bậc hiền tài trong lòng dân, Vì mệnh nước, Nguyễn Tri Phương đã đi khắp mọi miền đất nước đánh đuổi giặc ngoại xâm, lập nhiều công trạng, đến đâu ông cũng đều thu phục nhân tâm, mở mang kinh tế ở đó
Nguyễn Tri Phương qua đời ở tuổi 73, trong cuộc tử chiến với quân Pháp tại thành Hà Nội (1873) Sống oai hùng, chết oanh liệt, người dân Biên Hòa - Đồng Nai
đã tôn kính thờ ông với niềm tin sâu sắc rằng ông sẽ phù hộ cho mưa thuận gió hòa,
Trang 3939
cuộc sống ấm no, hạnh phúc Nhiều hoành phi, câu đối chữ Hán được người dân xứ Biên Hòa khắc ghi qua nhiều lần trùng tu đền thờ để tưởng nhớ công lao, cốt cách của ông Xem sơ đồ phân bố di văn Hán Nôm như sau:
2.1.2 Nội dung di văn Hán Nôm
(7) (7) (20) (16) (18) CHÁNH ĐIỆN
(9) (22) (9) (28) (24) (26)
Trang 4040
美慶亭尊神護國庇民
Đồng Nại (Nai), thủy thống suất bài binh bố trận
Mĩ Khánh, đình tôn thần hộ quốc tí dân
Đồng Nai thống suất bày binh bố trận
Mỹ Khánh đình tôn thần giúp nước cứu dân
Chú thích:
- Chữ 奈 nại âm Hán Việt đọc trại thành âm Nôm là Nai trong từ Đồng Nai
- Câu đối quán thủ bốn chữ Đồng Nai - Mỹ Khánh Đồng Nai là tên địa danh tỉnh Đồng Nai, Mỹ Khánh là tên địa danh ấp Mỹ Khánh xưa (nay là khu phố 3) Bảng biểu số 2, ở vị trí Mặt tiền
Sinh vi tướng tận trung báo quốc, hùng tâm chung Việt địa tú khí
Tử hiển thần toàn nghĩa hữu dân, tráng chí chú Nam thiên anh hồn
Sống làm tướng hết lòng với nước, dũng mạnh hun đúc khí thiêng đất Việt Chết hiển thần vì nghĩa giúp dân, ý chí tạo nên hồn thiêng trời Nam
Lạc khoản:
李 越勇 奉 供 丘 戌 年
Lí Việt Dũng phụng cung Bính Tuất niên
Lí Việt Dũng phụng cúng năm Bính Tuất (2006)
Hoành phi số 4 và lạc khoản, ở vị trí Tiền điện
垂 保 護
Thùy bảo hộ
Lạc khoản:
乙 未 年 孟 冬 吉 造