Mục tiêu nghiên cứu Việc điều tra, khảo sát, tìm hiểu di văn Hán Nôm tại những cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng ở Bình Phước sẽ góp phần làm rõ những đặc trưng văn hoá Bình Phước trong quá tr
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA NGỮ VĂN
BÁO CÁO KHOA HỌC TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT, TÌM HIỂU DI VĂN HÁN - NÔM
Ở ĐÌNH, CHÙA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC
Mã số:
Chủ nhiệm đề tài: ThS TRẦN DUY KHƯƠNG
Bình Dương, tháng 01 năm 2018
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lí do nghiên cứu 3
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và quy ước trình bày 6
5.1 Cách tiếp cận 6
5.2 Phương pháp nghiên cứu 6
5.3 Quy ước trình bày 7
6 Bố cục nội dung 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ LÍ LUẬN 8
1 Những nét chung về tỉnh Bình Phước 8
2 Tổng quan về tình hình sinh hoạt tôn giáo – tín ngưỡng ở Bình Phước 12
3 Khái quát về vai trò của di văn Hán Nôm trong đời sống cư dân Bình Phước 14
CHƯƠNG 2: DI VĂN HÁN NÔM TẠI CÁC CHÙA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC 16
1 Chùa Quang Minh 16
2 Chùa Thanh Long 21
3 Chùa Thanh Cảnh 22
4 Chùa Quảng An và Tịnh xá Ngọc Bình 25
5 Chùa Linh Thứu 29
6 Chùa Trúc Lâm 34
7 Chùa Phước Lâm 38
8 Chùa Giác Ngạn 40
9 Chùa Giác Quang 51
10 Chùa Quảng Phước 57
CHƯƠNG 3: DI VĂN HÁN NÔM TẠI CÁC ĐÌNH TRÊN ĐỊA BẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC 61
1 Đình thần Tân Khai 61
2 Đình thần Tân Lập Phú 66
Trang 33 Đình thần Thanh An và Đình thần ấp Núi Gió 85
4 Đình thần Hưng Long 90
5 Đền Trần Hưng Đạo 95
6 Đền thờ Trần Hưng Đạo 101
7 Đền Đức thánh Trần 104
8 Miếu xóm Phước Thiện 105
9 Miếu Bà Rá 108
CHƯƠNG 4: VAI TRÒ CỦA DI VĂN HÁN NÔM Ở CÁC ĐÌNH, CHÙA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC 117
1 Vai trò của chữ Hán ở các đình, chùa trên địa bàn tỉnh Bình Phước 117
1.1 Giá trị lịch sử - xã hội 118
1.2 Giá trị triết lí 122
1.2 Giá trị thẩm mĩ 124
2 Vận mệnh chữ Nôm trong lịch sử văn hoá Nam Bộ (khảo sát trường hợp chữ Nôm tại các cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh Bình Phước) 125
2.1 Khái quát về sự ra đời của chữ Nôm và thực trạng chữ Nôm ở Nam Bộ 126
2.2 Hai yếu tố đặc thù quyết định vận mệnh của chữ Nôm ở Nam Bộ 129
2.3 Vận mệnh của chữ Nôm Nam Bộ nhìn từ bước chuyển đổi tâm thức người Việt trong việc thay đổi chữ viết 133
KẾT LUẬN 136
TÀI LIỆU THAM KHẢO 138
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do nghiên cứu
Bình Phước là một tỉnh có quá trình phát triển kinh tế khá muộn so với các tỉnh thành khác Người Việt tứ xứ đến đây lập nghiệp với quy mô lớn cũng chỉ được tính từ khoảng năm 1997 trở đi, cũng từ mốc thời gian này, đời sống văn hoá xã hội của Bình Phước mới có những bước khởi sắc đáng kể1
Những cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng như chùa, miếu, đình… dần dần được xây dựng ở các huyện có nhiều người Việt sinh sống, như Bình Long, Phước Long, Đồng Xoài, Hớn Quản, Lộc Ninh…) Do vậy, thông qua nội dung của di văn Hán Nôm tại các cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng này, chúng ta phần nào có thể nhận biết được những nét đặc thù trong văn hoá vùng miền theo chân những người tứ xứ đang hội tụ tại đây, ví dụ như tại những đền thờ Đức thánh Trần, chúng ta sẽ tìm được những nét đặc thù trong văn hoá gốc đồng bằng Bắc Bộ Đồng thời, do đây là nơi dung thân khá muộn của những con người từ nhiều nơi đến, nên những cảm nhận của họ về vùng đất mới này cùng với những ước nguyện đối với tương lai cũng sẽ được thể hiện qua những câu đối, những bức hoành phi tại các chùa, đình, đền, miếu Do vậy, việc nghiên cứu di văn Hán Nôm tại các đình, chùa ở tỉnh Bình Phước sẽ góp phần nhìn nhận lại vai trò của tỉnh Bình Phước nói riêng và của Đông Nam Bộ nói chung trong việc lưu giữ những nét văn hoá của các vùng miền theo chân những người đi vào Đông Nam Bộ khai khẩn, lập nghiệp trong thời kỳ mới
Tuy nhiên, do được hình thành khá muộn nên các cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng ở Bình Phước vẫn chưa được nhiều người biết đến Hơn nữa, chữ Hán là dạng văn tự cổ nên người hiện đại ngày càng ít quan tâm, trong khi nội dung trong các di văn Hán Nôm ở những cơ sở này phần lớn lại đề cập đến những triết lí Phật giáo uyên thâm, khó hiểu Điều này cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho các di văn Hán Nôm ở các đình, chùa ở Bình Phước trên cơ bản vẫn chưa được nghiên cứu
Hiện nay, với xu hướng phát triển kinh tế đi đôi với việc hoàn thiện xã hội, các công trình nghiên cứu về các vấn đề thuộc mảng xã hội nhân văn cũng rất được chú ý
Do vậy, những giá trị của di văn Hán Nôm tại các cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng cũng được tập trung khai thác, nghiên cứu một cách có hệ thống với quy mô lớn Việc điều tra, khảo sát, tìm hiểu di văn Hán Nôm tại các đình, chùa ở Bình Phước cũng nằm trong xu thế này
1
Xin xem thêm bài viết Ngăn chặn phá rừng gắn với xóa đói, giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở
Bình Phước của Nguyễn Tấn Hưng trên Tạp chí Cộng Sản, số 790, năm 2008
Trang 52 Mục tiêu nghiên cứu
Việc điều tra, khảo sát, tìm hiểu di văn Hán Nôm tại những cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng ở Bình Phước sẽ góp phần làm rõ những đặc trưng văn hoá Bình Phước trong quá trình cộng cư của các tộc người, từ đó thấy được những đặc thù của văn hoá vùng miền từ các nhóm người Việt tứ xứ đến đây
Công việc này còn góp phần nhận định lại những giá trị to lớn của các cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng ở Bình Phước trong đời sống tâm linh của người Bình Phước nói riêng và của nhân dân Việt Nam nói chung Qua đó, các cơ quan quản lí, đặc biệt là ban Tôn giáo Bình Phước sẽ có tư liệu phong phú hơn để đưa ra những đánh giá khách quan về đời sống tôn giáo của tỉnh, cũng như quản lí được các cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng này một cách có hiệu quả hơn
Ngoài ra, do đề tài Điều tra, khảo sát, tìm hiểu di văn Hán Nôm ở đình, chùa
trên địa bàn tỉnh Bình Phước còn là đề tài nhánh của đề tài chung là Khảo cứu di văn Hán Nôm ở vùng Đông Nam Bộ, nên đề tài này đáp ứng được mục tiêu của nhà
Trường trong nghiên cứu vùng Đông Nam Bộ, góp phần đưa nghiên cứu khoa học của nhà Trường gắn liền với nhu cầu thực tế của xã hội
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc khảo sát, ghi chép, dịch nghĩa các di văn Hán Nôm là một công việc đã được thực hiện ngày càng nhiều từ khoảng trước những năm 2000 đến nay, phần nhiều tập trung nghiên cứu ở các di sản tại các địa phương nổi tiếng (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Huế…) hoặc chỉ nghiên cứu chung về di văn Hán Nôm ở Việt Nam Việc nghiên cứu di văn Hán Nôm ở các địa phương còn lại đa phần mang tính nhỏ lẻ và mới
chỉ được thực hiện nghiêm túc trong những năm gần đây, ví dụ như công trình Bước
đầu tìm hiểu di sản văn hoá Hán Nôm Bình Dương của nhóm nghiên cứu Trương
Ngọc Tường, Hồ Tường, Lê Sơn, Huỳnh Lứa (năm 2007); Tìm hiểu liễn đối Hán Nôm
trong đình, chùa, miếu tỉnh Bình Dương của Hội Khoa học lịch sử tỉnh Bình Dương
(năm 2015)…
Trong khi đó, Bình Phước là một tỉnh mới được tách ra từ tỉnh Sông Bé, hơn nữa, chính sách di dân phát triển vùng kinh tế mới mới được thực hiện trong vài mươi năm gần đây Do vậy, đa số các chùa đình miếu mạo do người Việt xây dựng ở nơi đây cũng không phong phú bằng và không có bề dày lịch sử bằng các đình chùa miếu mạo ở các tỉnh khác trong cùng khu vực Nguyên nhân này đã dẫn đến việc khảo cứu
di văn Hán Nôm ở đình, đền, chùa, miếu tỉnh Bình Phước cũng chưa được thực hiện một cách có quy mô Hiện tại, di văn Hán Nôm tại các đình, đền, chùa, miếu ở tỉnh Bình Phước mới chỉ đươc đề cập một cách lẻ tẻ trên mạng internet
Trang 6Như vậy, tuy vẫn có những bài viết nghiên cứu về các cơ sở tôn giáo – tín
ngưỡng ở Bình Phước (ví dụ như bài Khái quát một số loại hình tín ngưỡng và thực
trạng quản lý nhà nước về tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh Bình Phước của Lê Nhật Minh
[2015]), nhưng đa phần chúng đều chỉ nghiên cứu tổng quan (về lịch sử, về kiến trúc)
mà không đề cập nhiều về di văn Hán Nôm tại các cơ sở ấy Bài viết Tư liệu bằng chữ
Hán, chữ Nôm ở Bình Phước của tác giả Hữu Hiến và Quốc Dũng (Bảo tàng Bình
Phước) chính là một trong những bài viết hiếm hoi có đề cập đến di văn Hán Nôm ở các cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng nói chung Trong bài viết này, tác giả đã chỉ ra một số đặc điểm của di văn Hán Nôm ở đây như sau: tập trung nhiều ở các đình, đền, chùa và miếu thờ mẫu; nội dung của các hoành phi, câu đối và liễn nhìn chung thể hiện sự kính trọng tôn thờ anh hùng dân tộc, những người có công lao che chở cho các cộng đồng
cư dân sinh sống làm ăn, ca ngợi vùng đất, con người [Hữu Hiến, Quốc Dũng 2015]… Tuy nhiên, bài viết này chỉ điểm qua một vài nét nổi bật của di văn Hán Nôm ở Bình Phước với dung lượng của một bài báo đăng trên mạng internet của Báo Bình Phước
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài, công trình này sẽ tập trung nghiên cứu về di văn Hán Nôm tại các cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh Bình Phước Tuy nhiên, tại các cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng này, di văn Hán thường xuất hiện nhiều hơn di văn Nôm, do vậy, trọng tâm nghiên cứu của công trình sẽ nghiêng về yếu tố di văn Hán
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Theo kết quả khảo sát của chúng tôi trong quá trình đi thực tế
cũng như theo tài liệu báo cáo của Ban tuyên giáo tỉnh Bình Phước, tổng số đình, đền, chùa, miếu đang được phép hoạt động trên địa bàn tỉnh Bình Phước (gồm 3 thị xã: Bình Long, Đồng Xoài, Phước Long và 8 huyện: Lộc Ninh, Hớn Quản, Chơn Thành,
Bù Đăng, Bù Gia Mập, Bù Đốp, Đồng Phú, Phú Riềng) là khoảng 140 địa điểm; trong
đó, có khoảng hơn 120 chùa và khoảng 10 đình, miếu, đền thờ Tuy nhiên trong thực
tế, số lượng chùa/ tịnh xá/ tịnh thất/ niệm Phật đường trên địa bàn tỉnh Bình Phước có
di văn Hán - Nôm lại không nhiều, nên sau khi loại trừ những nơi chỉ có hoành biển có ghi tên cơ sở đó bằng chữ Hán mà trong cơ sở lại không có chữ Hán – Nôm, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát khoảng 10 chùa trên khắp các huyện thị thuộc tỉnh Bình Phước, trừ những huyện có nhiều đồng bào thiểu số sinh sống (Bù Gia Mập, Bù Đăng, Bù Đốp)
Riêng về đình, do tổng số lượng không nhiều (7 đình), trong khi chỉ có 5 đình
có di văn Hán – Nôm nên chúng tôi đã đi khảo sát toàn bộ 5 đình này: Đình Hưng Long (huyện Chơn Thành), đình Tân Khai (huyện Hớn Quản), đình thần Thanh An, đình thần ấp Núi Gió (huyện Hớn Quản), đình Tân Lập Phú (thị xã Bình Long)
Trang 7Tuy đã cố gắng khảo sát hầu hết các chùa và đình có di văn Hán – Nôm ở tỉnh Bình Phước, nhưng do số lượng quá ít ỏi, nên trong quá trình đi thực tế, chúng tôi đã
khảo sát thêm 3 đền thờ Trần Hưng Đạo (thuộc thị xã Bình Long và huyện Lộc Ninh)
và hai miếu: miếu xóm Phước Thiện (Lộc Ninh) và miếu Bà Rá (thị xã Phước Long)
Về chủ thể: Di văn Hán Nôm thường được xuất hiện tại các cơ sở tôn giáo – tín
ngưỡng do người Việt và người Hoa xây dựng (mà không phải là các tộc người bản địa thiểu số), vì vậy, đối tượng nghiên cứu chính là di văn Hán Nôm tại các chùa, đình, đền, miếu của người Việt và người Hoa Tuy nhiên, trong thực tế, trên địa bàn tỉnh Bình Phước hầu như không có chùa, miếu của người Hoa, nên chúng tôi xác định chủ thể của đối tượng nghiên cứu chỉ là người Việt
Về thời gian: Trong công trình này, chúng tôi nghiên cứu di văn Hán – Nôm từ
lúc nó được viết/ khắc chạm/ in ấn và tồn tại đến nay trong các cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh Bình Phước Tuy nhiên, đối với một số cơ sở thờ tôn giáo – tín ngưỡng đang được xây dựng trong thời gian hiện nay, do các liễn đối, hoành phi Hán – Nôm vẫn chưa được hoàn thiện, cũng như các cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng này vẫn chưa hoạt động chính thức nên chúng tôi sẽ tạm thời chưa tiến hành điều tra, nghiên cứu
5 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và quy ước trình bày
5.1 Cách tiếp cận
Di văn Hán Nôm là đối tượng thuộc Ngôn ngữ học, nên cách tiếp cận chủ yếu của chúng tôi là tiếp cận Ngôn ngữ học Tuy nhiên, từ di văn Hán Nôm, chúng tôi còn đưa ra những nhận xét về giá trị của chúng, nên ngoài cách tiếp cận Ngôn ngữ học ra, chúng tôi sẽ thường xuyên sử dụng cách tiếp cận liên ngành (cách tiếp cận đặc trưng của chuyên ngành Văn hoá học)
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Công trình nghiên cứu này thuộc mảng Văn tự - Văn hoá, do vậy, chúng tôi chủ yếu sẽ sử dụng những phương pháp chuyên dụng của ngành Ngôn ngữ và Văn hoá
Theo đó, chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp sưu tầm, điền dã để hoàn thành công việc
sơ khởi: tìm tư liệu thực tế Trong quá trình phiên âm, dịch nghĩa các di văn Hán Nôm tại các chùa, đình, miếu thuộc tỉnh Bình Phước, chúng tôi dùng phương pháp lịch đại
và đồng đại để xác định tự dạng, kết cấu ngữ nghĩa của các câu đối, các bức hoành phi Đồng thời, do di văn Hán Nôm còn được nhìn nhận ở khía cạnh văn hoá nên chúng tôi
dùng phương pháp phân tích để phân tích những khía cạnh cụ thể của văn hoá tâm linh; phương pháp hệ thống – loại hình được dùng để sắp xếp các mảng vấn đề thành hệ
thống hoàn chỉnh, logic
Trang 85.3 Quy ước trình bày
Chữ Hán ở các liễn đối trong chùa thông thường đều được thể hiện ở dạng thẳng đứng và theo chiều từ phải (câu trắc) qua trái (câu bằng) và các bức hoàng phi cũng thể hiện ở dạng từ phải qua trái đúng như cách trình bày chuẩn của cách viết chữ Hán thời xưa, tuy nhiên, để tiện theo dõi, khi trình bày lại bằng bản vi tính, chúng tôi
sẽ trình bày theo dạng ngang và từ trái qua phải Dẫu vậy, chúng tôi cũng đánh số theo
trật tự từ phải qua trái ở các câu đối, nhằm bảo đảm trật tự dương (vế đối có chữ cuối cùng mang thanh trắc) và âm (vế đối có chữ cuối cùng mang thanh bằng) vốn có ở các
câu đối Ở những trường hợp bất thường, chúng tôi sẽ chú thích riêng
Thứ hai, chữ Hán được sử dụng trong các cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng của người Việt từ xưa đến này thường là chữ phồn thể Tuy nhiên, truyền thống này có khi
bị phá vỡ khi một vài chữ giản thể hoặc chữ dị thể thỉnh thoảng lại xuất hiện Đối với những trường hợp này, chúng tôi tạm thời thể hiện lại đúng bằng chữ phồn thể chính thức trong phần gõ lại nguyên văn chữ Hán, đồng thời sử dụng footnote để ghi chú hình thức chữ viết trong thực tế
6 Bố cục nội dung
Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung đề tài được chia thành bốn chương:
Chương 1: Cơ sở thực tiễn và lí luận Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày
tổng quan về hiện trạng đời sống của cư dân Bình Phước, để từ đó thấy được sự ảnh hưởng của điều kiện sống đối với diện mạo di văn Hán Nôm trên các cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng của Bình Phước
Chương 2: Di văn Hán Nôm tại các chùa trên đị bàn tỉnh Bình Phước Trong đó,
chúng tôi sẽ tiến hành giới thiệu qua về lịch sử hình thành và hiện trạng của các chùa; ghi nguyên văn chữ Hán – Nôm; phiên âm, dịch nghĩa, dịch xuôi các đơn vị di văn Hán Nôm; đưa ra một số nhận định sơ bộ về di văn Hán Nôm của từng chùa
Chương 3: Di văn Hán Nôm tại các đình, đền, miếu trên địa bàn tỉnh Bình
Phước Ở chương này, chúng tôi thực hiện những thao tác tương tự như đối với các
chùa
Chương 4: Một số vấn đề về di văn Hán Nôm tại các cơ sở tôn giáo – tín
ngưỡng trên địa bàn tỉnh Bình Phước Ở đây, chúng tôi sẽ nhìn nhận lại giá trị di văn
Hán Nôm cũng như những vấn đề phát sinh từ việc nghiên cứu về di văn Hán Nôm tại các đình đền chùa miếu trên địa bàn tỉnh Bình Phước
Trang 9CHƯƠNG 1: CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ LÍ LUẬN
1 Những nét chung về tỉnh Bình Phước
Bình Phước vốn thuộc đất Sông Bé xưa, được tách ra độc lập với Bình Dương vào năm 1997 Với tư cách là một tỉnh, Bình Phước cũng có những đặc trưng riêng về đất đai, con người và lịch sử phát triển
1.1 Điều kiện tự nhiên
Bình Phước là một tỉnh miền núi trung du nằm về phía tây của Đông Nam Bộ, phía Đông là Đồng Nai, Lâm Đồng và Đắc Nông, phía Tây giáp Tây Ninh, phía Nam nối liền với Bình Dương và phía Bắc là Campuchia (trong đó, đường giao thông quan trọng để qua Campuchia là cửa khẩu Hoa Lư thuộc huyện Lộc Ninh) Nhìn từ tổng thể, Bình Phước là nơi chuyển tiếp từ dạng đất phù sa cổ đến dạng đất bazan vùng đồi núi trung bình thấp Chính vì vậy, địa hình nơi đây có dạng thoai thoải lượn sóng nối liền nhau tạo thành từ những con dốc nhỏ
Tuy nhiên, nhìn từ nội bộ, Bình Phước là vùng đất có địa hình khá phức tạp Ở phía Tây Nam, địa hình khá phức tạp với những vùng đồi thấp xen kẽ với các ngọn núi như núi Bà Rá (723m), núi Nam Đô (289m) và núi Gió (169m) Những ngọn núi cao vượt trội trong vùng thung lũng và đồi thấp này đã khiến cho thiên nhiên thềm phần kì
bí, do vậy, ở trên hoặc gần những ngọn núi này đều có những ngôi chùa, miếu thiêng liêng; trong đó, nổi tiếng nhất là miếu Bà Rá ở gần chân núi Bá Rá Ở phía Đông Bắc
và phía Đông của Bình Phước, do nằm tiếp giáp vùng cao nguyên Tây Nguyên nên nơi đây có những con suối sâu và chảy xiết, đất bị xâm thực mạnh dẫn đến tình trạng núi đồi bị khuyết thành những thung lũng sâu (đây thường là nơi của các đồng bào thiểu số sinh sống) Ở phía Nam, đất phẳng dần (như Đồng Phú, Hớn Quản) và từ từ tiếp giáp với Bình Dương
Thuỷ hệ và khí hậu nơi đây cũng khá đa dạng Tuy được hưởng nước từ bốn con sông lớn là sông Bé, sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, sông Măng cùng với những con suối khác, nhưng do địa hình chia cắt khá phức tạp nên lượng nước phân bố không đều, thêm vào đó, sông suối trong vùng có độ hẹp và dốc lớn nên dễ gây ra tình trạng
lũ lớn vào mùa mưa và khô hạn vào mùa khô Chính vì điều này mà đất Bình Phước khá cằn cỗi, không được bồi đắp thành đất phù sa cổ như ở Bình Dương, ở thành phố
Hồ Chí Minh hay thành đất phù sa mới như ở vùng đồng bằng châu thổ Về khí hậu,
do chịu sự ảnh hưởng từ địa hình nên khí hậu nơi đây cũng khá phức tạp, kéo theo đó,
độ dao động nhiệt giữa các vùng, độ dao động nhiệt giữa ngày và đêm cũng như độ dao động nhiệt giữa hai mùa khô và mưa cũng khá lớn Ngoài ra, vùng thị xã Đồng Xoài là một vùng trũng có dạng lòng chảo, do vậy, nhiệt độ nơi đây thường rất nóng
Trang 10Xuất phát từ điều kiện tự nhiên như thế, sinh quyển của vùng đất Bình Phước cũng có sự phong phú nhất định Ở phía Tây Bắc, do tiếp giáp với vùng cao nguyên nên nơi đây có diện tích rừng khá lớn, các loài linh trưởng cùng các loài thú vừa và nhỏ cũng vì thế mà vẫn còn sinh sống ở khu vực này Ở vùng đồi và núi thấp phía Đông, Tây và Nam, do địa chất chủ yếu là dạng bazan nên nơi đây thích hợp dùng để trồng các loại cây lâu năm, đặc biệt là cây cao su Xen kẽ những vạt rừng cao su tăm tắp bạt ngàn trên những dải đất thoai thoải thường là những những xóm nhỏ, thậm chí,
có những ngôi chùa, miếu và đình, đền có thể nằm lẩn khuất trong những vạt rừng cao
su này
1.2 Cư dân
Trong quyển Địa chí Bình Phước, các tác giả có nhận định rằng Bình Phước là
một vùng đất có sự cộng cư của nhiều tộc người khác nhau, hình thành nên một quần thể người đa dạng với nhiều sắc màu văn hoá riêng Theo đó, trong quá trình hình thành và phát triển, cư dân Bình Phước có những đặc điểm sau: “hình thành và phát triển trong thời gian dài, sống xen kẽ, đa dân tộc, đa tôn giáo, phát triển theo hai hướng
tự nhiên và cơ học” [Tỉnh uỷ - Uỷ ban Nhân dân tỉnh Bình Phước (a) 2015: 243]
Dựa trên kết quả khảo cổ học, những dụng cụ lao động thời đồ đá được khai quật tại thị xã Bình Long, thị xã Phước Long, huyện Lộc Ninh, huyện Bù Đăng… đã cho phép chúng ta chứng minh rằng, từ khoảng 2000 – 3000 năm trước, trên vùng đất này đã có những nhóm người cổ đại sinh sống Con cháu của những nhóm người cổ này đã tiến hoá và hình thành nên người Xtiêng, Châu Ro, Mnông, Tà Mun… hiện nay
Và, “theo những sử liệu có vào những năm 50 của thế kỉ XVII, những cộng đồng dân
cư người Việt đã được hình thành và phát triển địa bàn cư trú của mình ở miền Đông Nam Bộ, tập trung nhất là vùng Biên Hoà, Bà Rịa Song vùng đất Sông Bé vào đầu thế
kỉ XVII vẫn còn là một vùng rừng núi hoang vu, nhất là các địa phương thuộc các huyện miền núi Lộc Ninh, Đồng Phú, Bình Long, Bù Đăng và Phước Long [Tỉnh uỷ -
Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Phước (a) 2015: 245] Như vậy, vào buổi ban đầu lúc các chúa Nguyễn vào Nam lập nghiệp, trong khi người Việt trong quá trình Nam tiến đã đến sinh sống ngày càng đông ở các tỉnh giáp biển (Bà Rịa, Đồng Nai kéo dài xuống Sài Gòn - Gia Định và khu vực phía Tây Nam), thì chủ nhân ở vùng Bình Phước hiện
nay vẫn là nhóm người bản địa thiểu số Theo các ghi chép của Trịnh Hoài Đức (Gia
Định thành thông chí), Quốc sử quán triều Nguyễn (Đại Nam thực lục), Quốc sử quán
triều Nguyễn (Đại Nam nhất thống chí), trong suốt thời kì từ khi Nguyễn Hữu Cảnh
kinh lí miền Nam cho đến khi Gia Long lên ngôi, đất Phước Long (bao gồm Bình Phước hiện nay) vẫn chưa có cuộc cải cách hành chính nào lớn, nguyên nhân là vì người Việt vẫn chưa đến sinh sống nhiều trên vùng đất này Theo ghi chép của Thích
Đại Sán trong Hải ngoại kí sự, mãi đến cuối thế kỉ XVII, cư dân Bình Phước chủ yếu
vẫn là các nhóm địa phương thuộc các tộc người tại chỗ như Xtiêng, Chơ Ro, Mnông,
Trang 11Tà Mun [Dẫn lại từ Tỉnh uỷ - Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Phước (a) 2015: 342] Mãi đến 1802 trở đi, do có nhu cầu trao đổi sản vật mà giữa người Việt với các tộc người thiểu số sống trên địa bàn Phước Long xưa mới dần dần có những mối quan hệ cộng
cư, từ đó, người Việt mới bắt đầu di cư đến và lập nên những cụm cư dân xen kẽ với các buôn, sóc của người thiểu số Cũng từ những năm này trở đi, các cơ sở tôn giáo - tín ngưỡng của người Việt mới xuất hiện rải rác trên địa bàn Phước Long xưa Tuy nhiên, do thế đất bất tiện nên đất Bình Phước trước kia vẫn ít có người Việt sinh sống,
và do vậy, số lượng đình đền chùa miếu mang dấu ấn của người Việt ở nơi đây khiêm tốn hơn nhiều so với các tỉnh khác trong khu vực Đông Nam Bộ
1.3 Quá trình phát triển
Tuy đất Bình Phước mới được khai hoang với quy mô lớn từ thời kì cận hiện đại đến nay, đặc biệt là trong thời kì thực hiện chính sách di dân làm kinh tế mới trong khoảng vài chục năm nay, nhưng lịch sử phát triển của vùng đất này đã có những bước thăng trầm từ rất xưa Từ trước công nguyên, những nhóm người cổ (điển hình là người Xtiêng cổ) đã sinh sống khắp khu vực Bình Phước hiện nay, và theo Trần Bạch Đằng [1991: 31-42], người Xtiêng cổ này cũng là tổ tiên của người Xtiêng, người Mường ở Việt Nam và người Pnông ở Campuchia hiện nay Họ cũng đã góp phần tạo dựng nên sự rực rỡ của văn hoá Đồng Nai và văn hoá Óc Eo thời cổ đại Tuy nhiên, mãi cho đến khi tiếp xúc với người Việt từ khoảng đầu thế kỉ XVIII trở đi, vùng đất tiếp giáp với khu vực Bình Dương ngày nay mới dần dần được hồi sinh trở lại, còn phần lớn đất rừng núi phía Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc thì vẫn giữ nét hoang sơ vốn có
Trong thời kì Pháp thuộc, vùng đất này bị tách gộp nhiều lần Vào năm 1863, sau khi ba tỉnh miền Đông rơi vào tay Pháp, thống đốc Nam kì chia ba tỉnh này thành năm hạt, trong đó, vùng đất nay là Bình Phước thuộc hạt Biên Hoà lẫn hạt Thủ Dầu Một Năm 1899, đất ấy một phần thuộc tỉnh Biên Hoà, phần lớn thuộc về tỉnh Thủ Dầu Một Trong đó, trung tâm Thủ Dầu Một nằm tại Phú Cường, do vậy, vùng đất nay là Bình Phước vẫn bị xem là vùng ven Ngay đến đầu thế kỉ XX, khi Pháp thực hiện chủ trương đẩy mạnh khảo sát vùng Đông Nam Kì để phục vụ chương trình khai thác thuộc địa, thì chỉ có vùng trung tâm của khu vực tỉnh Thủ Dầu Một và tỉnh Biên Hoà mới được thiết lập ách cai trị, còn ở vùng đất nay là Bình Phước thì Pháp cũng chỉ có những hiểu biết sơ bộ và khai thác bước đầu Nhìn chung, đến thời điểm đầu thế kỉ XX, trên cơ bản, vùng đất nay là Bình Phước vẫn chưa có sự phát triển
Tuy nhiên, từ đầu thế kỉ XX trở đi, vùng đất này có nhiều xáo động Do bị Pháp cướp đoạt đất đai để xây dựng dồn điền cao su, các nhóm người thiểu số ở vùng Bình Long, Phước Long, Bù Gia Mập, Lộc Ninh, Phú Riềng… phải bỏ buôn sóc để vào rừng sâu sinh sống Người Việt theo phong trào chống Pháp cũng lùi vào rừng núi, cộng cư với người thiểu số để tiến hành kháng chiến chống Pháp Tiếp theo đó, trong
Trang 12cuộc chiến chống Mỹ, người Việt đã cùng với các nhóm người thiểu số ở đây đoàn kết tương trợ, cùng nhau vót chông chống giặc Qua hai lần kháng chiến này, vùng đất này
đã kịp ghi lại những dấu ấn lịch sử bằng những chiến thắng, bằng những di tích lịch sử rải rác trên khắp địa bàn Bình Phước: “Tiếng súng Phước Long chờ mong tin thắng/
Người đi xa vắng rồi sẽ có ngày/ Về đường này thăm sóc Bombo” (Tiếng chày trên
sóc Bom Bo – Xuân Hồng) Ở vùng chân núi Bà Rá thuộc thị xã Phước Long hiện nay,
miếu Bà Rá và đối diện miếu là Nghĩa trang nhân dân tỉnh Bình Phước luôn được xem
là những biểu tượng điển hình cho sự hi sinh anh dũng của nhân dân vùng đất đỏ miền Đông Tuy nhiên, chính vì chịu phải sự mất mát trong chiến tranh, cộng với điều kiện sống khắc nghiệt, nên trong suốt thời kì đầu thế kỉ XX đến giữa cuối thế kỉ XX, vùng đất này vốn đã kém phát triển lại càng trở nên hoang tàn hơn
Từ năm 1971, phân khu Bình Phước được thành lập trên cơ sở của hai tỉnh Bình Long và Phước Long trước đó Đến cuối năm 1972, phân khu Bình Phước giải thể, tỉnh Bình Phước được thành lập Từ sau năm 1976, tỉnh Sông Bé được thành lập trên
cơ sở sáp nhập các khu vực từ phía Nam Tây Nguyên đến giáp thành phố Hồ Chí Minh Bình Phước lúc này vẫn là vùng đất lạc hậu, ruộng đất hoang hoá chứa đầy bom mìn và chất độc hoá học Do vậy, chính quyền và nhân dân Sông Bé đã thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1976-1980), 5 năm lần thứ 2 (1981-1985) Tuy nhiên, mãi đến năm 1986 trở đi, từ sau khi thực hiện chính sách mở cửa, di dân từ Bắc Bộ và Trung Bộ mới ồ ạt di cư đến các tỉnh thuộc vùng đất Tây Nguyên và khu vực Bình Long, Bình Phước, Lộc Ninh, Bù Gia Mập… thuộc đất Sông Bé theo chính sách xây dựng vùng kinh tế mới Diện mạo của vùng rừng núi này mới dần dần được cải thiện
Đi theo chân người Việt di cư, những đình đền chùa miếu mới dần dần xuất hiện trên những trục đường chính ở khu dân cư thành thị hay trên những tuyến đường đất đỏ, thậm chí là trong những vạt rừng cao su bạt ngàn
Từ sau năm 1997, tỉnh Bình Phước được tái lập, sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá được đẩy mạnh Những dòng di dân (chủ yếu là người Việt) từ các nơi (kể
cả vùng Tây Nam Bộ) du nhập vào ngày càng đông2, kéo theo đó là kinh tế, dịch vụ, thương mại, giáo dục, y tế… phát triển theo Đời sống tôn giáo - tín ngưỡng ở đây cũng vì thế mà trở nên phong phú hơn, đáp ứng cho nhiều nhóm người khác nhau với những niềm tin khác nhau, trong đó, sự phát triển của Phật giáo Bắc tông ở đây là trường hợp điển hình Trong quá trình di cư đến lập nghiệp, người Việt ở khắp nơi đã mang theo văn hoá sùng bái Phật giáo của mình đến Bình Phước và xây chùa chiền ngày càng nhiều với quy mô khác nhau: có những chùa mang dáng dấp của một ngôi nhà thường dân nhưng cũng có những ngôi chùa to lớn, bề thế Theo khảo sát của chúng tôi, những chùa/ tịnh thất/ tịnh xá/ niệm Phật đường được xây mới trong thời
2
Trong những năm 1986-1990, dân số Sông Bé tăng nhanh, bình quân là 4.3%, chủ yếu tăng là do nguyên nhân
cơ học (di dân làm kinh tế) [Theo Tỉnh uỷ - Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Phước (a) 2015: 484]
Trang 13gian khoảng 3 năm gần đây của người Việt có số lượng khá nhiều: tịnh thất Phước Thịnh (Bình Long), chùa Liên Phước, chùa Thanh Khương, niệm Phật đường Tân Hưng (Hớn Quản), chùa Thanh Thắng, chùa Đức Tạng, niệm Phật đường Liên Hoa (Chơn Thành), tịnh xá Ngọc Phúc (Phước Long), chùa Thanh Hương (Đồng Phú), chùa Thanh Bình, chùa Thanh Sơn, chùa Thanh An, chùa Liên Trì (Bù Đăng), chùa Thanh Phước, chùa Thanh Nguyên, chùa thanh Phát (Đồng Xoài), niệm Phật đường Thanh Minh (Bù Đốp)… Những ngôi chùa từ cũ đến mới, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, từ nơi gần đường giao thông chính và khu dân cư đến nơi lẩn khuất trong những vạt rừng cao su này chính là những nơi bảo lưu được nhiều di văn Hán Nôm, góp phần làm phong phú thêm cho đời sống tinh thần của cư dân địa phương
2 Tổng quan về tình hình sinh hoạt tôn giáo – tín ngưỡng ở Bình Phước
Bình Phước là đất kinh tế mới, trước khi người Việt đến sinh sống thì những nhóm người Xtiêng, Mnông, Chơ Ro… đã sinh sống ở đây từ lâu đời Do xã hội chưa phát triển, nên hình thái xã hội của những nhóm người này vẫn còn mang màu sắc của chế độ công xã nguyên thuỷ, và tín ngưỡng tương ứng của họ vẫn nằm trong giai đoạn
đa thần, có nghĩa là, các hình thức tín ngưỡng ở họ chưa đi đến giai đoạn nhất thần hoá
để chuyển thành các dạng tôn giáo Trong đó, tín ngưỡng quan trọng nhất của họ là Yàng (theo thuyết vạn vật hữu linh, mọi vật đều có linh hồn, vì vậy, trên trời dưới đất đều có các Yàng [tức là thần], ví dụ như: Yàng Hiu – thần Nhà, Yàng The – thần Đất, Yàng Bri – thần Rừng…)
Từ sau khi người Việt đến sinh sống với quy mô lớn (quan trọng nhất là thời kì người Việt di dân theo chính sách di cư làm kinh tế mới trong vài thập niên gần đây), các dạng tôn giáo – tín ngưỡng trên vùng đất này mới trở nên đa dạng Kéo theo đó, các cộng đồng tín đồ mới đã được thành lập dần dần theo hướng địa lí từ phía Nam lên phía Bắc, từ phía Tây sang phía Đông (theo hướng di cư và cộng cư của người Việt) Tín đồ của Công giáo, Phật giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hồi giáo, Phật giáo Hoà Hảo…
có số lượng ngày càng đông và các cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng (giáo xứ, chùa, đình, đền, miếu) dần dần xuất hiện trên khắp địa bàn của tỉnh Trong đó, do nhóm di dân ở Bình Phước chủ yếu là nhóm người Bắc (vào đợt di dân 1954) nên nhóm tín đồ Công giáo và Tin Lành chiếm số lượng nổi bật Theo số liệu thống kê từ Cục Thống kê Bình Phước vào năm 2009 [Dẫn lại từ Tỉnh uỷ - Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Phước (b) 2015: 395], số tín đồ của toàn tỉnh được phân bố như sau: Công giáo (87.659 người), Phật giáo (85.848 người), Tin Lành (52.096 người), Cao Đài (3.092 người), những nhóm tín
đồ của các giáo phái khác (như Hồi giáo, Phật giáo Hoà Hảo, Đạo tứ ân hiếu nghĩa, Bà
la môn, Tịnh độ cư sĩ, Bửu sơn Kì hương…) chiếm số lượng không nhiều, từ vài trăm người đến vài người
Trang 14Tuy nhiên, nếu xét theo tâm thức của tín đồ, số lượng cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng và lịch sử hình thành của các cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng ở Bình Phước thì tình hình có sự thay đổi rất lớn, cả về tính chất lẫn về số lượng
Về tâm thức của tín đồ, sự chênh lệch số lượng tín đồ giữa Công giáo và Phật giáo nêu trên không hoàn toàn chứng minh rằng trong thực tế, số lượng người theo Công giáo nhiều hơn số người theo Phật giáo Đó là vì ngoài tín đồ Phật giáo chính thức, đa số cư dân người Việt nói chung và cư dân người Việt ở Bình Phước nói riêng đều có xu hướng theo Phật giáo Bắc tông (ăn lạt vào ngày 30 và 15 hàng tháng, đi lễ chùa vào dịp Tết nhất, rước thầy tụng trong tang ma…), nên xét trên tổng thể thì số lượng người theo Phật giáo vẫn chiếm ưu thế hơn
Về số lượng cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng, vì giáo xứ (nhà thờ) là nơi tập trung đông tín đồ nhưng không phải là nơi cư trú lâu dài (người ta thường nói “ở chùa” mà không phải là “ở nhà thờ”) nên thường được xây to rộng, đủ để chứa cùng lúc rất nhiều người, do vậy, nếu xét về số lượng thì có thể không cần đến quá nhiều Ngược lại, người Việt phần nhiều có xu hướng tu tại gia, và do vậy, ngoài những chùa được chính quyền hỗ trợ xây dựng thì đa số tịnh thất/ tịnh xá/ niệm Phật đường và chùa ở đây lại được hình thành từ những ngôi nhà của thường dân Kéo theo đó, chùa luôn luôn có số lượng nhiều hơn giáo xứ và các giáo xứ có xu hướng nằm xen kẽ trong những cụm chùa, tịnh thất (ví dụ, giáo xứ Lộc Thiện và chùa Phúc Lâm cách nhau khoảng 40m) Tuy nhiên, sự phân bố xen kẽ này không đồng đều giữa các vùng trong tỉnh Trong khi Phật giáo (chủ yếu là phái Bắc tông) là nét đặc trưng trong đời sống tôn giáo ở nhánh phía Tây Bắc (nhiều nhất là ở huyện Lộc Ninh) thì Công giáo lại là nét đặc trưng trong đời sống tôn giáo ở nhánh phía Đông Nam (nhiều nhất là ở thị xã Phước Long)
Về lịch sử hình thành, Phật giáo ở đây có mặt sớm hơn so các hình thức tôn giáo khác Theo Tỉnh uỷ - Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Phước (b), Phật giáo “có mặt đầu tiên vào khoảng cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, tiếp đến là Công giáo vào khoảng giữa thế kỉ XIX… Các tôn giáo còn lại có mặt khá muộn, khoảng từ sau 1975 đến nay” [2015: 395] Do vậy, tựa như một mạch nước ngầm, Phật giáo cùng với các
tư tưởng về đạo và đời của nó đã ăn sâu trong tâm linh của phần lớn cư dân Bình Phước
Tuy nhiên, do đây là vùng đất mới nên số lượng chùa, tịnh thất, tịnh xá, niệm Phật đường cũng ít hơn nhiều so với các tỉnh thành lân cận Theo số liệu điều tra trong tài liệu nội bộ của Ban tuyên giáo tỉnh Bình Phước, tính đến thời điểm tháng 11 năm
2016, toàn tỉnh có hơn 100 ngôi chùa Bắc tông; trong khi đó, Bình Dương vào cùng thời điểm lại có hơn 200 ngôi chùa Bắc tông Còn theo số liệu của Phạm Hoài Nhân3, tính đến thời điểm năm 2015, thì thành phố Hồ Chí Minh đã có 1008 ngôi chùa Bắc
3
http://phnhan.vncgarden.com/2015/03/co-bao-nhieu-ngoi-chua.html
Trang 15tông (chiếm thứ hai trong cả nước, sau Hà Nội), tỉnh Đồng Nai ở lân cận cũng có đến
260 ngôi chùa Bắc tông (chiếm thứ tư, sau Thừa Thiên – Huế) Còn xét về chiều dài lịch sử, nếu như ở những tỉnh thành khác cùng khu vực, các cơ sở tôn giáo được xây dựng từ rất lâu (chùa Bửu Phong ở Đồng Nai được xây vào năm khoảng 1616, chùa núi Châu Thới ở Bình Dương được xây vào năm 1681, chùa Huê Nghiêm ở thành phố
Hồ Chí Minh được xây vào năm 1721…) thì các cơ sở tôn giáo ở Bình Phước (điển hình là chùa Bắc tông) lại được xây khá muộn (những chùa cổ ở đây như chùa Phúc Lâm ở Lộc Ninh được xây vào năm 1917, Đức Minh cổ tự ở Hớn Quản cũng chỉ được xây từ năm 1936; trong khi các chùa mới được xây trong vài năm nay lại chiếm số lượng khá nhiều)
Từ những vấn đề trên, chúng ta có thể thấy rằng đời sống tôn giáo – tín ngưỡng của cư dân Bình Phước khá đa dạng Đây cũng là một điều gây bất lợi trong việc quản
lí, nhưng mặt khác, nó cũng mang đến một sự mới mẻ trong đời sống tinh thần của người dân, góp phần đưa xã hội phát triển một cách cân bằng giữa đời sống vật chất và đời sống tâm linh
3 Khái quát về vai trò của di văn Hán Nôm trong đời sống cư dân Bình Phước
Từ thời khai hoang lập ấp, cư dân ở Nam Bộ phần đông đều là những người nghèo khó, thất học cùng với binh lính và một ít trí thức bất mãn với thời thế Lúc này, người Việt vẫn chưa chú tâm vào việc xây đình, chùa, đền, miếu Mãi về sau, khi Gia Định trở thành một trung tâm kinh tế - chính trị - quân sự ở khu vực phía Nam thì các nhân sĩ Bắc và Trung Bộ mới dần dần vào sinh sống Đó cũng là lúc các đình, chùa dần dần được dựng lên ở khắp nơi Với truyền thống dùng chữ Hán và chữ Nôm để viết các câu đối trong chùa, người Việt ở Bình Phước vào lúc chưa có chữ Quốc ngữ cũng đã mang những triết lí tôn giáo, triết lí sống cùng những tâm tư của những người
di cư gói ghém lại và thể hiện ra bằng những liễn đối Hán – Nôm trên cột, trên cổng, trên bức liễn thờ… của các cơ sở tôn giáo - tín ngưỡng ở đây
Tuy nhiên, do Nam Bộ là nơi sử dụng chữ Quốc ngữ sớm và triệt để hơn so với Bắc và Trung Bộ, nên ở một số cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng (chủ yếu là chùa) vào ngay
từ những năm đầu thế kỉ XX, các câu đối, hoành phi, hoành biển đều chỉ được viết bằng chữ Quốc ngữ (ví dụ như chùa cổ Đức Minh ở huyện Hớn Quản, chùa cổ Hưng Long ở huyện Chơn Thành…) hoặc một phần câu đối (và cả hoành phi, hoành biển, liễn đối, bài vị…) được viết bằng chữ Quốc ngữ xen kẽ chữ Hán/ Nôm (ví dụ, chùa Thanh Long ở huyện Đồng Phú chỉ có hai câu đối chữ Hán ở cổng ngoài, bên trong chùa chỉ có chữ Quốc ngữ; chùa Thanh Cảnh ở huyện Hớn Quản có ba cặp câu đối chữ Hán trong chùa, kết hợp một cặp câu đối bằng chữ Quốc ngữ ở cổng ngoài…) Thậm chí, trong thời gian gần đây, có rất nhiều nơi có xu hướng viết hoàn toàn bằng chữ Quốc ngữ (ví dụ chùa Thanh An ở huyện Hớn Quản; chùa Tịnh Quang ở huyện
Trang 16Chơn Thành, chùa Tân Minh ở Bình Long; chùa Thanh Tiến ở Đồng Xoài…) Thêm vào đó, trong thời gian gần đây, với xu hướng Quốc ngữ hoá văn tự ở các cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng của của người Việt, khi tiến hành trùng tu các cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng, di văn Hán Nôm ở đây ít nhiều đã bị thay bằng chữ Quốc ngữ theo dạng phiên âm Hán Việt đối với chữ Hán hoặc phiên âm tiếng Việt đối với chữ Nôm Ví dụ như ở chùa Lôi Âm ở xã Lộc Thái huyện Lộc Ninh, trong quá trình trùng tu, toàn bộ các liễn đối, hoành phi, hoành biển chứa di văn Hán Nôm của chùa đều đã bị tháo dỡ xuống và thay bằng chữ Quốc ngữ Những điều này đã khiến cho số lượng đơn vị di văn Hán Nôm ở các cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng ở Bình Phước đã bị hạ xuống khá thấp trong so sánh với số lượng đơn vị chữ Quốc ngữ
Mặc dù vậy, dù là chữ Quốc ngữ hay chữ Hán – Nôm thì giữa văn tự và văn hoá luôn luôn có mối quan hệ mật thiết nhau, chữ viết phần nào sẽ cung cấp những thông tin văn hoá tại nơi mà nó tồn tại Theo quan niệm của người Nhật Bản, ngôn ngữ
cũng có linh hồn, người ta gọi là kotodama; còn theo người Trung Quốc, chữ viết cũng
thể hiện cái hồn của người viết, do vậy, chữ có thể dùng để làm chất liệu để vẽ tranh (tranh chữ), đó là cơ sở để hình thành nên nghệ thuật thư pháp Chính vì vậy, tại các cơ
sở tôn giáo – tín ngưỡng (tức những nơi được xem là vô cùng linh thiêng), chữ viết được chạm khắc trang trọng trên những cột, xà, bao lam… càng trở lên quý giá Trong khi đó, theo quan niệm thẩm mĩ từ xưa đến nay của nhiều người, dạng chữ tượng hình
“như rồng bay phượng múa” vẫn mang tính trang trọng và hoa lệ hơn so với dạng chữ Latin; khi những chữ ấy được xuất hiện trang trọng trong các ngôi đình chùa đền miếu, thì lại càng thiêng liêng hơn bội phần, và việc bỏ hẳn chữ Hán - Nôm trong các cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng có lẽ sẽ là điều bất khả (xin xem thêm [Trinh Nguyễn 2017])
Do vậy, di văn Hán Nôm ở các cơ sở tôn giáo – ngưỡng trên địa bàn tỉnh Bình Phước cho đến thời điểm hiện nay vẫn góp phần thể hiện hơi thở cuộc sống của cư dân Bình Phước, đặc biệt là những niềm tin trong đời sống tinh thần
Trang 17CHƯƠNG 2: DI VĂN HÁN NÔM TẠI CÁC CHÙA TRÊN ĐỊA BẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC
1 CHÙA QUANG MINH
1 Vị trí địa lí và lịch sử hình thành
Chùa Quang Minh (光明寺) là chùa có nhiều di văn chữ Hán nhất ở thị xã Đồng Xoài Chùa theo hệ phái Bắc tông, mặt hướng về phía Nam, hiện toạ lạc tại số
322 quốc lộ 14, phường Tân Đồng, thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
Theo ghi chép của một vài tài liệu trên mạng, chùa Quang Minh trước vốn là một chùa nhỏ, được xây dựng vào năm 1952, đến năm 1990 mới được trùng tu lại Tuy nhiên, theo lời truyền khẩu của các ni sư trong chùa, chùa Quang Minh được xây dựng lần đầu vào khoảng 1950 trên khu đất cao với diện tích khoảng hai hecta và được trùng
tu lại vào khoảng năm 2004 Về năm trùng tu chùa, chúng tôi cho rằng lời truyền khẩu của các ni sư trong chùa là chính xác, vì trên bức hoành phi trước gian thờ của tầng lầu
có dòng lạc khoản ghi năm phụng cúng là vào năm 2550 Phật lịch (tức năm 2006 Tây lịch)
Hiện tại, chùa Quang Minh là cơ sở tín ngưỡng nổi tiếng bậc nhất tại thị xã Đồng Xoài Chùa có khuôn viên thoáng đãng, bài trí đẹp với cổng tam quan hoành tráng và tượng phật Quan Âm hiền từ đặt bên phải của chùa Ngoài ra, chùa còn nổi tiếng với chiếc đại hồng chung nặng 750kg được đúc vào ngày 14/5/1997
Ở gian chính điện của tầng trệt, không gian thoáng rộng và được bài trí thoáng đẹp, ba bên gian chính điện còn treo những bức tranh Phật đẹp mắt Ở tầng trên, không gian cũng lộng lẫy không kém với tượng Phật Di đà và các bức hoành phi và câu đối bằng chữ Hán
2 Sơ đồ kết cấu các hạng mục và sự phân bố các thành tố Hán Nôm
Tầng trệt
Tượng Quán thế
âm Bồ tátCây kiểng
(8) (7)(6)
Cổng chùa(4) (2) (1) (3)
Hậu điệnTượng Phật
A di đà
Trang 18Tầng lầu
3 Nội dung hoành phi, liễn đối Hán Nôm ở chùa Quang Minh
Chùa Quang Minh có tổng cộng 16 câu đối, hoành phi/ hoành biển và lạc khoản, tất thảy đều đƣợc khắc/ viết bằng chữ Hán theo thể chữ Khải, nét chữ rất rõ ràng Tuy vậy, cũng có một số chữ viết tắt theo dạng nửa phồn nửa giản, số chữ kiểu này chỉ chiếm một hai chữ, do vậy, khi đánh máy lại, chúng tôi sẽ phục hồi lại theo đúng chữ phồn thể chuẩn
Ở cổng tam quan và gian thờ tầng trệt
3.1 Cặp câu đối ở cửa chính cổng tam quan
- Nguyên văn:
(1) 光 祖 印 建 寶 殺 樹 僧 才 世 世 傳 燈 續 焰
(2) 明 佛 心 捨 金 樓 隨 法 性 生 生 拔 苦 興 慈
- Phiên âm:
Quang tổ ấn kiến bảo sát4 thụ tăng tài thế thế truyền đăng tục diệm
Minh Phật tâm xả kim lâu tuỳ pháp tính sinh sinh bạt khổ hưng từ
Sát là cách nói gọn từ “sát đa la” (刹多羅) trong tiếng Phạn, có nghĩa là chùa miếu tháp Phật Vì vậy, 古刹 là
chùa cổ, 寶刹 là chùa báu Trong cách phiên âm Hán Việt, chữ này chỉ đƣợc phiên âm thành “sát” Tuy nhiên, phiên âm Bắc Kinh của chữ này là “shā” lẫn “chà”, nếu đọc là “shā” thì nó có nghĩa là “giết”, nếu đọc là “chà” thì lại có nghĩa là chùa
(13) (12)
Tƣợng Phật
Cửa chính
Trang 19Rạng tâm Phật, bỏ lầu vàng, theo Pháp tính, kiếp kiếp thoát khổ hưng thịnh lòng từ
3.2 Câu đối ở hai bên cửa phụ cổng tam quan
- Nguyên văn:
(3) 入 門 宜 捨 庸 常 性
(4) 到 寺 應 生 歡 喜 心
- Phiên âm:
Nhập môn nghi xả dung thường tính
Đáo tự ưng sinh hoan hỉ tâm
Dịch nghĩa:
Vào cửa nên rủ bỏ bản tính tầm thường
Đến chùa hãy sinh lòng vui vẻ
Dịch xuôi:
Đến chùa hãy tỏ lòng hoan hỉ
Vào cửa nên buông tính tục phàm
3.3 Hoành biển mặt sau cổng tam quan
- Nguyên văn:
(5) 光 明 寺
- Phiên âm: Quang Minh tự
- Dịch nghĩa: Chùa Quang Minh
3.4 Hai bên tượng Phật A di đà ở điện thờ
- Nguyên văn:
(6) và (7): 南 無 阿 彌 陀 佛
- Phiên âm, dịch nghĩa: Nam mô A di đà Phật
3.5 Bức tranh chữ treo phía bên trái gian điện thờ
Trang 20Phân ban đặc trách ni giới trung ƣơng thân tặng
- Dịch nghĩa:
Họ Cù Đàm sừng sững, dòng giống của thánh nhân
Phân ban đặc trách ni giới trung ƣơng thân tặng
Ở tầng lầu
3.6 Hoành biển trên cửa chính lối vào gian điện thờ
- Nguyên văn:
(9) 光 明 寺
- Phiên âm: Quang Minh tự
- Dịch nghĩa: Chùa Quang Minh
3.7 Dòng lạc khoản bên phải bức hoành biển
- Phiên âm: Phàn Văn Quang phụng cúng
- Dịch nghĩa: Phàn Văn Quang thờ cúng
3.9 Bức chạm hoa văn phía trên của gian điện thờ
- Nguyên văn:
(12) 萬 德 慈 尊
- Phiên âm: Vạn đức từ tôn
- Dịch nghĩa: Tôn sƣ từ bi toàn đức
3.10 Bức hoành biển dưới bức chạm hoa văn6
Trang 21- Phiên âm: Đại hùng bảo điện
- Dịch nghĩa: Gian điện báu của bậc đại hùng7
3.11 Câu đối hai bên gian chính điện
- Dịch nghĩa:
Tia chiếu giáng xuống phàm trần, hiển hiện ra bằng thân xác để phổ hoá trí tuệ
và từ bi trên con đường giác ngộ
Ánh sáng làm tròn trặn thánh quả, làm rõ tướng thực nhằm hoằng khai thiền giáo ở chốn pháp vương
Ngoài ra, chùa còn có giá trị lịch sử nhất định Ngày trước, chùa nằm gần chiến khu D, chinh chiến ác liệt, vì vậy mà các đời sư truyền đạo thường lưu lại chùa không lâu rồi lại đi nơi khác tiếp Do vậy, ngôi chùa này cũng đã chứng kiến nhiều bước thăng trầm của lịch sử thời kí chiến tranh cũng như sự thay da đổi thịt của cộng đồng người Việt ở khu vực vùng biên viễn này
Trang 222 CHÙA THANH LONG
1 Vị trí địa lí và lịch sử hình thành
Chùa Thanh Long thuộc hệ phái Bắc tông, là một trong vài chùa lớn nhất huyện Đồng Phú tỉnh Bình Phước Chùa hướng về phía Đông Nam, cổng ngoài đặt ngay trên đường Cách mạng tháng tám, ấp Bàu Ké, thị trấn Tân Phú Phú, huyện Đồng Phú
Chùa do hoà thượng Thích Nhuận Thanh xây dựng vào năm 1997 Năm 2099, chính điện của chùa đã được xây mới khiến chùa trở nên rộng hơn và đẹp hơn Tuy vậy, chùa chỉ có hai câu đối chữ Hán ở ngay cổng chính hướng ra đường Cách mạng tháng tám
2 Nội dung hoành phi, liễn đối Hán Nôm ở chùa Thanh Long
- Nguyên văn:
福 慧 兩 全 無 惱 無 憂 真 極 樂
平 心 進 德 不 垢 不 染 是 西 方
- Phiên âm:
Phúc huệ lưỡng toàn vô não vô ưu chân Cực lạc
Bình tâm tiến đức bất cấu bất nhiễm thị Tây phương
Phúc huệ đều vẹn, không buồn không lo, thực nơi Cực lạc
Tâm đức cùng ngời, chẳng lấm chẳng bẩn, chính cõi Tây phương
3 Một số nhận xét, đánh giá
Câu đối ở cổng ngoài này thể hiện sự phóng khoáng trong tâm ở những bậc chân tu của phái Bắc tông Tuy nhiên, nguyên văn cặp đối chưa được chuẩn ở hai vế đầu của mỗi câu, vì vế đầu của câu trắc được viết theo cấu trúc đồng chủ ngữ - phó từ - tính từ (tức kiểu một cụm chủ vị), trong khi vế đầu của câu bình lại là chủ - vị, chủ - vị (kiểu hai cụm chủ vị)
Trang 233 CHÙA THANH CẢNH
1 Vị trí địa lí và lịch sử hình thành
Chùa Thanh Cảnh (青景寺) được xây dựng vào năm 2008, đây là một chùa khá lớn, nằm yên tĩnh trong rừng điều xen kẽ những vạt rừng cao su rậm rạp ở tổ 4, xã Tân Khai huyện Hớn Quản Chùa quay mặt hướng về hướng chính Nam, toạ lạc trên một thửa đất rộng lớn, phía trước chùa có ao nước, trong sân chùa có nhiều tiểu cảnh đẹp mắt
Nhìn tổng thể, chùa Thanh Cảnh là một công trình kiến trúc khá đẹp với nhiều chi tiết điêu khắc chạm rồng, đặc biệt là tượng hai con rồng chầu hai bên thềm lối lên điện thờ Vòm cửa vào điện thờ còn được trang trí hình hoa lá đẹp mắt và cầu kì Mái ngói gồm ba tầng, bốn góc ở mỗi tầng nóc đều trang trí hình hoa sen thể hiện sự thanh cao ở chốn tôn nghiêm
Nhìn chung, di văn Hán Nôm của chùa chỉ tập trung ở điện thờ chính, ở cổng chính không có chữ Hán nào Tuy vậy, sự tôn nghiêm và từ huệ của chùa lại nằm nhiều ở bốn câu đối bằng chữ Quốc ngữ ở cổng chính, với nội dung khuyến răn người đời luôn thanh tĩnh để thoát khỏi những mê muội cõi phàm trần
2 Sơ đồ kết cấu các hạng mục và sự phân bố các thành tố Hán Nôm
3 Nội dung hoành phi, liễn đối Hán Nôm ở chùa Thanh Cảnh
3.1 Hai câu đối ở cổng mặt tiền đường
Tượng Quán thế
âm Bồ tátTiểu cảnh
Cổng chùa(1) Cửa vào (2)
Dãy phòng sinh hoạtĐiện thờ Phật
(5) (4) (3)(7) (6)(10) (8) (9)
Trang 24- Nguyên văn (từ trái qua phải):
(1) 佛 無 可 比 倫 智 慧 慈 悲 人 天 朝 拜
(2) 法 不 能 思 議 高 深 微 妙 魔 外 皈 依
- Phiên âm:
Phật vô khả bỉ luân trí huệ từ bi nhân thiên triều bái
Pháp bất năng tư nghị cao thâm vi diệu ma ngoại quy y
Phật tót vời từ bi trí huệ, trời người đều triều bái
Pháp vô tận cao sâu huyền diệu, ma quỷ thảy quy y
3.2 Ba hoành phi mặt sau của cổng tiền đường
Trang 25- Phiên âm:
Thần Phật giả quan kì tướng hảo quang chi Phật
Bái kinh hề niệm chi thậm thâm vi diệu kì kinh
- Dịch nghĩa:
Là Thần Phật, nếu xem qua tướng dạng thì biết được Phật nào sáng ngời
Khi bái kinh, nếu năng niệm kinh thì sẽ thấy được kinh nào vi diệu
- Dịch xuôi:
Là Thần Phật, thường xem tướng biết ngay Phật sáng
Lúc bái kinh, năng niệm kinh hiểu rõ kinh hay
3.4 Hoành biển trước điện thờ
- Nguyên văn:
(8) 大 雄 寶 殿
- Phiên âm: Đại hùng bảo điện
3.5 Hai câu đối trước điện thờ Phật
từ trung tâm chuyển sang mang chức năng của chủ ngữ, định ngữ lại mang chức năng của vị ngữ)
Trang 26Lễ trình điện Phật
4 Một số đánh giá, nhận xét
Tuy số lượng di văn Hán Nôm không nhiều, nhưng chùa Thanh Cảnh vẫn thể hiện một sự uy nghiêm lẫn phóng khoáng từ nội dung của những câu đối khá chuẩn trong chùa Do vậy, chùa Thanh Cảnh đã dần dần trở thành một cơ sở tâm linh quan trọng cho nhân dân ở xã Minh Khai, huyện Hớn Quản
và xây lại cổng mới Nhưng cũng chính vì điều này mà các câu đối và hoành phi ở vị trí cổng chùa đã bị mất đi, chỉ còn chừa lại một hai câu trong gian chính điện Hơn nữa, hai hàng câu đối ở trước gian thờ vốn là chữ viết tay và sau đó được đồ lên, do vậy mà tương đối khó đọc Riêng ở câu trắc (câu đối số 2, ở bên phải nhìn từ ngoài vào), có nhiều chữ viết không rõ nét, một số chữ còn bị viết nhầm nét hoặc sai chữ, một vài chữ viết ở dạng kết hợp từ 2 đến 3 chữ Hán (giống như cách viết chữ Nôm) Trong khi đó, câu bằng (câu số 3) viết hoàn toàn bằng chữ Hán nên chúng tôi xác định câu trắc cũng
là câu đối bằng chữ Hán, tuy cách viết có phần chưa đúng Do vậy, chúng tôi cố gắng dựa trên câu bằng để phục hồi lại chữ viết đúng ở câu trắc
Xin xem hình đối chiếu (vị trí số 2):
1.2 Sơ đồ kết cấu các hạng mục và sự phân bố các thành tố Hán Nôm
Phòng sinh
hoạt
Tượng Quán thế
âm Bồ tát
Cổng chính
(1) Điện thờ Phật
Trang 271.3 Nội dung hoành phi, liễn đối Hán Nôm ở chùa
- Hoành biển trước gian điện thờ Phật có dòng chữ (1): 大 雄 寶 殿 (Đại hùng bảo điện)
- Hai câu đối trước gian điện thờ:
Nguyên văn:
(2) 東 教 四 不 忘 濟 世 無 悲 门 曉 行 標 曾 可 愛
(3) 西 傳 三 可 得 度 塵 有 悟 修 知 證 果 竟 無 憂
Phiên âm:
Đông giáo tứ bất vong tế 10
thế vô bi 11 trai hiểu hành tiêu 12 tăng 13 khả ái Tây truyền tam khả đắc độ trần 14 hữu ngộ 15 tu tri chứng quả cánh vô ưu
Đông dạy bốn điều không quên, tế thế thoát cuộc bi ai, an tịnh hiểu hành tiêu
để tăng thêm khả ái
Tây truyền ba vị đáng được, độ trần theo đường giác ngộ, tu luyện biết chứng quả sẽ càng được vô ưu
- Hai hoành phi câu đối ở tiền điện
Cụm từ này vẫn chưa ổn, dù chúng tôi đã hết sức cố gắng đối sánh với cụm từ “tu tri chứng quả” ở câu bằng
để xác định âm đọc (theo luật bằng trắc, cụm từ ở vế thứ hai là “tu tri chứng quả” có kiểu bằng - trắc ở từ thứ hai
và thứ tư thì ở vế thứ nhất này, cụm từ gồm bốn chữ này phải là trắc - bằng ở chữ thứ hai và chữ thứ tư), từ loại (động từ 1 – động từ 2 - danh từ ghép phụ - chính), cấu trúc (vị từ - bổ ngữ/ tân ngữ) và ý nghĩa (nội dung đối ứng) của bốn chữ này Trong nguyên văn, ngoài chữ “hành” ra thì ba chữ còn lại đều không nhận diện được trong các quyển từ điển tiếng Hán
13
Trong nguyên văn, bộ phận nằm giữa của chữ này viết ở dạng chữ “điền” (田) Tuy chữ này cũng có nghĩa là
“thêm”, nhưng lẽ ra phải viết là 增
Trang 28(4) 風 調 雨 順
(5) 國 泰 民 安
Phiên âm:
Phong điều vũ thuận
Quốc thái dân an
Dịch nghĩa:
Mưa điều độ, gió thuận xuôi
Nước thái bình, dân an lành
Dịch xuôi:
Mưa thuận gió hoà
Nước yên dân ổn
2 Tịnh xá Ngọc Bình
2.1 Vị trí địa lí và lịch sử hình thành
Tịnh xá Ngọc Bình nằm trên đường Nguyễn Huệ, khu phố Phú Hưng, phường Phú Thạnh, thị xã Bình Long Tịnh xá khá đẹp, trang trí lộng lẫy, sơn son nhũ vàng, nhưng chỉ có cổng tam quan là có một cặp đối bằng chữ Hán, bên cạnh là một cặp đối bằng chữ Quốc ngữ
2.2 Nội dung hoành phi, liễn đối Hán Nôm ở chùa
- Nguyên văn:
玉 牒 開 方 便 門 契 理 契 機 同 一 理
平 心 悟 真 妙 法 為 權 為 實 等 唯 心
- Phiên âm:
Ngọc điệp khai phương tiện môn khế lí khế cơ đồng nhất lí
Bình tâm ngộ chân diệu pháp vi quyền vi thực đẳng duy tâm
- Dịch nghĩa:
Phả điệp (sách biên chép thế hệ nhà vua) mở ra cửa tu tập, hợp với lí lẽ, hợp với
cơ trời như cùng một chân lí
Tâm lặng ngộ ra chân pháp huyền diệu, là quyền là thực thì cũng bằng một lòng
- Dịch xuôi:
Ngọc điệp mở cửa tu, hợp lí lẽ hợp cơ trời như cùng một lẽ
Bình tâm ngộ phép huyền, là quyền năng là thực tướng bằng với một lòng
3 Một số đánh giá, nhận xét
Tuy số lượng di văn Hán Nôm không nhiều và còn nhiều nghi vấn về mặt chữ, nhưng cũng vì điều này mà chúng tôi cho rằng nhưng câu đối ở chùa Quảng An là
Trang 29những câu đối có lịch sử khá lâu dài và là do sư trụ trì đời đầu viết nên Vì vậy, qua bao nhiêu lần trùng tu, những di văn chữ Hán ở đây đã bị thay đổi nét, thậm chí là thay đổi chữ Tuy nhiên, nhìn từ ý nghĩa, chúng ta có thể thấy được một số nét văn hoá tôn giáo độc đáo ở Nam Bộ thể hiện trong hai câu đối ở chùa Quảng An Trong đó, cụm từ
“tứ bất vong” hẳn xuất phát từ thuyết tứ ân (vốn là tư tưởng cốt lõi ở Phật giáo Hoà Hảo: ơn tổ tiên, ơn đất nước, ơn Tam bảo, ơn đồng bào và nhân loại); còn “tam khả đắc” có thể xuất phát từ quan niệm về Tam bảo (Phật – Pháp – Tăng) Trong khi đó, hai câu đối ở trước cổng tam quan ở Tịnh xá Ngọc Bình cũng thể hiện sự thâm thuý trong tư duy của người viết nên Ở đây, có lẽ Phật giáo đã bắt gặp tư tưởng về Thiên đạo ở triết lí Lão - Trang và Nhân đạo ở triết lí Khổng Nho
Trang 305 CHÙA LINH THỨU
1 Vị trí địa lí và lịch sử hình thành
Chùa Linh Thứu (靈鷲寺) là một chùa khá mới nằm hướng về phía Tây Tây Nam, cổng tam quan cách quốc lộ 13 chưa đến 50m, toạ lạc tại ấp Thanh Thuỷ, xã Thanh Phú, thị xã Bình Long, Bình Phước Chùa được Phật tử địa phương xây dựng lần đầu tiên vào năm 1988, sau đó được Đại đức Thích Minh Tâm trùng tu vào năm
2012 Đây được xem là một ngôi chùa đẹp với màu vàng rực rỡ ở cặp rồng chầu oai hùng ở tiền điện cũng như ở những cặp rồng tranh châu được trang trí trên mái ngói; màu màu đỏ gạch ở mái ngói; màu gỗ nâu ở cột; màu trắng tinh ở tượng Phật Di đà ở tiền điện và tượng Quán thế âm Bồ tát ở giữa sân Riêng phần mái ngói, chùa thiết kế kiểu mái vòm hai tầng, ở bốn góc của mỗi tầng đều trang trí hình rồng chầu, ở giữa vòm mái có trang trí hình pháp luân và đôi rồng vàng Bên trong chùa, mỗi một gian là một công trình kiến trúc hoành tráng, được trang trí bằng những hoạ tiết đẹp mắt, sang trọng và những pho tượng Phật Thích Ca, phật A Di Đà trang nghiêm Đặc biệt, vòm mái của chùa là một tác phẩm nghệ thuật với những bức tranh vẽ tỉ mỉ và sinh động về quá trình giác ngộ và truyền pháp của Phật Thích Ca
Nhìn tổng thể, chùa Linh Thứu là một ngôi chùa khá rộng, khang trang với nhiều công trình phụ Những di văn Hán Nôm trong chùa không nhiều nhưng đặt ở những vị trí vừa tầm mắt, lại được sơn phủ sắc nét với màu sắc đẹp, do vậy cũng đủ làm nổi bật lên sự nguy nga và trang nghiêm của ngôi chùa
2 Sơ đồ kết cấu các hạng mục và sự phân bố các thành tố Hán Nôm
Trang 313 Nội dung hoành phi, liễn đối Hán Nôm ở chùa Linh Thứu
- Hoành phi trước điện thờ (vị trí số 1) có dòng chữ 無上法王 (Vô thượng pháp
vương: Pháp vương tối cao) Phía trên hoành phi có dòng lạc khoản 越南佛教教會佛
曆二五五七年 (Việt Nam giáo hội Phật giáo, Phật lịch nhị ngũ ngũ thất niên: Giáo
hội Phật giáo Việt Nam, Phật lịch năm 2557 [tức năm 2013 dương lịch]) Phía bên
phải có dòng lạc khoản 平福省平隆市清富社靈鷲寺落成之禮 (Bình Phước tỉnh
Bình Long thị Thanh Phú xã Linh Thứu tự lạc thành chi lễ: Lễ khánh thành chùa
Linh Thứu xã Thanh Phú thị xã Bình Long tỉnh Bình Phước)
- Hai câu đối trước điện thờ Phật Thích Ca
Nguyên văn:
(2) 七 七 年 教 法 之 宣 揚 無 量 無 邊 無 數 劫
(3) 萬 萬 世 眾 生 之 化 道 大 雄 大 力 大 慈 悲
Phiên âm:
Thất thất niên giáo pháp chi tuyên dương vô lượng vô biên vô số kiếp
Vạn vạn thế chúng sinh chi hoá đạo đại hùng đại lực đại từ bi
Tượng Bồ tát
Tháp chuông ba tầng Tượng Bồ tát
Tượng Quán
thế âm Bồ tát
Trang 32Bốn mươi chín năm hoằng dương vì giáo pháp, vô lượng vô biên vô số kiếp Ngàn vạn đời hoá đạo cho chúng sinh, rất oai hùng rất dũng mãnh lại rất từ bi Dịch xuôi:
Bốn chín năm hoằng dương vì giáo pháp, vô lượng vô biên vô số kiếp
Ngàn vạn đời hoá đạo cho chúng sinh, oai hùng dũng mãnh lại từ bi
- Hai bức tự hoạ ở hai bên phải và trái của gian điện thờ (vị trí 4 và 5) có hai chữ 福 (phúc) và 心 (tâm)
- Hoành phi ở phòng tổ sau chánh điện (vị trí số 6)
Nguyên văn: 祖 印 重 光
Phiên âm: Tổ ấn trùng quang
Dịch nghĩa: Ấn tổ thêm ngời sáng
- Hoành phi trên cổng tam quan (vị trí số 7) (viết từ trái sang phải)
Nguyên văn: 福 智 門
Phiên âm: Phúc trí môn
Dịch nghĩa: Cửa phúc khí và trí huệ
- Hai câu đối trên cửa chính cổng tam quan (vị trí 8 và 9)
Nguyên văn:
(8) 靈 瑞 花 開 聖 師 出 世 门 演 三 承 奧 典 度 無 量 有 情 同 登 真 覺 際 (9) 鷲 山 法 結 道 體 圓 該 會 歸 一 路 涅 槃 將 恆 沙 妙 義 總 趣 大 菩 提 Phiên âm:
Linh thuỵ hoa khai, thánh sư xuất thế, khải diễn tam thừa áo điển, độ vô lượng hữu tình đồng đăng chân giác tế
Thứu sơn pháp kết, đạo thể 16 viên cai, hội quy nhất lộ Niết bàn, tương hằng
sa diệu nghĩa tổng thú đại bồ đề
Trang 33Hoa thiêng lành nở, thánh sư vào cõi trần tục để diễn giải kinh điển huyền áo tam thừa, mang những tình cảm không cùng không tận của con người cùng đi đến cõi giác ngộ chân chính
Tạo pháp tràng tại núi Linh Thứu, thể tính đại đạo tròn đầy khiến chúng ta cùng
về một cõi Niết bàn, đem vô số ý nghĩa kì diệu cùng đến vui thú ở gốc bồ đề to lớn17
Bảo địa trang nghiêm sắc hương bất dị
Phật môn quảng đại xuất nhập tuỳ duyên
Dịch nghĩa:
Đất báu trang nghiêm sắc hương không khác
Cửa Phật rộng lớn ra vào tuỳ duyên
Dịch xuôi:
Đáu báu trang nghiêm sắc hương không khác
Cửa thiền rộng lớn xuất nhập tuỳ duyên
- Hoành phi trước tiền điện (vị trí số 12, 13, 14)
Đạo thể: tức là đạo đoàn
Hằng sa: nghĩa là cát ở sông Hằng, ví với số lượng nhiều đếm không kể xiết.
Trang 34Chùa Linh Thứu
Mặt trời Phật ngày ngày thêm rạng
Vòng xe Pháp phút phút lại xoay
4 Một số đánh giá, nhận xét
Tuy số lượng không nhiều, nhưng những cặp đối chữ Hán ở cổng tam quan cũng đã thể hiện sự sâu sắc trong ý tứ, làm trang trọng thêm cho ngôi chùa Tuy nhiên, cặp câu đối ở cổng chính tương đối dài, chia thành 3 đến 5 vế câu, do vậy, người đọc
sẽ khó có thể lĩnh hội được nội dung sâu sắc từ những câu đối ấy
Trang 356 CHÙA TRÚC LÂM
1 Vị trí địa lí và lịch sử hình thành
Chùa Trúc Lâm (竹林寺) là một ngôi chùa khá lớn và đẹp, nằm theo hướng Tây Nam trên con đường nhỏ đi từ quốc lộ 13 vào, thuộc thị trấn Lộc Ninh huyện Lộc Ninh, Bình Phước
Chùa có hai gian chính từ trước ra sau cùng với những gian phụ hai bên, các gian đều được chạm trổ hết sức tinh xảo với những hoa văn đẹp mắt Ngoài ra, cổng tam quan của chùa cũng vô cùng tráng lệ với bốn cột hình tháp ba tầng cong vút, được sơn màu đá xanh nâu sang trọng cùng với những liễn đối bằng chữ Quốc ngữ màu vàng, tạo cảm giác rất gần gũi cho người qua lại Thêm vào đó, chùa còn được trang trí thêm với thác đá, tiểu hoa viên và tiểu cảnh Chùa được hoà thượng Quang Long xây dựng đầu tiên vào năm 1932 (hoà thượng Quảng Long cũng là người đã vận động xây nên chùa Giác Ngạn cùng ở huyện Lộc Ninh), trùng tu vào năm 1975 và trùng tu tiếp vào năm 1990 Vào năm 2010, nhà tổ của chùa đã được xây lại, khiến phần chính điện
ở phía trước trở nên rộng hơn
Được xây dựng từ thời Pháp thuộc, chùa Trúc Lâm đã cùng nhân dân Lộc Ninh trải qua nhiều biến cố của lịch sử, đặc biệt, chùa do Hoà thượng Quảng Long sáng lập nên đã có tiếng tăm từ xưa Vào thời gian hiện nay, chùa đã được nhân dân cả trong lẫn ngoài tỉnh biết đến và sùng tín, mặt khác lại được chính quyền ủng hộ Do vậy, trong tương lai có khả năng sẽ được công nhận là di tích cấp tỉnh – thành phố
2 Sơ đồ kết cấu các hạng mục và sự phân bố các thành tố Hán Nôm
Tiền điệnTiểu hoa viên
Tượng Quán
thế âm Bồ tát
Trang 363 Nội dung hoành phi, liễn đối Hán Nôm ở chùa Trúc Lâm
- Hoành phi ở tiền điện (vị trí số 1,2,3)
Chùa Trúc Lâm Mặt trời thêm rạng Linh thiêng lại chiếu khắp
- Bốn câu đối ở tiền điện trước cửa vào chính điện (vị trí số 4,5,6,7) (Ở vị trí 6
và 7, có một số chữ rất khó nhận dạng, chúng tôi dựa vào quy tắc đối cụm trong câu và đối ý – đối bằng trắc – đối ngữ pháp giữa hai câu để xác định chữ tương ứng ở mỗi vị trí đối Xin tham khảo thêm nguyên văn ở hình bên)
Linh ảnh thiên quang, Lộc lĩnh cao tiêu kim cổ nguyệt
Dao cung nhật lệ, Trúc lâm phổ phiến vãng lai phong
Hoa biểu hạc tần, quy phạm vũ, quỳnh đài quang nhật há
Thiền khai phong tống, sảng lộc sơn, trúc viện trạng huy phi
Dịch nghĩa:
Trang 37Ở chốn có bóng dáng thiêng (tức cảnh vật linh thiêng) trời quang sáng, núi Lộc treo cao trăng kim cổ
Tại nơi cung ngọc quỳnh nắng toả chiếu, rừng trúc [lấy ý từ tên của chùa là Trúc Lâm] vẫy quạt đến khắp những cơn gió đang thổi lại thổi qua
Hoa hé lộ, hạc (bay) gấp gáp cùng về nơi thanh tịnh [tức cõi Phật], ở nơi đài ngọc ánh mặt trời chiếu rọi
Thiền đơm đầy, gió thổi tới cùng vui thú với núi Lộc, tại trúc viện chim trĩ bay Dịch xuôi:
Cảnh thiêng trời sáng, trăng cổ kim treo cao núi Lộc
Cung ngọc nắng tràn, gió lai vãng đùa khắp rừng tre
Hoa hé lộ, hạc bay nhanh cùng đến cõi Sen, chốn quỳnh đài mặt trời chiếu rọi Thiền kết đơm, gió thổi gấp cùng vui núi Lộc, nơi trúc viện chim trĩ bay xoè
- Hai câu đối ở giữa gian thờ (vị trí số 8 và 9)
Nguyên văn:
(8) 佛 法 為 雲 尋 到 山 頭 雲 更 遠
(9) 禪 心 似 月 照 開 水 面 月 遠 深
Phiên âm:
Phật pháp vi vân, tầm đáo sơn đầu vân cánh viễn
Thiền tâm tự nguyệt, chiếu khai thuỷ diện nguyệt viễn thâm
Dịch nghĩa:
Phật pháp như mây, đi tìm đến đầu ngọn núi thì mây càng xa thẳm
Tấm lòng thiền như mặt trăng, chiếu rọi trên mặt nước thì trăng càng sâu hút Chú thích: Bên dưới câu đối có dòng lạc khoản 丙申年仲冬 (Bính Thân niên trọng đông: Giữa mùa đông năm Bính Thân [tức năm 2016])
Dịch xuôi:
Phép Phật tựa mây mờ, tìm đến đầu non tất mây mờ càng thẳm
Lòng Thiền như trăng sáng, chiếu lên mặt nước thì trăng sáng thêm sâu
- Hai câu đối trước điện thờ Phật (vị trí số 10 và 11)
Nguyên văn:
Trang 38(10) 麗 苑 演 真 乘 普 攝 四 生 超 彼 岸
(11) 靈 山 宣 妙 法 廣 開 十 類 度 迷 津
Phiên âm:
Lệ uyển diễn chân thừa, phổ nhiếp tứ sinh siêu bỉ ngạn
Linh sơn tuyên diệu pháp, quảng khai thập loại độ mê tân
Dịch nghĩa:
Nơi vườn đẹp thuyết giảng chân thừa (tức phép tam thừa đúng đắn), mang đủ tứ sinh (tức bốn nhóm động vật sinh theo bốn kiểu: thai sinh, noãn sinh, thấp sinh, hoá sinh) siêu thoát qua bờ bên kia
Chốn núi thiêng hoằng hoá diệu pháp (tức phép huyền diệu), đưa đủ mười loài (tức mười nhóm người trong xã hội, như vua quan tể tướng, kẻ sĩ, kẻ nông, kẻ già, người trẻ, kẻ thầy, người thợ…) đi qua bến mê18
Dịch xuôi:
Vườn đẹp diễn giảng tam thừa, mang tứ sinh đi qua bỉ ngạn
Núi thiêng hoằng khai diệu pháp, đưa thập loại thoát khỏi mê tân
4 Một số đánh giá, nhận xét
Cũng như những chùa lớn khác trong tỉnh, chùa Trúc Lâm cũng mới được trùng
tu trong thời gian gần đây, cho thấy được sự thịnh vượng mới của đất và người vùng đất Lộc Ninh Đặc biệt, chùa Trúc Lâm cùng với chùa Giác Ngạn và chùa Giác Quang
đã trở thành tam giác tâm linh quan trọng trong đời sống của người dân Trong đó, những di văn Hán Nôm của chùa phần nào cũng nói lên được đời sống tinh thần phong phú ấy, đặc biệt là ở những câu đối lồng ghép địa danh bản xứ (như Lộc lĩnh, Trúc Lâm), người đọc có thể cảm nhận được sự thân thuộc của chính quê hương mình, từ đó
mà chân pháp diệu kinh cũng được thấm nhuần một cách tự nhiên ở mỗi Phật tử hay ở những thiện nam tín nữ nơi đây
18 Ở dưới mỗi câu đối này đều có dòng lạc khoản Cả câu đối lẫn lạc khoản đều được viết tay nên chữ khó đọc, đặc biệt là dòng lạc khoản Dưới câu đối ở vị trí số (10) có ghi: 丁氏泥定尉恭進 (Đinh Thị Nê định uý cung tiến: Đinh Thị Nê cung kính cúng dường) Dưới câu đối ở vị trí số (11) có ghi: 阮文誘范文沅楊德球黃文取裴文制 全恭進 (Nguyễn Văn Dụ, Phạm Văn Nguyên, Dương Đức Cầu, Hoàng Văn Thủ, Bùi Văn Chế toàn cung tiến: Nguyễn Văn Dụ, Phạm Văn Nguyên, Dương Đức Cầu, Hoàng Văn Thủ, Bùi Văn Chế cùng cung kính cúng dường)
Trang 397 CHÙA PHƯỚC LÂM
1 Vị trí địa lí và lịch sử hình thành
Chùa Phước Lâm nằm hướng về phía Tây Tây Bắc, toạ lạc tại ấp 2 xã Lộc Điền huyện Lộc Ninh tỉnh Bình Phước Đây cũng là một ngôi chùa khá lớn và đẹp, thu hút khách thập phương bởi pho tượng Bồ tát cưỡi rồng, tượng Phật Thích Ca, tháp chuông lộng lẫy ở khuôn viên chùa Chùa được Phật tử địa phương xây dựng vào năm 1958 và trùng tu vào năm 1993, cách nay hơn hai mươi năm vẫn chưa sửa chữa lại nhiều nên vẫn còn mang nhiều nét cổ kính, đặc biệt là khi thưởng lãm hai cặp câu đối chữ Hán mặt trước và sau của cổng tam quan Điểm đặc biệt ở chùa này là có những khoá tu thú
vị, như khoá tu Bát quan trai vào mùng 8 âm lịch, khoa tu niệm Phật vào mùng 1 và 15
âm lịch hàng tháng
2 Sơ đồ kết cấu các hạng mục và sự phân bố các thành tố Hán Nôm
3 Nội dung hoành phi, liễn đối Hán Nôm ở chùa Trúc Lâm
- Hai câu đối mặt trước cổng tam quan (vị trí số 1, 2)
Nguyên văn:
(1) 入 柴 門 無 貪 嗔 癡 慢
(2) 登 是 地 有 雄 力 慈 悲
Phiên âm:
Nhập sài môn vô tham sân si mạn
Đăng thị địa hữu hùng lực từ bi
Trang 40Đi đến nơi này chỉ có oai hùng, tận lực, hiền hậu và xót thương
Nhập môn nghi xả dung thường tính
Đáo tự ưng sinh hoan hỉ tâm
Dịch nghĩa:
Vào cửa nên rủ bỏ bản tính tầm thường
Đến chùa hãy sinh lòng vui vẻ
Dịch xuôi:
Đến chùa hãy tỏ lòng hoan hỉ
Vào cửa nên buông tính tục phàm
4 Một số đánh giá, nhận xét
Tuy chỉ có một ít câu đối chữ Hán, hơn nữa, những câu đối này thường được bắt gặp ở những chùa khác, nhưng chùa Phước Lâm lại có một vị trí rất riêng khi chùa này nằm gần chùa Sóc Lớn của người Khmer và giáo xứ xã Lộc Điền (cách khoảng 1km) Điều này cũng nói lên được một đặc trưng chung của văn hoá tôn giáo ở Nam
Bộ nói chung và ở vùng đất Đông Nam Bộ nói riêng: tính dung hợp rất mạnh và khả năng cộng tồn rất cao giữa các chi phái tôn giáo dị biệt Đặc trưng này cũng hoàn toàn tương ứng với nét đặc trưng nổi bật trong tính cách của người dân nơi đây: không cực đoan trong cách đối nhân xử thế, luôn lấy sự bao dung và nghĩa khí lưu giữ lại tình người, khiến tình người hoà vào trong tình đất, khiến các nhóm di dân khác nhau khi đến đây đều cảm thấy thân thương, gần gũi