1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự tác động của ngôn ngữ “chat” lên tiếng việt”

88 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 432,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng chỉ giống nhau về một phương diện, đó là điều chỉ cái ổn định, làm cơ sở cho các phát ngôn, là cái tạo thành lời nói, ngữ hành và hành vi ngôn ngữ thực tế.Giữa chúng có sự phân biệ

Trang 1

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: Sự tác động của ngôn ngữ “chat” lên tiếng Việt

- Nhóm sinh viên thực hiện: Nguyễn Hoàng Anh Tuấn Nam, Nữ: Nam

Đoàn Dương Mỹ Trinh Nữ

- Lớp: D12NV02 Khoa: Ngữ văn Năm thứ: 2 Số năm đào tạo: 4

- Người hướng dẫn: TS Phan Thị Ai

2 Mục tiêu đề tài:

Hiện nay đất nước đang ngày càng phát triển theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa Đất nước phát triển kéo theo các nghành khoa học công nghệ phát triển, nôỉ bật lên là mạng Internet Từ đó một loại ngôn ngữ mới đã ra đời, ngôn ngữ “chat” Vì thế bài nghiên cứu khoa học này sẽ giới thiệu về ngôn ngữ “chat” của giới trẻ và một số tác động của nó lên tiếng Việt, nhằm nâng cao giá trị của tiếng Việt và giúp giới trẻ nhận thức đúng đắn về ngôn ngữ của dân tộc tạo điều kiện để hiểu biết sâu hơn Bên cạnh đó đề xuất ra một số biện pháp để gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt

3 Tính mới và sáng tạo:

Tiếp cận được ngôn ngữ “chat” hiện tại, tìm hiểu được giá trị và cách sử dụng tiếngViệt trong xã hội hiện nay

4 Kết quả nghiên cứu:

Tìm hiểu được giá trị và cách sử dụng tiếng Việt trong xã hội hiện nay Sự lạm dụngngôn ngữ “chat” của giới trẻ

5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài:

Làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu về ngôn ngữ tiếng Việt

Làm tài liệu nghiên cứu về ngôn ngữ giao tiếp

Làm tài liệu cho học tập giảng dạy

6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ họ tên tác giả,

nhan đề và các yếu tố về xuất bản nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):

Ngày tháng năm

Sinh viên chịu trách nhiệm chính

thực hiện đề tài

(ký, họ và tên)

Trang 2

Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực hiện đề tài

Trang 3

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:

Họ và tên: Nguyễn Hoàng Anh Tuấn

Sinh ngày: 04 tháng 01 năm 1994

Nơi sinh: Tân Uyên – Sông Bé

Lớp: D12NV02 Khóa: 2012- 2016

Khoa: Ngữ văn

Địa chỉ liên hệ: 266 tổ 2 ấp 2, xã Hội Nghĩa, thị xã Tân Uyên, tình Bình Dương

Điện thoại: 01677150794 Email: anhtuan94.11@gmail.com

II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm đang

học):

* Năm thứ 1:

Ngành học: Sư phạm ngữ văn Khoa: Ngữ Văn

Kết quả xếp loại học tập: Trung bình - khá

Sơ lược thành tích: Không

Trang 4

DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

( nếu có )

Trang 5

Lời mở đầu

Các bạn thân mến!

Gần 40 năm non sông liền một dãy, 28 năm đổi mới, đất nước chúng ta đã đạtđược nhiều thành tựu to lớn, từng bước hội nhập sâu rộng với quốc tế Trước mắtchúng ta là một Việt Nam tươi đẹp, một cộng đồng ASEAN năng động và sáng tạo Đểthực hiện được ước mơ đó đòi hỏi mỗi người chúng ta phải luôn tự hoàn thiện bảnthân, trao dồi, mở mang kiến thức

Là sinh viên ngành sư phạm Ngữ văn của trường đại học Thủ Dầu Một, tươnglai là một giáo viên, là “người thợ” xây nên Việt Nam tươi đẹp, người gieo mầm choViệt Nam thêm xinh tươi, chúng tôi luôn phấn đấu vì một mục tiêu cao cả “Vì lợi íchmười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”, tạo nền tảngcho Việt Nam bay cao, bay xa hơn nữa, bằng tinh thần ham học hỏi, đam mê nghiêncứu kha học vì thế chúng tôi đã tích cực tham gia cuộc thi sinh viên nghiên cứu khoahọc của trường đại học Thủ Dầu Một năm học 2013-2014 với đề tài “Sự tác động củangôn ngữ “chat” lên tiếng Việt”

Thông qua đề tài này chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ vào việc bảo vệ sựtrong sáng của tiếng Việt, đồng thời rung lên một hồi chuông cảnh báo về ý thức vàtrách nhiệm của giới trẻ trong việc giữ gìn ngôn ngữ dân tộc

Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi đã tiếp cận, kế thừa và phát triển từnhững thành tựu của một số tác giả trong và ngoài nước

Bên cạnh sự nổ lực của bản thân và sự giúp đỡ của bạn bè Chúng tôi còn nhậnđược sự hướng dẫn nhiệt tình của cô Phan Thị Ai giáo viên hướng dẫn đã luôn kề vaisát cánh với chúng tôi trong suốt thời gian vừa qua Chúng tôi xin gửi đến tất cả mọingười lời cảm ơn sâu sắc tận đáy lòng Tuy nhiên, trong quá trình hoàn thiện đề tàikhông tránh được những hạn chế, thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được sự đánh giá,nhận xét, bổ sung của thầy cô cùng các bạn để đề tài nghiên cứ này thật sự có giá trị

Bình Dương ngày 6 tháng 4 năm 2014

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!!!

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập nghiên cứu tại Trường Đại Học Thủ Dầu Một,chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô cùng các bạn sinh viên.Qua quá trình thực hiện mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về thời gian và tài liệu, chúngtôi đã nổ lực để hoàn toàn đề tài Chúng tôi hi vọng rằng nội dung đề tài sẽ giúp chocác bạn trẻ phần nào nhận thức được tiếng Việt là tài sản vô cùng quý báu cần đượcgiữ gìn, kiến thức này cũng là một phần hành trang theo chân chúng tôi trong tươnglai Tuy chúng tôi đã rất cố gắng nhưng do khả năng hạn chế nên không thể tránh khỏinhững thiếu sót Vì vậy, rất mong nhận được sự góp ý của Thầy Cô, để đề tài này đượchoàn thiện và phát huy tác dụng một cách thiết thực

Xin chân thành gửi lời cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô và các bạnsinh viên của trường Đại Học Thủ Dầu Một

Chúng tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến cô Phan Thị Ai là giảng viên hướng dẫn

đã quan tâm tận tình đến đề tài nghiên cứu

Cuối cùng chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất

Trang 7

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 8

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

Trang 9

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

Trang 10

“Truyê ̣n Kiều còn, tiếng ta còn Tiếng ta còn, nước ta còn" Từ sự cảm nhận trên, lànhững thầy cô giáo tương lai, chúng tôi quyết định tìm hiểu đề tài: "Sự tác đô ̣ng củangôn ngữ "chat" lên tiếng Viê ̣t" Viê ̣c nghiên cứu đề tài này sẽ giúp chúng tôi có điềukiện tìm hiểu sâu hơn về tiếng nói của dân tộc Với thời gian và phạm vi của đề tài,chúng tôi chỉ nghiên cứu ngôn ngữ "chat" trong đối tượng là các bạn học sinh, sinhviên

1.2 TỔNG QUAN:

1.2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Đối tượng nghiên cứu: Sự tác động của ngôn ngữ “chat” lên tiếng Việt đặc biệt

là trong giới trẻ hiện nay

Phạm vi nghiên cứu: chúng tôi chỉ nghiên cứu ở khía cạnh: ngôn ngữ “chat” củagiới trẻ (học sinh, sinh viên)

1.2.2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

Hiện nay, đất nước đang phát triển theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa,kéo theo các nghành khoa học công nghệ cũng phát triển, đặc biệt phạm vi sử dụngmạng Internet ngày càng mở rộng Từ đó một loại ngôn ngữ mới đã ra đời, ngôn ngữ

“chat” Vì thế bài nghiên cứu khoa học này sẽ giới thiệu về ngôn ngữ “chat” của giớitrẻ cùng với một số tác động của nó lên tiếng Việt nhằm giúp giới trẻ có ý thức trongviệc giữ gìn và phát huy sự trong sáng và giàu đẹp của tiếng Việt

1.2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Đối với đề tài nghiên cứu khoa học này chúng tôi sử dụng phương pháp nghiêncứu thống kê toán học và phân loại là chính kết hợp với các phương pháp so sánh, tổnghợp, phân tích, đối chiếu và phương pháp điều tra, khảo sát, quan sát.Bằng cách thunhập các tài liệu có liên quan về ngôn ngữ “chat”

Trang 11

1.2.4 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

Ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp quan trọng của con người Ngôn ngữ làlòng tự hào dân tộc Vấn đề này được nhiều nhà nghiên cứu bàn luận như Thủ tướngPhạm Văn Đồng đã từng bàn về sự trong sáng của tiếng Việt in trong tạp chí Học Tập,

số 44- 1966 Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10, tập hai, cũng có đề cập đến Nhưng điềuđáng lo ngại hiện nay chính là một dạng ngôn ngữ đang được giới trẻ sử dụng rộng rãitrên các trang mạng xã hội, ngôn ngữ “chat” Ngôn ngữ này ảnh hưởng không ít đốivới sự trong sáng của tiếng Việt Đã có nhiều bài báo, nhiều công trình nghiên cứu,luận văn, luận án… trình bày các quan điểm, nhận xét đánh giá về tình trạng này.Những ý kiến nhận xét, đánh giá này vô cùng phong phú, đa dạng và thực tế Chúngtôi, cũng thuộc giới trẻ, rất quan tâm đối với vấn đề trên Chúng tôi sẽ kế thừa và tiếptục đầu tư nghiên cứu để hoàn thành tốt đề tài

1.2.5 KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU:

Tuần 1, 2: Chọn đề tài và lập đề cương nghiên cứu đề tài

Tuần 3, 4: Đi khảo sát thực tế, tiếp xúc với sinh viên các khoa, tìm hiều về cách thức

sử dụng mạng xã hội của sinh viên, lấy số liệu cụ thể

Tuần 5, 6: Tiến hành điều tra, phát phiếu điều tra

Tuần 7, 8: Thống kê, phân tích số liệu thông qua phiếu khảo sát

Tuần 9, 10: Đề xuất ý kiến rút kinh nghiệm, hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học

1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:

Ngoài phần mở đầu một trang và phần kết luận một trang

Nội dung nghiên cứu gồm: 2 chương, chương 1 (26 trang) và chương 2 (26 trang)

Trang 12

PHẦN 2:

NỘI DUNG

VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trang 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

“Ngôn ngữ là hệ thống để giao thiệp hay suy luận dùng một cách biểu diễn,phép ẩn dụ, và một loại ngữ pháp theo lôgic, mỗi cái đó bao hàm một tiêu chuẩn hay

sự thật thuộc lịch sử và siêu việt Nhiều ngôn ngữ sử dụng điệu bộ, âm thanh, ký hiệu,hay chữ viết, và cố gắng truyền khái niệm, ý nghĩa, và ý nghĩ, nhưng mà nhiều khinhững khía cạnh này nằm sát quá, cho nên khó phân biệt nó” [Nguyễn Như Ý (chủbiên), 1998, 1209]

1.1.2 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ:

Ngôn ngữ là người bạn đồng hành không thể thiếu của con người Vì vậy, conngười luôn luôn quan tâm đến ngôn ngữ và xây dựng cả một khoa học về nó Đó làngôn ngữ học

Ngôn ngữ có từ rất lâu, chậm nhất là vào nửa cuối thế kỉ IV trước Công nguyên.Những tài liệu ngôn ngữ học cổ nhất được tìm thấy ở Ấn Độ, Hi Lạp và Ảrập Ngônngữ học ra đời không phải xuất phát từ những suy nghĩ trừu tượng của các siêu nhân

mà xuất phát từ bản thân những yêu cầu trong đời sống của con người

Thời cổ Ấn Độ, kinh Vệ Đà rất được tôn kính Ngôn ngữ của kinh Vệ Đà đượccoi là mẫu mực và không biến đổi Nhưng ngôn ngữ nói hàng ngày của người Ấn Độlại biến đổi không ngừng làm cho ngôn ngữ của kinh Vệ Đà bị sai lệch, nhiều từ ngữthậm chí không hiểu được nữa Tình hình ấy đã khiến ngôn ngữ học phải nảy sinhtrong thời cổ Ấn Độ Ở Hi Lạp cũng vậy Ở đây, ngôn ngữ học cũng nảy sinh do nhucầu bảo toàn và giải thích ngôn ngữ của "Iliad" và "Odyssey" Sau khi ra đời, sự xuấthiện của chữ viết đã thúc đẩy sự phát triển của ngôn ngữ học, bởi vì muốn truyền thụchữ viết từ thế hệ này sang thế hệ khác chẳng những phải hiểu biết bản thân các kíhiệu mà còn phải biết các yếu tố của kết cấu ngôn ngữ do các kí hiệu đó biểu thị

Ở Ấn Độ việc nghiên cứu ngôn ngữ chủ yếu có tính thực tiễn Nổi bật trong sốcác nhà ngôn ngữ họ cổ Ấn Độ là Panini, sống vào khoảng giữa thế kỉ IV và III trướcCông nguyên Cho đến nay, các nhà ngôn ngữ học vẫn phải thừa nhận những quan sáttinh tế và kĩ lưỡng, những sự miêu tả chính xác và độc đáo của Panini đối với các hiện

Trang 14

tượng ngôn ngữ Các tác phẩm của ông đã giúp cho việc nghiên cứu so sánh các ngônngữ họ hàng ở thế kỉ XIX và giúp cho việc hình thành khái niệm về kết cấu hình thái

và ngữ âm của ngôn ngữ văn học cổ Ấn Độ

Ở Hi Lạp, chiều hướng phát triển của ngôn ngữ học ban đầu gắn liền với nhữngtìm tòi về triết học trong các lĩnh vực rộng lớn về tư duy và thực tế Trong một thờigian dài các nhà triết học cổ Hi Lạp như Platon (Plato, 428 – 347 trước Công nguyên),Aristôt (Aristotle, 384 – 322 trước Công nguyên) đã tranh luận về bản chất của từ, mốiquan hệ về bản chất của từ với sự vật và tư tưởng Về sau môn ngữ pháp học đã táchdần ra khỏi áp lực của triết học để trở thành một khoa học độc lập với tên tuổi của cácnhà bác học như Aritac, Điônixi, Phơrakixki, Apôloni, Đixcôlơ v.v Người La Mã cảitiến sơ đồ ngữ pháp của người Hi Lạp và đem áp dụng vào ngôn ngữ của mình Trongmột thời gian dài, các công trình ngữ pháp của người La Mã được coi là mẫu mực, cóảnh hưởng mạnh mẽ đến ngữ pháp học thời trung thế kỉ ở Tây Âu

Tiếp thu những thành tựu ngôn ngữ học của người Ấn Độ và Hi Lạp, ngườiArập (thế kỉ VII – X) đã có những đóng góp to lớn vào sự phát triển chung của ngônngữ học Người Arập đã miêu tả tỉ mỉ và chính xác về ngữ âm, có những tìm tòi đángchú ý về cú pháp, đặc biệt là họ có nhiều thành tựu về từ điển học Theo một số tàiliệu, Alơ Phirada Cadi đã soạn một cuốn từ điển gồm 100 tập Ngoài ra, người Arậpcòn nghiên cứu cả tiếng địa phương và cả các tiếng nước ngoài nữa

Đáng tiếc, những thành tựu ngôn ngữ học cổ đại đã không được phát huy trongnhững thời kì tiếp theo Hệ giáo lí và triết học kinh viện thời trung thế kỉ đã đè nặnglên khoa học Vì vậy, suốt thời trung thế kỉ, ngôn ngữ học không tiến lên được baonhiêu Mãi tới thời kì Phục hưng, ngôn ngữ học mới dần dần phục hưng trở lại

Do sự phát triển của ngành hàng hải và thương mại, những phát kiến về địa lí

và việc xâm chiếm thuộc địa, việc truyền bá đạo Cơ Đốc ra ngoài phạm vi châu Âu vàviệc phát minh ra máy in mà những người Châu Âu làm quen ngày càng nhiều với cácngôn ngữ mới ở Châu Á, Châu Phi và Châu Mĩ

Do nhu cầu của thực tế, ngôn ngữ học buộc phải vượt ra ngoài cái sơ đồ hệthống và các quy tắc của ngữ pháp Latin Các nhà bác học đã hướng vào việc giảiquyết những nhiệm vụ thực tiễn: biên soạn các cuốn từ điển và ngữ pháp của các ngônngữ khác nhau Đồng thời, việc đối chiếu tài liệu ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp của cácngôn ngữ khác nhau cũng được tiến hành, đặt cơ sở cho sự ra đời của ngôn ngữ học sosánh - lịch sử vào đầu thế kỉ XIX

Có thể nói, sự ra đời của phương pháp so sánh - lịch sử là một cái mốc lớn trêncon đường phát triển của ngôn ngữ học Những người đặt nền móng cho phương phápnày là F Boop (1791 – 1867, người Đức), R Raxca (1787 – 1832, người Đan Mạch),

I Grim (1785 – 1863, người Đức) và A Vaxtôcôp (1781 – 1864, người Nga)

Trang 15

Ngôn ngữ học so sánh - lịch sử coi ngôn ngữ là một trong những bằng chứngcủa lịch sử dân tộc, nó thừa nhận sự biến đổi của ngôn ngữ trong thời gian và phươngpháp lịch sử được coi là phương pháp chủ yếu trong việc nghiên cứu ngôn ngữ Đồngthời, ngôn ngữ học so sánh – lịch sử xác lập và thừa nhận tính chất họ hàng về mặt lịch

sử của các ngôn ngữ, thừa nhận khả năng và sự cần thiết phải nghiên cứu ngược lạiquá khứ xa xôi của các ngôn ngữ họ hàng ngày nay cho tới tận thời kì mà người ta giảthiết rằng có một ngôn ngữ cơ sở Trong ngôn ngữ học "so sánh - lịch sử" xuất hiệnmột số trường phái khác nhau như: trường phái tự nhiên, trường phái tâm lí, trườngphái logic ngữ pháp, trường phái ngữ pháp hình thức v.v Những người theo trườngphái tự nhiên coi ngôn ngữ như một trong những biểu hiện của đặc tính sinh vật củacon người và họ đã áp dụng học thuyết tiến hoá của Darwin vào ngôn ngữ Nhữngngười theo trường phái tâm lí coi ngôn ngữ là một trong những hoạt động tinh thần củacon người, nghiên cứu ngôn ngữ sẽ tìm hiểu được tâm hồn của cá nhân và do đó cũng

sẽ tìm hiểu được tâm hồn, tâm lí dân tộc Khuynh hướng logic - ngữ pháp chủ trươngmiêu tả và giải thích cơ cấu ngữ pháp của ngôn ngữ trên cơ sở logic, tức là đưa cácquy luật logic vào ngôn ngữ

Bước phát triển mới trong ngôn ngữ học, sau ngôn ngữ học so sánh lịch sử làkhuynh hướng ngữ pháp trẻ vào những năm 70 của thế kỉ XIX Gọi là "khuynh hướngngữ pháp trẻ" bởi vì người đề xướng ra khuynh hướng này là một nhà ngôn ngữ họctrẻ tuổi người Đức: F Xacnơke Phái ngữ pháp trẻ không thừa nhận khái niệm "ngônngữ" nói chung mà đặc biệt chú ý tới các hoạt động của lời nói cá nhân và các tiếngđịa phương Tiêu biểu với phái ngữ pháp trẻ, ở Nga có hai trường phái ngôn ngữ họcđặc sắc: trường phái Cadan đứng đầu là giáo sư I Baudouin de Courtenay (1845 –1929) và trường phái Matxcơva đứng đầu là viện sĩ Oрtyhatob (1848 – 1914)

Đến đầu thế kỉ XX, xuất hiện một khuynh hướng mới gọi là khuynh hướng xãhội học mà những người đứng đầu là F de Saussure (1857 – 1913), Angtoan Mâyê(1866 – 1936) và Giôdep Vandriet (1875 – 1960) Khuynh hướng này coi ngôn ngữ làmột hiện tượng xã hội, thừa nhận sự tác động của xã hội đối với sự tồn tại và phát triểncủa ngôn ngữ, coi trọng việc nghiên cứu các sinh ngữ và các tiếng địa phương

Nhưng khuynh hướng mạnh nhất trong ngôn ngữ học đầu thế kỉ XX là chủnghĩa cấu trúc Nó xuất phát trực tiếp từ học thuyết của F de Saussure được trình bàytrong "Giáo trình ngôn ngữ học đại cương" của ông Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩacấu trúc là coi ngôn ngữ như một kết cấu, một thể toàn vẹn, chặt chẽ của các yếu tốkhác nhau Nhiệm vụ hàng đầu của ngôn ngữ học là nghiên cứu "các mối quan hệ"giữa các yếu tố ngôn ngữ Ngôn ngữ học cấu trúc phân biệt rạch ròi "ngôn ngữ" và "lờinói", "đồng đại" và "lịch đại" Nhiều phương pháp nghiên cứu mới và độc đáo đã được

áp dụng: phép đối lập, phép phân bố, phép chuyển hoá, phép phân tích thành tố trựctiếp, phép thay thế v.v Hiện nay, ngôn ngữ học lại xuất hiện các khuynh hướng mới,

đó là: nhân chủng - ngôn ngữ học, tâm lí - ngôn ngữ học và ngôn ngữ học khu vực.Nhân chủng - ngôn ngữ học coi ngôn ngữ là một bộ phận quan trọng trong sinh hoạt

Trang 16

văn hoá và tinh thần của dân tộc, các tác động rõ rệt đến thế giới quan và tư cách conngười Nó đặt vấn đề nghiên cứu mối quan hệ và ảnh hưởng lẫn nhau giữa ngôn ngữ

và tâm lí, ngôn ngữ và văn hoá, ngôn ngữ và lịch sử dân tộc Tâm lí - ngôn ngữ học làkhoa học về các quy luật tâm lí và ngôn ngữ của việc tạo thành lời nói từ những yếu tốngôn ngữ và của việc hiểu kết cấu ngôn ngữ của lời nói, tức là hiểu các yếu tố tạothành lời nói Có thể xem nó là khoa học nằm ở ranh giới của ngôn ngữ học, tâm lí học

và lí thuyết thông tin Ngôn ngữ học khu vực gắn liền với tên tuổi của Gilenron, M.Bactôlơ và G Bôngphăngtê Nó chú ý tới vai trò của các điều kiện không gian, địa lítrong lịch sử các ngôn ngữ và trong việc nghiên cứu ngôn ngữ Nó nghiên cứu sự phân

bố các sự kiện ngôn ngữ giống nhau, các vạch đường đồng ngữ tuyến Các nhà bác họctheo khuynh hướng này đặc biệt chú ý đến các quá trình ảnh hưởng qua lại phức tạpcủa các ngôn ngữ được sử dụng đồng thời tại một địa phương

Nói tóm lại, ngôn ngữ học là một khoa học có từ lâu Nó đã ra đời và phát triển

để đáp ứng những nhu cầu của đời sống đặt ra Những tiến bộ của ngôn ngữ học đượcđánh dấu bằng sự ra đời, thay thế lẫn nhau của các phương pháp nghiên cứu mới

1.1.3 TIỀM NĂNG NGÔN NGỮ VÀ HÀNH VI NGÔN NGỮ THỰC TẾ:

Nhà ngôn ngữ học Anh là M.A.K Halliday đã phân biệt tiềm năng ngôn ngữ(linguistic potential) với hành vi ngôn ngữ thực tế (actual linguistic behaviour) Ôngnhìn ngôn ngữ theo quan điểm chức năng, quan tâm nhiều đến cái người nói thực hiệnhành vi nhờ ngôn ngữ Với ngôn ngữ, người nói có thể đóng góp rất nhiều thứ cho nềnvăn hóa của họ Có nhiều cái để nói, có thể nói với nhiều người, về nhiều chủ đề khácnhau Cái họ thường nói trong một dịp nào đó, với một cá nhân nào đó là cái được lựachọn trong nhiều cái có thể mà họ đã nói Tiềm năng ngôn ngữ của Halliday tương tựvới ngôn ngữ của Saussure và ngữ năng của Chomsky; hành vi ngôn ngữ thực tế thìtương tự với lời nói và ngữ hành Lời nói, ngữ hành và hành vi ngôn ngữ thực tế cónhiều điểm chung Nhưng ngôn ngữ và ngữ năng và tiềm năng ngôn ngữ thì khác nhauđáng kể Chúng chỉ giống nhau về một phương diện, đó là điều chỉ cái ổn định, làm cơ

sở cho các phát ngôn, là cái tạo thành lời nói, ngữ hành và hành vi ngôn ngữ thực tế.Giữa chúng có sự phân biệt rõ ràng: Ngôn ngữ là một cái đặc điểm xã hội trong khitiềm năng ngôn ngữ là cái mà người nói có thể lựa chọn Ngữ năng là một hình thứccủa sự hiểu biết, trong khi tiềm năng ngôn ngữ là những khả năng để thực hiện Sựphân biệt giữa ngữ năng và ngữ hành là sự phân biệt một bên là cái mà cá nhân hiểu vàmột bên là cái mà nó thực hiện, trong khi sự phân biệt giữa tiềm năng ngôn ngữ vàhành vi ngôn ngữ thực tế là sự phân biệt giữa một cái cá nhân có thể thực hiện và cái

mà một cá nhân thực hiện

1.1.4 NGÔN NGỮ NÓI VÀ NGÔN NGỮ VIẾT:

Gắn liền với sự phân biệt nội dung hai tên gọi diễn ngôn và văn bản là sự phânbiệt ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết (lời miệng và lời viết, sản phẩm ngôn ngữ nói vàsản phẩm ngôn ngữ viết)

Trang 17

Có thể nói rằng chính sự khó phân biệt ngôn ngữ nói với ngôn ngữ viết kéo theo cáchhiểu và cách dùng không phải bao giờ cũng phân minh hai tên gọi diễn ngôn và vănbản như đã thấy ở bài mục trước.

Về kinh nghiệm thực tiễn thì một cách sơ bộ và dễ nhận biết, vấn đề phân biệt ngônngữ nói với ngôn ngữ viết có thể được xem xét ở ba phương diện:

- Phương tiện chất liệu;

- Phương tiện hoàn cảnh sử dụng;

- Phương tiện bên trong hệ thống ngôn ngữ

Nếu hiểu ngôn ngữ nói theo nghĩa hẹp là ngôn ngữ âm thanh dùng trong hội thoại tựnhiên (natural conversation), còn ngôn ngữ viết được hiểu rộng, bao gồm cả những lờiphát biểu trên cơ sở một bài viết sẵn, thì có thể tóm lược các điểm phân biệt ở baphương diện trên như trong bảng đối chiếu sau đây:

Trang 18

BẢNG ĐỐI CHIẾU CÁC ĐIỂM PHÂN BIỆT TRỰC QUAN

GIỮA NGÔN NGỮ NÓI VÀ NGÔN NGỮ VIẾT

1 Về chất liệu

a) Âm thanh của ngôn ngữ trải ra trong

thời gian và một chiều Sử dụng ngữ

điệu Có thể sử dụng các phương tiện

kèm ngôn ngữ

a) Chữ viết trải ra không gian (phản ánhtính tuyến thời gian) Có hệ thống dấucâu đặc thù

2.Về hoàn cảnh sử dụng

b) Có tính chất tức thời không được dàn

dựng trước, không có cơ hội gọt giũa,

kiểm tra Có người nghe trực tiếp (mặt

đối mặt)

b) Có điều kiện dàn dựng, có cơ hội gọt giũa, kiểm tra Thường không có người nghe trực tiếp (mặt không đối mặt)

3.Mặt bên trong hệ thống ngôn ngữ

c)Về ngữ âm

Sử dụng đúng và tốt hệ thống ngữ âm cụ

thể (cố gắng tránh lặp đặc thù ngữ âm

địa phương hẹp - được coi là “ngọng”

khi không cần thiết) Dùng tốt ngữ điệu

c) Về chữ viếtViết đúng chuẩn chính tả thống nhất toàndân (tránh phản ánh đặc thù ngữ âm củađịa phương hẹp, nếu không cần thiết).Viết đúng quy cách con chữ, dùng tốtdấu câu

Tuân thủ nghiêm ngặt những quy địnhhình thức của các văn bản pháp quy.d) Về dùng từ

Cho phép sử dụng chung những từ ngữ

của riêng phong cách hội thoại thường

gặp (như (nghỉ) xả hơi, (tắm) một cái đã,

(hay) phải biết, (đẹp) hết sảy, ngay tắp

lự…)

d)Về dùng từ Dùng những từ ngữ của riêng phong cách hội thoại, khi không cần thiết Cần chọn dùng các từ ngữ phù hợp với phong cách chức năng của văn bản được tạo lập (tránh dùng các từ ngữ lạc phong cách chức năng)

Trang 19

Thường dùng câu ngắn gọn Có thể dùng

câu tỉnh lược nhiều bộ phận, kể cả việc

tỉnh lược đồng thời chủ ngữ và vị ngữ

Nhiều khi cũng dùng từ ngữ lặp thừa

trong câu mà không nhằm mục đích diễn

đạt sắc thái tu từ

Có thể dùng câu ghép dài, nhiều bậc Có thể dùng câu tỉnh lược chủ ngữ và bổ ngữ

Tránh dùng câu tỉnh lược cùng một lúc

cả chủ ngữ và động từ làm vị ngữ (hoặc toàn bộ vị ngữ) mà không có tác dụng tu

từ học đủ rõ

“Ngôn ngữ và văn hóa có liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời Ngôn ngữ là phương tiện chuyên chở văn hóa và văn hóa chứa đựng trong ngôn ngữ Người ta nói rằng ngôn ngữ và văn tự là sự kết tinh của văn hóa dân tộc Sự biến đổi và phát triển ngôn ngữ lại luôn luôn đi song song với biến đổi và phát triển văn hóa” Vậy để hiểu rõ hơn

về ngôn ngữ chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu đôi nét về văn hóa, bởi lẽ muốn nghiên cứu sâu về văn hóa phải nghiên cứu ngôn ngữ và muôn đi sâu vào ngôn ngữ phải chú tâm đến văn hóa

1.2 KHÁI NIỆM VĂN HOÁ:

1.2.1 VĂN HOÁ LÀ GÌ?

Nếu khảo sát về phương diện xã hội thì khái niệm văn hóa tồn tại dưới 2 dạng:

- Dạng phổ thông: là dạng có tính phổ biến với đại đa số quần chúng

- Dạng thuật ngữ: là dạng có tính chuyên môn, không phổ biến, chỉ tồn tại ở tầng lớp trí thức

Với nghĩa rộng, văn hóa là cái thể hiện đặc trưng của tính người, tức là cái đặc trưng làm cho con người khác hẳn loài vật Với nghĩa này thì văn hóa là một hiện tượng xã hội loài người, đối lập với những hiện tượng thuộc hiện tượng thiên nhiên như gió, mưa, sấm, chớp, sông, biển nghĩa là, văn hóa bao giờ cũng mang một đặt trưng rất quan trọng: cải biến tự nhiên thông qua hoạt động có ý thức của con người Đây là đặc trưng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và nhấn mạnh

Theo quan điểm xã hội học, văn hóa được hiểu là phương thức sống chung của một cộng đồng người trong một giai đoạn lịch sử, một xã hội nào đó

Trang 20

Với một số ngành khoa học nhân văn, văn hóa là một khái niệm được hiểu qua một phức hệ các mặt của tồn tại xã hội và ý thức xã hội.

Tóm lại, Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế

hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần

mà do con người tạo ra

Một trong những biểu hiện cụ thể của văn hóa đó chính là ứng xử văn hóa Vậy ứng xửvăn hóa là gì, nó biểu hiện ra sao Để đáp ứng được những câu hỏi ấy, chúng ta hãy cùng nhau đi tìm hiểu đôi nét về ứng xử văn hóa

1.2.2 ỨNG XỬ VĂN HOÁ:

Trên thực tế, khái niệm ứng xử văn hóa cũng được hiểu theo hai nghĩa khác nhau.a) Hiểu theo nghĩa hẹp, ứng xử văn hóa chỉ là thái độ, hành vi của con người trong giao tiếp đời sống với những người xung quanh

b) Hiểu theo nghĩa rộng, ứng xử văn hóa ngoài ý nghĩa trên còn bao gồm cả cách ứng

xử với thiên nhiên, với môi trường sinh thái nhân văn xung quanh đời sống con người

Cụ thể là, ứng xử văn hóa hiểu theo nghĩa (a) được khái quát thành sơ đồ sau:

Trang 21

Làng xã Sắc tộc Miền vùng Khách quý Quan hệ hợp tác

Kẻ thù

Trang 22

Sự biểu hiện cụ thể của những cách ứng xử văn hóa ở (a) phản ánh những đặc trưng mang tính bản sắc, truyền thống văn hóa dân tộc Còn sự biểu hiện những cách hiểu văn hóa ở (b) phản ánh trình độ phát triển khoa học kĩ thuật, trình độ phát triển khoa học kĩ thuật, trình độ vănh minh và cách thức tổ chức quản lí xã hội ở mỗi dân tộc cụ thể.

Từ sự biểu hiện cụ thể của những cách ứng sử văn hóa nêu trên chúng ta dể dàng nhận

ra rằng văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người Văn hóa không dễhình thành và một khi đã hình thành thì lại khó mất đi, mỗi một quốc gia, một dân tộc đều có những nét đặc trưng văn hóa khác nhau, lâu dần sẽ hình thành nên những truyền thống văn hóa, và chính những truyền thống ấy tạo nên linh hồn và bản sắc riêng cho mỗi một quốc gia một dân tộc

1.2.3 TRUYỀN THỐNG VĂN HOÁ:

Truyền thống văn hóa bao gồm một quá trình tích hợp lâu dài, từ đời này qua đời khác,những yếu tố tích cực của văn hóa cộng đồng làm nên sự tồn tại và phát triển của dân tộc ấy

Do vậy, nói đến truyền thống văn hóa của một dân tộc không thể tách rời nó khỏi lịch

sử kinh tế, lịch sử chính trị mà dân tộc đó trải qua cùng những mặt của đời sống tinh thần mà cộng đồng dân tộc tạo ra từ khi khởi nguồn cho đến giai đoạn hiện đại

Nói tới truyền thống văn hóa dân tộc là nói tới các hiện tượng văn hóa mang tính lâu dài Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là, tất cả các yếu tố văn hóa tồn tại lâu đời đều là các yếu tố tích cực có tác dụng thúc đẩy dân tộc tiến lên

Truyền thống văn hóa Việt Nam là một tầng phức tạp bao gồm truyền thống văn hóa của 54 dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đang sống ở nước ngoài

Tóm lại văn hóa là toàn bộ những sản phẩm vật chất và tinh thần do con người sáng tạo hoặc tái tạo lại từ thiên nhiên và từ trong quá khứ

Trang 23

1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ:

1.3.1 NGÔN NGỮ KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY NỀN VĂN HOÁ:

1.3.1.1 NGÔN NGỮ CÓ VAI TRÒ LƯU TRỮ VÀ BẢO TỒN VĂN HOÁ:

Ngôn ngữ tồn tại dưới hai dạng nói và viết, được biểu hiện qua các kí tự mang tính vật chất là âm thanh và chữ viết (văn tự) Xét về nguồn gốc, chữ viết ra đời muộn hơn so với ngôn ngữ thành tiếng, tức ngôn ngữ âm thanh

Khi chưa có chữ viết, con người muốn trao đổi tư tưởng tình cảm, muốn truyền bá những kinh nghiệm cho nhau đều phải dùng ngôn ngữ âm thanh Tuy nhiên, các hình thức văn học cũng như kiến thức nói chung được truyền đạt, lưu giữ lại bằng miệng (bằng ngôn ngữ âm thanh) thì hạn chế rất nhiều Nếu không có chữ viết, khi chết người ta sẽ mang theo vô số thông tin chưa kịp truyền đạt

Như vậy, nhờ vào cả hai phương diện âm thanh và chữ viết, ngôn ngữ đã thực hiện một nhiệm vụ cực kì quan trọng là bảo tồn và lưu giữ toàn bộ các di sản văn hóa của nhân loại Nói về tầm quan trọng của ngôn ngữ đối với văn hóa, E.M.Veresagin và V.G.Kostomarov nhận định : “Ngôn ngữ là tấm gương thật sự của nền văn hóa dân tộc”

1.3.1.2 NGÔN NGỮ CÓ VAI TRÒ SÁNG TẠO VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ:

Không phải chỉ có chức năng bảo tồn và lưu trữ các di sản văn hóa, ngôn ngữ còn trựctiếp là công cụ trong sáng tạo và phát triển Cụ thể, ngôn ngữ tham gia với tính chất làchất liệu để sáng tạo ra các sản phẩm có giá trị văn hóa như: văn học nghệ thuật, âmnhạc, hội họa, đạo đức, chính trị, luật pháp Không phải là cái gì khác mà chính ngônngữ là yếu tố cấu thành văn bản (dù là văn bản nói hay văn bản viết)

Xét về bản chất, mọi sản phẩm của văn hóa dù là văn hóa vật chất hay văn hóa tinhthần đều có nguồn gốc từ ngôn ngữ Bởi vì, nhờ có ngôn ngữ người ta mới có thể tưduy Không thể tư duy ngoài ngôn ngữ Cũng không thể có sáng tạo lao động, phátminh, sáng chế nếu không có tư duy Như vậy, thực chất, ngoài vai trò là chất liệu trựctiếp cho sáng tạo các sản phẩm văn hóa tinh thần, ngôn ngữ còn là phương tiện bêntrong của quá trình sáng tạo ra các giá trị văn hóa vật chất

Trang 24

Nếu không có ngôn ngữ, người ta không thể đúc kết được kinh nghiệm, kế thừa cácthành tựu của quá khứ để tiếp tục sáng tạo và phát minh ra cái mới về khoa học kĩthuật Ở phương diện này, ngôn ngữ hoạt động với tư cách là công cụ cho con ngườitiếp thu cái mới, nâng cao năng lực nhận thức và khả năng sáng tạo Nó thúc đẩy choquá trình phát triển văn hóa ở cả bề nỗi lẫn bề sâu.

1.3.2 VĂN HOÁ GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT NAM:

1.3.2.1 VAI TRÒ CỦA NGÔN NGỮ TRONG VĂN HOÁ GIAO TIẾP:

Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt được nảy sinh do nhu cầu giao tiếp giữacon người với con người Cùng với tư duy, ngôn ngữ được hình thành trong quá trìnhlao động Ở phương diện này, ngôn ngữ không chỉ đóng vai trò là sợi dây liên kết cácthành viên trong cộng đồng mà nó còn đóng vai trò là yếu tố xúc tác, tác động ngượctrở lại làm cho lao động phát triển

Thật vậy, ngôn ngữ vừa là yếu tố cấu thành vừa có vai trò là động lực tạo ra sự hìnhthành và phát triển của văn hóa giao tiếp

Giao tiếp là một hoạt động luôn gắn liền với các hoạt động sản xuất, quá trình lao độngnói chung và với việc tổ chức xã hội nói riêng Không có giao tiếp, con người chỉ làcác quần thể hỗn tạp và không có khả năng phát triển

Đúng như Lênin nói, ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của loài người.Khi ngôn ngữ nó còn là sự phản ánh những thói quen, tập quán, những đặc trưng thẩm

mĩ của mỗi cộng đồng của loài người phát triển thì nó không chỉ còn là công cụ để traođổi thông tin thuần túy mà đồng thời cũng có những cách thức hoạt động giao tiếp ởnhững hoàn cảnh nhất định Nói một cách khái quát thì ngôn ngữ khi thực hiện chứcnăng giao tiếp, còn là biểu hiện cụ thể của đặc trưng văn hóa và trình độ phát triển vănhóa Khi văn hóa càng phát triển thì ngôn ngữ giao tiếp càng trở nên tinh tế và mangtính loại biệt cao

=> Văn hóa giao tiếp là một khái niệm dùng để chỉ các hình thức giao tiếp mang tínhđặc thù cho hoàn cảnh giao tiếp hoặc trình độ giao tiếp ở những cộng đồng ngườithuộc các nhóm nghề nghiệp hoặc xã hội khác nhau Văn hóa giao tiếp là yếu tố quyđịnh ngôn ngữ giao tiếp

Trang 25

1.3.2.2 VAI TRÒ CỦA NGÔN NGỮ TRONG GIAO TIẾP VÀ HÌNH THÀNH VĂN HÓA GIAO TIẾP:

Cuộc tiếp xúc ngôn ngữ và văn hóa bao giờ cũng có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếpđến văn hóa giao tiếp

Chẳng hạn người Viê ̣t Nam xưa chịu ảnh hưởng nhiều của văn hóa Trung Quốc quatác động của Khổng giáo, Nho giáo đã có những biểu hiện giao tiếp hoàn toàn khácvới cách giao tiếp của người Viê ̣t Nam hiện đại Trong quan hệ nam nữ, do chi phốicủa quan niệm “nam nữ thụ thụ bất thân”, người con trai và người con gái tiếp xúc rất

dè dặt Nếu họ yêu nhau thì cũng phải nói những lời bóng gió xa xôi, nếu dùng nhữnglời tỏ tình trực tiếp thì bị coi là suồng sã, không phải là “con cái nhà” Điều này có thểkiểm chứng qua những câu ca dao về chủ đề tình yêu và cách thức giao tiếp giữa cácnhân vật trong ca dao hay trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Nhưng ở thời hiện đại, do có cuộc giao tiếp với văn hóa phương Tây, quan hệ giao tiếpgiữa người con gái và người con trai không còn bị câu thúc trong giới hạn và các quyước cũ Nam và nữ có thể bắt tay nhau có thể ngồi gần để tâm sự cùng nhau mà không

bị “đánh giá” là thiếu nghiêm túc Khi yêu nhau họ có thể trực tiếp bày tỏ nguyện vọnghoặc nói những lời yêu thương mà không phải đắn đo, rụt rè, vòng vèo qua các hìnhtượng gián tiếp Điều này chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy trong thực tiễn giao tiếp,trong đời sống và trong các tác phẩm văn xuôi hoặc thơ ca hiện đại

Thực ra, sự thay đổi các phương thức sản xuất trong xã hô ̣i kéo theo sự thay đổi củalực lượng sản xuất nói riêng và toàn bô ̣ cơ sở kinh tế của hạ tầng kiến trúc nói chung

Từ đó, thấy rằng tính chuẩn mực hay không chuẩn mực, đúng đắn hay không đúngđắn, vâ ̣n đô ̣ng hay không vâ ̣n đô ̣ng … của hoạt đô ̣ng giao tiếp đều được nhìn nhâ ̣n quavăn hóa giao tiếp

Trong cách nhìn nhâ ̣n như vâ ̣y, văn hóa giao tiếp bao gồm hai phạm trù: phạm trù cótính nhân loại và phạm trù có tính dân tô ̣c Trong đó, ngôn ngữ vừa là yếu tố cấu thànhvừa có vai trò là đô ̣ng lực tạo ra sự hình thành và phát triển của văn hóa giao tiếp.Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, để nhận thấy được vai tròcủa ngôn ngữ và văn hóa trong giao tiếp là cực kì quan trọng Lưu ý khi giao tiếp là

Trang 26

xác định đối tượng giao tiếp, từ đó xác định quan hệ, và khi giao tiếp cần đảm bảo phương châm về lượng và phương châm về chất… Khi đó vấn đề hội thoại được đặt rahàng đầu.

1.4 HỘI THOẠI:

1.4.1 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẠI CƯƠNG:

1.4.1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT CỦA MỘT CUỘC HỘI THOẠI:

Ngôn ngữ có hai chức năng cơ bản: làm phương tiện giao tiếp và phương tiện tư duy.Các chức năng cơ bản này của ngôn ngữ được thực hiện thường xuyên nhất trong hộithoại Nói như Đỗ Hữu Châu thì “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổbiến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác.”[ Đỗ Hữu Châu,2001,201] Hội thoại có thể diễn ra giữa hai người (song thoại), giữa

ba người (tam thoại), giữa nhiều người (đa thoại) Dạng cơ bản nhất của hội thoại làsong thoại

1.4.1.1.1 TRAO LỜI, ĐÁP LỜI VÀ TƯƠNG TÁC TRONG HỘI THOẠI:

Hoạt động người phát SP1 tạo ra diễn ra ngôn và hướng diễn ngôn của mình đến ngườinhận SP2 Hoạt động này được gọi là hoạt động trao trả lời Có thể mô hình hóa hoạt động trao lời như sau :

SP1 Diễn ngôn SP2

Tuy nhiên, hội thoại đòi hỏi các nhân vật tham gia giao tiếp phải có sự thay đổi vai trò người phát – người nhận trong giao tiếp Do đó, trong hội thoại không chỉ có hoạt động trao lời một chiều mà còn có hoạt động đáp lời Đáp lời là hoạt động người nhận chuyển thành vai người phát đáp lại lời trao Cụ thể như sau:

SP1 Diễn ngôn SP1 SP2

Diễn ngôn SP2

Trang 27

Sự thay đổi luân phiên vai người phát – người nhận giữa các nhân vật giao tiếp làm nên hoạt động trao – đáp trong hồi thoại.

1.4.1.1.2 PHƯƠNG TIỆN KÈM DIỄN NGƠN HỘI THOẠI:

Ngồi ngơn ngữ là cơng cụ chính để tạo các diễn ngơn, trong hội thoại, các nhân vậtgiao tiếp cịn sử dụng các phương tiện (tín hiệu) phi ngơn ngữ như điệu bộ, cử chỉ, nétmặt,… đễ hỗ trợ, kèm theo diễn ngơn

Cách ăn mặc, diện mạo của các nhân vật giao tiếp cũng coi là các tín hiệu kèm diễnngơn hội thoại vì chúng cĩ những tác động nhất định đến tiến trình hội thoại Cĩnhững tín hiệu kèm ngơn ngữ diễn ra chậm, từ từ như khoảng cách, tư thế ngồi,đứng… của những người tham gia hội thoại, cĩ những tín hiệu diễn ra nhanh như cửchỉ, nét mặt thay đổi theo từng phát ngơn, đoạn diễn ngơn…

Trong các tình huống giao tiếp thơng thường, các tín hiệu kèm diễn ngơn cĩ vai trịnhất định trong việc hiểu ý nghĩa diễn ngơn Qua ánh mắt, nụ cười và các cử chỉ kháccủa người giao tiếp mà ta biết được đấy là lời khen thật hay mỉa mai chê bai…

Tĩm lại, những tín hiệu kèm ngơn ngữ tuy là thứ yếu mang tính bổ trợ nhưng rất quantrọng Khơng thể cĩ một cuộc hội thoại trực tiếp, mặt đối mặt mà thiếu các tín hiệukèm diễn ngơn Đúng như Arbercrombie đã viết: “Chúng ta nĩi bằng các cơ quan cấu

âm nhưng chúng ta hội thoại với cả cơ thể của chúng ta….” [dẫn theo Đỗ Hữu Châu]

1.4.1.2 CẤU TRÚC CỦA MỘT CUỘC THOẠI:

Cuộc thoại, đoạn thoại, cặp trao đáp

1/ Cuộc thoại (conversation): Dựa vào các tiêu chí sau để xác định cuộc thoại

a Nhân vật hội thoại: Sự gặp mặt và chia tay của 2 người hội thoại

b Tiêu chí thống nhất về thời gian và địa điểm

c Tiêu chí thống nhất chủ đề: Những cuộc thoại chân thực

“nghiêm chỉnh” thì tiêu chí này là tiêu chí quyết định,

Trang 28

nhưng có những cuộc thoại “tán gẫu” thì đề tài diễn ra theo lối nhảy cóc.

d Tiêu chí về dấu hiệu định ranh giới cuộc thoại: Có dấu hiệu mở đầu cuộc thoại - kết thúc bằng lời chào

2/ Đoạn thoại (séquence): Là một mảng diễn ngôn do mộtsố cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩahoặc về ngữ dụng Có các dạng đoạn thoại sau:

- Đoạn thoại mở thoại (séquence d’ouverture);

- Thân cuộc thoại;

- Đoạn thoại kết thúc cuộc thoại (séquence declôture)

3/ Cặp thoại: Về nguyên tắc, cặp trao đáp là đơn vị lưỡngthoại tối thiểu

4/Tham thoại: Cặp thoại được cấu thành từ tham thoại (cótrường hợp tham thoại lớn hơn lượt lời)

Ví dụ 2:

A1: Cậu có biết 2 anh chị vừa đi Đồ Sơn về không?

A2: Sầm Sơn chư.ù

Trang 29

Phát ngôn 2 có tính” uốn nắn” lại phát ngôn A1, chưa phảilà lời đáp cho câu hỏi A1, do đó 2 phát ngôn này chưathành 1 cặp thoại.

Một tham thoại do một hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạonên Theo trường phái Genevè, một tham thoại có mộthành vi chủ hướng (CH) có thể có một só hành vi phụthuộc (PT) Cấu trúc tham thoại có thể là:

CHPT- CHCH- PT1PT- CH- PT

PT - PT- CH

5/Hành vi ngơn ngữ: Là đơn vị nhỏ nhất của “ngơn ngữ hội thoại”, các ứng xử bằnglời (và bằng các yếu tố kèm ngơn ngữ) đều căn cứ vào các hành vi ngơn ngữ đi trước,khơng phải căn cứ vào các đơn vị ngữ pháp thơng thường như từ và câu

1.4.2 CẤU TRÚC HỘI THOẠI:

1.4.2.1 NGUYÊN TẮC LUÂN PHIÊN LƯỢT LỜI:

Trong hội thoại, mỗi lần SP1 hay SP2 nĩi là một lượt lời

Nguyên tắc luân phiên về lượt lời địi hỏi các nhân vật giao tiếp phải:

- Nhường lời cho người hội thoại với mình, tức khơng được cướp lời của người kháckhi lời của người đĩ chưa kết thúc

- Phải nối tiếp lời của người tham gia hồi thoại kịp thời, tức khơng được để khoảng imlặng giữa các lượt lời quá dài

Mỗi ngơn ngữ cĩ dấu hiệu riêng về từ ngữ, ngữ điệu để kết thúc diễn ngơn Ngườitham gia hội thoại phải nắm được những dấu hiệu đĩ để khơng chèn vào lời ngườikhác và bắt lời cho kịp thời

Trang 30

1.4.2.2 LƯỢT LỜI:

Đơn vị cơ bản của hội thoại là lượt lời Đó là một lần nói xong của một người trongkhi những người khác không nói, để rồi đến lượt một người tiếp theo nói Sẽ khôngthành lượt lời nếu nhiều người cùng nói một lúc Chỉ có ngoại lệ là khi một đám đôngđứng trước một cá nhân trong một hội thoại xưng tụng, thề nguyền trong các lễ nghitôn giáo, đồng thanh hô, hò reo: vạn tế, muôn năm, hoan hô, đúng rồi, xin thề, quyếttâm

Mỗi lượt lời được xây dựng trên cơ sở những lượt lời trước đó Vậy là có sự luânphiên lượt lời, luân phiên nói năng trong hội thoại Đó là một nguyên lí trong hội thoại.Nghĩa là cấu trúc của một cuộc thoại là ababab cơ chế của luân phiên lượt lời là gì?

Trước hết có sự phân biệt giữa tranh lời với chuyển giao lượt lời, còn gọi là sự trao lời.

Trao lời là sự chuyển lời tự nhiên, có ý thức chủ động của người đang giữ lượt lời.Một người có thể trực tiếp chuyển giao lượt lời cho một đối tượng xác định: "Nào, có

ai ý kiến về vấn đề này không? " Hoặc đơn giản sau khi thấy vấn đề mình trình bày đã

đủ, tự kết thúc lượt lời bằng một ngữ điệu mà mọi người đều nhận ra là mình sẽ khôngnói nữa, hoặc kết thúc bằng lời nói: "Vấn đề mà tôi muốn trình bày là như vậy!" Trái với trao lời là tranh lời, còn gọi là ngắt lời Đây là những lời nói "xen ngang" vàolời của người khác Hoặc vì tưởng nhầm là họ đã nói xong, hoặc vì một phản ứng tứcthời Như thế lượt lời có thể bị động chuyển sang lượt lời của người khác một cáchkhông tự nhiên

Tuy nhiên, trong hội thoại đặc biệt là trong song thoại, hiện tượng cướp lời, lời chồngchéo lên nhau là không bình thường, là không lịch sự Vì vậy cũng thường xảy ratrường hợp một người đang nói dở chừng, sau khi bị cướp lời, sau khi bị người khácnói xen ngang, lại: "Tôi xin trình bày tiếp vấn đề đang nói dở chừng" Như thế về hìnhthức lượt lời đã bị luân phiên, nhưng liên kết trực tiếp về nội dung vẫn được duy trì.Điều này liên quan đến sự phân tích cấu trúc đoạn thoại Cũng có thể một người đangnói, một người nghe chủ động đòi quyền lượt lời của mình bằng một cái đằng hắng gợi

ý Hoặc nói một câu xen ngang để ngăn chặn sự tiếp tục hoặc đòi hỏi sự rút gọnchuyển hướng nội dung của một lượt lời Lúc đó một lượt lời có thể bị dừng lại

Trang 31

Khi nghiên cứu sự luân phiên lượt lời, người ta còn chú ý đến những hiện tượng sau:

- Khoảng cách thời gian tối thiểu và tối đa trong một lượt lời Điều này là mộtnguyên tắc trong sự luân phiên lượt lời và nó mang dấu ấn của từng nền văn hóa Và

nó có một ý nghĩa quan trọng mà chúng ta không thể không biết tới khi có sự tiếp xúctrao đổi giữa những người thuộc các nền văn hóa khác nhau

- Khoảng cách thời gian trong sự xen lời, tranh lời - hai người đồng thời nói - cũng

là vấn đề được quan tâm nghiên cứu trong lượt lời Chẳng hạn Fant [1989: 258] đã chobiết rằng số lần xen lời này ở người Tây Ban Nha gấp năm lần người Thụy Điển Đócũng là một phương diện chuẩn mực hội thoại

- Thứ tự của lượt lời;

- Độ dài của lượt lời;

- Những cơ chế thực hiện lượt lời;

- Những tín hiệu điều chỉnh lượt lời;

Người nghe không đơn thuần là người ngoài cuộc im lặng Thái độ, phản ứng củangười nghe là những điều khiển ngược tới quá trình hội thoại Nó có vai trò đáng kểtrong việc khuyến khích lượt lời tiếp tục hay chuyển hướng và dừng lại Những phảnứng này thể hiện bằng cử chỉ, nét mặt âm thanh như những tiếng "ừ hữ", "vâng"

Những thái độ và cách thức phản ứng này phụ thuộc vào từng ngôn ngữ và từng nềnvăn hóa Chẳng hạn hàng loạt các nghiên cứu cho thấy người Nhật dùng nhiều lần cáctín hiệu điều chỉnh lượt lời, gấp ba lần người Mỹ còn với người Việt, đó là cái gật đầu,

là những tiếng "ái chà", "ối dà", "vâng", "đúng quá"

CHÚ Ý: Trong giao tiếp sự im lặng cũng là một hành vi ngôn ngữ Sự im lặng là mộtchiến thuật giao tiếp Nó có thể biểu hiện sự phản đối, hoặc đồng tình hoặc làm đốiphương lúng túng, bối rối mà bộc lộ ra những điều còn che đậy Vì vậy sự im lặngcũng có thể tạo thành một lượt lời Thậm chí, trong hội thoại, có thể xảy ra liên tiếpnhững lượt lời là sự im lặng

1.4.3 NHỮNG QUAN HỆ CÁ NHÂN:

Trang 32

1.4.3.1 QUAN HỆ NGANG:

Quan hệ này được đặc trưng bằng yếu tố “khoảng cách”, một ẩn dụ không gian biểutrưng cho sự gần gũi hoặc xa cách trong quan hệ Có những thành ngữ, lối nói dùng tớibiểu trưng này “giữ khoảng cách trong quan hệ”, “xa mặt cách lòng” … cách nóichuyện tâm tình, cởi mở đối lập với cách nói chuyện khách sáo, xã giao là thể hiệnquan hệ này

Quan hệ khoảng cách có thể thay đổi và điều chỉnh trong quá trình hội thoại, từ sơ tớithân hoặc ngược lại Chẳng hạn từ quan hệ bình thường (tôi - anh, tôi - chị) tới quan hệthân ái (tớ - cậu, mình - đằng ấy) và tới quan hệ tình yêu (anh - em) hoặc ngược lại(“anh đi đường anh, tôi đi đường tôi…”)

Quan hệ này thường đối xứng, nghĩa là nếu người này cảm thấy xa cách người kia thìngười kia cũng cảm thấy như vậy Tuy nhiên, cũng có lúc bất đối xứng: anh thanh niên

có thể ngồi xích lại, nhưng cô gái lại ngồi lùi ra … Có nhiều dấu hiệu thể hiện quan hệngang - những dấu hiệu bằng lời và những dấu hiệu cử chỉ, điệu bộ và dấu hiệu kèmlời Người nói có nhiều công cụ để lựa chọn khi muốn thể hiện quan hệ này một cáchthích hợp

“đát” với nữ thư kí riêng của ông ta, chúng ta thấy giám đốc ở vị thế cao hơn về chức

vụ trong quan hệ công việc, nhưng lại ở vị thế thấp hơn về phương diện hình thức, tuổitác trong quan hệ “tình cảm”

Giống như quan hệ khác trong thang độ, quan hệ vị thế cũng không đối xứng Nếu A

>B thì B<A, thế là bất đối xứng Nếu A ở vị thế trên B thì B ở vị thế dưới A, thế cũng

là bất đối xứng Do vậy cách xưng hô cũng bất đối xứng A gọi B là bác thì B gọi A làcháu (trong những hoàn cảnh xác định, B có thể gọi A là anh, chị)

Trang 33

Quan hệ vị thế phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như cương vị xã hội, giới tính,tuổi tác, … chẳng hạn ở các nước phương Đông coi trọng triết lí Khổng giáo nhưTrung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam có những tôn ti như “quân – sư – cụ”,những tầng bậc cao thấp như quân – thần, phu – phụ, phu – tử, huynh – đệ,… tầmquan trọng của những phương diện này ở mội dân tộc mỗi khác Trong xã hội Ấn Độ,người ta đặc biệt coi trọng phương diện đẳng cấp, ở đó có những quy định nghiêmngặc về các quan hệ hôn nhân, giao tiếp Người Việt và các dân tộc ít người ở ViệtNam rất coi trọng tuổi tác Trong những buổi bảo vệ luận án, chúng ta thường nghethấy những lời cảm ơn như “xin chân thành cảm ơn giáo sư X mặc dù bận rộn nhiềucông việc và đã cao tuổi vẫn vui lòng tham dự hội đồng bảo vệ luận án này …” Thậmchí, trong xã hội Hiđi, một đứa bé chỉ cần tới 5 tuổi là đã đủ để những người khác

không được gọi mình theo tên tục, kể cả xưng hộ giữa anh em

Về nguyên tắc, khi mới bắt đầu hội thoại giữa những người chưa quen biết, có sự bìnhđẳng về vị thế Một ông vua khi vi hành vẫn chỉ trong quan hệ “tôi - bác”, “bác – tôi”với mọi người Chỉ sau khi xuất hiện các yếu tố khách quan và nội tại mới hình thànhquan hệ vị thế Và những quan hệ này có thể thay đổi trong quá trình giao tiếp Chính

vì để tránh sự vi phạm về quan hệ vị thế mà người Inđonêxia ngay từ đầu cuộc thoại cóthói quen hỏi nhau về quan hệ vị thế

Quan hệ vị thế cũng phụ thuộc vào các yếu tố nội tại trong tương tác lời nói Chúngmang dấu ấn cá nhân như sự nắm vững ngôn ngữ, “lợi khẩu” – có tài ăn nói, hùng biện– khẩu khí và cả âm lượng (giọng sang sảng, giọng sang hay hèn, giọng tự tin hay tựti…)

Có rất nhiều dấu hiệu thể hiện quan hệ vị thế, bằng lời và cử chỉ, điệu bộ Hầu như mọiyếu tố trong hội thoại đều thể hiện quan hệ vị thế

1.4.4 NGUYÊN LÍ HỘI THOẠI VÀ PHÉP LỊCH SỰ:

1.4.4.1 NGUYÊN LÍ CỘNG TÁC:

Trong hội thoại, các nhân vật giao tiếp phải thể hiện mình là những người có tinh thần cộng tác, tức phải có nguyên tắc Cộng tác hội thoại Nguyên tắc hội thoại được thể hiện bằng bốn phương châm hội thoại Đó là:

Trang 34

- Phương châm về lượng: hãy làm cho phần đóng góp của anh (chị) có lượng tin đáp ứng đủ như đòi hỏi có chủ đích của cuộc hội thoại.

- Phương châm về chất: hãy làm cho phần đóng góp của anh (chị) là đúng Cụ thể là đừng nói điều gì anh (chị) tin rằng không đúng Đừng nói điều gì anh (chị) không đủ bằng chứng

- Phương châm quan hệ: hãy làm cho phần đóng góp của anh (chị) có dính líu đến câu chuyện đang diễn ra

Đáp ứng được phương châm về quan hệ, các nhân vật giao tiếp sẽ làm cho các diễn ngôn trong hội thoại có tính liên kết với nhau Hội thoại đòi hỏi giữa diễn ngôn của những người tham gia hội thoại phải có sự liên kết Nếu thiếu tính liên kết giữa các diễn ngôn hội thoại, chúng ta sẽ có cuộc hội thoại giữa những người điếc “ông nói gà,

bà nói vịt” Sự liên kết trong hội thoại không chỉ thể hiện ở nội dung, hình thức như các văn bản (dạng viết) mà còn phải có sự liên kết giữa các hành vi ngôn ngữ của các nhân vật hồi thoại

- Phương châm cách thức: hãy nói cho rõ ràng; tránh lối nói tối nghĩa, tránh lối nói mập mờ, mơ hồ về nghĩa, nói ngắn gọn, nói có trật tự

1.4.4.2 NGUYÊN LÍ LỊCH SỰ:

1.4.4.2.1 NGUYÊN LÍ LỊCH SỰ QUY ƯỚC:

Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia có những quy ước, nghi thức giao tiếp được công đồngchấp nhận và tuân theo Có những nghi thức giao tiếp mang tính phổ quát, chung chonhiều dân tộc như: chào hỏi khi gặp nhau, cám ơn khi được người khác giúp đỡ, xinlỗi khi làm phiền người khác… Có những nghi thức giao tiếp mang tính khu vực và cónhững nghi thức riêng biệt, đặc trưng cho từng dân tộc Người sử dụng ngôn ngữ, dù làbản ngữ hay là ngoại ngữ, đều cần có những hiểu biết về những nghi thức giao tiếpchung cũng như riêng của các dân tộc

Có thể thấy rõ biểu hiện của lịch sự quy ước trong tiếng Việt qua những quy ước, nghi thức xưng hô buộc những người giao tiếp phải tuân theo Việc xưng hô trong giao tiếp của người Việt phải được chú ý để thõa mãn quan hệ liên cá nhân theo hai trục quan hệ:

Trang 35

Nguyên tắc lịch sự chiến lược còn được thể hiện qua phương châm khiêm tốn tronghội thoại Phương châm khiêm tốn đòi hỏi người giao tiếp cần tránh nói nhiều đến cáitôi cá nhân, tránh ca ngợi bản thân quá nhiều.

1.4.5 MỘT SỐ ĐOẠN THOẠI:

Sáng nay một bệnh nhân nam 50 tuổi, làm ruộng, quê ở Tiền Giang đến khám bệnh xinthử mỗi đường huyết Mình mới hỏi:

- Sao chú muốn thử đường huyết?

- Vì tôi sụt cân nhanh, người ta nói do bệnh tiểu đường

- Đã bỏ công từ quê lên đây, sao chú không khám tổng quát luôn? Giả sử thử máu có kết quả bị đái tháo đường thì cũng phải xem chức năng gan, chức năng thận, và đánh giá biến chứng mới điều trị được chứ

Mình vừa giải thích vừa nhìn bệnh nhân, và mình hiểu vẻ ngập ngừng đắn đo ấy, có lẽ bệnh nhân nghèo

Trang 36

- Dạ, thử hết mấy thứ đó bao nhiêu bác sĩ?

- Bệnh viện công giá rẻ lắm Chú đi thử đi

Khi mình cầm kết quả phim phổi trên tay, tự nhiên mình nghẹn lời Dù rằng mỗi ngày mình tiếp xúc với rất nhiều bệnh nhân với đủ loại bệnh tật khác nhau

- Chú hút thuốc nhiều không?

- Cỡ 1 gói 1 ngày Bữa nào buồn hút nhiều hơn

- Chú uống rượu nhiều không?

- Mỗi ngày, nhưng chủ yếu vui chơi với anh em, người vài xị

- Cháu cũng hy vọng là lao Nhưng

- Bác sĩ cứ nói đại đi Tôi ở quê lên khám bệnh cực lắm

- Cháu cũng nghĩ đây là khối u Nhưng chú biết đó, có u lành u ác Mà u ác bây giờ có thể trị được

- Ý bác sĩ là ung thư phổi hả?

- Chưa chắc đâu Phải làm thêm xét nghiệm, sinh thiết mới có thể kết luận

Một khoảng im lặng kéo dài Mình nhìn khuôn mặt bệnh nhân từ trắng bệch chuyển sang tím tái và khoảng 15 phút sau mới trở lại như bình thường

- Ung thư phổi thì sống được bao lâu bác sĩ?

Trang 37

- Chưa chắc đây là ung thư Nhưng nếu là ung thư thì có thể vài tháng, vài năm Tuỳ vào cơ địa mỗi người, tuỳ vào đáp ứng điều trị.

- Tại sao lại là tôi chứ?

- Tại sao không là chú?

- Tại

Lại một khoãng im lặng kéo dài Mình không nỡ mời bệnh nhân kế tiếp dù sáng thứ hai rất đông

- Tôi về bỏ thuốc lá và rượu có thể cứu vãn được không?

- Cháu nghĩ, bỏ được thì tốt Nhưng bây giờ việc này không còn ý nghĩa nữa rồi

Mình vẫn hay tự hỏi: Rượu bia và thuốc lá có điều gì hấp dẫn đến vậy, nhưng không

có câu trả lời

Lúc trước mình còn ngạc nhiên khi thấy Việt Nam là nước tiêu thụ rượu bia và thuốc

lá lớn nhất thế giới, bây giờ thì mình không còn ngạc nhiên nữa Vì đã hiểu một phần

"Vui cũng nhậu, buồn cũng nhậu, không vui không buồn cũng nhậu", hình như rất đúng khi mô tả con người Việt Nam Mỗi chiều tối đi làm về thấy quán nhậu nào cũng đông nghẹt khách Hết chén chú rồi đến chén anh

Rồi một ngày nào đó bệnh tật kéo đến Có những bệnh có thể chữa lành, có những bệnh tiền mất rất nhiều nhưng không thể cứu vãn Dù vẫn biết ung thư là "trời kêu ai nấy dạ", nhưng mình không tin là mỗi ngày mình sống không tác động gì đến nó Bạn thử nhìn xem, một người béo phì, ăn nhiều lười tập thể dục làm sao mà không đủ thứbệnh về chuyển hoá, một người suốt ngày hút thuốc uống rượu làm sao tránh khỏi ung thư phổi, xơ gan? May mắn lắm cơ địa người đó đặc biệt

- Bây giờ tôi phải làm sao?

- Bây giờ cháu cho thuốc tiểu đường cho chú, còn bệnh phổi chú phải qua bên Phạm Ngọc Thạch, bên đó chuyên hơn

Trang 38

- Bác sĩ có thể nói cho tôi biết, tôi có thể sống bao lâu nữa không để tôi thu xếp nhà cửa.

- Cháu nói thật, không dám chắc chắn về điều gì Có những thứ hôm nay đúng, ngày mai lại sai Có những thứ ngỡ là phước nhưng lại là hoạ Điều quan trọng bây giờ không phải là chú sống bao lâu, mà sống có thật sự sâu hay chưa?

- Bác sĩ Tôi Tôi chưa từng nghĩ đến điều đó

- Chú có bao giờ quan tâm đến những đứa con mình? Chú có nghĩ rằng một lời hỏi hancủa chú thôi đủ làm họ hạnh phúc?

- Ơ

- Vậy đó, sống sâu là sống với những điều nhỏ bé đơn giản như thế đó Cuộc sống vôthường và con người ai mà không có bệnh có tử Sau giai đoạn choáng rồi, chú sẽ chấpnhận được thôi Từ chấp nhận đến quay lại nhìn về chính mình gần trong gang tấc

- Cám ơn bác sĩ

- Chú ấy là gì của anh?

- Cha ruột

- Anh có hay đưa chú đi khám bệnh không?

- Bận lắm bác sĩ ơi, với lại ở xa nhau

- Anh có biết ba anh bị ung thư phổi?

Trang 39

- Dạ

- Ông ấy hút thuốc nhiều lắm không?

- Chẳng những hút thuốc còn uống rượu Mỗi khi say xỉn về là đập phá nhà cửa chửibới vợ con Tôi nói thiệt từ nhỏ đến giờ ổng chưa dạy tôi bất cứ điều gì Anh em tôichẳng được đi học

- Bệnh này điều trị tốn kém lắm Về mua bảo hiểm gấp đi Được đồng nào hay đồngđó

- Dạ

Nhìn hai cha con bước ra khỏi phòng khám mà lòng mình chùng xuống Mình mong

có phép lạ xảy ra, bởi một người con chí hiếu không bao giờ người bạn cuộc sống lạilàm ngơ

- Dù xấu hay tốt ổng cũng là cha của mình Câu nói ấy theo đuổi mình tới tận giờ này!

(Theo Suckhoedoisong)

Trong thời kì công nghệ thông tin phát triển như hiện nay, con người có thể trò chuyệnvới nhau thông qua mạng Internet Ở các cuộc hội thoại này, các vai giao tiếp dùng

Trang 40

“lời nói viết” làm các lượt lời “Lời nói viết” (chúng tôi gọi) ở đây chính là ngôn ngữ

“chat”

CHƯƠNG 2: NGÔN NGỮ “CHAT”

2.1 VÀI NÉT VỀ NGÔN NGỮ “CHAT”:

Từ cột mốc lịch sử ngày 16/4/1993 mạng đi động đầu tiên ở Việt Nam chính thức đi vào hoạt động và đến ngày 19/11/1997 thì Việt Nam chính thức hòa mạng Internet Từ

đó, Việt Nam tiến lại gần hơn các nước trên trường quốc tế, mang lại vô vàng những tiện ích và những ứng dụng có giá trị sử dụng cao, giải phóng sức lao động của con người trên nhiều lĩnh vực Song, bên cạnh đó, Internet cũng mang lại không ít những mặt hạn chế

Chỉ cần một chiếc điện thoại, hay một chiếc máy tính có kết nối mạng thì mọi người

có thể dễ dàng kết bạn và giao lưu, chia sẻ thông tin một cách nhanh chóng

Tuy nhiên, như một quy luật phát triển tất yếu, khi mà việc sử dụng điện thoại di động,máy tính ngày càng trở nên thông dụng, việc giao tiếp, trao đổi thông tin càng trở nên thuận tiện hơn thì ẩn đằng sau những tiện ích đó lại là những hậu quả vô cùng to lớn,

mà một trong những hậu quả đó chính là sự xuất hiện của ngôn ngữ “chat”

Ngôn ngữ “chat” là gì? Đây là một thuật ngữ mới xuất hiện trong những năm gần đây Ngôn ngữ “Chat” còn gọi là ngôn ngữ “teen” hay ngôn ngữ thời @, là một ngôn ngữ dùng để nhắn tin do giới trẻ hiện nay tạo ra Nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt giao tiếphằng ngày

Cách đây một vài năm - "thời đại sơ khai" của ngôn ngữ “chat”, các bạn trẻ chỉ nghĩ đơn giản rằng biết loại ngôn ngữ này để thể hiện được cá tính và phong cách của mình,

Ngày đăng: 20/07/2021, 07:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w