1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khả năng thích ứng với môi trường học tập của sinh viên năm nhất khoa công tác xã hội trường đại học thủ dầu một

111 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÁO CÁO TỔNG KẾTĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2013-2014 KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI MÔI TRƯỜNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NĂM NHẤ

Trang 1

KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

Trang 2

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA

CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2013-2014

KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI MÔI TRƯỜNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NĂM NHẤT KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI TRƯỜNG

ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

Thuộc nhóm ngành khoa học: KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Sinh viên thực hiện: NGUYỄN LÝ HUỲNH NGỌC HÂN Nam, Nữ: Nữ

Dân tộc: Kinh

Lớp, khoa: D12XH01 Khoa: Công tác xã hội

Năm thứ: 2 Số năm đào tạo: 4

Ngành học: Công tác xã hội

Người hướng dẫn: Thạc Sĩ Lê Anh Vũ

Trang 3

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: “Khả năng thích ứng với môi trường học tập của sinh viên năm nhất khoa

Công tác xã hội trường Đại học Thủ Dầu Một”

- Sinh viên thực hiện: NGUYỄN LÝ HUỲNH NGỌC HÂN

- Lớp: D12XH01 Khoa: Công tác xã hội

- Năm thứ: 2 Số năm đào tạo: 4

- Người hướng dẫn: Thạc Sĩ Lê Anh Vũ

2 Mục tiêu đề tài:

Tìm hiểu khả năng thích ứng với với môi trường học tập của sinh viên năm nhấtkhoa Công tác xã hội Thực trạng khả năng của các sinh viên trong quá trình thích ứngvới các hoạt đông học tập để hiểu được nhu cầu của các bạn sinh viên Từ đó tác giả cóthể đưa ra những đề xuất khuyến nghị đến các đối tượng là nhà trường, khoa Công tác xãhội, đặc biệt là các bạn sinh viên năm nhất nhằm tạo điều kiện và giúp đỡ các bạn trongquá trình học tập tại khoa Công tác xã hội

3 Tính mới và sáng tạo:

Điểm mới của đề tài là chỉ ra được những khó khăn trong việc thích ứng với môi trườnghọc tập mới của các sinh viên năm nhất khoa Công tác xã hội Cũng góp phần nhận rađược sự thu hút của nghề Công tác xã hội với các bạn sinh viên và cách học, phươngpháp học của mỗi bạn trong môi trường giảng đường, khác biệt với cấp THPT Đồng thờinghiên cứu này chưa có tác giả nào tiến hành thực hiện tại khoa Công tác xã hội vàtrường Đaị học Thủ Dầu Một

4 Kết quả nghiên cứu

Trang 4

nghiên cứu với sự phân tích, lý giải hợp lý dựa trên những cứ liệu và số liệu đảm bảo tínhtin cậy.

5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài

- Về khả năng ứng dụng, đề tài sẽ là một tài liệu tham khảo cho khoa và nhàtrường trong việc nâng cao khả năng thích ứng với điều kiện học tập của sinh viên nămnhất khoa Công tác xã hội

6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ họ tên tác

giả, nhan đề và các yếu tố về xuất bản nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp

dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):

Ngày 18 tháng 5 năm 2014

Sinh viên chịu trách nhiệm chính

thực hiện đề tài

(ký, họ và tên)

Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực hiện

đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):

Trang 5

cố gắng trong bước đầu nghiên cứu khoa học đáng ngợi khen Thông qua đề tài này, giúpnhóm nghiên cứu hình dung và biết cách thực hiện nghiêm túc một đề tài nghiên cứukhoa học

- Tiến độ thực hiện được đảm bảo đúng theo tiến độ mà khoa đã đặt ra đối với sinhviên làm nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, có lúc giảng viên hướng dẫn phải liên hệ đểbiết được tiến độ thực hiện của nhóm thực hiện

- Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính kết hợp vớiphương thu thập thông tin thứ cấp Những phương pháp này đáp ứng được việc làm sáng

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Trang 6

CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:

Họ và tên: NGUYỄN LÝ HUỲNH NGỌC HÂN

Sinh ngày: 06 tháng 01 năm 1994

Nơi sinh: Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương

Lớp: D12XH01 Khóa: 2012- 2016

Khoa: Công tác xã hội

Địa chỉ liên hệ: 11 Bùi Quốc Khánh, Chánh Nghĩa, TP Thủ Dầu Một, Bình Dương

Điện thoại: 01654042476 Email: ngochannguyen0601@gmail.com

II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm

- Đoàn viên Xuất sắc năm học 2012- 2013

- Thành viên của CLB C4E Bình Dương về bảo vệ môi trường của tỉnh Bình Dương

Trang 8

phương pháp nghiên cứu khoa học trong Công tác xã hội Quá trình nghiên cứu này làthời gian mà tác giả thực sự khám phá được nhiều điều thực sự có ý nghĩa Em nhận thấytiềm năng thích ứng tốt của các bạn sinh viên năm thứ nhất hiện nay Để có được kết quảnghiên cứu này, em xin trân trọng cảm ơn tập thể lãnh đạo, giảng viên khoa Công tác xã

đã đào tạo, hướng dẫn cho em; trân trọng cảm ơn các bạn sinh viên năm thứ nhất củakhoa Công tác xã hội đã hỗ trợ tận tình trong quá trình nhóm nghiên cứu thu thập thôngtin; trân trọng cảm ơn thầy Tiến sĩ Nguyễn Đức Lộc- khoa Xã hội học- trường Đại họcKhoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ em nghiên cứu tài liệu;đặc biệt, trân trọng cảm ơn thầy Thạc sĩ Lê Anh Vũ đã tận tình hướng dẫn, định hướngcho em trong thời gian nghiên cứu; trân trọng cảm ơn các thầy cô và bạn bè đã chia sẻ,giúp đỡ bằng nhiều cách khác nhau

Kính chúc sức khỏe, thành công

Trang 9

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC CÁC BẢNG 4

DANH MỤC CÁC HÌNH 5

PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Ý nghĩa của đề tài 9

2.1 Ý nghĩa lý luận: 9

2.2 Ý nghĩa thực tiễn: 9

3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 10

3.1 Đối tượng nghiên cứu 10

3.2 Khách thể nghiên cứu 10

3.3 Phạm vi nghiên cứu 10

4 Mục tiêu nghiên cứu 10

4.1 Mục tiêu tổng quát 10

4.2 Mục tiêu cụ thể 10

5 Kết cấu của đề tài 11

PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 12

Chương 1: Cơ sở lí luận 13

1.Tổng quan tình hình nghiên cứu 13

2 Một số khái niệm có liên quan 20

3 Cách tiếp cận trong nghiên cứu và các lí thuyết áp dụng 26

4 Câu hỏi nghiên cứu 32

5 Giả thuyết nghiên cứu và mô hình phân tích 33

6 Phương pháp nghiên cứu 35

Trang 10

Chương 2: Kết quả nghiên cứu 37

1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu và mô tả mẫu nghiên cứu 37

2 Thực trạng khả năng thích ứng với môi trường học tập hiện nay của sinh viên năm nhất khoa Công tác xã hội trường Đại học Thủ Dầu Một 45

3 Đề xuất của sinh viên để nâng cao việc thích ứng với môi trường học tập 53

4 Những yếu tố tác động đến khả năng thích ứng với môi trường học tập của sinh viên năm nhất khoa Công tác xã hội trường Đại học Thủ Dầu Một 57

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 66

1 Kết luận 67

2.Khuyến nghị 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

PHỤ LỤC……… 76

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 11

CHỮ VIẾT TẮT NỘI DUNG

Trang 12

2.1 Mô tả đặc điểm nhân khẩu của mẫu 37

2.8 Số giờ tự học hằng ngày của SV năm nhất khoa CTXH 532.9 Thuận lợi trong quá trình thích ứng với môi trường học tập 582.10 Khó khăn trong quá trình thích ứng với môi trường học tập 592.11 Mối liên hệ giữa các hoạt động trong nhóm học tập 642.12 Mối liên hệ giữa giới và tấn xuất tham gia các hoạt động

học tập trên lớp

64

Trang 14

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trường Đại học Thủ Dầu Một chính thức đi vào hoạt động từ ngày 22 tháng

9 năm 2009 trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Sư phạm Bình Dương theoQuyết định số 900/QĐ-TTg ngày 24/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ, với mụctiêu theo Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đến năm 2020 TrườngĐại học Thủ Dầu Một sẽ có quy mô 21.000 sinh viên, gồm 17 khoa với 30 ngànhđào tạo trình độ đại học và sau đại học, 26 ngành đào tạo trình độ cao đẳng, 06ngành đào tạo trình độ trung cấp; với 1.000 giảng viên, trong đó có 40% đạt trình

Trang 15

độ tiến sĩ và 60% đạt trình độ thạc sĩ

Bên cạnh đó, nhà trường phấn đấu trở thành trung tâm đào tạo – nghiên cứuphát triển khoa học công nghệ, trung tâm văn hóa – giáo dục hàng đầu của tỉnhvới tầm nhìn sứ mạng đào tạo đa ngành, phát triển nguồn nhân lực có trình độCao đẳng, Đại học và sau Đại học để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa –hiện đại hóa của tỉnh, khu vực và cả nước Đồng thời tham gia vào công cuộc đổimới và phát triển giáo dục đại học Việt Nam, nhằm đạt được uy tín ngang bằngvới đại học của các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới Nghiên cứu ứngdụng và chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội cho địaphương và các tỉnh lân cận trong khu vực phía Nam

Từ khi thành lập cho đến nay, trường từng bước đã khẳng định được uy tínđào tạo của trường thể hiện qua số lượng thí sinh thi tuyển sinh đại học đầu vàoluôn tăng qua từng năm Sinh viên của trường không chỉ là người địa phương tạitỉnh Bình Dương mà còn đến từ nhiều tỉnh thành khác trên cả nước Hằng năm,nhà trường tiếp nhận khoảng 2000 sinh viên trúng tuyển

Bước vào môi trường đại học, đây là bước ngoặc quan trọng đối với sinhviên, bởi trường đại học đem lại cơ hội lớn để tích lũy tri thức và kỹ năng nghềnghiệp, tạo điều kiện có cuộc sống tốt đẹp trong tương lai Tuy nhiên, sự thay đổinày cũng đem lại không ít thách thức, khó khăn cho sinh viên năm thứ nhất trongsinh hoạt và học tập

Bên cạnh những sinh viên có khả năng thích ứng tốt, vẫn còn tồn tại không ítsinh viên, có những khó khăn gặp phải trong thời gian học đại học đã để lại dấu ấnnặng nề trong tâm trí học, gây căng thẳng, giảm chất lượng cuộc sống, ảnh hưởngtiêu cực đến kết quả học tập và tương lai nghề nghiệp của họ

Vấn đề chúng ta đang đối diện là: Làm thế nào để các bạn sinh viên năm thứnhất có một cái nhìn khách quan, trang bị những bước chuẩn bị được cho là kỹcàng để đối diện với môi trường học tập mới, từ đó có thể tìm cho mình hướng điđúng đắn và phù hợp nhất Trước sự vận động và biến đổi to lớn của xã hội, đểtồn tại và phát triển buộc sinh viên phải có khả năng thích ứng với những biếnđộng này

Trang 16

Đứng trước thực trạng này có khá nhiều nghiên cứu liên quan đến khả năngthích ứng của sinh viên ở bậc Đại học Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu phần lớnchỉ dừng lại ở mức độ nhận diện các khó khăn về mặt đời sống vật chất, đời sốngtinh thần, an ninh khu vực ở trọ đã có tác động trực tiếp đến sinh viên như liênquan đến hoạt động học tập, thích nghi trong môi trường học tập, quan hệ xã hội,vấn đề cá nhân…mà lại có rất ít công trình nghiên cứu, nghiên cứu trực tiếp cụthể về môi trường học tập của sinh viên Do đó, vấn đề này tạo nên sự thích thúcho tác giả nghiên cứu thực hiện.

Hơn nữa, sinh viên năm thứ nhất là nhóm sinh viên đang trong giai đoạnthực hiện khối kiến thức giáo dục đại cương (gồm các học phần thuộc các lĩnhvực Khoa học Xã hội & Nhân văn, Tin học, Ngoại ngữ, Giáo dục thể chất và Giáodục quốc phòng) Đây là quá trình sinh viên được trang bị cho mình nền tảng vănhóa rộng và cơ bản, nắm vững phương pháp tư duy để tiếp thu tốt kiến thứcchuyên nghiệp điều này có ý nghĩa quyết định đến thành tích học tập sau này củasinh viên Song song đó, đòi hỏi sinh viên phải thích ứng nhanh, nâng cao tínhtích cực, chủ động, sáng tạo nắm lấy những phương pháp, kỹ năng, công cụ cầnthiết để tự chiếm lĩnh tri thức dưới sự tổ chức, định hướng của người thầy Đây lại

là một phương pháp mới đối với các bạn sinh viên năm thứ nhất khiến nhiều sinhviên gặp không ít khó khăn trong việc tìm ra cách thức phù hợp để đáp ứng vớiyêu cầu học tập cao của chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ Nên việcnghiên cứu sự thích ứng với môi trường học tập nói chung và hoạt động học tậptheo học chế tín chỉ của sinh viên là khía cạnh mang lại ý nghĩa và hiệu quả thiếtthực cho việc nâng cao sự thích ứng với hoạt động học tập ở đại học hiện nay.Thông qua kết quả nghiên cứu, nhóm thực hiện đề tài mong đợi sẽ có những pháthiện mới dựa trên cơ sở khoa học để góp phần vào việc đưa ra những khuyếnnghị phù hợp và kịp thời cho các bạn sinh viên năm thứ nhất cũng như có những

đề xuất trong công tác quản lý sinh viên của Khoa

Ngoài ra, việc nghiên cứu tìm hiểu vấn đề này cũng là một cơ hội để nhómthực hiện đề tài áp dụng những kiến thức đã học trên giảng đường vào thực tiễncuộc sống để từ đó hiểu sâu hơn kiến thức, thành thạo hơn về kỹ năng nghiên cứu

Trang 17

để có thể thích ứng với thị trường lao động khi ra trường.

Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, nhóm quyết định chọn: “ Khả năng

thích ứng với môi trường học tập của sinh viên năm thứ nhất khoa Công tác xã hội trường Đại học Thủ Dầu Một” làm đề tài nghiên cứu khoa học.

2 Ý nghĩa của đề tài

2.1 Ý nghĩa lý luận

- Đề tài góp phần làm rõ thêm các khái niệm có liên quan như: môi trườnghọc tập, hoạt động học tập, khả năng thích ứng, hoạt động tự học

- Hình thành những luận cứ lý thuyết để bước đầu lý giải khả năng thích ứng

với môi trường học tập của sinh viên năm nhất

- Đề tài là tài liệu tham khảo cho sinh viên, cán bộ quản lý sinh viên vànhững ai quan tâm đến chủ đề này

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Thực hiện nghiên cứu này là cơ hội để nhóm thực hiện đề tài áp dụng kiếnthức và phương pháp nghiên cứu khoa học vào thực tiễn cuộc sống Từ việcnghiên cứu đã giúp nhóm rút ra được nhiều bài học và kinh nghiệm bổ ích choquá trình học tập và nghiên cứu khoa học

- Qua kết quả nghiên cứu, giúp sinh viên năm thứ nhất có những định hướng

và chuẩn bị đúng đắn cho quá trình học tập ở bậc đại học Ngoài ra, đề tài cũngcung cấp những cứ liệu khoa học làm cơ sở cho khoa và nhà trường có những giảipháp nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên nói chung và sinh viên năm nhấtnói riêng ở bậc đại học

3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Khả năng thích ứng với môi trường học tập của sinh viên năm nhất khoaCTXH trường Đại học Thủ Dầu Một

Trang 18

3.2 Khách thể nghiên cứu

- Sinh viên năm nhất thuộc khoa CTXH trường Đại học Thủ Dầu Một

3.3 Phạm vi nghiên cứu

- Khoa Công tác xã hội trường Đại học Thủ Dầu Một.

4 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu nhu cầu học tập của sinh viên năm nhất khoa CTXH

- Tìm hiểu sự khác biệt trong việc thích nghi với môi trường học tập giữasinh viên nam và nữ

- Đề ra một số khuyến nghị để góp phần nâng cao khả năng thích ứng với môitrường học tập của sinh viên năm nhất khoa CTXH:

+ Khuyến nghị với sinh viên

+ Khuyến nghị với khoa CTXH

5 Kết cấu của đề tài

Báo cáo nghiên cứu gồm 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung nghiên cứu,

phần kết luận và khuyến nghị

A Phần mở đầu

Bao gồm các nội dung: Lí do chọn đề tài; ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề

Trang 19

tài; mục tiêu nghiên cứu; đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu Cuối cùng

là kết cấu của đề tài

B Phần nội dung nghiên cứu: gồm 2 chương, có kết cấu như sau:

_ Chương 1: là các cơ sở lí luận và tổng quan tình hình nghiên cứu, kèmtheo thao tác hóa các khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu về các vấn đềxoay quanh khả năng thích ứng với môi trường học tập của sinh viên năm nhấttrong sinh hoạt, học tập, an ninh nhằm giúp nhóm nghiên cứu hình thành nhữngluận cứ lý thuyết để nhìn nhận và luận giải kết quả nghiên cúu

_ Chương 2: đây là chương nội dung chính của kết quả nghiên cứu thực tế

Đề cập đến những vấn đề chính về khả năng thích ứng với môi trường học tập củasinh viên năm nhất khoa Công tác xã hội

C Phần kết luận và khuyến nghị

Ngoài 3 phần chính như trên đề tài còn có thêm phần phụ như danh mục cácbảng biểu và phần phụ lục (các công cụ thu thập thông tin và hình ảnh minh họa)

Trang 20

PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Trang 21

Chương 1: Cơ sở lí luận

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong quá trình làm việc, từ những nguồn tư liệu sẵn có về vấn đề cầnnghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã tìm thấy 3 văn bản chính sách của Nhà nước cóliên quan đến những quyền lợi, phúc lợi và nghĩa vụ của đối tượng sinh viên, 2bài viết được xuất bản trong các kỷ yếu hội thảo khoa học, các báo, chuyên san và

10 luận văn, báo cáo nghiên cứu khoa học trong nước có liên quan đến chủ đềnghiên cứu tìm hiểu về các vấn đề liên quan đến đời sống, nhà ở, học tập vànhững vấn đề khác xoay quanh chủ thể là sinh viên và cuộc sống của họ đượcđăng tải trên các tạp chí chuyên ngành như: Xã hội học, Công tác xã hội nói riêng

và ngành Khoa học xã hội nói chung

Mặc dù vậy, nhưng lại có rất ít những nghiên cứu và luận văn báo cáo khoahọc có liên quan trực tiếp đến chủ đề nghiên cứu của chúng tôi Từ việc tìm hiểunhững nguồn tài liệu sẵn có như trên sẽ giúp ích cho chúng tôi rất nhiều trong quátrình nghiên cứu đặc biệt là giúp chúng tôi có thể lĩnh hội được các phương pháp,nội dung, cơ sở lý thuyết của các nghiên cứu đi trước Những báo cáo khoa họctrên đã góp phần lớn giúp cho nhóm có cơ sở để kế thừa và tìm ra hướng đi mớicho nghiên cứu của mình

Trong quá trình tìm hiểu các tư liệu sẵn có liên quan đến vấn đề nghiên cứu,chúng tôi đã tìm thấy 8 nghiên cứu thực tiễn Trong đó, có 3 nghiên cứu liên quanđến khả năng thích ứng với môi trường học tập, cuộc sống xa nhà và những vấn

đề bất cập của sinh viên trong môi trường đại học và thấy được những khó khăn

và thuận lợi kèm theo những thách thức mới đối với sinh viên năm nhất trongviệc thích nghi trong môi trường học tập ở đại học là nhu cầu cần thiết và cấpbách hiện nay

1.1 Các nghiên cứu thực tiễn có liên quan đến tình hình học tập và khả năng thích ứng của sinh viên hiện nay.

Gần đây, các nghiên cứu về đối tượng sinh viên nói chung đang rất đượcquan tâm từ xã hội, điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa ra những lí lẽphù hợp kèm theo những giải pháp thực tiễn hữu ích nhằm trợ giúp cho các bạnsinh viên sống xa nhà có cơ hội và điều kiện nhận được sự hỗ trợ từ xã hội và nhà

Trang 22

trường để có thể yên tâm học tâp trên giảng đường đại học Kèm theo đó là việctạo cơ hội mở rộng hệ thống đào tạo giáo dục bậc đại học trong và ngoài tỉnh chosinh viên, nhất là các đối tượng thuộc diện chính sách: hộ nghèo, vùng sâu, vùng

xa, vùng dân tộc thiểu số

Trong những năm qua, chủ đề này không những đã thu hút khá nhiều sựquan tâm của xã hội mà còn là mảnh đất màu mỡ cho các nhà nghiên cứu khaikhác tìm hiểu, nhưng đa phần các nghiên cứu chỉ dừng lại ở những mức độ khácnhau: ở mức độ nhân diện các khó khăn về mặt đời sống vật chất, khả năng thíchứng của sinh viên khi bước vào môi trường đại học, đời sống tinh thần, tình trạng

an ninh trật tự, đã có tác động trực tiếp đến sinh viên như liên quan đến hoạt độnghọc tập, thích nghi trong môi trường học tập, quan hệ xã hội, vấn đề cá nhân, vấn

đề an ninh trật tự nơi ở và an toàn cho bản thân,… nhưng lại có rất ít công trìnhnghiên cứu, khai thác trực tiếp cụ thể vấn đề khả năng thích ứng trong môi trườnghọc tập ở bậc đại học của sinh viên năm nhất

Năm 1995, tác giả Trần Thị Minh Đức với công trình “Ảnh hưởng của môi

trường kí túc xá sinh viên với lối sống sinh viên nội trú” đăng trong tạo chí Phát

triển giáo dục số 6, đã phân tích thực trạng của lối sống sinh viên cả mặt tích cực

và tiêu cực trong môi trường kí túc xá, từ đó nêu lên những khó khăn về mặt đờisống sinh hoạt ở trọ của sinh viên, góp phần đưa ra những kiến nghị cải tạo điềukiện sống ở kí túc xá cho sinh viên và việc giáo dục lối sống văn hóa cho sinhviên nội trú

Năm 2002, tác giả Nguyễn Ánh Hồng - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

trong luận án Tiến sĩ Tâm Lý học “Phân tích về mặt tâm lý học lối sống của sinh

viên thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay” Với mục đích phát hiện

những nội dung tâm lý cơ bản và những biểu hiện của lối sống sinh viên Nghiêncứu đã đề cập đến đối tượng sinh viên dưới nhiều khía cạnh, trong đó thông quahoạt động học tập là chủ yếu Dưới góc nhìn của tâm lý học, tác giả đã giúp xácđịnh được hiện tượng lối sống của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh và nhữngnhận định về xu hướng sắp tới, làm cơ sở tham khảo cho việc điều chỉnh và địnhhướng hoạt động của sinh viên từ góc độ tâm lý

Bài viết “Bước đầu tìm hiểu tự học của sinh viên cao đẳng sư phạm” của

Trang 23

ThS Trần Minh Hằng, đăng trên Tạp chí Giáo dục, số 328, tr15 đã khái quát vaitrò của việc tự học trong đổi mới giáo dục đào tạo, muốn giúp sinh viên học tốtthì điều quan trọng nhất là kỹ năng tự học của sinh viên phải được định hướng và

giáo dục trong quá trình đào tạo Năm 2002 khi trực tiếp khảo sát “Tìm hiểu nhận

thức của sinh viên Trường Cao đẳng sư phạm Hà Nam về tự học”, tác giả cho

rằng phương pháp giảng dạy có vai trò quan trọng quyết định đến cách học củasinh viên và công tác giảng dạy đòi hỏi người giáo viên phải tìm tòi, nghiên cứu

để đổi mới phương pháo giảng dạy cho phù hợp

Như vây, những công trình nghiên cứu về việc tự học của sinh viên khi họ ở

ở xa nhà cũng chịu ảnh hưởng rất lớn từ môi trường sống và điều kiện sống chậtvật đem lại Điều này, cho thấy mỗi tác giả khai thác vấn đề ở những khía cạnhkhác nhau như lý luận, thực tiễn, về phía người dạy, về phía người học, về cánhân, môi trường và đi sâu vào từng đối tượng cụ thể Kết quả của những côngtrình nghiên cứu cũng cho thấy thực trạng, thuận lợi, những khó khăn, những yếu

tố tác động đến việc tự học và kết quả học tập của người học

Năm 2007, tác giả Nguyễn Thị Hoài – Khoa Sư phạm – ĐH Tây Nguyên với

công trình “ Sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất

người dân tộc thiểu số” đăng trong Tạp chí Tâm lý học, số 4 (97), khẳng định

sinh viên người dân tộc thiểu số ở ĐH Tây Nguyên thích ứng chưa cao với hoạtđộng học tập ở Đại học Các tác động từ phía Nhà trường, Giảng viên, Tổ chứcĐoàn thể sẽ giúp sự thích ứng tốt với học động học tập của sinh viên sẽ được cảithiện

Năm 2010, tác giả Trần Thị Tú Anh – Trường ĐH Sư phạm, ĐH Huế với

công trình “Những khó khăn của sinh viên thiệt thòi trong thời gian học tập tại

Đại học Huế” đăng trong Tạp chí khoa học Đại học Huế, số 62A, đã khẳng định

chứng minh sinh viên thiệt thòi gặp khó khăn trong việc thích ứng với cuộc sống

ở trọ, quá trình học tập, giao tiếp với giảng viên Trong quá trình giao tiếp với bạn

bè, cũng như các vấn đề về đảm bảo chăm sóc sức khỏe sinh viên thiệt thòi không

hề gặp khó khăn Có sự khác biệt về mức độ khó khăn giữa 2 giới, các khối vàgiữa sinh viên người dân tộc Kinh và Dân tộc thiểu số

Những khó khăn của sinh viên thiệt thòi gắn liền với điều kiện kinh tế thiếu

Trang 24

thôn, quan hệ xã hội khép kín, vốn tri thức nền tảng hạn chế, kinh nghiệm về cuộcsống thành thị ít ỏi…

Năm 2012, tác giả Trương Thị Ngọc Điệp, Huỳnh Minh Hiền, Võ Thế Hiện

và Hồ Phương Thùy – Trường ĐH Cần Thơ với công trình “Thuận lợi và khó

khăn trong học tập của sinh viên năm nhất tại Đại học Cần Thơ” đăng trong Tạp

chí khoa học 21a: 78 – 91 cho rằng các sinh viên gặp rất nhiều khó khăn tronghọc tập và nguyên nhân bắt nguồn từ ba nhóm yếu tố chính là từ bản thân sinhviên, từ phía đội ngũ cán bộ giảng dạy, cố vấn học tập và từ phía nhà trường, giađình và bạn bè Trong đó, những trở ngại ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng họctập của tân sinh viên phát sinh từ phía bản thân sinh viên và từ phía đội ngũ cán

bộ giảng dạy và cố vấn học tập là thật sự đáng quan tâm Sinh viên cũng cónhững yếu tố thuận lợi và khó khăn riêng trong từng nhóm yếu tố Chính nhữngkhó khăn này đã có tác động tiêu cực đến kết quả học tập của sinh viên trong nămhọc đầu tiên ở bậc đại học và cản trở họ trong quá trình thích nghi với môi trườnghọc ở bậc đại học trong những năm tiếp theo

Thông qua các nghiên cứu trên, các tác giả đã giải thích sự thích nghi, thíchứng là quá trình mỗi cá nhân tiếp cận các giá trị của xã hội, lĩnh hội các giá trị vàchuẩn mực xã hội, điều tiết các mối quan hệ xã hội, xác định vị trí của mình trongnhững môi trường, hoàn cảnh xã hội nhất định Xét cho cùng, chính là việc cánhân tham gia vào quá trình xã hội hóa Như vậy, ở góc độ này, sự thích ứng vớimôi trường sống và môi trường học tập của sinh viên chính là việc cá nhân sinhviên tạo ra những hành vi, ứng xử để đáp ứng mọi yêu cầu của môi trường họctập đại học

Bên cạnh đó, chúng ta cũng có thể thấy được những khó khăn mà sinh viênphải đối mặt trong điều kiện sống xa nhà đặc biệt là việc học tập của sinh viên, họphải tập quen với sự thích ứng với môi trường làm việc mới, tiếp thu văn hóamới, các khó khăn rủi ro họ phải đố mặt Và hơn nữa phải đối mặt với sự thiếuthốn, phức tạp trong sinh hoạt cá nhân làm ảnh hưởng đến tâm lí, hoạt động họctập, làm thay đổi nhân cách cá nhân của sinh viên

Năm 2012, tác giả Trần Nam - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn với luận văn Thạc sỹ ngành Xã hội học “Sự hội nhập của sinh viên Hàn Quốc

Trang 25

với điều kiện sống, học tập ở thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả đã chứng minh

sinh viên Hàn Quốc có sự hội nhập nhanh, tốt ở Tp Hồ Chí Minh do có sự tươngđồng về văn hóa, xã hội giữa hai quốc gia tính liên kết của cộng đồng Hàn Quốc

ở Tp Hồ Chí Minh, tính năng động của một thành phố đang phát triển như Tp

Hồ Chí Minh tác động tốt đến sự thích nghi của sinh viên Hàn Quốc Chính sựtiếp thu các yếu tố văn hoá của cộng đồng bản địa ở Tp Hồ Chí Minh vào đặcđiểm văn hoá cá nhân của sinh viên giúp cho quá trình thích nghi dễ dàng

Thông qua nghiên cứu của tác giả: tác giả Trần Nam chúng tôi nhận thấyđược họ chỉ chú trọng đến sự hòa nhập của sinh viên trong đời sống xa nhà; đó làcách thể hiện tính hiệu quả của quá trình giáo dục trong môi trường xã hội hóakèm theo đó là việc xây dựng nhân cách, nhận thức và đạo đức, tâm lý trong quátrình giáo dục sẽ phụ thuộc vào vấn đề sinh viên thích ứng với tốc độ như thế nàovới các điều kiện, hoàn cảnh mới mà họ phải đối mặt Những nghiên cứu đa dạngcủa các tác giả trên cho thấy những khía cạnh khác nhau của đời sống và môitrường học tập của sinh viên khi chuyển sang một môi trường văn hóa mới vớinhững chuẩn mực mới mà họ phải tiếp thu và việc không thích ứng tốt với nó sẽdần đến những hậu quả tiêu cực trong đời sống và hoạt động của con người

1.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Về phương pháp, các nghiên cứu có liên quan đến khả năng thích ứng vớimôi trường học tập của sinh viên được sử dụng nhiều phương pháp khác nhau:phương pháp nghiên cứu định tính, phương pháp định lượng, một số kỹ thuật thuthập thông tin như là: thu thập số liệu trên thực địa qua bộ câu hỏi bán cấu trúc.Một số đề tài, dự án cũng có sử dụng phương pháp định tính như: phỏng vấn sâu,quan sát- tham dự, quan sát không tham dự, quan sát công khai và bán công khai,thảo luận nhóm kết hợp với quan sát dân tộc học Ngoài ra, các cách tiếp cậntrong xã hội học cũng được sử dụng: cách tiếp cận lối sống để cho ta thấy conngười sống ra sao và sống vì cái gì, họ làm gì, cuộc sống của họ là những hànhđộng và hành vi nào Bên cạnh đó, cách tiếp cận giới cũng được sử dụng để chothấy tính nhạy cảm về giới là vấn đề rất đáng lưu tâm hiện nay đặc biệt là đối vớisinh viên đang ở trọ có cuộc sống xa gia đình

Khi nghiên cứu về khả năng thích ứng với môi trường học tập, đa phần các

Trang 26

tác giả sử dụng cách tiếp cận KAP (Knowledge, Attitudes, Practices) Cách tiếpcận này được điều tra trên phạm vi rộng, dung lượng mẫu lớn với kỹ thuật điềutra xã hội học bằng công cụ nghiên cứu chính là bảng hỏi Ưu điểm của phươngpháp này là giúp thu thập thông tin cơ bản về kiến thức, thái độ, hành vi của sinhviên có liên quan đến vấn đề khả năng thích ứng với môi trường học tập, màchúng tôi cần cần nghiên cứu để giúp chúng tôi có thể nhìn vấn đề một cách cótính khái quát cao và mang tính đại diện.

Ngoài ra, cách tiếp cận giới cũng được các nhà nghiên cứu rất chú ý sử dụng

trong các nghiên cứu: Trần Thị Minh Đức [2005] với công trình “Ảnh hưởng của

môi trường kí túc xá sinh viên với lối sống sinh viên nội trú”, Trần Thị Tú Anh

[2010] – Trường ĐH Sư phạm, ĐH Huế với công trình “Những khó khăn của sinh

viên thiệt thòi trong thời gian học tập tại Đại học Huế” đăng trong Tạp chí khoa

học Đại học Huế, số 62A, Cách tiếp cận này lưu ý những tác động của cấu trúc

xã hội ở khía cạnh bất bình đẳng có thể là vấn đề và nguyên nhân gây sự khókhăn gặp phải trong đời sống ở trọ của sinh viên đối với cả hai giới Phương phápchính của cách tiếp cận này là phương pháp định tính Các nghiên cứu có liênquan đến khả năng thích ứng với môi trường học tập của sinh viên đa phầnthường sử dụng cách tiếp cận lối sống

Thông qua những tài liệu được tổng quan, nhóm nghiên cứu đã xác định rõhơn hướng đi của đề tài Về mặt phương pháp, cho thấy việc tiếp cận dưới góc độkiến thức - thái độ - hành vi là chưa phù hợp với vấn đề nghiên cứu vì không thểtìm hiểu sâu về những yếu tố kinh tế– xã hội làm tác động khả năng thích ứng vớimôi trường học tập của sinh viên Tuy nhiên, chúng tôi đã kế thừa được cách tiếpcận lối sống và cách tiếp cận về giới trong nghiên cứu về giới và phát triển

Về nội dung, những nghiên cứu về khả năng thích ứng với môi trường họctập cũng như tình hình học tập của sinh viên đều khẳng định về mặc khả năngthích ứng với môi trường xung quanh, các mối quan hệ xã hội, nhu cầu sinh hoạtđời sống và khả năng chống chọi với những khó khăn khi sinh viên sống xa nhà

là vấn đề cấp bách và vô cùng quan trọng trong công tác hỗ trợ quản lí sinh viênhiện nay của nhà trường và xã hội Nhưng vẫn còn có rất ít những bài nghiên cứu

đi sâu trực tiếp vào khả năng thích ứng với môi trường học tập của sinh viên Để

Trang 27

góp phần phát huy hết khả năng hỗ trợ cho những khó khăn của sinh viên trên conđường hành trang đại học Bên cạnh đó, các tác giả đều có điểm tương đồng khinhìn thấy được khó khăn trong việc sinh viên đối mặt với vấn đề về liên quan đờisống vật chất, đời sống tinh thần mà chưa nhấn vào tình hình học tập và việc họctập của sinh viên năm nhất Từ các công trình nghiên cứu, cho thấy rằng hầu nhưchưa có nghiên cứu nào nói về vai trò trách nhiệm của nhà trường đối với côngtác hỗ trợ giúp đỡ cho những sinh viên năm nhất đang gặp khó khăn trong làmviệc và học tập tại khoa CTXH trường Đại học Thủ Dầu Một.

Đề tài nghiên cứu “Khả năng thích ứng với môi trường học tập của sinh

viên năm nhất khoa Công tác xã hội trường Đại học Thủ Dầu Một” được xây

dựng và thực hiện dựa trên việc phân tích những điểm mạnh và hạn chế của cáccông trình nghiên cứu có trước Tính kế thừa và phát huy của đề tài được thể hiện

ở việc vận dụng cơ sở lý luận và các phương pháp luận của Xã hội học cũng nhưnhững kinh nghiệm trong khai thác thông tin được chúng tôi xem xét và học hỏi.Ngoài ra, việc phân tích một số hạn chế của các công trình đã nêu trên sẽ giúpcho chúng tôi tránh những sai sót có thể có trong quá trình nghiên cứu Điểm mớicủa đề tài nghiên cứu này là chưa có một nghiên cứu nào tại trường Đại học ThủDầu một nghiên cứu về vấn đề khả năng thích ứng với môi trường học tập củasinh viên năm nhất, kèm theo đó là sử dụng cách tiếp cận giới để thấy đượcnhững khó khăn trong vấn đề thích nghi với môi trường học tập đối với nhómsinh viên nam và sinh viên nữ

Trân trọng và kế thừa thành tựu của các tác giả và những công trình đi trước,chúng tôi luôn cố gắng tìm một hướng mới cho công trình của mình và tìm hiểusâu hơn về vấn đề mà chúng tôi đang quan tâm, để làm rõ mối quan hệ giữa chủthể với môi trường học tập đó chính là những điều sinh viên năm nhất đang phảiđối mặt với cuộc sống mới và môi trường học tập mới Với sự lựa chọn trên, đây

là một hướng nghiên cứu mới về khả năng thích ứng với môi trường học tập củasinh viên Và rất mong, việc nghiên cứu sẽ có nhiều đóng góp mới phục vụ chochính các đối tượng sinh viên, nhà trường và xã hội

Trang 28

2 Một số khái niệm có liên quan

2.1 Môi trường

Môi trường là toàn bộ những điều kiện tự nhiên, xã hội trong đó con ngườihay một sinh vật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người, sinh vật ấy(Hoàng Phê và các cộng sự, 1994) Theo cách hiểu này thì môi trường bao gồmnhững điều kiện tự nhiên và xã hội, là những tác động bên ngoài đến đối tượngtiếp nhận Đối tượng tiếp nhận chịu sự tác động của môi trường là một con ngườihay một sinh vật

Cùng quan niệm cho rằng môi trường là những yếu tố tác động bên ngoài,nhưng trong từ điển giáo dục học, bùi hiền và các cộng sự (2001) lại chỉ ra đốitượng chịu sự tác động của môi trường một cách rộng hơn, bao gồm một cơ thể,một vật thể, một quá trình hay một ý tưởng “ Môi trường là tập hợp những tácnhân biến đổi, bao quanh và ảnh hưởng đến sự tồn tại và sự truyền dẫn của một

cơ thể, một vật thể, một quá trình hay một ý tưởng”.[34]

Môi trường tác động đến con người là hệ thống những điều kiện khách quanbên ngoài tác động đến con người, cần thiết cho sự hoạt động và phát triển của họbao gồm: môi trường tự nhiên và môi trường xã hội

Môi trường tự nhiên bao gồm các điều kiện tự nhiên bao quanh và phục vụcho cuộc sống của con người môi trường xã hội bao gồm các điều kiện xã hộitrong đó con người sống mỗi loại môi trường có vị trí, vai trò khác nhau đối với

sự tồn tại và phát triển của con người

2.2 Môi trường giáo dục

Môi trường giáo dục hay còn gọi là môi trường sư phạm được hiểu là mộttập hợp những không gian, những hoạt động xã hội và cá nhân, những phươngtiện về giao lưu, những quá trình phối hợp lại với nhau và tạo điều kiện thuận lợi

để giáo dục đạt kết quả (Bùi Hiền và các cộng sự, 2001).[34]

2.3 Sinh viên

Thuật ngữ “Sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng La- tinh “Student” có nghĩa làngười làm việc, học tập nhiệt tình, người đi tìm kiếm, khai thác tri thức Nó đượcdùng cùng nghĩa tương đương với “Student” trong tiếng Anh, “Etudiant” trongtiếng Pháp và “Cmgenm” trong tiếng Nga “Sinh viên” là để chỉ những người

Trang 29

theo học ở bậc đại học, cao đẳng để nhằm phân biệt với học sinh đang học ở bậcphổ thông.

Theo ngôn ngữ Hán Việt, từ “Sinh viên” được diễn nghĩa ra là người bướcvào cuộc sống, cuộc đời Còn theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm “sinh viên” đượcdùng để chỉ người học bậc đại học ( Theo Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng-Trung tâm Từ điển học, Hà Nội- Đà Nẵng, 1977) Theo quy chế công tác học sinhsinh viên trong các trường đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì: “ sinh viên” làngười đang theo học hệ đại học và cao đẳng.[13]

2.4 Môi trường học tập của sinh viên

Môi trường học tập bao gồm toàn bộ những yều tố bên ngoài tác động đến

sự học của sinh viên diễn ra trong lớp học Môi trường học tập đó được tạo bởinhững yếu tố thuộc không gian lớp học và nhân cách giảng viên Kể cả bản thânsinh viên với những đặc điểm tâm sinh lí đang có cũng được coi là yếu tố tácđộng bên ngoài của họ (J.M Demonmé &M Roy, dẫn theo Thái Duy Tuyên,2008) Chất lượng hiệu quả học tập của sinh viên trong các tiết trên lớp phụ thuộcvào chất lượng của tất cả các yếu tố tác động đến sinh viên, được sinh viên tíchcực tiếp nhận kể trên.[34] Theo đề tài này môi trường học tập sẽ được hiểu theokía cạnh sau đây Đó là những hoạt động học tập của sinh viên khi tương tác vớimôi trường bên ngoài và môi trường bên ngoài tương tác đến sinh viên Vì đề tàichỉ nghiên cứu khả năng thích ứng của sinh viên với môi trường học tập nênchúng tôi tập trung nghiên cứu các yếu tố của môi trường bên ngoài ảnh hưởngđến môi trường học tập có ảnh hưởng đến sinh viên

2.5 Thích ứng

Sự biến đổi của cá nhân trong quá trình tiếp xúc với môi trường xã hội; kếtquả là những sự khác nhau, những sự không hoà hợp tồn tại trước kia giữa cánhân và môi trường xã hội giảm bớt hoặc mất đi Khái niệm “thích ứng” đượcphát triển ở thế kỉ XIX trong sinh học, lý thuyết tiến hoá; sau đó được mở rộng,sang lĩnh vực tâm lý học và nhất là lĩnh vực xã hội học[17] Ngày nay, trên cơ sởphát triển của khoa học tự động hoá, sự thích ứng được phân tích như là sự ănkhớp với nhau một cách liên tục giữa những mối quan hệ của hai hệ thống Hai hệthống này vẫn có thể được gọi bằng những cái tên cổ điển trước kia đã dùng là

Trang 30

“cơ thể” và “môi trường” Trong xã hội học, người ta đi tới hai khuynh hướngkhác nhau, theo đó “môi trường” được hiểu là xã hội hoặc nhóm, còn “cơ thể” là

cá nhân, hay cá thể (Theo Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng- Trung tâm Từ điểnhọc, Hà Nội- Đà Nẵng, 1977)

Theo khuynh hướng thứ nhất, sự thích ứng xã hội của cá nhân với môitrường thường trải qua giai đoạn không chấp nhận, thậm chí còn có cả tính xungđột, song cũng lại có những khả năng tác động ngược lại đến môi trường, như các

hệ thống giáo dục, hướng nghiệp, các quan hệ con người…cho nên, cuối cùng sựthích ứng được thực hiện

Theo khuynh hướng thứ hai, sự thích ứng của các cơ thể xã hội với môitrường có thể được nghiên cứu trong truyền thống sinh học của khái niệm, dướigóc độ của những tập hợp kiểu gen Nói chung, xã hội học nghiên cứu sự thíchứng này với một quan điểm ít tĩnh hơn, và quan tâm đến sự tác động qua lại giữacác hệ thống Sự thích ứng khi đó có thể được nghiên cứu như một trong nhữngnhân tố chủ yếu của sự tiến hoá, nhân tố bảo đảm truyền đi sự thay đổi từ một hệthống hay một phân hệ này sang một hệ thống hay phân hệ khác trong khuôn khổcủa một quan niệm toàn bộ về xã hội

Học có thể diễn ra một cách ngẫu nhiên trong cuộc sống hằng ngày và nódiễn ra ở mọi lúc mọi nơi Cách học này diễn ra khi tiến hành công việc qua laođộng sản xuất, hoạt động vui chơi giải trí,… cách học này không có chủ định dẫnđến kết quả tri thức mà người học nắm được sẽ rời rạc và không có hệ thống Ởngười học chỉ hình thành những năng lực thực tiễn do kinh nghiệm mang lại.Nhưng thực tiễn để có thể tự cải tạo tư nhiên, xã hội và bản thân con người

Trang 31

thì đòi hỏi con người phải nắm được các quy luật của tự nhiên, xã hội và quy luật

về sự hình thành, phát triển con người Ngoài việc lĩnh hội những tri thức mangtính kinh nghiệm ra, con người cần phải nắm bắt được những tri thức khoa học,những năng lực thực tiễn mới mà cách học ngẫu nhiên không tạo ra được Để cóđược những năng lực đó, người ta tiến hành một hoạt động hướng vào để thựchiện mục tiêu đó là hoạt động học (học có chủ định).[20]

2.7 Tự học ở nhà

Tự học (self- learning) là hoạt động nỗ lực chiếm lĩnh tri thức của bản thânngười học bằng hành động của chính mình, hường tới những mục đích nhất định

Đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề tự học ở nhà về nhiều góc độ khác nhau:

Dưới đây là một số quan điểm của các nhà nghiên cứu về vấn đề này Thông

thường thì khái niệm “Tự học” được hiểu là “ Tự học lấy một mình trong sách

chứ không có thầy dạy” ( Theo Thanh Nghị, trong Việt Nam tân từ điển) cũng có

thể hiểu là “ Tự đi tìm lấy kiến thức có nghĩa là tự học” Theo tác giả Lê Khánh Bằng: “ Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất

tâm lí để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định”.

Theo tác giả Nguyễn Thanh Long: “ Tự học là tự mình động não, suy nghĩ,

sử dụng các năng lực trí tuệ và có cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình Việc tự học sẽ được tiến hành khi người học có nhu cầu muốn hiểu biết một kiến thức nào đó và bằng nỗ lực của bản thân cố gắng chiếm lĩnh được kiến thức đó”.[18]

Như vậy, tự học ở nhà là hình thức hoạt động nhận thức của người học nhằmchiếm lỉnh tri thức, tự nguyện mình luyện tập các thao tác, hành động để hìnhthành kĩ năng kĩ xảo tự học giúp người học tự tìm ra tri thức mới, cách thức hànhđộng mới bằng chính nỗ lực của bản thân mình Tự học hình thành nên những conngười năng động, sáng tạo

2.8 Giới

Giới thường bị nhầm lẫn với giới tính Tuy nhiên, tổ chức y tế thế giới

(WHO) đã sử dụng các định nghĩa sau: “Giới là một thuật ngữ chỉ sự khác nhau

giữa nam và nữ dực trên những mong đợi, giá trị và chuẩn mực xã hội”.[7]

Trang 32

Ví dụ

• Giới chỉ các vai trò, hành vi, các hoạt động và các thuộc tính do quanniệm xã hội hình thành nên được coi là chẩn mực của nam giới và nữ giới Giớichỉ các quan niệm, mong đợi và các chuẩn mực được công nhận rộng rãi liênquan đến phụ nữ và đàn ông Chúng bao gồm cả những quan niệm về những đặcđiểm và khả năng “điển hình” cho nữ giới và nam giới cũng như các mong đợiđược chấp nhận rộng rãi về việc phụ nữ và đàn ông nên ứng xử như thế nào trongnhiều tình huống khác nhau Những quan niệm và mong đợi này được truyền tảihằng ngày trong gia đình, giữa bạn bè, theo ý kiến các nhà lãnh đạo, theo các thểchế tôn giáo và văn hóa, trường học, nơi làm việc, quảng cáo và các phương tiện truyền thông Chúng phản ánh và tác động lên các vai trò khác nhau mà phụ nữ

và nam giới có thể thực hiện trong xã hội, cũng như vị trí, sức mạnh kinh tế, chính trị mà họ có thể có

2.9 Nhu cầu

Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn,nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển Tùytheo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người

có những nhu cầu khác nhau

Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động Nhu cầu càng cấp bách thìkhả năng chi phối con người càng cao Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầuđồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhậnthức có sự chi phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thoảmãn nhu cầu)

“Nhu cầu được hiểu là sự cần thiết về một cái gì đó Nhưng “cái gì đó” chỉ

là hình thức biểu hiện bên ngoài của nhu cầu Sau hình thức biểu hiện ẩn chứa bản chất của nhu cầu mà có thể tạm gọi là "nhu yếu" Nhu yếu đang nói đến lại

có thể được xem là hình thức biểu hiện của một nhu yếu khác căn bản hơn” [4]

[11] Như vậy khái niệm nhu cầu và nhu yếu mang tính tương đối với nhau Điều

đó cho thấy rằng nhu cầu của cơ thể sống là một hệ thống phức tạp, nhiều tầnglớp, bao gồm vô số các chuỗi mắc xích của hình thức biểu hiện và nhu yếu liênkết chằng chịt, có khả năng phát triển và đa dạng hóa Tuy nhiên, để dễ nhận

Trang 33

dạng, một nhu cầu riêng biệt đơn giản nhất được cấu thành bởi một nhu yếu vàmột hình thức biểu hiện.

Aristotle (Aristotle , Chính Trị Luận, 350TCN) đã cho rằng con người cóhai loại nhu cầu chính: thể xác và linh hồn Sự phân loại này mang tính ước lệ lớnnhưng nó ảnh hưởng đến tận thời nay và người ta quen với việc phân nhu cầuthành "nhu cầu vật chất" và "nhu cầu tinh thần" Ngoài ra còn tồn tại nhiều kiểuphân loại khác dựa trên những đặc điểm hay tiêu chí nhất định

Boris M Genkin chia nhu cầu ra hai nhóm: nhu cầu tồn tại và nhu cầu đạtmục đích sống Nhu cầu tồn tại gồm nhu cầu sinh lí, nhu cầu an toàn và nhu cầutham dự Trong nhu cầu đạt mục đích có bốn nhóm:

- Giàu có về vật chất

- Quyền lực và danh vọng

- Kiến thức và sáng tạo

- Hoàn thiện tinh thần

Tùy vào thiên hướng của từng cá nhân mà một trong số bốn nhu cầu trên thểhiện nổi trội Có thể trong một người hiện diện cả bốn dạng nhu cầu đó nhưng ởcác giai đoạn khác nhau trong đời

2.10 Lối sống

Các hoạt động sống của con người chịu sự chi phối của các điều kiện chủquan và khách quan Các điều kiện khách quan bao gồm các điều kiện kinh tế,tâm lý xã hội, văn hóa – xã hội…; các điều kiện chủ quan như: các điều kiện vềtâm lý xã hội, tình trạng chung về ý thức con người, thái độ đối với môi trườngxung quanh trực tiếp, cũng như các vấn đề về tâm thế xã hội, lợi ích và các địnhhướng giá trị quyết định lập trường lối sống và hành vi sống, chi phối các hoạtđộng trong đối sống con người.[16]

Hay theo Từ điển Xã hội học Oxford thì lối sống nói đến những cách sốngkhác nhau, thường đập vào mắt người ta thông qua những giá trị và phương thứctiêu dùng, là những cái đi kèm theo sự khác biệt hóa ngày càng tăng của các xãhội tư bản chủ nghĩa tiên tiến

Lối sống là một phạm trù xã hội học bao hàm cả các điều kiện sống, cáchình thức hoạt động sống của con người, các quan hệ xã hội, sinh hoạt, các hình

Trang 34

thức thoả mãn nhu cầu thế giới quan.

Lối sống là một hiện tượng lịch sử của xã hội, hình thành khách quan bênngoài xã hội, chịu sự chi phối của phương thức sản xuất và toàn bộ điều kiện sốngcủa con người cũng như các yếu tố khách quan và chủ quan Tuy nhiên, lối sốngkhông chỉ là sản phẩm thụ động bị chi phối bởi phương thức sản xuất mà nó còngắn liền với toàn bộ hệ thống giá trị, tinh thần của con người với tổng thể cácquan hệ vật chất – tinh thần, cá nhân – xã hội Điều đó, có nghĩa nó bao hàm mọimặt của đời sống con người Nó phụ thuộc vào thái độ và sự lựa chọn khác nhaucủa cá nhân, cộng đồng và xã hội Lối sống là một cơ cấu phẩm chất nhất địnhcủa hoạt động sống hàng ngày của con người nhằm thể hiện họ về mọi mặt với tư

cách là những chủ thể xã hội Trần Thị Kim Xuyến cho rằng “Lối sống là cách

thức cá nhân tham gia vào các quan hệ xã hội bằng những hoạt động của mình.

Và sự lựa chọn đó được xác định trên cơ sở con người biết đánh giá hoạt động sống của mình trong tương quan với điều kiện sống”.[26]

3 Cách tiếp cận trong nghiên cứu và các lí thuyết áp dụng

3.1 Cách tiếp cận trong nghiên cứu

3.1.1 Tiếp cận lối sống

Lối sống là một hiện tượng lịch sử của xã hội, hình thành khách quan bênngoài xã hội, chịu sự chi phối của phương thức sản xuất và toàn bộ điều kiện sốngcủa con người cũng như các yếu tố khách quan và chủ quan Tuy nhiên, lối sốngkhông chỉ là sản phẩm thụ động bị chi phối bởi phương thức sản xuất mà nó còngắn liền với toàn bộ hệ thống giá trị, tinh thần của con người với tổng thể cácquan hệ vật chất – tinh thần, cá nhân – xã hội Điều đó, có nghĩa nó bao hàm mọimặt của đời sống con người.Nó phụ thuộc vào thái độ và sự lựa chọn khác nhaucủa cá nhân, cộng đồng và xã hội Lối sống là một cơ cấu phẩm chất nhất địnhcủa hoạt động sống hàng ngày của con người nhằm thể hiện họ về mọi mặt với tư

cách là những chủ thể xã hội “Lối sống là cách thức cá nhân tham gia vào các

quan hệ xã hội bằng những hoạt động của mình.Và sự lựa chọn đó được xác định trên cơ sở con người biết đánh giá hoạt động sống của mình trong tương quan với điều kiện sống”.[26]

Trang 35

Cách tiếp cận này chỉ ra rằng, khi nghiên cứu bất cứ dạng hoạt động nào đócủa con người, cần cùng một lúc sử dụng cả hai hướng tiếp cận: thứ nhất, tiếp cậnkhách quan, theo đó tìm các yếu tố tác động tới các hoạt động đó từ phía nhữngđiều kiện kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội…của xã hội rộng lớn; thứ hai, tiếp cậnchủ quan, bao gồm các yếu tố như kiến thức, quan niệm, thái độ, động cơ củachính chủ thể các hoạt động đó.

Chúng ta thường nhận thấy đôi khi trong cùng một hoàn cảnh, cùng một môitrường như nhau nhưng các cá nhân lại có những quan niệm sống khác nhau.Từ

đó dẫn tới sự không đồng nhất trong hành động Thực chất thì những điều kiệnsống, mức độ dồi dào về vật chất, về văn hóa lại được phản ánh không giốngnhau trong nhận thức của con người, từ đó con người có những đánh giá và hành

động khác nhau Do đó, “muốn tác động có hiệu quả đến lối sống của cá nhân

cần phải phối hợp giáo dục các lĩnh vực tư tưởng, chính trị, đạo đức, lao động và tính đến những đặc điểm của các nhóm xã hội khác nhau”.[16]

Lối sống là cơ sở định hình quan niệm sống của mỗi cá nhân Quan niệmsống có thể được biểu hiện trên cấp độ quan niệm đời thường, cũng có thể biểuhiện trên cấp độ những kiến thức lý luận Quan niệm sống ở mức độ khái niệm và

tư tưởng hướng con người nhìn nhận hoạt động của mình trên quan điểm nhữnglợi ích cá nhân và những nhiệm vụ trước mắt

Chính vì vậy, các hoạt động sống được nghiên cứu trong đề tài để hiểu được

sự thích ứng của sinh viên năm thứ nhất, bao gồm: môi trường rộng (quan điểm,đường lối phát triển giáo dục; tốc độ phát triển kinh tế…); môi trường hẹp (cơ sởvật chất nhà trường, sự đoàn kết của tập thể giáo viên); môi trường bên trong(trình độ của thầy giáo, của học sinh); môi trường bên ngoài (xã hội, nhà trường,gia đình), môi trường vật chất và môi trường tâm lý, tinh thần

+ Tiếp cận khách quan (tiếp cận hệ thống)

Ở phương diện tiếp cận khách quan, Công tác xã hội coi xã hội như là một

hệ thống bao gồm nhiều bộ phận, mỗi một bộ phận giữ một vai trò bình thườngnào đó trong xã hội và vận hành một cách bình thường để thực hiện một số yêucầu nào đó trong xã hội Theo cách tiếp cận này, bất kỳ một hệ thống ổn định nàocũng bao gồm những bộ phận khác nhau nhưng liên hệ với nhau, chúng cùng

Trang 36

nhau vận hành để tạo nên sự đồng bộ, tạo nên sự ổn định hệ thống Sự đóng gópvào việc vận hành ổn định của hệ thống được gọi là chức năng Các bộ phận cótầm quan trọng chức năng khác nhau đối với hệ thống Chức năng luận nhìn xãhội như là sự phụ thuộc lẫn nhau và sự thống nhất trong xã hội, tuy có xung độtnhưng xã hội sẽ kiểm soát để tiến tới điểm cân bằng mà ở đó mọi bộ phận phụthuộc vào nhau và vận hành một cách chức năng với nhau.

Trong cách tiếp cận khách quan, tác giả luận văn cũng xem xét tác động củanhững yếu tố bên ngoài như điều kiện kinh tế hoàn cảnh gia đình, môi trườngsống, cơ sở vật chất, hoạt động hướng nghiệp, thư viện, hoạt động giảng dạy củagiảng viên có tác động đến việc thích ứng với môi trường học tập Dưới hướngtiếp cận này, từ cách thao tác hóa khái niệm đến thu thập và phân tích thông tin sẽ

Chính vì thế, bên cạnh tiếp cận vấn đề nghiên cứu dưới góc độ khách quan.Tác giả luận văn còn sử dụng cách tiếp cận chủ quan làm cơ sở lý luận xuyên suốt

đề tài giúp nghiên cứu có thêm cơ sở lý thuyết quan trọng để luận giải vấn đềnghiên cứu Vì vậy, hướng tiếp cận thứ hai về phương pháp luận được thực hiệntrong đề tài là chủ thể luận

3.1.2 Tiếp cận giới

Trong nghiên cứu xã hội học thì cách tiếp cận giới đã thể hiện tầm quantrọng trong việc xác định những nhân tố xã hội ẩn chứa bên dưới tác nhân tựnhiên gây ra những yếu tố xã hội của nam và nữ Để từ đó con người có thể ngănngừa hay giảm thiểu hành vi có hại cho đời sống sinh hoạt của họ khi nhận thứcđược những yếu tố xã hội ẩn chứa bên trong hành vi của mình

Trang 37

Quan niệm xã hội về sự khác biệt giữa nam và nữ tác động trực tiếp tớinhưng hoạt động của hai giới Quá trình xã hội hóa về giới đã làm cho nhữngkhác biệt này càng rõ nét khi khuyến khích nam giới tham gia vào hoạt độngmang tính cơ bắp nhiều hơn và mang tính hướng ngoại Ngược lại, khuyến khích

nữ giới đảm nhận vai trò trong gia đình như chăm sóc gia đình, nội trợ, nuôi dạycon cái, tươm tất, tỉ mỉ,… Ảnh hưởng của những quan niệm này là hiện tượngnam giới có xu hướng liên quan nhiều hơn đến hành vi bạo lực, không khéo léocẩn thận,… còn nữ giới phải đối mặt với nguy cơ bị khó khăn trong việc thíchnghi với cuộc sống trong xã hội khi có nhiều gành nặng công việc cuộc sống hơn

là nam giới

Cách tiếp cận giới cho phép tìm hiểu sự khác biệt trong cách nhìn nhận vàthực hiện những hành vi liên quan trong cuộc sống sinh hoạt của nam giới và nữgiới tại khoa Công tác xã hội trường Đại học Thủ Dầu Một

3.2 Lý thuyết áp dụng

3.2.1 Thuyết hệ thống sinh thái

“Lý thuyết hệ thống sinh thái giúp cho những người thực hành công tác xã

hội phân tích thấu đáo sự tương tác giữa thân chủ và hệ thống sinh thái – môi trường xã hội mà thân chủ đang sinh sống và mức độ ảnh hưởng như thế nào đến hành vi của con người trong đời sống xã hội Mỗi cá nhân đều có một môi trường sống và một hoàn cảnh sống, họ chịu tác động của các yếu tố trong môi trường sống và họ cũng ảnh hưởng đến môi trường xung quanh của họ”[10] Như vậy,

các cá nhân và các yếu tố liên hệ trực thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ Để hiểu mộtyếu tố nào đó trong môi trường, ta phải nghiên cứu cả hệ thống môi trường xungquanh họ Vì vậy, bất cứ việc can thiệp hoặc giúp đỡ một cá nhân của một tổ chứcnào đó đều liên quan và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống đó Lý thuyết hệ thốngsinh thái có ảnh hưởng rất nhiều đến các phương thức thực hiện trong công tác xãhội như tư vấn, xử lý ca, tư vấn nhóm, tổ chức và phát triển cộng đồng Nhân viêncông tác xã hội vẽ bản đồ sinh thái cùng với thân chủ Khi tham gia thân chủ/giađình thân chủ hiểu và nhận thức rõ vấn đề mà trước đây có thể họ chưa hề để ý

3.2.2 Thuyết nhu cầu

Thuyết nhu cầu của A Maslow (1908-1970) là thuyết đạt tới đỉnh cao trong

Trang 38

việc nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người nói chung Cho đến nay, chưa

có thuyết nào thay thế tốt hơn thuyết này mặc dù cũng có khá nhiều “ứng cử

1 Physiological: là các nhu cầu thuộc về “thể lý” bao gồm các nhu cầu như: Đồ

ăn, thức uống, thở, nghỉ ngơi, chỗ ở, quần áo, bài tíêt, tình dục

2 Safety: nhu cầu an toàn về thân thể, sức khỏe, việc làm, tài sản…

3 Love/belongging: nhu cầu xã hội như tình cảm, tình bạn, muốn được trực thuộc

4 Esteem: bao gồm các nhu cầu được kính trọng, được quý mến, tin tưởng, địa

vị, danh tiếng, thành đạt…

5 Cognitive: nhu cầu nhận thức, khám phá;

6 Aesthetic: nhu cầu thẩm mỹ, vươn tới cái đẹp;

7 Self-actualization: nhu cầu tự hòan thiện, tự khẳng định mình; 8.Self-transcendence: nhu cầu tham gia vào những mối liên hệ liên cá nhân, vượt

ra khỏi cái tôi của mình, giúp người khác tự khẳng định họ và tự nhận ra những

Cấp độ thấp nhất và cơ bản nhất là nhu cầu thể chất hay thể xác của con ngườigồm nhu cầu ăn, mặc, ở Cấp độ tiếp theo là nhu cầu an toàn hay nhu cầu đượcbảo vệ Nhu cầu an toàn có an toàn về tính mạng và an toàn về tài sản Cao hơn nhu cầu an toàn là nhu cầu quan hệ như quan hệ giữa người với người,quan hệ con người với tổ chức hay quan hệ giữa con người với tự nhiên Conngười luôn có nhu cầu yêu thương gắn bó Cấp độ nhu cầu này cho thấy conngười có nhu cầu giao tiếp để phát triển Ở trên cấp độ này là nhu cầu được nhậnbiết và tôn trọng Đây là mong muốn của con người nhận được sự chú ý, quantâm và tôn trọng từ những người xung quanh và mong muốn bản thân là một “mắt

Trang 39

xích” không thể thiếu trong hệ thống phân công lao động xã hội Việc họ đượctôn trọng cho thấy bản thân từng cá nhân đều mong muốn trở thành người hữudụng theo một điều giản đơn là “xã hội chuộng của chuộng công” Vì thế, conngười thường có mong muốn có địa vị cao để được nhiều người tôn trọng và kính

nể Vượt lên trên tất cả các nhu cầu đó là nhu cầu sự thể hiện Đây là khát vọng

và nỗ lực để đạt được mong muốn Con người tự nhận thấy bản thân cần thựchiện một công việc nào đó theo sở thích và chỉ khi công việc đó được thực hiệnthì họ mới cảm thấy hài lòng Thuyết nhu cầu sắp xếp nhu cầu con người từ thấplên cao Những nhu cầu ở cấp cao hơn sẽ được thỏa mãn khi nhu cầu cấp thấphơn được đáp ứng

3.2.3 Thuyết Hành động xã hội

Thuyết hành động của Max Weber đã không quan tâm đến hệ thống xã hộinhư một tổng thể (khác với Durkheim và Marx), mà đề cao trọng tâm nghiên cứunhững động cơ của hành động cá nhân, những ý nghĩa hoặc lý do hành động củahọ.Xã hội học của Weber nhấn mạnh đến thuật ngữ tiếng Đức Verstehen (sự

thông hiểu, sự hiểu biết) “Đó là một nền xã hội học “hiểu” và “cảm thông”,

nhằm đặt mình vào vị thế của người khác, nắm bắt những động cơ của người đó, những lựa chọn người đó phải đối diện và tiến hành quyết định trong những điều kiện có sẵn Xã hội học Verstehen, nói một cách khác, đặt trọng tâm vào những ý nghĩa khác nhau của thế giới đối với từng cá nhân con người”[27] Xã hội học

thấu hiểu của Weber chính là nền tảng cho ngành nhân học diễn giải biễu trưngsau này Max Weber được xem là nhà xã hội học đầu tiên khởi xướng quan điểmhành động xã hội Theo ông, đối tượng đích thực của xã hội học là hành động xãhội, Bởi vì, xã hội học là một khoa học cố gắng hiểu theo kiểu diễn giải hànhđộng xã hội để bằng cách đó đạt đến sự giải thích nhân quả về chuỗi hành động

và tác nhân của nó Với Weber, hành động xã hội là hành động có ý nghĩa hướngđến cái mà chủ thể gán cho một ý nghĩa chủ quan Ông cho rằng việc giải thích xãhội học đối với hành động phải bắt đầu bằng việc quan sát và lý giải trạng tháitinh thần chủ quan Trong khi các nhà thực chứng luận nhấn mạnh đến sự kiện vàquan hệ nhân quả, thì các nhà hạnh động luận nhấn mạnh đến thấu hiểu Vì khôngthể đi vào bên trong đời sống tinh thần của chủ thể nên xã hội học phải phát hiện

Trang 40

các ý nghĩa, đạt được sự thấu hiểu bằng phương pháp lý giải, mà không thể đolường khách quan Vì các ý nghĩa thường xuyên được xếp trong quá trình tươngtác, nên không thể thiết lập các quan hệ nhân quả đơn giản Max Weber thừa nhận

sự tồn tại của các phạm trù như giai cấp, đảng phái, nhóm vị thế, quan liêu Màtheo ông, những khái niệm đó đều được tạo nên bởi những cá nhân đang thựchiện hành động xã hội

Max Weber cho rằng xã hội cố gắng diễn giải hành động nhờ phương phápluận về kiểu loại lý tưởng Ông thực hành phương pháp này để xây dựng mộtphân loại học về hành động xã hội gồm bốn kiểu:

- Kiểu hành động truyền thống được thực hiện bởi vì nó vẫn được làm nhưthế từ xưa đến nay

- Kiểu hành động cảm tính bị dẫn dắt bởi cảm xúc

- Kiểu hành động hướng đến giá trị tối hậu

- Kiểu hành động hướng đến giá trị mục đích hay còn gọi là kiểu hành độngmang tính công cụ

Diễn trình phương pháp luận mà Weber tiền hành gần như đối lập, hay đúnghơn là khác hẳng quan niệm của Durkheim đã trình bày cách đó hơn 10 năm

trong quyển “Những quy tắc của phương pháp xã hội học” (1894) Khi E Durkheim cho rằng “Chỉ có thể giải thích một hiện tượng xã hội này một hiện

tượng xã hội khác”, và do đó cần tập trung chú ý tới các “sự kiện xã hội” khách

quan bên ngoài chứ không cần quan tậm đến động cơ hay ý định chủ quan của cánhân thì Max Weber lại cho rằng: chúng ta không thể nhận diện các sự kiện xãhội như các sự kiện vật lý Điều này vẫn thường thấy trong các phân tích củanhững nhà cấu trúc chức năng Vì các sự kiện xã hội luôn luôn được hình thànhhay xây dựng bên trong những tác nhân xã hội Chính do sự tự xây dựng này màcác sự kiện xã hội hiện hữu mới có thể xảy ra Vì vậy, chúng ta cần hiểu được “ ýnghĩa nội sinh” của hành động xã hội.[30]

Ngày đăng: 20/07/2021, 07:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w