TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘTKHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC... Thông tin chung: - Tên đề
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA
CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA
CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Trang 3UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: Thực trạng sinh viên làm thêm của Trường Đại học Thủ Dầu Một
và một số giải pháp
- Sinh viên thực hiện: Phạm Ngọc Long Mi
- Lớp: D12KT02 Khoa: Tài Chính Ngân Hàng Năm thứ: 2 /Số năm đào tạo: 4
- Người hướng dẫn: Th.s Nguyễn Hữu Tịnh
- Đề xuất giải pháp và kiến nghị Nhà trường nhằm tạo điều kiện cho các bạn sinh viên có nhu cầu và nguyện vọng đi làm thêm có thêm thu nhập, cơ hội trải nghiệm thực tế, tránh kẻ xấu lợi dụng.
3 Tính mới và sáng tạo:
Đưa ra một số giải pháp để giải quyết những khó khăn trong tìm việc làm thêm của sinh viên.
Trang 44 Kết quả nghiên cứu:.
- Sinh viên trường ĐH Thủ Dầu Một đi làm thêm vì cả 3 nguyên nhân chính: tăng thu nhập, tích lũy kinh nghiệm và rèn luyện bản thân, va chạm và tiếp xúc cuộc sống (chiếm 67.4%)
- Họ mong muốn làm những công việc năng động có thể học được nhiều kỹ năng (chiếm 57.3%) Và một tin vui là công việc chiếm phần đông đang là phục vụ nhà hàng (chiếm 31.4%), phù hợp với nguyện vọng của họ Tuy nhiên công việc gia sư cũng chiếm không nhỏ 23%, làm công việc này họ sẽ ít năng động và ít giao tiếp hơn, nhưng quả thật là đó là 1 ngành khá an toàn trong mắt các bạn trẻ (chiếm 49.2%) Tuy vậy, Gia sư cũng có những trường hợp bị dở khóc dở cười.
- Các bạn nhận được tiền chu cấp của gia đình bình buân hàng tháng chủ yếu là
từ 1.000.000đ đến 2.000.000đ /tháng (chiếm 49.4%) Chính vì vậy các bạn làm thêm chủ yếu vì muốn giảm chi tiêu cho ba mẹ, chủ động trong trang trải cuộc sống.
- Các bạn sinh viên chủ yếu là tự tìm việc làm mà không thông qua trung tâm giới thiệu việc làm (chiếm 41.8%) Rất nhiều sinh viên thậm chí không biết đến hoặc không tin tưởng vào các trung tâm giới thiệu nên chưa một lần đến (chiếm 42.3%), Trung tâm hỗ trợ sinh viên trường ĐH Thủ Dầu Một hầu như chưa tiếp cận được sinh viên, chưa chủ động được trong việc tìm việc làm thêm của sinh viên, chỉ có 8.5% sinh viên đã từng đến.
- Mức lương trung bình hàng tháng các bạn nhận được đa số là dưới 1.000.000đ (chiếm 46.3%) với số giờ làm việc trong 1 ngày là 2 giờ -5 giờ (chiếm 45%) Thời gian làm việc dài mà mức lương thì chỉ ở mức của người phụ thuộc Công việc của các bạn chỉ đơn giản là lao động phổ thông, chân tay.
- Những khó khăn của các bạn có quá nhiều, ngoài những khó khăn đã nêu, các bạn chọn mục khó khăn khác với tỷ lệ 37.5% Về Vấn đề đi lại, có tới 33.5% sinh viên
Trang 5than vãn là nơi làm việc quá xa, 27.5% nói là không có phương tiện đi lại Các bạn không có quyền chọn lựa nên đành chấp nhận.
- Số lượng sinh viên cho là công việc làm thêm ảnh hưởng đến việc học đứng thứ
2 với 32.9% Than vãn là thế nhưng khi hỏi về mức độ hài lòng về công việc, các bạn lại bảo là hài lòng (chiếm 51.7%) Nguyên nhân có lẽ là do sự an phận, biết chấp nhận.
- Có tới 35.1% sinh viên cho là công việc làm thêm giúp tích lũy kinh nghiệm.
5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và
khả năng áp dụng của đề tài:
Góp phần cải thiện tình trạng làm thêm của sinh viên, nâng cao mức sống sinh viên, giúp sinh viên ổn định tinh thần, phấn đấu học tập.
6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài
Ngày tháng năm 2014
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
(ký, họ và tên)
Trang 6Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên
thực hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):
-
Ngày tháng năm 2014
Xác nhận của lãnh đạo khoa
(ký, họ và tên)
Người hướng dẫn
(ký, họ và tên)
Trang 7UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: Phạm Ngọc Long Mi
Sinh ngày: 24 tháng 10 năm 1994
Nơi sinh: Thuận An – Sông Bé
Lớp: D12KT02 Khóa: 2012 - 2016
Khoa: Tài Chính Ngân Hàng
Địa chỉ liên hệ: 9/12 khu phố Đông A, phường Đông Hòa, Thị xã Dĩ An, Thành phố Bình Dương
Điện thoại: 0167.848.1369 Email: phamngoclongmi@gmail.com
Trang 8Xác nhận của lãnh đạo khoa
(ký, họ và tên)
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
(ký, họ và tên)
Trang 9TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bình Dương , ngày tháng năm
Kính gửi: Ban tổ chức Giải thưởng “Tài năng khoa học
trẻ Đại học Thủ Dầu Một”
Chúng tôi là: Phạm Ngọc Long Mi Sinh ngày 24 tháng 10 năm 1994
Nguyễn Thị Kim Luyến Sinh ngày 06 tháng 02 năm 1994
Sinh viên năm thứ: 2 /Tổng số năm đào tạo: 4
Lớp, khoa : D12KT02, Tài Chính Ngân Hàng
Ngành học: Kế Toán
Thông tin cá nhân của sinh viên chịu trách nhiệm chính:
Địa chỉ liên hệ: 9/12 Kp Đông A, p Đông Hòa, Tx Dĩ An, Tp Bình Dương
Số điện thoại : 0167 848 1369 Địa chỉ email: phamngoclongmi@gmail.com
Chúng tôi làm đơn này kính đề nghị Ban tổ chức cho chúng tôi được gửi đề tàinghiên cứu khoa học để tham gia xét Giải thưởng “Tài năng khoa học trẻ Đại học ThủDầu Một” năm2014
Tên đề tài: Thực trạng sinh viên làm thêm của Trường Đại học Thủ Dầu Một và
một số giải pháp
Chúng tôi xin cam đoan đây là đề tài do tôi chúng tôi thực hiện dưới sự hướng
dẫn của Th.s Nguyễn Hữu Tịnh ; đề tài này chưa được trao bất kỳ một giải thưởng nào khác tại thời điểm nộp hồ sơ và không phải là luận văn, đồ án tốt nghiệp.
Nếu sai, tôi chúng tôi xin chịu trách nhiệm trước khoa và Nhà trường
Xác nhận của lãnh đạo khoa Người làm đơn
(ký, họ và tên) ( ký và ghi rõ họ tên)
Trang 10Danh sách nhóm thực hiện :
Trang 11DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2 Tỷ lệ sinh viên Nam (Nữ) tham gia khảo sát 6
Bảng 6 Lý do sinh viên đi làm thê
12
Bảng 12 Tiền lương làm thêm mỗi tháng của sinh viên 18
Bảng 19 Công việc làm thêm giúp các bạn sinh viên 26
Hình 1 Biểu đồ tỷ lệ sinh viên làm thêm ở các khoa 8 Hình 2 Biểu đồ công việc đang làm của sinh viên
11
Hình 4 Biểu đồ mức độ ảnh hưởng của công việc đến học tập 23
Trang 12Hình 5 Biểu đồ mức độ hài lòng về công việc 25
Phụ Lục
THỰC TRẠNG SINH VIÊN LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
Xử lý số liệu Thống Kê bằng phần mềm SPSS
Case Summary
Cases
Trang 14Frequency Percent Valid Percent
CumulativePercent
Total 350 100.0 100.0
Trang 16Lý do đi làm thêm???
Responses
Percent of Cases
TICH LUY KINH NGHIEM &
LAM THEM DE VA CHAM &
a Group
Trang 17Khi làm thêm bạn muốn cv như thế nào?
Responses
Percent of Cases
PHU HOP CHUYEN NGANH 73 19.5% 20.9%
NANG DONG CO THE HOC
VIEC GI CUNG DUOC MIEN CO
Trang 19Mỗi tháng bình quân nhận được bao nhiêu trợ cấp từ GĐ?
Trang 20TB mỗi ngày làm bao nhiêu giờ?
KHONG TRA LUONG HOAC
CV DUOC GT KO PHU HOP,
Trang 21KHO KHAN GI VE DI LAI?
Sự hài lòng về CV hiện tại
Frequency Percent Valid Percent
CumulativePercent
HOAN TOAN KHONG
Trang 22CV làm thêm giúp gì trong hoc tập và trong cuộc sống?
Responses
Percent of Cases
LAM THEM
HUONG DENHOC TAPNTN
SU HAI LONG VE CV HIEN TAI
Frequency Percent Valid Percent
CumulativePercent
HOAN TOAN KHONG
Trang 23LAM THEM CO ANH HUONG DEN HOC TAP NTN
Frequency Percent Valid Percent
CumulativePercent
HOAN TOAN KHONG
Trang 24Bar Chart
Trang 25tổ chức nên các bạn phải chủ động đến các nơi treo bảng tuyển dụng, làm mọi công việc: bán hàng, phục vụ quán nước,nhà hàng tiệc cưới, gia sư, tờ rơi,… Những công việc này nặng nhọc, tốn nhiều thời gian, ảnh hưởng đến sức khỏe, kết quả học tập nhưng thu nhập lại thấp, và sinh viên dễ trở thành đối tượng nhắm đến của những
2 Giả thuyết khoa học:
Tình hình sinh viên đi làm thêm bị lừa gạt, vừa tốn thời gian, tiền bạc và công sức nhưng thu nhập thấp ngày càng trở nên phổ biến ảnh hưởng đến học tập.
Giả sử chúng ta biết được nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do chưa có kinh nghiệm hay do thiếu sự hỗ trợ từ nhiều phía thì chúng ta có thể đưa ra một số giải pháp khắc phục.
Trang 26- Đề xuất giải pháp và kiến nghị Nhà trường nhằm tạo điều kiện cho các bạn sinh viên có nhu cầu và nguyện vọng đi làm thêm có thêm thu nhập, cơ hội trải nghiệm, tránh kẻ xấu lợi dụng
II Chương II Tổng quan tài liệu:
Vấn đề việc làm thêm của sinh viên từ lâu đã không còn gọi là nóng bỏng.
Từ tháng 5/ 2005, Vấn đề này đã nổi cộm gây xôn xao trên báo mạng Theo H.N (2007), Sinh viên đi làm thêm vì 3 nguyên nhân: vấn đề chi tiêu; rèn luyện kỹ năng và tích lũy kinh nghiệm; ý thức hơn về giá trị của đồng tiền và biết cách chi tiêu hợp lý, giảm một phần gánh nặng cho gia đình Xuân Danh (2010), đã nêu lên những cơ hội song song đó là những bất cập: bỏ bê việc học, không có thời gian tham gia các hoạt động trên lớp.
Trong xuyên suốt bài nghiên cứu, chúng tôi sẽ so sánh trực tiếp kết quả nghiệm thu với bài nghiên cứu của một nhóm sinh viên của trường ĐH Kinh Tế
Quốc Dân, Bùi Bảo Ngọc và các cộng sự (2014), đã đưa ra ý kiến chủ quan của các
bạn sinh viên có nên làm thêm hay không, mục đích làm thêm, các cách tìm việc làm thêm, ảnh hưởng của nó đến học tập, sức khỏe, tài chính.
Tình hình trong nước: Rất nhiều nhu cầu về mọi mặt của sinh viên đòi hỏi
cần phải có một công việc làm ổn định với nhiều lý do khác nhau Cũng vì thế nhiều cảnh dở khóc dở cười cứ tái diễn, đây là vấn đề sinh viên lo ngại nhất - lừa đảo Theo Nguyễn Trung Thành (2007), mặt tiêu cực của việc làm thêm không phải là ít.
Trang 27Chưa nói đến việc nhiều trung tâm tư vấn có nhiều mánh khóe lắm khi làm những sinh viên nhẹ dạ cả tin tiền mất tật mang Thêm vào đó, Đỗ Thủy (2014), cho biết: Sinh viên làm việc trong các quán bar, tiệm hát karaoke, shop bán đồ chơi người lớn, dễ bị bạn bè nghĩ là hư hỏng, nhưng bù lại là mức lương kha khá đủ đảm bảo cho việc sống và học Đó là lý do chính cho việc nhiều bạn trẻ bất chấp những trở ngại của những công việc làm thêm nhạy cảm này mang lại.
Tình hình nước ngoài: Tại các nước phát triển như Anh, Pháp, Đức, Mĩ,
Nhật… đời sống kinh tế được nâng cao khiến cho sinh viên của các nước này có thể không lo ngại mấy về vấn đề việc làm thêm Tuy nhiên du học sinh Việt Nam thì tìm việc làm thêm cũng khá khó khăn vất vả, đó cũng là một vấn đề nan giải Nguyễn Quốc Vỹ (2013) nhận xét: ngày càng có nhiều học sinh – sinh viên Việt Nam sinh sống và học tập ở nhiều nước trên thế giới Trong những thắc mắc thì có một câu hỏi “thường trực” của nhiều bạn là việc làm thêm ở nước, thành phố mình mong muốn đến sẽ như thế nào? – Không phải muốn là được Anh cho rằng việc làm thêm rất ảnh hưởng đến sức khỏe, việc học, đôi khi chấp nhận “hy sinh” vài buổi học để đi làm khi người chủ cần Anh nói: “Việc làm thêm hoàn toàn không đơn giản như nhiều bạn nghĩ và cũng hoàn toàn không thể làm ngay khi mới “chân ướt, chân ráo” đến một đất nước xa lạ.”
1 Thiết kế nghiên cứu của đề tài:
Đề tài được thiết kế nghiên cứu điều tra thống kê mô tả cắt ngang.
2 Chọn mẫu, cỡ mẫu và đối tượng nghiên cứu:
Mẫu: khảo sát 350 sinh viên đã làm thêm của trường Đại học Thủ Dầu Một.
Cỡ mẫu lớn.
Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng vào nghiên cứu:
- Phải là sinh viên trường đã đi làm thêm
- Điền thông tin đầy đủ, phù hợp theo yêu cầu, không bỏ khuyết dữ liệu.
Trang 283 Phương pháp nghiên cứu, thu thập số liệu:
Qui trình nghiên cứu:
Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê sinh học bằng phần mềm SPSS 16.0 Rút trích tần suất bằng Frequencies.
Chọn đề tài nghiên cứu
Thiết lập dàn ý,
đề cương Phát phiếu khảo sát
Xử lý số liệu
Rút trích DL,
vẽ biểu đồ Viết đề tài Đánh máy, in ấn
Trang 29Phần 2: Nội Dung Kết Quả Nghiên Cứu
Sau quá trình phát phiếu điều tra, thu thập, xử lý số liệu, chúng tôi hệ thống được:
Trong đó, chúng tôi khảo sát được:
- 13 Khoa của trường ĐH Thủ Dầu Một với số liệu cụ thể như sau:
Bảng 1 Các khoa tham gia khảo sát
Từ bảng số liệu ta thấy, chiếm tỷ lệ cao nhất là Khoa Kinh tế với số lượng mẫu
là 143, tương ứng 40.9%, đặc biệt là những bạn học khoa Quản trị kinh doanh, rất năng động, muốn thử sức mình, khoa giáo dục chủ yếu là đi làm dạy kèm (14.9%).
Số lượng sinh viên của hai khoa này cũng khá lớn nên chúng tôi khảo sát các bạn khoa nhiều hơn các khoa khác Khoa Ngoại ngữ mà đặc biệt là Ngôn ngữ Anh do chương trình học khá nặng theo ý kiến của các bạn sinh viên tham gia khảo sát,
Trang 31Từ bảng số liệu cho ta thấy, tỷ lệ sinh viên năm hai chiếm lớn nhất với số lượng
mẫu là 205 (58.6%), kế đến là sinh viên năm ba 94 (26.9%), 47 sinh viên năm nhất(13.4%) và nhỏ nhất là sinh viên năm tư với số lượng mẫu là 4 (1.1%) Do những bạnsinh viên năm nhất mới nhập học còn nhiều bỡ ngỡ, chưa rõ những địa điểm đi lại,thường rất tập trung vào việc vì không biết vào trường Đại học bản thân sẽ phải họcnhững gì nhưng bắt đầu vào học kì hai của năm nhất các bạn đã bắt đầu tìm việc làmthêm Các bạn sinh viên năm hai đã quen dần với địa điểm đi lại, thường những mônhọc cuối năm nhất đầu năm hai tương đối nhẹ lịch học trống nhiều nên các bạn cónhiều thời gianh rãnh Số lượng sinh viên đi làm thêm năm ba giảm rõ rệt, do đã bắtđầu vào chuyên ngành, đòi hỏi tốn nhiều thời gian cho nghiên cứu bài, học nhóm, cómột vài ngành môn chuyên ngành tương đối nặng nên có nhiều bạn nghỉ hẳn để tậptrung cho việc học như ngành Kế toán, Ngôn ngữ Anh, Sư Phạm Ngữ văn Những bãn
đi làm thêm năm tư chiếm tỷ lệ rất nhỏ vì các bạn phải đi thực tập, làm luận văn, lo ônthi tốt nghiệp
Từ những số liệu trên, Đồ thị dưới đây sẽ cho chúng ta thấy rõ tỷ lệ khảo sát sinh viên các năm phân bố qua các khoa.
Hình 1 Biểu đồ tỷ lệ sinh viên làm thêm ở các khoa.
Trang 32đi dạy ở các trường trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông nên thường công việclàm thêm cũng là gia sư Khoa Xây dựng (8.9%), Điện (6.3%) sinh viên hai khoa nàychủ yếu là nam, theo khảo sát và lấy ý kiến thì việc gì các bạn cũng làm miễn là tăngthu nhập vì ngành Xây dựng, Điện khó tìm việc.
Trang 33Số lượng
Tỷ lệ
%
Công việc làm thêm của sinh viên 350 100.0 0 0 350 100.0
Sinh viên đã đến trung tâm tìm việc 350 100.0 0 0 350 100.0
Tiền lương làm thêm mỗi tháng của
Ảnh hưởng của công việc đến học tập
Từ bảng số liệu ta thấy, lỗi sai của nhập liệu là 8, chiếm 1.43%.
Bùi Bảo Ngọc và các cộng sự (2014), sử dụng các tiêu chí gồm: Sinh viên có nên đi làm thêm ? ; nếu có, mục đích làm thêm là gì ? ; nếu không, lý do không đi làm thêm ; việc làm hiện tại có liên quan đến ngành học ? ; tiêu chí khi chọn việc
Trang 34làm thêm ; mặt tích cực và tiêu cực của việc làm thêm ; thời gian thích hợp để làm thêm ; gia đình có ủng hộ làm thêm ? ; tìm việc qua kênh thông tin nào ?
Chúng ta sẽ đi cụ thể vào từng câu hỏi Khảo sát:
I Công việc làm thêm
Bảng 5 Công việc làm thêm của sinh viên
Phản hồi Công việc
Bùi Bảo Ngọc và các cộng sự (2014), điều tra được là các công việc tập trung chủ yếu ở một số lĩnh vực như: làm ở tiệm thức ăn nhanh, tiếp thị sản phẩm, bán hàng siêu thị, dạy kèm, tìm hiểu thị trường, Promotion Girls, cộng tác viên cho một số báo, phiên dịch viên, hướng dẫn viên… Họ cho rằng: Nhìn chung, đó là những việc bán thời gian vì không đòi hỏi chuyên môn, mức lương lại khá hấp dẫn (ví dụ, mức lương dành cho lễ tân từ 120.000đ - 150.000đ/buổi, nếu làm theo ca thì được
từ 900.000đ – 1.000.000đ/tháng)