1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết hồ anh thái

106 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với nghệ thuật nghịch dị, Hồ Anh Thái là một trong những nhà văn đã góp phần hiện đại và cách tân tiểu thuyết Việt Nam, đưa văn học Việt Nam hòa nhập vào dòng chảy của văn học thế giới..

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực, chính xác và chưa từng được

ai công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào trước đây, nếu sai sót tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Bình Dương, ngày 26 tháng 12 năm 2018

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy giáo, cô giáo, cán bộ khoa Ngữ văn Trường Đại Học Thủ Dầu Một đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Xin cảm ơn Thư viện Trường Đại học Thủ Dầu Một đã hết lòng phục vụ, cung cấp tài liệu quý báu để tôi hoàn thành luận văn này

Chân thành cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Dương, Ban Giám hiệu Trường THPT Tân Phước Khánh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Đặc biệt, tôi gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Kim Tiến, người

đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Xin gửi lời cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

4 Phương pháp nghiên cứu 11

5 Đóng góp của luận văn 12

6 Cấu trúc luận văn 12

Chương 1 NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ VÀ NHÀ VĂN HỒ ANH THÁI

VỚI TIỂU THUYẾT SAU NĂM 1986 14

1.1 Nghệ thuật nghịch dị 14

1.2 Hồ Anh Thái với tiểu thuyết sau năm 1986 19

1.2.1 Về nghệ thuật tiểu thuyết sau năm 1986 19

1.2.2 Hồ Anh Thái với lối viết mới trong tiểu thuyết sau 1986 21

Chương 2 NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI NHÌN TỪ HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG 27

2.1 Kiểu hình tượng nhân vật nghịch dị 27

2.1.1 Kiểu nhân vật biếm họa 27

2.1.1.1 Những kẻ háo danh, tham vọng 27

2.1.1.2 Những kẻ ưa thể hiện, thích hưởng thụ 32

2.1.2 Kiểu nhân vật ký hiệu 35

2.1.2.1 Ký hiệu định tên theo nghề nghiệp 36

2.1.2.2 Ký hiệu định hóa tính cách 37

2.1.3 Kiểu nhân vật khuếch đại 39

2.1.3.1 Khuếch đại lối sống bản năng 39

2.1.3.2 Bơm phồng thói tật dị hợm 46

2.2 Hình tượng không gian nghịch dị 49

2.2.1 Không gian kỳ ảo 49

Trang 6

2.2.1.1 Kỳ ảo từ những giấc mơ, mộng mị 49

2.2.1.2 Kỳ ảo từ những câu chuyện huyễn hoặc, mơ hồ 51

2.2.2 Không gian phố thị 53

2.2.2.1 Bất tiện, thiếu văn minh 53

2.2.2.2 Lộn xộn, bát nháo, thiếu văn hóa 56

2.2.3 Không gian văn hóa 60

2.2.3.1 Không gian cộng đồng thành cá nhân, phản văn hóa 60

2.2.3.2 Không gian cao nhã thành kệch cỡm, lố bịch 61

Chương 3 NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN 65

3.1 Ngôn ngữ nghệ thuật nghịch dị 65

3.1.1 Ngôn ngữ đường phố, chửi thề, nói tục, tiếng lóng 65

3.1.2 Ngôn ngữ mạng và tiếng nước ngoài 67

3.2 Giọng điệu nghệ thuật nghịch dị 69

3.2.1 Giọng điệu châm biếm, hài hước 70

3.2.3 Giọng điệu giễu nhại 74

3.2.3.1 Nhại cái cao sang thành thô tục 74

3.2.3.2 Nhại cái hữu danh thành vô danh 76

3.3 Tình huống nghịch dị 79

3.3.1 Tình huống hài hước 79

3.3.2 Tình huống huyễn hoặc 82

KẾT LUẬN 90

CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Với chiến thắng năm 1975, đất nước mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ độc lập

và thống nhất Đến Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), cùng với công cuộc đổi mới

xã hội, Đảng đã chủ trương “cởi trói cho văn nghệ” Không khí đổi mới thổi một luồng gió lớn vào đời sống văn học nghệ thuật nước nhà Các nhà văn có sự thay đổi về tư duy nghệ thuật góp phần làm thay đổi diện mạo nền văn học đương đại

Tiểu thuyết Việt Nam từ năm 1986 đến nay đã có nhiều cách tân cả về nội dung lẫn nghệ thuật, nhiều tác giả đã để lại dấu ấn rõ nét, một số cây bút tiêu biểu cho tiểu thuyết thời kỳ này như: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Thiều,

Dư Thị Hoàn, Thuận, Nguyễn Việt Hà… trong đó phải kể đến là nhà văn Hồ Anh Thái Ông là một nhà văn đã rất thành công và tạo được một phong cách rất riêng

ở thể loại này Tiểu thuyết Hồ Anh Thái đem đến cho người đọc sự thích thú bởi lối tiếp cận hiện thực một cách mới lạ Mỗi tác phẩm của ông là một quan niệm về nhân sinh, những nhận thức thức mới về xã hội và được thể hiện bằng một hình thức nghệ thuật độc đáo Một trong những yếu tố quan trọng làm nên sự độc đáo

ấy chính là nghệ thuật nghịch dị

Theo M.Bakhtin thì thuật ngữ nghịch dị xuất hiện đầu tiên vào thời Phục Hưng và đóng vai trò quan trọng đối với tư duy tiểu thuyết Đỉnh cao của chủ

nghĩa hiện thực nghịch dị là Gacganchuya và Pantagruyen của F.Rabelais Ở Việt

Nam, những năm đầu thế kỷ XX, Vũ Trọng Phụng là người đã sử dụng nghịch dị

để xây dựng tiểu thuyết Số đỏ, ngoài ra ta còn thấy nghịch dị trong truyện ngắn

Nam Cao Từ năm 1986 đến nay, nghịch dị được hồi sinh mạnh mẽ trong tiểu thuyết Việt Nam với những tác giả tiêu biểu như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Phạm Thị Hoài… và đặc biệt là Hồ Anh Thái

Sức sáng tạo hấp dẫn về nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái

đã thể hiện những khám phá mới mẻ về con người và cuộc sống đương đại, thể hiện sự tìm tòi, sáng tạo về phương diện nghệ thuật Đồng thời góp phần tạo nên cái nhìn tự do, dân chủ giải phóng ý thức của con người khỏi những giáo điều, khỏi những nếp suy nghĩ rập khuôn, nhìn thấy tính tương đối của trật tự thế giới

Trang 8

hiện hữu… Qua đó, ta cũng thấy được sự vận động của nhận thức và tư duy tiểu thuyết trong giai đoạn hiện nay Với nghệ thuật nghịch dị, Hồ Anh Thái là một trong những nhà văn đã góp phần hiện đại và cách tân tiểu thuyết Việt Nam, đưa văn học Việt Nam hòa nhập vào dòng chảy của văn học thế giới

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Gần 30 năm cầm bút, Hồ Anh Thái đã cho ra đời nhiều tác phẩm với nhiều thể loại khác nhau Tác phẩm của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng và có mặt ở nhiều nước trên thế giới Nó có một sức hấp dẫn mạnh mẽ với bạn đọc và nhiều nhà nghiên cứu văn học Trong khuôn khổ của một luận văn, chúng tôi nhận thấy

có những bài viết, công trình đáng chú ý về Hồ Anh Thái và sáng tác của ông như sau

Lam Thu với bài viết Hồ Anh Thái thử nghiệm lối viết trong tiểu thuyết mới, bài viết là những suy nghĩ của tác giả về tiểu thuyết Những đứa con rải rác trên đường Theo người viết: “Tác giả gói gọn nhiều sự kiện của từng thời vào trong

một câu chuyện Trong đó có sự ác liệt, tàn bạo, đầy bất trắc của chiến tranh Nỗi thống khổ, sự cứng nhắc của thời bao cấp cũng được nhắc tới Tác phẩm cũng đề cập đến sự hỗn loạn khi xã hội vào cơ chế thị trường: tham nhũng, thực dụng, vô đạo đức Cùng với việc tái hiện đời sống xã hội, tác phẩm kể về những số phận tha hương xứ người, những thân phận đang sống ở xứ mình với nhiều trắc trở” (Lam Thu, 2014, https://giaitri.vnexpress.net) Kết thúc bài viết, Lam Thu cho rằng tác phẩm được viết theo lối hiện thực xen lẫn huyền ảo vốn làm nên phong cách của Hồ Anh Thái Đời sống xã hội cũng như số phận con người được tái hiện bằng giọng văn nghiêm ngặt, bi thương hòa trộn với giễu cợt, hài hước

Trong Hồ anh Thái – người lúc nào cũng đang viết, Hoài Nam khẳng định:

“Nhà văn chuyên nghiệp là người tự biết ép mình vào một thứ kỷ luật viết Và nhà văn chuyên nghiệp là người có đủ kỹ năng và nghệ thuật để khi ngồi vào bên bàn,

có thể huy động cảm hứng đến Hồ Anh Thái đã làm được điều ấy” (Hoài Nam,

2008, https://giaitri.vnexpress.net) Hồ Anh Thái là một cây bút chuyên nghiệp trong sáng tạo nghệ thuật Anh viết đều đặn hàng ngày, viết nghiêm túc chứ không theo kiểu ngẫu hứng

Trang 9

Cũng theo tác giả Hoài Nam trong Chuyện của người và chuột thì: “SBC là

săn bắt chuột của nhà văn Hồ Anh Thái (NXB Trẻ, 2011) là cuốn tiểu thuyết tiếp nối mạch tác phẩm văn xuôi hoạt kê đã xuất hiện từ trước đó, với những tập truyện ngắn Tự sự 265 ngày, Bốn lối vào nhà cười, và gần nhất là tiểu thuyết Mười lẻ một đêm Có thể nói ngay, đây là một tác phẩm hoạt kê tiểu thuyết, và là một hoạt kê tiểu thuyết được xây dựng căn bản trên thủ pháp nhại” (Hoài Nam, 2011,

dụng công kết nối hai cực rất xa nhau của một hiện thực đô thị hiện đại, vốn đang

là là sát đất Và cũng chính cái hiện thực là là đó đầu thế kỷ 21, được Hồ Anh Thái đưa lên bay bổng trên đôi cánh hiện thực huyền ảo, trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột” (Nguyễn Thị Minh Thái, 2011, https://www.tienphong.vn)

Còn bài viết Cõi người rung chuông tận thế – Một cách viết tiểu thuyết dồn nén, Nguyễn Thị Minh Thái nhận xét về giọng điệu Hồ Anh Thái như sau: “Có ai

đó, hình như nhà nghiên cứu phê bình Hoàng Ngọc Hiến thì phải, ông bảo rằng phần lớn các nhà văn Việt Nam chưa biết cách kể chuyện trong truyện ngắn, và nhất là cách kể chuyện dài trong tiểu thuyết Tôi nghĩ là nhà văn Hồ Anh Thái, với

Cõi người rung chuông tận thế đã biết kể một câu chuyện về cái ác với một giọng

kể đa thanh Ða thanh đến mức anh cũng chẳng buồn phân thân nữa, bằng nhân vật xưng Tôi, anh thoải mái tham gia bàn luận bằng một giọng hài hước riêng, mà phía cuối của giọng hài hước ấy, có tiếng rơi thầm của những giọt nước mắt lặng lẽ không kèm theo tiếng khóc” (Nguyễn Thị Minh Thái, 2002,

http://www.talawas.org)

Lê Minh Khuê có nhận xét về tác phẩm Người và xe chạy dưới ánh trăng:

“Có lẽ ngay từ ngày ấy, tác giả này đã ý thức rằng tác phẩm văn học muốn hòa nhập được với dòng văn học chảy ào ạt ngoài kia của thế giới thì đừng có quá lệ thuộc vào hiện thực giản đơn” (Lê Minh Khuê, 2009, http://hoanhthai.vn)

Trang 10

Trong Hồ Anh Thái lấy chữ mà chơi (trong phần dư luận cuốn SBC là săn bắt chuột), Đoàn Lê cho rằng: “Bởi Hồ Anh Thái là nhà văn không đi theo đường

mòn một dòng chảy nào, đặc biệt là những sáng tác gần đây luôn gây bất ngờ Những vấn đề nghiêm túc đến mấy, những dòng chữ đau cứa vào tâm hồn người đọc đến mấy, ông vẫn cứ cười cợt, nghịch ngợm khoác cho cái áo hài hước Nhờ vậy mọi vấn đề trở thành món ăn…dễ tiêu hóa Người ta nói những người hài hước thường thông minh Các cây bút lại càng thông minh đến độ nào mới hài hước hóa được đôi mắt nhìn cuộc đời” ( Hồ Anh Thái, 2011, tr.378)

Với Một góc nhỏ văn chương Hồ Anh Thái, khi nói về tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra, Diệu Hường cho rằng: “Hồ Anh Thái đã làm được một cuộc

mổ xẻ quá khứ và góp lời giải cho những băn khoăn trước thực tại của con người thời đổi mới Đặt trong mạch cảm hứng của tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới,

Trong sương hồng hiện ra của Hồ Anh Thái đã tạo được một lối đi khác lạ, độc

đáo và có chiều sâu" (Diệu Hường, 2008, https://giaitri.vnexpress.net) Trong khi

đó với Hồ Anh Thái, người mê chơi cấu trúc, Nguyễn Đăng Điệp đã đưa ra những

đánh giá về sáng tác của Hồ Anh Thái: “Hồ Anh Thái có ý thức tạo dựng một thế giới vừa giống thực bằng những chi tiết ngỡ nhặt được từ đời sống ồn tạp vừa tạo nên một thế giới ngập đầy những biểu tượng Thông điệp của nhà văn không hiện

ra lộ liễu mà toát lên từ tình thế, qua các biểu tượng thấm đầy chất “ảo” và trên thực tế, bằng những nổ lực không mệt mỏi, anh đã tạo nên những cái nhìn độc đáo

về đời sống” (Nguyễn Đăng Điệp, 2012, http://phebinhvanhoc.com.vn)

Ở bài viết Mười lẻ một đêm (*): Ngả nghiêng trần thế, Sông Thương nhận

xét: “Chuyện to, chuyện nhỏ đan cài vào nhau, đọc mà thấy ngả nghiêng Ngả nghiêng vì cười, ngả nghiêng vì tất cả ngả nghiêng! Thoáng đôi lúc thấy tác giả đanh đá, thoáng đôi lúc thấy tác giả đùa dai, thoáng đôi lúc cả thấy tác giả "quá quắt" lắm! Nhưng ngẩng đầu khỏi trang sách, nhìn ra quanh đời, lại thấy cái đanh

đá, đùa dai, quá quắt kia còn là văn học!” (Sông Thương, 2006,

https://thanhnien.vn) Cũng theo người viết thì Mười lẻ một đêm được viết bằng

giọng hài hước chủ đạo Thậm chí có đoạn được lồng vào cả truyện cười dân gian Câu văn thụt thò, dài ngắn, có chủ đích

Trang 11

Còn Lâm Huy trong Hài hước và trữ tình, khi bàn về giọng điệu của Mười

lẻ một đêm nói: “Khá giống với phong cách và giọng điệu của ba cuốn tiểu thuyết

và truyện ngắn gần đây, Hồ Anh Thái đem đến cho độc giả từ đầu đến cuối là một giọng điệu châm biếm, hài hước và cười cợt quen thuộc những trò lố lăng, kệch cỡm về đời sống thị dân, giới trí thức nửa mùa, những kẻ bất tài mang danh nghệ sĩ… nhưng đôi khi pha chút trữ tình nhẹ nhàng…” (Hồ Anh Thái, 2006, tr.348)

Tác giả Từ Nữ với Tiếng cười trên từng trang, có nhận xét về Mười lẻ một đêm: “Một cuốn tiểu thuyết hơn ba trăm trang với cách viết hài hước, tràn đầy chi

tiết Carnaval, khiến nó trở thành cuốc sách được yêu thích nhất trong tháng

3-2006 Không ai lạ lẫm gì lối viết của nhà văn Hồ Anh Thái, nhưng bạn đọc vẫn vấp từ bất ngờ này sang bất ngờ khác” (Hồ Anh Thái, 2006, tr.354) Bài viết của

Hoài Nam Chất hài hước, nghịch dị trong Mười lẻ một đêm đã đề cập đến chất

nghịch dị như sau: “Còn có thể nói về chất nghịch dị – và từ đó gây cười – ở một số

nhân vật khác trong Mười lẻ một đêm Tựu trung, nó được hình thành từ việc tác

giả chú ý nhặt ra một (hoặc một vài) thói tật và sự lập dị, bơm phồng lên, tô đậm vào, biến nó thành một tồn tại bất bình thường trong đời sống bình thường, một sự

lộ liễu quá mức hình dung sẵn có về đối tượng Và chính từ những nhân vật nghịch

dị này mà tác giả đưa chúng ta vào những phạm vi hoạt động xã hội cũng đầytính nghịch dị” (Hoài Nam, 2006, https://giaitri.vnexpress.net)

Trong khi Ma Văn Kháng với Cái mà văn chương ta còn thiếu (trong phần

dư luận cuốn Cõi người rung chuông tận thế) viết: “Nghệ thuật thật sự luôn làm

nên bất ngờ Truyện ngắn, tiểu thuyết Hồ Anh Thái, nhất là những cái gần đây, thú

vị trước hết ở chỗ đó; ở từng con chữ có đời sống là lạ; ở mỗi tình tiết giàu sức khám phá, ở các mối liên tưởng lạ lùng và gần gũi; ở tổng thể câu chuyện, nó mở

ra một góc nhìn nhân sinh Nó cho ta thấy đa tầng, những thực tại nhìn thấy mà không nhìn thấy, những ấn tượng đặc sắc thông qua chủ đề của nó ở chính cuộc đời này, hôm nay…” (Hồ Anh Thái, 2002, tr.314)

Một nhận định đáng chú ý của Anh Chi trong Hiện tượng văn chương Hồ Anh Thái: "Nền văn chương Việt Nam có tới ba, bốn thập kỷ sa vào lối văn biểu

dương, minh họa, tạo nên một thứ văn chương hiện thực đơn giản Thế hệ các nhà văn viết từ thời chiến tranh chống Mỹ, cả các nhà văn trẻ viết sau chiến tranh một

Trang 12

chút, hầu hết viết theo lối hiện thực có phần thô sơ Nhưng, những năm tám mươi, thế kỷ hai mươi, có một số tài năng đã làm cuộc đổi mới văn chương Trong đó,

Ma Văn Kháng là nhà văn đổi mới sớm nhất trong tư tưởng văn chương Rồi Nguyễn Huy Thiệp đã đem đến cho văn chương truyền thống sức cuốn hút mới bởi cách nhìn nhận hiện thực sắc sảo Nguyễn Dậu tái hồi văn đàn, cũng làm cho văn chương tả thực sinh động hơn, nhiều thương cảm hơn Nguyễn Khắc Trường, khi viết về nông thôn, cũng khiến văn chương tả thực truyền thống có được một chiều sâu mới về văn hóa… Hồ Anh Thái là nhà văn không phụ thuộc gì văn chương tả thực hay văn chương lãng mạn mà các tên tuổi lớn như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Thạch Lam… đã tạo nên đầu thế kỷ XX” (Anh Chi, 2009,

http://hoanhthai.vn) Qua bài viết, tác giả cũng đã đề cập đến một số nhân vật dị biệt cùng lối viết hoạt kê trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái

Cũng với tác giả này, với Về nhà văn Hồ Anh Thái trên trang văn nghệ của

Đài Phát Thanh Truyền hình Vĩnh Long, cho rằng: “Với Hồ Anh Thái, những ám ảnh về cuộc chiến tranh chống Mỹ khiến anh cũng viết về chiến tranh, như trường

hợp tiểu thuyết Người đàn bà trên đảo, rồi năm 1989 anh lại viết tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra Nhưng, Hồ Anh Thái kể lại những câu chuyện chiến tranh

nhằm đặt ra những vấn đề bức thiết của cuộc sống những năm tám mươi, thế kỷ

XX Như Người đàn bà trên đảo đã nói ở trên, là vấn đề đạo đức, cả trong ứng xử

xã hội cả về mặt luật pháp, đối với thân phận những người cựu chiến binh đã phải trải qua một cái giá khủng khiếp cho cuộc chiến tranh chống Mỹ” (Anh Chi, 2018,

http://thvl.vn)

Trong Hồ Anh Thái và nỗ lực đổi mới văn xuôi Việt Nam sau 1986, Bùi

Thanh Truyền cho rằng: “Với liên tiếp những sáng tác gây tiếng vang trong dư

luận như Trong sương hồng hiện ra, Tiếng thở dài qua rừng kim tước, Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm, Tự sự 265 ngày, Đức Phật nàng Savitri và tôi, Sắp đặt và diễn, Bốn lối vào nhà cười, Dấu về gió xóa, SBC là săn bắt chuột,… nhà văn này đã khẳng định vị thế của mình, phả vào đời sống văn học

một luồng sinh khí mới với một cách viết quen mà lạ Từ khi là một cây bút trẻ, rất nhạy cảm với môi trường công nghiệp hiện đại, ông đã lựa chọn cho mình một phương thức thể hiện rất riêng Chính sự hòa kết giữa cái phương Tây mới lạ và

Trang 13

nét phương Đông thuần hậu đã ươm mầm cho cách cảm, cách nghĩ, cách chiêm nghiệm về cõi người, cõi đời khá độc đáo trong những trang viết sắc sảo của ông Điểm qua gia tài văn học của Hồ Anh Thái, có thể thấy đây là một trong không nhiều nhà văn có được thành công trong cuộc chạy tiếp sức qua hai thế kỉ trên cả hai mảng truyện ngắn và tiểu thuyết Đọc truyện Hồ Anh Thái, ta như bước vào một thế giới với muôn ngàn mảnh ghép chằng chịt của cuộc sống đương đại được kiến tạo từ cái nhìn thấu thị cùng những đánh giá sâu sắc về những vấn đề vừa giàu tính thời sự vừa đậm tính nhân văn” (Bùi Thanh Truyền, 2016,

lẻ một đêm gần với một thứ tiểu thuyết hoạt kê, bởi những nhân vật có phần nghịch

dị trong đó, bởi giọng văn châm biếm, bởi cái nhìn sắc sảo như muốn phanh phui tất cả những cái xấu ở đời

Trong bài viết Nhà văn Hồ Anh Thái: Rung động sâu sắc với thân phận đàn

bà, Việt Quỳnh đã nhận xết về những cách tân của tiểu thuyết Người đàn bà trên đảo như sau: “Người đàn bà trên đảo xen lẫn giữa ảo và thực, giữa chuyện về

nghĩa quân Tần Đắc xưa với hoàn cảnh thực tại của những phụ nữ sống trong lâm trường, tách biệt với thế giới bên ngoài, ngày đêm khao khát một tấm chồng và một mụn con Cuốn tiểu thuyết được dư luận trong và ngoài nước đánh giá cao, vì

đã mạnh dạn có những cách tân, đặc biệt, viết về con người nhu cầu cá nhân, sau đổi mới” (Việt Quỳnh, 2015, https://thethaovanhoa.vn)

Trang 14

Còn trong Mười lẻ một đêm cái nhìn hắt sáng từ phía sau, Nguyễn Thị

Minh Thái nói về sự sáng tạo mới lạ trong trong giọng kể của Hồ Anh Thái:

“Nhưng đằng sau cái lối viết kiểu thông tin báo chí có vẻ khơi khơi trên bề mặt, lại

là một góc nhìn ở vị thế hắt sáng từ phía sau, từ bản thể, là cái giọng tiểu thuyết giễu nhại thâm sâu của Hồ Anh Thái Chọn một vị thế nhìn hắt sáng như thế và một giọng kể mang tính thông tấn, Hồ Anh Thái tỏ ra vững vàng trong chính sự lựa chọn ấy, để tìm được một thi pháp mới cho riêng cuốn tiểu thuyết này, mà tôi

có thể tạm gọi là thi pháp giễu nhại - thông tấn” (Nguyễn Thị Minh Thái, 2006,

http://vietbao.vn)

Phan Trọng Hoàng Linh, với Tiểu thuyết Carnaval hóa của Hồ Anh Thái nhìn từ hình tượng nhân vật nghịch dị (đăng trên http://tapchisonghuong.com.vn, ngày 29/1/2016) đã lấy tiếng cười làm tiêu chí nhận diện cảm quan carnaval trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, mặc dù không phải tác phẩm carnaval hóa nào cũng hài

hước Tác giả khảo sát theo giai đoạn sáng tác Giai đoạn đầu là Người đàn bà trên đảo (1985), Người và xe chạy dưới ánh trăng (1986), Trong sương hồng hiện ra

(1989)… Ở các tiểu thuyết này, tác giả đã chỉ ra được yếu tố tiếng cười nhưng vẫn còn rải rác chưa thành hệ thống Đến giai đoạn sau, tác giả tìm hiểu kỹ bốn tiểu

thuyết là Cõi người rung chuông tận thế, SBC là săn bắt chuột, Mười lẻ một đêm

và Những đứa con rải rác trên đường Ở những tiểu thuyết này, tác giả đã làm nổi

bật yếu tố tiếng cười với sự xuất hiện của hệ thống hình tượng nghịch dị, cái tục và

ngôn ngữ suồng sã…

Hình tượng nhân vật nghịch dị nhận thấy đầu tiên là hệ thống nhân vật mang biệt danh Thứ hai là những nhân vật có bản năng tình dục lệch chuẩn và thân thể nghịch dị Tác giả bài viết còn nói đến nhân vật đồng dạng và nghịch dạng Có thể nói, đây là một bài viết rất hay, người viết đã có những kiến giải về tiểu thuyết Hồ Anh Thái Tuy nhiên, bài biết cũng chỉ đề cập đến một khía cạnh,

đó là nhìn từ hình tượng nhân vật nghịch dị

Hà Anh với bài viết Hồ Anh Thái qua con mắt bạn bè ở mục Văn chương và

dư luận trên trang Văn học quê nhà, ngày 27/11/2014, lại thể hiện một số ý kiến tranh luận về phong cách của nhà văn khi so sánh hai tác phẩm SBC là săn bắt chuột với Những đứa con rải rác trên đường Theo một vài ý kiến thì nhìn chung

Trang 15

Hồ Anh Thái có lối viết hài hước Kết thúc bài viết là ý kiến của nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, ông cho rằng Hồ Anh Thái là người chấp nhận nhiều phong cách khác nhau Trong đó, bài viết đã nhắc đến giọng điệu hài hước ở tiểu thuyết

Hồ Anh Thái

Ngoài ra còn khá nhiều bài báo: Nhà văn Hồ Anh Thái: Một mình qua đường (Thiên Ý), Một cá tính sáng tạo độc đáo (Trần Bảo Hưng), Ám ảnh và dự cảm (Phạm Chí Dũng), Đừng tò mò, tôi không phải là người các bạn nghĩ (Xuân Anh), Nhà văn Hồ Anh Thái: sáng tạo bức phá trên từng con chữ (Ngọc Ánh), Hồ Anh Thái: Hành trình sáng tạo không mệt mỏi (Mai Phương), Hợp âm phố phường của Hồ Anh Thái (Việt Trung), Giữa chuột và người (Vân Long), Chuột lẫn vào người (Trần Nhã Thụy), Người còn đi dài với văn chương (Lê Minh Khuê), Cõi người rung chuông tận thế từ góc nhìn Phật giáo (Võ Anh Minh), Tổng hòa nhiều sắc độ ngôn ngữ (Bùi thanh Truyền – Lê Biên Thùy), Một thế giới người (Nhị Hà), Nghìn lẻ một chuyện đời (Tuyền Lâm)…

Với bài viết Nghịch dị trong tiểu thuyết (đăng trên

http://www.daibieunhandan.vn, ngày 9/7/2014), Huỳnh Thu Hậu đi tìm điểm chung trong nghệ thuật miêu tả hiện thực thông qua lăng kính nghịch dị giữa hai

tác phẩm Báu vật của đời của Mạc Ngôn và SBC là săn bắt chuột của Hồ Anh

Thái Tác giả khẳng định yếu tố nghịch dị là một trong những phương diện tạo nên

sự hấp dẫn của hai tiểu thuyết trên Trong đó, ở tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột,

Hồ Anh Thái đã xây dựng nghệ thuật nghịch dị với những nhân vật có sự kết hợp của yếu tố đối lập, tương phản như Đại Gia là người buôn ma túy, Giáo Sư thì vừa dâm, vừa bạo ngược Con trai Giáo Sư thì làm tướng cướp… Ngoài ra, Mạc Ngôn cũng như Hồ Anh Thái đã sử dụng thứ ngôn ngữ bình dân, chửi tục, nói bậy…, qua đó, đã kiến tạo một hiện thực với sự kết hợp giữa cái xấu – cái đẹp, cái thiện

và cái ác, cái thiêng liêng và cái thấp hèn, trang nghiêm và hài hước…

Chúng tôi rất chú ý đến công trình của Huỳnh Thị Thu Hậu Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu tthuyết Việt nam từ 1986 đến 2012 (đăng trên

http://luanvan.net.vn, ngày 25/7/2018) trong đó ở chương 3 và chương 4, tác giả có

đề cập đến nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái nhìn từ hệ

Trang 16

thống hình tượng và từ phương thức biểu hiện Tuy nhiên, luận án chỉ mang tính bao quát, chưa đi sâu, kỹ vào hệ thống nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái

Một thành công đáng ghi nhận về sáng tác của Hồ Anh Thái là nhiều luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp đã lựa chọn tác phẩm Hồ Anh Thái làm đối tượng

và phạm vi nghiên cứu, khảo sát như Phong cách nghệ thuật tiểu thuyết Hồ Anh Thái của Mai Thanh Hiền, Nghệ thuật truyện ngắn Hồ Anh Thái của Nguyễn Thị Vân, Ngôn ngữ tiểu thuyết trong “Mười lẻ một đêm” của Hồ Anh Thái của Nguyễn Thị Minh Hoa, Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái của Phạm Thị My, Những người kể chuyện không đáng tin cậy trong văn học đương đại Việt Nam của Trần Thị Minh Hiếu, Kết cấu tiểu thuyết “Trong sương hồng hiện ra” và kết cấu tiểu thuyết hiện đại qua tiểu thuyết Hồ Anh Thái của Nguyễn Thị Ngọc Hà, Tiểu thuyết Hồ Anh Thái từ góc nhìn liên văn bản của Nguyễn Văn Thành, Đặc điểm tiểu thuyết “Đức Phật, nàng Savatri và tôi” của Nguyễn Thị Mỹ Chi, Hình tượng nhân vật và không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái của Lê Thị Kim Dung, Đặc sắc ngôn ngữ trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột của Hồ Anh Thái của Đào Thị Yến, Hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế và Mười lẻ một đêm của Hồ Anh Thái của Trần Văn Phượng, Phương thức huyền thoại trong “Đức Phật, nàng Savatri và tôi” của Trần Thị Tuyết Nhung, Nhân vật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái của Điêu Thị Tú Uyên, So sánh “Nghìn lẻ một đêm” và “Mười lẻ một đêm” của Nguyễn Ngọc Bảo Trâm, Đặc điểm tiểu thuyết Hồ Anh Thái của Nguyễn Thị Thu Hương, Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái của Phạm Lan Anh, Đặc điểm nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái của Phạm Thị Mỹ Anh, Nhân vật tha hóa trong sáng tác của Hồ Anh Thái của Vũ Đình Vụ, Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái của Nguyễn Hữu Tâm, Thủ pháp nhại trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái của Nguyễn Thị Trang, Văn xuôi Hồ Anh Thái nhìn từ quan niệm nghệ thuật về con người của Võ Anh Minh, Nhại và giễu nhại trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột của Hồ Anh Thái của Mai Trương Huy, Đời sống thị dân trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái của Trần Thị Thương, Nghệ thuật trào phúng trong sáng tác của Hồ Anh Thái của Phạm Thị Ngọc Hà…

Trang 17

Như vậy, đã có nhiều nghiên cứu về Hồ Anh Thái cũng như tác phẩm của ông Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến những vấn đề nổi bật trong tiểu thuyết của ông Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về nghệ thuật nghịch

dị trong tiểu thuyết của tác giả như một đối tượng nghiên cứu khoa học độc lập Xuất phát từ thực tế đó, việc nghiên cứu nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết của

Hồ Anh Thái là một việc làm cần thiết, nhằm xác định phong cách nghệ thuật của tác giả cũng như những đóng góp của ông đối với văn học Việt Nam đương đại

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những tiểu thuyết thể hiện nghệ thuật nghịch dị qua hai phương diện: Nghệ thuật nghịch dị qua hệ thống hình tượng và nghệ thuật nghịch dị qua phương thức biểu hiện

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi lựa chọn những tiểu thuyết sau của Hồ Anh Thái:

Người và xe chạy dưới ánh trăng (1987), NXB Trẻ

Người đàn bà trên đảo (1988), NXB Trẻ

Trong sương hồng hiện ra (1990), NXB Trẻ

Cõi người rung chuông tận thế (2002), NXB Trẻ

Mười lẻ một đêm (2006), NXB Trẻ

SBC là săn bắt chuột (2011), NXB Trẻ

Những đứa con rải rác trên đường (2014), NXB Trẻ

Đây là những tiểu thuyết thể hiện khá rõ nghệ thuật nghịch dị từ hệ thống hình tượng cho đến phương thức thể hiện

4 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

4.1 Phương pháp hệ thống: Đặt tiểu tiểu Hồ Anh Thái trong sự vận động

và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới, từ đó thấy được những nét độc đáo trong nghệ thuật tiểu thuyết của nhà văn

Trang 18

4.2 Phương pháp tiểu sử: Trên cơ sở tiểu sử tác giả, chúng tôi tìm hiểu về

quan niệm nghệ thuật của ông để từ đó có cái nhìn bao bao quát và toàn diện hơn đối với vấn đề nghiên cứu

4.3 Phương pháp so sánh: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để so sánh

nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái với nghệ thuật nghịch dị trong các tiểu thuyết của những nhà văn khác, từ đó tìm ra những nét nổi bật của nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết của nhà văn

4.4 Phương pháp phân tâm học: Phương pháp này giúp chúng tôi nghiên

cứu, kiến giải hình tượng con người vô thức, con người bản năng để thấy rõ hình tượng nghịch dị trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái

Ngoài các phương pháp chuyên ngành trên, chúng tôi còn sử dụng các thao tác cơ bản như phân tích, tổng hợp: Trong luận văn chúng tôi nghiên cứu nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái trên nhiều phương diện và sẽ đi sâu phân tích từng phương diện cụ thể, sau đó là khái quát, tổng hợp lại để làm rõ vấn

đề

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn đã khái quát được nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, một trong những yếu tố làm nên phong cách của nhà văn cũng như sự đóng góp của tác giả đối với tiểu thuyết Việt Nam đương đại Đồng thời, luận văn cũng giúp cho người đọc có phương pháp tiếp cận tốt hơn khi đến với tiểu thuyết của ông Mặt khác, đề tài cũng sẽ là nguồn tài liệu tham khảo về sáng tác của một tác giả tiểu thuyết Việt Nam đương đại

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Nghệ thuật nghịch dị và nhà văn Hồ Anh Thái với tiểu thuyết sau năm 1986 (13 trang)

Chúng tôi giới thuyết về nghịch dị với những nội dung như khái niệm nghịch dị, sự ra đời vá phát triển của nghịch dị qua các giai đoạn, ảnh hưởng của nghịch dị đối với tiểu thuyết Việt Nam hiện đại với lối viết mới của Hồ Anh Thái

Trang 19

Chương 2 Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái nhìn từ hệ thống hình tượng (38 trang)

Chúng tôi làm rõ nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái qua cách xây dựng hình tượng nhân vật và hình tượng không gian

Chương 3 Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái nhìn từ phương thức biểu hiện (25 trang)

Nghệ thuật nghịch dị được soi chiếu qua ngôn ngữ, giọng điệu và tình huống

Trang 20

Chương 1 NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ VÀ NHÀ VĂN HỒ ANH THÁI

VỚI TIỂU THUYẾT SAU NĂM 1986 1.1 Nghệ thuật nghịch dị

Theo Từ điển Anh – Việt: “Nghịch dị (grotesque) nghĩa là lố lăng, lố bịch,

khác thường, buồn cười, tức cười, vô lý” (Trần Quỳnh Dân, Bá Khánh, Xuân

Bách, 1999, tr.398-399) Còn 150 thuật ngữ văn học, thuật ngữ “nghịch dị” (dịch

từ tiếng Italia: grottesco và tiếng Pháp: grotesque) còn có cách dịch khác là thô kệch hoặc kỳ quặc Đó là: “Một kiểu tổ chức hình tượng nghệ thuật (hình tượng, phong cách, thể loại) dựa vào huyễn tưởng, vào tính trào phúng, vào tính ngụ ngôn, ngụ ý, vào sự kết hợp và tương phản một cách kỳ quặc cái huyền hoặc và cái thực, cái đẹp và cái xấu, cái bi và cái hài, cái giống thực và cái biếm họa

Trong lịch sử và lý luận văn học, nghịch dị khi thì được xem là thủ pháp của cái hài, khi thì được xem là mức sắc sảo của châm biếm, khi thì được nhấn mạnh ở tính táo bạo của hình tượng huyễn tưởng Với tất cả những phương thức phương tiện ấy và những phương thức phương tiện khác của sự miêu tả nghệ thuật, nghịch dị nổi bật như một kiểu ước lệ đặc thù, phô trương một cách công nhiên và chủ ý, nó tạo ra một thế giới nghịch dị - một thế giới dị thường, phi tự nhiên, lạ kỳ, như chính tác giả của nó muốn trình bày Nó khác với văn học giả tưởng vốn cho phép tin một cách giả định (thỏa thuận tạm thời với độc giả) rằng cái thế giới do nghệ sĩ tạo ra kia là thực; nó cũng khác với châm biếm vốn thường đưa cái phi logic kiểu nghịch dị vào trật tự thông thường và tự nhiên – nhìn bề ngoài – của sự vật Mỹ học của nghịch dị dường như không cần đến sự viện cớ khách quan, lôgic” (Lại Nguyên Ân, 2004, tr.210)

Rõ ràng, nghịch dị là là kiểu hình tượng đã có từ xa xưa, trong thần thoại và trong nghệ thuật cổ sơ của mọi dân tộc, duy chỉ có sự khác biệt là khi nó chưa là thủ pháp nghệ thuật Việc miêu tả những quái tượng quái vật, những nhân sư, nhân

mã thoạt đầu biểu thị niềm tin hoàn toàn rằng chúng có thực Các tác phẩm của Lukianos, hài kịch của Aristophanes và Plautus vào thời kỳ văn học cổ đại Hy Lạp – La Mã đều có dùng thủ pháp nghịch dị Là hình thức đặc trưng cho văn hóa dân

Trang 21

gian, nhất là hội cải trang ở châu Âu trung đại, nghịch dị như một thủ pháp biểu hiện quan niệm duy vật tự phát của dân gian về tồn tại

Theo nhà nghiên cứu văn học D Nicolaev trong Các giới hạn của nghịch dị

(Trần Đình Sử lược dịch, đăng trên https://trandinhsu.wordpress.com, ngày 3/3/2017) thì thuật ngữ nghịch dị (grotesque) xuất hiện ở Ý vào cuối thế kỷ

XV Đầu tiên nó được dùng để chỉ các loại đồ án trang trí, cấu tạo bằng cách miêu

tả kết hợp một cách kì dị các hình ảnh thú vật, thực vật và con người

Cũng theo 150 thuật ngữ văn học thì: “Đỉnh cao của chủ nghĩa hiện thực nghịch dị (thuật ngữ của M Bakhtin) là Gargantua và Pantagruel của F Rabelais

Các nguyên tắc quy định cấu trúc hình tượng của nghịch dị thời Phục Hưng là: thái

độ đối với thời gian, đối với sự hình thành, và gắn với hai nguyên tắc trên là tính lưỡng trị (ambivalent), là việc miêu tả một chỉnh thể, không tách biệt cả hai cực của sự hình thành: cả cái mới lẫn cái cũ, cả cái chết chóc lẫn cái sinh thành Tiếng cười do hình tượng nghịch dị gây nên cũng mang tính hai chiều: nó vừa phủ định vừa khẳng định, và do vậy nó khác với tiếng cười châm biếm của thời cận đại Chất nghịch dị thời Phục Hưng, gắn với cảm quan hội cải trang, diễn đạt cảm quan

về tính tương đối đầy vui nhộn và tính “không hoàn tất” vĩnh cửu của tồn tại Nó cũng thấm nhuần sự phục hồi cho thân xác thấm nhuần tinh thần chống khổ hạnh

một cách ngạo ngược Âm hưởng của kiểu nghịch dị này bộc lộ ở Ca tụng Ngu si

của Erasmus, ở hài kịch mặt nạ Italia, ở hình tượng những nhân vật đùa nghịch Falstaph và Caliban của Shakespeare

Văn học Khai Sáng thế kỷ XVIII xây dựng kiểu nghịch dị mang tính châm biếm sắc sảo, tố cáo cái thế giới vô học và vô bạo lực (J Swift) Các nhà lãng mạn dùng nghịch dị để nhấn mạnh rằng không thể nào thanh toán được những đối kháng có cơ sở thế giới quan, nhất là đối kháng giữa cái thẩm mĩ và cái đạo lý

Đến thế kỷ XX, nghịch dị lại trở thành một hình thức tiêu biểu của nghệ thuật, nhất là một loạt khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa Xu thế của kiểu nghịch dị này là sự biến hóa đột ngột từ thế giới quen thuộc “của ta” thành thế giới xa lạ và thù nghịch do nó cai quản, nó là một thế lực phi nhân và không thể hiểu được, một tính tất yếu tuyệt đối biến con người thành con rối, nghịch dị thấm nhuần nỗi sợ sống, thấm nhuần ý thức về tính phi lý của tồn tại (E Ionesco, S Beckett, J Barth)

Trang 22

Các môtip nghịch dị có mặt trong các sáng tác của một loạt nghệ sĩ lớn thế kỷ XX ,

thế giới nghịch dị ở họ nói chung không loại trừ nguyên tắc hiện thực (Hóa thân và

Vụ án của F Kafka, các vở kịch của L Pirandello) Kiểu nghịch dị hiện thực chủ

nghĩa vẫn thiên về tố cáo một chiều nhưng hướng tới sự luận bàn triết lý về những

xung đột xã hội và tinh thần của thế kỷ XX Đáng chú ý là tiểu thuyết Nghệ nhân

và Margarita của M Bulgakov trong đó các môtip nghịch dị được sử dụng cùng

với truyền thống trào phúng menippée của văn học cổ đại” (Lại Nguyên Ân, 2004, tr.211-212)

Trong khi đó, Từ điển Thuật ngữ văn học: “Nghệ thuật nghịch dị là một

kiểu ước lệ đặc thù: nó công nhiên và chú ý trình bày một thế giới dị thường trái tự

nhiên, chẳng hạn: Lỗ mũi mười tám gánh lông – Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho (ca dao) Hoặc trong truyện Cái mũi của Gogol, cái mũi trên mặt viên

tướng Kô-va-lép bỗng dưng biến mất một cách không sao giải thích được rồi sau lại trở về chỗ cũ và cái việc bất thường ấy dần dà trở thành bình thường đến nỗi có viên quan nọ ngả mũ chào cái mũi của ông ta đang đi dạo trên bờ sông Nê-va… Những thế giới người tí hon và người khổng lồ mà chàng Gu-li-vơ gặp phải cũng

là một thế giới nghệ thuật nghịch dị” (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, 2007, tr.203)

Cũng trong Các giới hạn của nghịch dị: “Nghịch dị là một nguyên tắc miêu

tả hiện thực trong đó kết hợp một cách nhân tạo các sự vật thuộc các loại sinh vật khác nhau, phá vỡ sự giống như thật của mô phỏng đời sống, kết hợp những cái không thể kết hợp được Chỉ có một tiêu chí như thế thì ta mới có thể xác định được tác phẩm nào là thuộc phạm trù nghịch dị và tác phẩm nào không phải Nghịch dị khác biệt với các phương thức cấu tạo hình tượng khác Chẳng hạn phân biệt với các loại cường điệu, khoa trương, mài sắc, nghịch lí, kì ảo, phi lí, hóm hỉnh” (Dẫn lại trên https://trandinhsu.wordpress.com, ngày 3/3/2017)

Chẳng hạn Nhật kí người điên (Lỗ Tấn) là nghịch lí chứ không phải nghịch

dị Nghịch lí là hiện tượng thuộc về logic, mới trông thì giống thật mà lại sai, hoặc mới thấy tưởng là sai mà thực ra là đúng Nghịch lí là làm cho gần gũi những cái vốn xa nhau, hoặc làm cho xa nhau những cái vốn là gần gũi Nghịch lí và nghịch

dị đều là biện pháp thể hiện hiện thực, nhưng khác nhau ở chỗ, nghịch lí tạo ra

Trang 23

phối cảnh bất ngờ, đối với các sự vật bình thưòng nhưng thực chất không thủ tiêu tính bình thường của nó Nghịch dị đi xa hơn, cấu tạo lại cái bình thường thành một cái dị thường, khác thường, đến mức không còn có tính bình thường nữa, trở thành kì quặc, cổ quái Nghịch dị không chỉ đòi hỏi một cái nhìn bất ngờ đối với sự vật xung quanh, mà còn cải tạo lại hiện thực theo những kết hợp mà thực tế không thể có được

Với nghịch dị và kì ảo, nhà điện ảnh Nga Eyzenstein đặt câu hỏi: Sức hấp dẫn của nghịch dị nằm ở đâu? Và trả lời: Nó nằm ở chỗ không thể kết hợp được của các loại Lại hỏi: Nội dung chủ yếu của nghịch dị là gì? Và trả lời: là sự kết hợp của những cái không thể kết hợp, hiện thực và kì ảo, sự lai ghép hai sự vật đối

lập nhau Chẳng hạn truyện Cái chậu vàng của Hofman nữ nhân vật là người bán

táo, nhưng đồng thời mụ là con quỷ Nhân vật Ligorst trong đó là ông già giữ hồ

sơ, nhưng ban đêm ông ta là một con ma trơi Các kết hợp giữa hiện thực và kì ảo

tạo ra tính đặc thù của nghich dị (Dẫn lại Vấn đề văn học, số 1 năm 1968,

tr.106) Như vậy nghịch dị bao hàm cả kì ảo, nhưng không phải mọi kì ảo là nghịch dị Ví dụ tiểu thuyết viễn tưởng là kì ảo, song không phải nghịch dị Nếu vào thời hiện đại, ta bắt gặp một ông già cổ đại (như ông Khottabit) hay trên đường phố ta gặp người đàn bà lân tinh (như của Maiakovski) thì đó là nghịch dị, chứ không phải kì ảo Vì ở đó kết hợp các không gian, thời gian không thể kết hợp nhau được Như vậy nghịch dị là những sự kết hợp phi hiện thực

Về chức năng của nghịch dị so với các hình thức nghệ thuật ước lệ Nedoshivin cho rằng nghịch dị là hình thức cực đoan nhất của các thủ pháp ước lệ Quan niệm này rất phổ biến Có ý kiến ngược lại, xem nghịch dị là một hình thức ngụ ý (nói khác) để phản ánh hiện thực ví dụ tranh cổ động miêu tả chú Sam với cái đầu là một quả bom Trong văn học nghịch dị là hình thức cường điệu châm biếm Ví dụ trong phim hài của Charli Chaplin, người đào vàng đói quá đã đem nấu đôi giày để ăn Anh ta ung dung mang khăn ăn, dùng cái nĩa quấn cái dây giày, chấm vào nước chấm để ăn, rồi dùng dao cắt từng miếng da giày, cuối cùng mút từng cái đinh giày như mút cái xương cá Nhân vật Kovaliop của Gogol bị mất cái mũi là một mẫu mực của nghịch dị Ở đây cái kì ảo khám phá bản chất của con

người mà trước đó bị che giấu Trong vở kịch Cái bóng của E Shvarez cái bóng từ

Trang 24

giả con người mà đi và tồn tại độc lập Đây cũng là giả thiết kì ảo Còn cái bóng là một ẩn dụ, đại diện các lực lượng đen tối và phản bội Nó là một nghịch dị ngụ ý

Theo Ju Mann thì nghịch dị là một hình thức đặc thù của ẩn dụ, nói theo một nghĩa khác, kiểu như thần công lí tay cầm cái cân, nhưng hai mắt bị bịt kín

(Bàn về nghịch dị trong văn học, Matscova, 1966, tr.98 – 99) Ý này có thể không

hoàn toàn đúng Trước đây Lessing từng nói ngụ ý, phúng dụ (allegorie) mâu thuẫn với bản chất của nghệ thuật, vì nó không sáng tạo Diderot cũng từng nói: Bao giờ tôi cũng cho rằng phúng dụ là sản phẩm của một trí tuệ non kém, bất lực, không đủ sức làm phong phú mình bằng thực tại Nhưng ở đây các tác giả chống lại phúng dụ của chủ nghĩa cổ điển Vẫn có nhà văn nói ngược lại: nhà văn Nga Korolenco nói với M Gorki rằng: Nếu allegorie mà hóm hỉnh thì rất hay chứ Gorki cho rằng allegorie có thể chứa đựng những tư tưởng lớn lao Vậy nghich dị khác với phúng dụ nhưng không mâu thuẫn với nó, ngược lại chúng có thể kết hợp khăng khít với nhau

Nếu phúng dụ chỉ là thay cái này bằng cái khác, thì nghịch dị chính cái khác nhau là một thực tại mới Cách hiểu như của Kaizer thì nghịch dị là một thế giới xa

lạ, tả một sức mạnh xa lạ với con người và với tự nhiên, như là tự nó vốn thế Bản chất của nghịch dị là một sự song trùng luôn chứa đựng mâu thuẫn, thực hiện các chức năng của nghịch dị có thể là châm biếm, hài hước, bi kịch Nghệ thuật nghich

dị đạp tan tính như thật của phản ánh đời sống, cho phép sáng tạo tự do và đa dạng

Nói như M.Bakhtin: “Kiểu hình tượng nghịch dị (tức là phương pháp xây dựng hình tượng) là kiểu cổ xưa nhất: ta gặp nó trong huyền thoại và nghệ thuật cổ

sơ của tất cả các dân tộc, trong số đó tất nhiên, cả ở trong nghệ thuật tiền cổ điển của những người Hy Lạp và La Mã cổ Ngay trong giai đoạn cổ điển, kiểu hình tượng nghịch dị vẫn không tiêu vong, nhưng bị đẩy ra ngoài nền nghệ thuật lớn, chính thống, nó tiếp tục sống và phát triển trong một số lĩnh vực nghệ thuật “hạ đẳng”, phi quy phạm” (Bakhtin, 1992, tr.193) Đó là lĩnh vực nghệ thuật điêu khắc trào tếu, hội họa trào tếu, hay kiểu hội cải trang trong văn học trào tếu

Tóm lại, chúng tôi đồng quan điểm cho rằng: Nghịch dị là một kiểu tổ chức hình tượng nghệ thuật dựa vào huyễn tưởng, vào tính trào phúng, vào tính ngụ

Trang 25

ngôn, ngụ ý, vào sự kết hợp và tương phản một cách kỳ quặc cái huyễn hoặc và cái thực, cái đẹp và cái xấu, cái bi và cái hài, cái giống thực và cái biếm họa Xã hội hiện đại thế kỷ XX đầy rẫy những điều phi lý, sự trộn lẫn, giao thoa giữa cái cao nhã và cái thấp hèn, mọi ranh giới, phép tắc xã hội đều chênh vênh, khó đoán giải Nhà tiểu thuyết, khi lựa chọn thể loại đó để viết, chính là lấy tấm gương di động để phản ánh hiện thực, anh ta sẽ tự tìm ra những lối viết tạo sức hấp dẫn, đồng thời vẫn tận cùng đi đến lý giải cái thế giới hiện thực “dị thường” Do vậy, nghệ thuật nghịch dị sẽ như là một thủ pháp hình tượng có giá trị để chuyển tải được ý nghĩa nghệ thuật của tác phẩm

1.2 Hồ Anh Thái với tiểu thuyết sau năm 1986

1.2.1 Về nghệ thuật tiểu thuyết sau năm 1986

Không khí đổi mới của đại hội VI năm 1986 đã thổi một luồng gió mới vào đời sống văn học nghệ thuật nước ta, mở ra một chặng đường phát triển của văn học trên tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật Nhiều thể loại văn học

có sự đổi mới cả nội dung lẫn nghệ thuật, trong đó có tiểu thuyết Các tác giả tiểu thuyết trong giai đoạn này có ý thức cách tân trong lối viết, tạo nên những nét mới

và hấp dẫn

Nhìn chung, điểm nổi bật của tiểu thuyết từ năm 1986 đến nay là dung lượng ngắn, nội dung tiểu thuyết dồn nén, nhiều tầng ý nghĩa Nhịp sống ngày càng hối hả, con người phải chạy đua với thời đại công nghiệp hóa, thời gian rất quý giá nên người ta không có đủ thời gian để đọc những quyển tiểu thuyết hàng nghìn trang Thay vào đó, người ta thích đọc những tiểu thuyết có dung lượng ngắn hơn Một số tiểu thuyết tiêu biểu cho loại tiểu thuyết ngắn này như: Nguyễn

Bình Phương với Thoạt kì thuỷ (167 trang), Những đứa trẻ chết già (202 trang), Trí nhớ suy tàn (127 trang), Ngồi (300 trang); Thuận với Chinatown (227 trang), Paris 11 tháng 8 (287 trang); Tạ Duy Anh với Thiên thần sám hối (125 trang), Đi tìm nhân vật (225 trang); Hồ Anh Thái với Người đàn bà trên đảo (187 trang); Trong sương hồng hiện ra (181 trang) Bên cạnh những tiểu thuyết, cốt truyện theo

kiểu truyền thống có mở đầu, có kết thúc rõ ràng, mạch lạc, nhiều tiểu thuyết có kết thúc mở, cấu trúc lắp ghép, cốt truyện lỏng lẻo, khó nắm bắt Xu hướng liên văn bản trở thành kiểu kết cấu phổ biến, nó được hình thành từ việc lắp ghép các

Trang 26

mảnh vụn, các sự kiện bị cắt rời, từ những mảnh tâm trạng, hồi ức… Cái ảo và cái thực đan xen, chuyện nọ xen chuyện kia, dường như không liên quan gì đến nhau

vì thế rất khó tóm tắt cốt truyện, đôi khi chỉ là những dòng tâm trạng của nhân vật

Tính liên văn bản còn được tạo nên từ sự kết hợp của nhiều thể loại, hình

thức truyện lồng trong truyện được rất nhiều nhà văn sử dụng, trong bài viết Suy nghĩ về vài quan niệm tiểu thuyết từ 1986 đến nay, tác giả Xuân Tùng có đưa ý

kiến của nhà văn Tô Hoài, rằng: “Tiểu thuyết là một thể hỗn hợp thu hút được hết các thể loại khác Không ai trói được nó trong bất cứ một chừng mực nào Chúng

ta có thể đem vào tiểu thuyết một hình thức nào đó của văn xuôi cũng được: kịch, bút ký, truyện ngắn, truyện dài và cả thơ nữa, đem từng chương, từng đoạn hoặc từng chữ – dùng thẳng hay dùng tinh thần nó – để miêu tả một ý nghĩ, một hành động nhân vật, hình thức nào tiểu thuyết cũng dung nạp được tất” (Xuân Tùng,

2013, http://toquoc.vn)

Một số tiểu thuyết có hình thức liên văn bản kiểu này như Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình Phương, Đức Phật, nàng Savitri và tôi của Hồ Anh Thái, Xác phàm của Nguyễn Đình Tú…

Văn học ở giai đoạn trước 1975 với tư duy sử thi và cảm hứng lãng mạn, các nhà văn nhìn cuộc đời và con người có phần đơn giản, một chiều, phiến diện

Ở thời kỳ này, sự thay đổi quan niệm nghệ thuật và con người, tiểu thuyết tập trung thể hiện cuộc sống nhiều chiều kích và con người cá nhân Con người được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, đa dạng và phức tạp hơn Nhiều tác giả đi sâu khám phá số phận cá nhân ở góc độ đời tư như tình yêu, hạnh phúc, khổ đau;

đi vào thế giới tâm linh, vô thức, giấc mơ Từ cách tiếp cận đa chiều về con người, cuộc sống cũng sẽ hiện lên với tất cả sự phồn tạp như vốn có của nó Qua những

tiểu thuyết tiêu biểu Thời xa vắng (Lê Lựu), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Trong sương hồng hiện ra (Hồ Anh Thái), Thoạt kỳ thủy (Nguyễn Bình Phương)… cho thấy ngôn ngữ trong

tiểu thuyết thời kỳ này cũng có nhiều đổi mới Đó là kiểu ngôn ngữ tiểu thuyết gần với ngôn ngữ đời sống, khẩu ngữ, đặc biệt là sự xuất hiện khá nhiều từ ngữ thông tục Cuộc sống xô bồ, phức tạp, chen lấn, giành giật, lừa gạt, đểu giả, con người ăn nói bạt mạng, văng tục, chửi thề khắp nơi Vì thế, lớp từ ngữ này đã phản ánh chân

Trang 27

thực chân dung của con người trong xã hội đương đại Hơn nữa, đó cũng nó còn gắn liền với chủ ý giải thiêng văn học Ngoài ra, tiểu thuyết đương đại còn thể hiện

sự gia tăng của ngôn ngữ vô thức như một phương thức biểu đạt trạng thái tâm lý con người, những khát vọng không thành hiện thực, phù hợp với việc miêu tả con người bản năng, con người tâm linh trong một thế giới bất an và đầy dục vọng Ngoài ngôn ngữ tác giả còn có ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ trần thuật thường ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba, điểm nhìn luân phiên thay đổi tạo nên giọng điệu đa thanh

Yếu tố ảo cũng xuất hiện rất nhiều trong tiểu thuyết ở giai đoạn này, yếu tố

ảo gắn liền với thời gian, không gian và nhân vật, có tác dụng cảnh báo cái ác, cái xấu Môtíp giấc mơ, giấc chiêm bao cũng được sử dụng khá nhiều để thể hiện thế giới vô thức của nhân vật

Nền văn học cách mạng trước 1975, mang đậm chất sử thi nên giọng điệu thành kính, trang trọng, trở thành giọng điệu chủ đạo Bước sang giai đoạn đổi mới, không còn là giọng ca ngợi nữa mà thay vào đó là sự xuất hiện của nhiều giọng điệu: giọng trữ tình, xót xa, thương cảm, giọng triết lí, giọng hoài nghi, chất vấn, đối thoại… nhưng giọng điệu nổi bật là giọng giễu nhại Giễu nhại trở thành giọng điệu phổ biến với nhiều sắc tái khác nhau, có thể tìm thấy trong tiểu thuyết của nhiều nhà văn như Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Thuận, Nguyễn Việt Hà…

Tóm lại, tiểu thuyết từ năm 1986 đến nay đã có những cách tân sâu sắc, để lại những dấu ấn nổi bật với một đội ngũ sáng tác đông đảo và giàu nhiệt huyết Bên cạnh những đổi mới về nội dung thì hình thức nghệ thuật cũng có nhiều sáng tạo từ hình thức diễn đạt cho đến quan niệm nghệ thuật về con người và cuộc sống… Mỗi cây bút để lại một dấu ấn riêng, một phong cách riêng làm nên diện mạo chung và đóng góp vào sự thành công của văn học thời kỳ đổi mới nói chung

và tiểu thuyết nói riêng

1.2.2 Hồ Anh Thái với lối viết mới trong tiểu thuyết sau 1986

Hồ Anh Thái được xem là một hiện tượng của văn học Việt Nam sau 1975,

là một nhà văn trẻ với sức viết dồi dào, trong suốt 30 năm cầm bút, lúc nào cũng luôn làm mới mình để trở thành một trong những gương mặt nổi bật nhất trên văn đàn Việt Nam đương đại Ông sinh năm 1960 tại Hà Nội, nhưng quê gốc ông ở

Trang 28

Nghệ An Ông tốt nghiệp đại học ngành Quan hệ quốc tế và sau đó làm việc tại Bộ Ngoại giao, từng công tác tại nhiều quốc gia Âu – Mỹ và đặc biệt có khoảng thời

gian làm việc tương đối lâu tại Ấn Độ

Hồ Anh Thái khởi nghiệp viết văn từ rất sớm và gây sự chú ý bởi những tác

phẩm có cách viết mới lạ, giọng điệu riêng: Người và xe chạy dưới ánh trăng (1987); Người đàn bà trên đảo (1988); Trong sương hồng hiện ra (1990) Tuy

nhiên dấu ấn thực sự, ghi dấu tên tuổi ông với tư cách là một nhà văn chuyên nghiệp phải kể đến những tiểu thuyết viết khoảng những năm 2000 về sau như:

Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm, SBC là săn bắt chuột… Những

tác phẩm này sau khi ra đời đã thu hút sự chú ý rộng rãi của người đọc cũng như giới phê bình bởi tính độc đáo của nó Tính độc đáo trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái

có thể phân tích từ nhiều góc độ như: hình tượng, đề tài, ngôn ngữ… Tuy nhiên, dấu ấn rõ nhất chính là giọng điệu không lẫn với bất cứ tác giả nào

Trong Cõi người rung chuông tận thế và cuộc đối đầu thiện – ác, Mai Hiền

có trích câu nói của nhà văn Hồ Anh Thái, rằng: “Tôi không đặt văn chương vào tháp ngà mà để nó chung sống với những vấn đề nhạy cảm của xã hội” (Mai Hiền,

2015, https://baothaibinh.com.vn) Tác phẩm văn học phải phản ánh được sự phức tạp của cõi người, cõi đời chứ không thể viết văn mà lời lẽ kềnh càng, rườm ra hoặc cố tỏ ra đao to búa lớn để thu hút sự chú ý của mọi người Chính vì vậy mà nhà văn không cho phép mình cẩu thả trong khi cầm bút, mỗi con chữ mà nhà văn viết ra đều là những con chữ sáng tạo, nhà văn tâm niệm người viết phải là người

“phu chữ”

Ông cũng quan niệm hiện thực là những gì ta nghe thấy, ta trải nghiệm là chưa đủ Hiện thực còn là cái ta cảm thấy nữa Những gì tồn tại ở thế giới bên ngoài đều có thể tìm thấy ở thế giới bên trong mỗi con người, ở trong tâm trí của

họ

Cùng với sự vận động, cách tân của nghệ thuật tiểu thuyết từ sau 1986, Hồ Anh Thái đã đem đến cho tiểu thuyết một luồng gió mới, một diện mạo mới với lối viết độc đáo Cả đời sống tâm linh cũng là hiện thực, không ai dám nói đã đào sâu thấu hiểu cái thế giới ấy Nhà văn đặc biệt quan tâm đến sự thay đổi của con người trong cuộc sống hiện đại Con người quay cuồng trong vòng xoáy danh lợi, thực

Trang 29

dụng, ích kỷ, chà đạp lên đạo đức Đặc biệt với cái nhìn hướng thiện, ông hướng con người đến những điều tốt đẹp, nhìn cuộc đời bao dung, rộng lượng

Có thể chia tiểu thuyết Hồ Anh Thái làm hai giai đoạn: từ 1986 đến năm

2000 và từ năm 2000 đến nay

Ở giai đoạn đầu ông có bốn tiểu thuyết, gồm: Vẫn chưa tới mùa đông (1986), Người và xe chạy dưới ánh trăng (1987), Người đàn bà trên đảo (1988), Trong sương hồng hiện ra (1990) Lúc này đất nước đã bước sang thời kinh tế thị

trường, cuộc sống được nhìn nhận đa chiều kích với tất cả những mặt tốt và mặt xấu của nó Vì vậy, các tiểu thuyết trên đều mang nội dung mới mẻ và mang hơi thở của thời đại Tiểu thuyết không còn mang âm hưởng sử thi của văn học thời chiến mà đi vào vấn đề thân phận con người, về những hiện thực phi lý như giấc

mơ, huyền thoại, tâm linh Với những tiểu thuyết này, hiện thực được nhìn nhận đa chiều kích trong mối quan hệ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai Đặc biệt là quá khứ được nhìn nhận lại như một lời giải đáp cho những băn khoăn của con người hiện tại Phản ánh sự xung đột trong tâm trạng của thế hệ trẻ trải qua những năm

tháng chiến tranh chống Mĩ như Toàn trong Người và xe chạy dưới ánh trăng, nhân vật có lối sống lệch lạc, bản năng như Tường trong Người đàn bà trên đảo,

sự tha hóa, trượt theo những dục vọng thấp hèn như Khuynh trong Người và xe chạy dưới ánh trăng Tác giả thường để cho các nhân vật tự ý thức để đi sâu vào

khám phá đời sống nội tâm cũng như những bi kịch cá nhân Ngoài ra, còn có sự xuất hiện của thế giới tâm linh và các yếu tố kì ảo như huyền thoại về nghĩa quân

Tần Đắc trong Người đàn bà trên đảo, cốt truyện huyễn tưởng trong Trong sương hồng hiện ra, những giấc mơ của Toàn trong Người và xe chạy dưới ánh trăng…

Giọng điệu tiểu thuyết của Hồ Anh Thái giai đoạn này là giọng trữ tình,

giàu chất thơ Đoạn văn miêu tả cảnh người và xe chạy dưới ánh trăng trong Người

và xe chạy dưới ánh trăng có thể nói là đoạn văn đẹp nhất, để lại cho người đọc

một cảm xúc thật êm đềm và sâu lắng Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng giọng hài hước, dí dỏm, đôi khi xen kẽ với giễu nhại, châm biếm

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, dấu ấn thực sự, ghi dấu tên tuổi ông với lối viết độc đáo phải kể đến những tiểu thuyết viết khoảng những năm 2000 về sau

như: Cõi người rung chuông tận thế (2003), Đức Phật, nàng Savitri và Tôi (2006),

Trang 30

Mười lẻ một đêm (2006), SBC là săn bắt chuột (2011), Dấu về xóa gió (2012), Những đứa con rải rác trên đường (2014)

Hiện thực đất nước trong giai đoạn này hiện lên như một bức tranh hỗn tạp,

xô bồ, đầy rẫy những trớ trêu, nghịch cảnh Cuộc sống như một vở hài kịch với sự giả dối, tha hóa của giới trí thức, bọn trọc phú học làm sang, sự lố lăng, kệch cỡm của những phòng khách, sự nhạt nhẽo của tầng lớp thị dân cùng những biến hóa muôn mặt của đời sống Để bóc trần bản chất của hiện thực, nhà văn kết hợp giữa

thực và ảo Trong bài viết Hồ Anh Thái, người mê chơi cấu trúc, Nguyễn Đăng

Điệp viết: “Tôi cứ nghĩ văn Hồ Anh Thái hấp dẫn người đọc bởi lẽ anh đã nhúng

tư tưởng vào thế giới đầy biểu tượng Hay nói một cách đơn giản hơn, nhà văn đã trộn hòa cái thực vào cái ảo một cách khá nhuần nhuyễn khiến cho ý tưởng ẩn chìm vào mê trận ngôn từ” (Nguyễn Đăng Điệp, 2012,

http://phebinhvanhoc.com.vn) Các môtíp giấc mơ, giấc chiêm bao cũng được nhà

văn sử dụng khá nhiều Đó là thế giới của người và chuột đan xen trong SBC là săn bắt chuột; là những giấc mơ của Mai Trừng, sự liên thông của cô với cõi âm trong Cõi người rung chuông tận thế; là câu chuyện của thằng bé người cá trong Mười lẻ một đêm…

Hiện thực xã hội nói trên cũng chính là cơ sở để nhà văn xây dựng nên những nhân vật với những đặc điểm, sở thích khác thường, dị hợm Một họa sĩ thích khỏa thân trồng cây chuối, một luật sư nghiện đám ma, một ông giáo sư đồng thời cũng là nhà văn hóa lớn thích đái đường, một ông cốp thích ăn đất hay một anh chàng lấy việc bóp cổ để thỏa mãn… rất nhiều những kiểu nhân vật như vậy Tác giả thường không đặt tên cho nhân vật mà chỉ ký hiệu qua ngoại hình, chức danh, nghề nghiệp, với những cái tên như cô Báo, chú Thơ, Giáo Sư, Họa Sĩ, Luật

Sư, Thư Ký, Víp, Cốp, cô Mắm, cô Mơ Khô… những kiểu nhân vật nhan nhản trong đời sống, có thể bắt gặp mọi lúc, mọi nơi Nhân vật trong tiểu thuyết của ông

là những chủ thể phi trung tâm, chỉ là những mảnh ghép vào nhau Ngoài ra, ông cũng thành công với kiểu nhân vật bản năng, những nhân vật tha hóa bởi những ham muốn tình dục vô độ, cái dâm của nhân vật được khuếch trương lên cực đại Một ông giáo sư nhưng lại bị HIV do quan hệ tình dục bừa bãi, một hoa khôi không thể sống mà thiếu tình dục, một bà mẹ qua năm đời chồng và vô số cuộc

Trang 31

tình, một cô nhà báo gặp ai cũng rủ lên giường làm thơ… Các nhân vật được xây dựng trên quan niệm đề cao yếu tố vật chất xác thịt

Giọng điệu đặc trưng trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái giai đoạn này là giọng giễu nhại, hài hước, trào lộng Ông giễu nhại những hiện tượng lố lăng, kệch cỡm đầy rẫy trong xã hội mà đồng tiền làm kim chỉ nam, những trưởng giả học làm sang, những kẻ cơ hội luồn lách leo cao, những kẻ háo danh, rởm đời Những tiểu

thuyết lấy giọng giễu nhại làm vai trò chủ đạo như: Cõi người rung chuông tận thế, SBC là săn bắt chuột, Mười lẻ một đêm, Những đứa con rải rác trên đường…

Ngoài ra, sự cách tân về ngôn ngữ cũng ghi nhận những nỗ lực đáng kể của nhà văn trong quá trình làm mới tiểu thuyết Thứ ngôn ngữ đậm chất dân gian, những câu nói tục, chửi thề, tiếng lóng được sử dụng rất nhiều… Bên cạnh sự xuất hiện của ngôn ngữ mạng, ngôn ngữ thời đại kỹ thuật số đã mang lại hơi văn mới mẻ trong tác phẩm của Hồ Anh Thái

Tiểu kết

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về nghịch dị nhưng khi du nhập vào Việt Nam thuật ngữ này có thể được hiểu là cái thô kệch hoặc kỳ quặc Nghệ thuật nghịch dị là một kiểu ước lệ đặc thù: nó công nhiên và chú ý trình bày một thế giới

dị thường trái tự nhiên Kiểu hình tượng nghịch dị đã có từ xa xưa, trong thần thoại

và trong nghệ thuật cổ sơ của mọi dân tộc nhưng chưa là thủ pháp nghệ thuật, chỉ trong sáng tác của một số nhà văn cổ đại ở châu Âu và trong văn học dân gian nó mới trở thành thủ pháp Thịnh thời của nghệ thuật hình tượng nghịch dị là hệ thống hình tượng của văn hóa trào tếu dân gian trung cổ và đỉnh cao của chủ nghĩa hiện

thực nghịch dị là văn học thời Phục Hưng với Gargantua và Pantagruel của F

Rabelais Chính ở thời đại Phục Hưng, lần đầu tiên xuất hiện thuật ngữ nghịch dị nhưng lúc đầu nó chỉ được dùng theo một nghĩa hẹp

Nghịch dị hiện đại gắn liền với thế kỷ XX, lúc này nghịch dị trở thành một hình thức tiêu biểu của nghệ thuật Chất nghịch dị xuất hiện trong nhiều tác phẩm của các nhà văn nổi tiếng như F Kafka, M Bulgakov, L Pirandello… Ở Việt Nam

những năm đầu thế kỷ XX, hình tượng nghịch dị xuất hiện trong tiểu thuyết Số Đỏ

của nhà văn Vũ Trọng Phụng, truyện ngắn của Nam Cao Từ năm 1986 đến nay, nghịch dị phát triển mạnh mẽ trong tiểu thuyết Việt Nam, với những tác giả như

Trang 32

Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Phạm Thị Hoài… đã góp phần thể hiện cái nhìn dân chủ với tiếng cười châm biếm, giễu nhại Trong đó, với cách viết như của Hồ Anh Thái khiến người ta hình dung đến một thế giới nghịch dị đầy hài hước, tự trào, hoạt kê… và gây kích ứng đến người đọc

từ nhân vật, không gian, ngôn ngữ, giọng điệu…

Trang 33

Chương 2 NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI

NHÌN TỪ HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG 2.1 Kiểu hình tượng nhân vật nghịch dị

Theo Huỳnh Thu Hậu trong Nhân vật nghịch dị trong tiểu thuyết đương đại Việt Nam thì: “Hình tượng nhân vật nghịch dị của tiểu thuyết đương đại Việt Nam không có độ hoành tráng và kì vĩ như Gagangchuya và Pantagruyen của

Rabelaise Hơn nữa, nghệ thuật nghịch dị trong xây dựng nhân vật của tiểu thuyết đương đại Việt Nam mang tính chất hiện đại và hậu hiện đại Nghịch dị gắn với những biểu hiện đời thường Nó cũng bắt đầu có dấu hiệu sử dụng cả những yếu tố

kì ảo, quái dị, gắn với tiếng cười, và phóng đại một hoặc một vài khía cạnh tính cách” (Huỳnh Thu Hậu, 2016, http://vanhien.vn) Qua khảo sát những tiểu thuyết của Hồ Anh Thái, kiểu hình tượng nhân vật nghịch dị đã tạo nên một bức tranh hiện thực đầy màu sắc, lạ lẫm trong cách thể hiện, nhưng quen thuộc khi thấy họ xuất hiện Đó là kiểu nhân vật biếm họa, kiểu nhân vật ký hiệu và kiểu nhân vật khuếch đại

2.1.1 Kiểu nhân vật biếm họa

Ở Chuyện của người và chuột thì Hoài Nam gọi: “Chân dung biếm họa, về

bản chất, là thứ chân dung bị bóp méo theo cách có thể khiến người xem phải bật

cười Người ta có sẵn cho mình hình ảnh về đối tượng là thế này, nhưng hóa ra

chân dung của nó lại bị trình hiện xiên xẹo xệch xạc thành thế kia Cái nghiêm túc

bị thay thế bằng cái cười cợt Họ là những nhân vật đóng vai trò quan trọng trong

xã hội lúc này” (Hoài Nam, 2011, https://www.nxbtre.com.vn) Khảo sát tiểu

thuyết Hồ Anh Thái, chúng tôi nhận thấy kiểu nhân vật biếm họa xuất hiện với

nhiều khuôn diện khác nhau

2.1.1.1 Những kẻ háo danh, tham vọng

Chân dung Ông Cốp là bức biếm họa về tham vọng quyền lực, danh lợi, địa

vị Xuất thân từ một cán bộ đoàn cơ sở phụ trách văn nghệ kèn trống nhưng bằng nhiều thủ đoạn, Cốp đã leo lên đến đỉnh cao quyền lực Tốt nghiệp trung cấp về rừng chống lâm tặc, bị sập bẫy thú của bọn phá rừng nên ông được tuyên dương rồi đi học Đông Âu, lại về rừng bắt lâm tặc rồi được rút về bộ: “Tình trạng hiểm

Trang 34

nghèo cấp bách đến mức trên phải rút về bộ” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.189) Sau đó, nhờ luồn lách lên vụ trưởng, thứ trưởng rồi tiếp tục lên nữa Khi còn ở bộ, Cốp bị

tố cáo có dinh thự ở quê trị giá nửa triệu đô, con gái du học ngước ngoài, bắt tay với lâm tặc, liên minh với Đại Gia chia chác lợi nhuận trong các dự án mờ ám Đường quan lộ thênh thang vì được các thế lực che chở với danh nghĩa bảo vệ uy tín cán bộ và nhờ vào thủ đoạn: “Chiến thắng bao giờ cũng thuộc về người biết giữ miệng, không để lộ mình bằng câu nói bằng văn bản Chiến bại bao giờ cũng thuộc

về những người không biết nhẫn nhịn, nông nổi, hấp tấp, chỉ biết nói cho sướng mồm, lại ngộ nhận rằng mình cương trực thẳng thắn” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.196) Cốp là người mê tín nhưng sự mê tín ấy cuối cùng cũng chỉ vì lợi: “Hồn thiêng sẽ ghi nhận nghĩa tử của ông mà tìm cách mang lợi đến cho ông” (Hồ Anh Thái,

2011, tr.67) Khi sức khỏe Cốp đi xuống, thầy pháp phán mạng ông sẽ được tăng cường ở hướng bắc, lập tức Đại Gia cho phục dựng ngôi chùa hoang có niên đại tám trăm năm trước cho Cốp đi lễ: “Ông Cốp thỉnh thoảng tiền hô hậu ủng về đấy cúng lễ, cảm thấy bệnh vơi đi, người hưng phấn” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.123) Cốp xin con mèo chết về đào hố chôn rồi trồng vào đấy một cây khế, vì cây khế sẽ mang lại lợi lộc cho ông: “Ông thích cây khế Loại cây ăn một quả trả cục vàng

Có một cái gì đó giống như lộc vào nhà” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.176) Cốp rất thích làm dáng nên thường tô môi đỏ khi diễn thuyết, nếu bà quên thì ông tự cắn

môi cho đỏ: “Có một dịp quên hiếm hoi Ông biết cách kín đáo cắn môi cho môi

đỏ lên một tí, láng ướt một tí” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.191) Cốp còn là một kẻ giả trá, theo ông chính khách phải là diễn viên đại tài: “Tiếp xúc với đồng bào bị lũ lụt phải biết lúc nào đưa tay chấm khóe mắt Tài tình thì cái chấm khóe mắt ấy vừa như chùi một giọt nước mắt, lại vừa như gẩy một hạt bụi Người thiện ý nhìn thấy

ta xúc động Người thiếu thiện cảm thì thấy ta bị bụi vào mắt chứ không thấy là ta giả” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.199) Ông cũng là kẻ háo danh, thích được người khác nịnh hót, ca tụng Cấp dưới gọi Cốp là Tướng Ông và gọi vợ ông là Tướng Bà, họ còn tâng bốc, đưa ông lên tận mây xanh: “Tướng Ông cả đời không có một cái lỗi nào, chỉ trừ lỗi lạc Không có một khiếm khuyết nào, chỉ trừ cái tên” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.197) Nhưng thực chất, Cốp chỉ là một con vẹt, chỉ biết nói theo kiến thức sách vở Vì vậy, nên trong hội nghị, Cốp hồn nhiên vỗ tay khi có anh chàng

Trang 35

cơ sở tấu hài nhưng rồi lại chạnh lòng nghĩ nó giễu cái cách đặt câu hỏi của mình:

“Sống trong đời sống cần có một cái vòng/ Để làm gì em biết không? (Hồ Anh Thái, 2011, tr.201) Ông Cốp hiện lên là một kẻ thủ đoạn, đầy tham vọng, háo danh, xảo trá

Ông Cốp có rất nhiều mối quan hệ làm ăn, trong đó có Giáo Sư Chân dung biếm họa của Giáo Sư là “chim to không lo chết đói”, “vừa dâm vừa bạo ngược”, đồng thời cũng là một người có tham vọng leo cao và thích nổi tiếng Một tên cướp giả dạng cán bộ đã hãm hiếp cô hàng nước sinh ra Giáo Sư Sau khi tốt nghiệp đại học, Giáo Sư được giữ lại trường làm cán bộ đoàn, rồi tăng cường cho tổ bộ môn

Để hiện thực hóa tham vọng leo cao, ông quyết tâm lấy con gái ông víp: “Yêu cha

mà lấy con Con đường công danh chắc chắn sẽ êm đềm như lụa” (Hồ Anh Thái,

2011, tr.287) Còn cô ấy lấy ông vì chim to, ngay lần hẹn đầu tiên ông đã kéo tay

cô đặt vào chim: “Cô giãy nảy lên, rụt tay lại Anh chàng táo tợn lại kéo tay cô đặt vào lần nữa Một hành động thay cho lời tỏ tình Lần này thì cô để khá lâu Anh biết là anh đã thành công” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.287) Sau khi sinh cho ông ba đứa con bà phải bỏ đi vì không chịu nổi, lúc nào ông cũng sùng sục như trâu húc

mả Phần ông, nhờ có bố vợ mà con đường công danh sự nghiệp thăng tiến rất nhanh Ông lên làm tổ trưởng bộ môn, rồi phó khoa, trưởng khoa Leo cao được rồi thì muốn được nổi danh, thích quảng bá tên tuổi Thế nên, mặc dù làm khoa học tự nhiên nhưng ông lên báo đài phổ biến nuôi trồng thủy sản, giải đáp thắc mắc văn sử địa, gỡ rối tơ lòng, giải đáp hồ sơ xin việc, cách chữa trị hôi nách Rồi nhờ mồm mép hoạt ngôn, bản tính ma lanh, giảo hoạt lại hay lui tới nhà các cốp các víp, bạn của ông bố vợ, nên ông được cấp bằng tiến sĩ, được phong phó giáo

sư Ông đã dùng mọi thủ đoạn để đạt được mục đích Ông có hai thằng con trai đều làm tướng cướp nhưng bù lại ông có niềm an ủi không bao giờ vơi cạn, đó là gái Cũng vì ngủ với gái mà Giáo Sư bị si đa, trên đường đi giảng bài cho một trường cao đẳng, ông ghé vào vườn chuối để tiểu rồi quan hệ luôn với người phụ nữ ngay trên nền đất trong căn nhà gần đó: “Giáo Sư lại đang nằm sấp trên nền đất, miệng rên người nhún Nhún nhún giật giật liên hồi” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.281) Là giáo sư, lẽ ra phải nghiêm cẩn, chuẩn mực nhưng ông lại phát ngôn rất vô giáo dục Ông bảo vùng này đàn bà ngon thế mà gái góa bỏ không cũng phí Ông đã

Trang 36

ngủ với phần lớn phụ nữ mà ông hướng dẫn luận văn, hễ có phụ nữ nào đến nhà là đều đúc kết trên chiếc giường hướng dẫn luận văn của ông: “Xong rồi lại nghĩ, mấy chục năm qua mình hướng dẫn luận văn cho hàng trăm sinh viên, tiến sĩ có, thạc sĩ có, cử nhân có, trong ấy sáu mươi phần trăm là nữ Ông đã ngủ được với bảy mươi phần trăm trong số sáu mươi phần trăm nữ ấy Tức là mười cô thì ngủ được với bảy Ông sản sinh ra tiến sĩ, thạc sĩ Các cô sản sinh ra con của ông, không sản sinh thì đi xử lý” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.282) Từ nữ sinh cho tới osin bất kể trẻ hay già, gặp gái nào cũng có thể ngủ được Cơm nguội cơm sốt, đồ mặn

đồ nhạt, bánh nếp bánh tẻ đều “chén” được hết Mỗi lần được mời đi thỉnh giảng thì ông xông ngay vào đám nữ sinh Học viên muốn điểm cao thì dắt thầy đi mát

xa từ A tới Zét Còn ông nào không muốn học nhưng cần lấy bằng thì tốn dăm ba chục triệu cho thầy Khi biết mình bị nhiễm HIV, ông vẫn mơ thấy gái: “Từ lúc ấy cho đến mười hai giơ đêm, Giáo Sư chỉ ngồi yên trên chiếc ghế, ngủ lơ mơ Ông gặp lại cô gái góa trong túp nhà tranh xập xệ giữa vườn chuối Đàn bà vùng này ngon thế mà đàn ông đi đâu hết, hoài của” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.314) Quả đúng

là non sông dễ đổi, bản tính khó dời, sắp chết vẫn còn nghĩ đến gái Cũng nhờ thường xuyên lên tivi mà ông lọt vào mắt ông Cốp Cốp xem ông là nhà khoa học đầu ngành và mời làm cố vấn Từ các bài nói trên báo đài ông xuất bản thành sách, sách gỡ rối tâm tình, nghệ thuật nuôi cá cảnh, nông dân muốn thành tỉ phú, văn sử địa những điều nên biết Sau đó ông còn viết tùy bút, bút kí, in thơ Chân dung giáo sư là một bức biếm họa đặc sắc, đó là chân dung của kẻ ngụy khoa học, tham vọng, dâm đãng, háo danh

Nếu Giáo Sư là kẻ “lưu manh mang danh trí thức” thì Luật Sư cũng không thua kém Ông là người có những sở thích kỳ lạ, bất hiếu và thích đánh bóng tên tuổi Luật Sư xuất thân trong gia đình giàu có, danh giá, bố là luật sư thời Tây Là người cố vấn hợp lý hóa chuyện đánh tráo người, lợi dụng kẽ hở pháp luật có thể cãi cho người có tội thành vô tội Anh ta giúp miễn phí cho gã đại gia mới nổi người miền Trung vì ngửi được ở đại gia kia mùi giàu và chung sở thích tốc độ Gia đình luật sư thuộc loại víp, khi mọi người phải dùng tem phiếu thì nhà gã có chế độ mua hàng ở Vân Hồ: “Tôn Đản là chợ vua quan/ Vân Hồ là chợ trung gian nịnh thần” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.226) Cuộc đời gã có ba niềm đam mê: mê xe,

Trang 37

mê đám ma và mê đếm tiền Khi bạn bè gã còn đi bộ thì chú đã có Favôrit Tiệp Khắc, rồi lên xe máy tay ga Pơgiô: “Một yêu anh có Senkô/ Hai yêu anh có Pơgiô

cá vàng” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.227) Thời sinh viên gã lên đời Vespa, cùng hội bạn chạy đi Hải Phòng và bị tai nạn, thọt chân Lúc còn bé, gã rất thích đám ma và thích cả cái nỉ non thống thiết của kèn đám ma Gã nuôi một con dế, khi nó chết gã hơi tiếc nhưng cũng rất vui vì được làm đám ma cho nó: “Nó cho con dế nằm trong hộp diêm Quan tài của dế Bỏ thêm vào đấy mấy ngọn cỏ để làm thức ăn đi đường xuống với diêm vương” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.235-236) Sau con dế, gã làm đám ma cho con chó thủy tinh, con cá vàng Càng ngày gã càng nghiện đám

ma, gã làm đám ma cho mọi thứ có thể: “Nó có thể nhặt mấy con tép trong mớ tép của mẹ mua về để trong bếp, mang ra vườn làm đám ma Có khi là con cá lành canh mài mại bằng ngón tay Có khi là đống ruột cá không ăn được, mẹ bỏ vào sọt rác” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.237) Khi nghiện lên gã xử luôn con búp bê và đám đồ chơi trong nhà: “Cả một bãi tha ma trong vườn” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.238) Hễ nghe nói đi đám tang của ai là anh ta thấy rạo rực, và đặc biệt là sở thích sưu tầm ảnh đám ma: “Ảnh đen trắng thời xưa cho tới ảnh màu thời nay” (Hồ Anh Thái,

2011, tr.240) Hễ nghe nói nhà ai có đám ma là anh ta hăng hái đi viếng, về nhà anh ta thấy người phấn chấn, vui tươi Cái mê thứ ba là mê đếm tiền: “Không mê học thức công danh, trên đời em chỉ mê tranh Bác Hồ” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.250) Cũng vì mê tiền mà anh bảo chủ quán báo công an phạt mẹ, dùng luật với

mẹ, dạy mẹ cả tính nguyên tắc Mẹ anh bị gãy chân, người ta đi thăm gửi phong bì,

bị anh trấn lột: “Bà nộp tiền đây cho con Tiền nào nộp cho mày? Tiền phong bì

ấy Người ta đưa phong bì thuốc thang cho tao chứ cho mày à? Tiền ấy cho bà nhưng thực ra là cho con” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.249) Tiền người ta mừng tuổi năm mới cho mẹ và con trai cũng bị luật sư cưỡng đoạt, bà già lén giấu một ít cũng

bị phát hiện: “Đếm hết tập tiền bà già thì luật sư phán gọn một tiếng Thiếu Mày đừng có vu oan giá họa nhé Thiếu, bà nộp nốt ra đây” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.251) Vì tham tiền, ông lừa bà mẹ ký giấy bán nhà rồi đưa bà vào viện dưỡng lão Khi hai mẹ con đang kiện tụng qua lại thì bà chết Bà xây xẩm mặt mày ngã qua lan can, đâm đầu xuống đất Nhưng hàng xóm lại xì xào là bà không ngã vì chóng mặt, sáng hôm đó người ta thấy luật sư ra ban công với bà và hai người cãi

Trang 38

nhau rất to Bà mẹ chết, ông lại có cơ hội làm đám ma, lại được thỏa mãn niềm đam mê từ nhỏ Một cái đám ma thật to và hoành tráng: “Gần ba trăm vòng hoa Hoa chất thành cái núi Nùng trên nấm mộ Nửa tháng sau hoa lụn vẫn còn thối inh một góc nghĩa trang Rất nhiều cốp nhiều víp đến viếng” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.260-261) Một cái đám ma to nhưng thiếu vắng tình người, cảnh đám ma là một

bức tranh biếm họa không khác gì cảnh đám ma cụ cố Hồng trong Số đỏ của Vũ

Trọng Phụng Chân dung biếm họa về một đứa con bất hiếu, háo danh được hoàn chỉnh với những nét vẽ cuối cùng qua buổi triển lãm tranh Anh ta vẽ tranh chân dung mẹ, dưới mỗi bức tranh đều đề thơ: “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa Con đi trọn kiếp con người/ Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru Con vẫn thế như xưa mềm yếu lắm/ Chỉ có một niềm ao ước khôn nguôi” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.261) Tình mẫu

tử thiêng liêng trở thành cơ hội không thể tốt hơn để luật sư làm giàu và đánh bóng tên tuổi

Thế giới nhân vật biếm họa trong SBC là săn bắt chuột hòa trộn giữa cái

thực và cái ảo, giữa thế giới của người và thế giới chuột Chuột như người và người giống chuột Đó là một thế giới ở trạng thái mất trọng lượng, nửa người nửa chuột với các nhân vật như: Đại Gia, Ông Cốp, Luật Sư, Thư Ký, Giáo Sư, Chàng,

cô Báo, chú Thơ Hai cô nhân viên khách sạn thì một cô cắn chắt, một cô chin chít

Đó là những bức chân dung biếm họa về những kẻ háo danh, đầy tham vọng, ưa thể hiện và thích lối sống hưởng thụ Từ ông Cốp cho đến Giáo Sư, Luật Sư đều là những kẻ có địa vị và danh giá trong xã hội nhưng họ không từ bất cứ thủ đoạn nào để thăng tiến và đạt được mục đích Vì danh lợi con người sẵn sàng chà đạp lên luân thường đạo lý, làm những việc vô luân, vô đạo

2.1.1.2 Những kẻ ưa thể hiện, thích hưởng thụ

Mặt trái của nền kinh tế thời mở cửa không chỉ đẻ ra những kẻ cơ hội, tham lam, háo danh mà còn sản sinh ra một bộ phận không nhỏ những kẻ thích sống hưởng thụ, ưa thể hiện, hay khoe khoang, chứng tỏ mình Đại Gia chính là một bức biếm họa về những kẻ thích sống hưởng thụ Thời còn học cấp ba Đại Gia từng ngủ với bà trưởng công an huyện để cứu chị gái bị bắt vì buôn thuốc phiện Sau học trung cấp giao thông, trúng thầu có tí vốn thì buôn bán ma túy với bà chị Siêu lợi nhuận, dồn hết tiền mua đất, giàu lên thế là thành Đại Gia Nhờ móc nối buôn

Trang 39

bán đất mà quen với Cốp, chỉ cần Cốp ho một tiếng là có mặt vì thế mà lên đến đại

vị môn đăng hộ đối với quan chức, có đủ thất quyền được nhiều người kính nể:

“Nói có người nghe/ Đe có người sợ/ Vợ có người chăm/ Nằm có người bóp/ Họp

có người ghi/ Chi có người bù/ Đi tù có người chạy” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.124) Giờ là công dân thủ đô, có biệt thự ở thủ đô gần trung tâm Bờ Hồ Đại Gia tháp tùng Cốp ra nước ngoài, góp phí tổn chuyến đi cả chục nghìn đô nhưng bù lại có thêm đối tác và làm ăn trôi lọt hơn Trong buổi lễ trao học bổng cho học sinh nghèo Đại Gia đọc nhầm chức vụ ông Cốp, rồi cười ha ha ha và giải thích: “Xin lỗi anh Cốp, chức vụ của anh một người có thể nhầm chứ cả nước không thể nhầm được” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.125) Ông đọc tiếp rồi lại cười ha ha ha làm ông Cốp cười lây, các quan cười phụ họa, cả hội trường ha ha ha Ai cũng biết cái cười vô

tư hồn nhiên của Đại Gia là cái cười của “người trong nhà” Từ khi giàu lên thì thú vui hưởng thụ của ông là gái, cặp với chân dài Gặp gái đẹp là ông không cầm lòng đợi đến lần gặp thứ hai mà phải giằn ra ngay, cưỡng đoạt ngay Ông có hai đam mê: chân dài và cá cảnh Cá cảnh thì đem lại phúc lộc thọ, chân dài đem lại hứng khởi làm ăn Bồ non, bồ nhí lũ lượt khắp nơi Ông mua căn biệt thự bảy triệu đô rồi đập xây thành chung cư mười một tầng Biếu con gái ông Cốp một căn, các víp mỗi người một căn coi như hối lộ, bôi trơn Dành cho mình mỗi tầng một căn để nuôi bồ nhí, với nguyên tắc: “Hai tư sáu, ba ngày trong tuần đến với từng cô Lịch

rõ ràng trong đầu Hai Ngọc, tư Oanh, sáu Vân Chữ cái đầu tiên xếp theo thứ tự a

bê xê” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.133) Trong số đó, cô thôn nữ học lớp mười một nhặt kim tiêm được ông nuôi ăn học, đầu tư trở thành “hoa hậu kim tiêm” và sau

đó là gái bao của ông: “Hoa hậu rồi, vua biết mặt chúa biết tên, đại gia biết từ A đến Zet, cả nước biết mặt trên truyền hình, ong bướm dập dìu đón rước, học hành gì” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.128) Giữa lúc ăn nên làm ra, gái gú vây quanh thì xảy

ra cuộc đối đầu với băng Chuột Trùm Ông nghe lời thầy pháp tậu con cá La Hán

về để nó mang đến phúc lộc thọ nhưng cũng không tránh khỏi kết cục bi thảm Đám tang của Đại Gia: “Người thăm viếng vì nghĩa vụ thì ít Người thăm viếng vì sung sướng vì hả hê vì mãn nguyện thì nhiều” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.66) Giờ đây

gã đã nằm dưới ba thước đất và mang theo nhiều uẩn khúc, đặc biệt là uẩn khúc với đàn bà và sở thích “gái già trai trẻ”

Trang 40

Một nhân vật khác cũng tiêu biểu cho lối sống đồi trụy, thích hưởng thụ là

Cô Báo sồn sồn Cô là con gái của Giáo Sư si đa, có lẽ cô thừa hưởng gen di truyền của ông bố nên: “Cô phát dục sớm, mười bốn mười lăm tuổi đã không tập trung học hành gì được” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.21) Rồi mất trinh ở tuổi mười lăm: “Một gã dô kề DJ đổi đĩa nhạc và vặn nút to nhỏ trong vũ trường đưa cô mười lăm tuổi vào đời” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.21) Cô quan niệm tình yêu đến em không mong đợi gì, tình yêu đi em không hề hối tiếc Sống theo bản năng hoang dại, tình dục bầy đàn: “Cái nhà của cô là điểm hẹn, cái giường của cô là cái chợ Đám bạn bè đàn ông của cô chủ trương bông hoa này là của chung Cô chủ trương thân này ví xẻ làm trăm được, sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu” (Hồ Anh Thái,

2011, tr.21) Ở tuổi ba mươi bảy cô cặp với một chú nhà thơ trẻ hai mươi tám và từng lên giường với rất nhiều đàn ông Đến nỗi, người ta đọc thành ca dao: “Nhà thơ bươm bướm tên Ương/ Gặp ai cũng rủ lên giường làm thơ” (Hồ Anh Thái,

2011, tr.22) Đặc biệt là cô thích cặp với mấy anh Âu Mỹ để chứng tỏ mình có gu thẩm mỹ hiện đại Đời làm báo của cô có hai thành tích vang lừng, thứ nhất là cô phát hiện ra hai truyện ngắn giống nhau nhưng lại của hai tác giả một người Nam một người Bắc Thứ hai là phát hiện và đưa lên báo việc ba người đàn ông cùng lúc đòi thử ADN đứa con trai của một cô ca sĩ độc thân Ngoài ra, cô còn khoe khoang rằng, phát hiện của cô là bí mật động trời, đó là Đại Gia thích “gái già trai trẻ” Về ngoại hình, cô có khuôn mặt hơi đồi trụy và xấu đến nỗi: “Ông tổng nhà đài phải than thở, tôi chưa thấy cô em xi nào cá sấu như cô này” (Hồ Anh Thái,

2011, tr.22) Đã thế còn lười vệ sinh tắm gội, hai tuần mới gội đầu một lần nên bị hôi mình: “Minh hồi có cái hay của minh hồi Có người phải nhớ quay quắt cái minh hồi ấy đấy” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.170) Cô nổi tiếng với cái ba lô từ thời còn sinh viên, cả một cửa hàng tạp hóa trên lưng cô, bây giờ vẫn vậy: “Sau này làm báo, đi công tác đoàn, ai thiếu gì cô bán nấy Đồ dùng cá nhân Băng vệ sinh,

mỹ phẩm, kem chống nắng, chống muỗi” (Hồ Anh Thái, 2011, tr.103) Cô cặp bồ với Nhà Thơ Lửa và đi vào các trường đại học, các công ty xí nghiệp bán thơ cho anh ta Người ta mua vì ái ngại, vì cô nằn nì, mua như bố thí Chân dung cô báo khép lại với đặc điểm thích mượn điện thoại người khác sử dụng cho đỡ tốn tiền

Ngày đăng: 20/07/2021, 07:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
50. Nguyễn Thị Kim Tiến (2014). Về kiểu “ẩn danh” nhân vật - Tiếp cận tiểu tuyết Việt Nam đương đại, Tạp chí khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 30, (3) tr.68-74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ẩn danh
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Tiến
Năm: 2014
76. Hoài Nam (2006). Chất hài hước, nghịch dị trong “Mười lẻ một đêm”, đăng ngày 24/4/2006, truy cập ngày 2/8/2018 từ https://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/chat-hai-huoc-nghich-di-trong-muoi-le-mot-dem-1974307.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mười lẻ một đêm
Tác giả: Hoài Nam
Năm: 2006
89. Trần Thị Hải Vân (2009). Một chiêm nghiệm “cõi người” của Hồ Anh Thái, đăng ngày 22/04/2009, truy cập ngày 2/8/2018 từ https://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/mot-chiem-nghiem-coi-nguoi-cua-ho-anh-thai-1972246.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: cõi người
Tác giả: Trần Thị Hải Vân
Năm: 2009
64. Anh Chi (2008). Về nhà văn Hồ Anh Thái, đăng ngày 13/2/2008, truy cập ngày 12/6/2018 từ http://thvl.vn/?p=11772 Link
65. Anh Chi (2009). Hiện tượng văn chương Hồ Anh Thái, đăng ngày 15/8/2009, truy cập ngày 12/6/2018 từ http://hoanhthai.vn/Tac-Pham/Hien-tuong-van-chuong-Ho-Anh-Thai-4 Link
66. Nguyễn Đăng Điệp (2012). Hồ Anh Thái, người mê chơi cấu trúc, đăng ngày 10/11/2012, truy cập ngày 12/6/2018 từ http://phebinhvanhoc.com.vn/ho-anh-thai-nguoi-me-choi-cau-truc/ Link
67. Mai Hiền (2015). Cõi người rung chuông tận thế và cuộc đối đầu thiện – ác, đăng ngày 26/1/2015, truy cập ngày 6/9/2018 từ https://baothaibinh.com.vn/tin-tuc/55/34657/coi-nguoi-rung-chuong-tan-the-va-cuoc-doi-dau-thien-ac Link
68. Hồ Thế Hà (2018). Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam, đăng ngày 6/10/2018, truy cập ngày 10/11/2018 từ http://sachvan.vn/sach- moi/nghe-thuat-nghich-di-trong-tieu-thuyet-viet-nam-4190.html Link
71. Huỳnh Thị Thu Hậu (2018). Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu tthuyết Việt nam từ 1986 đến 2012, đăng ngày 25/7/2018, truy cập ngày 2/8/2018 từ http://luanvan.net.vn/luan-van/nghe-thuat-nghich-di-trong-tieu-thuyet-viet-nam-tu-1986-den-2012-77057// Link
75. Phan Trọng Hoàng Linh (2016). Tiểu thuyết Carnaval hóa của Hồ Anh Thái nhìn từ hình tƣợng nhân vật nghịch dị, đăng ngày 29/1/2016, truy cập ngày 12/6/2018 từ http://tapchisonghuong.com.vn Link
77. Hoài Nam (2011). Chuyện của người và chuột, đăng ngày 7/11/2011, truy cập ngày 12/6/2018 từ https://www.nxbtre.com.vn/diem-tin/chuyen-cua-nguoi-va-chuot-2237.html Link
80. Việt Quỳnh (2015). Nhà văn Hồ Anh Thái: Rung động sâu sắc với thân phận đàn bà, đăng ngày 8/3/2015, truy cập 2/8/2018 từ https://thethaovanhoa.vn/tin-hot-24h/nha-van-ho-anh-thai-rung-dong-sau-sac-voi-than-phan-dan-ba-n20150307205953338.htm Link
81. Xuân Tùng (2013). Suy nghĩ về vài quan niệm tiểu thuyết từ 1986 đến nay, đăng ngày 18/12/2013, truy cập ngày 10/11/2018 từ http://toquoc.vn/suy- nghi-ve-vai-quan-niem-tieu-thuyet-tu-1986-den-nay-99120924.htm Link
82. Nguyễn Thị Minh Thái (2002). Cõi người rung chuông tận thế – Một cách viết tiểu thuyết dồn nén, đăng ngày 18/12/2002, truy cập ngày 12/6/2018 từ http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=565&rb=0102 Link
83. Nguyễn Thị Minh Thái (2006). Mười lẻ một đêm cái nhìn hắt sáng từ phía sau, đăng ngày 12/6/2006, truy cập ngày 2/8/2018 từ http://vietbao.vn/Van- hoa/Muoi-le-mot-dem-cai-nhin-hat-sang-tu-phia-sau/65056423/181/ Link
84. Nguyễn Thị Minh Thái (2011). SBC là săn bắt chuột: Hài hước để thanh lọc, đăng ngày 7/10/2011, truy cập 10/11/2018 từ https://www.tienphong.vn/van-nghe/sbc-la-san-bat-chuot-hai-huoc-de-thanh-loc-554260.tpo Link
85. Bùi Thanh Truyền – Lê Biên Thùy (2012). Hồ Anh Thái và dấu ấn hậu hiện đại, đăng ngày 15/5/2012, truy cập ngày 12/6/2018 từ http://vhnt.org.vn/tin- tuc/chan-dung-van-hoa/29182/ho-anh-thai-va-dau-an-hau-hien-dai Link
86. Lam Thu (2014). Hồ Anh Thái thử nghiệm lối viết trong tiểu thuyết mới, đăng ngày 11/08/2014, truy cập ngày 2/8/2018 từ https://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/ho-anh-thai-thu-nghiem-loi-viet-trong-tieu-thuyet-moi-3029471.html Link
87. Sông Thương (2006). Mười lẻ một đêm (*): Ngả nghiêng trần thế, đăng ngày 10/4/2006, truy cập ngày 2/8/2018 từ https://thanhnien.vn/van-hoa/doc-muoi-le-mot-dem-nga-nghieng-tran-the-308927.html Link
1. Hồ Anh Thái (1987). Người và xe chạy dưới ánh trăng, NXB Trẻ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm