Nghiên cứu “Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc” là tìm về những giá trị mà nhà văn đã lí giải, cắt nghĩa, thể hiện tầm nhìn, tầm cảm về con người tr
Trang 1UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
HUỲNH THỊ XUÂN TRANG
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA BÌNH NGUYÊN LỘC
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 80 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ
BÌNH DƯƠNG - 2018
Trang 2UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
HUỲNH THỊ XUÂN TRANG
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA BÌNH NGUYÊN LỘC
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chƣa đƣợc công bố trong bất kì công trình nào khác
Nếu có sai phạm gì tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả luận văn
Huỳnh Thị Xuân Trang
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn: “Quan niệm nghệ thuật
về con người trong tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc”, ngoài sự nổ lực của bản
thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình, sự góp ý quý báu, khích lệ, động viên của thầy hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Văn Kha Tự đáy lòng mình, tôi xin bày tỏ sự biết
ơn sâu sắc tới thầy
Bên cạnh đó, trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi còn được các thầy cô Khoa Sư phạm Ngữ văn, Phòng Sau đại học và lãnh đạo Trường Đại học Thủ Dầu Một tạo điều kiện, giúp đỡ tận tình Ngoài ra, hoàn thành luận văn này, tôi còn nhận được sự giúp đỡ và tạo điều kiện của Ban Giám hiệu và các thầy cô giáo Trường THCS Mỹ Phước, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình, những người đã luôn tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tham gia học tập và hoàn thành đề tài
Xin trân trọng cảm ơn!
Bình Dương, ngày 02 tháng 3 năm 2019
Tác giả luận văn
Huỳnh Thị Xuân Trang
Trang 5iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VÀ KHÁI LƯỢC VỀ NHÀ VĂN BÌNH NGUYÊN LỘC 12
1.1 Khái niệm “quan niệm nghệ thuật về con người” và việc vận dụng khái niệm vào việc nghiên cứu ở Việt Nam 12
1.1.1 Khái niệm “quan niệm nghệ thuật” và “quan niệm nghệ thuật về con người” trong nghiên cứu văn học 12
1.1.2 Tình hình tiếp nhận khái niệm “quan niệm nghệ thuật về con người” và ứng dụng vào nghiên cứu trong văn học Việt Nam 19
1.2 Giới thiệu tác giả Bình Nguyên Lộc 22
1.2.1 Tiểu sử nhà văn Bình Nguyên Lộc 22
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác của Bình Nguyên Lộc 24
1.2.3 Quan niệm sáng tác của Bình Nguyên Lộc 26
Chương 2 CÁC BÌNH DIỆN CON NGƯỜI ĐƯỢC THỂ HIỆN TRONG TIỂU THUYẾT CỦA BÌNH NGUYÊN LỘC 31
2.1 Con người cá nhân 31
2.1.1 Con người cô đơn trước số phận và thời cuộc 31
2.1.2 Con người vật lộn với số phận để tìm hạnh phúc 35
2.1.3 Con người trả giá cho hạnh phúc vì những toan tính vị kỷ 39
2.2 Con người trong quan hệ gia đình, quê hương 43
2.2.1 Khát vọng kết nối, hòa hợp dân tộc 44
2.2.2 Con người với tình cảm gia đình, quê hương nồng hậu 47
Trang 6iv
2.3 Con người với thiên nhiên 55
2.3.1 Con người hòa hợp với thiên nhiên 56
2.3.2 Tình yêu thiên nhiên bình dị của miền quê Nam Bộ 58
2.3.3 Sự trân quý cảnh sắc thiên nhiên đô thành 61
2.4 Con người với thế giới tâm linh 62
2.4.1 Tâm linh trong đời sống thường ngày của người Nam Bộ 63
2.4.2 Quan niệm về thiện - ác và cái nhìn nhân văn của nhà văn 67
Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA BÌNH NGUYÊN LỘC 75
3.1 Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Bình Nguyên Lộc 75
3.1.1 Bức tranh làng quê và đô thành mang dấn ấn người Nam Bộ 75
3.1.2 Không gian gia đình - “tế bào” kết nối đời sống con người Nam Bộ 78
3.2 Xây dựng tình huống bộc lộ tính cách nhân vật 82
3.2.1 Những tình huống xung đột đời thường 82
3.2.2 Tình huống bi kịch 85
3.2.3 Tình huống giả tưởng 90
3.3 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật 92
3.3.1 Vẻ đẹp bình dị, mộc mạc của con người Nam Bộ 92
3.3.2 Khắc họa tính cách nhân vật gắn với cuộc đời, số phận 95
3.4 Ngôn ngữ góp phần cá thể hóa, mang đậm dấu ấn con người Nam Bộ 99
3.4.1 Ngôn ngữ sinh hoạt đời thường gần gũi với cuộc sống người Nam Bộ 99
3.4.2 Sử dụng khẩu ngữ, thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca 102
3.4.3 Ngôn ngữ đời thường mang tính thị dân hiện đại của xã hội đô thị 103
3.4.4 Ngôn ngữ giàu tính triết lí 105
KẾT LUẬN 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
Trang 7Trong lịch sử văn học nhân loại, từ văn học dân gian đến văn học viết, chúng
ta có thể nhận thấy dù văn học ca ngợi cái đẹp hay phê phán cái xấu, cái ác thì mục
đích cuối cùng của văn học hướng tới vẫn là con người “Văn học và cuộc sống là
hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người.” (Nguyễn Thị Thu Thủy, 2014)
Văn học thể hiện những mảnh đời, những số phận không đơn thuần chỉ để độc giả cảm nhận về con người qua từng mảnh đời, số phận ấy Điều quan trọng là làm cho văn học đồng hành cùng nhân loại với tư tưởng nhân đạo mà nhà văn đã gửi gắm trên từng trang viết, cốt lõi của văn học là vì con người
Quan niệm về con người chính là tầm nhìn, tầm cảm, tầm lý giải, đánh giá của nhà văn về con người được coi là “mẩu số chung”, thước đo của sự tiến bộ của văn học Thành tựu của nền văn học Việt Nam hiện đại đã để lại dấu ấn trong quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tạo nghệ thuật của các nhà văn như: Hồ
Châu, Nguyễn Khải, … Đặc biệt khi nói đến bộ phận văn học Nam Bộ thời kì hiện đại đã xuất hiện rất nhiều tác giả đã có những cống hiến cho sự nghiệp văn học dân tộc Trong đó có thể kể đến tên tuổi các nhà văn như: Trương Vĩnh Kí, Nguyễn Trọng Quản, Hồ Biểu Chánh, Vương Hồng Sển, Kiều Thanh Quế, Phi Vân, Sơn Nam, … Trên mảnh đất Bình Dương, Nam Bộ cũng xuất hiện hai tác giả tiêu biểu
có những đóng góp không nhỏ cho bộ phận văn học Nam Bộ đó là Bình Nguyên
Trang 82
Lộc và Huỳnh Văn Nghệ Nếu mọi người biết đến Huỳnh Văn Nghệ từ bài thơ Nhớ
Bắc với đại danh Thi tướng rừng xanh thì nhà văn Bình Nguyên Lộc là một tác giả
có sự lao động nghệ thuật nghiêm túc với sự nghiệp sáng tác đa dạng và khối lượng
tác phẩm không nhỏ, có người gọi ông là “nhà văn nghìn truyện ngắn”
Trên mảnh đất Tân Uyên giáp sông Đồng Nai - nơi chứng kiến nhiều tội ác của bọn thực dân đế quốc, nơi sinh ra những người con cách mạng kiên cường dũng cảm và nơi ấy cũng là mảnh đất quê hương của nhà văn một lòng hướng về cội nguồn dân tộc Với tình yêu quê, yêu người tha thiết, Bình Nguyên Lộc – người con đất Thủ năm nào với đam mê viết báo làm văn đã để lại cho đời những giá trị văn
chương lưu danh đến ngày nay Nghiên cứu “Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc” là tìm về những giá trị mà nhà văn đã lí
giải, cắt nghĩa, thể hiện tầm nhìn, tầm cảm về con người trong tác phẩm của ông Đó
là những suy nghĩ, trăn trở và cảm nhận về những con người Nam Bộ trong bối cảnh
xã hội những năm 1954 đến 1975 Từ đó, Bình Nguyên Lộc giúp chúng ta tìm về những giá trị lịch sử văn hóa của dân tộc và khát vọng sống tốt đẹp trên mỗi trang tiểu thuyết của ông về sự đời, lẽ phải, tình yêu và cội nguồn là những bài học sống
cao quý, đầy ý nghĩa dành cho con người Với đề tài: “Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc”, chúng tôi mong muốn sẽ tìm
hiểu được những giá trị cao đẹp mà nhà văn gửi gắm trong từng nhân vật, từng con người trong tác phẩm của ông
2 Lịch sử vấn đề
Gần bốn mươi năm cầm bút (1936-1975), Bình Nguyên Lộc đã để lại cho đời một khối lượng sáng tác đồ sộ và đa dạng về thể loại như: nghiên cứu, cổ văn, dân tộc học, ngôn ngữ học, tạp bút, truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ… Nhưng do hoàn cảnh đất nước chiến tranh, nhà văn phải nhiều lần tản cư nên một số tác phẩm bị thất lạc Tuy nhiên với khối lượng tác phẩm được đăng báo và xuất bản, Bình Nguyên Lộc
đã thể hiện sự đóng góp trên văn đàn dân tộc Rất nhiều sáng tác và công trình nghiên cứu của nhà văn xoay quanh chuyện đời, chuyện người và thời cuộc, đặc biệt
Trang 93
đáng chú ý nhất là ở thể loại truyện ngắn được xem là một trong những thành công nhất của Bình Nguyên Lộc Trong đó, thể loại tiểu thuyết cũng có những thành công không kém so với truyện ngắn Ở lĩnh vực này, nở rộ với nhiều tiểu thuyết tiêu biểu:
“Đò Dọc, Gieo gió gặt bão, Món nợ thiêng liêng, Xô ngã bức tường rêu, Tỳ vết tâm linh,…” Dù viết ở thể loại truyện ngắn hay tiểu thuyết, Bình Nguyên Lộc cũng
hướng ngòi bút của mình về con người, cuộc sống văn hóa Nam Bộ và cội nguồn
dân tộc Vì vậy, nghiên cứu “Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc” là một trong những đề tài thú vị để khám phá ngòi bút của
một nhà văn luôn hướng mình về dân tộc, quê hương đất nước với bao tình cảm thiết tha và sâu nặng
Để có cơ sở cho cái nhìn bao quát, sâu sắc, đảm bảo tính khách quan khoa
học cho đề tài: “Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc”, chúng tôi xin lược khảo những nghiên cứu, đánh giá về sáng tác của
nhà văn Bình Nguyên Lộc khi xuất hiện trên văn đàn
Nhà văn Vũ Hạnh đã có nhận xét trong Điểm sách (ngày 01 tháng 6 năm
1960): “Bình Nguyên Lộc là một nhà văn phong phú Ông đề cập đến nhiều vấn đề,
nói đến rất nhiều cảnh sống và bày tỏ rất nhiều thái độ Bình Nguyên Lộc còn khiến ta mến yêu vì cái sắc thái địa phương đậm đà ở trong tác phẩm Với Bình Nguyên Lộc chúng ta có dịp trở về với ruộng đồng miền Nam, chui qua cái ngõ ngách của đô thành, tìm đến những hàng quán cũ, chứng kiến những mẩu sống, những thói tục và những con người không thể tìm thấy ở bất cứ một nơi nào khác”
Nhà văn, nhà phê bình Nguyễn Văn Xuân cũng có ý kiến tương đồng nhưng được
diễn đạt một cách bộc trực: “Nội dung truyện ngắn của ông, cũng như của Phan Du
hướng về cái Chân – Thiện – Mĩ cổ điển Ông khác Phan Du ở chỗ ít lý luận, phát triển dài dòng (tôi nói ít hơn thôi) (…) nếu ông cứ để truyện phát triển theo thực chất của nó, sự việc tới đâu trình bày cảm nghĩ nhân vật tới đó thì thật ý vị, thâm trầm.” (Nguyễn Thị Thùy Trang, 2008) Còn riêng về tiểu thuyết thì có nhiều ý kiến
trái chiều Nguyễn Văn Sâm, Cao Huy Khanh với các bài in trên Tạp chí Văn học số
Trang 104
18- tháng 7 năm 1987 đều cho rằng Bình Nguyên Lộc chỉ thành công ở tiểu thuyết
Đò dọc Ông Cao Huy Khanh cho rằng: “… cá tính ưa thích sự phân tích lý luận bác tạp rộng về bề mặt nhưng thiếu chiều sâu” Ông Nguyễn Văn Sâm thì bảo
“Bình Nguyên Lộc đã giải thích quá nhiều lần, nên người đọc dễ chán, người ta đọc
tưởng mình đọc sách học hơn là đang thưởng thức một sáng tác phẩm.” (Tạp
chí Văn học, Hoa Kỳ, số 18, tháng 7 năm 1987) Mỗi nhà phê bình có những ý kiến khác nhau nhưng điều cốt lõi mà chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy Bình Nguyên Lộc đã làm nghề vô cùng nghiêm túc, bằng tất cả lòng chân thành và tình yêu của
“một bút lực lớn” để cống hiến cho độc giả nhiều tác phẩm văn chương giá trị Nhà
văn Võ Phiến cũng có bài viết: “Bình Nguyên Lộc, một nhân sĩ trong làng văn,
1998”, tác giả đã sơ lược về sự nghiệp cầm bút của nhà văn và nêu ra những nhận
định đối với những sáng tác của Bình Nguyên Lộc Bài viết đã giúp chúng ta cảm nhận được những trăn trở, suy tư và tình cảm của nhà văn làm nên những giá trị nghệ thuật độc đáo Võ Phiến đã ghi lại những ý kiến xoay quanh truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc qua các bài phỏng vấn Nguiễn Ngu Í, Nguyễn Nam Anh, Viên Linh, hay Nhất Linh Đặc biệt, Sơn Nam đã có một bài viết dành cho Bình Nguyên
Lộc Sơn Nam đọc sách Bình Nguyên Lộc không đơn thuần vì mến mộ mà còn là
“… muốn có sẵn trong tủ một quyển sách có công dụng thiết thực Công dụng gì? ( ) Chúng tôi đọc Nhốt gió để tìm một vài phút lâng lâng (…) Thế nào là lâng lâng? ( ) Muốn thưởng thức Nhốt gió thì nên lật ra, đọc một vài hàng, hoặc vài chục hàng để rồi xếp lại, hoặc bỏ vài chục trang, đọc một đoạn cho vui Người đọc không phải cố gắng, chịu cực để theo dõi nhơn vật hoặc suy nghĩ gì cả Xin giới thiệu vài đoạn ( ) Cứ đọc Nhốt gió khi nào mình thấy thiếu thốn một chút hương vị quen thân.” (Thời tập, Sài Gòn, số đã dẫn.)
Nguyên Lộc (1914-1987) đất và con người, 2006 Bài viết này đã khái quát về cuộc
đời cầm bút của nhà văn với những thành công đặc sắc ở thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết (gồm 820 truyện ngắn (in năm tập) và 52 tiểu thuyết (in 11 quyển) Bà đã
Trang 11đó nghe được âm thanh của đời sống mà Sơn Nam đã từng viết: “… cứ phải đọc
Nhốt gió, đọc mà không hiểu tại sao “thỉnh thoảng đọc lại năm ba hàng, tình cờ, lại thấy vui và mới Nó giống như ca dao, những câu ca dao bằng văn xuôi.” (dẫn theo
lời của Võ Phiến, trong Tuyển tập của Bình Nguyên Lộc, 2002) Bài viết còn đề cập
đến khuynh hướng hiện thực “thô lậu”, đây là một phong cách văn chương đặc biệt
ở Bình Nguyên Lộc Dưới con mắt của nhà văn thì mọi thứ vận động không ngừng, Bình Nguyên Lộc còn dựng lên một thế giới lai: thế giới chung lộn, lai tạp, giữa
người Việt và người Hoa, người Việt và người Chàm trong Nhốt gió Hình ảnh
con người và thiên nhiên, con người và đất nước, con người và cõi âm, di dân…trong sáng tác của ông bằng giọng văn giản dị gần gũi dễ hiểu, chứa chan đầy
tâm tình Bài viết với nhiều mục như: Sài Gòn thổ ngơi thơm phức hồn ma cũ, Cuộc
cạnh tranh sinh tồn, Cõi âm, Tiêu diệt dân Chàm, Lịch sử di dân và ý thức đất nước… Đây là một bài viết có cái nhìn khái quát về phong cách và sự nghiệp văn
chương của Bình Nguyên Lộc ở thể loại truyện ngắn
Đến với văn chương Bình Nguyên Lộc dường như người ta nhìn thấy phảng phất nét văn hóa Nam Bộ Khảo sát sáng tác của Bình Nguyên Lộc từ bình diện văn
hoá, Phạm Phú Phong đã có bài viết: “Văn chương Bình Nguyên Lộc – từ gốc nhìn
văn hóa, 2007” Theo Phạm Phú Phong, những tác phẩm của Bình Nguyên Lộc in
thành sách chưa được một phần ba (gồm một công trình nghiên cứu ngôn ngữ, hai tập thơ, một tiểu thuyết bằng thơ, 30 tập văn xuôi gồm tùy bút, truyện ngắn, truyện dài…) Nhận định của Phạm Phú Phong về Bình Nguyên Lộc là một nhà văn luôn hướng ngòi bút về cội nguồn, luôn truy nguyên tìm kiếm nguồn gốc tổ tiên từ đất Bắc di dân vào Nam Bài viết còn đề cập đến thành công ở thể loại tiểu thuyết tâm lý
như: Đò dọc, Hoa hậu Bồ Đào,… Trong bài viết, ông còn phân tích những đặc sắc
Trang 126
về nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật ngôn từ Tác giả ví Bình Nguyên Lộc như một nhà ảo thuật về ngôn từ và sắc sảo trong bút pháp phân tích tâm lý nhân vật Đó là ngôn ngữ tri thức văn hóa lịch sử
Bình Nguyên Lộc – một nhà văn luôn hướng mình với cội nguồi dân tộc, con người và vùng đất Nam Bộ, theo hướng nghiên cứu này còn có bài viết của Nguyễn
Vy Khanh: Bình Nguyên Lộc và tình đất, 2007; Nguyễn Mạnh Trinh: “Bình Nguyên
Lộc, nhìn từ con người và các tác phẩm, 2007; Nguyễn Thị Thu Trang cũng có bài
viết: “Con người và văn hóa Nam bộ trong truyện ngắn Bình Nguyên Lộc, 2009.”
Trong bài viết: Bình Nguyên Lộc, tổng quan văn chương vùng đất Đồng Nai,
2014, Hồ Trường An cũng đã nói lên những cái hay, đặc sắc trong các tiểu thuyết
của Bình Nguyên Lộc như: Đò dọc, Gieo gió gặt bão, Hoa hậu Bồ Đào, Xô ngã bức
tường rêu, Uống lộn thuốc tiên,… Bài viết của Hồ Trường An cũng đối sánh tác
phẩm của Bình Nguyên Lộc với các tác giả khác như Tú Hoa, Tùng Long, Nguyễn Ngọc Mẫn, Dương Hà, Dương Trử La, Sơn Nam, Hồ Biểu Chánh… là những cây bút nổi tiếng trên văn đàn miền Nam lúc bấy giờ Tiêu biểu ở sáng tác của các nhà
văn là những câu chuyện gần gũi với vùng văn hóa sông nước Nam Bộ như Rừng
mắm (Bình Nguyên Lộc), Hương rừng Cà Mau (Sơn Nam), Cha con nghĩa nặng
(Hồ Biểu Chánh) Ý nghĩa độc đáo của Rừng mắm khiến chúng ta ngậm ngùi thương cảm “về đức hi sinh cao cả của lớp người tiên phong đi mở đất, ở cái dũng mãnh
kiên cường của chí khí dân tộc, ở niềm tin rực rỡ của lớp hậu sinh về đất nước mai sau nối thêm chiều dài trên biển Nam Hải” Trong bài viết, tác giả cũng khẳng định
ngòi bút của nhà văn Bình Nguyên Lộc trong sáng, thiên lương chứng tỏ được cái tánh hồn nhiên khả ái của người Nam Kỳ nói chung, cái bộc trực của đa số cây bút gốc Nam Kỳ nói riêng
Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy Bình Nguyên Lộc cũng là một trong những nhà văn có những cống hiến nghệ thuật không nhỏ cho sự nghiệp văn chương Nam Bộ Bình Nguyên Lộc dù không viết được một thôn quê tiền chiến, song ngôn ngữ miền Nam, văn chương theo giọng điệu miền Nam mà Bình Nguyên Lộc đã
Trang 13Tuyển tập Bình Nguyên Lộc (I,II,III,IV) xuất bản năm 2001 và Bình Nguyên Lộc với hương gió Đồng Nai xuất bản năm 2010 Trong những bài viết của ông, đã cho thấy
Bình Nguyên Lộc là một cây bút sung mãn và sắc nét nhất của đồng bằng Nam Bộ chuyên về tiểu thuyết, truyện ngắn, tạp bút của văn học Việt Nam thời hiện đại Tác phẩm của Bình Nguyên Lộc đã góp phần không nhỏ vào tiến trình văn học Việt Nam, nhất là làm sống dậy và lớn lên cái tinh thần chiến đấu hăng say, lạc quan của nhân dân ta nơi vùng đất mới này Với khối lượng tác phẩm ở các lĩnh vực khác nhau như: nghiên cứu, cổ văn, dân tộc học, ngôn ngữ học, tiểu thuyết, truyện ngắn,… Nguyễn Quang Thắng đã minh chứng cho công trình nghiên cứu về những đóng góp to lớn của Bình Nguyên Lộc trên văn đàn
Bên cạnh những công trình nghiên cứu, bài viết về tác giả Bình Nguyên Lộc vừa dẫn, trong nhà trường, đã có một số đề tài luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
nghiên cứu về Bình Nguyên Lộc: Luận văn “Đặc trưng văn xuôi nghệ thuật Bình
Nguyên Lộc” của Nguyễn Lương Hải Khôi – Trường Đại học Sư phạm Thành phố
Hồ Chí Minh, 2004 ; Luận văn “Văn hóa và con người Nam bộ trong tác phẩm Bình
Nguyên Lộc” của Nguyễn Văn Đông – Trường Đại học Khoa học Xã hội Nhân Văn,
2010; Luận văn “Đặc sắc nghệ thuật truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc” của Trần Thị Tuyết Hoa – Trường đại học Cần Thơ, 2010; “Từ ngữ địa phương trong tác
phẩm của Bình Nguyên Lộc” của Trần Thị Thúy Hằng – Trường Đại học Sư phạm
Thành phố Hồ Chí Minh, 2012; Luận án tiến sĩ: “Truyện ngắn Sơn Nam và Bình
Nguyên Lộc từ gốc nhìn văn hóa” của Nguyễn Văn Đông – Trường Đại học Khoa
học Xã hội Nhân Văn, 2015;… Các công trình nghiên cứu trên tuy có đề cập đến con người trong tác phẩm của Bình Nguyên Lộc nhưng trên bình diện rộng (chủ yếu
Trang 148
ở thể loại truyện ngắn, được xem là một thành công đặc sắc của Bình Nguyên Lộc)
mà chưa đi cụ thể ở mảng tiểu thuyết
Điểm qua những công trình nghiên cứu về Bình Nguyên Lộc trên đây, chúng tôi chỉ nêu một số bài viết tiêu biểu, đó là những công trình nghiên cứu hữu ích và
có giá trị cho thế hệ sau kế thừa và học tập Với đề tài: “Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc”, chúng tôi cũng mong muốn sẽ
đóng góp một phần nhỏ bé cho việc khám phá và lưu giữ những giá trị văn chương của nhà văn dành cho con người Nam Bộ cùng với những giá trị văn hóa của một nhà văn luôn hướng mình về dân tộc, với cội nguồn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài: “Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc”, luận văn hướng đến những mục đích cụ thể sau:
Thông qua việc khảo sát tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc để thấy được sự nhận thức, sự đánh giá mang tầm khái quát của nhà văn Bình Nguyên Lộc về con người Qua đó, thấy được sự đóng góp của Bình Nguyên Lộc cho tiểu thuyết Nam
Bộ và nền văn học Việt Nam hiện đại
Để đạt được mục đích trên, luận văn đề ra những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và những yếu tố chi phối quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc Nhiệm vụ nghiên cứu này được thể hiện ở hai điểm:
+ Trình bày lí luận quan niệm nghệ thuật về con người và việc tiếp nhận lí
luận quan niệm về con người trong văn học Việt Nam Việc làm rõ khái niệm “quan
niệm nghệ thuật về con người” là cơ sở lí luận, làm công cụ để triển khai việc
nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc;
+ Bên cạnh việc làm rõ tiền đề lí luận như đã nói ở trên, việc tìm hiểu về tác giả Bình Nguyên Lộc như: cuộc đời và sự nghiệp sáng tác, quan niệm văn chương
Trang 159
của nhà văn – những yếu tố chi phối tư tưởng nghệ thuật của Bình Nguyên Lộc,
trong đó quan niệm về con người là cốt lõi cũng là việc làm cần thiết
- Khảo sát các bình diện con người được thể hiện trong tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc để thấy rõ tầm cảm, tầm nhận thức, lý giải về con người của nhà văn
- Khảo sát các biện pháp nghệ thuật nhà văn Bình Nguyên Lộc sử dụng để thể hiện cách nhìn con người từ các bình diện nói trên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài “Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc”, chúng tôi chủ yếu tập trung khảo sát thể loại tiểu thuyết trong sự
nghiệp sáng tác của Bình Nguyên Lộc
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nhà văn Bình Nguyên Lộc có 20 tiểu thuyết được xuất bản nhưng với đề tài
này chúng tôi giới hạn khảo sát 8/20 tiểu thuyết, bao gồm: Đò dọc (1959); Gieo gió
gặt bão (1959); Hoa hậu Bồ Đào (1963); Đừng hỏi tại sao (1963); Nửa đêm Trảng Sụp (1963); Uống lộn thuốc tiên (1965); Món nợ thiêng liêng (1969); Tỳ vết tâm linh (1973), đây là các tiểu thuyết nổi tiếng được nhiều bạn đọc biết đến và được
viết với những khoảng thời gian khác nhau trong sự nghiệp sáng tác của tác giả Việc chọn những tiểu thuyết ở các thời điểm khác nhau đưa vào diện khảo sát để thấy được cách nhìn con người của nhà văn ở từng chặng đường khác nhau, từ đó làm nổi rõ sự vận động trong quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn Đây
là điểm cần thiết trong nghiên cứu đề tài này, vì nhận thức về con người trong sáng tạo nghệ thuật là một quá trình
Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi mở rộng diện khảo sát đến
mảng truyện ngắn, ở những truyện ngắn tiêu biểu như: Rừng mắm, Thèm mùi đất,
Bà Mọi hú, Lửa Tết, Hương hành kho, Về làng cũ,… trong tập truyện ngắn Kí thác
và Cuống rún chưa lìa…; lĩnh vực nghiên cứu chúng tôi tìm đọc Nguồn gốc Mã Lai
của dân tộc Việt Nam và Lột trần Việt ngữ; và tác phẩm Hương rừng Cà Mau – Sơn
Trang 1610
Nam; Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư để so sánh, đối chiếu nhằm làm rõ
quan niệm nghệ thuật về con người của Bình Nguyên Lộc trong tiểu thuyết
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng linh hoạt và kết hợp các phương pháp sau:
- Vận dụng lý thuyết thi pháp Đây là hướng tiếp cận chủ yếu của đề tài vì để làm rõ tư tưởng nghệ thuật của nhà văn, trong đó quan niệm nghệ thuật về con người
là cốt lõi, người nghiên cứu phải khảo sát các yếu tố cấu thành tác phẩm Theo lý thuyết thi pháp, quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn là mạch chìm, chi phối các yếu tố thi pháp của tác phẩm Do vậy, người nghiên cứu, thông qua các yếu
tố cấu thành tác phẩm (ở đây là tiểu thuyết) để làm nổi bật quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn
- Phương pháp nghiên cứu loại hình được vận dụng để phù hợp với đối tượng nghiên cứu là tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc
- Phương pháp cấu trúc - hệ thống: là một trong những phương pháp quan
trọng của đề tài giúp sắp xếp và hệ thống các vấn đề nghiên cứu theo một trình tự khoa học
- Phương pháp tiểu sử tác giả được vận dụng để tìm hiểu khái lược về nhà văn Bình Nguyên Lộc ở các phương diện tiểu sử, sự nghiệp sáng tác, quan niệm sáng tác
Ngoài ra, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu được sử dụng trong quá trình triển khai đề tài
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn “Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc” nghiên cứu một cách hệ thống nội dung và nghệ thuật trong sáng tác ở
thể loại tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc, từ góc độ quan niệm nghệ thuật về con người để từ đó thấy được sự đóng góp của tác giả, một trong những nhà văn Nam
Trang 1711
7 Cấu trúc của luận văn
Luận văn ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn gồm
Chương 3 Một số biện pháp nghệ thuật thể hiện quan niệm nghệ thuật về
con người trong tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc
Người viết đi vào nghiên cứu một số biện pháp nghệ thuật thể hiện quan niệm
nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc
Ngoài ra, còn có những phần phụ khác như lời cam đoan, lời cảm ơn, phần
mục lục và tài liệu tham khảo
Trang 18Quan niệm nghệ thuật là một khái niệm về chủ thể, khái niệm về hệ quy
chiếu, thể hiện tầm lí giải, tầm hiểu biết, đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm hay nói một cách tổng quát là tầm hoạt động của chủ thể Mỗi nhà văn đều có một quan niệm sáng tác riêng Đó là sự nhận thức, nhào nặn tạo ra hình tượng nghệ thuật theo quan niệm của cá nhân trong bối cảnh lịch sử xã hội nhất định, tạo nên tính thẩm mĩ, sự hài hòa về con người trong đời sống Đối với Trần Đình Sử, (1998), ông
cho rằng: quan niệm là ý tưởng, sự lý giải, cắt nghĩa, sự hiểu, khái niệm về thế giới
con người của một tác phẩm, một tác giả nào đó Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người nghĩa là hệ thống những cái nhìn, sự khám phá, lý giải, trình độ chiếm lĩnh con người của nhà văn và quan niệm đó có tính chất nghệ thuật đối với con
người trong văn học Vì vậy, có thể hiểu quan niệm nghệ thuật về con người là cái
nhìn cụ thể trong hình thức nghệ thuật thể hiện của một tác giả thông qua tác phẩm của họ Nó là một loại nội dung, cái lí, cái logic của sự miêu tả về con người, tức là nội dung của riêng hình thức Nó trả lời câu hỏi vì sao nhà văn lại miêu tả con người như thế, chọn hình ảnh và chi tiết như thế Đó là sự cắt nghĩa, lí giải về cách làm của nhà văn chứ không phải là phân tích một nhân vật cụ thể nào đó trong tác phẩm để thấy được tư tưởng của tác phẩm
Quan niệm nghệ thuật về con người giúp ta biết được giới hạn trong nhận
thức, cảm thụ và miêu tả về con người trong văn học Nhà văn sẽ miêu tả con người, nhân vật trong tầm nhìn của họ Con người được nhận thức, soi sáng qua nhiều bình
Trang 1913
diện với những mối quan hệ phong phú và sinh động với tự nhiên, xã hội, bản thân trong tất cả mối quan hệ của con người với các vấn đề cá nhân, cộng đồng, Đặc biệt quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện trên bình diện như thân thể, bởi thân thể là nền tảng tồn tại của con người Thân thể được thể hiện theo nhiều quan niệm như thần thoại, tôn giáo, chính trị, thẩm mĩ, tâm sinh lí, qua phương tiện kinh
tế, tiêu dùng, hay quan niệm y học Nhưng quan niệm nghệ thuật thường có nội hàm triết lí nghệ thuật Mỗi thời kì văn học sẽ có những quan niệm khác nhau như: Văn học cách mạng nhấn mạnh con người phải hiến thân cho sự nghiệp giải phóng Thời
kì văn học hiện đại con người được miêu tả trong tất cả các chiều kích như tự nhiên,
xã hội, giới tính, tiêu dùng, thời thượng,… Quan niệm nghệ thuật về con người không giới hạn ở địa vị, quan hệ xã hội, nghề nghiệp, giới tính, tuổi tác mà nó còn
mở rộng ranh giới vượt ra ngoài nghề nghiệp và tuổi tác Con người được thể hiện qua hành động hoặc tâm lí, ý thức và có thể có tất cả những mặt ấy Con người có thể quan niệm qua giao tiếp, từ ngữ xưng hô, hoặc qua các phương thức tu từ như ẩn
dụ, so sánh, hoán dụ, nghịch dị, qua hệ thống các chi tiết nghệ thuật về tư thế, động tác, màu sắc…
Các thể loại khác nhau có sự thể hiện con người khác nhau, vì phương tiện nghệ thuật của chúng cũng khác nhau Nhân vật không có sẵn để nhà văn sao chép hay chụp lại mà chính nhà văn sáng tạo ra nhân vật Nhân vật được hiện ra theo cách hình dung cảm nhận của tác giả Do vậy, quan niệm nghệ thuật về con người hướng tới việc xem xét quan niệm chủ thể của người sáng tác đối với con người được miêu
tả và con người nói chung như một phạm trù khái quát, qua đó mà miêu tả nhân vật
cụ thể như mô hình con người của nhà văn
Từ đó, có thể hiểu quan niệm nghệ thuật về con người chính là sự khám phá
về con người bằng nghệ thuật Vì vậy, nó phản ánh cấu trúc của nhân cách con người và các hình thức phức tạp tương ứng trong quan hệ con người đối với thế giới Đồng thời, quan niệm nghệ thuật về con người cũng mang dấu ấn sáng tạo của cá tính nghệ sĩ, gắn liền với cái nhìn thẩm mĩ đầy tính phát hiện độc đáo của các nhà
Trang 2014
văn, nhà thơ qua các thời kỳ văn học như:
Con người trong thần thoại là hình ảnh con người chưa phân biệt được con
người tự nhiên, họ quy cho thần những sức mạnh thần bí Thần thoại lưu giữ những
kí ức thời nguyên sơ, có ảnh hưởng sâu sắc tới văn nghệ này Do vậy, đặc điểm nổi bật nhất của con người thần thoại là con người chức năng, chức năng tự nhiên và chức năng văn hóa Con người thần thoại mang những chức năng tự nhiên như: Thần Zeus- Chúa tể thế giới, Thần Okeanos – Thần Biển, Eros - Thần Tình yêu, Apolon –Thần Mặt trời… Đặc điểm thứ hai của con người thần thoại là biến hóa Con người thần thoại có tài biến hóa qua lại giữa người và tự nhiên Sự biến hóa ở đây diễn ra rất tự nhiên chứ không phải tu luyện Do vậy, con người thần thoại được xem là những người đầu tiên, vị tổ tiên thứ nhất của nhân loại, người đã đẻ ra loài người, tạo ra thế giới, đất trời, ngày đêm và muôn vật Ở con người thần thoại cũng
có những biểu hiện bản năng về phương diện tính dục Có thể nhận thấy, con người thần thoại là biểu hiện của thiên nhiên, vũ trụ, nó đã cung cấp nhiều motif nghệ thuật cho đời sau có ảnh hưởng không nhỏ đến các hình thức nghệ thuật đời sau
Con người trong sử thi là người của cộng đồng, của bộ tộc Sử thi gắn liền
với ý thức phân biệt bộ tộc, tham gia vào những cuộc chiến tranh bảo vệ quyền lợi, danh dự của bộ tộc Con người sử thi là con người sống bằng lí trí, không hành động
vì cảm giác hoặc tình cảm ham muốn nhất thời Con người sử thi chưa phát triển ý thức hệ cá nhân, họ đều đại diện toàn năng cho bộ tộc Tất cả biểu hiện trên con người của họ, trang phục vũ khí của họ, đó là sự kết tinh cho những gì cao quý ở bộ tộc họ Con người sử thi còn đại diện cho quan niệm cộng đồng trong mọi phương diện như sức mạnh, trí tuệ, sự giàu sang, phong tục, tập quán, quan niệm về cái đẹp… Con người sử thi bao giờ cũng được vẽ lên hết sức hoàn thiện, toàn diện về bề ngoài nhưng chưa tìm thấy con người bên trong Con người sử thi là con người khai sinh hoặc anh hùng của bộ tộc, cho nên họ thường được thần thánh hóa, mang vẻ đẹp thiêng liêng trong con mắt của đời sau Điều này ảnh hưởng đến cách nhìn con người trong quan niệm nghệ thuật của đời sau
Trang 2115
Con người trong truyện cổ tích được quan tâm khá rõ nét đến số phận của cá
nhân Trong các mối quan hệ xã hội, gia đình để tìm ra giá trị chân chính của loài người Con người cổ tích đã giảm sút nhiều tính thần kì, sức mạnh của con người cổ tích chính là sức mạnh chính nghĩa của nó Người cổ tích sống ngoài thời gian không gian, không ai lớn lên hay già đi chủ yếu là ở hiền thì gặp lành, ở ác thì gặp
ác Con người cổ tích chưa có hoạt động nội tâm, tâm lí nhân vật cổ tích rất đơn giản, chỉ xoay quanh việc ăn ở hiền lành hay gây thù, báo oán trong sự luân hồi chóng vánh và dễ dàng Con người cổ tích hành động theo tinh thần công bằng, lẽ phải, hành thiện chứ không phải bằng tâm lí cá nhân Tuy nhiên, ở con người cổ tích
có sự đối lập giữa cái thiện và ác vô cùng rõ ràng, kẻ ác hiện thân rất tiêu biểu và bị trừng phạt rất đích đáng Từ đó thấy được tư tưởng của truyện cổ tích là thưởng phạt
rõ ràng, chính đáng
Con người trong văn học trung đại được thể hiện khá rõ nét và độc đáo vì
thời kì văn học trung đại được kéo dài nhiều thế kỷ, được xem là một loại hình văn học lớn Con người trong nền văn học này mang nhiều đặc điểm loại hình như: mang dấu ấn giai cấp, dấu ấn của hệ tư tưởng, tôn giáo, sáng tác dân gian, mang tính khuôn mẫu Ở mỗi khu vực, hình tượng con người có những nét khu biệt không trộn lẫn nhau Có những con người mang dáng vẻ vũ trụ, thiên nhiên nhưng cũng có những con người trong dáng liễu dáng mai dáng hạc, mình ve, tóc mây, mắt phượng, mặt rồng,…Tuy nhiên, ở thời kì này con người mang cảm thức chung của cả một
mô hình văn học, thời đại văn học Các nhà văn hầu như không hình dung con người trong dáng vẻ đời thường, tầm thường, không đẹp Con người trung đại cũng đứng giữa cuộc đấu tranh thiện và ác, cao đẹp và tầm thường, hữu đạo và vô đạo Thời trung đại cả phương Tây và phương Đông quan niệm về con người cá nhân rõ ràng Tuy nhiên, ở con người phương Đông thì con người cá nhân với sự cảm thông, khẳng định, được thi thố Đến cuối thể kỉ XVII, trong dòng văn học dân chủ xuất hiện con người dân chủ Con người bất mãn với số phận, hoàn cảnh, chưa từng có trong các thời kì trước Đó là con người chịu đau đớn vì đói, rét, vì bất công, vì đủ
Trang 2216
thứ vô lí Văn học trung đại chịu ảnh hưởng của tôn giáo, chủ nghĩa cấm dục thường
né tránh miêu tả đời sống tình ái, tình dục, tránh nói đến thân thể người, coi là ô uế Quan niệm nghệ thuật về con người của thời kì trung đại là một phạm trù khác hẳn thời cổ đại, cận, hiện đại Nhưng nó luôn đa dạng phản chiếu văn học của nhiều nước trên thế giới
Con người trong văn học cận hiện đại được chia thành những giai đoạn như con người thời Phục hưng là con người đề cao chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa nhân
đạo đề cao lí tính đến con người vô thức, phi lí tính đến hoài nghi con người Thời cận hiện đại được tính từ thời Phục hưng, ở phương Tây là từ thế kỷ XIV – XVI là thời kì con người được tự do, giải phóng con người khỏi chủ nghĩa cấm dục thời Trung cổ, phô bày vẻ đẹp trần thế hấp dẫn đầy sức mạnh của con người Đây là thời
kì khai sáng con người tự nhiên trần thế, sống vui vẻ với bản năng của mình, đồng thời thân thể con người được miêu tả dưới nhiều góc độ Góc độ giải phẫu sinh lí người, góc độ nghịch dị, cười cợt kiểu dân gian, góc độ tình dục Thân thể nghịch dị gắn với các biện pháp khuếch đại, miêu tả thân thể gắn với ăn uống, phóng uế, tiểu tiện, sinh đẻ, giao hợp Phần dưới của thân thể được nhắc đến trong tình tiết hoặc trong các ví von, ẩn dụ Bên cạnh đó, con người trong thời cận đại mang chủ nghĩa
cổ điển, khai sáng, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực Theo Pospelov, chủ nghĩa cổ điển là trào lưu văn học đầu tiên trong lịch sử văn học phương Tây và nhân loại, tồn tại khoảng cuối thế kỷ XVI-XVIII Các nhà văn của chủ nghĩa cổ điển cho rằng tình yêu là biểu hiện cao nhất của tình cảm cá nhân, còn nghĩa vụ là tình cảm công dân cao cả nhất Và hàng loạt những bi kịch xảy ra của con người là do mâu thuẫn giữa tình yêu và nghĩa vụ, và cuối cùng tình yêu phải hi sinh cho nghĩa vụ Họ tuân thủ “luật tam duy nhất” đó là không gian, thời gian và địa điểm, không dùng
những từ ngữ dung tục, sử dụng các chi tiết đời thường Còn con người trong văn học của chủ nghĩa khai sáng thì thiên về lí trí, nổi lên con người tình cảm nhạy
bén, xúc động trước những đức hạnh, khiếp sợ cái ác, họ nhìn mọi sự ở đời qua lăng kính tình cảm vẻ đẹp điền viên, lí tưởng hóa những tình cảm đẹp của con người và
Trang 2317
không nhìn thấy gì ngoài chủ quan của con người Đó là khúc tưởng niệm cuộc sống ngọt ngào nguyên thủy ở đồng quê thi vị như những chàng ngâm thơ, chăn cừu thơ mộng với các cô gái quay tơ hiền lành, đức hạnh
Với chủ nghĩa lãng mạn thể hiện được những ước mơ lớn thất vọng lớn của
con người về những kiến tạo xã hội hướng tới tự do, bình đẳng, bác ái Chính vì vậy
ta luôn thấy những con người cô đơn với nỗi buồn sâu xa khi bị thất bại trong cuộc chiến chống lại cái xấu, cái ác Điều đó làm bật lên sức mạnh của con người cá nhân
Con người trong chủ nghĩa hiện thực có nhiều thay đổi căn bản Nó nhìn
thấy những mặt hạn chế của con người, không thi vị hóa hay lí tưởng hóa một cá nhân nào L.Tolstoy nói rằng một trong những sai lầm thường thấy là người ta cho rằng có người thiện người ác, người ngu, người thông minh Theo dòng chảy sẽ làm thay đổi con người như người ngu trở thành người thông minh, người ác trở thành người lương thiện Trong văn học thời này còn xuất hiện hình tượng con người hiện thực xã hội chủ nghĩa Con người bị chi phối bởi ý thức hệ vô sản Theo đó, hình tượng con người được xây dựng trong quá trình vận động và phát triển mang tính cách mạng, hướng tới tương lai
Chủ nghĩa hiện đại được miêu tả tất cả mọi chi tiết về đời sống vì vậy con người trong chủ nghĩa hiện đại được hiểu như một sinh vật xã hội bị chi phối bởi
các quy luật tự nhiên như bệnh tật, huyết thống, sinh lí Con người trước hết là sinh vật bắt đầu từ huyết thống, sinh lí, nó sinh ra những con người có tính cách tính dục khác nhau Chủ nghĩa siêu thực thể hiện con người hoảng loạn trước thế giới bí ẩn
và không sao hiểu được, nó đánh mất con người với thực tại, cường điệu tính đa nghĩa của hình ảnh, con người được mô tả trong những kết hợp lạ thường Văn học hiện sinh đặc trưng bởi con người cô đơn trong thế giới phi lí Con người người tồn tại trước bản chất Con người bị ném vào đời một cách phi lí, cô đơn và buộc phải tự làm nên chính mình trong thế giới phi lí
Văn học Việt Nam được hình thành và phát triển theo suốt chiều dài của lịch
Trang 2418
sử dân tộc mang đến biết bao giá trị cao đẹp cho con người và mảnh đất quê hương hình chữ S Ở mỗi thời kì văn học phản ánh hình tượng những con người khác nhau như: Văn học cách mạng đầu thế kỷ XX (trước 1945), con người yêu nước với lí tưởng cứu nước, nghĩa vụ trách nhiệm, con người cá nhân và những xung đột với gia đình truyền thống, với khát vọng tìm lối thoát li quan hệ xã hội để thỏa mãn tự do bản năng Từ đó, ta có thể thấy văn học không xa rời hiện thực mà nó luôn phản chiếu đời sống xã hội trong từng giai đoạn lịch sử dưới con mắt sáng tạo của người
nghệ sĩ Văn học cách mạng thời kì 1945-1986 với tinh thần chiến đấu mạnh mẽ,
chủ nghĩa lạc quan, tin tưởng vào lãnh đạo và thắng lợi cuối cùng của đảng, nhân vật tích cực, chủ nghĩa anh hùng đều rất đậm đà, có tác dụng tuyên truyền, động viên quần chúng rất lớn Con người trong văn học đổi mới sau 1986, điểm nổi bật của văn học thời kì này là xóa bỏ các khuôn sáo cũ của văn học giai đoạn trước, giảm bớt con người chính trị giai cấp, trở về với con người nhân bản, tự nhiên, có cá tính,
có tình yêu, có bản năng vô thức, tình dục, có mặt tối, mặt sáng Nguyễn Minh Châu được xem là người mở đường tinh anh cho giai đoạn văn học này Ông bỏ hết sự đối lập chính diện và phản diện, bỏ nguyên tắc điển hình hóa, miêu tả con người dị biệt, nghịch lí, phát hiện các hiện tượng khác thường Ông miêu tả các hiện tượng ngẫu nhiên, cá biệt, mà lâu nay văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa vốn thích khái quát quy luật lịch sử bằng điển hình hóa cao độ Bên cạnh đó, có thể nhắc đến Nguyễn Huy Thiệp, nhà văn nổi bật trong văn học đổi mới Truyện ngắn của ông viết đủ loại người khác nhau trong xã hội Chủ đề trọng tâm của ông là con người Ông nhìn con người theo khía cạnh hiện sinh, sự cô đơn, lạc loài, người ta không hiểu nhau, cuộc đời đầy phi lí, đầy ngẫu nhiên Ông phơi bày tất cả các mặt của con người xấu, tốt, điểu cáng, độc ác,…ông nắm bắt con người qua đối thoại, độc thoại nội tâm Con người trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp thì dự báo một xu hướng mà sau này
sẽ thấy càng rõ rệt trong đời sống xã hội Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy quan niệm nghệ thuật về con người trong dòng chảy của văn học Việt Nam khá phong phú và đa dạng
Trang 2519
1.1.2 Tình hình tiếp nhận khái niệm “quan niệm nghệ thuật về con người”
và ứng dụng vào nghiên cứu trong văn học Việt Nam
Thuật ngữ Quan niệm nghệ thuật về con người được giới nghiên cứu ở Liên
Xô chú ý vào cuối những năm 50 thế kỷ XX Các nhà văn học sử có lẽ là người đầu tiên chú ý tới vấn đề quan niệm con người Tháng 11/ 1990, Trần Đình Sử có bài
viết nhan đề: “Khái niệm quan niệm nghệ thuật” trong nghiên cứu văn học Xô Viết,
(đăng trên Tạp chí Văn học, số 1/1991) giới thiệu ở Việt Nam Đây được xem là khái niệm lý luận quan trọng bậc nhất trong mấy thập niên qua Với tính khái quát
về lý luận gắn với đặc trưng của tư duy nghệ thuật, thuật ngữ này nhanh chóng được giới nghiên cứu ứng dụng vào nghiên cứu trong văn học Việt Nam
Đồng thời, Trần Đình Sử cũng có bài nghiên cứu: “Con người cá nhân trong văn học Việt Nam thế kỷ XVIII” (đăng trên Tạp chí WordPress.com, 2013) Bài
nghiên cứu đã chỉ rõ sự tiến bộ của ý thức con người theo thời gian Quan niệm con người cá nhân, làm nở rộ một dòng văn học nhân đạo tạo bước ngoặt làm đổi thay giá trị con người So với trước thế kỷ XVIII, cá nhân chỉ được đánh giá trong thang bậc đạo lý, nghĩa lý, lý trí và ở sức mạnh tinh thần, con người càng có nghị lực vươn lên bao nhiêu, càng khắc phục cá nhân nhỏ bé, phàm tục bao nhiêu thì càng có giá trị Ông đã nghiên cứu con người cá nhân ở các bình diện khác nhau ở những tác
phẩm tiêu biểu thời trung đại Con người cá nhân với niềm lo sợ tuổi trẻ chóng tàn
trong Chinh phụ ngâm (thế kỷ XVIII) và Giá trị hư ảo, vô nghĩa của cá nhân con người trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều (1741 – 1798) đã làm nổi
lên con người cá nhân với tình cảm thương thân, xót thân… Con người cá nhân bản
năng trong thơ Hồ Xuân Hương (thế kỷ XVIII – XIX) minh chứng cho ý thức về nhu
cầu bản năng là biểu hiện của ý thức cá nhân Con người cá nhân cô đơn, xót mình
đầy tâm trạng trong thơ chữ Hán và Truyện Kiều của Nguyễn Du (1766 – 1820)
Đây được xem là đỉnh cao về quan niệm con người cá nhân trong văn học cổ điển Việt Nam với nhiều bình diện phong phú nhất, phức tạp nhất Ngoài công trình nghiên cứu con người cá nhân trong văn học trung đại thì còn có công trình nghiên
Trang 2620
cứu con người trong Thơ Mới đã phát hiện ra cái tôi cá nhân thầm kín trong mỗi con người và tự giác trước thế giới đô thị hiện đại Đó chính là sự chiêm nghiệm bản thân trước thế giới
Năm 1995, Nguyễn Hải Hà và Nguyễn Thị Bình thực hiện Chương trình khoa
học công nghệ cấp nhà nước, đề tài KX -07-01 nghiên cứu “Quan niệm nghệ thuật
về con người trong văn xuôi Việt Nam sau Cách mạng Tháng 8” Công trình
nghiên cứu “Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi Việt Nam sau Cách
mạng tháng 8” đã tìm hiểu và nghiên cứu những bình diện khám phá con người và
lịch sử, con người tự nhiên với những điểm mới nổi bật trong việc xây dựng nhân vật và cá tính sáng tạo cái tâm của người cầm bút hay ước nguyện về một nền văn học đa dạng, phong phú, giàu bản sắc trên con đường khám phá con người và cuộc sống Văn học tồn tại vì sự hoàn thiện của con người Nội dung của công trình
nghiên cứu các tác phẩm văn học 1945 – 1975 với các tác giả tên tuổi như: Kịch Bắc
Sơn – Nguyễn Huy Tưởng; Xung Kích – Nguyễn Đình Thi; Vùng mỏ – Võ Huy
Tâm; Tây Bắc – Tô Hoài; Gặp gỡ – Bùi Hiển; Làng – Kim Lân; Xung đột, Mùa Lạc – Nguyễn Khải; Cỏ non – Hồ Phương; Sông Đà – Nguyễn Tuân; Nhật kí người ở lại
– Nguyễn Quang Sáng,… hơn 100 tác phẩm của nhiều tác giả tên tuổi trong làng văn Việt Nam Vì vậy, có thể thấy đây là một công trình nghiên cứu đồ sộ và có giá trị to lớn về sự tiếp nhận quan niệm nghệ thuật về con người
Nguyễn Văn Kha với công trình nghiên cứu: “Đổi mới quan niệm con người trong truyện Việt Nam 1975-2000” (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành
phố Hồ Chí Minh, 2007) xem xét sự đổi mới quan niệm về con người trong văn học Việt Nam (trong phạm vi thể loại truyện) sau 1975 đến 2000 Trên cơ sở sự vận động và đổi mới của đời sống chính trị, xã hội, thị hiếu thẩm mỹ của người đọc,… nhà văn Việt Nam thời kỳ mới đã có sự đổi mới về tầm nhìn, tầm cảm, …về cách đánh giá con người Công trình nghiên cứu đã xác định nguyên tắc của sự đổi mới, một mặt tiếp tục truyền thống nhân đạo trong văn học Việt Nam thời kỳ trước đó; mặt khác, sự đổi mới quan niệm về con người trong sáng tạo văn học thời kỳ mới
Trang 2721
phải được biểu hiện về chất, thể hiện cách nhìn mới, sự khám phá mới về con người xuất phát từ hiện thực đời sống xã hội Việt Nam sau 1975 Theo đó, sự đổi mới quan niệm về con người trong truyện Việt Nam được Nguyễn Văn Kha trình bày ở các bình diện: con người với cộng đồng, quê hương đất nước; khám phá đời tư của con người cá nhân: con người cá nhân với cuộc đời và bản lĩnh riêng,… Đáng chú ý, công trình dành một số trang thích đáng để trình bày sự phong phú và phức tạp của con người bình thường Về tư liệu, các tác phẩm nằm trong diện khảo sát của luận
án được dư luận trong và ngoài nước chú ý trong giai đoạn văn học 1975-2000 như:
Sống với thời gian hai chiều – Vũ Tú Nam; Tuổi thơ im lặng – Duy Khán; Thời xa vắng của Lê Lựu; Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát,… – Nguyễn Minh Châu; Mảnh đất lắm người nhiều ma – Nguyễn Khắc
Trường; Bước qua lời nguyền – Tạ Duy Anh; Nỗi buồn chiến tranh – Bảo Ninh;
Tướng về hưu, Vàng lửa, Phẩm tiết – Nguyễn Huy Thiệp,… Công trình nghiên cứu
góp tiếng nói kịp thời khẳng định sự đóng góp của các nhà văn Việt Nam thời kỳ sau
1975 cho văn học nước nhà từ bình diện thi pháp, có tính thuyết phục về mặt khoa học
Bên cạnh đó còn có công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Tiến: “Con người trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới” (Đại học Quốc gia Hà Nội,
2014) nghiên cứu con người ở góc nhìn loại hình văn học Công trình nghiên cứu đã tìm hiểu hình tượng con người trong tiểu thuyết thời kì đổi mới qua góc nhìn bản chất xã hội ở người lính với bi kịch cá nhân, trong cuộc sống đời thường; người nông dân mang dấu vết tha hóa, là nạn nhân của những ràng buộc lạc hậu; người tri thức với lương tri và trí tuệ, mưu toan, tư lợi, ích kỷ, hám danh,… Công trình nghiên cứu tiếp cận vấn đề từ bình diện lịch sử – văn hóa, với nhận thức mới về hiện thực, thế giới tâm linh và vô thức, biên giới giữa ảo và thực hay con người dị biệt bị méo
mó về thể xác và lệch lạc về tinh thần,… được đề cập qua những tiểu thuyết nổi tiếng trong thời kì đổi mới
Quan niệm nghệ thuật về con người đã trở thành cơ sở, thành tố vận động của
Trang 28là sản phẩm của văn hóa, tư tưởng Nó được xem là hệ quy chiếu nội tại của chủ thể
để cảm nhận con người Quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm luôn
hướng con người trong một chiều sâu nào đó làm thước đo giá trị nhân văn vốn có của một hiện tượng văn học
Từ thành tựu nghiên cứu của lý luận văn học về quan niệm nghệ thuật về con người, các nhà nghiên cứu trong nước đã tiếp thu, vận dụng vào nghiên cứu văn học Việt Nam Từ các công trình giới thiệu về lý thuyết đến các công trình nghiên cứu làm sáng tỏ quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt Nam qua các
thời kỳ văn học, chứng tỏ “Quan niệm nghệ thuật về con người” là lý thuyết giúp
giới nghiên cứu tiếp cận với bản chất của văn học: Văn học là nhân học
1.2 Giới thiệu tác giả Bình Nguyên Lộc
1.2.1 Tiểu sử nhà văn Bình Nguyên Lộc
Bình Nguyên Lộc tên thật là Tô Văn Tuấn, sinh ngày 7 tháng 3 năm 1914 tại làng Tân Uyên, tổng Chánh Mỹ Trung, tỉnh Biên Hòa (nay thuộc thị trấn Tân Uyên,
huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) Ông là nhà văn Nam bộ với sự nghiệp văn
chương khá phong phú Bình Nguyên Lộc là một trong những bút danh của ông, ngoài ra ông còn các bút danh khác như Phong Ngạn, Hồ Văn Huấn, Tôn Dzật Huân, Phóng Ngang, Phóng Dọc, Diên Quỳnh…
Bình Nguyên Lộc sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông lâm nghiệp, cha
là Tô Văn Sâm (1878-1970) làm nghề buôn gỗ, mẹ là Dương Thị Mão (1879-1971)
Trang 29Truyện ngắn đầu tay của ông có tên là Phù Sa đăng trên tạp chí Thanh niên
của kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát Lần lượt các tác phẩm của Bình Nguyên Lộc được độc giả đón nhận và được các tác giả tên tuổi tán dương như: Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Hoàng Tư, Lâm Thảo, Huỳnh Văn Phương,…
Năm 1944, Bình Nguyên Lộc bị bệnh thần kinh nên đã xin nghỉ và không trở lại với nghề công chức Năm 1945, ông cùng gia đình tản cư về quê nhưng sau đó trở lại Lái Thiêu, Thủ Dầu Một Trong thời gian ở Lái Thiêu, Bình Nguyên Lộc đã tham gia công tác kháng chiến tại miền Đông Nam Bộ và là Hội viên Hội văn hóa cứu quốc Trong những năm này, ông cũng chống chọi với căn bệnh thần kinh nên
đã gác lại việc viết lách
Năm 1950, tác giả xuất bản cuốn Nhốt gió Năm 1952, Bình Nguyên Lộc làm
thư ký tòa soạn cho vài tờ báo ở Sài Gòn Năm 1953, ông chủ trương tờ báo Vui sống, tuần báo văn nghệ có khuynh hướng y học với mong muốn áp dụng kiến thức
y học phổ thông vào đời sống thực tế
Năm 1956, Bình Nguyên Lộc cùng với các văn hữu cho ra đời tờ báo Bến Nghé đồng thời ông còn thành lập Nhà xuất bản Bến Nghé cùng với đồng nghiệp
Năm 1957, 1958 ông cộng tác với các tạp chí Bách khoa, Văn hóa ngày nay, rồi làm chủ nhiệm tuần báo Vui sống
Năm 1959 - 1960 ông đạt giải nhất văn chương toàn quốc thể loại tiểu thuyết
với Đò dọc
Trang 3024
Năm 1960 - 1963, ông phụ trách trang văn nghệ Tiếng chuông, rồi làm chủ biên nhật báo Tin sớm Trong giai đoạn sau này, Bình Nguyên Lộc thường viết truyện dài cho các nhật báo Ông làm Hội viên Hội Văn hóa Giáo dục Việt Nam
Trước ngày giải phóng không lâu, Bình Nguyên Lộc đã chịu một sự tổn thương và mất mát lớn, con trai ông Tô Dương Hiệp chết vì bệnh nan y và vợ ông tai nạn phải nằm một chỗ, cơn bệnh tim của ông tái phát, gia đình ông lâm vào cảnh quẫn bách Sau năm 1975, ông ngưng cầm bút vì bệnh nặng
Năm 1983, người con dâu đã bảo lãnh vợ chồng ông ra nước ngoài chăm sóc
và chữa bệnh Thời gian này, ông cũng viết vài tiểu thuyết và đăng báo nhưng đều
dở dang và rồi ông mất ngày 7 tháng 3 năm 1987 vì bệnh tim, huyết áp cao tại Mỹ, đúng vào ngày sinh của ông Ông được an táng tại nghĩa trang Sunset Lawn
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác của Bình Nguyên Lộc
Bình Nguyên Lộc có thể được coi là nhà văn lớn của Việt Nam Với số lượng tác phẩm sáng tác, ông đã thể hiện được tình yêu văn chương và sự lao động chuyên cần, nghiêm túc và tài năng
Gần bốn mươi năm gắn bó với nghề, ông đã để lại hơn nghìn tác phẩm Các sáng tác của Bình Nguyên Lộc đa dạng gồm nhiều thể loại như: nghiên cứu (6 bài);
Dân tộc học (Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam 894 trang viết năm 1971); Cổ
sử học (có 5 công trình được công bố trên tạp chí Sài Gòn năm 1975); Ngôn ngữ học
(Lột trần Việt ngữ (1972); Văn chương với nhiều thể loại như truyện ngắn (tính đến
năm 1974 thì ông viết đến gần 1000 truyện ngắn vì vậy ông còn được gọi là nhà văn nghìn truyện ngắn); tiểu thuyết (có khoảng 52 quyển và xuất bản được 20 quyển); và vài bài thơ…
Sơ lược các tác phẩm chính của ông:
Tác phẩm đầu tay của ông là Hương gió Đồng Nai (được khởi thảo từ năm
1935), là tập truyện ngắn và tùy bút về hương đồng gió nội của mảnh đất Đồng Nai Theo Nguiễn Ngu Í, đây tác phẩm đầu tay quan trọng thuộc mảng chủ đề chính trong sáng tác của Bình Nguyên Lộc, được khởi thảo từ năm 1935 và hoàn thành
Trang 3125
năm 1942 Tập truyện ngắn và tùy bút bát ngát hương đồng gió nội dẫy đầy màu sắc địa phương Nhưng tiếc thay chỉ còn một truyện và tùy bút được rút ra từ tác phẩm này đăng báo khoảng năm 1943 còn bản thảo nguyên tác bị thất lạc trong những ngày đầu chống Pháp ở Tân Uyên và đến nay chưa tìm thấy
Ở thể loại truyện ngắn, Bình Nguyên Lộc đã bộc lộ rõ tài năng của mình với sức mạnh cầm bút tới gần nghìn truyện ngắn Vì thế ông được mệnh danh là nhà văn nghìn truyện ngắn Số lượng truyện ngắn của ông được in thành ba mươi tập từ năm
1950 đến năm 1970 tại Sài Gòn Sau đây là một vài tập truyện ngắn nổi tiếng của
ông với những mốc thời gian cụ thể: Nhốt gió (1950); Tân liêu trai (1959); Kí thác (1960); Mưa thu nhớ tằm (1965); Tình đất (1966); Những bước lang thang trên hè
phố của gã Bình Nguyên Lộc (1966); Nụ cười nước mắt học trò (1967); Thầm lặng
(1967); Đèn Cần Giờ (1968); Diễm phượng (1968); Cuống rốn chưa lìa (1969); Ma
rừng (1971)…
Với tiểu thuyết có 52 truyện và nhà văn đã xuất bản 20 quyển nổi tiếng như:
Đò dọc (1959); Gieo gió gặt bão (1959); Nhện chờ mối ai (1962); Bóng ai qua ngoài song cửa (1963); Xô ngã bức tường rêu (1963); Ái ân thâu ngắn cho dài tiếc thương (1963); Hoa hậu Bồ Đào (1963); Bí mật của nàng (1963); Đừng hỏi tại sao?
(1965); Nửa đêm Trảng Sụp (1963); Uống lộn thuốc tiên (1965); Mối tình cuối
cùng; Một nàng hai chàng (1967); Quán tai heo (1967); Trăm nhớ ngàn thương
(1967); Sau đêm bố ráp (1968); Món nợ thiêng liêng (1969); Nhìn xuân người khác (1969); Khi Từ Thức về trần (1969); Tỳ vết tâm linh (1973);…
Cùng với hoạt động sáng tác, Bình Nguyên Lộc là nhà nghiên cứu với những
công trình đã được xuất bản như: Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam (1971);
Lột trần Việt ngữ (1972); Tự vựng đối chiếu 10 ngàn từ (1971); Tự vựng danh từ Mã Lai mà Trung Hoa vay mượn (1972); …Cổ văn gồm chú giải các tác phẩm văn
chương cổ điển Việt Nam như Văn tế chiêu hồn (Nguyễn Du); Tiếc thay duyên Tấn
phận Tần (Nguyễn Du); Tự tình khúc (Cao Bá Quát);… Dân tộc học - Cổ học sử
gồm một công trình lớn Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam gồm 894 trang –
Trang 3226
năm 1971, được xem là một công trình khá lớn trong sự nghiệp sáng tác của ông
Ngôn ngữ học gồm Lột trần Việt ngữ (1972); Tự vựng đối chiếu… ông đã nghiên
cứu nguồn gốc tiếng Việt từ thời cổ đến hiện đại Ngoài ra, còn có những bài thơ
như: Thơ Ba mén, Việt sử trường ca, Thơ thổ ngơi Đồng Nai, Ca dao…
Sống và viết với tâm huyết và sự kiên trì bền bĩ, Bình Nguyên Lộc đã làm nên những tác phẩm có giá trị cả về mặt số lượng lẫn chất lượng Những tác phẩm của ông dù xoay quanh đề tài nào, hình tượng con người ra sao thì ngòi bút của Bình Nguyên Lộc đều hướng đến một chủ đề chung là con người đời thường với quê hương đất nước qua những tháng ngày đổi thay của lịch sử, để rồi dù xã hội thay đổi
ra sao thì con người vẫn luôn hướng về cội người, quê cha đất tổ Có thể nói Bình Nguyên Lộc đã để lại một sự nghiệp văn chương đáng khâm phục Dù viết ở thể loại nào tác phẩm của ông cũng luôn dành tình cảm cho con người và mảnh đất quê hương, một lòng hướng về quê cha đất tổ “gốc Bắc” như chính tấm lòng và tình yêu của nhà văn
1.2.3 Quan niệm sáng tác của Bình Nguyên Lộc
Trong một lần trả lời phỏng vấn, Bình Nguyên Lộc đã thật thà chia sẻ về
công việc “Tôi không có tài trời cho, nên lúc khởi đầu thì tôi phải nỗ lực” và ông xác định rõ: “Tôi quan niệm kẻ sĩ là học theo lối xưa, tức là ngoài học vấn cần có
khí tiết.” (Nguyễn Quốc Dân và cs (2004), tr.34) Từ những suy nghĩ tâm huyết
chân thành với nghề, Bình Nguyên Lộc đã cho ra đời hơn nghìn đứa con tinh thần ở các thể loại khác nhau Có thể xem ông là một cây bút sung mãn và tài hoa với lối viết trong sáng thiên lương Nhà văn như một nhà kỹ xảo ngôn từ đậm chất Nam Bộ
Đọc tác phẩm của Bình Nguyên Lộc, chúng ta dễ dàng nhận thấy một nhà
văn với cảm hứng chủ đạo luôn hướng về cội nguồn Trong Tâm tình văn nghệ sĩ
của tác giả Lê Phương Chi (2001), tác giả ghi lại tâm sự của Bình Nguyên Lộc rằng:
“Văn tôi bắt nguồn từ những cảnh đẹp với quê hương và xuất phát từ lòng nhớ nhung tha thiết của tôi với nó” Hay ở Tuyển tập Bình Nguyên Lộc – Một bút lực lớn, Nguyễn Quang Thắng (2002, tr.40) có viết: “Hầu hết truyện ngắn của ông dù
Trang 3327
viết những năm 40, 50, đến những năm 70 đều có một hệ thống chủ đề Chúng tôi cho là một hệ thống chủ đề vì đọc truyện ngắn Bình Nguyên Lộc, độc giả nào cũng thấy rõ tình yêu làng quê, nơi chôn nhau cắt rốn, sự nghèo khổ…” Với tình yêu
quê hương chân thành và mộc mạc, những trang văn của Bình Nguyên Lộc luôn thắm đượm hình ảnh con người và vẻ đẹp văn hóa vùng đất Nam Bộ hiền hòa trong suốt dòng chảy lịch sử dân tộc Là người con được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Tân Uyên giàu truyền thống Cách mạng với nhiều đời gắn bó và trưởng thành nơi quê cha đất tổ, Bình Nguyên Lộc luôn ý thức về cội nguồn dân tộc Tình yêu đất, yêu quê làm nên những ký ức đẹp đẽ lưu giữ lâu bền trong tâm thức của người con đất Thủ năm nào Vì vậy, dù sống ở đâu ông cũng luôn trăn trở và muốn tìm kiếm nguồn gốc tổ tiên từ đất Bắc vào Nam thể hiện qua công trình nghiên cứu như:
“Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam,1971” Những tác phẩm về sau của Bình
Nguyên Lộc đều phảng phất quan niệm tư tưởng sáng tác ấy “Tình đất Sài Gòn tản
mác trong người, trong vật (…) Vì hiếm hoi nên tình như không thoả Vì không thoả
nó mới cố lắng sâu như để tìm chính mình, trong chỗ không có gì hết.” (NQT
(2002), tr24) Trong ý thức nghệ thuật, Bình Nguyên Lộc đã có sự thâm nhập, đan xen, có khi đối lập giữa tâm thức truyền thống và hiện đại, giữa văn hoá nông thôn
và văn minh đô thị, giữa giá trị tinh thần và vật chất, giữa cái ổn định và cái bất ổn
Bình Nguyên Lộc cho rằng: “tất cả những chi tiết trong hầu hết tác phẩm của tôi
đều có thật ở khắp nơi mà tôi tìm đến, đã gặp hoặc tôi cũng là một vai trong những
sự việc xảy ra chớ tôi không bịa được gì hết Mà tôi chỉ bịa cốt truyện để trình bày cho phù hợp ý truyện của tôi, do tôi đã thu nhặt được những chi tiết cụ thể trong đời sống hằng ngày mà thôi.” (NQT (2009), tr.48) Nhưng cuối cùng, ông cũng thể hiện
một thái độ, tình cảm, cách nhìn đúng đắn về con người và mảnh đất quê hương
Tác phẩm của Bình Nguyên Lộc dường như làm sống dậy tâm tình của bao
con người trên khắp dọc chiều dài đất nước Bắc–Trung–Nam Ông dành tình cảm ưu
ái về nguồn gốc dân tộc, một lòng hướng về cội nguồn “gốc Bắc” Bên cạnh ấy, tác phẩm của ông cũng thể hiện những trăn trở suy tư trong cuộc Nam tiến, nối liền
Trang 3428
Nam Bắc, xây dựng đất Nam Kỳ giàu tiềm năng sau này Bức tranh quê hương trong tác phẩm của Bình Nguyên Lộc hiện ra mộc mạc, bình dị với những xóm làng, cù lao và những cuộc di dân xuôi ngược, với phố thị Nam kỳ những ngày hậu chiến 1954… Do vậy, dù ông viết ở thể loại nào, chúng ta cũng đều nhận thấy cây bút Bình Nguyên Lộc luôn một lòng hướng về quê hương, tình yêu làng quê nơi chôn rau cắt rốn Nhà văn không khai thác con người trong hiện thực chiến tranh mà ông hướng ngòi bút về con người với hiện thực cuộc sống đời thường Nhà văn không rời xa hiện thực xã hội, bức tranh đô thị Nam Bộ hiện lên với bao cái xáo động dữ dội trong những ngày tháng chống Mĩ Biết bao con người với cuộc sống mưu sinh bằng trăm thứ nghề khác nhau nhưng họ vẫn giữ trong mình cái tình người, tình quê
trong mỗi nếp nhà “Với Bình Nguyên Lộc chúng ta có dịp trở về với ruộng đồng
miền Nam, chui qua cái ngõ ngách của đô thành, tìm đến những hàng quán cũ, chứng kiến những mẩu sống, những thói tục và những con người không thể tìm thấy
ở bất cứ một nơi nào khác” (dẫn theo lời của Vũ Hạnh)- (Nguyễn Thị Thu Trang,
2008) Tâm sự tận đáy lòng tác giả vẫn thầm nhủ: “Tôi vẫn là của các anh kia mà!”,
là người của cách mạng Việt Nam Vì vậy, văn chương Bình Nguyên Lộc vẫn trung thành với quê hương đất nước, thuần phong mĩ tục và hướng con người đến những giá trị cao đẹp của cuộc sống Như lời của Viễn Phương trên tạp chí Kiến thức ngày
nay (tháng 10/1997) đã nhận định rằng: “Tuy nhà văn Bình Nguyên Lộc chưa thể
trực tiếp tham gia hoạt động cách mạng như đề nghị của ông ngay được nhưng Bình Nguyên Lộc vẫn đứng về phía cách mạng Trong buổi ban đầu vào Hội văn nghệ anh hăng hái và vui lắm…” (Nguyễn Quốc Dân và cs (2004), tr.49) Ngòi bút của
ông vẫn bền bĩ đấu tranh trên mặt trận văn hóa nghệ thuật vì con người và quê hương đất nước
Cảm hứng chủ đạo làm nên văn chương của Bình Nguyên Lộc xuất phát từ những vấn đề cốt lõi truyền thống văn hóa Việt Nam như nguồn gốc, ngôn ngữ, di dân – đây là những yếu tố đặc sắc làm nên tâm hồn Bình Nguyên Lộc Tác giả đã đặc tả những không gian nhỏ hẹp buồn thảm, hiu quạnh với cuộc sống, số phận của
Trang 3529
những con người bé nhỏ, nghèo khổ, tội nghiệp, gặp nhiều bất hạnh và tâm tư của những con người xa xứ mang trong mình tình yêu làng quê, nơi chôn rau cắt rún Nỗi nhớ đất nhớ làng và nỗi niềm cô đơn lạc lõng trước thời đại và cuộc đời nhưng
đó cũng chính là nơi dễ dàng tìm thấy sự đùm bọc, thương yêu, nơi của bao ước vọng được nuôi dưỡng, của những tình cảm, sự hi sinh cao đẹp và là chỗ dựa cho đời sống tinh thần, cho sự hình thành nhân cách Những con người ấy luôn khát khao vươn lên xây dựng cuộc sống, xây dựng hạnh phúc Nói như Viễn Phương:
“nỗi nhớ quê hương, nỗi buồn xa xứ đã gặm nhấm trái tim mỏng manh của một người già phải xa xứ quê như Bình Nguyên Lộc… Và cũng chính “Trái tim mỏng manh” ấy đã có một thời “Nhốt gió” để làm bùng lên những cơn “Bão tâm tư” trong làng văn, trong lòng người đã “Ký thác” lại cho người đọc bao điều đáng nhớ, đáng suy ngẫm, chắc rằng vẫn còn vang vọng đến hôm nay và có lẽ cả mai sau…” (Nguyễn Quốc Dân và cs (2004), tr.52) Ở mỗi thể loại ta đều thấy ngòi bút
Bình Nguyên Lộc viết và phân tích tâm lí những người con người đang rơi vào vòng xoáy của tình yêu, gia đình và sự thù hận Để từ đó, nhà văn hướng đến những giá trị vĩnh hằng của con người là đạo đức, luân thường đạo lí, lẽ sống tốt đời đẹp đạo ấy là
vẻ đẹp văn hóa của dân tộc ta Đó cũng là nhận định của nhà văn Vũ Hạnh: “Tác giả
biết yêu quí cái gì vốn là của riêng mình và khai thác những khía cạnh tốt đẹp của
nó để làm vẻ vang cho mình và cho quê cảnh mình ” (Nguyễn Thị Thu Trang,
2008)
Tiểu kết chương 1
Có thể thấy quan niệm nghệ thuật về con người là yếu tố cơ bản, then chốt cho sự vận động và phát triển của văn học, chi phối toàn bộ hệ thống của văn học qua các thời đại lịch sử văn học nhân loại Cùng với sự đổi mới của tư duy lý luận,
khái niệm lý luận quan trọng “Quan niệm nghệ thuật về con người” đã được giới
nghiên cứu ở Việt Nam tiếp nhận trong nghiên cứu văn học Sự đổi mới đa dạng của văn học trước hết là sự đổi mới và đa dạng trong quan niệm nghệ thuật về con người Do vậy, nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người giúp cho ta có cái
Trang 3630
nhìn tổng thể hơn về quá trình vận động và phát triển của văn học qua các thời kỳ Điều quan trọng là việc nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người giúp cho việc định hướng lý luận nghiên cứu về văn học đi đúng quỹ đạo của sự vận động và
phát triền của văn học: Văn học là nhân học
Trong số những nhà văn yêu nước vùng đô thị miền Nam trước 1975, Bình Nguyên Lộc là một trong những cây bút lớn để lại sự nghiệp văn chương đồ sộ với chất bình dị, đời thường, nhưng chan chứa đầy tình cảm yêu quê hương đất nước, con người Nam Bộ Tác phẩm của ông không chỉ bao quát một phạm vi hiện thực xã hội rộng lớn mà còn mang một giá trị nghệ thuật đặc sắc, trong đó có mảng tiểu thuyết được nhiều độc giả đón đọc và ghi nhận xứng đáng công lao của ông
Trang 37ta tìm thấy vấn đề nhân sinh mà tác giả gửi gắm trong những con người mà ông khắc họa
2.1 Con người cá nhân
2.1.1 Con người cô đơn trước số phận và thời cuộc
Người Việt trong buổi đầu đến vùng đất Nam Bộ lập nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, hiểm nguy Con người phải chống chọi với thiên nhiên hoang sơ, dữ dội Mỗi vùng miền Tây, Đông Nam Bộ lại có đặc điểm riêng do vậy đòi hỏi con người Nam Bộ phải mạnh mẽ, nương tựa để vượt qua gian khổ với bao cái xô bồ của dòng
đời và số phận Đò dọc là hành trình xuôi ngược của gia đình ông bà Nam Thành từ
Bạc Liêu lên Sài Gòn, rồi từ Sài Gòn sang miệt vườn Thủ Đức Cuộc sống lúc bấy
giờ được ông Nam Thành ví như đi ô tô buýt “Cuộc sống giống hệt như đi ô tô buýt
về mọi mặt Lên tại bến thì lấn nhau không còn biết xấu hổ là gì cả, miễn tìm được ghế! Phần đông thì đi tới đích, mà có người cũng xuống dọc đường đó là những kẻ suy sụp hay bị tử thần rước sớm.” (BNL (1959a), tr.23) Với những năm tháng khói
lửa của chiến tranh, tiếng súng đạn khiến cho con người phải giật mình tỉnh giấc
giữa đêm khuya.“Cả dãy phố như rùng mình lên một cái, đất cát đâu trên ngói rớt
xuống trần kêu lộp độp, trần xi-măng lại đổ xuống gạch kêu lạch cạch như ma ném đá… Liên thinh vẫn nổ không dứt, từng chập điểm những tiếng nổ ầm của tạc đạn,
Trang 3832
của bách kích đạn, giống như pháo tràng ngày Tết điểm pháo đại giữa dòng.” (BNL
(1959a), tr9) Cả gia đình ông Nam Thành che chở, đùm bọc nhau, họ cố tìm chỗ để che thân, thoát khỏi cái chết “ngang hông” của những trận mưa bom bão đạn Trong hành trình sống ấy, bên cạnh những nụ cười hạnh phúc thấp thoáng những nỗi buồn
bất chợt của sự cô đơn, lạc lõng Đò dọc là bao sự lạc lõng của những người con xa
quê, những cuộc di dân “Nam tiến”, những chuyến đò ngược xuôi tìm bến đỗ bình
yên khiến cho lòng người buồn tủi trên chính quê cha đất tổ “Đó là ánh sáng đô
thành mà mới hôm qua đây họ còn sống lộn trong đó Mới hôm qua nầy? Ừ! Nhưng sao mà nghe như lâu quá rồi, nghe như xa lắm rồi Nỗi nhớ xứ, nhớ nhà minh mông như là họ đã lìa khỏi quê cha đất tổ.” (BNL (1959a), tr.45) Cuộc sống nơi miệt
vườn Thủ Đức lúc bấy giờ còn vắng vẻ, hiu quạnh đến nỗi con người cảm thấy cô
đơn trước cái không gian rộng lớn ấy “Đây là buổi chiều đầu tiên mà bốn cô con
gái sống ở thôn quê Lòng họ bỗng nghe buồn minh mông quá, khiến họ kinh ngạc cho số phận họ, mới hồi sáng còn ở chốn phồn hoa đô hội, rồi chớp mắt một cái thì bây giờ ngồi giữa cảnh đìu hiu, cô quạnh này, và không biết về sau sẽ ra sao.”
(BNL (1959a), tr.41) Cả gia đình ông Nam Thành quay quần trong ngôi nhà thấp
bé, tạm bợ bên ngọn đèn dầu hôi le hoe mà chính nhân vật trong truyện cũng thấy
đời người như kiếp phù du “Đời người như kiếp phù du; Sớm còn tối mất công phu
lỡ làng” hay “Canh khuya thắp chút dầu dư; Tim loan cháy vụn, sầu tư một mình Canh khuya thắp dĩa dầu đầy; Dĩa dầu vơi hết, nước mắt này không vơi.” (BNL
(1959a), tr.42,65) Không chỉ là nỗi cô đơn của những con người xa xứ mà là nỗi
đơn côi của những cô con gái trong gia đình ông bà Nam Thành ở nơi miệt vườn Thủ Đức vắng vẻ ấy, khi các cô không có một bóng hi vọng về những người bạn cùng trang lứa Trong những đêm dài vắng vẻ nơi “khỉ ho cò gáy”, quanh quẩn chỉ thấy những bóng đèn loe lóe, tiếng côn trùng kêu và cuộc sống tuần hoàn theo quỹ đạo quay của trái đất hết ngày rồi tới đêm Cuộc sống của họ diễn ra hằng ngày cứ tẻ nhạt như thế
Con người cô đơn trong tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc không chỉ là cái cô
Trang 3933
đơn giữa thời cuộc mà còn là nỗi buồn trống vắng, lạc lõng của số phận Trong Gieo
gió gặt bão là sự cô đơn thầm lặng khi con người đã có hạnh phúc trong tay, Nho và
Hảo – đôi vợ chồng từng yêu thương nhau tha thiết, gắn kết bên nhau bao tháng
ngày chung sống nhưng ngôi nhà thiếu tiếng nói cười của trẻ con lại trở nên vắng vẻ đáng sợ Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến những nỗi đau, những toan tính ích kỉ cho bản thân để rồi người gieo gió lại phải gặt bão giông trong chính cuộc đời mình Người vợ chính thức lại thực sự bị lạc lõng trong tổ ấm gia đình, lạc lõng và cô đơn bên người chồng đã từng đầu gối tay ấp Bởi lẽ giờ đây, Nho đã chia sớt tình yêu
của mình cho người thứ ba đó là Liên, cô cháu gái của Hảo dưới quê lên chơi “Nho
đi với vợ vẫn bảnh như thường Nhưng đi với Liên ông thích hơn Liên trẻ hơn, cặp Nho – Liên chắc chắn người ta trầm trồ hơn Nhưng không phải vì thế mà ông thích… Đi với một cô gái ngầm hiểu cô là vợ của mình quả là có thích hơn đi với một cô gái nghĩ khác Thích nhứt là được những kẻ bán hàng mời mọc: “Ông bà mua giùm chục cam.” (BNL (1959b), tr.89) Trước những toan tính của người cô,
Liên đã sinh được một thiên thần bé nhỏ cho Nho Sự xuất hiện của bé Nhã khiến cho Hảo cảm thấy càng lạc lõng giữa dòng đời, dường như hạnh phúc đang đến với
Nho và Liên Hảo thực sự cô đơn, đau khổ trước âm mưu dàn dựng của nàng “Mưu
sâu của bà, bà cắn răng bóp bụng lập ra và thi hành vì quyết bảo vệ quyền lợi của riêng bà Nhưng dầu sao, bà cũng nhiều tình cảm, không để lí trí lấn át mọi việc được Nên chi bà đau khổ trước, đau cái niềm đau của một bà vợ có chồng yêu người khác.” (BNL (1959b), tr.61) Hảo đã tự đẩy mình ra khỏi Nho, khỏi cái hạnh
phúc mong manh giản đơn mà nàng từng có Những gì mà Hảo trải qua khiến cho con người phải suy ngẫm đến những suy tính sai trái trước dòng đời, người tính không bằng trời tính, gieo gió sẽ gặt bão
Trong Tỳ vết tâm linh, một trong những tiểu thuyết khiến ta phải suy ngẫm về
cuộc đời của mỗi nhân vật, đặc biệt là những con người không may mắc phải chứng bệnh tâm thần, họ phải đối mặt gần như tuyệt đối với cái cô đơn của cuộc đời mình
Thế giới của họ mịt mù, không ánh sáng và được xem là thứ “Thái bình điên quốc”
Trang 4034
nghĩa là thế giới của người điên theo lời của Nguiễn Ngu Í, một nhà thơ điên tài hoa
Từ đó, chúng ta hiểu và cảm thông cho những con người bị bệnh tâm thần phải sống
cuộc đời như những con thiêu thân với cái xác không hồn “Đây là nơi nương náu
cuối cùng của những cuộc đời bị “Chém treo ngành”, không dứt đoạn ngon lành mà còn dính lại với thế gian bằng một sợi chỉ mỏng manh như tơ nhện, mấy giây ý thức một ngày, một tuần, một tháng Đau xót là ở điểm đó.” (BNL (1973), tr.1185) Bà
nội lớn của Liễu, hay chính Bích và Liễu là những con người thật đáng thương Những biến động trong cuộc đời đầy cay đắng, khổ đau gây nên những chấn động
về mặt tinh thần khiến họ trở nên như những con thiêu thân
Ông Hóa trong Uống lộn thuốc tiên đã sống những chuỗi ngày cô đơn trước
số phận Nỗi cô đơn của người chồng khi còn một mình trên cõi đời “Ông Hóa cô
đơn quá Từ ngày bà Hóa qua đời, cách đây mười năm, ông trơ trọi một thân với đóng tiền mà ông không biết làm gì… Ông Hóa ngồi sau bàn viết nhìn căn phòng minh mông này mà chán ngán… Chưa bao giờ mà gian phòng nầy, ngôi nhà nầy, khu vườn quanh nhà nầy lại quạnh quẽ đìu hiu đến thế.” (BNL, 1965) Ông cũng
muốn tìm một người vợ về để hủ hỉ, vui vẻ sau một ngày làm việc vất vả trở về mái
ấm gia đình, rồi có những đứa con, đứa cháu như bao người Ông muốn tìm vợ chứ không phải cập bồ vì vậy ông rất chín chắn trong suy nghĩ Mỗi ngày trôi qua, ông gắng chịu đựng Sự cô đơn triền miên kéo dài suốt mười năm Ông nhìn những đôi nam nữ hạnh phúc bên nhau mà mong muốn mình cũng tìm được người vợ trẻ đẹp
dù trong đầu ông hiện lên ý nghĩ “già mà còn chơi trống bỏi” Và sự thành công của
cuộc thỏa hiệp giữa ông Hóa và ông Hoạch đã khiến cô gái hai mươi xuân xanh đóng thuyền tại bến đỗ này Cô con trưởng của ông Hoạch tên Minh mà còn được gọi với bí danh Huyền Trân, đã đồng ý lấy một người chồng vì món nợ của gia đình Nhưng nàng không hề biết người chồng ấy lớn hơn mình ba mươi mấy tuổi Huyền Trân thật sự cô đơn trước người chồng già trong căn nhà rộng lớn, giàu có Mặc dầu, ông Hóa đã cưng chiều nàng hết mực để nàng được vui lòng, xóa đi khoảng cách
tuổi tác với cô vợ trẻ đẹp dẫu biết rằng đó là một việc vô cùng khó khăn “Huyền