TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘTKHOA SỬ BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2014 - 2015 XÉT GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA SỬ
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2014 - 2015
XÉT GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ
ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT NĂM 2015”
VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM TRONG CUỘC CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC GIAI ĐOẠN 1930-1945
Thuộc nhóm ngành khoa học: Xã hội và Nhân văn
Bình Dương, tháng 3 năm 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA SỬ
BÁO CÁO ĐỀ CƯƠNG
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2014 - 2015
XÉT GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ
ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT NĂM 2015”
VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM TRONG CUỘC CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC GIAI ĐOẠN 1930-1945
Thuộc nhóm ngành khoa học: Xã hội và Nhân văn
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thành Quốc Giới tính: Nam
Trang 3UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung:
Tên đề tài: “Vị trí, vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc giai đoạn 1930-1945”
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thành Quốc
Hoàng Công Hòa
Võ Thị Hồng Nhung Lớp: D11LS01 Khoa: Sử Năm thứ: 4 Số năm đào tạo: 4 năm
Người hướng dẫn: TS Huỳnh Thị Liêm
2 Mục tiêu đề tài:
Tìm hiểu sự ra đời, phát triển và đấu tranh của phong trào công nhân từ khi có Đảng đến cách mạng Tháng Tám 1945 thắng lợi Đồng thời, đánh giá sự cống hiến của giai cấp công nhân trong giai đoạn 1930 - 1945.
3 Tính mới và sáng tạo:
Đây là đề tài đã khắc họa quá trình đấu tranh của giai cấp công nhân giai từ khi có Đảng thành lập đến cách mạng Tháng tám năm 1945 thành công Qua đó, nhận xét cũng như đánh giá vai trò tiên phong của giai cấp công nhân trong công cuộc giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân Pháp.
4 Kết quả nghiên cứu:
Kết quả đề tài nghiên cứu góp phần tạo điều kiện cho các bạn học sinh viên thêm nguồn tài liệu để tìm tòi và nghiên cứu về giai cấp, phong trào đấu tranh của công nhân giai đoạn 1930 – 1945 Từ đó, dẫn đến sự thắng lợi trong quá trình thắng lợi, thành công của cách mạng Tháng tám năm 1945.
5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài:
Giúp cho toàn thể những ai quan tâm đến giai cấp công nhân để hiểu hơn những đóng góp và vai trò của giai cấp này trong tiến trình lịch sử của nước ta.
Bổ sung tư liệu cho học phần “Mấy vấn đề về lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam” đang giảng dạy cho sinh viên Khoa Sử - trường Đại học Thủ Dầu Một.
Trang 4Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực hiện đề tài:
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Ngày tháng 04 năm 2015
Xác nhận của lãnh đạo Khoa Người hướng dẫn
TS Huỳnh Thị Liêm
Trang 5UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: Nguyễn Thành Quốc
Sinh ngày: 18 tháng 10 năm 1992
Nơi sinh: Đồng Nai
Lớp: D11LS01 Khóa: 2011 - 2015
Khoa: Sử
Địa chỉ liên hệ: phường Thái Hòa, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
Điện thoại: 0979.442.987 Email: bmissn1993@gmail.com
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
* Năm thứ 1:
Ngành học: Sư phạm Lịch sử
Khoa: khoa học Xã hội và Nhân văn
Kết quả xếp loại học tập: Trung bình khá
Sơ lược thành tích: đạt thành tích xuất sắc trong công tác Đoàn và phong tràothanh niên năm học 2011 - 2012
* Năm thứ 2:
Ngành học: Sư phạm Lịch sử
Khoa: khoa học Xã hội và Nhân văn
Kết quả xếp loại học tập: Trung bình Khá
Sơ lược thành tích: đạt thành tích xuất sắc trong công tác Đoàn và phong tràothanh niên năm học 2012 - 2013
* Năm thứ 3:
Ngành học: Sư phạm Lịch sử
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Trước hết, chúng tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo trường Đại họcThủ Dầu Một mở ra cuộc thi nghiên cứu khoa học dành cho sinh viên để giúpchúng tôi mở rộng, học hỏi, trau dồi tri thức và rèn luyện kỹ năng nghiên cứukhoa học
Đặc biệt, chúng tôi xin chân thành biết sâu sắc đến Tiến sĩ Huỳnh ThịLiêm đã giúp đỡ, hướng dẫn và hỗ trợ tận tâm trong suốt quá trình làm đề tàinghiên cứu
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn quý mến và sâu sắc đến gia đình, bạn bè đãluôn luôn quan tâm, hỗ trợ cũng như luôn ủng hộ Đồng thời chúng tôi cũngxin bày tỏ lòng cảm ơn đến cơ quan và các anh chị nhân viên của thư việnTổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, thư viện tỉnh Bình Dương và thư viện đại
học Yhu3 Dầu Một đã hết lòng giúp đỡ trong việc tìm hiểu đề tài “Vị trí, vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc giai đoạn 1930-1945” để chúng tôi hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu khoa
học này
Trang 8MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN 5
1.1 Khái niệm giai cấp công nhân 5
1.2 Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân 7
1.3 Đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam 11
CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT BỐI CẢNH THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 – 1945 12
2.1 Giai đoạn 1930 – 1936 12
2.1.1 Bối cảnh Thế giới 12
2.1.2 Bối cảnh Việt Nam 14
2.1.2.1 Về kinh tế 14
2.1.2.2 Về xã hội 15
2.1.2.3 Về chính trị 17
2.2 Giai đoạn 1936 – 1939 17
2.2.1 Bối cảnh Thế giới 17
2.2.2 Bối cảnh Việt Nam 19
2.2.2.1 Về kinh tế 19
2.2.2.2 Về xã hội 20
2.2.2.3 Về chính trị 21
2.3 Giai đoạn 1939 – 1945 22
2.2.1 Bối cảnh Thế giới 22
2.2.2 Bối cảnh Việt Nam 22
2.2.2.1 Về kinh tế 22
2.2.2.2 Về xã hội 24
Trang 92.2.2.3 Về chính trị 24
CHƯƠNG 3: VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM TRONG CUỘC CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC GIAI ĐOẠN 1930 – 1945 26
3.1 Quá trình ra đời và phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam 26
3.2 Quá trình đấu tranh của công nhân Việt Nam 28
3.2.1 Giai cấp công nhân trong cao trào cách mạng 1930-1931 28
3.2.2 Năm 1937 đỉnh cao phong trào công nhân 33
3.2.3 Cuộc đấu tranh của công nhân từ đầu 1941-1943 37
3.2.4 Phong trào công nhân từ 1943-1945 40
3.3 Vai trò của giai cấp công nhân trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 44
3.4 Vị trí, vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam giai đoạn 1930-1945 50
3.5 Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm 51
3.6 Đánh giá và nhận xét phong trào công nhân giai đoạn 1930-1945 52
KẾT LUẬN 55
TÀI LIỆU KHAM THẢO 57
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đã trải qua hàng nghìn năm đấu tranh để bảo vệ dân tộc, chủquyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia Trải qua các cuộc khởi nghĩa, phong tràonông dân, đấu tranh của nhiều tầng lớp trong xã hôị nhưng vẫn chưa tìm đượccon đường giải phóng dân tộc phù hợp Vì thế, công cuộc giải phóng đất nướckhỏi ách đô hộ, thuộc địa vẫn diễn ra với những cuộc nổi dậy đấu tranh khá lẻ tẻ
về quy mô, thành phần tham gia và lãnh đạo Chưa tận dụng tốt thời cơ trong vàngoài nước làm động lực tiến hành tổng khởi nghĩa Do đó, cần phải có một tổchức đứng lên lãnh đạo và một giai cấp làm nồng cốt lãnh đạo cuộc cách mạng
để giải phóng dân tộc
Công cuộc ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành đã thổi làngió mới về mặt tư tưởng khi lựa cho con đường giải phóng dân tộc phải là: cáchmạng vô sản và điều đặc biệt là đặt vấn đề dân tộc lên hàng đầu Người chuẩn bị
kĩ càng về lý luận, tư tưởng để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Nhưng vấn
đề lựa chọn giai cấp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc khác hẳn vớicác giai đoạn trước, đó là giai cấp công nhân
Qúa trình hình thành giai cấp công nhân ngày một tăng nhanh về số lượng
do bị bóc lột, bần cùng hóa chuyển từ giai cấp nông dân sang công nhân Chính
vì lẽ đó, mối quan hệ công – nông ngày càng mật thiết với nhau Do điều kiện,hoàn cảnh sống mà giai cấp công nhân ngăn nắp, kỉ cương hơn, họ tập trung nên
dễ truyền bá tư tưởng, đoàn kết, gắn bó với nhau
Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trước khi có sự ra đời củaĐảng diễn ra hầu như chỉ đòi quyền lợi giai cấp của mình cùng với hoạt độngriêng lẻ, đố kị lẫn nhau của một số tổ chức Cần thống nhất các tổ chức lại thànhmột để đoàn kết toàn dân, không chia bè kết phái cần thống nhất tư tưởng, mụctiêu chung
Sự ra đời của Đảng (3/2/1930) là một bước ngoặc lớn của lịch sử ViệtNam nói chung đã dẫn đường chỉ lối nhân dân ta trong suốt quá trình giải phónghoàn toàn đất nước Ấy cũng có phần không nhỏ của giai cấp công nhân tiênphong, đấu tranh không ngừng nghỉ, bền vững quyết giành được độc lập dân tộc
Do đó, việc tìm hiểu về giai cấp công nhân từ khi có Đảng lãnh đạo đếncuộc cách mạng Tháng Tám thành công là rất quan trọng Thấy được vai trò tolớn của giai cấp này trong tiến trình lịch sử Việt Nam Đã đẩy cách mạng ViệtNam lên một tầm cao mới với sự thắng lợi vẻ vang để rồi khai sinh ra nước ViệtNam dân chủ cộng hòa
Trang 11Hiện nay, đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóathì việc nghiên cứu: “Vị trí, vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam trong cuộccách mạng giải phóng dân tộc giai đoạn 1930-1945” là rất cần thiết, nêu cao vaitrò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và vai trò của giai cấp công nhânxuyên suốt trong lịch sử
Đề tài một lần nữa khẳng định giai đoạn 1930 – 1945 là giai đoạn vàngtrong lịch sử Việt Nam cả về đường lối lẫn tư tưởng mà thế hệ sau phải học hỏi,nêu cao tinh thần yêu nước và quyền tự chủ dân tộc
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những vấn đề chính của cách mạng Việt Nam thì vai trò lãnh đạocủa giai cấp công nhân là vấn đề căn bản Cho nên lịch sử của giai cấp côngnhân đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu với những công trình mang giá trịlịch sử cao
Tác giả Trần Văn Giàu (2007), “Tổng tập”, được phát hành năm 2007 bởi
nhà xuất bản Quân đội nhân dân Tác phẩm gồm có hai phần là giai cấp côngnhân Việt Nam, sự hình thành và phát triển của nó từ giai cấp tự mình đến giaicấp cho mình (gồm có 8 chương); Giai cấp công nhân Việt Nam từ Đảng Cộngsản thành lập đến cách mạng Tháng Tám thành công (1936-1945) (gồm có 7chương)
Ban nghiên cứu lịch sử Công đoàn Việt Nam “Lịch sử phong trào công
nhân và công đoàn Việt Nam (1860-1945)”, do nhà xuất bản Lao động phát
hành vào năm 1976 Trong ấn phẩm, tác giả làm rõ sự ra đời của giai cấp côngnhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam, thời kỳ đấu tranh tự phát trong phongtrào công nhân Việt Nam (1860-1929) trong 2 chương Vai trò giai cấp côngnhân và công hội trong thời kỳ cách mạng dân tộc da6nc hủ nhân dân ở ViệtNam (1930-1945) nội dung gồm có 5 chương
Đỗ Quang Hưng trong “Lịch sử giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn
Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XXI”, ấn phẩm được phát hành vào
năm 2011, do nhà xuất bản Lao động Tác phẩm gồm có 5 phần chủ yếu đề cậpđến quá trình xây dựng và phát triển, những đóng góp to lớn của giai cấp côngnhân, công đoàn Việt Nam trong mọi thời kỳ cách mạng và đồng thời đem đếnnhững tư liệu mới về những năm tháng đầu thế kỷ XXI mà Tổng Liên đoàn laođộng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đang thực hiện thắng lợi đường lốiđổi mới đất nước
Đinh Xuân Lâm, “Đại cương lịch sử Việt Nam – tập II”, được nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam phát hành rộng rãi cho độc giả vào năm 2011, tác phẩmnày được chia làm 3 phần Phản ánh một cách tương đối về toàn diện cuộc đấu
Trang 12tranh của nhân dân ta, không chỉ về chính trị quân sự mà cả về kinh tế, văn hóa
và xã hội
Trên đây là những công trình có giá trị khoa học lớn, chúng tôi kế thừanhững giá trị đó để phát triển và hoàn thiện đề tài hơn
3 Mục tiêu đề tài
Tìm hiểu sự ra đời, phát triển và đấu tranh của phong trào công nhân từ khi
có Đảng đến cách mạng Tháng Tám 1945 thắng lợi Đồng thời, đánh giá sựcống hiến của giai cấp công nhân trong giai đoạn 1930 - 1945
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Sự ra đời và phát triển; vị trí và vai trò của giai cấp công nhân
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Việt Nam
Thời gian: 1930 - 1945
5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
5.1 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu
Đối với phương pháp luận trong đề tài nhóm tác giả dựa trên quan điểmcủa chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giai cấp, đườnglối của Đảng cộng sản cho việc nghiên cứu của nhóm
Trong đề tài phương pháp nghiên cứu cụ thể: “Vị trí, vai trò của giai cấp
công nhân Việt Nam trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc giai đoạn 1945”, phương pháp nghiên cứu chủ yếu của chúng tôi là phương pháp lịch sử
1930-và phương pháp logic Đồng thời, chúng tôi còn sử dụng thêm các phương phápliên ngành như: phương pháp thống kê, phân tích và so sánh
5.2 Nguồn tư liệu
Để thực hiện tốt bài nghiên cứu nhóm tác giả sử dụng các nguồn tài liệusách, báo, tạp chí, Internet để làm rõ đề tài Nguồn tài liệu được tham khảo chủyếu từ: thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, thư viện tỉnhBình Dương và thư viện trường Đại học Thủ Dầu Một
Trang 13công nhân Việt Nam” đang giảng dạy cho sinh viên Khoa Sử - trường Đại học
Thủ Dầu Một
7 Bố cục
Chương 1: Khái quát về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Đưa ra khái niệm về giai cấp công nhân, sứ mệnh của giai cấp công nhântrên thế giới và đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam
Chương 2: Khái quát bối cảnh thế giới và Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945
Chủ yếu khái quát về bối cảnh thế giới dẫn đến ảnh hưởng tình hình kinh
tế, chính trị và xã hội Việt Nam ở các giai đoạn như: 1930-1936; 1936-1939;1939-1945
Chương 3: Vị trí, vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc giai đoạn 1930-1945
Đề cập đến quá trình ra đời và phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam;Quá trình đấu tranh của công nhân Việt Nam; Vai trò của giai cấp công nhântrong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945; Đánh giá và nhận xét phongtrào công nhân giai đoạn 1930-1945
Trang 14CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN
1.1 Khái niệm giai cấp công nhân
Giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của giai cấp đó luôn là đối tượngnghiên cứu trong mọi thời đại, từ xưa các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác như: C.Mác, Ph Ăngghen, V.I.Lênin là những người đã quan tâm, nghiên cứu và đưa ranhững học thuyết về giai cấp công nhân Học thuyết về giai cấp công nhân đã
được họ trình bày trong các tác phẩm như “Nội chiến ở Pháp” (1871) “Phê phán
cương lĩnh Gôta” (1875), “Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản” (1847), “Sáng kiến
vĩ đại”… Ở đây, khi các ông nhận ra rằng những mâu thuẫn và bất công trong xã
hội là do chế độ tư bản gây ra và người bị áp bức bóc lột thậm tệ nhất trong xãhội là giai cấp công nhân Nghiên cứu về giai cấp này các ông không chỉ thấyđược những nỗi khổ nhục, bất công mà người công nhân phải chịu các ông cònnhận thấy được khả năng cũng như sức mạnh của giai cấp công nhân trong sựnghiệp giải phóng mình và giải phóng nhân loại để tiến tới một xã hội công
bằng, tốt đẹp hơn Trong “Tình cảnh giai cấp công nhân Anh” Ăngghen đã viết:
“Giai cấp vô sản không chỉ là giai cấp chịu đau khổ mà còn là giai cấp có sứ
mạng lịch sử và tiền đồ rất vẻ vang”, khác với nhà các nhà không tưởng
Xanhximông, Phuriê, Ôoen vào thời kỳ đó cũng đã có tư tưởng thấy được sự bấtcông của xã hội tư bản và nghĩ rằng phải có một xã hội công bằng hơn, ở đókhông có áp bức bóc lột ở đó mọi người được sống trong hoà bình, ấm no, hạnhphúc nhưng những tư tưởng của các ông đã không trở thành hiện thực vì các ôngkhông hiểu được vai trò lịch sử của giai cấp công nhân đến thế kỷ XIX, Mác-Ăngghen bước vào trường đấu tranh chính trị Tuy Mác-Ăngghen không phải làgiai cấp công nhân, nhưng hai ông đã nghiên cứu phong trào công nhân ở Châu
Âu và phát hiện ra được một điều mà các nhà không tưởng đó không thấy được
là giai cấp công nhân là những người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản và là lựclượng chủ yếu xây dựng xã hội mới Và kế thừa tư tưởng của các nhà Macxít,Chủ tich Hồ Chí Minh – Lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã nhận thấy đượcvai trò sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân Khi ra đi tìm đường cứu nước, đếnđược luận cương của Lênin “Về vấn đề giải phóng dân tộc và thuộc địa” Người
đã tìm thấy và khẳng định con đường giải phóng dân tộc Việt Nam là con đường
“Cách mạng vô sản” Hồ Chí Minh luôn đặt niềm tin lớn lao vào giai cấp côngnhân, khẳng định sứ mệnh lịch sử và vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhântrong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chế độ mới Người
khẳng định: “để dành lấy thắng lợi, cách mạng phải nhất định phải do giai cấp
Trang 15công nhân lãnh đạo vì nó là giai cấp tiên tiến nhất, có kỷ luật nhất và có tổ chức chặt chẽ nhất” [7:56]
Giai cấp công nhân thế giới ra đời trong cuộc cách mạng công nghiệp vàtrưởng thành trong quá trình phát triển của CNTB Cuộc cách mạnh công nghiệpđược thực hiện đầu tiên ở nước Anh trong nhưĩng năm 60 của thế kỉ XVIII vàsau đó lần lượt được thực hện ở các nước Tây Âu Cuộc cách mạng đó đã làmthay đổi mọi cách sản xuất từ trước đến lúc bấy giờ, chuyển từ lao động bằngtay sang lao động bằng máy móc, đưa năng xuất lao động tăng lên một cáchnhanh chóng và rộng lớn một cách chưa từng thấy Song cách mạng công nghiệpdiễn ra ở đâu thì ở đó toàn bộ công nghiệp chuyển vào tay các nhà tư bản lớn,còn những người sản xuất nhỏ thì bị phá sản, buộc phải đi làm thuê cho các nhà
tư bản, “những nhà tiểu công nghiệp, tiểu thương nghiệp và thực lợi nhỏ, thợ thủcông và nông dân tất cả các tầng lớp dưới của tầng lớp xưa kia, đều rơi xuốnghàng ngũ vô sản” Vì lẽ đó Ăngghen kết luận”giai cấp vô sản là do cuộc cáchmạng công nghiệp sản sinh ra” Những người bán sức lao động của mình đểkiếm sống Và chính tiêu chí này đã làm cho giai cấp công nhân trở thành giaicấp đối kháng với giai cấp tư sản
Ngày nay với sự phát triển của CNTB trong nửa sau của thế kỉ XX, bộmăt của giai cấp công nhân có nhiều thay đổi khác trước Sự phát triển của lựclượng sản xuất xã hội hiện nay đã vượt ra trình độ văn minh công nghiệp trướcđây Sự xã hội hoá và phân công lao động xã hội mới, cơ cấu của giai cấp côngnhân hiện đại, các hình thức bóc lột giá trị thặng dư…Đã làm cho diện mạo củagiai cấp công nhân hiện đại không còn giống với diện mạo của Mác mô tả trongthế kỉ XIX Song những thuộc tính cơ bản của Mác đã phát hiện ra vẫn cònnguyên giá trị, vẫn là cơ sở phương pháp luận để cho chúng ta nghiên cứu giaicấp công nhân hiện đại, đặc biệt là để làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử của giai cấpcông nhân trong thời đại ngày nay Và căn cứ vào hai chỉ tiêu cơ bản nói trên,chúng ta có thể định nghĩa giai cấp công nhân: “Giai cấp công nhân là một tậpđoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển củanền đại công nghiệp, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất
xã hội hoá ngày càng cao; Là lực lượng sản xuất cơ bản và tiên tiến trực tiếptham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo cácquan hệ xã hội; Là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ CNTB lênCNXH Ơ các nước tư bản, giai cấp công nhân là những người không có hoặc về
cơ bản không có tư liệu sản xuất, phải đi làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giaicấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; ở các nước xã hội chủ nghĩa, họ là nhữngngười đã cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã
Trang 16hội và cùng nhau lao động vì lợi ích chung của toàn xã hội trong đó có lợi íchchính đáng của bản thân họ.
1.2 Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Giai cấp vô sản các nước, dù màu da, tiếng nói, phong tục tập quán khácnhau, nhưng có những quyền lợi cơ bản giống nhau, họ có một nguyện vọngchung là giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột, và phải chống với một kẻ thùchung là giai cấp tư sản ở nước mình, cùng sự cấu kết của giai cấp ấy trên phạm
vi thế giới Gắn liền với kinh tế tư bản chủ nghĩa, giai cấp vô sản không sốngphân tán và biệt lập như những người lao động khác trong nền kinh tế tự cung,
tự cấp trước kia Giai cấp vô sản thế giới ra đời khi thị trường thế giới đang hìnhthành, những mối quan hệ về kinh tế, chính trị, về văn hoá giữa các nước đangphát triển mạnh mẽ Đường sắt, tàu thuỷ, điện báo…Mọi phương tiện giao thôngđều do nền công nghiệp lớn sản xuất ra làm dễ dàng cho việc thiết lập quan hệgiữa vô sản nước này với vô sản nước khác vì vậy giai cấp vô sản sớm trở thànhmột lực lượng quốc tế ngày càng đông đảo, ngày càng chống lại nền thống trịcủa CNTB
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định giai cấp côngnhân hiện đại là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để, có khả năng tổ chức vàlãnh đạo toàn thể nhân dân lao động tiến hành cải biến cách mạng, từ hình tháikinh tế xã hội tư bản sang hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa, giảiphóng nhân loại khỏi ách áp bức, bất công và mọi hình thức bóc lột Nói mộtcách khái quát là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là: Xoá bỏ chế độTBCN xoá bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhândân lao động và toàn thể nhân loại khỏi ách áp bức bóc lột, nghèo làn lạc hậu,
xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh Ph.Ăngghen viết: “thực hiện sự
nghiệp giải phóng thế giới ấy-đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại” VI.Lênin cũng chỉ rõ “điểm chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai trò lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội
xã hội chủ nghĩa”.
Học thuyết Mác-Ăngghen về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân làluận chứng khoa học về địa vị kinh tế-xã hội và vai trò lịch sử của giai cấp côngnhân, về những mục tiêu, con đường để giai cấp đó hoàn thành sứ mệnh lịch sửcủa mình Học thuyết ấy đã chứng minh rằng, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân được quy định bởi những điều kiện khách quan: Đó là “cùng với sự phát
triển của nền đại công nghiệp, chính cái nền tảng trên đó giai cấp tư sản đã sản xuất và chiếm hữu sản phẩm của nó, đã bị phá sập dưới chân giai cấp tư sản Trước hết giai cấp tư sản sản sinh ra những người đào huyệt chân chính Sự sụp
Trang 17đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”.
Và lý thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đã được Mác vàĂngghen trình bày một cách cụ thể sau:
Trước hết, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không phải là việc thựchiện sự chuyển biến từ chế độ tư hữu này sang chế độ tư hữu khác, không phải
là từ hình thức bóc lột này sang hình thức bóc lột khác mà ngược lại mục tiêucuối cùng của giai cấp công nhân là xoá bỏ giai cấp, xoá bỏ chế độ tư hữu tư bảnchủ nghĩa về tư liệu sản xuất để xoá bỏ mọi hình thức bóc lột người, tức là giảiphóng được giai cấp, giải phóng được xã hội, giảiphóng con người Đây chính
là nội dung cốt lõi nhất của sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Tuy nhiên, đây là một quá trình hết sức lâu dài, vì vậy mọi cực đoan, nóngvội, muốn đốt cháy giai đoạn dùng biện pháp hành chính để thủ tiêu mọi hìnhthức tư hữu nhằm tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội thì chỉ mang lại những kết quảtiêu cực mà thôi.Nên giai cấp công nhân phải có những bước đi thận trọng, chắcchắn, có đường lối rõ ràng… Có như vậy giai cấp công nhân mới thực hiện được
sứ mệnh của mình
Giai cấp công nhân bị giai cấp tư sản áp bức,bóc lột nặng nề,họ là giai cấptrực tiếp đối kháng với giai cấp tư sản,và xét về bản chất họ là giai cấp cáchmạng triệt để nhất chống lại chế độ áp bức, bóc lột tư bản chủ nghĩa.Từ đó,quyđịnh sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân khác về tính chất và mục đích với
sứ mệnh lìch sử của giai cấp thống trị trước đó ở chỗ: tất cả phong trào lịch sử từtrước đến nay của giai cấp thống trị đều do thiểu số thực hiện hoặc đều mưu lợiích cho thiểu số.Còn phong trào giai cấp vô sản là do đa số thực hiện và mưu lợicho đa số vì giai cấp công nhân không giải phóng được mình nếu không giảiphóng được mình nếu không giải phóng được toàn dân tộc
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là sự kết hợp chặt chẽ và thốngnhất biện chứng của hai sự nghiệp cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hộimới,trong đó mặt xây dựng là quan trọng nhất, có tính quyết định nhất Sự kếthợp hai mặt này được thực hiện trong cả hai giai đoạn: giai đoạn đấu tranh giànhchính quyền và giai đoạn xây dựng xã hội mới
Sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân là sự nghiệp vừa mang tính dân tộc vừamang tính quốc tế cho nên phải kết hợp chặt chẽ giữa nghĩa vụ dân tộc và nghĩa
vụ quốc tế vì sứ mệnh của giai cấp công nhân là sứ mệnh quốc tế, giai cấp côngnhân có điều kiện giống nhau,và đặc điểm giống nhau và có kẻ thù chung là chủnghĩa tư bản quốc tế Vì vậy, lợi ích giai cấp, dân tộc, quốc tế gắn liền với nhau
Trang 18và nó có mối quan hệ biện chứng với nhau Sứ mệnh lịch sử của giai cấp côngnhân chỉ có thể hoàn thành khi xây dựng hoàn thành xã hội mới – xã hội cộngsản chủ nghĩa ở từng nước cũng như trên toàn thế giới.
Như vậy sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không do ý muốn chủquan của giai cấp công nhân hoặc do sự áp đặt của nhà tư tưởng nào đó mà dođiều kiện khách quan quy định, đó chính là điều kiện kinh tế xã hội của giai cấpcông nhân quy định xứ mệnh lịch sử đó
Lịch sử thế giới đã chứng minh những kết luận của C.Mác-Ph.Ăngghen vàV.I.Lênin về sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân là đúng đắn Tuy nhiên, cuộcđấu tranh của giai cấp công nhân nhằm hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mìnhkhông phải diễn ra một cách bằng phẳng mà họ phải trả giá bằng máu và nướcmắt của mình, giai cấp công nhân đã trai qua những cuộc đấu tranh cam go,quyết liệt với giai cấp tư sản, chủ nghĩa tư bản
Trong chế độ tư bản giai cấp tư sản đã tập trung hàng vạn công nhân sảnxuất tập thể, với trình độ hợp lý hoá cao, nhưng đời sống của công nhân ngàycàng cực khổ, nạn thất nghiệp ngày càng tăng ăn không đủ no, mặc không đủ ấm
ở thì phải chui rúc trong những căn nhà tồi tàn Trái lại, bọn tư bản thì ngày lạicàng giàu có sung sướng, đời sống sinh hoạt cao Cho nên những người côngnhân thấy rõ hơn ai hết sự cần thiết phải đánh đổ chế độ xã hội bất công ấy, thủtiêu chế độ người bóc lột người để xây dựng một chế dộ xã hội mới công bằnghơn, trong đó không có tình trạng người bóc lột người, ai cũng có công ăn việclàm đầy đủ, ai cũng được sống tự do sung sướng Đó là mong muốn chủ quan vàcũng là mục đích của giai cấp công nhân trong quá trình chống lại áp bức bóc lộtcủa giai cấp tư sản Ngay từ khi mới ra đơì giai cấp công nhân đã có nhiều cuộcđấu tranh chống lại giai cấp tư sản
Lúc đầu cuộc đấu tranh còn lẻ tẻ, rời rạc, tự phát, sau đó, phát triển thànhnhững cuộc đấu tranh của công nhân trong cùng một công xưởng rồi đền cùngmột ngành công nghiệp, cùng một địa phương Tuy nhiên thời kỳ này phươngthức đấu tranh và mục đích đấu tranh của công nhân còn rất đờn giản, hình thứcđấu tranh thì cũng chỉ là bãi công bỏ xưởng nhằm vào mục đích kinh tế đòigiảm giờ làm chưa thấy rõ được nguồn gốc đau khổ thực sự của mình là cả chế
độ tư bản Đế cuối thế kỷ XVIII-đầu thế kỷ XIX, thì những cuộc đấu tranh củagiai cấp công nhân mới có những hành động đập phá nhà máy, phá vỡ máy móc.Càng đấu tranh, công nhân càng nhận thấy một điều muốn thắng được kẻ thù lớnđấy thì không còn cách nào khác giai cấp công nhân các nước phải liên kết lạimới có sức mạnh để chống lại kẻ thù giải phóng mình, giải phong giai cấp, giảiphóng dân tộc Nhận thấy điều đấy, từ chỗ không có tổ chức giai cấp công nhân
Trang 19đã tiến đến tổ chức ra công đoàn để lãnh đạo đấu tranh, và những công đoàn đầutiên đã xuất hiện ở nước Anh trong những năm 20, 30 của thế kỷ XIX.
Đến những năm 30, 40 của thế kỷ XIX, phong trào công nhân có nhữngbước phát triển mới: Các cuộc đấu tranh chẳng những đã liên kết được côngnhân trong cùng một ngành sản xuất, một địa phương mà còn liên kết được côngnhân trong pham vi cả nước, không phải chỉ chống lại từng nhà tư bản riêng lẻ
mà còn chống lại toàn bộ giai cấp tư sản Tiêu biểu cho phong trào đấu tranhphong trào của công nhân thời kỳ này là cuộc khởi nghĩa của công nhân Ly-Ông
ở pháp 1831-1834, phong trào Hiến Chương ở Anh năm 1835-1848 và cuộckhởi nghĩa của công nhân Dệt ở Đức 1844 Các cuộc khời nghĩa này của giaicấp công nhân đã đánh dấu một bước tiên mới của phong trào đấu tranh củacông nhân
Sự phát triển mạnh mẽ của đại công nghiệp tư bản chư nghĩa đã làm chođội ngũ công nhân lớn lên nhanh chóng và tập trung tời mức độ khá cao tại cáctrung tâm công nghiệp, đồng thời làm tăng thêm mức độ áp bức bóc lột đối vớigiai cấp công nhân, do đó, những cuộc đấu tranh mới của công nhân mới lại diễn
ra, đến cuối những năm 50- đầu những năm 60 của thế kỷ XIX phong trào côngnhân phát triển cao hơn nữa ở Pháp, Anh, Đức Song lúc này, phong trào côngnhân các nước vẫn còn tình trạng phân tán, sự tồn tại của nhiều phe nhómkhuynh hướng phi vô sản đang cản trở rất lớn cho sự thống nhất phong trào.Đặc biệt vào những năm 40 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa Mác ra đời với họcthuyết về cách mạng và khoa học như một ngọn đèn pha soi sáng con đường tiếnlên của phong trào công nhân và công nhân quốc tế Sự ra đời của chủ nghĩaMác là sự kiện vĩ đại của loài người, đã giai đáp kịp thời và chính xác vấn đề
của thời đại Nó là “khoa học về những quy luật phát triển của tự nhiên và của
xã hội,khoa học về cách mạng của quần chúng bị áp bức,bóc lột, khoa học về
sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội trong tất cả các nước,khoa học về kiến thiết
Cách mạng tháng Mười Nga như tiếng sét dội khắp năm châu, thức tỉnhhàng triệu người bị áp bức bóc lột trên trái đất, nhất là đã thức tỉnh các dân tộc
bị áp bức, mở đường giải phóng cho nhân dan các nước thuộc địa và phụ thuộc,trong đó có Việt Nam Cách mạng tháng Mười Nga đánh dấu một bước ngoặt
Trang 20lịch sử của phong trào cộng sản và phong trào công nhân quốc tế Từ đó, phongtrào đấu tranh của giai cấp công nhân trên thế giới đã nổ ra khắp nơi, ở rất nhiềunước giai cấp công nhân đã dành thắng lợi giải phóng được mình và giải phóngđược dân tộc.
Song sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không chỉ là giải phóng dântộc mà còn là xây dựng đất nước Thời đại nào mâu thuẫn giữa giai cấp côngnhân và giai cấp tư sản đều không thể điều hoà được, trong thời đại ngày nay,mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản được biểu hiện và quyđịnh bởi hai nguyên nhân chính vừa có phần riêng rẽ biệt lập, vừa có phần gắnkết với nhau Đó là: thứ nhất, cuộc đảo lộn bất ngờ và sâu sắc trong cục diện thếgiới từ sau sự tan vỡ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu;thứ hai, cuộc cách mạng khoa hoc-công nghệ bùng nổ từ những năm 70 đến đầunhững năm 80 và vẫn đang tiếp diễn đã thúc đẩy nền kinh tế, sản xuất thế giớiphát triển vượt bậc
2.3 Đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam
Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời sớm hơn giai cấp tư sản Việt Nam,sau chiến tranh thế giới thứ nhất phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chấtlượng Công nhân Việt Nam sống tập trung ở các trung tâm công nghiệp như
Hà Nội, Nam Định, Vinh, Sài Gòn…Giai cấp công nhân Việt Nammang đầy đủ những đặc điểm của giai cấp công nhân thế giới Đó là:
Một là, giai cấp tiên tiến nhất Do môi trường lao động công nghiệp kĩ
thuật hiện đại đã mở mang trí tuệ cho giai cấp công nhân, đồng thời cuộc đấutranh vì dân sinh dân chủ đã cung cấp những tri thức mới về chính trị xã hội cầnthiết để giai cấp công nhân trở thành giai cấp tiên tiến
Hai là, giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để nhất Do giai cấp
công nhân bị áp bức bóc lột nặng nề dưới chủ nghĩa tư bản và các chế độ ápbức bóc lột khác, họ có lợi ích cơ bản đối lập trực tiếp với lợi ích cơ bản của giaicấp tư sản Đồng thời họ có lợi ích phù hợp với lợi ích của đại đa số nhân dânlao động chỉ có thể giải phóng mình khi toàn xã hội được giải phong vì vậy họtiến hành cách mạng giải phóng mình và giải phóng toàn xã hội
Ba là, giai cấp công nhân Việt Nam cũng là giai cấp có tính kỉ luật cao nhất
được tôi luyện trong môi trường lao động công nghiệp, giai cấp công nhân cótinh thần đoàn kết và tổ chức thành lực lượng xã hội hùng mạnhtrong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp áp bức bóc lột
Đặc điểm chung cuối cùng của giai cấp công nhân Việt Nam với giaicấp công nhân quốc tế là đây là giai cấp có bản chất quốc tế do địa vị kinh tế
Trang 21xã hội của họ trên toàn thế giới là giống nhau, họ có khả năng đoàn kết đểthực hiện mục tiêu chung, xóa bỏ áp bức bóc lột bất công để xây dựng chủ nghĩa
xã hội, chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới
CHƯƠNG 2
Trang 22KHÁI QUÁT BỐI CẢNH THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
Để tìm lối thoát cho cuộc khủng hoảng, giai cấp tư sản ở nhiều nước tăngcường áp bức, bóc lột giai cấp công nhân, nhân dân lao động trong các nước tưbản và các nước thuộc địa, phát xít hóa nền chính trị tư sản, đàn áp các phongtrào đấu tranh của quần chúng Ráo riết chuẩn bị chiến tranh nhằm chia lại thuộcđịa và khu vực ảnh hưởng giữa các đế quốc với nhau, đồng thời chống Liên Xô
và phong trào cách mạng thế giới
Tình hình trên làm mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản,giữa giai cấp nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến và giữa các nước thuộcđịa, nửa thuộc địa với các nước đế quốc trở nên gay gắt
Quan hệ giữa các cường quốc tư bản chủ nghĩa vào đầu những năm 30 củathế kỷ XX chuyển biến ngày càng phức tạp, dần dần hình thành hai khối đối lập,một bên là Anh, Pháp, Mỹ với một bên là Đức, Ý, Nhật
Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở cácnước tư bản đòi cải thiện đời sống lên cao Phong trào đấu tranh chống áp bức,bóc lột của chủ nghĩa đế quốc, thực dân, nhằm giải phóng dân tộc trong cácnước thuộc địa và nửa thuộc địa ngày càng phát triển mạnh mẽ
Trong khi các nước tư bản chủ nghĩa lâm vào cuộc khủng hoảng, Liên Xôsau khi thắng thù trong, giặc ngoài, bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội giành những thành tựu to lớn trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1928 –1932), đưa Liên Xô từ một nước nông nghiệp, từng bước trở thành một nướccông nghiệp, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động không ngừngđược nâng cao
Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trong các nước thuộc địa và nửathuộc địa cũng phát triển mạnh mẽ ở các nước châu Á, châu Phi, Mỹ latinh
Trang 23Phong trào bãi công, biểu tình trong các nước tư bản chủ nghĩa như Anh, Pháp,
Mỹ, Đức đang trên đà phát triển mạnh và lan rộng nhiều nơi
Tại Pháp, cuộc khủng hoảng kinh tế nổ ra muộn hơn so với các nước khác,nhưng lại hết sức nặng nề và sâu sắc Khủng hoảng công nghiệp xen kẽ khủnghoảng nông nghiệp và khủng hoảng tài chính, cuộc khủng hoảng kéo dài mãicho đến năm 1936 Một số ngành sản xuất tới khi chiến tranh thế giới thứ IIbùng nổ vẫn chưa chấm dứt khủng hoảng Từ năm 1929 – 1935, hàng trăm xínghiệp dệt phá sản khiến cho sản lượng tơ, lụa, len, dạ giảm ½ Các sản phảmnông nghiệp chủ yếu đều giảm, thu nhâp quốc dân giảm 1/3 Năm 1935, trênnửa triệu người thất nghiệp, 50% công nhân bán thất nghiệp, hàng chục vạn tiểuthương, tiểu chủ phá sản Ngân sách Pháp hụt 10 tỷ Phơrăng vàng (năm 1933)
Do đó, tư sản Pháp tăng cường bóc lột giai cấp công nhân, nhân dân lao động ởtrong nước và các nước thuộc địa và phụ thuộc bằng nhiều chính sách tàn nhẫn.Nhìn chung, tình hình thế giới giai đoạn này có những chuyển biến đầyphức tạp, các nước tư bản châu Âu lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng, gâyảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế thế giới Trong khi đó thì ở Liên Xô, đã thựchiện thành công kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đưa nước Nga phát triển lên mộttầm cao mới, trở thành một nước có tiềm lực về kinh tế và quân sự hàng đầu thếgiới Trên thế giới đã dần dần hình thành hai phe đối lập nhau hoàn toàn là chủnghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản
2.1.2 Bối cảnh Việt Nam
Dưới tác động của cuộc khủng hoảng, nền kinh tế Việt Nam trở nên tiêuđiều thảm hại Kinh tế Việt Nam vốn đã nghèo nàn, lạc hậu, phụ thuộc vào kinh
tế Pháp, trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới, bước vào thời kỳ suy thoáitrầm trọng kéo dài
Về nông nghiệp thì sa sút nghiêm trọng Lúa gạo sản phẩm chính của ViệtNam sụt giá ghê gớm Năm 1929, giá 1 tạ gạo là 11 đồng, năm 1933 chỉ còn 3
Trang 24đồng Diện tích đất bỏ hoang năm 1930 là 200.000 hécta, năm 1933 lên tới370.000 hécta [9;298].
Trong sản xuất công nghiệp, hầu hết các ngành đều bị đình đốn, nhất làcông nghiệp khai khoáng Nếu năm 1929, tổng giá trị sản lượng khai khoáng củaĐông Dương là 18 triệu đồng thì năm 1934 chỉ còn 10 triệu Trong vòng 2 năm(1930, 1932), số lượng công nhân mỏ giảm từ 46.000 người xuống còn 33.700người
Về tài chính, chính quyền thực dân phá giá đồng bạc Đông Dương Ngânsách Đông Dương phải chi cho bộ máy thống trị và góp vào quỹ nước Pháp,năm 1931 chi 77% và trả tiền vay nợ 3,5% [9;298]
Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam rất nặng nề so với các thuộc địakhác của Pháp (chỉ sau Tây Phi), cũng như so với các nước trong khu vực nhưInđônêxia, Philíppin, Triều Tiên… Khủng hoảng kinh tế không chỉ bó hẹp trongkhuôn khổ các ngành tài chính, cũng không chỉ ảnh hưởng tới sự nghiệp kinhdoanh của các nhà tư bản thực dân, mà còn làm cho đời sống quảng đại quầnchúng nhân dân điêu đứng, đời sống kinh tế, chính trị toàn xứ thuộc địa bị đảolộn
2.1.2.2 Về xã hội
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và thiên tai đã tác động nặng nề đến tìnhhình kinh tế - xã hội Việt Nam đời sống của các tầng lớp nhân lao động hết sứcđiêu đứng Hậu quả của cuộc khủng hoảng không chỉ đè nặng lên giai cấp côngnhân, nông dân, mà còn ảnh hưởng lớn đến các tầng lớp lao động khác trong xãhội như tiểu thuổng, tiểu chủ, thợ thủ công, viên chức, trí thức cũng sống điêuđứng, địa chủ nhỏ cũng bị sa sút Một số tư sản dân tộc bị phá sản và vỡ nợ.Hậu quả lớn nhất về mặt xã hội mà khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 –
1933 gây nên cho các nước thuộc địa và phụ thuộc nói chung, Việt Nam nóiriêng, là tăng thêm mức nghèo khổ của những người lao động Nhiều công nhân
bị sa thải, số người có việc làm thì đồng lương ít ỏi
Trước khủng hoảng, lương của công nhân Việt Nam đã ở dưới mức tốithiểu Thời kỳ khủng hoảng kinh tế, lương của họ cảng thấp, không có đủ điềukiện để sống Gần 1/3 số công nhân bị thất nghiệp Ở Bắc Kỳ, 25.000 công nhân
bị sa thải Số còn lại tuy có việc làm nhưng lương bị cắt giảm từ 30% đến 50%[9;298]
Nói về đời sống thợ thuyền trong giai đoạn này, Nghị quyết Hội nghị cán
bộ Đảng Cộng sản Đông Dương xứ Bắc Kỳ họp từ ngày 17 đến 23 – 3 – 1935,viết: “Mấy năm gần đây, kinh tế khủng hoảng cứ kéo dài mãi, nhiều nhà máy bị
Trang 25đóng cửa, hàng ngàn thợ thuyền bị thất nghiệp, bị đuổi ra khỏi chỗ làm, không
có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, mà không có một xu trợ cấp nào hết Còn thợ có việclàm lại bị đế quốc và tư bản bản xứ đối đãi một cách hết sức dã man, tàn nhẫn.Giờ làm việc thì tăng và bắt thợ làm nỗ lực thêm mà tiền công lại bớt đến haiphần ba”
Tiền lương của công nhân Việt Nam thấp hơn lương công nhân người Pháprất nhiều Theo thống kê cùa nhà kinh tế học người Pháp là Pôn Bécna thì tiềnlương trung bình của công nhân Việt Nam trong những năm 30 của thế kỷ này là
30 đồng hay 400 Phơrăng, trong khi đó lương của công nhân Pháp là 6.200Phơrăng, lương của công nhân Mỹ là 12.500 Phơrăng một năm Thu nhập củanông dân và của những địa chủ nhỏ giảm đi đáng kể cùng với sự giảm giá lúagạo trên thị trường
Nói tới đời sống của dân cày nghèo, Nghị quyết của Đảng nêu rõ: “Quầnchúng nhân dân nghèo ở Bắc Kỳ bấy lâu nay vốn đã cực khổ lắm rồi… nay lại
bị kinh tế khủng hoảng nên cố nông không có việc làm, thất nghiệp Tình cảnhkhốn quẫn mà không có một xu trợ cấp nào Trung nông bị phá sản thành ra bầnnông… Bần nông phá sản thành ra cố nông Sự phá sản của họ, một là vì thuế
má nặng nề, hai là vì vay nợ nặng lãi, ba là vì do sản xuất của họ làm ra như lúagạo thì ngày càng hạ giá Ví dụ trước kia 25 bơ hay 30 bơ bán được 1 đồng màbây giờ 60 bơ mới bán được 1 đồng Nông dân muốn trả được sưu thuế chochính phủ thuộc địa thì phải bán gấp hai số hoa lợi trước Còn những đồ cùa đếquốc bán thì cứ giữ nguyên giá… Điều khổ cực nhất là trong lúc khủng hoảng
mà đế quốc cứ bắt dân mua rượu ty mỗi lít 0,25 đồng”
Mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc, trong đó có hai mâu thuẫn cơ bản làmâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và mâu thuẫn giữa nôngdân với địa chủ phong kiến Chính vì vậy, trong những năm cuối thập kỷ 20,phong trào công nhân và phong trào yêu nước phát triển mạnh mẽ, lôi cuốnđông đảo các giai cấp, tầng lớp xã hội tham gia Đầu năm 1930, cuộc khởi nghĩaYên Bái do Việt Nam Quốc dân đảng lãnh đạo đã thất bại Chính quyền thựcdân tiến hành một chiến dịch khủng bố dã man những người yêu nước Điều đócàng làm tăng thêm những mâu thuẫn và tình trạng bất ổn trong xã hội
2.1.2.3 Về Chính trị
Các vụ bắt bớ, đàn áp của chính quyền thực dân diễn ra tàn bạo trên khắpcác nước, đặc biệt sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc dân đảng.Bầu không khí chính trị Việt Nam càng trở nên ngột ngạt Vào thời điểm đó,
Trang 26ngọn cờ giải phóng dân tộc được giai cấp công nhân, đứng đầu là Đảng Cộngsản Việt Nam giương cao Sau khi hợp nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trởthành một chính đảng thống nhất về tổ chức và đúng đắn về cương lĩnh chính trị,
đã nhanh chóng tập hợp lực lượng, phát động và lãnh đạo quần chúng đấu tranh.Trước tình hình đó, Chi bộ Đảng và tổ chức Nông hội đỏ đả đứng ra quản
lý và điều hành mọi hoạt động trong thôn xã Thực chất, đó là một hình thứcchính quyền của những giai cấp bị trị được sản sinh ra từ phong trào cách mạng
1930 – 1931 do Đảng của giai cấp công nhân – Đảng Cộng sản lãnh đạo
Tháng 10 – 1930, giữa lúc phong trào cách mạng đang diễn ra sôi nổi trên
cả nước, Ban chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng Cộng sản Việt Nam họpHội nghị lần thứ nhất tại Hương Cảng (Trung Quốc) Hội nghị quyết định đổitên Đảng thành Đảng Cộng sản Đông Dương, thông qua Luận cương chính trị,bầu Ban chấp hành Trung ương chính thức do Tổng Bí thư Trần Phú đứng đầu.Cuối năm 1933, các tổ chức của Đảng dần dần được xây dựng và củng cố.Đầu năm 1934, với sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản, Ban lãnh đạo Hải ngoạicủa Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập do Lê Hồng Phong đứng đầu.Trên thực tế, Ban lãnh đạo Hải ngoại đã làm chức năng của Ban chấp hànhTrung ương lâm thời của Đảng
Từ ngày 27 đến 31-3-1935, Ban lãnh đạo Hải ngoại của Đảng triệu tập Đạihội đại biểu toàn quốc của Đảng tại Ma Cao (Trung Quốc) Đại hội nhận định:mặc dầu các tổ chức của Đảng đã được khôi phục, lực lượng của Đảng vẫn chưađược phát triển; ở các khu công nghiệp, công nhân gia nhập Đảng còn ít, hệthống tổ chức Đảng chưa thật thống nhất, sự liên hệ giữa các cấp bộ Đảng chưađược chặt chẽ
Tình hình chính trị Việt Nam giai đoạn 1930 – 1936 Được đánh dấu bằngmột sự kiện quan trọng đó là sự thành lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ naycách mạng Việt Nam đã có sự lãnh đạo của một chính đảng Đưa ra đường lối cụthể, thiết thực, thông qua các lần Hội nghị
2.2 Giai đoạn 1936-1939
2.2.1 Bối cảnh Thế giới
Từ giữa những năm 30, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933)
đã kết thúc, nhưng hậu quả của nó vẫn còn tác động nặng nề đến nhiều nước tưbản chủ nghĩa Mâu thuẫn trong lòng mỗi nước tư bản và mâu thuẫn giữa cácnước đế quốc ngày càng gay gắt
Trang 27Trong thời gian này, Liên Xô đang trên đà phát triển, hoàn thành thắng lợi
kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1933 – 1937) Phong trào đấu tranh cách mạng vàgiải phóng dân tộc bùng nổ ở nhiều nước trên thế giới
Trước tình hình đó, giới cầm quyền một số nước tư bản tìm lối thoát bằngcon đường phát xít hóa đất nước Chủ nghĩa phát xít đã hình thành và phát triển
ở Italia, Đức, Nhật Bản Lò lửa chiến tranh đã được nhen nhóm ở châu Âu vàchâu Á Cuối năm 1935, Đức, Nhật, sau đó là Italia đã ký kết “Hiệp ước chốngQuốc tế Cộng sản” Trục phát xít Béclin – Tôkyô – Rôma hình thành
Chủ nghĩa phát xít còn xuất hiện ở nhiều nước khác, như Ba Lan,Bunggari, Hunggari, Tây Ban Nha Hóa phát xít và nguy cơ chiến tranh phát xítđang đe dọa cả loài người
Tháng 7 – 1935, Quốc tế Cộng sản tiến hành Đại hội lấn thứ VII tạiMátxcơva (Liên Xô) Đại hội đã quyết nghị nhiều vấn đề quan trọng như: xácđịnh kẻ thù là chủ nghĩa phát xít và nhiệm vụ trước mắt của giai cấp công nhân
là chống chủ nghĩa phát xít, mục tiêu đấu tranh là giành dân chủ, bảo vệ hòabình, thành lập mặt trận nhân dân rộng rãi
Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương do Lê Hồng Phong dẫn đầutham gia Đại hội
Ở châu Âu, Mặt trận Nhân dân Tây Ban Nha đã giành thắng lợi trong kìtuyển cử đầu năm 1936 Trên cơ sở thắng lợi đó, Chính phủ Mặt trận Nhân dânTây Ban Nha được thành lập
Tại nước Pháp, tới đầu năm 1936, Mặt trận Nhân dân Pháp thành lập, baogồm: Đảng Cộng sản, Đảng Xã hội, Đảng Cấp Tiến, Tổng liên đoàn lao động vàcác đoàn thể quần chúng của ba đảng trên
Tháng 4/1936, Mặt trận Nhân dân Pháp giành thắng lợi trong cuộc tổngtuyển cử đã đứng ra thành lập nội các mới do lãnh tụ Đảng Xã hội Lêông Blumlàm Thủ tướng Đối với thuộc địa, Chính phủ Pháp có 3 quyết định quan trọng:trả tự do cho chính trị phạm; thành lập ủy ban điều tra tình hình thuộc địa; thihành một số cải cách xã hội cho nhân dân lao động
Tại các thuộc địa Pháp ở châu Phi, phong trào đấu tranh lên cao Ở Angiêri,Marốc, Sênêgan, những cuộc mít tinh đòi dân chủ, tự do, đòi thực hiện nhữngcải cách xã hội diễn ra ở nhiều nơi
Bước vào giai đoạn 1936 – 1939, tình hình thế giới đã chuyền sang mộtgiai đoạn mới, giai đoạn hình thành chủ nghĩa phát xít mà đứng đầu là Đức, Ý,Nhật Với những cuộc chạy đua vũ trang ráo riết nhằm mục đích chia lại thế
Trang 28giới Điều này tất yếu sẽ dẫn đến chiến tranh để phân chia lại thuộc địa và thịtrường trên thế giới Mà nhân tố châm ngòi lửa cho chiến tranh chính là phe phátxít, cụ thể là nước Đức.
2.2.2 Bối cảnh Việt Nam
2.2.2.1 Về kinh tế
Ở trong nước, tuy cuộc khủng hoảng kinh tế có dịu đi nhưng kinh tế ĐôngDương vẫn trong tình trạng lay lắt Nền sản xuất phục hồi một cách chậm chạp ởmột số ngành như khai thác than và quặng Sản xuất nông nghiệp không nhíchđược bao nhiêu Ngân hàng Đông Dương vẫn tiếp tục đóng vai trò chúa tể, trựctiếp hoặc gián tiếp điều khiển các công ty tư bản lớn thuộc những lĩnh vực kinh
tế chủ đạo
Để bù đắp những thiệt hại do khủng hoảng kinh tế gây nên, chính quyềnthuộc địa mượn tiếng cải cách thuế khóa đã tăng thuế ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ, đặtthêm thuế lợi thuế ở Nam Kỳ và thuế cư trú ở các thành phố
Về nông nghiệp: chính quyền thực dân thực hiện chính sách tạo điều kiệncho tư sản Pháp chiếm đoạt ruộng đất Sau cuộc khủng hoảng, phần lớn đất đaicanh tác tập trung vào tay tư sản Pháp và một số ít vào tay địa chủ, quan lại ViệtNam Trong toàn quốc, khoảng 2/3 hộ nông dân không có ruộng hoặc ít ruộng.Phần lớn đất đai nông nghiệp độc canh trồng lúa Phần còn lại trồng ngô,khoai, sắn Các đồn điền trồng cao su phân bố ở Nam Kỳ và Nam Trung Kỳ.Tính đến năm 1939, diện tích trồng cao su ở Việt Nam là 86.628 ha [9;321].Ngoài cao su, các chủ tư bản Pháp còn trồng những cây công nghiệp khác như
cà phê, chè, đay, gai, bông
Về công nghiệp: ngành công nghiệp khai thác mỏ được được đẩy mạnh hơn
cả thời kỳ trước khủng hoảng Nguyên nhân do nhiều nước nhập nguyên liệuchiến lược chuẩn bị cho chiến tranh Tổng sản lượng công nghiệp khai thác mỏnăm 1929 trị giá 18,6 triệu đồng, năm 1939: 29,5 triệu đồng [9;322]
Sản lượng các ngành công nghiệp dệt, chế cất rượu, sản xuất xi măng tăng.Các ngành điện nước, nước, cơ khí, lọc đường, làm giấy… ít phát triển
Về thương nghiệp: nhà nước thực dân độc quyền bán thuốc phiện, rượu,muối và đã thu được lợi nhuận kếch sù Về ngoại thương, mặt hàng xuất khẩuchủ yếu là khoáng sản và nông sản, nhập cảng máy móc và sản phẩm côngnghiệp tiêu dùng
Sau thuốc phiện và rượu, muối là mặt hàng nhà nước thực dân thu đượcnhiều lãi Để bán được giá cao, nhà nước hạn chế việc sản xuất muối, đồng thời
Trang 29thu mua muối ngay tại chỗ, không để lọt muối ra ngoài Năm 1937, nhà nướcthu được 2.678.500đ tiền lãi [9;324].
Tóm lại, thời kỳ 1936 – 1939 là thời kỳ phục hồi và phát triển nền kinh tếViệt Nam Tuy nhiên sự phát triển đó tập trung vào những ngành kinh doanh cácmặt hàng chiến lược, đáp ứng cho nhu cầu chiến tranh Trong thời gian nàykhông xuất hiện những ngành kinh tế mới Nền kinh tế Việt Nam vẫn ở trongtình trạng phụ thuộc và lạc hậu
Trong khi đó giá cả sinh hoạt tăng vọt, mức sống của những người làmcông ăn lương giảm sút Báo Dân mới ngày 22/12/1938 đăng bài “Giá thựcphẩm lên cao đến mức nào” cho biết tình hình giá cả một số mặt hàng từ ngày1/10/1936 đến 1/12/1938 như sau: giá bột tăng 67%; gạo tính theo thời giá ngày30/6/1937 tăng 100% [9;325]
Trong thời kỳ 1936 – 1939, đa số nông dân không có ruộng đất, hoặc có ítruộng Họ phảo lĩnh canh ruộng đất của địa chủ để cày cấy, hoặc đi làm thuêlàm mướn Địa tô ruộng đất chiếm gần nửa hoa lợi mùa màng Người tá điềncòn phải làm cho địa chủ một số ngày công khi cần
Những năm này, thiên tai, ngập lụt, vỡ đê xảy ra liên tiếp Năm nào cũng
có nạn đói Năm 1937, nạn đói xảy ra gần như khắp Bắc Kỳ Nhiều tỉnh đồngbằng và trung du bị ngập, mùa màng thiệt hại rất lớn Báo Bạn dân ngày29/9/1937 viết ề nạn đói ở Kiến An như sau: “Đến hạng bần nông thì cực kìkhốn khổ Họ không dám ăn cơm vì thổi cơm thì tốn gạo quá Họ phải ăn thứcháo loãng cho đỡ đói và để khỏi chết Ấy thế mà hai ba ngày họ mới được mộtbữa cháo như thế mà ăn Tuy thế, họ còn khá lắm đấy”
Ngoài ra, ở các làng xã, người nông dân còn phải chịu những thủ đoạn lạm
bổ phụ thu của bọn lí dịch, cường hào, những hủ tục cưới cheo, đình đám…
Trang 30Tư sản Việt Nam cũng bị thuế khóa nặng nề và bị tư bản Pháp chèn ép.Một số bị phá sản, một số trụ lại được, nhưng vốn nhỏ bé không có khả năng lậpcông tu lớn Vai trò của tư sản Việt Nam không đáng kể trong nền kinh tế.
Thương nhân Việt Nam phần đông có số vốn nhỏ bé Năm 1938, ở Nam
Kỳ có 57.215 môn bài của người Việt, trong đó chỉ có 152 môn bài (gần 3%)đóng thuế hạng 100đ trở lên, không có môn bài nào trên 400đ Ở Bắc Kỳ có67.761 môn bài của người Việt, trong đó có 173 môn bài (3%) trên 100đ, không
có người nào đóng hạn trên 800đ [9;326]
Tầng lớp tiểu tư sản trí thức bị thất nghiệp nhiều Những người có việc làmthì bị ngược đãi Sinh viên các trường đại học tốt nghiệp cũng không có việclàm Công chức lương thấp, không đủ ăn, phải vay nợ
Tầng lớp địa chủ vừa và nhỏ bị chủ đồn điền Pháp hoặc đại địa chủ ngườiViệt chèn ép, lấn chiếm ruộng đất, dùng mọi thủ đoạn phá hoại khiến cho sảnxuất bị thua lỗ Không ít địa chủ bị tịch biên ruộng đất hoặc phải bán ruộng.Những tầng lớp lao động khác như thợ may, thợ cạo, từ những người làmnghề thủ công đến người chở xe ngựa cũng phải chịu giá sinh hoạt đắt đỏ, thuế
má nặng
Nhìn chung, đời sống của đa số nhân dân khó khăn, cực khổ Chính vì thế,
họ đã hăng hái đứng lên đấu tranh đòi tư do, cơm áo dưới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản Đông Dương
2.2.2.3 Về chính trị
Tháng 7/1936, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản ĐôngDương, do Lê Hồng Phong chủ trì, họp ở Thượng Hải (Trung Quốc) Hội nghịdựa trên Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản, căn cứ vào tìnhhình cụ thể của Việt Nam để định ra đường lối và phương pháp đấu tranh Hộinghị xác định: Nhiệm vụ chiến lược của cách mạng tư sản dân quyền ĐôngDương là chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít, chống chiến tranh,đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo và hòa bình Phương pháp đấu tranh là kếthợp các hình thức công khai và bí mật, hợp pháp và bất hợp pháp Hội nghị chủtrương thành lập Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương
Đảng Cộng sản Đông Dương kêu gọi các đảng phái chính trị, các tổ chứcquần chúng và nhân dân Đông Dương hành động, đấu tranh cho dân chủ Phongtrào quần chúng lan rộng trong cả nước
Sau Hội nghị này, Hà Huy Tập được cử làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sảnĐông Dương
Trang 31Tiếp đó, Hội nghị Trung ương các năm 1937 và 1938 đã bổ sung và pháttriển nội dung cơ bản của Nghị quyết Hội nghị Trung ương tháng 7/1936 TạiHội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 3/1938, Mặt trận Thống nhất dânchủ Đông Dương, gọi tắt là Mặt trận Dân chủ Đông Dương.
2.3 Giai đoạn 1939-1945
2.3.1 Bối cảnh Thế giới
Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ Mở đầu, ngày 1/9/1939Đức tiến công Ba Lan, sau đó ngày 3/9/1939, Anh, Pháp tuyên chiến với Đức.Tại nước Pháp, Chính phủ phát xít phản động Đalađiê lật đổ Chính phủMặt trận nhân dân Pháp và thi hành nhiều biện pháp đàn áp các lực lượng dânchủ ở trong nước và phong trào cách mạng ở thuộc địa Mặt trận nhân dân Pháp
bị tan vỡ, Đảng Cộng sản Pháp bị đặt ra ngoài vòng pháp luật
Ở Đông Dương, thực dân Pháp do Catơru, sau đó Đờcu được cử sang làtoàn quyền, thực hiện phát xít hóa bộ máy cai trị, tăng cường các chính sách đàn
áp, bóc lột nhân dân Đông Dương như thi hành chính sách thời chiến, vơ vétvàng bạc, kiểm soát chặt chẽ sản xuất và phân phối, sa thải bớt công nhân, viênchức, giảm tiền lương…
Tháng 9/1940, sau khi chiếm đóng một số vùng của Trung Quốc, Nhậtnhảy vào xâm lược Đông Dương Trước sự đe dọa mất còn, thực dân Pháp thỏahiệp với phat xít Nhật và thừa nhận cho Nhật có những đặc quyền ở ĐôngDương
Thế giới bị tàn phá thảm khốc bởi cuộc chiến tranh thế giới thứ II, cuộcchiến tranh này đã làm thay đổi hoàn toàn tình hình trên thế giới Các nước ráoriết chạy đua vũ trang tiến hành khai thác thuộc địa nhằm cung cấp nguồn lựckinh tế cũng như lực lượng quân sự để phục vụ cho chiến tranh Tại Việt Namcũng vậy, Việt Nam là thuộc địa của Pháp cũng phải chịu hậu quả nặng nề từcuộc chiến tranh thế giới thứ II Từ kinh tế, chính trị, xã hội đều có những thayđổi nhất định
2.3.2 Bối cảnh Việt Nam
2.3.2.1 Về kinh tế
Đầu tháng 9/1939, Toàn quyền Catơru ra lệnh tổng động viên nhằm cungcấp cho “mẫu quốc” tiềm lực tối đa của Đông Dương về quân sự, nhân lực, cácsản phẩm và nguyên liệu
Trang 32Thực dân thi hành chính sách Kinh tế chỉ huy, tăng mức thuế cũ, đặt thêmthuế mới, đồng thời sa thải bớt công nhân, viên chức, giảm tiền lương, tăng giờlàm… Chúng kiểm soát gắt gao việc sản xuất và phân phối, ấn định giá cả.
Sau khi đưa quân vào Đông Dương, Nhật tiếp tục ép Pháp nhượng bộ bằngviệc ký kết một số hiệp ước
Với hiệp ước Tôkiô ngày 6/5/1941, Pháp thừa nhận địa vị ưu đãi đặc biệtcủa Nhật trong quan hệ kinh tế với Đông Dương Thực chất, Đông Dương là thịtrường độc chiếm của Nhật
Trong chiến tranh, việc vận tải nhằm đảm bảo mọi nhu cầu cho quân độitrở nên quan trọng đối với Nhật Ở Đông Dương, quân đội Nhật buộc Pháp đểchúng sử dụng mọi phương tiện giao thông Nhật kiểm soát hệ thống đường sắt
và tàu biển chở hàng đậu tại các hải cảng Đông Dương Nhật còn bắt chínhquyền thuộc địa hàng năm phải nộp một khoản tiền khá lớn Trong hơn 4 năm,chính quyền thực dân Pháp đã nộp cho Nhật một khoảng tiền là 723.786.000đ.Quân Nhật cướp ruộng đất của nông dân, nhổ lúa để trồng đay và thầu dầuphục vụ cho nhu cầu chiến tranh
Nhật Bản còn buộc chính quyền thuộc địa Pháp dành 50% giá trị nhập khẩu
và 5% giá trị xuất khẩu của Đông Dương cho các công ty thương mại của Nhật.Hầu như toàn bộ số hàng xuất khẩu chính yếu của Đông Dương trong nhữngnăm 1942 – 1943 như than, đá, sắt, kẽm, cao su, xi măng được xuất sang Nhật.Ngoài ra, Nhật còn mua với giá rẻ những mặt hàng như mănggan, apatít, crôm,thiếc, cà phê… Trị giá hàng nhập từ Đông Dương sang Nhật lớn gấp nhiều lần
so với hàng Nhật xuất sang Đông Dương
Phát xít Nhật và thực dân Pháp thực thi ở Đông Dương một nền kinh tế chỉhuy, độc quyền phục vụ chiến tranh Là một nước nông nghiệp lạc hậu, ViệtNam phải cung cấp lương thực, thực phẩm, tài nguyên thiên nhiên phục vụccuộc chiến tranh của cả Nhật lẫn Pháp Có thể nói, Đông Dương đã đã bị guồngmáy chiến tranh làm đảo lộn Kinh tế nông nghiệp bị suy sụp Công nghiệp nhẹ
và các ngành thủ công nghiệp bị sa sút Bức tranh kinh tế Đông Dương dưới thờiPháp – Nhật thật ảm đạm, tiêu điều
Trang 33độ bảo hiểm, cấm sử dụng lao động nữ và trẻ em trong các công việc nặng nhọc,độc hại bị thủ tiêu Công nhân làm việc trong các nhà máy phục vụ chiến tranh,nếu không hoàn thành công việc, sẽ bị phạt nặng, cúp lương, bị sa thải.
Giai cấp nông dân bị kiệt quệ bởi sưu cao thuế nặng Ruộng đất bị tướcđoạt, tài sản bị vơ vét để phục vụ chiến tranh Nạn đi phu đắp đường, xây dựngcác pháo đài quân sự, sân bay diễn ra thường xuyên Trung, bần nông bị phá sản.Hầu hế nông dân lao động bị đói khổ, cùng cực
Giai cấp tiểu tư sản bị đẩy vào ngõ cụt Nhiều tiểu thương, tiểu chủ phásản, phải đóng cửa hàng, cửa hiệu, xưởng sản xuất, đội ngũ viên chức bị cúplương, phải làm thêm giờ cho những người bị động viên Giá cả tăng vọt, cuộcsống ở các đô thị càng trở nên khó khăn
Giai cấp tư sản có sự phân hóa sâu sắc Bộ phận tư sản mại bản lợi dụngchiến tranh làm giàu, phục vụ đắc lực cho chủ nghĩa đế quốc Bộ phận tư sảndân tộc bọ phá sản cho chính sách kinh tế thời chiến của Pháp – Nhật
Giai cấp địa chủ - phong kiến có sự phân hóa rõ rệt Đại địa chủ, kẻ thânNhật, kẻ thân Pháp, lợi dụng chiến tranh làm giàu bằng đầu cơ tích trữ và tậptrung ruộng đất vào tay mình Số địa chủ vừa và nhỏ bị phá sản Họ chán ghétchiến tranh, lên án chính sách thời chiến của Nhật – Pháp ở Đông Dương
Rõ ràng, trên phương diện xã hội, trừ đại địa chủ - phong kiến và một bộphận tư sản mại bản ra, đại bộ phận nhân dân Việt Nam đều bị chính sách thờichiến của Pháp – Nhật tác động tới Mâu thuẫn giữa nhân dân ta với đế quốcPháp – Nhật trở nên gay gắt hơn bao giờ hết
2.3.2.3 Về chính trị
Đầu tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ Ở châu Âu, quânđội phát xít Đức kéo vào nước Pháp Chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức,thực hiện chính sách thù địch đối với các lực lượng tiến bộ trong nước và phongtrào cách mạng các nước thuộc địa
Ở Đông Dương, Đô đốc G.Đờcu được cử làm Toàn quyền thay G.Catơru.Chính quyền mới thực hiện một loạt chính sách nhằm vơ vét sức người, sức của
ở Đông Dương để dốc vào cuộc chiến tranh
Cuối tháng 9/1940, quân Nhật vượt biên giới Việt – Trung tiến vào miềnBắc Việt Nam Quân Pháp nhanh chóng đầu hàng Phát xít Nhật giữ nguyên bộmáy thống trị của thực dân Pháp, dùng nó để vơ vét kinh tế phục vụ cho nhu cầuchiến tranh và đàn áp phong trào cách mạng Dưới ách thống trị của Nhật –Pháp, ở Việt Nam lúc này không chỉ có những đảng phái chính trị thân Pháp mà