viên tương lai đĩng gĩp một phần rất quan trọng trong sự nghiệp trồng người, sinh viên sư phạm với kiến thức vững chắc và trí tuệ cảm xúc tốt là nhân tố thiết yếu để sinh viên cĩ thể trở
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA KHOA HỌC GIÁO DỤC
TÊN ĐỀ TÀI:
KHẢO SÁT TRÍ TUỆ CẢM XÚC CỦA SINH VIÊN NGÀNH
SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
Mã số:GD-02.12.05
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỔNG THUẬT TÀI LIỆU CỦA ĐỀ TÀI
Chủ nhiệm đề tài: Th.s Đỗ Thị Nga
Người chủ trì thực hiện chuyên đề: Th.S Đỗ Thị Nga, cơ quan công
tác Đại học Thủ Dầu Một
Những người phối hợp thực hiện chuyên đề: Th.S Hoàng Hữu Miến,
cơ quan công tác Đại học Thủ Dầu Một
Bình Dương, Tháng 30/10/2013
Trang 2BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỔNG THUẬT TÀI LIỆU CỦA ĐỀ TÀI
1 Đặt vấn đề
Ở nước ta, khái niệm “trí tuệ cảm xúc” đang được nhiều nhà tâm lý học, xã hội học, quan tâm và nghiên cứu Đặc biệt trong nền giáo dục Việt Nam hiện nay, bên cạnh những thành tựu đạt được, đang rất cần một hướng tiếp cận mới nhằm giải quyết vấn đề “dạy người” “dạy kỹ năng sống cho học sinh” Từ kết luận của Bộ chính trị về việc thực hiện nghị quyết Trung ương 2 (khĩa VIII) về giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ giáo dục Việt Nam cần thực hiện một số nhiệm vụ, cụ thể
là “thực sự coi trọng vai trị của khoa học giáo dục, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học giáo dục, giải quyết tốt những vấn đề lý luận và thực tiễn trong quá trình đổi mới giáo dục, đưa đến sự đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương pháp đào tạo của các trường và khoa học sư phạm, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và chất lượng học sinh” Như vậy, với việc ứng dụng các nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc vào nhà trường sẽ gĩp một phần giải quyết được vấn đề mà nghị quyết Trung ương 2 khĩa VIII đặt ra Hơn nữa, giáo dục trí tuệ cảm xúc chính là quá trình hình thành nhân cách cho con người Vì vậy, các nhà giáo dục họ đang bắt đầu chú ý đến việc hình thành trí tuệ cảm xúc cho trẻ em ngay từ lứa tuổi rất nhỏ Bởi vì xúc cảm là cơ sở để hình thành tình cảm, tình cảm lại là cái cốt lõi trong nhân cách của con người Suy cho cùng, giáo dục để hình thành xúc cảm, tình cảm hay giáo dục trí tuệ cảm xúc cho trẻ chính là xây dựng nền tảng của đạo đức Đó cũng chính là quá trình hình thành nhân cách con người
Phát triển trí tuệ cảm xúc cho sinh viên sư phạm nhằm gĩp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường là yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay Tại Đại hội Đảng IX đã xác định: “phải phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh của người Việt Nam, coi trọng giáo dục và đào tạo, khoa học và cơng nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp cơng nghiệp hĩa, hiện đại hĩa” Trong nguồn lực trí tuệ đĩ thì nguồn lực trí tuệ của sinh viên mà đặc biệt là sinh viên sư phạm là những giáo
Trang 3viên tương lai đĩng gĩp một phần rất quan trọng trong sự nghiệp trồng người, sinh viên sư phạm với kiến thức vững chắc và trí tuệ cảm xúc tốt là nhân tố thiết yếu để sinh viên cĩ thể trở thành những giáo viên thực hiện thành cơng hoạt động dạy và hoạt động giáo dục sau này
Trí tuệ cảm xúc là một trong những yếu tố quan trọng giúp trí tuệ con người trở nên hoàn chỉnh, góp phần giúp cho con người thành công trong cuộc sống Đặc biệt là đối với giáo viên để thành cơng trong con đường giảng dạy của mình, người giáo viên khơng chỉ cĩ trình độ chuyên mơn vững mà cịn phải cĩ sự nhạy cảm, tinh tế trong việc nhận biết và đánh giá những cảm xúc của học sinh, cĩ khả năng dự đốn nhu cầu học tập và sự phát triển nhân cách của người học để đưa ra những phương hướng sáng suốt đúng đắn trong việc vạch dự án phát triển nhân cách của học sinh, đây chính là trí tuệ cảm xúc mà người giáo viên cần cĩ Điều đĩ cho thấy sinh viên ngành sư phạm nếu có một trí tuệ cảm xúc tốt sẽ là yếu tố thuận lợi giúp các em thành công trên con đường giáo dục của mình, và chứng
tỏ trí tuệ cảm xúc cĩ ảnh hưởng to lớn đối với sinh viên sư phạm trong quá trình rèn luyện để trở thành người giáoviên thành cơng trong tương lai Đây là mục tiêu thiết yếu của nhà trường cũng như toàn ngành giáo dục đang hướng đến Vì vậy, việc nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của sinh viên ngành sư phạm trường Đại học Thủ Dầu Một là việc làm rất cần thiết gĩp phần phát triển tồn diện nhân cách người giáo viên tương lai
2 Phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận
2.1 Nhĩm các phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích, tổng hợp, so sánh,
hệ thống hĩa những tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu
2.2 Nhĩm phương pháp nghiên cứu để thu thập thơng tin:
+ Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi (điều tra bằng test)
+ Phương pháp phỏng vấn
+ Phương pháp quan sát
2.3 Phương pháp thực nghiệm (dự kiến)
2.4 Phương pháp xử lý thơng tin: sử dụng các phương pháp thống kê tốn học và các phần mềm xử lý số liệu thống kê Phương pháp tốn thống kê với sự trợ
Trang 4giúp của phần mềm Microsoft Excell; Phần mềm thống kê SPSS dành cho các nghiên cứu khoa học xã hội
2.5.Cách tiếp cận
Với đề tài: “Khảo sát trí tuệ cảm xúc của sinh viên sư phạm trường Đại học Thủ Dầu Một” chúng tôi tiếp cận theo quan điểm hoạt động, quan điểm hệ thống cấu trúc, quan điểm lịch sử-logic, quan điểm lịch sử
3 Nội dung nghiên cứu và kết quả đạt được
3.1 Sơ lược công trình nghiên cứu trên thế giới
Trí tuệ cảm xúc theo quan điểm mới chính là sự tương tác của con người với môi trường sống, đặt biệt là môi trường xã hội Con người sống trong cộng đồng với nhiều người khác đòi hỏi phải có sự chú ý đến các quy luật xã hội, có sự thừa nhận
và đánh giá đúng các chuẩn mực xã hội và cũng như sự chuẩn đoán phù hợp về hành động của người khác để từ đó tổ chức, đặt kế hoạch và quyết định về hành động của mình, đó chính là thành phần của trí tuệ xã hội
Trí tuệ xã hội là: “năng lực hoàn thành các nhiệm vụ trong hoàn cảnh có sự tương tác với người khác Nó diễn ra hoạt động cùng người khác, với mục đích, tâm
lý và tính xã hội nhất định” Trí tuệ xã hội được tạo ra bởi 3 yếu tố: tự nhận thức về bản thân; năng lực xã hội (nhận thức, cảm xúc , hành động); trí tuệ cảm xúc
Phong trào nghiên cứu trí tuệ cảm xúc được bắt nguồn và phát triển mạnh mẽ nhất ở Mỹ với các nhà tâm lý học kiệt xuất
E.L Thorndike là người đầu tiên tìm cách nhận dạng trí tuệ cảm xúc mà lúc
đó ông gọi là trí tuệ xã hội vào cuối những năm 1930 Theo ông, trí tuệ xã hội “là năng lực hiểu và điều khiển mà những người đàn ông, đàn bà, con trai và con gái sử dụng để hành động một cách khôn ngoan, sáng suốt trong các mối quan hệ của con người”
David Weschler (1940) cho rằng yếu tố phi trí tuệ lại quan trọng cho con
người thích nghi và đạt được những thành tích trong cuộc sống Theo ông, yếu tố phi trí tuệ được xem là cần thiết để dự đoán khả năng thành công của một người
Howard Gardner (1983) cho ra đời tác phẩm “Frames of mind” như là một
tuyên ngôn chống lại độc quyền IQ, chứng minh rằng không có hình thức duy nhất, toàn khối của trí tuệ quyết định thành công trong cuộc đời, đúng hơn có một thang
Trang 5trí tuệ rộng lớn Theo lập luận đó, ông đưa ra mô hình đa trí tuệ và cho rằng trí tuệ
cá nhân gồm hai loại: trí tuệ liên nhân cách (interpersonal intelligence) và trí tuệ về bản thân (intrapersonal intelligence) Ông cho rằng hai loại trí tuệ này cũng quan trọng như trí thông minh được biểu thị bởi chỉ số IQ và đo bằng trắc nghiệm IQ
Rewven Bar-On (1985) là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ EQ trong luận
án tiến sỹ của mình Bar-On đặt trí tuệ cảm xúc trong phạm vi lý thuyết phân cách, đưa ra mô hình Well-being (1997) với ý định trả lời câu hỏi: “Tại sao một người nào đó lại có khả năng thành công trong cuộc sống hơn những người khác?”
Bar-On đã xem xét lại những nghiên cứu tâm lý về các đặc tính của nhân cách có liên quan đáng kể đến sự thành công trong cuộc sống và đã nhận diện được năm khu vực (nhân tố) bao quát về mặt chức năng phù hợp với sự thành công trong cuộc sống
Từ đó, ông đưa ra mô hình trí tuệ cảm xúc kiểu hỗn hợp
Vào năm 2000, Bar-On định nghĩa: “Trí tuệ cảm xúc như là một dãy các phi
năng lực và những kỹ năng ảnh hưởng đến năng lực một người thành công trong việc đương đầu với những đòi hỏi và sức ép từ môi trường”
Peter Salovey và John Mayer là hai nhà tâm lý học Mỹ đã công bố định
nghĩa chính thức đầu tiên về trí tuệ cảm xúc vào năm 1990: “Trí tuệ cảm xúc là khả
năng hiểu rõ cảm xúc của bản thân, thấu hiểu cảm xúc của người khác, phân biệt được chúng và sử dụng những thông tin ấy để hướng dẫn suy nghĩ và hành động của mình” Định nghĩa này đã có ảnh hưởng mạnh nhất đến lý thuyết trí tuệ cảm
xúc tại thời điểm đó Cũng trong năm 1990, Mayer, Salovey cùng với M.T.Đipaolo
đã công bố bộ trắc nghiệm đo trí tuệ cảm xúc và từ đây hai ông đã dẫn đầu sự phát triển khoa học về lý thuyết và phương pháp xác định chỉ số EQ.[2; 8]
Cũng trong năm 1990, hai tác giả Peter Salovey và John Mayer đã cho ra đời
2 bài trắc nghiệm đo lường “trí tuệ cảm xúc”
Cuối năm 1994 đầu năm 1995, một nhà báo ở New York tên là Daniel Goleman đã cho ra đời cuốn sách mang tên “khả năng thấu hiểu những cảm xúc”, sau này đổi tên là “trí tuệ cảm xúc”
Từ năm 1995 cho đến nay, sau khi cuốn sách “trí tuệ cảm xúc” –cuốn sách được bán chạy nhất của nhà tâm lý học người Mỹ - Daniel Goleman được phát hành thì khái niệm “trí tuệ cảm xúc” trở nên phổ biến và được nhiều nhà nghiên cứu về
Trang 6trí tuệ chú ý
Theo D.Goleman, trí tuệ cảm xúc bao gồm các năng lực: sự tự chủ, lòng
nhiệt thành và kiên nhẫn cũng như khả năng và sự kích thích hành động
Tuy nhiên, vào năm 2001, D.Goleman đưa ra bốn biểu hiện của trí tuệ cảm xúc nói lên năng lực của cá nhân trong mối quan hệ với mình và năng lực xã hội của con người trong mối quan hệ với người khác:
- Tự biết mình
- Tự kiểm soát, tự quản
- Nhận biết các quan hệ xã hội
- Kiểm soát, điều khiển các mối quan hệ xã hội
Những nghiên cứu của Goleman không chỉ dừng lại ở việc xác định bản chất của trí tuệ cảm xúc mà ông còn đưa ra những biện pháp giáo dục trí tuệ cảm xúc Như vậy, nhìn một cách tổng thể có thể nói có ba đại diện tiêu biểu đã đi sâu nghiên cứu trí tuệ cảm xúc dưới những cách tiếp cận khác nhau, trong đó R.Bar-On tiếp cận trí tuệ cảm xúc dưới góc độ nhân cách, P.Salovey và J.Mayer nghiên cứu dưới góc độ nhận thức và D.Goleman tiếp cận dưới góc độ hiệu quả công việc.[2; 8]
3.2 Sơ lược công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề trí tuệ, đặc biệt là trí thông minh và trí sáng tạo đã được các nhà tâm lý học nghiên cứu từ lâu Thế nhưng, những công trình nghiên cứu về một dạng trí tuệ mới- trí tuệ cảm xúc chỉ mới ở những bước đi đầu tiên và việc nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc cũng còn nhiều hạn chế Cho đến nay, các công trình nghiên cứu trong nước về trí tuệ cảm xúc tổng quát như: “xúc cảm và việc giáo dục cảm xúc cho trẻ em lứa tuổi mầm non” của Ngô Công Hoàn, “bước đầu thử nghiệm
và nâng cao trí tuệ cảm xúc của giáo viên tiểu học Hà Nội” của Dương Thị Hoàng Yến, “Thử đo đạc chỉ số trí tuệ cảm xúc ở sinh viên sư phạm” của tác giả Nguyễn Quang Uẩn- Đỗ Thu Hiên…Thuật ngữ “Trí tuệ cảm xúc” được chính thức đề cập tại hội thảo của các nhà nghiên cứu thuộc chương trình Khoa học Xã hội cấp nhà nước KX-07 do GS.VS- Phạm Minh Hạc chủ biên
Tiếp ngay sau đó, tạp chí Tâm lý học lần đầu tiên đăng hàng loạt các bài viết của PGS.TS- Nguyễn Huy Tú về trí tuệ cảm xúc
Đề tài cấp nhà nước KX-05-06 giai đoạn 2001 - 2005, do PGS.TS- Trần
Trang 7Kiều cùng với các nhà tâm lý và giáo dục thuộc Viện Chiến lược và Chương trình Giáo dục nghiên cứu trí tuệ cảm xúc được xác định là một trong ba thành tố trí tuệ (trí thông minh, trí sáng tạo và trí tuệ cảm xúc) trên sinh viên, học sinh và lao động trẻ Đề tài này mở đầu cho các công trình nghiên cứu trí tuệ cảm xúc sau này
Các tác giả trong các công trình nghiên cứu luận văn, luận án tâm lý học cũng đã chọn trí tuệ cảm xúc làm vấn đề nghiên cứu, chẳng hạn như: luận văn thạc
sỹ của Dương Thị Hoàng Yến (2004), Luận án tiến sĩ “trí tuệ cảm xúc của giáo viên tiểu học” cũng của tác giả Dương Thị Hoàng Yến (2010), luận án tiến sỹ của Nguyễn Thị Dung về “trí tuệ cảm xúc của giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường THCS” (2007),… Các đề tài này phần lớn tập trung nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của giáo viên trong hoạt động chủ nhiệm lớp
Gần đây, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc
gia Hà Nội tiến hành nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của sinh viên các lớp chất lượng cao thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Khoa học Tự nhiên) thực trạng và giải pháp (2007) và đề tài nghiên cứu về:
“Trí tuệ cảm xúc của sinh viên trường CĐSP Bình Dương” của tác giả Nguyễn Thị Tuấn Anh (luận văn thạc sĩ) năm 2008, cho thấy trí tuệ cảm xúc có ảnh hưởng đến việc xây dựng, thiết lập, vận hành các mối quan hệ xã hội nói riêng và phát triển nhân cách sinh viên nói chung
Hiện nay, các tác giả: Nguyễn Huy Tú, Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Trọng Thủy, Phan Trọng Ngọ, Huỳnh Văn Sơn,… và nhiều tác giả khác vẫn đang tiếp tục đi sâu nghiên cứu trí tuệ cảm xúc.[2; 9]
Như vậy, có thể nói rằng những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
về trí tuệ cảm xúc tuy chưa nhiều nhưng đã đạt được những kết quả bước đầu Tuy nhiên, các đề tài về trí tuệ cảm xúc chỉ mới tập trung nghiên cứu chỉ số trí tuệ cảm xúc, các đề tài nghiên cứu chưa quan tâm nhiều đến đối tượng sinh viên của các trường cao đẳng và Đại học đặc biệt là trường Đại học Thủ Dầu Một Vì vậy, việc nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của sinh viên ngành sư phạm trường Đại học Thủ Dầu Một là việc làm cần thiết góp phần phát triển toàn diện nhân cách người giáo viên tương lai [2; 9]
Trang 84.Kết luận và kiến nghị
4.1.Kết luận
A Về kết quả nghiên cứu lí luận:
Trí tuệ cảm xúc là một hiện tượng tâm lý phức tạp của con người, trí tuệ cảm
xúc được nghiên cứu và đề cập từ rất sớm từ tác phẩm của E.L Thorndike, ông là
người đầu tiên tìm cách nhận dạng trí tuệ cảm xúc mà lúc đó ông gọi là trí tuệ xã hội vào cuối những năm 1930
Trí tuệ cảm xúc theo quan điểm mới chính là sự tương tác của con người với môi trường sống, đặt biệt là môi trường xã hội Con người sống trong cộng đồng với nhiều người khác đòi hỏi phải có sự chú ý đến các quy luật xã hội, có sự thừa nhận
và đánh giá đúng các chuẩn mực xã hội và cũng như sự chuẩn đoán phù hợp về hành động của người khác để từ đó tổ chức, đặt kế hoạch và quyết định về hành động của mình, đó chính là thành phần của trí tuệ xã hội
Tuy nhiên hiện tại người nghiên nhấn mạnh đến các mặt biểu hiện sau khi nói đến trí tuệ cảm xúc:
+Khả năng nhận biết đánh giá và thể hiện cảm xúc của bản thân: Khía cạnh này bao gồm năng lực nhận thức được các cảm xúc của mình và nhận biết được những suy nghĩ về các xúc cảm đó khi chúng nảy sinh, nói chung là năng lực nhận biết xúc cảm, (bạn có phải là người cảm nhận đầy đủ không ?)
+Khả năng nhận biết đánh giá cảm xúc của người khác: khả năng nhận biết chính xác các xúc cảm của người khác và khả năng thể nghiệm lại được cảm xúc đó vào bản thân mình Hai khả năng này đều nói lên năng lực thấu cảm của con người Chính sự thấu cảm là một biểu hiện quan trọng của trí tuệ cảm xúc Sự thấu cảm là
sự lựa chọn để đáp lại những cảm xúc, năng lực này không dừng lại ở mức độ hưởng ứng các cảm xúc của người khác mà còn là khả năng đáp lại cảm xúc của bản thân đối với một người nào đó Sự thấu cảm rất có ích trong việc điều chỉnh cảm xúc và giúp đỡ con người suy ngẫm về chúng Do đó để nhận biết được cảm xúc của người khác, việc trước tiên là phải nhạy cảm Một khi con người nhận biết
và thừa nhận cảm giác của người khác, họ cũng cần giúp đỡ những người này để những cảm xúc của những người đó cung cấp thông tin và hướng dẫn họ [17,36] Hay nói cách khác đó là năng lực sử dụng xúc cảm trong việc suy luận và giải quyết
Trang 9vấn đề xảy ra trong cuộc sống xung quanh và công việc của bản thân, không để cảm xúc của mình bị ảnh hưởng bởi người khác
+Khả năng điều chỉnh cảm xúc của bản thân và của người khác: năng lực này liên quan đến sự trãi nghiệm những cảm xúc của bản thân và sự theo dõi, đánh giá,
xử sự để thay đổi, điều hòa cảm xúc của mình và của người khác [18,177]
Điều chỉnh cảm xúc cũng bao gồm cả những năng lực thay đổi các phản ứng tương ứng của người khác, ví dụ như khả năng làm dịu đi, vơi bớt đi cơn giận của người khác, vơi bớt đi sự bực bội của người khác, khả năng làm người khác vui vẻ hạnh phúc khi họ buồn bã…[18,177] (bạn là người sống hướng nội hay hướng ngoại?)
Do vậy, mặt biểu hiện này của trí tuệ cảm xúc đã nói lên khả năng tự điều chỉnh cảm xúc của mỗi cá nhân khi chúng nảy sinh ở bản thân hay ở người khác trong các mối quan hệ của cá nhân đó, khả năng này tỉ lệ thuận với nỗ lực khắc phục những cảm xúc tiêu cực của cá nhân …[18,177]
+Năng lực sử dụng cảm xúc để hành động: con người có thể kìm nén những cơn bốc đồng để hành động và quả thật cảm xúc có khả năng thiết lập các cách thức hành động cho con người một khi chúng ta ý thức về nó Những cảm xúc của con người có vai trò như là động lực thúc đẩy hoặc kìm hãm hành động, tạo ra sự định hướng, sự chú ý của cá nhân đối với hành động nào đó…[18,178] Còn gọi là năng lực áp dụng các quy luật xúc cảm để hiểu bản thân và hiểu người khác
B Về kết quả nghiên cứu thực tiễn:
Khảo sát trí tuệ cảm xúc của sinh viên sư phạm là khảo sát:
+ Năng lực nhận biết xúc cảm
+ Năng lực sử dụng xúc cảm trong việc suy luận và giải quyết vấn đề xảy ra trong cuộc sống xung quanh và công việc của bản thân, không để cảm xúc của mình
bị ảnh hưởng bởi người khác
+ Năng lực hiểu biết xúc cảm, điều khiển, quản lý xúc cảm của bản thân để hiểu bản thân và hiểu người khác
Trang 10*Kết quả thu được từ trắc nghiệm MSCEIT:
Hầu hết sinh viên ngành sư phạm trường Đại học Thủ Dầu Một có EQ ở mức
độ trung bình 40% và mức cao 39%, điều này phù hợp với giả thuyết khoa học đã
nêu ban đầu (Hầu hết sinh viên sinh viên thuộc khối sư phạm được nghiên cứu
có trí tuệ cảm xúc biểu hiện ở mức độ trung bình nếu nhà giáo dục có biện pháp tác động sư phạm phù hợp thì trí tuệ cảm xúc của các em sẽ được nâng cao hơn), điều phát hiện đáng mừng là trí tuệ cảm xúc của sinh viên sư phạm là
39% sinh viên được nghiên cứu có trí tuệ cảm xúc ở mức cao Như vậy gần 80% sinh viên sư phạm nếu được quan tâm rèn luyện, giáo dục để nâng cao trí tuệ cảm xúc thì mức độ trí tuệ cảm xúc của các em sẽ được nâng lên ở mức cao và rất cao trong thời gian tới
Đa số các em sinh viên nam và nữ ngành sư phạm đều có mức EQ cao, tuy
nhiên các em sinh viên nam có mức EQ cao hơn sinh viên nữ (47,1% > 41,2%), về
mức EQ thấp: đa số các em nữ sinh viên có mức EQ thấp cao hơn các em nam sinh
viên (26,5 %> 17,6%) Về kết quả kiểm nghiệm Chi-quare cho thấy có sự khác biệt
rõ rệt ý nghĩa giữa mức EQ nam va nữ sinh viên (Sig =.035 và 042)<.05 Điều này cho thấy giới tính có ảnh hưởng rõ rệt đến mức độ EQ, trong nghiên cứu này mức
EQ của sinh viên nam cao hơn sinh viên nữ Theo Goleman, nam giới sẽ tự tin lạc quan, bản lĩnh và dễ dàng thích nghi chấp nhận sự thay đổi hơn nữ giới còn nữ giới thì khả năng bày tỏ cảm xúc hiểu cảm xúc rõ hơn nam giới Đa số sinh viên nam và
nữ có mức EQ cao, mức EQ của sinh viên nam cao hơn sinh viên nữ, có sự khác biệt về giới tính đối với chỉ số EQ
Sinh viên sư phạm khoa ngoại ngữ có mức EQ cao nhất 112,94; các em sinh
viên này có nhiều cơ hội học tập những phương pháp mới thuộc chuyên ngành có nhiều cơ hội tiếp xúc với các thầy cô người nước ngoài để mở rộng khả năng giao tiếp, các em trở nên năng động linh hoạt hơn khi được tiếp thu những nét văn hóa
khác nhau từ nội dung tri thức bài học, từ các môn về khoa học xã hội …kế đến là sinh viên sư phạm thuộc khoa KHXH &NV mức EQ là (105,13) các em sinh
viên này học các môn chủ yếu là về khoa học xã hội và nhân văn cho nên các em có điều kiện lĩnh hội những tri thức về con người, về các ứng xử, các giá trị đạo đức thẩm mỹ, các chuẩn mực xã hội…đây là điều kiện thuận lợi để hình thành trí tuệ