Đánh giá về thực trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm, có các nghiêncứu sau: Về hành vi và ý thức của người tiêu dùng về vệ sinh an toàn thực phẩm: Genevie Eleanor Rubya và các cộng sự 20
Trang 1Hà Nội - 2019
Họ và tên: Trịnh Thị Ngọc Ánh
Mã SV: 18050409 Lớp: QH2018E KTQT CLC 5
BÀI TẬP CUỐI KỲ MÔN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ
Đề tài: Thực trạng mất an toàn vệ sinh thực phẩm
tại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2019
Trang 21 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
b Phạm vi nghiên cứu 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC TRẠNG MẤT AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2014 – 2019 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về thực trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm tại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2019 4
1.2 Cơ sở lý luận về thực trạng mất an toàn vệ sinh thực phẩm tại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2019 9
1.2.1 Định nghĩa 9
1.2.2 Tầm quan trọng của an toàn vệ sinh thực phẩm 10
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
2.1 Phương pháp thu thập số liệu 12
2.2 Phương pháp xử lý số liệu 12
Chương 3 THỰC TRẠNG VỀ MẤT AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2014 – 2019 13
Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2014 - 2019 21
KẾT LUẬN 24
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực phẩm là một trong những nhu cầu thiết yếu cho sự tồn tại của người tiêu dùng Với thực trạng nhu cầu sử dụng thực phẩm ngày càng cao của con người thì vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm là một vấn đề cótầm quan trọng đặc biệt Bên cạnh đó, an toàn thực phẩm cũng là một trong những vấn đề mà Đảng, Nhà nước ta từ lâu đặc biệt quan tâm, coi đây là một vấn đề có ý nghĩa lớn về kinh tế, xã hội, sức khỏe cộng đồng, về bảo vệ môi trường và cũng là vấn đề có ảnh hưởng lớn đến tiến trình hội nhập của Việt Nam
Tuy nhiên, hiện nay, vệ sinh an toàn thực phẩm đang là một vấn đề đáng báo động Mất an toàn vệ sinh thực phẩm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và gây ra một số bệnh như ngộ độc thực phẩm, tiêu chảy, ung thư
và thậm chí là tử vong Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm trên toàn thế giới, thực phẩm không an toàn gây ra 600 triệu trường hợp ngộ độc thực phẩm và 420000 trường hợp tử vong, 30% trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm xảy ra ở trẻ em dưới 5 tuổi WHO ước tính rằng con người sẽ
bị mất 33 triệu năm sống lành mạnh do ăn thực phẩm không đảm bảo trên toàn cầu mỗi năm Theo số liệu của Bộ Y tế, Việt Nam đang là một trong những nước có tỷ lệ ung thư tăng cao nhất trên thế giới, chiếm tới 35% Riêngtrong 6 tháng đầu năm 2019, toàn quốc đã xảy ra 30 vụ ngộ độc thực phẩm với 806 người mắc, 798 người đi viện, khiến 5 người tử vong
Tuy nhiên hiện nay chưa có bài nghiên cứu nào có cái nhìn cụ thể, toàn diện về thực trạng, nguyên nhân và giải pháp của vấn đề vệ sinh an toàn thực
phẩm Chính vì vậy, em chọn để tài “Thực trạng mất vệ sinh an toàn thực
phẩm tại Việt Nam, giai đoạn 2014 - 2019” để thực hiện bài nghiên cứu này
với mục đích đánh giá thực trạng vệ sinh an toàn thực phẩm, nguyên nhân và tác hại của việc mất vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 42 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu: phản ánh thực trạng vệsinh an toàn thực phẩm tại Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2019
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất: Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về vệ sinh an toàn thực phẩm.
Thứ hai: Tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến mất vệ sinh an toàn thực phẩm tại
Việt Nam
Thứ ba: Nghiên cứu thực trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm tại Việt Nam
giai đoạn 2014-2019
Thứ tư: Đề xuất giải pháp giúp nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực
phẩm tại Việt Nam
3 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến thực trạng mất an toàn vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam?
Câu hỏi 2: Thực trạng của việc mất vệ sinh an toàn thực phẩm tại Việt Nam giai đoạn 2014-2019 như thế nào?
Câu hỏi 3: Những giải pháp nào có thể nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm tại Việt Nam?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài là vệ sinh an toàn thực phẩm tại Việt Nam
Trang 55 Kết cấu bài nghiên cứu
Kết cấu của bài nghiên cứu gồm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về thựctrạng mất an toàn vệ sinh thực phẩm tại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2019
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Thực trạng về mất vệ sinh an toàn thực phẩm tại Việt Namgiai đoạn 2014 – 2019
Chương 4 Một số giải pháp nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thựcphẩm tại Việt Nam giai đoạn 2014 - 2019
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC TRẠNG MẤT AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM TẠI VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 2014 – 2019 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về thực trạng mất vệ sinh
an toàn thực phẩm tại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2019.
Mất vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề cấp thiết và nhận được sựquan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới
Đánh giá về thực trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm, có các nghiêncứu sau:
Về hành vi và ý thức của người tiêu dùng về vệ sinh an toàn thực phẩm:
Genevie Eleanor Rubya và các cộng sự (2019) đã tìm hiểu và dự đoán ýđịnh của người tiêu dùng trưởng thành đối với xử lý an toàn thực phẩm tạinhà ở Malaysia Điểm mới của bài nghiên cứu là áp dụng mô hình PLSSEMbằng cách tiếp cận hai bước; ngoài ra còn sử dụng mô hình TBP Kết quả thựcnghiệm cho thấy thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vicủa người tiêu dùng có ý nghĩa thống kê và liên quan tích cực đến ý định xử
lý an toàn thực phẩm Hơn nữa, kết quả chỉ ra rằng yếu tố dự đoán chính của
ý định xử lý thực phẩm an toàn của người tiêu dùng là tiêu chuẩn chủ quan.Nghiên cứu này đã xác nhận rằng kiến thức an toàn thực phẩm có tác độngtích cực đến thái độ của người tiêu dùng Hạn chế của bài nghiên cứu là sửdụng phương pháp khảo sát để tăng xác suất của kết quả nhưng lại giới hạnkhả năng giải thích về nguyên nhân – kết quả.[1]
Rongduo Liu và các cộng sự (2013) đã tiến hành đánh giá quá trình raquyết định của người tiêu dùng Trung Quốc liên quan đến an toàn thực phẩm
Trang 7Thông qua việc đánh giá này, bài báo đã đưa ra các vấn đề cho ngành côngnghiệp thực phẩm, các nhà hoạch định chính sách thực phẩm và nhà nghiêncứu khoa học thảo luận trong tương lai Bài báo chỉ ra rằng người tiêu dùngTrung Quốc có nhận thức cao về an toàn thực phẩm nhưng có kiến thức hạnchế về khái niệm an toàn thực phẩm, nhận thức thấp về các nhãn hàng có liênquan và khả năng xác định thực phẩm an toàn còn hạn chế Mặc dù vậy ngườitiêu dùng Trung Quốc thường có thái độ tích cực đối với thực phẩm, đặc biệt
là về sự an toàn, chất lượng, dinh dưỡng và hương vị của chúng Họ sẵn sàngtrả nhiều tiền hơn cho các loại thực phẩm an toàn.[2]
Barbara Mullan và các cộng sự (2016) nghiên cứu xác định hiệu quảcủa mô hình lý thuyết động lực bảo vệ (PMT) đối với bốn hành vi xử lý thựcphẩm: nấu thực phẩm đúng cách, giảm ô nhiễm chéo, giữ thực phẩm ở nhiệt
độ chính xác và tránh thực phẩm không an toàn Đây là bài nghiên cứu đầutiên áp dụng và xác định hiệu quả của lý thuyết động lực bảo vệ trong bốicảnh an toàn thực phẩm Dữ liệu thu được từ 206 người tham gia khảo sát chothấy mô hình PMT chiếm từ 40 đến 48% trong động lực thực hiện từng hành
vi trong bốn hành vi xử lý thực phẩm an toàn Mối quan hệ giữa năng lực bảnthân và động lực bảo vệ là nhất quán nhất trong bốn hành vi Tuy nhiên, mụcđích của nghiên cứu này chỉ nhìn vào tiền thân của động lực bảo vệ nênnghiên cứu hiện tại không đo lường được hành vi, không xác định được liệu
sự khác biệt trong động lực có dẫn đến hành vi xử lý an toàn thực phẩm haykhông.[3]
Thanh Mai Ha và các cộng sự (2019) nghiên cứu mối quan hệ giữa việcthu thập thông tin về các sự cố thực phẩm, niềm tin lâu đời và nhận thức vềrủi ro an toàn thực phẩm của người tiêu dùng Hà Nội Đây là bài nghiên cứuđầu tiên về mối quan hệ giữa ba yếu tố Thông qua việc sử dụng kết hợp các
mô hình đo lường, mô hình kết cấu và mô hình SEM, bài báo xác minh đượcmối quan hệ giữa sự nhận thức về rủi ro an toàn thực phẩm, niềm tin và thông
Trang 8tin về các sự cố thực phẩm Niềm tin trực tiếp làm giảm nhận thức về rủi rocủa những loại thực phẩm phổ biến và gián tiếp làm giảm nhận thức rủi ro vềthực phẩm nói chung Ngoài ra, niềm tin vào các nhà cung cấp và quản lýthực phẩm tại Việt Nam rất thấp.[4]
S Samapundo và các cộng sự (2016) đã tiến hành đánh giá kiến thức,thái độ và thực hành của người tiêu dùng và người bán thực phẩm đường phốtại thành phố Hồ Chí Minh Điểm mới của bài nghiên cứu này là tiến hành sosánh 2 nhóm đối tượng: người tiêu dùng và nhà cung cấp thực phẩm đườngphố bằng phương pháp cố định hiệu ứng ANOVA Người tiêu dùng đượckhảo sát có đủ kiến thức về an toàn thực phẩm, hầu hết họ được giáo dục ítnhất là hết cấp 3, trong khi đó phần lớn các nhà cung cấp thức ăn đường phốđược phỏng vấn trong nghiên cứu này có hiểu biết kém về an toàn thực phẩm,trình độ học vấn thấp và không có bất cứ khóa huấn luyện chính thức nào vềtrình độ hiểu biết vệ sinh an toàn thực phẩm Hạn chế của bài báo là mới chỉđưa ra các biện pháp nâng cao kiến thức thái độ an toàn thực phẩm cho cácnhà cung cấp thực phẩm mà chưa đưa ra biện pháp nào cho người tiêu dùng ,bên cạnh đó các biện pháp đưa ra còn hạn chế và chưa cụ thể.[5]
Thanh Mai Ha và các cộng sự (2019) đã phân tích mối quan tâm củangười tiêu dùng về an toàn thực phẩm và các yếu tố quyết định của nó Antoàn thực phẩm chính là mối quan tâm của đại đa số người mua thực phẩm tại
Hà Nội Người tiêu dùng lo lắng rất nhiều về các mối nguy thực phẩm khácnhau, đặc biệt là mối nguy hiểm về hóa học, thứ được coi là mối nguy hiểm
vô hình, có ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng tới sức khỏe Nghiên cứu đãlàm sáng tỏ sự khác biệt về mối quan tâm an toàn thực phẩm giữa các khuvực Mối quan tâm về an toàn thực phẩm ở nông thôn là thấp hơn so với ở đôthị ở thành thị, mức độ lo lắng về an toàn thực phẩm là cao hơn do khả năng
tự cung cấp còn hạn chế Tuy nhiên, các giải pháp bài báo đưa ra còn chungchung, chưa cụ thể.[6]
Trang 9Về nguyên nhân gây mất vệ sinh an toàn thực phẩm:
Sokunrotanak Srey và các cộng sự (2013) đã nghiên cứu về sự hìnhthành màng sinh học trong ngành công nghiệp thực phẩm, cũng như khả nănghình thành màng sinh học của các vi sinh vật khác nhau và ảnh hưởng của cácvật liệu đóng gói tiếp xúc với thực phẩm đến sự hình thành màng sinh học.Bài báo áp dụng quy trình Clean In Place (CIP) Các vi sinh vật gây bệnhtrong màng sinh học hình thành trong các ngành công nghiệp thực phẩm khácnhau là nguồn gây ô nhiễm thực phẩm Bất kỳ loại vi sinh vật nào, bao gồm
cả những vi khuẩn gây hư hỏng và vi sinh vật gây bệnh, có thể hình thànhmàng sinh học và là nguyên nhân chính gây ra nhiều bệnh nhiễm trùng Sựhình thành và phát triển của màng sinh học bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố,bao gồm chủng vi khuẩn đặc trưng, tính chất vật liệu bề mặt và các thông sốmôi trường như độ pH, mức độ dinh dưỡng và nhiệt độ.[7]
Vivian Hoffmann và các cộng sự (2019) tiến hành nghiên cứu thựcnghiệm về sự an toàn của thực phẩm được sản xuất và tiêu thụ ở các nước thunhập thấp và trung bình Điểm mới của bài nghiên cứu là xem xét thực trạng
vệ sinh an toàn thực phẩm qua lăng kính kinh tế Bài báo chỉ ra các yếu tố gópphần gây ra vấn đề an toàn thực phẩm ở các nước thu nhập thấp và trung bình.Những yếu tố này bao gồm: nhận thức hạn chế của người tiêu dùng và khảnăng chi trả cho an toàn thực phẩm; thiếu sự khuyến khích đầu tư vào an toànthực phẩm dọc theo chuỗi cung ứng thực phẩm, từ nông dân đến nhà tổnghợp, nhà chế biến, nhà cung cấp dịch vụ thực phẩm và nhà bán lẻ; và điểmyếu của các tổ chức công cộng chịu trách nhiệm pháp lý.[8]
Yonglong Lu và các cộng sự (2015) nghiên cứu ảnh hưởng của sự ônhiễm đất và nước đến an toàn thực phẩm và rủi ro về sức khỏe ở TrungQuốc Bài báo đưa ra một bản đồ toàn diện về các mối đe dọa ô nhiễm đất và
Trang 10nước đối với an toàn thực phẩm ở Trung Quốc và các chính sách tích hợp giảiquyết ô nhiễm đất và nước để đảm bảo an toàn thực phẩm Bằng Phương pháptiếp cận hệ thống và Phương pháp bộ dữ liệu, tác giả chỉ ra rằng sự kết hợpgiữa ô nhiễm và nguy cơ an toàn thực phẩm ngày càng tăng đã ảnh hưởng đếnmột bộ phận lớn dân số Trung Quốc Sự khan hiếm nước, sử dụng thuốc trừsâu quá mức và các chất ô nhiễm hóa học được coi là những yếu tố quantrọng nhất ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm ở Trung Quốc Các tác động tiêucực ngày càng tăng đối với an toàn thực phẩm từ ô nhiễm nước và đất đãkhiến nhiều người có nguy cơ mắc các bệnh gây ung thư, nhất là ở những khuvực sản xuất thực phẩm chính Hạn chế là chưa có dữ liệu phù hợp để phântích ở một số nơi như Hồng Kông, Đài Loan và Macao.[9]
Ilaria Proietti và các cộng sự (2014) đã nghiên cứu xác định các mốinguy hại về độc tính của thực phẩm đường phố ở các nước đang phát triển.Điểm mới của bài báo là đề xuất các điểm chú ý cụ thể cho việc chuẩn bị đồ
ăn lề đường và bán hàng di động Tất cả các bước sản xuất và bán hàng thức
ăn đường phố có thể dễ bị nhiễm khuẩn, từ việc lựa chọn nguyên liệu thô, chođến lưu trữ và chuẩn bị đồ ăn và thậm chí là nơi bán hàng di động, ngoài trời,thường tiếp xúc với các chất ô nhiễm đô thị Các ví dụ có liên quan như là cácthành phần rẻ tiền với dư lượng bất hợp pháp hoặc không mong muốn, cácchất phát sinh trong các mặt hàng do bảo quản kém (ví dụ, mycotoxin,histamine), kim loại lọc từ dụng cụ nấu ăn và xử lý các chất gây ô nhiễm nhưPAHs và acrylamide.[10]
Tóm lại 10 bài nghiên cứu trên đã đưa ra được những nhân tố, mô hìnhảnh hưởng đến hành vi, nhận thức của người tiêu dùng về an toàn vệ sinh thựcphẩm và nguyên nhân gây ra mất an toàn vệ sinh thực phẩm ở một số nước.Hành vi, nhận thức, quyết định của người tiêu dùng về vệ sinh an toàn thựcphẩm bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như mô hình lý thuyết động lực bảo vệ,việc thu thập thông tin về vệ sinh an toàn thực phẩm, niềm tin lâu đời Một
Trang 11số nguyên nhân gây mất an toàn vệ sinh thực phẩm như các nguyên nhân vềhóa học, hạn chế về nhận thức của người tiêu dùng, điểm yếu của các nhàquản lý
Các bài nghiên cứu đã sử dụng đa dạng các mô hình và phương phápnghiên cứu để đưa ra được các kết quả như trên Tuy nhiên bên cạnh đó, 10bài báo vẫn còn những hạn chế về dữ liệu, chưa đưa ra được các giải pháp cụthể, toàn diện
1.2 Cơ sở lý luận về thực trạng mất an toàn vệ sinh thực phẩm tại
Việt Nam giai đoạn 2014 – 2019.
1.2.1 Định nghĩa
Thực phẩm:
Là những thức ăn, đồ uống của con người dưới dạng tươi sống hoặc đã qua
sơ chế, chế biến, bao gồm cả đồ uống, nhai, ngậm và các chất đã được sửdụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm Đáp ứng cho nhu cầu của cơ thểcung cấp năng lượng, các vitamin và khoáng chất giúp con người có thểsinh tồn và phát triển
Vệ sinh thực phẩm:
Là một khái niệm khoa học để nói thực phẩm không chứa vi sinh vật gâybệnh và không chứa độc tố Ngoài ra khái niệm vệ sinh thực phẩm còn baogồm cả nội dung như tổ chức vệ sinh trong vận chuyển chế biến và bảoquản thực phẩm Là mọi điều kiện và biện pháp cần thiết để đảm bảo sự antoàn và phù hợp của thực phẩm ở mọi khâu thuộc chu trình thực phẩm
An toàn thực phẩm:
Là sự đảm bảo thực phẩm không gây hại cho người tiêu dùng, nó an toàn
từ lúc chế biến cho tới khi được đưa vào sử dụng
Trang 12Vệ sinh an toàn thực phẩm:
Là tất cả mọi điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảoquản, phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm đảm bảo cho thựcphẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người tiêudùng
Vì vậy, vệ sinh an toàn thực phẩm là công việc đòi hỏi sự tham gia củanhiều ban ngành, nhiều khâu có liên quan đến thực phẩm như nôngnghiệp, thú ý, cơ sở chế biến thực phẩm, y tế, môi trường người tiêudùng…
1.2.2 Tầm quan trọng của an toàn vệ sinh thực phẩm
- Đối với sức khỏe
An toàn vệ sinh thực phẩm là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt đối vớisức khỏe con người, được toàn xã hội quan tâm Thực phẩm an toàn đónggóp to lớn đối với việc cải thiện sức khỏe con người và chất lượng cuộcsống
Được tiếp cận với thực phẩm an toàn đang trở thành quyền cơ bản đốivới mỗi con người An toàn vệ sinh thực phẩm không chỉ ảnh hưởng trựctiếp thường xuyên đến sức khỏe con người mà còn liên quan chặt chẽ đếnnăng suất hiệu quả phát triển kinh tế, thương mại, du lịch và an sinh xãhội Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm sẽ tăng cường nguồn lực, thúcđẩy phát triển và thúc đẩy xóa đói giảm nghèo
Thực phẩm mất vệ sinh không an toàn không chỉ gây nên ngộ độc cấptính một cách ồ ạt dễ nhận thấy mà còn phải kể đến các bệnh mãn tính độc
tố tích tụ từ từ vào trong cơ thể gây suy kiệt sức khỏe do nhiễm và tích lũycác chất độc hại như chì, thủy ngân, asen, thuốc bảo vệ thực vật, các chất
Trang 13kích thích, chất tạo nạc, chất tăng trọng ở động vật, phẩm màu độc vớilượng nhỏ nhưng kéo dài thời gian sử dụng, đặc biệt là các độc tố vi nấmnhư afltoxin trong ngô, đậu, lạc mốc có thể gây ung thư.
Gần đây trên báo chí, những tin y học cảnh báo bệnh ung thư đang tăngmột cách đáng báo động mà một trong những nguyên nhân chủ yếu là do
ăn những thực phẩm chứa chất độc hại Về lâu dài thực phẩm không chỉ cónhững tác động thường xuyên đến sức khỏe con người mà còn ảnh hưởngđến nòi giống Vấn đề nguy hiểm là sự tích lũy dần các chất độc hại ở một
số cơ quan trong cơ thể, sau một thời gian, bệnh mới biểu hiện hoặc có thểgây các dị tật, dị dạng cho thế hệ mai sau
- Đối với kinh tế - xã hội
Đối với nước ta cũng như nhiều nước đang phát triển, lương thực thựcphẩm là một loại sản phẩm chiến lược, ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ýnghĩa chính trị, xã hội rất quan trọng
Vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trườngquốc tế Để cạnh tranh trên thị trường quốc tế, thực phẩm không nhữngcần được sản xuất, chế biến, bảo quản phòng tránh ô nhiễm các loại vi sinhvật mà còn không được chứa các hóa chất hóa học tổng hợp hay tự nhiênvượt quá mức quy định cho phép của tiêu chuẩn quốc tế hoặc quốc gia,gây ảnh hưởng đến sức khỏe tiêu dùng
Những thiệt hại khi không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm gây nênnhiều hậu quả khác nhau, từ bệnh cấp tính, mãn tính đến tử vong Thiệt hạichính do các bệnh gây ra từ thực phẩm đối với cá nhân là chi phí khámbệnh, phục hồi sức khỏe, chi phí do phải chăm sóc người bệnh, sự mất thunhập do phải nghỉ làm Đối với nhà sản xuất, đó là những chi phí do phảithu hồi, lưu giữ sản phẩm, hủy hoặc loại bỏ sản phẩm, những thiệt hại do
Trang 14mất lợi nhuận do thông tin quảng cáo… và thiệt hại lớn nhất là mất lòngtin của người tiêu dùng Ngoài ra còn có các thiệt hại khác như phải điềutra khảo sát, phân tích, kiểm tra độc hại, giải quyết hậu quả…
Do vậy, vấn đề bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm để phòng các bệnhgây ra từ thực phẩm có ý nghĩa thực tế rất quan trọng trong sự phát triểnkinh tế và xã hội, bảo vệ môi trường sống của các nước đã và đang pháttriển, cũng như nước ta
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Ở chương 1 và 3, bài nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thu thập số liệu
Phân loại dữ liệu
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu định lượng: phản ánh mức độ, hơn kém
và được biểu hiện trực tiếp bằng con số Loại dữ liệu này được thể hiện bằng chính các con số đã thu thập được trong quá trình thực hiện bài nghiên cứu như số người bị ngộ độc thực phẩm