1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức chính quyền thực dân pháp ở nam kỳ (1874 1914)

51 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ Chức Chính Quyền Thực Dân Pháp Ở Nam Kỳ (1874-1914)
Tác giả Huỳnh Toàn, Nguyễn Thị Tiền
Người hướng dẫn Th.S Phạm Thúc Sơn
Trường học Trường Đại Học Thủ Dầu Một
Chuyên ngành Sư Phạm Lịch Sử
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2014 - 2015
Thành phố Thủ Dầu Một
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 468,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về“Tổ chức chính quyền của thực dân Pháp ở Nam Kì từ 1874 đến 1914” thông qua việc tìm hiểu những chức năng, hoạt động của từng cơ quan trong bộ máy cai trị củaPháp sẽ giúp ch

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

Sinh Viên Thực Hiện: Huỳnh Toàn Giới Tính : Nam

Nguyễn Thị Tiền Giới Tính : Nữ Dân tộc: Kinh

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục tiêu đề tài 6

3.1 Mục tiêu chung 6

3.2 Mục tiêu riêng 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4.1 Đối tượng nghiên cứu 7

4.2 Phạm vi nghiên cứu……… 7

5 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 7

6 Đóng góp của đề tài 7

7 Bố cục 8

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH XÂM CHIẾM VÀ XÁC LẬP QUYỀN THỐNG TRỊ CỦA THỰC DÂN PHÁP Ở NAM KÌ 9

1.1 Âm mưu xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp 9

1.2 Liên quân Pháp- Tây Ban Nha tiến đánh Đà Nẵng 11

1.3 Thực dân Pháp xâm chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kì (1859-1862) 13

1.4 Thực dân Pháp xâm chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Kì ( 1867- 1874 ) 21

CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN CỦA THỰC DÂN PHÁP Ở NAM KÌ (1874 – 1914) 26

2.1 Tổ chức chính quyền thuộc địa ở Nam Kì (1874 - 1887) 27

2.1.1 Tổ chức chính quyền ở trung ương 28

2.1.1.1 Thống đốc Nam Kì và các cơ quan giúp việc trực tiếp 29

Trang 4

2.1.1.2 Cấp Khu, Tỉnh và các cơ quan giúp việc 31

2.1.2 Tổ chức chính quyền địa phương 32

2.1.2.1 Ở trung tâm hành chính Tỉnh 32

2.1.2.2 Cấp Tổng 32

2.1.2.3 Cấp Xã 33

2.2 Tổ chức chính quyền thuộc địa ở Nam Kì (1887 - 1914) 33

2.2.1 Cấp Xứ/Kì 34

2.2.2 Cấp Tỉnh, Thành phố 35

2.2.3 Cấp địa phương 36

2.3 Nhận xét về cơ cấu tổ chức, hình thức quản lý và phương thức hoạt động của bộ máy chính quyền thuộc địa ở Nam Kỳ (1874 - 1914) 38

2.3.1 Về cơ cấu tổ chức của bộ máy chính quyền thuộc địa 38

2.3.2 Hình thức quản lý và phương thức hoạt động của bộ máy chính quyền thuộc địa ở Nam Kỳ (1874 – 1914) 41

KẾT LUẬN 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sau khi đánh chiếm được toàn bộ lục tỉnh Nam Kì vào năm 1867, thực dânPháp tiếp tục đem quân ra tấn công Bắc và Trung Kì, xâm chiếm toàn bộ lãnh thổnước ta Thực dân Pháp áp dụng chính sách “ tằm ăn lá dâu” từ từ lấn đất, chiếm dầnquyền và thiết lập bộ máy cai trị trên đất nước ta để tiến hành khai thác và bóc lộtnhân dân ta Thực dân Pháp chia đất nước ta thành ba kì: Bắc Kì, Nam Kì và Trung

Kì với ba chế độ cai trị khác nhau, Bắc Kì và Trung Kì là hai xứ bảo hộ vẫn còn giữlại chính quyền phong kiến về hình thức, Nam Kì là đất thuộc địa hoàn toàn do Phápnắm cùng với Lào và Campuchia cũng là đất bảo hộ của Pháp, hợp thành Liên bangĐông Dương Với thủ đoạn này, chúng nhằm xóa bỏ tên Việt Nam, Lào, Campuchiakhỏi bản đồ thế giới

Với thủ đoạn thâm độc, thực dân Pháp cố tìm mọi cách để chia cắt đấtnước, chia rẽ dân tộc Việt Nam, hòng phân lực lượng để dễ bề cai trị, đồng thời tước

bỏ hết mọi quyền công dân và quyền con người, nô dịch nhân dân nước ta trong sựdốt nát và đói nghèo Bộ máy chính quyền thực dân Pháp ở nước ta được thiết lậphết sức chặt chẽ từ trung ương đến địa phương, chúng thực hiện chính sách “chia đểtrị“ và “ dùng người Việt trị người Việt ’’ để bộ máy cai trị được hoạt động tốt và trởthành công cụ đắc lực của chủ nghĩa thực dân Pháp trong việc đàn áp và nô dịchnhân dân ta, thực hiện chính sách bóc lột và vơ vét thuộc địa của chúng Chủ nghĩathực dân Pháp đã làm biến đổi quá trình phát triển tự nhiên của Việt Nam, biến thuộcđịa trở thành “ cái đuôi”, chuyên cung cấp những gì chính quốc cần và gánh chịuchung những hậu quả khủng hoảng, thiệt hại của chính quốc Với hậu quả ấy, buộcViệt Nam sau khi giành được độc lập phải nỗ lực rất nhiều trong việc cải tạo, xóa bỏtàn tích quá khứ và có như thế thì Việt Nam mới có khả năng phát triển độc lập,vững bền cho dân tộc và rút ra được những bài học kinh nghiệm cho việc xây dựnghợp lí tổ chức chính quyền đối với từng vùng hiện nay

Đối với Việt Nam trong thời kỳ này, Nam Kì là một vùng đất có tiềm năngkinh tế bậc nhất đã có những thay đổi lớn sau khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược

Trang 6

và đặc biệt là Pháp thiết lập bộ máy cai trị và tiến hành công cuộc khai thác thuộcđịa: Biến Nam Kì trở thành nơi cung cấp nhiên liệu và thị trường siêu lợi nhuận chothực dân Pháp Tuy nhiên những chức năng và hoạt động của bộ máy cai trị cùngnhững chính sách của nó đã tạo ra những hệ lụy và những biến đổi theo hướng tíchcực ngoài khả năng kiểm soát của thực dân Pháp ở vùng đất Nam Kì Nghiên cứu về

“Tổ chức chính quyền của thực dân Pháp ở Nam Kì từ 1874 đến 1914” thông qua

việc tìm hiểu những chức năng, hoạt động của từng cơ quan trong bộ máy cai trị củaPháp sẽ giúp chúng ta hiểu rõ được bản chất của chủ nghĩa thực dân, hiểu được quátrình Pháp biến Nam Kì trở thành căn cứ quân sự, là hậu phương vững chắc, là khohậu cần vô tận của thực dân trong các cuộc chiến tranh hay xung đột quân sự KhiNam Kì trở thành thuộc địa của Pháp, nhân dân Nam Kì phải gánh chịu những tầng

áp bức như thế nào ? Từ đó xác định được quy luật chung về tổ chức chính quyềncủa chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam nói riêng và các nước thuộc địa khác trênthế giới nói chung

Trong tổ chức bộ máy chính quyền của thực dân Pháp ở nước ta việc tìm

hiểu về: “Tổ chức chính quyền của thực dân Pháp ở Nam Kì từ 1874 đến 1914” là

rất cần thiết Nghiên cứu đề tài này sẽ làm sáng tỏ được sự tác động của tổ chứcchính quyền này đối với đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của nhân dânNam Kì Qua đây, ta hiểu rõ hơn được những điểm tích cực, tiêu cực của bộ máy caitrị thực dân Pháp tác động đến nhân dân trên cả nước

Từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài: “Tổ chức chính quyền của thực

dân Pháp ở Nam Kì (1874- 1914) ’’ để làm đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên

cấp trường

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Tác phẩm“Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ”của Nguyễn Thế Anh (giám đốc

nghiên cứu trường Cao đẳng thực hành Sorbone_Paris) được viết và xuất bản ở Sài Gònvào năm 1970 Trong tác phẩm tác giả đã làm rõ các vấn đề: Pháp tiến hành xâm lượcViệt Nam là một tất yếu cầu lịch sử và lí giải các nguyên nhân Việt Nam mất nước Đồngthời, trình bày quá trình khai thác thuộc địa của Pháp cùng những phản ứng quyết liệt của

Trang 7

nhân dân đối với chính sách thuộc địa mà Pháp áp đặt trên đầu trên cổ nhân dân

TS Nguyễn Văn Hiệp trong tác phẩm“Một số chuyên đề lịch sử Việt Nam“ tập 2,

ấn phẩm được phát hành vào năm 2014 do nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh

và trường Đại học Thủ Dầu Một giữ bản quyền Tác phẩm trình rất nhiều các chuyên đềmang tính chuyên sâu và gợi mở đề cập đến các vấn đề lịch sử cổ trung đại ở lịch sử nước

ta như: vấn đề nhà nước phong kiến Việt Nam, tiếp xúc văn hóa Đông Tây, các khuynhhướng đảng phái chính trị.v.v Trong ấn phẩm này chúng tôi chủ yếu kham thảo chuyênđề:” chính quyền thuộc địa của Pháp ở Việt Nam” Trong chuyên đề tác giả trình bày quátrình thôn tính Việt Nam trước và sau chế độ Đông Dương Đây là nguồn tài liệu giúp íchcho đề tài nghiên cứu của chúng tôi, gợi mở nhiều ý tưởng mới riêng cho đề tài mình

PGS Nguyễn Văn Mạnh trong cuốn sách“Lịch sử nhà nước pháp luật Việt Nam”,

xuất bản vào năm 2009, do nhà xuất bản Chính trị- Hành chính Hà Nội phát hành.Đây làmột tác phẩm rất có giá trị, nội dung của tác phẩm trình bày và phân tích về hệ thốngpháp luật Việt Nam từ nguồn gốc ra đời, từ sự hình thành nhà nước Văn Lang - Âu Lạccho đến ngày nay Trong tác phẩm này chúng tôi tập trung tham khảo “ nhà nước và phápluật thời kỳ thực dân Pháp đo hộ 1858-1945” Do vấn đề trình bày quá rộng trong mộtchuỗi thời gian dài nên tác giả chưa trình bày cụ thể sâu, chi tiết vào hệ thống pháp luậttrong từng khu vực theo các cấp

GS Nguyễn Quang Ngọc,“Tiến trình lịch sử Việt Nam”, được nhà xuất bản Giáo

Dục phát hành rộng rãi cho độc giả vào năm 2009, tác phẩm này được chia làm 2 phần:Lịch sử Việt Nam cổ - trung và lịch sử Việt Nam cận – hiện đại Phần thứ nhất gồm có 6chương khái quát tiến trình phát triển của các hình thái kinh tế xã hội từ công xã nguyênthủy qua phương thức sản xuất châu Á, chế độ phong kiến và đến trước khi nước ta bịthực dân Pháp xâm lược Phần thứ hai gồm 7 chương khi thực dân Pháp xâm lược vàonăm 1858 đến năm 1996 Chủ yếu nói về các cuộc kháng chiến, đấu tranh của dân tộc vàcông cuộc xây dựng nhà nước

Sách“Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX” của Lê Thành Khôi là

tác phẩm của sự kết hợp hai chuyên khảo mang tính kinh điển về lịch sử và văn hóa ViệtNam Nó nghiên cứu lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc cho đến ngày nay, sách là một công

Trang 8

trình nghiên cứu có giá trị cao, nó còn bổ sung giới thiệu và tổng hợp các hình ảnh, bản

đồ phục vụ cho quá trình học tập, giảng dạy và nghiên cứu

Tác giả Nguyễn Ngọc Cơ trong“Giáo trình lịch sử Việt Nam”,tập 4 Trong tác

phẩm này tác giả chủ yếu trình bày những nguyên nhân khiến Pháp tiến hành xâm lượccác nước Đông Dương và đặc biệt là Việt Nam Trước sức ép của của nghĩa thực dân làmcho chính quyền nhà Nguyễn phải quay mặt với nhân dân trong công cuộc đấu tranh bảo

vệ đất nước Bên cạnh đó là những chuyển biến sâu sắc về mặt Kinh tế- Chính trị- Xã hộiViệt Nam lúc bấy giờ

Trong tác phẩm“Lịch sử Việt Nam1858-1945”của PGS.TS Nguyễn Đình Lễ được

xuất bản năm 2000 Giai đoạn (1858-1945) là một giai đoạn lịch sử ngắn so với tiến trìnhlịch sử Việt Nam, nhưng đây là một giai đoạn có nhiều biến cố xảy ra khi thực dân Phápthực hiện âm mưu xâm lược Việt Nam trong thời gian các nước đế quốc đang trên đườngtìm kiếm thị trường và thuộc địa Xã hội nước ta có nhiều thay đổi về mọi mặt của đờisống xã hội, đặc biệt khi chủ nghĩa thực dân thực hiện nhiều chính sách cai trị khác nhautrong từng khu vực

Tác phẩm “Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847-1885” của ông Yoshiharu Tsuboi là một tác phẩm:”Đã đưa ra ánh sáng những tài liệu Việt Nam và

Pháp mà cho đến nay chưa công bố hoặc ít được khai thác cùng những đóng góp giá trị của các học giả Nhật- không hề làm độc giả phải ngột ngạt ” 1.Sách đã chứng minh cho

ta thấy những khó khăn, những tác động từ bên ngoài và cách thức triều đình Việt Namphải đối phó liền được kèm theo những khó khăn nội tại mà xã hội này phải chịu đựng.Tác phẩm đã tự mình khắc họa lại những nhân vật lịch sử trong và ngoài nước cụ thể làngười Pháp, người Hoa và chính người Việt Nam Nội dung tác phẩm nhấn mạnh vềchính quyền nhà Nguyễn dưới thời vua Tự Đức Nó dẫn dắt người đọc đi từ cuộc tranhchấp Pháp- Việt đến cuộc chiến Pháp- Trung

Ts.Nguyễn Minh Tuấn trong “Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới”

(xuất bản lần thứ hai, có sữa chữa, bổ sung) được ấn hành năm 2014 do nhà xuất bản

1 Yoshiharu Tsuboi, Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847-1885, Nxb.Tri Thức,

trang 27

Trang 9

Chính trị Quốc Gia Tác phẩm trình bày về sự hình thành và phát triển cảu các kiểu nhànước-pháp luật kể từ khi ra đời cho đến nay, góp phần đánh giá đúng vai trò và số phậnlịch sử của chúng, từ đó hướng cải cách bộ máy nhà nước, điều chỉnh và hoàn thiện phápluật cho phù hợp với nguyên lý vận hành của từng quốc gia, khu vực

Tác phẩm “Việt Nam- những sự kiện lịch sử (1858-1945)”, tập 3, do nhà xuất bản

Khoa Học Xã Hội ấn hành năm 1988 của tác giả Dương Quốc Anh là một trong nhữngtác phẩm trình bày một cách cụ thể và chi tiết về các sự kiên lịch sử xảy ra trong thời gianPháp sang xâm lược nước ta, các bước thăng trầm cũng như những biến cố của lịch sửViệt Nam trong giai đoạn từ năm 1858-1945

“Bản án chế độ thực dân Pháp” (tiếng Pháp: Le Procès de la colonisation

française) là một tác phẩm chính luận do Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp và được

xuất bản năm 1925- 1926 trên một tờ báo của Quốc tế Cộng sản có tênImprékor Tác

phẩm gồm 12 chương, nội dung tác phẩm tố cáo thực dân Pháp dùng mọi thủ đoạn khốcliệt bắt "dân bản xứ" phải đóng "thuế máu" cho chính quốc để "phơi thây trên chiếntrường Châu Âu"; đày đoạ phụ nữ, trẻ em "thuộc địa"; các thống sứ, quan lại thực dânđộc ác như một bày thú dữ

Tác phẩm “Người lính thuộc địa Nam Kỳ” của Tạ Chí Đại Trường được xuất bản

vào tháng 7-2014 là một phong cách làm khoa học lịch sử độc lập, bản lĩnh và đầy hấpdẫn Qua câu chuyện lính tráng dưới thời Pháp thuộc ở Nam Kì, tác giả đã soi rọi sâu xanhững vấn đề quan trọng khác: quan hệ giữa lính gốc thuộc địa với sĩ quan thực dân, cácquan hệ phức tạp giữa các phe phái quân sự, dân sự trong một khúc quanh lịch sử nhiềubiến động, đề cập đến các vấn đề chính trị, xã hội trong giai đoạn lịch sử với nhiều thăngtrầm…

Tác phẩm “Tổng tập“ của Giáo sư Trần Văn Giàu do nhà xuất bản Quân Đội

Nhân Dân phát hành năm 2006 Bộ sách gồm hai phần Phần I: “Chống xâm lăng” vàphần “Miền Nam giữ vững thành đồng“ Trong tác phẩn này chúng tôi tham khảo chủyếu ở phần I về quá trình thực dân Pháp xâm chiếm toàn bộ Việt Nam và toàn cảnh vềbức tranh chống giặc Pháp đầy anh dũng, kiên cường của dân tộc Việt Nam

Trang 10

Trong tác phẩm “Quan và lại ở miền Bắc Việt Nam - Một bộ máy hành chính

trước thử thách (1820-1918)" củatác giả Emmanuel Poisson do nhà xuất bản Đà Nẵng

phát hành, nội dung của tác phẩm là phần trình bày kết quả nghiên cứu của mình về chế

độ quan và lại ở miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn đầu chuyển tiếp từ thời đại độc lập,sang chế độ thuộc địa cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 Tác giả đã đặt vấn đề chuyển đổi củachế độ quan liêu đầu thời thuộc địa nằm trong dòng chảy của những đợt cải cách quantrường được tiến hành từ thời Lê, đặc biệt là đầu thời Nguyễn trong thế kỷ 19 và nhữngbài học của giai đoạn chuyển tiếp này vẫn còn có giá trị với chúng ta, trong chiến lược cảicách hành chính hiện nay

Tác giả Emmanuel Poisson chứng minh rằng giới tinh hoa Việt Nam không hề trởthành công cụ trong tay người Pháp mà thường chứng tỏ một trí tuệ cách tân Họ đã biếthiện đại hóa bộ máy vận hành xã hội để phục vụ cho lợi ích của mình và hành động theo

xu hướng của chủ nghĩa dân tộc tiến bộ.Nhiều vấn đề chúng ta đang suy nghĩ đã được đềcập đến cách đây một thế kỷ: đào tạo, sử dụng cán bộ các cấp, quan hệ giữa bộ máy hànhchính với dân, cách vận hành bộ máy hành chính, quan hệ giữa chính quyền trung ươngvới địa phương, của chính quyền trung tâm với các vùng ngoại vi

Dựa vào một số tác phẩm và các công trình nghiên cứu khoa học chính trên, nhómtác giả cố gắng tiếp thu và chọn lọc kiến thức để làm rõ đề tài mà nhóm đang thực hiện

Trang 11

Đồng thời, đánh giá sự ảnh hưởng của Tổ chức chính quyền của thực dân Pháp ở

Nam Kì từ 1874 đến 1914đối với sự phát triển của vùng Nam Kì.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tổ chức chính quyền của thực dân Pháp

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu về không gian: vùng Nam Kì

Phạm vi nghiên cứu về thời gian : 1874 – 1914

5 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

Cách tiếp cận của đề tài là cách tiếp cận hệ thống dựa trên quan điểm của chủnghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn giai cấp, nhà nước và vấn đề chínhtrị

Phương pháp nguyên cứu: Để thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng phương phápnghiên cứu cụ thể là phương pháp lịch sử và phương pháp logic làm phương pháp nguyêncứu chính Phương pháp lịch sử được dùng trong việc mô tả và trình bày sự kiện theo tiếntrình Phương pháp logic được dùng trong việc nhận định các sự kiện vấn đề

Để thực hiện tốt bài nghiên cứu nhóm tác giả dựa trên nền tảng của các tác giả đưa

ra những công trình để hoàn thiện đề tài Nguồn tài liệu được tham khảo chủ yếu từ: thưviện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, thư viện tỉnh Bình Dương và thư việntrường Đại học Thủ Dầu Một

6.Đóng góp của đề tài

Tạo điều kiện cho các bạn học sinh, sinh viên thêm nguồn tài liệu để tìm tòi vànghiên cứu về tổ chức chính quyền của thực dân Pháp Đặc biệt hơn là việc vận dụng kếtquả nghiên cứu vào giảng dạy và học tập

Cung cấp thêm tư liệu cho những đọc giả quan tâm đến tổ chức chính quyềncủathực dân Pháp có một cái nhìn nhận khách quan, đặc biệt là khắc họa rõ nét nhữngchức năng và hoạt động của bộ máy cai trị cùng với những chính sách mà nó đã tạo ra ởvùng đất Nam Kì

Trang 12

Chương 2: Quá trình xây dựng và tổ chức chính quyền của thực dân Pháp ở Nam Kì (1874 – 1914)

Đề cập đến quá trình thực dân Pháp ép buộc từng bước thừa nhận chủ quyền ở đấtNam Kì và đặt ách “ bảo hộ “ trên toàn đất Bắc và Trung Kì Tổ chức cai trị và hànhchính Nam Kì, cơ cấu tổ chức của chế độ Toàn quyền Đông Dương và nhận xét về toàn

bộ tổ chức bộ máy cai trị của thực dân Pháp ở Nam Kì

Trang 13

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH XÂM CHIẾM VÀ XÁC LẬP QUYỀN

THỐNG TRỊ CỦA THỰC DÂN PHÁP Ở NAM KÌ

(1859-1874)

1.1 Âm mưu xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp

Từ sau các cuộc phát kiến địa lí ở thế kỉ XV và XVI phương thức sản xuất tư bảnxuất hiện và ngày càng lớn mạnh ở các nước phương Tây, chủ nghĩa tư bản được xác lập,các nước ở phương Tây đẩy mạnh các cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa ở Châu Á,Châu Phi để thỏa mãn những nhu cầu cấp thiết về nguồn nhân công, thị trường tiêu thụ,nguồn nguyên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất và phát triển tư bản trong nước

Việt Nam nằm ở rìa phía Đông của bán đảo Đông Dương gần trung tâm khu vựcĐông Nam Á, nằm trên đường đi tới Trung Quốc và giáp giới với ba tỉnh miền Nam giàu

có của nước này với vị trí địa lí thuận lợi và quan trọng, nhiều nguồn tài nguyên quý giá.Nhiều nước tư bản phương Tây trước sau tìm đến Việt Nam đặt quan hệ buôn bán thăm

dò, chuẩn bị cho những kế hoạch lâu dài Trong đó giới tư bản Pháp với những hoạt độngliên tục của công ty Đông Ấn và Hội truyền giáo nước ngoài ở các thế kỉ trước đã giànhđược nhiều ưu thế ở Việt Nam Sau khi bị thực dân Anh đánh bại và gạt bỏ khỏi Ấn Độ,thực dân Pháp tỏ ra chú trọng đặc biệt nhiều và đẩy mạnh việc kiếm cớ thực hiện âm mưuxâm lược Đại Nam Lấy cớ bênh vực đạo Thiên chúa, chính phủ Pháp lệnh choMôngtinhi (Montigny) sang Đại Nam đòi quyền được tự do buôn bán và truyền đạo

Thiên chúa với nhà Nguyễn Nhưng thực chất “là sự đòi hỏi thị trường, đòi hỏi căn cứ ở

Viễn Đông nhất là miền Nam Trung Quốc, là sự cạnh tranh với các nước tư bản khác, đặc biệt là nước Anh “2

Ngày 16-09-1856 chiến hạm Catina đưa phái viên Pháp cầm quốc thư sang cậpcảng Đà Nẵng và nhằm dò xét tình hình nội bộ nhà Nguyễn, nhưng bị khước từ và khôngtiếp nhận thư của Pháp Đáp trả hành động trên của nhà Nguyễn, vào ngày 26-09-1856thực dân Pháp cho khai hỏa bắn phá các đồn lũy, pháo đài rồi kéo lên bờ khóa tất cả các

2 Trần Văn Giàu,Tổng Tập, Nxb Quân đội Nhân dân, trang 59

Trang 14

đại bác được bố trí ở trên bờ, đổ thuốc súng xuống biển trước khi bỏ đi Hành động nàyđược xem là khiêu khích nhằm phục vụ cho âm mưu xâm lược Đại Nam của thực dânPháp sau này Ngày 24-10-1856 tàu chiến Caprixiơ do Côliê chỉ huy lại đến Đà Nẵng xinđược thương lượng với triều đình nhưng lại thất bại Ngày 23-01-1857 Montigny sangĐại Nam thương thuyết với triều đình Huế cho được tự do truyền đạo và buôn bán nhưng

Môngtinhi bị triều đình Huế cự tuyệt không tiếp đón “Thương thuyết chỉ để dọn đường,

hễ việc đánh Trung Quốc xong thì quân Pháp kéo ngay xuống Việt Nam mà hành động “3.Mọi kế hoạch xâm lược đều đã được bọn tư bản Pháp chuẩn bị từ trước, chỉ còn đợi thời

cơ và tìm cớ nổ súng nữa mà thôi Vấn đề thương thuyết thất bại, về Pháp lúc này vớiMôngtinhi còn có giám mục Penlơranh (Pellerin) để vận động cho việc quân Pháp nhanhchóng dùng vũ lực can thiệp vào nước ta

Ngay sau đó, chính phủ Pháp cho thành lập Ủy ban nghiên cứu vấn đề Nam Kìvào ngày 22-04-1857 để xét lại Hiệp ước Vécxai (Versailles) được kí kết giữa Mông-mô-ranh (Montmorin)- đại diện cho vua Lui XVI và Bá Đa Lộc- đại diện cho Nguyễn Ánhvào năm 1787 nhằm có cớ để xâm lược nước ta, biến nước ta thành thuộc địa của Phápnhưng thực tế thì đến lúc này bản hiệp ước đã không còn vì nó đã bị thủ tiêu dưới ngọnlửa của cuộc cách mạng dân chủ tư sản Pháp lúc bấy giờ (1789) và bản hiệp ước khôngđược thực hiện Chính phủ Pháp thất bại trong âm mưu dựa vào hiệp ước Vécxai để “ hợppháp hóa ’’ việc khởi binh can thiệp sâu vào nước nước ta Mặc dù vậy, chính phủ Phápvẫn không từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta, tháng 7-1857 Napôlêông quyết định chấp

thuận kế hoạch xâm lược Đại Nam, “chúng lập luận một cách trắng trợn rằng việc đem

quân đánh Nam Kỳ đã từ lâu nằm trong dự kiến của nước Pháp, đến nay thi hành chẳng qua là tiếp tục với truyền thống cũ, trung thành với một “quốc sách“ đã được các chính phủ theo đuổi qua các thời kì mà thôi ’’4 Với chí quyết tâm xâm lược cùng với đó là sựsuy yếu và khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn càng làm tăng thêm thamvọng xâm lược nước ta của thực dân Pháp Chúng lấy cớ là nhà Nguyễn “làm nhục quốc

kì ’’Pháp do không chịu tiếp nhận quốc thư của nước Pháp vào tháng 09-1856 Ngoài ra,

3 Trần Văn Giàu, Tổng Tập, Nxb Quân đội Nhân dân, trang 58

4 Đinh Xuân Lâm (cb), Đại cương Lịch sử Việt Nam 1858- 1945, tập 2, Nxb Giáo dục, trang 10

Trang 15

chúng còn lấy cớ bênh vực đạo và các giáo sĩ Pháp,Tây Ban Nha bị đàn áp và bắt giam đểnhận được sự đồng tình ủng hộ của dư luận Công giáo ở Pháp và những giáo dân ở ViệtNam

Mọi kế hoạch đã được chuẩn bị xong, Bộ trưởng Hải quan Pháp đã cho tăng thêmnguồn tiếp viện thêm cho hạm đội Pháp ở Thái Bình Dương, đồng thời Bộ trưởng Ngoạigiao Pháp cũng ra lệnh cho Giơnuiy- chỉ huy trưởng hạm đội này, kéo quân xuống đánhViệt Nam sau khi đã chiếm cứ được Quảng Châu Sau khi đã kí điều ước Thiên Tân vớibọn phong kiến Trung Quốc, Pháp và Tây Ban Nha liên quân với nhau kéo thẳng đến cửabiển Đà Nẵng Từ chiều ngày 31-08-1858 liên quân Pháp- Tây Ban Nha gồm 14 tàu chiếnđược trang bị vũ khí hiện đại bắt đầu dàn trận, gây hấn và sau đó gởi tối hậu thư tới quântriều đình Sở dĩ Pháp chọn Đà Nẵng làm nơi tác chiến đầu tiên vì: Cảng biển rộng và sâuthuận lợi cho tàu chiến ra vào và triển khai dễ dàng; giáo dân vùng này khá đông và mạnh

sẽ tiếp ứng cho thực dân Pháp khi tấn công Đà Nẵng; nhanh chóng chiếm được tỉnhQuảng Nam- hậu phương của triều đình giàu có tài nguyên, lương thực và đông dân đểphục vụ cho chiến tranh

Như vậy, mọi âm mưu, kế hoạch và quá trình tiến hành chiến tranh đã được bọnthực dân Pháp chuẩn bị sẵn sàng, thực dân Pháp không cớ này thì cũng có cớ khác đểchúng đem quân xâm lược nước ta, chủ nghĩa tư bản Pháp chuyển mạnh lên con đường

đế quốc chủ nghĩa và tăng cường cạnh tranh với các nước tư bản khác ở Viễn Đông Toànthể dân tộc Việt Nam khó tránh khỏi một cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài của bọn thựcdân Pháp lúc này, nhằm để thỏa mãn những nhu cầu cần thiết để sản xuất và phát triểncủa giới tư bản Pháp

1.2 Liên quân Pháp- Tây Ban Nha tiến đánh Đà Nẵng

Sau khi chọn Đà Nẵng làm điểm tấn công đầu tiên, rạng sáng ngày 01-09-1858quân Pháp cho người đưa tối hậu thư đòi quân triều đình đầu hàng và giao thành, hẹnphải trả lời trong vòng hai giờ Không chờ quân triều đình trả lời tối hậu thư, liên quânPháp- Tây Ban Nha nổ súng tấn công ngay các mục tiêu trên bờ rồi nhanh chóng đổ bộlên bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) Âm mưu của Pháp là chiếm lấy Đà Nẵng rồi tiến sâu vàoQuảng Nam, sau đó vượt đèo Hải Vân đánh vào kinh thành Huế, buộc nhà Nguyễn đầu

Trang 16

hàng bẻ gãy ý chí kháng chiến và sớm kết thúc chiến tranh.

Quân triều đình bắn trả nhưng vì vũ khí lạc hậu, không được luyện tập thườngxuyên nên kém hiệu quả và không gây cho địch nhiều tổn thất Từ đầu, liên quân Pháp-Tây Ban Nha đã có ưu thế về quân sự và nhanh chóng chiếm được các đồn An Hải vàĐiện Hải Quân triều đình rút về, lập phòng tuyến trước huyện Hòa Vang ngăn địch tiếnvào sâu nội địa

Trong những ngày đầu cuộc kháng chiến nổ ra với sự góp mặt của những đội dân

binh vô cùng dũng cảm và thiện chiến, họ ra sức đào hào đắp lũy“trồng tre trên những

lũy cát kéo dài từ Sơn Trà đến Điện Hải, ra Mỹ Thịnh, Hóa Khê, một tuyến khác từ Hải Vân đến điện Hải, Vũng Thùng qua các đồn lũy kiên cố như Nại Hiên, Liên Trì, Phương Trì…”5 phối hợp với quân triều đình chặn bước tiến của địch Đốc học Nam Định PhạmVăn Nghị chiêu mộ hơn 300 người cùng nhau lên đường Nam tiến vào Huế xin vua đượcgóp sức chống giặc Ở mặt trận Đà Nẵng, đội quân của Phạm Gia Vĩnh phối hợp với quântriều đình đánh bại cuộc tấn công của giặc buộc chúng phải lui về bán đản Sơn Trà, hayđội nghĩa binh của Trương Định ra sức luyện tập, đào hào đắp lũy chuẩn bị đánh Pháp…

Trong khi đó, quân địch gặp muôn vàn khó khăn bị nhiều tổn thất do phong thổkhí hậu nước ta, bệnh dịch tả, sốt rét, vấn đề tiếp tế lương thực, thuốc men gặp khó khănthêm vào là khả năng được tiếp ứng từ giáo dân trong đất liền theo như Penlơranh báocáo là hoàn toàn không có, về sau quân Tây Ban Nha đã rút khỏi cuộc xâm lược Kếhoạch đánh nhanh thắng nhanh dần dần bị phá sản Tuy nhiên, do áp dụng chiến thuậtphòng thủ bị động nên quân triều đình vẫn không thể tiêu diệt hết quân địch và Đà Nẵngvẫn nằm trong quyền kiểm soát của thực dân Pháp

Đứng trước cuộc xâm lăng của kẻ thù tinh thần yêu nước của toàn thể nhân dân tatrỗi dậy mạnh mẽ với tinh thần cương quyết dũng cảm với nhiều hình thức chiến đấu linhhoạt, sáng tạo nên đi đến đâu quân địch cũng vấp phải sức kháng cự quyết liệt, ngoancường của nhân dân quyết tâm tiêu diệt chúng Về phía triều đình đã có ý thức chuẩn bịkháng chiến ngay từ đầu nhưng còn bị động, thiếu tích cực, đường lối kháng chiến còn

5 Nguyễn Quang Ngọc, Tiến trình Lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, trang 213

Trang 17

nặng về phòng thủ, thiếu chủ động tấn công, ảo tưởng đối với thực dân Pháp nên đã bỏ lỡnhiều cơ hội đánh giặc

1.3 Thực dân Pháp xâm chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kì (1859-1862)

Thấy không thể chiếm được Đà Nẵng, ngược lại còn rơi vào tình thế “tiến thoáilưỡng nan’’ vào tháng 2-1859 Giơnuiy được phong làm Đô đốc, để giải quyết khó khăntrên lúc này Giơnuiy bằng quyết định chuyển tất cả hướng tiến công vào Gia Định, chỉ đểmột lực lượng nhỏ ở Đà Nẵng còn lại tất cả theo Giơnuiy dong buồm thuận theo chiềugió mùa kéo vào đánh thành Gia Định

Để tiến hành kế hoạch chiếm Nam Kì, ngày 09-02-1859 quân Pháp cho tập trung

ở Vũng Tàu gồm 20 thuyền chiến trong đó có 4 thuyền chở lương thực tiếp tế Mở đầucho cuộc xâm lược của thực dân Pháp vào các tỉnh ở Nam Kì là vào ngày 10- 02 chúngtấn công phá pháo đài Phúc Thắng ở núi Lại Sơn, đồng thời các pháo đài khác LươngThiện, Phúc Mĩ, Danh Nghĩa thuộc tỉnh Biên Hòa, Gia Định cũng bị bắn phá dữ dội Sau

đó, tàu chiến Pháp theo sông Cần Giờ tiến vào Gia Định, vừa đi vừa bắn phá các đồn bốt

bố trí hai bên bờ Sau nhiều ngày bắn phá liên tiếp đến sáng 16 và 17-02 Giơnuiy cho tậptrung hỏa lực bắn vào thành và cho quân lính đổ bộ để đánh giáp lá cà, dùng thang leo lênthành, mặc cho sự phản kháng quyết liệt của quan quân triều đình và nhân dân đến trưaquân Pháp đã chiếm giữ được thành Gia Định

Trước sự thất bại của cuộc chiến dẫn đến thành Gia Định thất thủ, quan Trấn thủthành Gia Định là Vũ Duy Ninh, Án sát Lê Từ sợ đắc tội với triều đình nên treo cổ tựvẫn, một số tướng khác thì bỏ chạy vì sợ triều đình truy cứu trách nhiệm mà quên tráchnhiệm với dân với nước.Về phía thực dân Pháp tuy chiếm được thành Gia Định nhưngkhông thể đánh mở rộng phạm vi ngay được vì quân triều đình vẫn còn mai phục quanhvùng Gia Định, một phần vì quân số địch có hạn, thêm vào đó là sự căm thù giặc, lòngyêu nước sục sôi trong nhân dân, nhiều đội dân binh được tổ chức thành đội ngũ tiêu diệtquân giặc nổ súng trên Trên mặt trận Gia Định, sự kháng cự lại quân Pháp được tổ chứcmau chóng bởi các đội nghĩa binh của Trần Thiện Chính, Lê Huy và các toán dân binhkhác đã gây cho giặc Pháp nhiều lúng túng, khó khăn rơi vào cảnh khốn đốn, tiêu hao lựclượng Dân các vùng bị giặc Pháp chiếm đóng ra sức quyên góp tiền, lương thực, sức

Trang 18

người, tự tay thiêu hủy nhà cửa để đánh giặc.

Trong lúc quân Pháp gặp nhiều khó khăn và thất bại bởi các cuộc hành quân trên

bộ ở Gia Định để mở rộng phạm vi chiếm đóng Ở mặt trận Đà Nẵng, toán quân Pháp cònlại ở đây cũng đang trong tình thế nguy cấp, không thể cầm cự lâu, có nguy cơ bị quân tatiêu diệt nên xin vội xin cầu cứu Trước tình thế khó khăn đó, ngày 08-03-1859 Giơnuiyquyết định đốt và phá thành Gia Định, phá hủy mọi kho tàng rồi ra lệnh rút quân xuốngđóng dưới tàu đậu ở trên sông để khỏi bị quân ta tập kích Ngay sau đó chúng vội đưa đạibinh ra cứu viện cho toán quân Pháp ở Đà Nẵng, chỉ để lại ở Gia Định một lưc lượngnhỏ Để trấn tinh thần binh sĩ vừa ra đến Đà Nẵng Giơnuiy ra lệnh tấn công lớn vào cácđồn Điện Hải, Phúc Ninh, Thạch Giản rồi tiến sau vào nội địa, mong giành thế chủ độngtrên chiến trường, buộc quân triều đinh lui về cố thủ ở Biên Hòa, Liêu Trì nhưng chúng

bị tổn thất nặng buộc phải lui về các vị trí cũ không dám tiến sâu hơn

Trong tình thế vô cùng khốn đốn, quân Pháp bị bao vây rơi vào cảnh lúng túng ởViệt Nam, viện binh không có; ở châu Âu chiến tranh Pháp- Áo nổ ra từ tháng 04-1859;cuộc xung đột giữa Anh- Pháp ở Đông Dương có thể xảy ra bất cứ lúc nào và quân Pháp

ở Đà Nẵng có thể bị tiêu diệt bởi hải quân hùng mạnh của Anh Để đối phó với tình thếbức bách đó, chính phủ Pháp ra lệnh cho Giơnuiy đưa thư nghị hòa với triều đình Huế

Song song với việc đưa thư nghị hòa, để gây áp lực và muốn triều đình Huế phảinhượng bộ, Giơnuiy đưa quân đi đánh phá các pháo đài, thuyền chiến, tàu buôn của ta ởdọc ven biển thuộc các tỉnh Bình Định, Quảng Bình, Quảng Trị… Ngoài ra chúng còn âmthầm ra tay giúp bọn cướp và bọn phản loạn Lê Duy Phụng quấy phá vùng biển ở Bắc Kì

Trong lúc này “tại triều đình, trong viện Cơ mật, ý kiến chủ hòa, ý kiến chủ chiến, ý kiến

không hòa không chiến, vô số ý kiến xung đột nhau“ 6triều đình không sao thống nhấtđược ý kiến dẫn đến việc nghị hòa không thành

Cuộc chiến ngày càng gay go và chưa có hồi kết thì tướng Giơnuiy bị gọi về nước

và cử đô đốc Pagiơ (Page) được cử sang thay ở Đà Nẵng Việc đầu tiên khi Pagiơ làm khiđến nơi là tiếp tục thương thuyết, mặt khác Page liền chuẩn bị tiến quân lên đánh vàophía bắc vịnh Đà Nẵng để làm chủ con đường đèo Hải Vân, rồi đánh thẳng ra kinh đô

6 Trần Văn Giàu- Tổng Tập- Nxb Quân đội Nhân dân, trang 74

Trang 19

Huế nhưng kế hoạch này của chúng đã thất bại và gánh chịu lấy tổn thất khá lớn, hơn 300tên địch bị thương và tiêu diệt, trong đó có 1 tên là trung tá viên lục quân Nhưng cũngchính từ đây, tư tưởng sợ giặc “chủ hòa’’ bắt đầu lan tỏa lòng người dẫn đến trong triều

có sự phân hóa ý kiến chống giặc

Trong khi chưa đánh chiếm được Đà Nẵng và hoàn toàn Gia Định, thì liên quân

Anh- Pháp khai chiến đánh nhau với Trung Quốc ở Hoàng Hải “Bấy giờ quân Pháp cần

phải tiếp sang bên Tàu, chính phủ Pháp truyền cho thiếu tướng Page phải rút quân ở Đà Nẵng về, và để quân giữ lấy Gia Định Còn bao nhiêu binh thuyền phải đem sang theo hải quân trung tướng Charner đi đánh Tàu”7 Sau thất bại trong âm mưu đánh vào Huế

và địch không đủ sức để chiếm giữ cả Đà Nẵng và Gia Định, Pagiơ quyết định đốt trại,rút quân dần vào tăng viện Gia Định và sau đó chỉ để lại một ít quân chiếm giữ thành GiaĐịnh để cầm cự với quân ta, còn lại tất cả được điều động qua mặt trận Hoa Bắc, hợp vớiquân Anh để đánh bại quân Trung Quốc Đến ngày 23-03-1860 quân Pháp rút hết khỏi

Đà Nẵng sau gần 19 tháng Pháp chiếm đóng

Mặt khác, tại Gia Định quân Pháp chủ động đưa các điều khoản nghị hòa nhưngtriều đình Huế thủ cựu, không muốn mở cửa thông thương, kẻ bàn hòa, người bàn chiến,

vô số ý kiến trái ngược nhau dẫn đến việc nghị hòa không đi đến đâu

Khi quân Pháp rời bỏ Đà Nẵng mà đi, Nguyễn Tri Phương và Phạm Thế Hiển lạiđược cử vào Nam phụ trách chống giặc ở mặt trận Gia Định Lúc bấy giờ quân Pháp phầnlớn được dồn qua chiến trường ở Trung Quốc, đối đầu với đại quân của tổng thống quân

vụ đại thần Nguyễn Tri Phương, quân Pháp chỉ với một lực lượng ít ỏi chưa đầy 1000 tênnhưng chúng phải dàn mỏng ra để vẫn giữ vững phòng tuyến dài gần 10 km mà chúngvẫn ung dung đi lại buôn bán hàng hóa, tích trữ lương thực nuôi quân, mua chuộc thươngnhân để dò thám tình hình trong nước để tạo điều kiện xâm lăng mà không gặp trở ngại gì

ngăn cản hết “ Từ khi vào chỉ huy mặt trận Gia Định thì Tri Phương đem hết sức lực của

quân và dân vào sự xây dựng Đại Đồn (ở Chí Hòa hiện nay ) chớ không ra sức tấn công tiêu diệt các toán quân địch cỏn con gồm 800 rải trên 10 cây số ”8 trong khi đó thì

7 Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, Trung tâm Học Liệu xuất bản, trang 203

8 Trần Văn Giàu, Tổng Tập, Nxb Quân đội Nhân dân, trang 87

Trang 20

Nguyễn Tri Phương không dám thừa cơ mở cuộc đại tấn công tiêu diệt kẻ địch mà cứ huyđộng quân đội và dân binh cho đào hào, đắp lũy, xây dựng Đại đồn Chí Hòa với thànhlũy kiên cố gần như bất khả xâm phạm, chủ trương án binh bất động bao vây quân địch,luôn trong tư thế “thủ hiểm” và lầm tưởng rằng như vậy có thể làm nản ý chí xâm lăngcủa quân địch Họ đâu biết rằng sự tương quan lực lượng lúc này, cũng như những thuậnlợi vốn của ta là cơ hội lớn để đánh bật địch ra khỏi Gia Địch, tuy nhiên vị tổng chỉ huy

đã không biết tranh thủ thời cơ này mà cứ nhìn vào cái khó của mình, không tin tưởngvào sức mạnh của toàn dân, toàn quân, luôn đề cao và lo sợ về phương tiện chiến tranhhiện đại, quân lính thiện chiến của địch sẽ gây cho quân ta nhiều thất bại mà không biếtrằng yếu tố quyết định chính chiến thắng quân ta là sự đồng lòng, đoàn kết tương trợ củatoàn dân cũng như tinh thần, sĩ khí của binh lính Chính những điều trên đã làm mất đi cơhội ngoại giao tốt và một cơ hội quân sự thuận lợi phản công tiêu diệt giặc

Sau khi kết thúc chiến sự ở Trung Quốc, điều ước Bắc Kinh được kí kết giữa bọnphong kiến Trung Quốc và liên quân Anh- Pháp vào ngày 25-10-1860 mở ra cho Phápnhiều thuận lợi hơn trước và cho phép chúng rãnh tay hơn trong việc xâm chiếm Nam Kì.Vào ngày 07-02-1861 chính phủ Pháp cho đem toàn bộ lực lượng hải quân ở Viễn Đông

về Gia Định để chuẩn bị cho việc xâm chiếm Nam Kì và quyết hoàn thành nhanh chóng,chính phủ Pháp trao cho đô đốc Sácne (Charner) quyền hành rất lớn: Được thống lĩnhtoàn bộ lực lượng võ trang của Pháp ở Viễn Đông, có quyền tuyên chiến hoặc kí hòa ướcvới Việt Nam Đạo quân viễn chinh này tập trung ở Bến Nghé với tất cả lực lượng là trên

4000 tên (bao gồm lực lượng cũ và quân được tăng viện, dân phu bị bắt ở Quảng Châu,thêm 250 lính Tây Ban Nha…) và gần 50 thuyền chiến đủ kích cỡ Sáng ngày 24-02-

1861, Sácne cho đại bác bắt đầu bắn phá Đại Đồn, quân triều đình bắn trả dữ dội khiếncho quân Pháp tiến công rất chậm, phần thì quân địch gặp nhiều cạm bẫy, hào ụ khiếncho chúng bị thương và chết rất nhiều Sau hai ngày chiến đấu ác liệt, quân địch vào đượcthành, quân ta tranh giành từng khu với quân địch, cuối cùng Nguyễn Tri Phương ra lệnhrút quân bỏ lại trong thành hơn 150 khẩu đại bác, 2000 khẩu súng tên, quân đội triều đìnhchịu nhiều tổn thất khá lớn: Đại Đồn bị vỡ, hơn 1000 binh sĩ tử trận trong đó có NguyễnDuy (em trai Nguyễn Tri Phương) Bên địch bị tiêu diệt hơn 300 tên (có 1 đại tá), tổn hại

Trang 21

nhiều loại vũ khí và chiến thuyền Địch chiếm được Đại Đồn, quân triều đình tạm lui vềđồn Thuận Kiều để cố thủ, lúc bấy chủ tướng Nguyễn Tri Phương và Tham tá Phạm ThếHiển đều đã bị thương Ngày 28-02-1861 quân Pháp thừa thắng tấn công Thuận Kiều,quan quân triều đình lại rút lui về Biên Hòa Đến ngày 03-03-1861, địch chiếm đóngđược Trảng Bàng và coi như đã làm chủ được hoàn toàn tỉnh thành Gia Định Tin ĐạiĐồn bị thất thủ, tướng Nguyễn Tri Phương bị trọng thương làm chấn động cả triều đình,vua Tự Đức vội ra lệnh cho điều thêm quân 2000 quân vào ứng cứu do Tôn Thất Đính

và Nguyễn Bá Nghi dẫn đầu, nhưng chưa kịp lên đường thì nhận thêm tin từ mặt trận là

“quân số khí giới đều hết sạch’’ vua phải tăng thêm 2000 quân theo vào Nam Song vìhành quân quá chậm nên đến rất trễ, đến nơi thì không chủ động tấn công nên quân địch

có điều kiện thuân lợi để đánh lan ra các nơi khác Sau đó giặc Pháp lần lượt đánh chiếmĐịnh Tường (bao gồm cả Mĩ Tho, Tân An và Gò Công)- tỉnh giàu có và đông dân nhấtNam Kì lúc bấy giờ và nơi có con sông Tiền Giang sâu rộng có thể đi lên vùng Cao Miênđược vào ngày 12-04-1861 Sau khi lấy được Định Tường, quân Pháp liền thực hiệnchính sách người Việt trị người Việt, tăng cường xây dựng lực lượng ngụy binh để chuẩn

bị tấn công Biên Hòa Mặc cho quân triều đình cố gắng đánh trả, dựa vào các ụ cản,chướng ngại vật trên sông để chặn và tiêu diệt quân giặc khiến cho chúng bị tổn thất nặng

về người và của nhưng dần dần về sau quân nhà Nguyễn chống cự ngày càng yếu ớt, một

số quan lại cứ án binh bất động, không chịu đánh địch, cứ cho xây đồn, nhiều khi mớinghe tin giặc Pháp tấn công đã bỏ chạy (điển hình như Nguyễn Bá Nghi- quan trấn thủBiên Hòa) cuối cùng đến ngày 23-12-1861 quân Pháp chiếm được tỉnh Biên Hòa Sauhơn 2 tháng chiếm được Biên Hòa vào tháng 03-1862 hơn 10 thuyền chiến của giặc kéođến thượng lưu sông Vĩnh Tùng rồi đổ bộ lên tỉnh Vĩnh Long, chúng ra sức đào hào đắplũy và quyết chiếm luôn thành Vĩnh Long, rồi nhanh chóng sau đó chúng nổ súng tấncông thành Vĩnh Long 2 ngày đêm liên tiếp và nhanh chóng hạ được hai đồn Vĩnh Tùngvới đồn Thanh Mỹ Quân triều đình chống cự kịch liệt trên các ngọn rạch và xung quanhthành, đại bác nhả đạn liên tiếp vào các thuyền máy của địch nhưng vẫn không thể cảnđược địch công phá thành, đến sáng ngày 23-03-1862 địch vào được thành Vĩnh Longthuộc Tây Nam Kì và thu được nhiều chiến lợi phẩm của quan quân bỏ lại

Trang 22

Sự thất bại bọn bầy tôi bất lực khiến cho nhà Nguyễn phải trả giá bằng bốn tỉnhthành bị thất thủ, điều này khẳng định một thực tế là ngay từ đầu nội bộ triều đình đã sớm

bị phân hóa và suy thoái nghiêm trọng, đồng thời có những mâu thuẫn gay gắt với nhaukhiến cho tình hình đất nước ngày càng thêm khủng hoảng, đại bộ phận quan lại mangnặng tư tưởng thất bại chủ nghĩa đớn hèn làm bỏ lỡ nhiều cơ hội đánh thắng quân giặc.Quân Pháp không bị tấn công mạnh quyết liệt, nhưng chúng lại biết tận dụng thời cơ nênsinh lực ít bị hao hụt, nhờ đó có thể vượt qua mọi khó khăn để chiếm được ưu thế củacuộc xâm lược Tiếng súng xâm lăng của bọn thực dân Pháp đã thổi bùng ngọn lửa yêunước trong nhân dân luôn, ở mặt trận Gia Định từ năm 1859 nhân dân nơi đây đã tự độngnổi dậy đấu tranh, hăng hái chống giặc mạnh hơn cả quân triều đình Đội quân của TrầnThiện Chính và Lê Huy gồm khoảng hơn 5000 dân binh đã anh dũng chiến đấu khiến chođịch gặp nhiều khó khăn, làm cho chúng thất điên bát đảo và các đội dân binh nhanhchóng yểm hộ cho các cánh quân triều đình rút lui, khỏi bị tiêu diệt Phát huy truyềnthống bất khuất của dân tộc, nhân dân Gia Định ra sức chống giặc, họ tự tay thiêu đốt nhàcửa, dời đi nơi khác, tích cực trong việc đầu quân, góp lương thực, góp tiền, phong tràobất hợp tác với giặc của nhân dân khiến cho chúng gặp nhiều khó khăn trong việc tổ chức

bộ máy cai trị và bình định những vùng đã chiếm được

Càng về sau nhân dân càng lập nên nhiều chiến công, đêm đêm nghĩa binh tìmcách lọt qua các phòng tuyến của giặc để do thám, đốt cháy kho lương, doanh trại hayphục kích làm tiêu hao sinh lực chúng, chính đội nghĩa dũng 2000 người do Dương BìnhTâm đứng đầu, trong đêm ngày 03 đến rạng ngày 04-07 đội nghĩa binh đã tổ chức tâncông vào chùa Chợ Rẫy- một khâu quan trọng trong chuỗi phòng tuyến của địch từ chùaCây Mai đến Khải Tường (gần Trường Thi), cũng chính đội nghĩa binh này đã phục kích

và mưu trí giết chết tên quan ba Bác- bê ở gần Trường Thi Trái với những hành độngtích cực của nhân dân ra sức chống giặc thì quan quân triều đình lại ngại đánh giặc, sựchậm trễ trong khâu ứng cứu của triều đình, đưa ra các chiến thuật chống giặc khôngđược hiệu quả, chỉ ra sức đào hào đắp lũy, gặp quân giặc thì chống cự yếu ớt rồi bỏ chạy.Hưởng ứng phong trào chung chống giặc cứu nước ở các nơi, cuộc khởi nghĩa củaTrương Định nổ ra từ rất sớm trên mặt trận Gia Định và ngày càng lớn mạnh hơn nhiều

Trang 23

với hơn 6000 người, nghĩa quân nhiều lần phối hợp với quân triều đình và các đội nghĩadũng khác xung phong đánh giặc Đến đầu năm 1862 giặc Pháp phải rút khỏi nhiều quậnhuyện và thị trấn quan trọng thuộc hai tỉnh Định Tường và Gia Định như Gò Công, Tân

An, Rạch Gầm, Cai Lậy, Chợ Gạo Nghĩa quân đã chiếm lại nhiều vùng đất đại rộng lớn

và khiến cho địch vô cùng hoang mang lo sợ vì chúng chỉ còn giữ được ít tỉnh thành vànhiều đồn bị cô lập

Xuất phát từ những toan tính nhỏ nhen cũng như đại bộ phận hàng ngũ phong kiếncầm quyền đã mang nặng tư tưởng thất bại chủ nghĩa, đã có tư tưởng sợ giặc dẫn đến đầutháng 05-1862, vua Tự Đức, sai quan thông báo cho phía Pháp đề nghị “giảng hòa” củatriều đình và cử một phái bộ do Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp dẫn đầu lên đườngvào Sài Gòn Ngày 05- 06- 1862 (còn gọi là Hiệp ước Nhâm Tuất) bản hiệp ước nhượngđất đầu tiên được kí kết, triều đình nhường cho Pháp 3 tỉnh miền Đông Nam Kì (GiaĐịnh, Định Tường, Biên Hòa), bản hiệp ước mang danh là “ Hiệp ước hòa bình và hữunghị” gồm 12 khoản, trong đó có những điều khoản quy định như sau: Triều đình Huếphải nhượng toàn bộ ba tỉnh miền Đông Nam Kì (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa) choPháp, cho phép tàu chiến Pháp được tự do ra vào sông Mê Kông; người Pháp được tự dobuôn bán ở ba cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên; triều đình Huế phải bãi bỏ lệnhcấm đạo, để cho các giáo sĩ của người Pháp và Tây Ban Nha được tự do giảng đạo, cácgiáo dân được tự do theo đạo; bồi thường chiến phí cho Pháp là 20 vạn quan chiến phí;nước Pháp sẽ “ trả lại ” thành Vĩnh Long cho triều đình khi nào triều đình buộc dânchúng không chống Pháp nữa…

Triều đình Huế chấp nhận kí hòa ước vào lúc thực lực của thực dân Pháp đang suykém, vì lúc đó ở Nam Kì quân và dân ta đã đánh cho Pháp thất điên, bát đảo và chiếm lạiđược nhiều thôn xã Ngay sau khi hòa ước được kí kết, thực dân Pháp vội cho người điloan tin ở các nơi, nhất là các nơi đang bị nghĩa quân uy hiếp Triều đình Huế vội cửPhan Thanh Giản làm tổng đốc Vĩnh Long, Lâm Duy Hiệp làm tuần phủ Thuận Khánh,

cả hai ông ở hai đầu của ba tỉnh bị chiếm không phải để chống giặc mà thực chất là đểlàm cản trở cuộc kháng chiến của nhân dân lục tỉnh Nam Kì, triều đình Huế ôm mộngtưởng rằng thực hiện đúng các điều ước đã kí với Pháp sẽ tỏ được thiện chí của mình với

Trang 24

Pháp để mong được sửa đổi các điều khoản và chuộc lại đất Những tưởng rằng nghĩaquân và nhân dân sẽ thi hành lệnh của triều đình, hạ khí giới, trở về làng làm ăn nhưngtrái với mong muốn của địch và triều đình, nhân dân lục tỉnh Nam Kì sôi sục khí thế nổidậy chống Pháp quyết liệt hơn và tỏ sự bất bình trước thái độ hèn nhát của triều đìnhHuế Hiệp ước Nhâm Tuất đã như đổ thêm dầu vào lửa, càng gây nên sự căm phẫn trongnhân dân cả nước

Ngày 25-06-1862 Đô đốc Bôna (Bonard) mới sang thay Sác- nơ (Sascne), thaymặt chính phủ Pháp, tuyên bố lập ra chế độ Soái phủ Nam Kì, đánh dấu bước mở đầu chế

độ thuộc địa tại đây Nhân dân và các toán nghĩa quân ở Gia Định, Định Tường, BiênHòa không chịu công nhận chính quyền mới của thực dân Pháp Họ không chịu dời sang

ba tỉnh miền Tây thuộc triều đình mà kiên quyết bám đất, bám dân chống giặc ngay tronglòng địch Các văn thân sĩ phu ba tỉnh miền Đông rầm rộ tổ chức phong trào tị địa (dờigia đình, mồ mả tổ tiên, tài sản…) ra Bình Thuận, tiêu biểu như nhà thờ Nguyễn ĐìnhChiểu tuy bị mù hai mắt nhưng vẫn tích cực tham gia phong trào này, điều này thể hiện

rõ quyết tâm bất hợp tác của nhân dân Nam Kì đối với giặc Các sĩ tử trong kì thi hươngkhóa tháng 11-1864 ở ba trường Hà Nội, Gia Định,Thừa Thiên Huế đã đồng thanh phảnđối hòa ước Nhâm Tuất, họ viết truyền đơn, hò reo và tẩy chay đòi hoãn cuộc thi

Tại lục tỉnh Nam Kì, phong trào kháng Pháp, phản đối hòa ước Nhâm Tuất nổ dữdội, đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia và hưởng ứng với nhiều hình thức đấutranh khác nhau Các sĩ phu yêu nước đứng dậy đánh giặc bằng tài năng, ngòi bút, thơvăn và trí tuệ Họ tích cực cổ vũ, động viên nhân dân đứng lên chống giặc cứu nước.Nhiều người đã đứng lên tổ chức, lãnh đạo các đội dân binh ở các vùng ra sức chiến đấuchống giặc như: Đỗ Quang Thoại hoạt động ở vùng giữa sông Đồng Nai và Vàm Cỏ Thủkhoa Nguyễn Hữu Huân ở vùng Mỹ Quý, Chợ Gạo, Rạch Gầm Nguyễn Trung Trực hoạtđộng ở vùng Tân An; Võ Duy Dương ở Đồng Tháp hay Lê Cao Dũng và Hồ HuânNghiệp ở vùng Bình Dương thuộc Định Tường; Quản Là ở vùng Tân An… Trong số các

vị lãnh tụ nổi tiếng của cuộc kháng chiến lúc đó ở lục tỉnh Nam Kì, phải kể đến TrươngĐịnh

Trang 25

1.4 Thực dân Pháp xâm chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Kì ( 1867- 1874 )

Sau khi hòa ước Nhâm Tuất được kí kết tình hình trong nước ngày càng trở nêncăng thẳng và tồi tệ Nhân dân vô cùng đói khổ vì thiên tai, dịch bệnh và vì tô thuế nặng

nề từ phía triều đình, trong khi đó triều đình nhà Nguyễn lại bỏ ra hèn nhát và bất lựctrong việc bảo vệ độc lập của dân tộc, hằng năm triều đình phải lo nộp chiến phí cho giặc.Làn sóng phản đối đang dâng lên rất cao trong nhân dân, hàng loạt cuộc khởi của nôngdân và binh lính nổ ra liên tiếp, trong khi thực dân Pháp đang chuẩn bị kế hoạch mở rộngcuộc xâm lược

Cuối năm 1862, triều đình phải trả đợt chiến phí đầu tiên cho thực dân Pháp.Đồng thời, vua Tự Đức cũng cử một phái đoàn sang Pháp xin Na-pô-lê-ông III(Napoléong III) cho chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kì và sửa đổi hiệp ước 1862 Pháiđoàn gồm có Phan Thanh Giản (chánh sứ), Phạm Thú Thứ (Phó sứ), Ngụy Khắc Đản (bồisứ) và đoàn tùy tùng 60 người, phái đoàn sang Pháp vào lúc tình hình đương thuận lợi đểthương thuyết, do Pháp bị sa lầy trên cả hai chiến trường Mê-hi-cô và Việt Nam nên côngluận nhân dân Pháp rất phản đối việc các cuộc viễn chinh vừa nguy hiểm vừa tốn kémnày xảy ra nên trong cuộc tiếp kiến và thương thuyết với sứ bộ Phan Thanh Giản, vuaNa-pô-lê-ông III có ý muốn cho triều đình Huế chuộc đất và hứa với phái bộ sẽ cử đạidiện Ô- ba- rê (Aubaret) sang Huế để sửa lại hiệp ước 1862

Mùa xuân 1864, phái đoàn Phan Thanh Giản về đến kinh thành Huế và vào tháng

06 thì Ô- ba- rê cũng sẽ đến kinh thành để kí hòa ước mới Để điều đình với Ô- ba- rê thìPhan Thanh Giản được làm toàn quyền chánh sứ ở kinh thành Huế, ngày 21-06-1862 mộtbản thỏa ước về vấn đề chuộc đất và sửa lại hiệp ước 1862 với 21 điều khoản được soạnthảo ra gồm: Pháp đồng ý trả lại ba tỉnh miền Đông Nam Kì cho triều đình, chỉ giữ lạimột số địa điểm quan trọng về kinh tế, chính trị, quân sự như: Sài Gòn, Chợ Lớn, VũngTàu và một hành lang từ Sài Gòn ra biển; triều đình để cho nước Pháp được bảo hộ sáutỉnh Nam Kì; giao trả tiền chuộc trong vòng ba năm, mỗi năm trả một số lớn hơn 50 vạnđồng, xong ba năm rồi mỗi năm trả 33 vạn; mở ba cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt, Quãng Yên

để người Pháp tự do buôn bán và ở mỗi nơi đều đặt lãnh sự; người công giáo được tự dotruyền đạo, làm nhà thờ, cầu lễ mà không ai cản trở…

Ngày đăng: 20/07/2021, 07:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thế Anh (1970), Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ , Nxb. Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 1970
2. Đỗ Bang- Nguyễn Minh Tường (1996), Chân dung các vua Nguyễn, Nxb.Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung các vua Nguyễn
Tác giả: Đỗ Bang- Nguyễn Minh Tường
Nhà XB: Nxb.ThuậnHóa
Năm: 1996
3. Nguyễn Ngọc Cơ (cb), Trần Đức Cường, Giáo Trình Lịch Sử Việt Nam ( từ 1858 đến 1918 )- Tập 4, Nxb. Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo Trình Lịch Sử Việt Nam ( từ 1858đến 1918 )- Tập 4
Nhà XB: Nxb. Đại học Sư Phạm
4. Phan Đại Doãn- Nguyễn Minh Tường- Hoàng Phương- Lê Thành Lân- Nguyễn Ngọc Quỳnh (1998), Một số vấn đề về quan chế triều Nguyễn, Nxb. Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quan chế triều Nguyễn
Tác giả: Phan Đại Doãn- Nguyễn Minh Tường- Hoàng Phương- Lê Thành Lân- Nguyễn Ngọc Quỳnh
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa
Năm: 1998
5. Philippe Devillers (2006), Người Pháp và người Annam bạn hay thù, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Pháp và người Annam bạn hay thù
Tác giả: Philippe Devillers
Nhà XB: Nxb. Tổnghợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
7. Emmanuel Posion(2006), Quan và Lại ở miền Bắc Việt Nam một bộ máy hành chính trước thử thách 1820- 1918. Nxb. Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan và Lại ở miền Bắc Việt Nam một bộ máy hànhchính trước thử thách 1820- 1918
Tác giả: Emmanuel Posion
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng
Năm: 2006
8. GS. Trần Văn Giàu (2006), Tổng Tập, Nxb.Quân Đội Nhân Dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng Tập
Tác giả: GS. Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb.Quân Đội Nhân Dân Hà Nội
Năm: 2006
9. Trần Văn Giàu- Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước năm 1858, Nxb. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước năm1858
Nhà XB: Nxb. Hà Nội
10. TS. Nguyễn Văn Hiệp (cb) (2009), Một số chuyên đề Lịch sử Việt Nam- tập 2, Nxb. Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chuyên đề Lịch sử Việt Nam- tập 2
Tác giả: TS. Nguyễn Văn Hiệp (cb)
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2009
11. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Trung Tâm Học Liệu xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam sử lược
12. Đinh Xuân Lâm (cb), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ (2003), Đại cương lịch sử Việt Nam – tập 2, Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cươnglịch sử Việt Nam
Tác giả: Đinh Xuân Lâm (cb), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2003
13. Phan Huy Lê- Trần Quốc Vượng- Hà Văn Tấn (1960), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử chế độ phong kiếnViệt Nam
Tác giả: Phan Huy Lê- Trần Quốc Vượng- Hà Văn Tấn
Nhà XB: Nxb. Văn Sử Địa
Năm: 1960
14. Hoàng Văn Lân –Ngô Thị Chính (1979), Lịch sử Việt Nam (1858 đến cuối thế kỉ XIX ), Nxb. Giáo Dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam (1858 đến cuối thế kỉXIX )
Tác giả: Hoàng Văn Lân –Ngô Thị Chính
Nhà XB: Nxb. Giáo Dục Hà Nội
Năm: 1979
15. Trần Huy Liệu (1958), Lịch sử tám mươi năm chống Pháp – quyển 2 (tập Thượng), NXB. Văn Sử Địa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tám mươi năm chống Pháp
Tác giả: Trần Huy Liệu
Nhà XB: NXB. Văn Sử Địa
Năm: 1958
16. PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh (2009), Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, Nxb. Chính Trị - Hành Chính Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
Nhà XB: Nxb. Chính Trị - Hành Chính Hà Nội
Năm: 2009
17. Hồ Chí Minh (1985), Bản án chế độ thực dân Pháp, Nxb. Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản án chế độ thực dân Pháp
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1985
18. Nguyễn Quang Ngọc (2009) Tiến trình lịch sử Việt Nam, NXB. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình lịch sử Việt Nam
Nhà XB: NXB. Giáo dục
19. Nguyễn Văn Kiệm (1998), Lịch sử Việt Nam quyển 3 –tập 2, Nxb. Giáo Dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam quyển 3 –tập 2
Tác giả: Nguyễn Văn Kiệm
Nhà XB: Nxb. Giáo Dục HàNội
Năm: 1998
20. Nguyễn Duy Oanh (1994), quân dân Nam Kì kháng Pháp trên mặt trận quân sự và văn chương (1859 – 1885), Nxb. Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Duy Oanh (1994), "quân dân Nam Kì kháng Pháp trên mặt trận quân sự vàvăn chương (1859 – 1885)
Tác giả: Nguyễn Duy Oanh
Nhà XB: Nxb. Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1994
21. Dương Kinh Quốc (1981), Việt Nam những sự kiện lịch sử 1858 – 1945 – tập 1 (1858 – 1896), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam những sự kiện lịch sử 1858 – 1945 – tập 1(1858 – 1896)
Tác giả: Dương Kinh Quốc
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1981

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w