Hiện nay một số thực trạng khá phổ biến còn tồn tại ở các đơn vị hành chính quản lý nhà nước nói chung và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch nói riêng cần quan tâm đến như sau: - Công tác T
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
NGUYỄN PHƯƠNG VINH
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN
MÃ SỐ: 8340301
BÌNH DƯƠNG - NĂM 2018
Trang 2NGUYỄN PHƯƠNG VINH
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN
MÃ SỐ: 8340301
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS HUỲNH ĐỨC LỘNG
BÌNH DƯƠNG - NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan số liệu trong luận văn này là thông tin xác thực, nguồn gốc trích dẫn rõ ràng và luận văn này chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Đề tài
“Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương” được trình bày do chính tác giả nghiên cứu và thực hiện
Tác giả viết luận văn
Nguyễn Phương Vinh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian tìm hiểu và nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương”, tác giả hy vọng những đóng góp
ý kiến của mình có thể giúp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương cải thiện và nâng cao hệ thống kiểm soát nội bộ, vận hành một cách hữu hiệu
Tác giả chân thành gửi lời cảm ơn tới Thầy, Cô Trường đại học Thủ Dầu Một
đã truyền đạt những kiến thức quý báo trong thời gian tác giả học tập tại Trường Đặc biệt, Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Thầy PGS TS Huỳnh Đức Lộng, người đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ tác giả trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Sở, Lãnh đạo các Phòng, Ban và các anh, chị em đồng nghiệp trong ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương đã hỗ trợ cho tác giả rất nhiều trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và thực hiện luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong quý Thầy, Cô và đọc giả đóng góp để luận văn được hoàn thiện hơn, có thể đi sát với thực tế hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương là đơn vị quản lý nhà nước
trên các lĩnh vực Văn hóa, Thể thao, Du lịch và Gia đình, trực thuộc Ủy ban nhân dân
(UBND) tỉnh Bình Dương Hiện nay một số thực trạng khá phổ biến còn tồn tại ở các
đơn vị hành chính quản lý nhà nước nói chung và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch nói
riêng cần quan tâm đến như sau:
- Công tác Tổ chức và phương pháp quản lý còn mang tính chủ quan;
- Hoạt động thanh , kiểm tra phân bổ chưa hợp lý hoặc hoạt động chưa hiệu quả;
- Sự tuân thủ đúng giờ giấc làm việc của CBVC;
- Hiệu lực của văn bản vẫn còn chưa được khách quan;
- Đoàn kết nội bộ vẫn còn sự phân biệt, chia nhóm, chia rẽ…;
- Sự minh bạch trong báo cáo tài chính vẫn là vấn đề tranh luận;
Bên cạnh những mặt đạt được trong những năm qua, thì hệ thống kiểm soát nội
bộ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng gặp không ít những khó khăn và hạn chế
nhất định như đã nêu trên Vì vậy, Tác giả nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ
(KSNB) theo INTOSAI 1992 và cập nhật đến INTOSAI 2016, với đề tài “Hoàn thiện
hệ thống kiểm soát nội bộ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương”
Tác giả vận dụng cơ sở lý luận về KSNB theo INTOSAI để tìm hiểu thực trạng về
KSNB tại Sở, từ đó đánh giá thực trạng những mặt đã đạt được hay những mặt còn hạn
chế, tồn tại Từ những mặt còn hạn chế, tồn tại đó, tác giả mạnh dạn đề xuất những giải
pháp, kiến nghị, đề xuất để hoàn thiện hệ thống KSNB tại Sở, cụ thể:
- Hoàn thiện môi trường kiểm soát như: hoàn thiện cơ cấu tổ chức của đơn vị; nâng
cao năng lực đội ngũ cán bộ, bố trí sắp xếp công việc cho hợp lý; nâng cao nhận thức
về kiểm soát nội bộ cho đội ngũ cán bộ quản lý; nâng cao đạo đức lối sống cho đội ngũ
cán bộ công chức và cấp quản lý; …
- Hoàn thiện đánh giá rủi ro như nhận dạng rủi ro, đối phó rủi ro, …
- Hoàn thiện hoạt động kiểm soát như: hoàn thiện quy trình công tác luân chuyển,
điều động cán bộ công chức giữa các phòng ban, đơn vị theo định kỳ; Hoàn thiện quy
trình thanh toán; …
- Hoàn thiện hoạt động thông tin và truyền thông như kiểm soát vật chất, phân tích
rà soát, kiểm tra độc lập, …
- Hoàn thiện hoạt động giám sát như giám sát thường xuyên, giám sát định kỳ, …
Trang 6UBND Ủy ban Nhân dân
CoBIT Control Objectives for
Information and Related Technology
COSO Committee of Sponsoring
Organnization
IMA Instiute of Management
Accountants
INTOSAI International Organnization of
Supreme Audit Institutions
IFPP INTOSAI Framework of
Professional Pronouncements
FEI Financial Executies Institute
Trang 7DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU VÀ PHỤ LỤC
1 Bảng 2.1 Bảng số lượng và đối tượng khảo sát 43
Bảng tổng hợp kết quả khảo sát thực trạng Môi trường kiểm soát
2 Bảng 2.2 Sự liêm chính - Giá trị đạo đức 44
3 Bảng 2.3 Năng lực nhân viên 45
4 Bảng 2.4 Triết lý quản lý và Phong cách lãnh đạo 47
9 Bảng 2.9 Bảng tổng hợp kết quả khảo sát thực trạng về Thông
tin và truyền thông
14 Phụ lục 4 Quyết định ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ và
quyền hạn của Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Bình Dương
15 Phụ lục 5 Báo cáo công tác văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch
tỉnh Bình Dương năm 2016 và phương hướng, nhiệm
vụ trọng tâm năm 2017
16 Phụ lục 6 Báo cáo công tác văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch
tỉnh Bình Dương năm 2017 và phương hướng, nhiệm
vụ trọng tâm năm 2018
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU VÀ PHỤ LỤC v
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Sự cấp thiết của đề tài 1
2 Các nghiên cứu có liên quan 2
2.1 Các nghiên cứu nước ngoài 2
2.2 Các nghiên cứu trong nước 4
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 5
4 Câu hỏi nghiên cứu 6
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
Phạm vi nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Ý nghĩa về mặt khoa học 6
8 Kết cấu đề tài 7
Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công 8
1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của hệ thống kiểm soát nội bộ 8
1.2 Khái niệm kiểm soát nội bộ 12
1.2.1 Theo tài liệu hướng dẫn của INTOSAI (1992) 12
1.2.2 Theo hướng dẫn của INTOSAI 2004 13
1.2.3 Theo hướng dẫn của INTOSAI 2013 14
1.2.4 Theo hướng dẫn của INTOSAI 2016 14
1.3 Vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ 16
1.4 Các bộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát nội bộ 17
1.4.1 Môi trường kiểm soát 17
1.4.2 Đánh giá rủi ro 19
1.4.3 Hoạt động kiểm soát 21
1.4.4 Thông tin và truyền thông 22
1.4.5 Giám sát 24
Trang 91.5 Lợi ích và hạn chế tiềm tàng của hệ thống KSNB 24
1.5.1 Lợi ích của hệ thống kiểm soát nội bộ 24
1.5.2 Hạn chế tiềm tàng của hệ thống kiểm soát nội bộ 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26
Chương 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương 27
2.1 Khái quát chung về Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương 27
2.1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch 27
2.1.2 Tình hình và kết quả hoạt động của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương năm 2017 29
2.1.2.1 Tình hình phương hướng, nhiệm vụ hoạt động 29
2.1.2.2 Kết quả hoạt động của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương năm 2017 31
2.1.3 Thuận lợi, khó khăn và định hướng sắp tới của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương 38
2.1.3.1 Thuận lợi 38
2.1.3.2 Khó khăn 39
2.1.3.3 Định hướng sắp tới 39
2.2 Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương 42
2.2.1 Giới thiệu quá trình khảo sát 42
2.2.1.1 Mục tiêu khảo sát 42
2.2.1.2 Đối trượng khảo sát và thu thập dữ liệu 42
2.2.1.3 Phương pháp khảo sát và thu thập dữ liệu 42
2.2.1.4 Đối tượng và số lượng người khảo sát 42
2.2.2 Thực trạng về hệ thống KSNB tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương 43
2.2.2.1 Thực trạng về môi trường kiểm soát 44
2.2.2.2 Thực trạng về hoạt động đánh giá rủi ro 50
2.2.2.3 Thực trạng về Hoạt động kiểm soát 51
2.2.2.4 Thực trạng về thông tin và Truyền thông 57
Trang 102.2.2.5 Thực trạng về hoạt động Giám sát 58
2.2.3 Những ưu điểm và hạn chế của Hệ thống KSNB tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương 59
2.2.3.1 Về môi trường kiểm soát 59
2.2.3.2 Về đánh giá rủi ro 62
2.2.3.3 Về hoạt động kiểm soát 62
2.2.3.4 Về thông tin và truyền thông 63
2.2.3.5 Về giám sát 63
2.2.4 Nguyên nhân chung của những tồn tại hạn chế: 63
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương 66
3.1 Quan điểm và định hướng hoàn thiện 66
3.2 Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương 67
3.2.1 Hoàn thiện môi trường kiểm soát 67
3.2.1.1 Đối với sự liêm chính và giá trị đạo đức 67
3.2.1.2 Đối với năng lực cán bộ công chức, viên chức 67
3.2.1.3 Đối với triết lý quản lý và phong cách lãnh đạo 68
3.2.1.4 Đối với cơ cấu tổ chức và chính sách nhân sự 69
3.2.2 Hoàn thiện hoạt động đánh giá rủi ro 71
3.2.2.1 Xây dựng lực lượng cán bộ nòng cốt để tư vấn về rủi ro cho Ban lãnh đạo 71 3.2.2.2 Đẩy mạnh công tác nhận diện rủi ro ảnh hưởng tới hoạt động của Sở 71
3.2.2.3 Đánh giá rủi ro quy trình công tác luân chuyển, điều động cán bộ công chức giữa các phòng ban, đơn vị theo định kỳ 73
3.2.2.4 Đánh giá rủi ro quy trình thanh toán 73
3.2.3 Hoàn thiện hoạt động kiểm soát 74
3.2.3.1 Hoàn thiện quy trình kiểm soát công tác luân chuyển, điều động cán bộ công chức giữa các phòng ban, đơn vị theo định kỳ 74
3.2.3.2 Hoàn thiện kiểm soát quy trình thanh toán 75
3.2.4 Hoàn thiện hoạt động thông tin và Truyền thông 79
3.2.5 Hoàn thiện hoạt động giám sát 80
Trang 113.3 Những kiến nghị để hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ 80
3.3.1 Đối với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch 80
3.3.2 Đối với Ủy ban nhân dân tỉnh 80
3.3.3 Đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 81
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 82
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cấp thiết của đề tài
ệ thống kiểm soát nội bộ là một quá trình xử lý được thực hiện bởi nhà quản
lý và các cá nhân trong tổ chức, quá trình này được thiết kế để phát hiện các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý để đạt được nhiệm vụ của tổ chức
Hệ thống kiểm soát nội bộ là sự tích hợp các hoạt động, biện pháp, kế hoạch, quan điểm … của mọi thành viên trong tổ chức để đảm bảo cho tổ chức đó hoạt động hiệu quả và đạt được mục tiêu đặt ra một cách hợp lý Chính vì thế HTKSNB đóng vai trò rất quan trọng trong tổ chức cụ thể là:
- Hệ thống kiểm soát nội bộ giúp nhà lãnh đạo tổ chức quản lý được vấn đề của
tổ chức, đảm bảo các hoạt động và mục tiêu của tổ chức cần đạt được
- Hệ thống kiểm soát nội bộ giúp giảm bớt các rủi ro, đặc biệt là các rủi ro về con người và tài sản
- Tạo môi trường kiểm soát trong sạch, lành mạnh, giúp nhà quản lý và nhân viên làm việc hiệu quả hơn
- Hệ thống kiểm soát nội bộ góp phần điều hòa hoạt động của tổ chức hợp lý theo mục tiêu của tổ chức, tối ưu các nguồn lực hiện có của tổ chức
- Một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả không những phát hiện và ngăn ngừa được các sai phạm mà còn đảm bảo độ tin cậy của các thông tin tài chính Chính vì vậy xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu quả là mục tiêu và nhiệm vụ cần kíp hàng đầu của mỗi đơn vị
Vì vậy, nhiệm vụ của các nhà quản lý trong cơ quan quản lý hành chính ngày càng nhiều, không chỉ làm về chuyên môn nghiệp vụ mà phải còn làm tốt công tác quản lý tài chính, biên chế Trong khi đó, các nhà quản lý này thường chỉ được đào tạo
về chuyên môn
Hơn 20 năm qua, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương liên tục là
lá cờ đầu của ngành trong mọi mặt hoạt động về các lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch, với sự phát triển to lớn cả về mặt chuyên môn nghiệp vụ lẫn trang thiết bị, cơ sở
H
Trang 13vật chất hiện đại Tuy nhiên đến thời điểm này, hệ thống kiểm soát nội bộ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoạt động chưa hiệu quả, bộ phận kiểm tra nội bộ bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập dẫn đến tình trạng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu quản lý của cấp trên điển hình như tác phong làm việc chưa tốt, công tác quản lý tài chính còn nhiều bất cập, công báo cáo, kiểm tra, giám sát còn chồng chéo, nhẫm chân lên nhau, các thiết văn hóa chưa hoạt động hiệu quả, xuống cấp…
Để có một hệ thống kiểm soát nội bộ hoàn chỉnh tốt hơn có thể khắc phục những sai sót, ngăn ngừa và phát hiện những sai phạm yếu kém, nâng cao hiệu quả hoạt động giúp cơ quan hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao nên tôi nghiên cứu và lựa
chọn đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương” với nghiên cứu thực trạng hệ thống kiểm soát nộ bộ tại Sở Văn
hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương để chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong hệ thống kiểm soát nội bộ Từ đó, đề xuất một số giải pháp
để hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương
2 Các nghiên cứu có liên quan
Cho đến nay, việc nghiên cứu ứng dụng hệ thống KSNB trong một đơn vị thuộc ngành, hoặc lĩnh vực cụ thể đã được nhiều tác giả quan tâm thực hiện ở các luận văn cao học Kết quả nghiên cứu của luận văn đều hệ thống hóa được các nguyên lý chung
về hệ thống KSNB Điểm riêng của các nghiên cứu này là quá trình phân tích và đánh giá thực trạng hệ thống KSNB của từng đơn vị cụ thể, đã đưa ra được các giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB phù hợp cho đơn vị của mình Có thể kể đến một số luận văn thạc sĩ như:
2.1 Các nghiên cứu nước ngoài
- Tác giả Angella Amudo & Eno L Inaga (2009), “Evaluation of Internal Control Systems”, A Case Study from Uganda
Nghiên cứu nhằm đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ tồn tại trong những dự án khu vực công ở Uganda được hỗ trợ tài chính bởi Ngân hàng Phát triển Châu Phi Thông qua việc thu thập số liệu bằng bảng câu hỏi, phỏng vấn quan sát, phân tích tài liệu đồng thời xếp hạng các thành phần theo các biến độc lập, tác giả đã phân tích được mối quan hệ giữa các biến và đánh giá được thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ
Trang 14trong các dự án Tuy nhiên, bài nghiên cứu thực hiện bằng các hình thức quan sát, phân tích tài liệu, xếp hạng, chưa có sự phân tích định lượng về các con số thống kê để đưa ra kết luận mức độ ảnh hưởng của các nhân tố
- Tác giả Sultana & Haque (2011) nghiên cứu đề tài “Đánh giá cấu trúc KSNB tại sáu ngân hàng niêm yết tại anglades” Theo quan điểm của tác giả, để hoạt động của đơn vị phù hợp với mục tiêu đề ra, cần tiến hành đánh giá cấu trúc KSNB Dựa trên khuôn khổ báo cáo COSO, nhóm tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu gồm 5 biến độc lập (môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, thông tin truyền thông, hoạt động kiểm soát, giám sát) Và 2 biến điều tiết (ủy quyền, mối quan hệ cộng tác) Hai tác giả sử dụng dữ liệu bảng trong việc nghiên cứu Kết quả của nghiên cứu cho thấy mô hình đề xuất có ý nghĩa khi các biến độc lập có mối quan hệ với từng mục tiêu kiểm soát của các ngân hàng Nếu từng thành phần trong HTKSNB hoạt động tốt sẽ đảm bảo hợp lý các mục tiêu kiểm soát Và tính hữu hiệu của HTKSN được đảm bảo
- Tác giả Badara M.S & Saidin S.Z (2013) nghiên cứu đề tài “Mối quan hệ giữa HTKSNB và Kiểm toán nội bộ tại khu vực công” Nghiên cứu đã đưa ra các cơ sở lý thuyết về tính hữu hiệu của HTKSNB và Kiểm toán nội bộ Bằng việc sử dụng bảng câu hỏi khảo sát, phân tích kết quả thu thập được bằng cách quan sát, xếp hạng Nhóm tác giả cho rằng: HTKSNB tốt sẽ dẫn đến sự hoạt động tốt của kiểm toán nội bộ dựa trên 5 thành phần tác động đến HTKSNB (Môi trường kiểm soát; ánh giá rủi ro; Các hoạt động kiểm soát; Thông tin và truyền thông; Giám sát)
- Tác giả Afiah N.N & Azwari P.C (2015), “The effect of the Implementation
of Government internal control system on the Quality of Financial reporting of The local Government and its impact on the Principles of good Governance”, A Research
in District, city, and Provincial Government in south Sumatera
Nhóm tác giả nghiên cứu sự ảnh hưởng của kiểm soát nội bộ đến chất lượng báo cáo tài chính và ảnh hưởng của nó đến việc quản lý tốt của khu vực công Nghiên cứu được tiến hành tại 18 tỉnh, quận, thành phố và đối tượng khảo sát là các lãnh đạo của phòng tài chính, quản lý tài sản và phòng thanh tra ở South Sumatra Biến độc lập gồm 05 biến là môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát Biến phụ thuộc là chất lượng báo cáo tài chính Với việc phân tích thông qua bảng khảo sát, kết quả chỉ ra rằng kiểm soát nội bộ có ảnh hưởng tốt hơn đến chất lượng báo cáo tài chính và chất lượng báo cáo tài chính tác động tích
Trang 15cực đến việc quản lý tốt Do đó, thông qua chất lượng báo cáo tài chính, kiểm soát nội
bộ và quản lý tốt trong khu vực công có mối quan hệ tích cực
2.2 Các nghiên cứu trong nước
- Tác giả Nguyễn Quốc Đại (2003), “Hoàn thiện hệ thống KSNB tại Tổng Công
ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam”, luận văn thạc sĩ kinh tế: đưa ra một số chu
trình kiểm soát như: mua hàng; thanh toán cho người bán; bán hàng thu tiền; từ đó đề
ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB tại Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam
- Tác giả Nguyễn Thanh Tuyền (2005), “Hoàn thiện hệ thống KSNB tại cơ
quan bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh”, luận văn thạc sĩ kinh tế: tập trung
nghiên cứu hệ thống KSNB tại cơ quan Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó chủ yếu nghiên cứu hoạt động thu và chi bảo hiểm xã hội
- Tác giả Nguyễn Xuân Thủy (2013), “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ
trong quản lý tài chính tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh”, tác giả đã tổng hợp lý
luận, khảo sát thực tế, đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh đưa ra những việc làm được và chưa làm được Từ đó đưa ra những kiến nghị đối với Nhà nước, Sở Y tế và Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh
- Tác giả Đỗ Đức Thắng (2014), “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Sở
Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai”, luận văn thạc sĩ kinh tế: luận văn đã hệ
thống hóa cơ sở lý luận về KSNB và kiểm soát khu vực công, dùng phương pháp thống kê mô tả, tổng hợp suy diễn, nhằm khảo sát đánh giá thực trạng hệ thống KSNB tại Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai
- Tác giả Đặng Đình Hải (2015), “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với
quy trình thanh tra tại Sở Tài chính Đồng Nai”, luận văn thạc sĩ kinh tế: luận văn đã
hệ thống hóa cơ sở lý luận về KSNB và kiểm soát khu vực công, dùng phương pháp so sánh và tổng hợp, thống kê mô tả, nhằm khảo sát đánh giá thực trạng hệ thống KSNB đối với quy trình thanh tra tại Sở Tài chính Đồng Nai
- Tác giả Phạm Ngọc Cương (2015), “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại
Sở Tài chính Đồng Nai”, luận văn thạc sĩ kinh tế: luận văn chủ yếu là phương pháp
phân tích, tổng hợp, thống kê, hệ thống hóa, đặc biệt là phương pháp quy nạp, trên cơ
sở định lượng và định tính các nhân tố có tác động đến hệ thống KSNB, thống kê,
Trang 16phân tích so sánh, quy nạp nhằm định lượng và định tính về 5 nhân tố có ảnh hưởng đến hệ thống KSNB tại Sở Tài chính Đồng Nai Từ đó, dùng phương pháp so sánh và tổng hợp, thống kê mô tả, nhằm khảo sát đánh giá thực trạng hệ thống KSNB tại Sở Tài chính Đồng Nai
- Tác giả Tác giả Khương Thanh Thủy (2015), “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ theo hướng quản trị rủi ro tại các Cơ sở Y tế trên địa bàn Thành phố Biên Hòa”, tác giả đã tổng hợp lý luận, khảo sát thực tế, đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tại các
Cơ sở Y tế trên địa bàn Thành phố Biên Hòa đưa ra những việc làm được và chưa làm được Từ đó đưa ra những kiến nghị đối với Nhà nước, các Cơ sở Y tế trên địa bàn Thành phố Biên Hòa
- Tác giả Nguyễn Thu Trang (2016), “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại
trường Đại học phòng cháy chữa cháy”, tác giả đã tổng hợp lý luận về kiểm soát nội
bộ ở khu vực công và ở đơn vị giáo dục đại học; khảo sát thực tế, đánh giá thực trạng, những tồn tại của hệ thống KSNB tại trường thông qua bảng câu hỏi khảo sát, quan sát, phỏng vấn Từ đó đề xuất được một số kiến nghị nhằm nâng cao tính hữu hiệu của
hệ thống kiểm soát nội bộ tại trường Đại học phòng cháy chữa cháy
- Tác giả Nguyễn Đăng Tạ (2017), “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại
Trường Đại học Thủ Dầu Một”, luận văn thạc sĩ kinh tế: luận văn đã hệ thống hóa cơ
sở lý luận về KSNB, dùng phương pháp thu thập, phân tích, quan sát, đánh giá và tổng hợp, thống kê mô tả, khảo sát số liệu, phân tích nhằm khảo sát đánh giá thực trạng hệ thống KSNB tại Trường Đại học Thủ Dầu Một
Nhận xét: Qua các nghiên cứu trên do tác giả tổng hợp thì các đề tài đã vận
dụng được cơ sở lý luận theo hướng dẫn của INTOSAI 1992 về hệ thống kiểm soát nội
bộ, khảo sát được thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại đơn vị Tuy nhiên đa phần các giải pháp còn chung chung và ít đề cập cụ thể về KSNB cho từng quy trình nghiệp
vụ tại đơn vị Trên cơ sở đó tác giả kế thừa hệ thống cơ sở lý luận HTKSNB theo INTOSAI 1992 và cập nhật đến năm 2016 để khảo sát các thành phần của HTKSNB
từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu chung
Trang 17Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương
4 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hiện nay ra sao?
- Những giải pháp nào có thể thực hiện để giải quyết những tồn tại của hệ thống kiểm soát nội bộ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Hệ thống kiểm soát nội bộ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình
Dương
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương
Phạm vi thời gian: 2018
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu sử dụng chủ yếu là phương pháp định tính, cụ thể:
- Luận văn sử dụng phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu nhằm hệ thống hóa lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ
- Luận văn sử dụng phương pháp khảo sát thực tế tại Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch, phỏng vấn bằng cách gửi bảng câu hỏi cho cán bộ công chức, nhân viên hợp đồng và đồng thời sử dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn để đánh giá thực trạng kiểm soát nội bộ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích và suy luận đề ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ
7 Ý nghĩa về mặt khoa học
Những đóng góp của luận văn thể hiện ở cả hai mặt lý luận và thực tiễn, cụ thể:
Trang 18- Về lý luận: Luận văn đã hệ thống hoá lý luận chung về kiểm soát nội bộ và hệ thống kiểm soát nội bộ theo INTOSAI, trên cơ sở đó phát triển theo hướng cụ thể hoá
lý luận chung vào hệ thống kiểm soát nội bộ tại đơn vị
- Về thực tiễn: Luận văn đã khảo sát, phân tích các yếu tố: môi trường kiểm soát, hệ thống thông tin, các thủ tục kiểm soát trong đơn vị nhằm làm rõ thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Kết quả đánh giá đã chỉ ra được những mặt đạt được, đặc biệt là các khuyết điểm và nguyên nhân của các khuyết điểm, từ đó đề xuất các giải pháp thiết thực hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
8 Kết cấu đề tài
- Lời mở đầu
- Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công
- Chương 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương
- Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương
- Kết luận
- Tài liệu tham khảo
Trang 19Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công
1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của hệ thống kiểm soát nội bộ
Từ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX , các nhà kiểm toán viên đã dần quan tâm đến KSNB khi họ nhận thức được rằng không cần thiết phải kiểm tra tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh mà họ chỉ cần chọn mẫu để kiểm tra dựa vào hệ thống KSNB của đơn vị được kiểm toán Tuy nhiên vào thời điểm này, khái niệm KSNB chỉ được nhắc đến như là một công cụ bảo vệ tiền khỏi sự biển thủ của nhân viên
Một trong những công ty kiểm toán đầu tiên được thành lập là công ty Price Waterhouse Vào thời kỳ này, chưa có hệ thống chuẩn mực kiểm toán mà chỉ có một hướng dẫn duy nhất là Sổ tay kiểm toán của Dicksee công bố vào năm 1892
Hình thức ban đầu của KSNB là kiểm soát tiền và bắt đầu từ cuộc cách mạng công nghiệp Do yêu cầu phát triển, các công ty cần có vốn và từ đó đưa đến nhu cầu tăng cường quản lý vốn và kiểm tra thông tin về sử dụng vốn Thuật ngữ KSNB bắt đầu xuất hiện từ giai đoạn này
Năm 1936, trong một công bố, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ
(AICPA - American Institute of Certfied Accountants), đã định nghĩa KSNB “… là các biện pháp, cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo
vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách”
Những năm sau đó, việc nghiên cứu và đánh giá về KSNB ngày càng được chú trọng với nhiều công trình nghiên cứu như:
Năm 1949, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA - American
Institute of Certfied Accountants) đã công bố công trình nghiên cứu “KSNB, các nhân
tố cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp và đối với kiểm toán viên độc lập” Trong báo cáo này, AICPA đã định nghĩa KSNB là “… Cơ cấu tổ chức
và các biện pháp, cách thực hiện liên quan được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của người quản lý”
Năm 1958, Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP - Committee on Auditing
Procedure) trực thuộc Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA - American Institute of Certfied Accountants) ban hành báo cáo về thủ tục kiểm toán 29 (SAP –
Trang 20Stantement on Auditing Procedure) về “phạm vi xem xét kiểm soát nội bộ của kiểm toán viên độc lập” Trong đó, lần đầu tiên phân biệt KSNB về quản lý và KSNB về kế toán
Năm 1962, Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP - Committee on Auditing
Procedure) trực thuộc Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA - American Institute of Certfied Accountants) tiếp tục ban hành báo cáo về thủ tục kiểm toán 33 (SAP 33) nhằm làm rõ khái niệm về kiểm soát quản lý và kiểm soát kế toán
Năm 1972, Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP - Committee on Auditing
Procedure) trực thuộc Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA - American Institute of Certfied Accountants) tiếp tục ban hành báo cáo về thủ tục kiểm toán 54 (SAP 54) chủ yếu “Tìm hiểu và đánh giá KSNB” Trong đó, tuyên bố thủ tục kiểm soát kế toán đúng đắn mọi nghiệp vụ để lập báo cáo, hạn chế tiếp cận tài sản và kiểm
kê
Năm 1973, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA - American
Institute of Certfied Accountants) ban hành chuẩn mực kiểm toán 1 (SAS - Statememt
on Auditing Standard) duyệt xét lại SAP 54 và đưa ra các định nghĩa về kiểm soát quản lý nghiệp vụ kiểm toán đối với các bộ phận cấu thành KSNB
Đặc biệt vào năm 1977, Khái niệm KSNB xuất hiện trong một văn bản Luật -
Luật về phòng, chống hối lộ nước ngoài Trong đó, nhấn mạnh vai trò của KSNB nhằm ngăn ngừa những khoản thanh toán bất hợp pháp Luật này ra đời xuất phát từ việc ngày có nhiều vụ gian lận gây tổn thất cho nền kinh tế, đáng kể là vụ tai tiếng chính trị Watergate Theo đó, Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) đưa ra bắt buộc đòi hỏi các công ty phải báo cáo về KSNB đối với công tác kế toán ở đơn vị mình cho công chúng Yêu cầu này gây ra làn sống phản đối, đòi hỏi phải có các tiêu chuẩn đánh giá tính hữu hiệu của KSNB Vì thế, Ủy ban COSO thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ
về chống gian lận trên báo cáo tài chính được thành lập năm 1985 dưới sự bảo trợ của
05 tổ chức nghề nghiệp:
- Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA - American Institute of Certfied Accountants);
- Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA - American Accounting Association);
- Hiệp hội Quản trị viên tài chính (FEI - Financial Executies Institute);
- Hiệp hội Kế toán viên quản trị (IMA - Instiute of Management Accountants)
Trang 21Đến năm 1992, COSO đã phát hành báo cáo, là tài liệu đầu tiên trên thế giới đã
đưa ra khuôn mẫu lý thuyết về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống COSO đã định nghĩa đầy đủ về KSNB, báo cáo COSO 1992 đưa ra 5 bộ phận cấu thành của KSNB bao gồm:
- Môi trường kiểm soát;
- Đánh giá rủi ro;
- Hoạt động kiểm soát;
- Thông tin và truyền thông;
- Giám sát
Sau báo cáo COSO 1992, hàng loạt các nghiên cứu về KSNB trong nhiều lĩnh vực đã lần lượt ra đời, như:
Phát triển theo hướng công nghệ thông tin thì năm 1996, Hiệp hội về kiểm
soát và kiểm toán hệ thống thông tin ban hành bản tiêu chuẩn “Các mục tiêu kiểm soát trong công nghệ thông tin và và các lĩnh vực liên quan” (COBIT - Control Objectives for Information and Related Technology) nhấn mạnh đến việc kiểm soát trong môi trường tin học
Phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể thì vào năm
1998, Báo cáo Basel của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng đã đưa ra công bố về
khuôn khổ kiểm soát nội bộ trong ngân hàng (Framework for Internal Control System
in Banking Organisations)
Phát triển theo hướng quản trị thì vào năm 2001, COSO triển khai nghiên cứu
hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM - Enterprise Risk Management Framework) trên cơ sở là báo cáo COSO 1992
Cho đến năm 2004, ERM (Enterprise Risk Management Framework) chính
thức được ban hành bổ sung thêm 3 yếu tố của kiểm soát nội bộ, theo đó ERM định nghĩa KSNB bao gồm 8 yếu tố:
- Môi trường nội bộ;
- Thiết lập mục tiêu;
- Nhận diện sự kiện;
- Đánh giá rủi ro;
- Đối phó rủi ro;
- Hoạt động kiểm soát;
Trang 22- Thông tin tuyên truyền;
- Giám sát
Phát triển cho doanh nghiệp nhỏ thì vào năm 2006, COSO nghiên cứu và ban
hành hướng dẫn “KSNB đối với báo cáo tài chính - Hướng dẫn cho các công ty đại chúng quy mô nhỏ” (gọi tắt là COSO Guidance 2006) Hướng dẫn này vẫn dựa trên nền tảng của báo cáo COSO năm 1992 và giải thích về cách thức áp dụng kiểm soát nội bộ trong các công ty đại chúng quy mô nhỏ
Phát triển về giám sát hệ thống Kiểm soát nội bộ thì vào năm 2008, COSO
cũng đã đưa ra Dự thảo Hướng dẫn về giám sát hệ thống KSNB (Exposure Draft, COSO 2008) dựa trên khuôn mẫu COSO 1992 nhằm giúp các tổ chức giám sát chất lượng của hệ thống KSNB Hướng dẫn này (COSO Guidance 2008) gồm 3 phần:
Hướng dẫn;
Ứng dụng;
Thí dụ
Cho đến năm 2009, phần 1 - Hướng dẫn đã chính thức được ban hành
Ở khu vực công, KSNB cũng rất được quan tâm với một số các nghiên cứu như: Hướng dẫn về KSNB của Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (International Organization of Supreme Audit Institutions - INTOSAI) ban hành năm
1992, Chuẩn mực về KSNB trong chính quyền liên bang của Cơ quan Kiểm toán Nhà nước Hoa Kỳ (Government Accountability Office - GAO) được ban hành năm 1999 nhằm đưa ra các quan điểm và hướng dẫn về KSNB trong các đơn vị thuộc khu vực công
Năm 1992, bản Hướng dẫn về chuẩn mực KSNB của INTOSAI đã hình thành
tài liệu cập nhật đến việc nâng cấp các chuẩn mực KSNB đã hỗ trợ cho việc thực hiện
và đánh giá KSNB
Năm 2013, mặc dù chưa có văn bản hướng dẫn của INTOSAI nhưng trong
INTOSAI 2013 vẫn dựa trên nền tảng của INTOSAI 1992 và vận dụng 17 nguyên tắc công bố trong báo cáo COSO 2013
Trong năm 2016, trong Đại hội XXII INTOSAI, tiêu chuẩn mới đã được thông
qua và Quốc hội đã thông qua đổi mới quan trọng trong việc thiết lập tiêu chuẩn INTOSAI, đây là một dự án nhằm hoàn thiện khuôn khổ INTOSAI Khung tuyên bố chuyên nghiệp của INTOSAI (IFPP) “INTOSAI Framework of Professional
Trang 23Pronouncements (IFPP)” Cấu trúc gồm 3 phần sau:
- Nguyên tắc INTOSAI (INTOSAI - P);
- Tiêu chuẩn quốc tế của các tổ chức kiểm toán tối cao (ISSAIs); và
cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) Hướng dẫn về kiểm soát nội bộ của INTOSAI
là tài liệu tích hợp các lý luận chung về INTOSAI của Báo cáo COSO Nó ban hành đầu tiên vào năm 1992 (INTOSAI 1992) và cập nhật năm 2001, công bố năm 2004 (INTOSAI 2004)
Sự hình thành và phát triển hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công:
Trong khu vực công, KSNB rất được quan tâm và chú trọng đặc biệt Ở một số quốc gia như Mỹ, Canada…đã có những công bố chính thức về KSNB áp dụng cho cơ quan hành chính sự nghiệp
Theo tìm hiểu của tác giả tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) ra đời vào năm 1953 tại Havana, Cuba INTOSAI đã góp phần rất lớn trong việc giúp các thành viên hoàn thành nhiệm vụ của mình: “ vai trò kiểm toán các tài khoản và hoạt động của chính phủ, thúc đẩy việc lành mạnh hóa trong quản lý tài chính và nâng cao chất lượng giải trình của chính phủ ở từng quốc gia”
Ngoài ra INTOSAI còn là diễn đàn nhằm hợp tác về các vấn đề chuyên môn, từ
đó đưa ra những hướng dẫn cần thiết cho từng trường hợp cụ thể Trong các kỳ đại hội, INTOSAI đặt trọng tâm vào những vấn đề chủ yếu đang đặt ra đối với các SAIS, giúp các thành viên đưa ra các giải pháp mang tính đột phá để khắc phục những trở ngại chung
Qua đó INTOSAI đã góp phần rất quan trọng trong việc giúp các thành viên hoàn thành nhiệm vụ của mình Năm 1992, INTOSAI đã ban hành hướng dẫn về KSNB áp dụng cho khu vực công Tài liệu này đã tích hợp các lý luận chung về KSNB của báo cáo COSO và những điểm đặc thù của khu vực công
1.2 Khái niệm kiểm soát nội bộ
1.2.1 Theo tài liệu hướng dẫn của INTOSAI (1992)
Trang 24Khái niệm KSNB được định nghĩa như sau: “KSNB là cơ cấu của tổ chức, bao gồm nhận thức, phương pháp, quy trình và các biện pháp của người lãnh đạo nhằm bảo đảm sự hợp lý để đạt được các mục tiêu của tổ chức”
Trong đó, mục tiêu của tổ chức bao gồm:
- Thúc đẩy các hoạt động của đơn vị diễn ra có trình tự, đạt được tính hữu hiệu
và hiệu quả nhằm cung cấp các dịch vụ có chất lượng phù hợp với nhiệm vụ của đơn vị;
- Bảo vệ và quản lý nguồn tài nguyên tránh thất thoát, lãng phí, tham ô và sử dụng sai mục đích;
- Tôn trọng pháp luật có liên quan;
- Thiết lập và báo cáo các thông tin quản lý và thông tin tài chính đáng tin cậy
và đảm bảo tính kịp thời
1.2.2 Theo hướng dẫn của INTOSAI 2004
Định nghĩa về KSNB theo INTOSAI (2004) như sau: “KSNB là một quá trình
bị chi phối bởi nhà quản lý và các nhân viên trong đơn vị, nó được thiết lập để đối phó với các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu chung của tổ chức”
Ở định nghĩa trên, có 5 khái niệm cần làm rõ, đó là:
- KSNB là quá trình
KSNB không phải là từng hoạt động riêng lẻ mà nó là một chuỗi các hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất Chính là quá trình này là phương tiện giúp đơn vị đạt được mục tiêu của mình
- KSNB chịu sự chi phối của con người
KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người, từ cấp lãnh đạo cao nhất đến tất cả các cán bộ, công chức, viên chức Chính vì họ sẽ định ra mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát và vận hành chúng Tuy vậy, muốn hệ thống KSNB thực sự hữu hiệu thì từng thành viên trong tổ chức phải hiểu được trách nhiệm, quyền hạn của mình và hướng các hoạt động của họ đến mục tiêu chung của tổ chức
- KSNB được thiết lập để đối phó với rủi ro
Việc thực hiện sứ mạng của tổ chức sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro KSNB có thể giúp tổ chức nhận diện và đối phó với rủi ro để tối đa hóa khả năng đạt được mục
Trang 25tiêu
- KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý
KSNB chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý cho các nhà quản lý trong việc đạt được mục tiêu của đơn vị chứ không thể đảm bảo tuyệt đối Bởi hệ thống KSNB
dù chặt chẽ đến đâu cũng tồn tại những hạn chế tiềm tàng, đó là sự thông đồng của các
cá nhân hay sự lạm quyền của nhà quản lý…, KSNB có thể ngăn chặn và phát hiện những sai phạm nhưng không thể đảm bảo là chúng không bao giờ xảy ra
Các mục tiêu của KSNB
Hoạt động của một tổ chức luôn hướng về các mục tiêu đã đề ra Các mục tiêu
có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của tổ chức Ở khu vực công, mục tiêu của một tổ chức thường liên quan đến các dịch vụ công cộng và lợi ích cộng đồng Bao gồm các mục tiêu:
- Mục tiêu hoạt động: Mục tiêu này liên quan đến tính hữu hiệu và hiệu quả trong hoạt động của đơn vị;
- Mục tiêu về báo cáo: Liên quan đến việc cung cấp và báo cáo các thông tin tài chính và phi tài chính phù hợp, kịp thời cho các đối tượng bên trong, bên ngoài đơn vị
- Mục tiêu tuân thủ: Liên quan đến việc tuân thủ pháp luật, các điều ước quốc tế
và các quy định có liên quan
- Mục tiêu về quản lý nguồn lực: Mục tiêu này là phần chi tiết hóa mục tiêu về hoạt động của đơn vị, nhưng do đặc thù của khu vực công nên INTOSAI muốn nhấn mạnh thêm tầm quan trọng của việc sử dụng hợp lý nguồn ngân sách, tránh lạm dụng lãng phí nguồn lực quốc gia
1.2.3 Theo hướng dẫn của INTOSAI 2013
Theo hướng dẫn của INTOSAI (2013): “KSNB giống như hướng dẫn của INTOSAI (2004), tuy nhiên các nguyên tắc cơ bản Kiểm toán đã được phê duyệt và đã tạo thành “cấp 3” của khung hiện hành
Về mục tiêu của báo cáo INTOSAI có thay đổi theo hướng dẫn về quản trị rủi
ro, kiểm soát nội bộ và biện pháp để giảm thiểu gian lận, từ đó giúp cải thiện hiệu quả hoạt động cũng như tăng cường sự giám sát của tổ chức
1.2.4 Theo hướng dẫn của INTOSAI 2016
Định nghĩa KSNB theo INTOSAI (2016) như sau: “KSNB là một quá trình tích phân năng động liên tục thích ứng với những thay đổi mà tổ chức đang đối mặt Ban
Trang 26quản lý và nhân viên các cấp phải tham gia vào quá trình này để giải quyết các rủi ro
và đảm bảo hợp lý cho việc đạt được sứ mệnh của tổ chức và các mục tiêu chung”
- KSNB là một quá trình
KSNB không phải là một sự kiện hay tình huống, mà là một loạt những hành động xảy ra trong suốt hoạt động của một thực thể trên cơ sở liên tục Nó được thực hiện bởi các quy trình quản lý nhân sự cơ bản như: Lập kế hoạch, thực hiện và giám sát
- Theo đuổi nhiệm vụ của tổ chức
Bất kỳ tổ chức nào cũng chủ yếu quan tâm đến việc hoàn thành nhiệm vụ của mình Các thực thể tồn tại cho một mục đích - khu vực công nói chung liên quan đến việc cung cấp một dịch vụ và một kết quả có lợi ích công cộng
- Để giải quyết các rủi ro
Bất kể nhiệm vụ có thể là gì, thành quả của nó sẽ đối mặt với tất cả các loại rủi
ro Nhiệm vụ quản lý là xác định và đáp ứng những rủi ro này để tối đa hóa khả năng đạt được sứ mệnh của tổ chức KSNB có thể giúp giải quyết những rủi ro này, tuy nhiên nó chỉ có thể đảm bảo hợp lý về thành tích của sứ mệnh và mục tiêu chung
- Cung cấp sự đảm bảo hợp lý
Dù được thiết kế và vận hành tốt như thế nào, KSNB không thể đảm bảo sự quản lý tuyệt đối về việc đạt được các mục tiêu chung Thay vào đó, các hướng dẫn thừa nhận rằng chỉ có thể đạt được mức độ đảm bảo “đáng tin cậy”
Sự đảm bảo hợp lý tương ứng với mức độ tự tin thỏa đáng theo các cân nhắc về chi phí, lợi ích và rủi ro
Sự đảm bảo hợp lý phản ánh quan niệm rằng sự không chắc chắn và rủi ro liên quan đến tương lai, mà không ai có thể tiên đoán một cách chắc chắn
Sự đảm bảo hợp lý nhận sa rằng chi phí KSNB không được vượt quá lợi ích thu được Các quyết định về phản hồi rủi ro và kiểm soát cơ sở phải xem xét các chi phí và lợi ích tương đối
Trang 27đức và phòng ngừa và phát hiện gian lận và tham nhũng trong khu vực công Kỳ vọng
là công chức phải phục vụ lợi ích công cộng bằng sự công bằng và quản lý tài nguyên công đúng Công dân nên được đối xử công bằng trên cơ sở tính hợp pháp và công lý
Do đó đạo đức công chúng là điều kiện tiên quyết và củng cố niềm tin của công chúng
và là một yếu tố chính trong quản trị tốt
- Kinh tế có nghĩa là không lãng phí hoặc lãng phí Nó có nghĩa là nhận đúng nguồn lực, chất lượng đúng, được giao đúng thời hạn và địa điểm với chi phí thấp nhất
- Hiệu quả đề cập đến mối quan hệ giữa các nguồn lực được sử dụng và kết quả đầu ra được sản xuất để đạt được các mục tiêu
- Hoàn thành các nghĩa vụ về trách nhiệm
- Trách nhiệm giải trình là quá trình mà các tổ chức dịch vụ công và cá nhân trong họ chịu trách nhiệm về các quyết định và hành động của mình, bao gồm cả việc quản lý quỹ công, sự công bằng và tất cả các khía cạnh của hoạt động Điều này sẽ được thực hiện thông qua việc phát triển, duy trì và cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính có liên quan đáng tin cậy và có liên quan thông qua các báo cáo kịp thời cho các bên liên quan cũng như bên ngoài
- Tuân thủ luật pháp và các quy định
Các tổ chức phải tuân theo nhiều luật và quy định Trong các luật và quy định của tổ chức công quy định việc thu và chi tiền công và cách thức hoạt động Ví dụ như Luật ngân sách, các điều ước quốc tế, luật về quản lý hợp lý, tiêu chuẩn kế toán, bảo
vệ môi trường và luật dân quyền các quy định về thuế thu nhập và chống gian lận và tham nhũng
- Bảo vệ tài nguyên chống mất mát, sử dụng sai và thiệt hại do lãng phí, lạm dụng, quản lý kém, sai sót, gian lận và bất thường
(Trong đề tài này tác giả sử dụng khái niệm về hệ thống KSNB cũng như các yếu tố của hệ thống KSNB theo INTOSAI (2013) làm nền tảng cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu của mình)
1.3 Vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ
Qua nghiên cứu của tác giả hệ thống kiểm soát nội bộ là sự tích hợp các hoạt động, biện pháp, kế hoạch, quan điểm … của mọi thành viên trong tổ chức để đảm bảo cho tổ chức đó hoạt động hiệu quả và đạt được mục tiêu đề ra Chính vì thế HTKSNB
Trang 28đóng vai trò rất quan trọng trong tổ chức cụ thể là:
- Hệ thống kiểm soát nội bộ giúp nhà lãnh đạo tổ chức quản lý được vấn đề của
tổ chức, đảm bảo các hoạt động và mục tiêu của tổ chức cần đạt được
- Hệ thống kiểm soát nội bộ giúp giảm bớt các rủi ro, đặc biệt là các rủi ro về con người và tài sản
- Tạo môi trường kiểm soát trong sạch, lành mạnh, giúp nhà quản lý và nhân viên làm việc hiệu quả hơn
- Hệ thống kiểm soát nội bộ góp phần điều hòa hoạt động của tổ chức hợp lý
- Việc thường xuyên kiểm tra, kiểm soát tiến độ thực hiện sẽ giúp điều hoàn các mối quan hệ, kịp thời điều chỉnh các định mức và mục tiêu, từ đó tiết kiệm tối đa chi phí, nguồn lực mà vẫn đạc kết quả cao Đồng thời, kiểm tra, kiểm soát giúp cho việc thực hiện các mục tiêu đề ra, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý của đơn vị
- Vai trò không kém phần quan trọng của hệ thống kiểm soát nội bộ là ngăn ngùa và phát hiện các gian lận và sai sót của các thành viên trong đơn vị từ đó giúp cho nhà quản lý xửa lý và điều chỉnh kịp thời đảm bảo hiệu quả hoạt động của đơn vị
Bên cạnh đó, hệ thống kiểm soát nội bộ được xây dựng và vận hành bởi nhà quản lý, vì vậy với một hệ thống nội bộ được xây dựng và vận hành tốt bằng những chính sách, chế độ phù hợp và hiệu quả sẽ thể hiện năng lực của nhà quản lý, lãnh đạo đơn vị
1.4 Các bộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát nội bộ
1.4.1 Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một đơn vị, nó chi phối ý thức kiểm soát của mọi thành viên trong đơn vị và là nền tảng đối với các bộ phận khác của kiểm soát nội bộ
Các nhân tố chính thuộc về môi trường kiểm soát bao gồm:
- Sự trung thực và các giá trị đạo đức;
- Tư duy quản lý, phong cách điều hành của cấp lãnh đạo;
- Năng lực của đội ngũ nhân viên trong tổ chức;
- Cơ cấu tổ chức và quyền hạn, trách nhiệm của các bộ phận trong cơ cấu đó
- Chính sách nguồn nhân lực
a) Tính chính trực và giá trị đạo đức của cấp lãnh đạo và nhân viên
Tính chính trực và các giá trị đạo đức là nhân tố quan trọng của môi trường
Trang 29kiểm soát, tác động đến việc thiết kế, thực hiện và giám sát các nhân tố khác của kiểm soát nội bộ Nó chính là văn hóa của tổ chức, là những quy tắc ứng xử, những chuẩn mực đạo đức mà các cấp quản lý mong muốn xây dựng nhằm hạn chế những hành vi gian lận, thiếu đạo đức ảnh hưởng xấu đến tổ chức Để đạt được mục tiêu này, cấp quản lý trước tiên phải làm gương cho cấp dưới về việc tuân thủ các điều lệ, các quy định về cách ứng xử của CBVC và cần phải phổ biến những quy định này đến mọi thành viên các thể thức thích hợp
Ngoài ra, các đơn vị thuộc khu vực công còn phải cho công chúng thấy được tinh thần nhân văn và giá trị đạo đức trong nhiệm vụ và sứ mệnh của mình
b) Triết lý quản lý và phong cách điều hành của cấp lãnh đạo
Triết lý quản lý và phong cách điều hành thể hiện thông qua thái độ, quan điểm của cấp quản lý đối với hoạt động của đơn vị Sự khác biệt về triết lý quản lý và phong cách điều hành của các cấp quản lý có thể ảnh hưởng lớn đến môi trường kiểm soát và tác động đến việc thực hiện các mục tiêu của đơn vị Nếu cấp quản lý của đơn vị ý thức được tầm quan trọng của hệ thống KSNB thì các thành viên còn lại có thể cảm nhận được điều đó thông qua hành động, thái độ của nhà quản lý và sẽ theo đó mà tận tâm xây dựng hệ thống KSNB; ngược lại, nếu các thành viên trong đơn vị cảm thấy rằng kiểm soát nội bộ không phải là mối quan tâm hàng đầu của nhà quản lý thì điều
đó đồng nghĩa với việc mục tiêu kiểm soát của đơn vị có thể sẽ không đạt được một cách hữu hiệu
c) Năng lực đội ngũ nhân viên
Đảm bảo về năng lực là đảm bảo cho các thành viên trong tổ chức có được những kiến thức và kỹ năng cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ Muốn vậy, cấp quản lý cần xác định rõ yêu cầu về năng lực cho một công việc nhất định và cụ thể hóa nó thành các yêu cầu về kiến thức và kỹ năng để cá nhân có thể được bố trí công việc thích hợp Ngoài ra, cấp quản lý cần nâng cao nhận thức cho các cá nhân giúp họ hiểu được mức đóng góp của mình trong việc đạt được mục tiêu của tổ chức, hiểu được tầm quan trọng của mình trong việc vận hành hệ thống KSNB hoạt động hữu hiệu, từ đó,
có kế hoạch phát triển các kỹ năng đủ để xử lý các tình huống gặp phải
d) Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức chính là sự phân chia nhiệm vụ và quyền hạn giữa các bộ phận trong đơn vị, nó góp phần rất lớn trong việc đạt được các mục tiêu Một cơ cấu phù
Trang 30hợp sẽ là cơ sở để lập kế hoạch, điều hành, kiểm soát và giám sát các hoạt động Ngược lại, khi thiết kế không đúng, cơ cấu tổ chức có thể làm cho các thủ tục kiểm soát mất tác dụng
Để thiết kế một cơ cấu tổ chức hiệu quả phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Thiết lập sự điều hành và kiểm soát trên toàn bộ hoạt động; không bỏ sót lĩnh vực nào đồng thời không có sự chồng chéo giữa các bộ phận;
- Thực hiện sự phân chia chức năng: Xử lý nghiệp vụ, ghi chép sổ sách, bảo quản tài sản;
- Bảo đảm sự độc lập tương đối giữa các bộ phận
Cơ cấu tổ chức thường được mô tả thông qua sơ đồ tổ chức, trong đó phải xác định được các vị trí then chốt với quyền hạn, trách nhiệm và các thể thức báo cáo cho phù hợp Ngoài ra, cơ cấu cần phù hợp với quy mô và đặc thù hoạt động của đơn
vị Phân chia trách nhiệm và quyền hạn được xem là phần mở rộng của cơ cấu tổ chức
Nó cụ thể hóa về quyền hạn và trách nhiệm của từng thành viên trong các hoạt động của đơn vị, giúp cho mỗi thành viên hiểu rằng họ có nhiệm vụ cụ thể gì và từng hoạt động của họ sẽ ảnh hưởng như thế nào đến người khác trong việc hoàn thành mục tiêu
Do đó, khi mô tả công việc, đơn vị cần phải thể chế hóa bằng văn bản về những nhiệm
vụ và quyền hạn cụ thể của từng thành viên và quan hệ giữa họ với nhau
1.4.2 Đánh giá rủi ro
Trang 31Đánh giá rủi ro là quá trình nhận dạng và phân tích những sự kiện tạo nên rủi ro ảnh hưởng đến việc đạt được mục tiêu của đơn vị, qua đó, xác định các biện pháp thích hợp để đối phó rủi ro Quá trình này có thể bao gồm các bước:
a) Nhận dạng rủi ro
Hoạt động của đơn vị có thể gặp rủi ro sự xuất hiện những nhân tố bên trong và bên ngoài Các yếu tố bên trong như là sự quản lý thiếu minh bạch, không coi trọng đạo đức nghề nghiệp, năng lực CBVC thấp, thiếu sự giám sát của các cấp lãnh đạo…Các yếu tố bên ngoài như là sự thay đổi về chính sách, pháp luật, sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật, sự thay đổi về thị hiếu của người học… Nhận diện rủi ro là việc nhận thức về thời điểm, mức độ một sự kiện hay hoạt động sẽ xãy ra gây ảnh hưởng tiêu cực đến đơn vị Một khi đơn vị nhận diện được các yếu tố rủi ro trong hoạt động của mình thì nguy cơ không đạt được mục tiêu giảm đi đáng kể Do đó, nhận dạng rủi
ro phải được thực hiện liên tục, lặp đi lặp lại để tránh bị thiệt hại do những tác động từ các yếu tố bên trong lẫn bên ngoài
b) Đánh giá rủi ro:
Đánh giá rủi ro là việc xác định những ảnh hưởng có thể có của một sự kiện hay một hoạt động đối với hoạt động của đơn vị Trên thực tế không thể loại bỏ hết tất cả rủi ro mà chỉ giới hạn rủi ro xảy ra ở mức độ nhận được Để làm được điều này, cấp quản lý trước hết cần đánh giá:
- Khả năng rủi ro có thể xảy ra;
- Mức độ ảnh hưởng của rủi ro đến mục tiêu của đơn vị
Nếu rủi ro ảnh hưởng không đáng kể đến đơn vị và ít có khả năng xảy ra thì không cần phải quan tâm nhiều Ngược lại, một rủi ro có ảnh hưởng trọng yếu với khả năng xảy ra cao hơn thì đơn vị cần tập trung chú ý Những tình huống nằm giữa hai thái cực này thường gây khó khăn cho việc đánh giá, do vậy, đơn vị cần phân tích hợp
lý và cẩn thận Đơn vị có thể sử dụng phương pháp định tính, định lượng hoặc kết hợp
cả hai để đánh giá mức độ thiệt hại do rủi ro gây ra
c) Đối phó rủi ro
Một khi đã đánh giá tầm quan trọng và khả năng xảy ra rủi ro, cấp quản lý cần đưa ra các biện pháp thích hợp để đối phó với rủi ro, điều này bao gồm việc xem xét những giả định về rủi ro và sự phân tích hợp lý về những chi phí phải bỏ ra để giảm rủi
ro Thông thường, có 4 biện pháp đối phó với rủi ro, đó là: Tránh né rủi ro, giảm thiểu
Trang 32rủi ro, chia sẻ rủi ro hoặc chấp nhận rủi ro Tuy nhiên, dù lựa chọn biện pháp nào thì nhà quản lý cần cân nhắc giữa chi phí phải bỏ ra để đối phó rủi ro với lợi ích mà nó đem lại
1.4.3 Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là những chính sách và thủ tục được thiết lập nhằm đối phó với rủi ro và tạo điều kiện cho các mục tiêu đề ra được thực thi nghiêm túc, hiệu quả trong toàn đơn vị Hoạt động kiểm soát tồn tại ở mọi bộ phận và mọi cấp độ tổ chức trong đơn vị
Xét về mục đích, hoạt động kiểm soát bao gồm kiểm soát phòng ngừa, kiểm soát phát hiện và kiểm soát bù đắp:
- Kiểm soát phòng ngừa: là những chính sách và thủ tục kiểm soát được đưa ra
nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu khả năng xảy ra sai sót hoặc gian lận, ảnh hưởng đến việc đạt được các mục tiêu của đơn vị
- Kiểm soát phát hiện: là những chính sách và thủ tục kiểm soát được đưa ra
nhằm phát hiện kịp thời những hành vi sai sót hoặc gian lận nào đó đã được thực hiện
- Kiểm soát bù đắp: là những thủ tục kiểm soát khác được đưa ra để thay thế
những hoạt động kiểm soát yếu kém, không hiệu quả
Xét về chức năng, hoạt động kiểm soát bao gồm:
- Phân quyền và phê duyệt
Việc thực hiện các nghiệp vụ chỉ được thực hiện bởi người được ủy quyền trong phạm vi quyền hạn của mình Ủy quyền đảm bảo rằng chỉ có những nghiệp vụ hợp lệ được phê quyệt bởi người quản lý mới được thực hiện Các thủ tục ủy quyền phải được tài liệu hóa và truyền đạt rõ ràng với các điều kiện, điều khoản cụ thể
Tuân thủ những quy định của sự ủy quyền đồng nghĩa với việc nhân viên hành động theo đúng hướng dẫn, trong giới hạn được người lãnh đạo và pháp luật cho phép
Phân chia trách nhiệm: Phân chia trách nhiệm là không cho phép một cá nhân nào trong tổ chức được giải quyết mọi mặt của một nghiệp vụ từ khi nó bắt đầu cho đến khi kết thúc Khi đó, thông qua cơ cấu tổ chức, công việc của tất cả các cá nhân sẽ được tự động kiểm soát chéo lẫn nhau Mục tiêu của thủ tục này là nhanh chóng phát hiện sai sót và giảm thiểu hành vi gian lận trong quá trình thực hiện
Tuy nhiên việc phân chia trách nhiệm có thể bị vô hiệu hóa do sự thông đồng giữa các cá nhân trong tổ chức Do vậy, nhà quản lý cần phải kiểm tra, đánh giá
Trang 33thường xuyên các hoạt động kiểm soát và mối quan hệ giữa các cá nhân thực hiện nhiệm vụ
Phân chia trách nhiệm đòi hỏi phải có tách biệt giữa các chức năng sau đây:
- Chức năng kế toán với chức năng bảo quản tài sản: Tức là không để cá nhân thực hiện với ghi chép vào sổ sách kế toán kiêm luôn việc bảo quản các tài sản mà mình ghi chép Chẳng hạn như phải tách biệt giữa kho và kế toán hàng tồn kho, hoặc thủ quỹ và kế toán tiền mặt
- Chức năng phê chuẩn nghiệp vụ với chức năng bảo quản tài sản: Tức là người được giao nhiệm vụ phê chuẩn, cho phép thực hiện nghiệp vụ không được kiêm việc bảo quản tài sản vì nó tạo ra khả năng thâm lạm tài sản Chẳng hạn như phải tách biệt người phê chuẩn việc tuyển dụng lao động với người phát lương cho người lao động
- Chức năng phê chuẩn nghiệp vụ và chức năng kế toán: Tức là người đọc được giao nhiệm vụ phê chuẩn không được kiêm việc thực hiện ghi chép trên sổ sách Chẳng hạn như phải tách biệt người có quyền xóa sổ nợ phải thu với người thực hiện việc ghi sổ
kế toán nợ phải thu
1.4.4 Thông tin và truyền thông
Kiểm soát quá trình xử lý thông tin đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kiểm soát nói chung Khi kiểm soát một cách chặt chẽ và các loại nghiệp vụ phải được phê chuẩn một cách đúng đắn, hợp lý
Ngày nay, khi khoa học công nghệ tiến bộ, việc kiểm soát quá trình xử lý thông tin được hỗ trợ ngày càng nhiều của chương trình máy tính, phần mềm Vì vậy, người
ta chia kiểm soát quá trình xử lý thông tin thành: Kiểm soát chung và kiểm soát ứng dụng Theo đó:
- Kiểm soát chung: là hoạt động kiểm soát áp dụng cho tất cả các hệ thống ứng dụng để đảm bảo cho các hệ thống này hoạt động liên tục và ổn định;
Kiểm soát ứng dụng: là hoạt động kiểm soát áp dụng cho từng hệ thống cụ thể nhằm đảm bảo dữ liệu được nhập và xử lý một cách chính xác, đầy đủ cũng như phát hiện các dữ liệu không hợp lý hay chưa được sự xét duyệt của nhà quản lý
a) Kiểm soát vật chất
INTOSAI nhấn mạnh mục tiêu sử dụng có hiệu quả nguồn lực của Nhà nước, trong đó có việc kiểm soát tài sản tránh hư hỏng, thất thoát hoặc sử dụng sai mục đích đồng thời phát huy có hiệu quả nguồn lực quan trọng từ tài sản Nhà nước
Trang 34Kiểm soát vật chất là hoạt động nhằm đảm bảo cho tài sản đơn vị như tiền, máy móc, vật tư hay các chương trình tin học, hồ sơ dữ liệu… được bảo vệ một cách chặt chẽ Kiểm soát vật chất còn bao gồm cả việc định kỳ kiểm kê tài sản và đối chiếu với
số liệu trên sổ sách Khi có bất kì sự chênh lệch nào phải tiến hành điều tra, xem xét nguyên nhân và đưa ra hướng xử lý một cách phù hợp nhằm đảm bảo cho sự tồn tại, chất lượng hay tình trạng của các tài sản phục vụ cho hoạt động của đơn vị được ổn định
b) Kiểm tra độc lập
Kiểm tra độc lập là việc kiểm tra được tiến hành bởi các cá nhân (hoặc bộ phận) khác với cá nhân (hoặc bộ phận) đang thực hiện nghiệp vụ Yêu cầu quan trọng đối với những thành viên thực hiện kiểm tra là họ phải độc lập với đối tượng được kiểm tra để nâng cao tính khách quan trong quá trình thực hiện
c) Phân tích rà soát
Hoạt động này chính là xem xét lại những việc đã thực hiện bằng cách so sánh giữa các kết quả thực hiện với số liệu dự toán hay giữa các thông tin tài chính với thông tin phi tài chính nhằm phát hiện ra những biến động bất thường để nhà quản lý
có các biện pháp chấn chỉnh kịp thời
d) Thông tin và truyền thông
Thông tin và truyền thông là điều kiện không thể thiếu do việc thiết lập, duy trì
và nâng cao năng lực kiểm soát trong đơn vị thông qua việc hình thành các báo cáo để cung cấp thông tin về hoạt động tài chính và sự tuân thủ
Thông tin cần thiết cho mọi cấp của một tổ chức vì nó giúp cho việc đạt được các mục tiêu kiểm soát khác nhau Thông tin được cung cấp thông qua hệ thống thông tin Do đó, hệ thống thông tin một khi được truyền đi phải đảm bảo chất lượng của thông tin là thích hợp, kịp thời, cập nhật, chính xác và truy cập thuận tiện
Truyền thông là thuộc tính của hệ thống thông tin Truyền thông là việc trao đổi
và truyền đạt các thông tin cần thiết tới các bên có liên quan cả bên trong lẫn bên ngoài đơn vị Ở nội bộ đơn vị, các kênh thông tin từ trên xuống, từ dưới lên trên hay thông tin hàng ngang phải được thiết lập để đảm bảo rằng bất kì một cá nhân nào trong đơn
vị cũng hiểu rõ công việc của mình cũng như ảnh hưởng của nó đến việc đạt được các mục tiêu của đơn vị Ngoài ra, đơn vị còn phải có sự tác động với các kênh thông tin bên ngoài, các thông tin bên ngoài phải được tiếp nhận một cách kịp thời, trung thực
Trang 35và đầy đủ; các đối tượng bên ngoài khi làm việc với đơn vị cũng cần phải biết một số quy định của đơn vị nhằm giúp cho công việc được thông suốt, thuận tiện
Có hai loại giám sát:
- Giám sát thường xuyên được thực hiện ngay trong các hoạt động hàng ngày của đơn vị và các hoạt động khác mà các cá nhân tiến hành trong quá trình thực hiện nhiệm vụ hàng ngày Giám sát thường xuyên đạt được thông qua việc tiếp nhận các ý kiến góp ý của các đối tác bên ngoài hoặc xem xét các báo cáo hoạt động và phát hiện các biến động bất thường để có biện pháp xử lý kịp thời
- Giám sát định kỳ thường chỉ được thực hiện định kỳ hay trong các tình huống đặc biệt thông qua các cuộc kiểm toán định kỳ do kiểm toán viên nội bộ hoặc do kiểm
toán viên độc lập thực hiện
1.5 Lợi ích và hạn chế tiềm tàng của hệ thống KSNB
1.5.1 Lợi ích của hệ thống kiểm soát nội bộ
Hệ thống KSNB là sự tích hợp một loạt hoạt động, biện pháp, kế hoạch, quan điểm, nội quy chính sách và nỗ lực của mọi thành viên trong tổ chức để đảm bảo cho
tổ chức đó hoạt động hiệu quả và đạt được mục tiêu đặt ra một cách hợp lý Lợi ích của hệ thống kiểm soát nội bộ là:
- Hệ thống KSNB giúp nhà lãnh đạo tổ chức quản lý được vấn đề của tổ chức, đảm bảo các hoạt động và mục tiêu của tổ chức cần đạt được
- Hệ thống KSNB giúp giảm bớt các rủi ro, đặc biệt là các rủi ro không đáng có
- Tạo môi trường kiểm soát trong sạch, lành mạnh, giúp nhà quản lý và nhân viên làm việc hiệu quả hơn
- Hệ thống KSNB góp phần điều hòa hoạt động của tổ chức hợp lý theo mục tiêu của tổ chức, tối ưu các nguồn lực hiện có của tổ chức
1.5.2 Hạn chế tiềm tàng của hệ thống kiểm soát nội bộ
Một hệ thống KSNB dù cho hoàn hảo đến đâu cũng tồn tại những hạn chế tiềm tàng xuất phát từ những nguyên nhân sau:
Trang 36Hạn chế xuất phát từ bản thân con người:
- Sự vô ý, bất cẩn trong ghi chép, nhập liệu… gây sai sót trên sổ sách, báo cáo tài chính;
- Sự đánh giá, ước lượng sai các ước tính kế toán, chỉ tiêu tài chính ảnh hưởng đến các báo cáo của đơn vị;
- Sự buông lỏng, thiếu sót trong quản lý gây thất thoát tài sản;
- Hiểu sai chỉ dẫn của cấp trên hoặc các báo cáo của cấp dưới… gây khó khăn cho quá trình thực hiện;
Hạn chế xuất phát từ sự thông đồng, lạm quyền:
- KSNB khó ngăn cản được sai sót và gian lận nếu nó xuất phát từ sự lạm quyền của nhà quản lý, họ có thể tìm cách bỏ qua một số thủ tục kiểm soát cần thiết Từ đó tận dụng những lỗ hổng của hệ thống kiểm soát để thực hiện các hành vi gian lận hoặc không tuân thủ
- Sự thông đồng của một trong các thành viên Ban lãnh đạo hay một nhân viên với người khác bên trong hoặc bên ngoài đơn vị để vụ lợi cho cá nhân, gây tổn hại đến tài sản hoặc uy tín của đơn vị
- Sự lạm dụng quyền hạn của các cá nhân có trách nhiệm kiểm soát nhằm phục
vụ cho mưu đồ riêng làm ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của đơn vị
- Hạn chế từ việc kiểm soát thường chỉ nhằm vào các nghiệp vụ thường xuyên phát sinh mà ít chú ý đến những nghiệp vụ không thường xuyên Do đó, những sai phạm trong các nghiệp vụ này thường hay bị bỏ qua
Hạn chế từ yêu cầu của nhà quản lý là chi phí nhỏ hơn lợi ích:
Yêu cầu thường xuyên và trên hết của người quản lý là chi phí bỏ ra hoạt động kiểm soát phải nhỏ hơn giá trị thiệt hại ước tính do sai sót hay gian lận gây ra
Hạn chế từ những thủ tục kiểm soát không còn phù hợp khi điều kiện hoạt động của đơn vị bị thay đổi
Chính những hạn chế nói trên là nguyên nhân khiến cho hệ thống KSNB không đảm bảo tuyệt đối, mà chỉ có thể đảm bảo hợp lý trong công việc đạt được các mục tiêu của mình
Trang 37KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua chương 1, tác giả đã trình bày cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ theo hướng dẫn về kiểm soát nội bộ của INTOSAI năm 2013 Trong đó các yếu tố hợp thành kiểm soát nội bộ bao gồm các yếu tố:
- Môi trường kiểm soát;
- Đánh giá rủi ro;
- Hoạt động kiểm soát;
- Thông tin và truyền thông;
- Giám sát
Các yếu tố này chính là tiêu chí đánh giá sự hữu hiệu của hệ thống, chúng tác động qua lại lẫn nhau Một hệ thống KSNB hoạt động hữu hiệu có thể ngăn ngừa và phát hiện những sai phạm, yếu kém trong hoạt động của tổ chức KSNB nhằm đạt các mục tiêu: hoạt động hữu hiệu và hiệu quả, đảm bảo tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính, tuân thủ pháp luật và quy định
Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra rằng hệ thống KSNB không bao giờ được đảm bảo một cách tuyệt đối, mà nó chỉ đảm bảo tính hợp lý nhằm giúp cho đơn vị, tổ chức đạt được các mục tiêu, tiêu chí đề ra như quản lý con người, tài chính, lập ra các kết hoạch mang tính khả thi, … Các đặc điểm hoạt động và phân loại đơn vị quản lý hành chính, vai trò của hoạt động của đơn vị quản lý hành chính ảnh hưởng tích cực trong cân đối hệ thống ngân sách nhà nước Và các đặc điểm hoạt động của lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch liên quan đến hoạt động hưởng thụ tinh thần của nhân dân chịu sự quản lý của nhà nước do những tính chất đặc thù trong hoạt động quản lý sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước cấp, nguồn kinh phí khác, việc tuân thủ các quy định pháp luật, các chính sách, chế độ đã ảnh hưởng đến HTKSNB
Điều này đồng nghĩa với việc hệ thống KSNB dù có hoạt động hiệu quả và tích cực thì bên cạnh đó luôn tồn tại những rủi ro nhất định Tuy nhiên, những rủi ro này có thể hạn chế và khắc phục nhằm hạn chế những rủi ro trong tương lai
Trang 38Chương 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du
lịch tỉnh Bình Dương
2.1 Khái quát chung về Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương
2.1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của Sở Văn hóa, Thể thao
và Du lịch
(Nguồn ảnh: Trung tâm Hành chính tỉnh Bình Dương)
Hình 2.1: Hình ảnh Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại Tầng 12B, Tháp A
trong Trung tâm Hành chính tỉnh Bình Dương
Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước 30/04/1975 Từ Ty Văn
hóa Thông tin Sông Bé được thành lập để thực hiện kế hoạch phát triển về Văn hóa,
Thông tin trên địa bàn tỉnh Đây là tiền đề hình thành Sở Văn hóa Thông tin với chức
năng quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực theo cơ chế thị trường, định hướng xã
hội chủ nghĩa
Từ ngày 01/7/1997, tách tỉnh Sông Bé thành 2 tỉnh Bình Dương và Bình Phước
thì thành lập Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Bình Dương
Sau 10 năm hình thành và phát triển, Ngày 31/7/2007 đánh dấu bước ngoặc lớn
của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được thành
lập, thực hiện chức năng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực theo Nghị quyết số
Trang 3901/2007/QH12) trên cơ sở sát nhập Tổng cục Du lịch, Tổng cục Thể dục thể thao, tiếp nhận phần quản lý nhà nước về công tác gia đình từ Ủy ban Dân số gia đình và trẻ
Trên cơ sở đó Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương được thành lập theo Quyết định số 735/QĐ-UBND ngày 14/3/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương, trê cơ sở hợp nhất Sở Văn hóa - thông tin, Sở Thể dục - Thể thao; đồng thời tiếp nhận chức năng quản lý và tổ chức Du lịch từ Sở Thương mại và Du lịch; tiếp nhận phần quản lý nhà nước về công tác gia đình từ Ủy ban Dân số gia đình và trẻ; chuyển chức năng và tổ chức báo chí về Sở Thông tin - Truyền thông
Từ khi thành lập cho đến nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương đã thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị mà tỉnh đã giao như tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao và kết hợp du lịch phục vụ các ngày lễ lớn trong tỉnh; Triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”; đẩy mạnh thực hiện chiến lược phát triển văn hóa, thể thao, du lịch đến năm 2020, tầm nhìn 2030; Triển khai thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban chấp hành Trung ương khóa IX “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con nguoif Việt Nam đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững đất nước”… với những cố gắn và nỗ lực đó, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương đã tích cực góp phần cùng Đảng bộ và nhân dân Bình Dương hoàn thành mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói riêng, của cả nói nói chung
Ghi nhận những đóng góp đó, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương đã được các cấp, các ngành biểu dương, khen thưởng như: Huân chương Lao động hạng ba (2000) của Chủ tịch nước; Huân chương Lao động hạng nhất (2014) của Chủ tịch nước; Bằn khen của Thủ tướng chính phủ (2014); Cờ thi đua xuất sấc của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2008,2009, 2010, 2012, 2014, 2017); Cờ thi đua xuất sắc của UBND tỉnh Bình Dương (2009, 2016) Ngoài ra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và UBND tỉnh Bình Dương đa biểu dương khen thưởng cho các tập thể và cá nhân trong ngành
Tuy nhiên, bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với yêu cầu ngày càng cao, đòi hỏi Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương phải không ngừng cố gắn để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, đưa sự nghiệp văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình phát triển hơn nữa, lên một tầm cao mới, đóng góp ngày
Trang 40càng toàn diện, sâu sắc hơn nữa vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương nói riêng và của cả nước nói chung
Địa chỉ trụ sở cơ quan: Tầng 12B, Tháp A, Trung tâm Hành chính tỉnh Bình Dương, Đường Lê Lợi, Phường Hòa Phú, Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
Điện thoại: 02743.822.403 Fax: 02743.832.801
Địa chỉ trang web: http://sovhttdl.binhduong.vn
2.1.2 Tình hình và kết quả hoạt động của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương năm 2017
2.1.2.1 Tình hình phương hướng, nhiệm vụ hoạt động
Trên cơ sở những kết quả đạt được trong năm 2016, Ngành tiếp tục đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2017 trên các lĩnh vực sau:
* Quản lý nhà nước
Tiếp tục rà soát lại hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản chỉ đạo điều hành của tỉnh đối với một số nội dung cấp thiết liên quan đến công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực hoạt động của ngành để kịp thời tham mưu các cấp thẩm quyền điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Tăng cường cơ chế phối hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng kiểm tra liên ngành từ cấp tỉnh đến cấp huyện nhằm kịp thời chấn chỉnh và tạo môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh trên địa bàn; thường xuyên cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành để kịp thời hướng dẫn các đơn vị, địa phương triển khai thực hiện
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc triển khai các đề án, dự án, chương trình, kế hoạch do ngành chủ trì thực hiện nhằm đảm bảo đúng tiến độ các hạng mục công trình đầu tư cũng như các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao