Những vấn đề cơ bản như phân loại đất và phân hạng đất đai nông nghiệp vẫn còn được đặt ra; tuy nhiên, do yêu cầu thực tế ngày một nâng cao nên việc ứng dụng kỹ thuật và công nghệ trên n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
TỈNH HẬU GIANG
ĐẶNG TRUNG THÀNH
Hội đồng chấm luận văn:
1 Chủ tịch: TS NGUYỄN VĂN TÂN
Đại học Nông Lâm TP HCM
Phân viện Quy họach – Thiết kế NN miền Nam
3 Phản biện 1: PGS.TS PHAN LIÊU
Viện nghiên cứu cây có dầu tại TP HCM
4 Phản biện 2: TS ĐÀO THỊ GỌN
Đại học Nông Lâm TP HCM
5 Ủy viên: PGS.TS HUỲNH THANH HÙNG
Đại học Nông Lâm TP HCM
ĐIỂM LUẬN ÁN TỐT NGHIỆP: 9.0 (chín điểm)
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HIỆU TRƯỞNG
Trang 4Email: thanhniaap2003@yahoo.com Fax: 08.8.204039
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
ĐẶNG TRUNG THÀNH
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này, Tôi đã nhận được sự giúp đỡ vô cùng to lớn của quý thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, cơ quan, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành đến:
- Quý Thầy cô giáo Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ Tôi trong thời gian học tập và thực hiện đề tài
- PGS TS Huỳnh Thanh Hùng (Đại học Nông Lâm, thành phố Hồ Chí Minh) đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện
đề tài
- Phòng Quản lý Đào tạo Sau Đại học - Đại học Nông Lâm, thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện tốt cho tôi trong suốt khoá học và thời gian thực hiện đề tài
- Lãnh đạo Phân Viện Quy hoạch - Thiết kế Nông nghiệp và cán bộ Trung tâm Bản đồ Tài nguyên tổng hợp đặc biệt là TS Nguyễn Văn Nhân đã động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
- Các cán bộ Phòng Quy hoạch – Kế hoạch (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hậu Giang) đã cung cấp mọi thông tin có liên quan đến quá trình sử dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi thực hiện đề tài
- Đặc biệt, Gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi cho Tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn! Đặng Trung Thành
Trang 7dữ liệu tốt, khắc phục được những sai sót khi thực hiện bằng phương pháp thủ công
Kết quả điều tra bổ sung, chỉnh lý bản đồ đất, toàn tỉnh Hậu Giang có 4 nhóm đất với 11 đơn vị bản đồ đất; trong đó, nhóm đất phù sa chiếm diện tích chủ yếu với 60.429 ha (37,75% DTTN) Kết quả xây dựng bản đồ đơn vị đất đai từ việc chồng xếp các bản đồ đơn tính với 3 thuộc tính được 28 đơn vị đất đai Nghiên cứu loại hình sử dụng đất (LUTs) lựa chọn được 16 LUT có triển vọng phát triển ở địa bàn để đưa vào đánh giá khả năng thích nghi đất đai
Kết quả đánh giá tài nguyên đất đai, tỉnh Hậu Giang được phân thành 5 vùng chính: vùng phù sa ven sông Hậu, vùng phèn nhẹ không ngập, vùng phèn nhẹ ngập nông, vùng trũng phèn ngập úng và vùng phèn nhiễm mặn Trên cơ sở đánh giá hiện trạng sử dụng đất, thích nghi đất đai, kỹ năng sản xuất của người dân và các
dự báo nguồn vốn đầu tư, thị trường…; đề tài đề xuất phân bổ sử dụng đất cho các mục tiêu như sau: (1) đất nông nghiệp 131.839 ha, trong đó: đất sản xuất nông nghiệp 123.858 ha, đất lâm nghiệp 5.000 ha, đất nuôi trồng thủy sản 2.700 ha và đất nông nghiệp khác 281 ha; (2) đất phi nông nghiệp 27.909 ha, trong đó: đất ở 5.095 ha, đất chuyên dùng 17.478 ha và đất phi nông nghiệp khác 5.336 ha
Trang 8The results of supplementation and adjustment of the soil map: there are 04 soil groups and 11 soil units in Hau Giang province; of which, most is the Fluvisols which 60.429 hectare (37,75% total area) The results of establishing land mapping units to obtain 28 LMU; Reseached about land use types at Hau Giang province was selected 16 LUT for land suitability evaluation
The results of sustainable land evaluation at Hau Giang provice, there are 5 zoning following: area Hau’s riverside fluvisols soils; area non flooded lighter acid sulphat soils; area flooded lighter acid sulphat soils; low land acid sulphat soils and salic acid sulphat soils Base on to evaluation on present land use, land use capacity suitability, invested capital and native skills… The study proposed area for land use: (1) agricultural land 131.839 hectare, of which: farming land 123.858 hectare, forest land 5.000 hectare, aquacultural land 2.700 hectare and agricultural different land 281 hectare; (2) non-agricultural land 27.909 hectare, of which: land tenure 5.095 hectare, building land 17.478 hectare and non-agricultural different land
Trang 9MỤC LỤC
Nội dung Trang
LỜI CẢM ƠN iii
LÝ LỊCH CÁ NHÂN ii
LỜI CAM ĐOAN iii
TÓM TẮT v
ABSTRACT vi
CÁC CHỮ VIẾT TẮT ix
1 MỞ ĐẦU 1
1.1Đặt vấn đề 1
1.2Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3Đối tượng, phạm vi và giới hạn đề tài 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.3.3 Giới hạn đề tài 3
2 TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4
2.1Tổng quan về đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất trên thế giới 4
2.1.1 Các nghiên cứu về đất 4
2.1.2 Các nghiên cứu về đánh giá thích nghi đất đai 6
2.1.3 Công tác quy hoạch sử dụng đất 9
2.2Tổng quan về đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam 10
2.2.1 Các nghiên cứu về đất ở Việt Nam 10
2.2.2 Công tác đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam 13
2.2.3 Công tác đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất ở tỉnh Hậu Giang 20
2.3Tổng quan về ứng dụng công nghệ tin học trong nghiên cứu tài nguyên đất 22
2.3.1 Ứng dụng công nghệ thông tin trong nghiên cứu tài nguyên đất Thế giới 22
2.3.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong nghiên cứu tài nguyên đất Việt Nam 24 2.3.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong đánh giá đất đai ở tỉnh Hậu Giang 26
2.4Phương pháp đánh giá đất của FAO 27
2.4.1 Định nghĩa 27
2.4.2 Một số khái niệm cơ bản trong đánh giá đất đai 28
2.4.3 Các nguyên tắc trong đánh giá đất đai 29
2.4.4 Tiến trình trong đánh giá đất đai 31
2.4.5 Cấu trúc phân loại khả năng thích nghi đất đai 33
Trang 102.4.6 Phương pháp xác định khả năng thích nghi đất đai 35
2.4.7 Phân tích kinh tế xã hội 36
2.4.8 Đánh giá tác động môi trường 37
3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
3.1Nội dung nghiên cứu 38
3.2Phương pháp nghiên cứu 38
3.2.1 Phương pháp luận 38
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 39
3.2.3 Phương pháp điều tra xây dựng bản đồ đất và loại hình sử dụng đất 39
3.2.4 Phương pháp phân tích đất 39
3.2.5 Phương pháp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 39
3.2.6 Phương pháp ứng dụng kết hợp ALES và GIS trong đất giá đất đai 40
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
4.1Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quá trình hình thành và sử dụng tài nguyên đất 45
4.1.1 Các điều kiện tự nhiên với quá trình hình thành tài nguyên đất 45
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội ảnh hưởng đến việc sử dụng tài nguyên đất 55
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quá trình hình thành và sử dụng tài nguyên đất tỉnh Hậu Giang 58
4.2Đặc điểm tài nguyên đất tỉnh Hậu Giang 59
4.2.1 Đặc điểm lớp vỏ thổ nhưỡng 59
4.2.2 Bản đồ đất đai và chất lượng đất đai 67
4.3Đánh giá hiện trạng sử dụng đất 73
4.3.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 73
4.3.2 Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp 77
4.3.3 Lựa chọn các hệ thống sử dụng đất 78
4.4 Đánh giá khả năng thích hợp đất đai 88
4.4.1 Mục tiêu và tiến trình đánh giá đất đai 88
4.4.2 Xây dựng mô hình đánh giá đất đai trong ALES 90
4.4.3 Yêu cầu về đất đai của các loại hình sử dụng đất 91
4.4.4 Phân hạng thích hợp đất đai 92
4.4.5 Đánh giá chung về khả năng bố trí sử dụng đất 105
4.5Đề xuất sử dụng đất 107
4.5.1 Phân vùng sử dụng đất 108
4.5.2 Đề xuất phân bổ sử dụng đất 112
4.5.3 Tác động về môi trường và các giải pháp cải tạo, bảo vệ đất 115
5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 119
5.1.Kết luận 119
5.2.Đề nghị 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
Trang 11CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 ALES (Automated Land Evaluation System): Phần mềm đánh giá đất đai
2 AEZ (Agro – Ecological Zone): Phân vùng sinh thái nông nghiệp
3 AHP (Analytic Hierarchy Process): Phân tích thứ bậc
4 ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
9 LC (Land Characteristic): Tính chất đất đai
10 LMU (Land Mapping Unit): Đơn vị đất đai
11 LQ (Land Quality): Chất lượng đất đai
12 LUR (Land Use Requirement): Yêu cầu sử dụng đất
13 LUS (Land Use System): Hệ thống sử dụng đất
14 LUT (Land Use/Utilization Type): Loại hình sử dụng đất
15 MCMD (Multi-Criteria Decision Making): Ra quyết định đa tiêu chuẩn
16 MCMA (Multi-Criteria Model Analysis): Mô hình phân tích đa tiêu chuẩn
17 NIAPP (National Institute of Agricultural Planning and Projection): Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp
18 N (Not suitable): Không thích nghi
19 S1 (Highly suitable): Thích nghi cao
20 S2 (Moderately suitable): Thích nghi trung bình
21 S3 (Marginally suitable): Thích nghi kém
22 Sub-NIAPP (Sub-National Institute of Agricultural Planning and Projection): Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp
23 QHSDĐ: Quy hoạch sử dụng đất
24 UNESCO (United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization):
Tổ chức Liên hiệp quốc về giáo dục, khoa học và văn hóa
25 WRB (World Reference Base for soil resources): Cơ sở tham chiếu tài nguyên đất Thế giới
Trang 12DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1 : Phân loại sử dụng cho bản đồ đất tỉnh Hâu Giang tỷ lệ 1/50.000 18
Bảng 2.2 : Cấu trúc phân loại khả năng thích nghi đất đai 33
Bảng 3.1 : Các yếu tố tự nhiên được lựa chọn để tổng hợp ở địa bàn T Hậu Giang40 Bảng 4.1 : Các đơn vị hành chính của tỉnh Hậu Giang 45
Bảng 4.2 : Khí hậu ở Hậu Giang và vùng lân cận 48
Bảng 4.3 : Chế độ thủy văn sông Hậu (cột mốc chính 1,79m) 52
Bảng 4.4 : Chất lượng nước sông Hậu 53
Bảng 4.5 : Trữ lượng nước ngầm trên địa bàn tỉnh Hậu Giang 53
Bảng 4.6 : Các loại đất trên địa bàn tỉnh Hậu Giang 64
Bảng 4.7 : Mô tả các đơn vị đất đai trên địa bàn tỉnh Hậu Giang 72
Bảng 4.8 : Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Hậu Giang năm 2005 73
Bảng 4.9 : Phân bố các loại sử dụng đất theo điều kiện thổ nhưỡng và ngập lụt 80
ở tỉnh Hậu Giang 80
Bảng 4.10 : Tác động của điều kiện tự nhiên đối với các loại sử dụng đất chính ở tỉnh Hậu Giang 81
Bảng 4.11 : Phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các hệ thống sử dụng đất ở tỉnh Hậu Giang 83
Bảng 4.12 : Các hệ thống sử dụng đất nông lâm nghiệp ở tỉnh Hậu Giang 86
Bảng 4.13 : Các loại hình sử dụng đất chính ở địa bàn tỉnh Hậu Giang được chọn 87 Bảng 4.14 : Yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất nông-lâm nghiệp 92
Bảng 4.15 : Các mức phân hạng khả năng thích hợp đất đai tỉnh Hậu Giang 93
Bảng 4.16 : Bảng phân cấp đánh giá khả năng thích hợp đất đai ở tỉnh Hậu Giang 94 Bảng 4.17 : Kết quả đánh giá của ALES về khả năng thích hợp đất đai (tự nhiên) 98 với các loại hình sử dụng đất ở tỉnh Hậu Giang 98
Bảng 4.18 : So sánh thích nghi tự nhiên và thích nghi kinh tế 102
với các loại hình sử dụng đất ở tỉnh Hậu Giang 102
Bảng 4.19 : Dự kiến phân bổ sử dụng đất tỉnh Hậu Giang đến năm 2010 113
Trang 13DANH SÁCH HÌNH
Hình 1 : Các bước quy hoạch sử dụng đất 10
Hình 2 : Trình tự và nội dung lập QH-KHSDĐ cấp tỉnh 20
Hình 3 : Sơ đồ các bước tiến hành đánh giá đất đai 32
Hình 4 : Tiến trình tổng hợp số liệu và xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 41
Hình 5 : Mô hình tích hợp ALES và GIS trong đánh giá đất đai 42
Hình 6 : Bản đồ vị trí tỉnh Hậu Giang ở ĐBSCL 46
Hình 7 : Bản đồ hành chính tỉnh Hậu Giang 47
Hình 8 : Bản đồ đất tỉnh Hậu Giang 65
Hình 9 : Bản đồ đơn vị đất đai tỉnh Hậu Giang 69
Hình 10 : Bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỉnh Hậu Giang năm 2005 74
Hình 11 : Sơ đồ tiến trình kết hợp so sánh giữa yêu cầu về sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất với chất lượng đất đai của các đơn vị đất đai 90
Hình 12 : Bản đồ phân hạng khả năng thích nghi đất đai của tỉnh Hậu Giang 104
Hình 13 : Bản đồ đề xuất sử dụng đất tỉnh Hậu Giang đến năm 2010 118
Trang 14Ở các nước đang phát triển, đánh giá tài nguyên đất đai ngày càng trở thành quá trình mấu chốt trong quy hoạch nông nghiệp, nông thôn Những vấn đề
cơ bản như phân loại đất và phân hạng đất đai nông nghiệp vẫn còn được đặt ra; tuy nhiên, do yêu cầu thực tế ngày một nâng cao nên việc ứng dụng kỹ thuật và công nghệ trên nền tảng phương pháp luận trong đánh giá tài nguyên đất ngày càng được quan tâm
Vào cuối thập niên 1960, Tổ chức Lương Nông Thế giới (FAO) nhận thấy rằng nhiều nước đã và đang trong quá trình phát triển phương pháp đánh giá đất đai của mình và có khả năng phát sinh những trở ngại trong việc trao đổi thông tin Vì vậy cần phải có một khung chung về phương pháp luận đánh giá đất đai, nhằm hỗ trợ cho sử dụng đất Xuất phát từ yêu cầu đó, năm 1970 một nhóm công tác được thành lập để xây dựng khung đánh giá đất đai và ấn bản đầu tiên ra đời
với tên: “A framework for land evaluation” (1976), gọi tắt là FAO framework;
thực chất, đây là một tập hợp các hướng dẫn về phương pháp luận, có thể ứng dụng trong bất kỳ dự án, tình hình môi trường nào và ở bất kỳ tỷ lệ nào Bên cạnh việc đánh giá tiềm năng đất đai, đánh giá đất đai còn đề cập đến các thông tin về kinh tế xã hội và kỹ thuật canh tác của từng loại hình sử dụng đất cụ thể, giúp các nhà quy hoạch có thể lựa chọn phương án bố trí sử dụng đất
Trang 15Ngay từ khi công bố (1976), phương pháp đánh giá đất của FAO đã được
áp dụng trong một số dự án của FAO, đây là bước tiến quan trọng của ngành đánh giá tài nguyên đất, sau đó nó được áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới và trở thành khâu quan trọng trong công tác quy hoạch sử dụng đất
Phương pháp đánh giá đất của FAO (1976) và các hướng dẫn tiếp theo (1983, 1985, 1987 và 1992) đã được áp dụng vào Việt Nam và bước đầu cho thấy tính khả thi rất cao, đã được Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn xác nhận như là một tiến bộ khoa học kỹ thuật có thể áp dụng rộng rãi trên toàn quốc (Hội nghị đánh giá đất đai cho việc quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái bền vững đã được Viện Quy Hoạch Thiết Kế Nông Nghiệp và Vụ Khoa Học và Đào Tạo – Bộ Nông nghiệp và PTNT tổ chức tại Hà Nội, tháng 1/1995)
Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992, điều
18 có nêu: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật,
đảm bảo đúng mục đích và có hiệu qủa” Luật đất đai 2003, từ điều 21 đến điều
30 mục 2 chương II quy định rõ nguyên tắc, căn cứ, nội dung, thời gian lập quy hoạch, thẩm quyền, xét duyệt và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai; đây là một trong những yêu cầu bắt buộc, cấp thiết trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai
Hậu Giang là tỉnh mới được tách lập từ tỉnh Cần Thơ cũ (tháng 01/2004) Hiện quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ) trên địa bàn tỉnh đã được xây dựng chung với TP Cần Thơ trong phương án QHSDĐ tỉnh Cần Thơ cũ (thời kỳ 1998 - 2010); tuy nhiên, trong quá trình thực hiện quy hoạch đã phát sinh nhiều bất cập giữa bố trí quy hoạch và thực tế sử dụng đất trên địa bàn; do đó cần thiết phải tiến hành điều chỉnh cho phù hợp Đồng thời, theo quy định Luật Đất đai năm 2003 (mục c và d, khoản I điều 27): “Điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất khi
có sự điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của cấp trên trực tiếp làm ảnh hưởng tới quy hoạch sử dụng đất của cấp mình; có sự điều chỉnh địa giới hành chính của địa
Trang 16phương”; đây là một trong những yêu cầu bắt buộc trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai
Xuất phát từ những yêu cầu trên, việc đánh giá tài nguyên đất đai nhằm cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho công tác lập quy hoạch sử dụng đất ở địa bàn tỉnh Hậu Giang là mục đích của người xây dựng đề tài này
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài “Đánh giá tài nguyên đất đai phục vụ quy hoạch - kế hoạch sử dụng
đất tỉnh Hậu Giang” có mục tiêu là đánh giá tài nguyên đất đai gồm các đặc tính
về thổ nhưỡng, điều kiện thủy văn - nguồn nước làm căn cứ cho việc lập quy hoạch – kế hoạch sử dụng đất của tỉnh Hậu Giang, để đáp ứng các yêu cầu về sử dụng hiêu quả – hợp lý nguồn tài nguyên đất đai và phát triển kinh tế – xã hội của Tỉnh
Trên cơ sở nghiên cứu đạt được, đề xuất ý kiến, giải pháp sử dụng đất đai nhằm cải thiện tình hình môi trường tự nhiên, hiệu quả kinh tế trước mắt và lâu dài cho địa bàn tỉnh và khả năng mở rộng cho các tỉnh thành lân cận trong vùng, nơi có những điều kiện tương tự
1.3 Đối tượng, phạm vi và giới hạn đề tài
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các yếu tố về tự nhiên, kinh tế xã hội và môi trường sinh thái
- Các loại hình thổ nhưỡng và các loại hình sử dụng chính
Trang 17Chương 2 TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan về đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất trên thế giới 2.1.1 Các nghiên cứu về đất
Nghiên cứu về đất là một trong những hợp phần quan trọng trong quá trình đánh giá thích nghi đất đai Trong gần ba thập niên trở lại đây, FAO đã có những hoạt động về nghiên cứu đất, tập trung vào các lĩnh vực: (1) Lập bản đồ đất, (2) Đánh giá đất đai để dự báo tiềm năng đất đai và đề xuất quản lý và bảo vệ tài nguyên đất
Công tác lập bản đồ đất ở các tỷ lệ khác nhau đã được triển khai ở hầu hết các nước trên thế giới từ đầu thế kỷ XX trở lại đây cùng với những chuyên đề về đất và sử dụng đất Tóm lại các nghiên cứu về đất trên thế giới có thể chia làm ba thời kỳ:
(1) Thời kỳ trước nghiên cứu của Docuchaev
Theo Brady (1974), hơn 4.000 năm trước đây người Trung Quốc đã nghiên cứu phân chia ruộng đất ra các bậc để đánh thuế
Ở Châu Âu, năm 1853, Thaer đã đề xuất bảng phân loại đất theo thành phần cơ giới
Ở Mỹ, ý đồ xây dựng một chương trình nghiên cứu phân loại đã có từ năm
1832 (Ruffin, 1832), đến năm 1860 Hilgard xây dựng bảng phân loại đất đầu tiên cho nước Mỹ trên cơ sở nhận thức đất là một vật thể tự nhiên, tính chất đất có mối quan hệ đến thực vật và khí hậu
Khoa học về đất đã ra đời sớm nhất ở nước Nga, đã có cơ sở khoa học về đất và những phương pháp cơ bản về nghiên cứu đất Những kết quả nghiên cứu
Trang 18đã được tiến hành sau khi thành lập Viện Hàn lâm Khoa học Nga năm 1725 Trong thế kỷ XIX, sự đòi hỏi cao đối với nghiên cứu khoa học để phát triển nông nghiệp về nghiên cứu đất đã hướng vào đánh giá đất đai và đầu thế kỷ thứ XIX đã xuất hiện lần đầu tiên bản đồ đất nước Nga (phần Châu Âu) Sang nửa cuối thế kỷ XIX, nhờ các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nổi tiếng Docuchaev, Kostưsev và Sibirsev, Thổ nhưỡng học đã trở thành bộ môn khoa học
(2) Thời kỳ từ khi có nghiên cứu của Docuchaev đến giữa thế kỷ XX
Docuchaev (1846-1903) là người sáng lập môn khoa học đất - khoa Thổ nhưỡng tự nhiên lịch sử hay phát sinh Docuchaev đã xác định mối quan hệ có tính quy luật giữa đất và điều kiện tự nhiên (khí hậu, địa hình, sinh vật, đá mẹ và thời gian) Sự tạo thành đất theo Docuchaev là kết quả tác động của thể tự nhiên
Kế tục Docuchaev có Sirbisev, Kostưsev (1845-1895), Kosssvic 1915), Viliam (1863-1939), Glinka (1867-1927), Neustruev (1874-1928), Prosolov (1875-1954), Polunov (1877-1852),… đã công bố nhiều công trình nghiên cứu về đất và phân loại đất
(1862-Ở Mỹ, ngoài Ruffin (1832), Hilgard (1860), Milton Whitney đã phát triển
hệ thống phân loại đất, Coffey (1912) đề nghị phân chia đất làm 5 nhóm lớn, Marbut đã đề xuất hệ thống phân loại sắp xếp theo các cấp từ đơn vị đất (Soil unit) đến biểu loại (Serier), Balwin, Kellogg, Thorp, Smith,… là những người kế tục xây dựng phân loại đất của Mỹ
Các nhà khoa học đất của Tây Âu cũng có những đóng góp lớn trong công tác nghiên cứu và phân loại đất: Fally (1857), Meier (1857), Bennicon, Forder (1863), Knop (1871),…
Tóm lại, đến giữa thế kỷ XX có 3 hệ thống phân loại chính (Gretrin, 1969): + Phân loại phát sinh (địa lý phát sinh, yếu tố phát sinh, tiến hoá phát sinh); + Phân loại Tây Âu (kết hợp nông học và địa chất);
+ Phân loại của Mỹ (sử dụng đất, tính chất của đất và năng suất cây trồng)
Trang 19(3) Thời kỳ nửa sau thế kỷ XX
Trước tình trạng khác nhau trong phân loại và bản đồ đất, mặc dù các nhà khoa học đất Liên Xô (cũ) đã xây dựng những sơ đồ thổ nhưỡng toàn cầu tỷ lệ 1/100.000.000, nhưng thống nhất tên gọi chung cho toàn thế giới đã trở thành vấn
đề cấp thiết, nên từ thập kỷ 60 đã ra đời 2 trung tâm nghiên cứu phân loại và bản
đồ đất với cái nhìn toàn cầu
- Trung tâm Soil Taxonomy (Mỹ): đã đưa ra phương pháp chẩn đoán định lượng và cho ra đời hệ thống phân loại Soil Taxonomy với thuật ngữ riêng
- Trung tâm FAO/UNESCO: đã vận dụng phương pháp định lượng trong phân loại đất của Soil Taxonomy, hệ thống phân loại và thuật ngữ mang tính hoà hợp, nhằm sử dụng chung cho toàn thế giới Bản đồ đất thế giới tỷ lệ 1/5.000.000
đã xuất bản năm 1961, nhưng bản chú giải “Bản đồ đất thế giới” được bổ sung nâng cao cho từng thời kỳ
2.1.2 Các nghiên cứu về đánh giá thích nghi đất đai
Việc nghiên cứu tài nguyên đất đai không những dừng lại ở bước thống kê tài nguyên đất mà còn thực hiện việc đánh giá khả năng thích nghi đất đai để đề xuất sử dụng đất hợp lý
Từ những thập niên 50 của thế kỷ này, việc đánh giá khả năng sử dụng đất được xem như là bước nghiên cứu kế tiếp của công tác nghiên cứu đặc điểm đất Xuất phát từ những nghiên cứu riêng lẻ của từng quốc gia, về sau phương pháp đánh giá đất đai của nhiều nhà khoa học hàng đầu thế giới và các tổ chức quốc tế quan tâm, do vậy trở thành một trong những chuyên ngành nghiên cứu quan trọng
và đặt biệt gần gũi với các nhà quy hoạch, người hoạch định chính sách đất đai và người sử dụng Những nghiên cứu và các hệ thống đánh giá đất đai sau đây khá phổ biến:
- Phân loại khả năng đất có tưới (Irrigation land suitability classification) của cục cải tạo đất đai - Bộ Nông nghiệp Mỹ biên soạn năm 1951 Phân loại gồm
Trang 206 lớp (classes), từ lớp có thể trồng được (arable) đến lớp có thể trồng trọt được một cách có giới hạn (limited arable) đến lớp không thể trồng trọt được (non-arable) Trong phân loại này, ngoài đặc điểm đất đai, một số chỉ tiêu kinh tế cũng được xem xét nhưng giới hạn trong phạm vi thủy lợi
- Phân hạng khả năng đất đai (The land capability classification) do cơ quan bảo vệ đất – Bộ nông nghiệp Mỹ soạn thảo (gọi tắt là USDA), 1961 Mặc dù
hệ thống này được xây dựng riêng cho hoàn cảnh nước Mỹ, nhưng những nguyên
lý của nó được ứng dụng ở nhiều nước Trong đó, phân hạng đất đai chủ yếu dựa vào những hạn chế của đất đai gây trở ngại đến sử dụng đất, những hạn chế khó khắc phục cần phải đầu tư về vốn, lao động, kỹ thuật,… để khắc phục Hạn chế được chia thành 2 mức: hạn chế tức thời và hạn chế lâu dài Đất đai được xếp hạng chủ yếu dựa vào hạn chế lâu dài (vĩnh viễn) Hệ thống đánh giá đất đai chia
ra làm 3 cấp: lớp (class), lớp phụ (sub-class) và đơn vị (unit) Đất đai được chia làm 8 lớp và những hạn chế tăng dần từ lớp I đến lớp VIII: từ lớp I đến lớp IV có khả năng sử dụng cho nông-lâm nghiệp, lớp V đến lớp VII chỉ có thể sử dụng cho lâm nghiệp và lớp VIII chỉ sử dụng cho các mục đích khác Đây là một trong những cách tiếp cận trong đánh giá đất đai, có quan tâm đến các yếu tố hạn chế và hướng khắc phục các hạn chế, nhưng chưa xét đến vấn đề kinh tế-xã hội ảnh hưởng đến sử dụng đất
- Phương pháp đánh giá phân hạng đất ở Liên Xô cũ và các nước Đông Âu:
từ thập niên 60, việc phân hạng và đánh giá đất đai cũng được thực hiện, quá trình này được chia làm 3 bước: (i) Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng; (ii) Đánh giá khả năng sản xuất (kết hợp xem xét các yếu tố khí hậu, địa hình,…) và (iii) Đánh giá đất đai dựa vào kinh tế (chủ yếu là khả năng sản xuất hiện tại của đất đai) Phương pháp này quan tâm chủ yếu đến yếu tố tự nhiên, có xem xét về khía cạnh kinh tế -
xã hội trong sử dụng đất đai nhưng chưa đầy đủ
Trang 21- Ngoài ra, ở Anh, Canada, Ấn Độ,… đều phát triển hệ thống đánh giá đất đai cho riêng mình, đa số dựa trên yếu tố thổ nhưỡng để phân cấp đất đai cho các mục tiêu sử dụng
Đến cuối thập niên 60, nhiều quốc gia đã phát triển hệ thống đánh giá đất đai cho riêng mình (các tiêu chuẩn dùng cho đánh giá cũng như kết quả rất khác nhau), điều này làm cho việc trao đổi kết quả đánh giá đất trên thế giới gặp nhiều khó khăn
- Năm 1976, phương pháp đánh giá đất của FAO (A framework for land evaluation, FAO) ra đời, nhằm thống nhất các tiêu chuẩn đánh giá đất đai trên toàn thế giới Bên cạnh đánh giá tiềm năng đất đai còn đề cập đến vấn đề kinh tế-
xã hội của từng loại hình sử dụng đất Bên cạnh đó, FAO cũng đã ấn hành một số hướng dẫn khác về đánh giá thích nghi đất đai cho từng đối tượng:
+ Đánh giá đất đai cho nông nghiệp nhờ mưa (land evaluation for rained agriculture, 1983); trình bày phương pháp đánh giá đất đai phục vụ quy hoạch nông nghiệp theo điều kiện mưa tự nhiên;
+ Đánh giá đất đai cho nông nghiệp có tưới (land evaluation for irrigated agriculture, 1985); trình bày phương pháp đánh giá đất đai phục vụ quy hoạch nông nghiệp theo khả năng tưới;
+ Đánh giá đất đai cho đồng cỏ quảng canh (land evaluation for extensive gazing, 1989); trình bày phương pháp đánh giá đất đai cho phát triển đồng
cỏ phục vụ công tác chăn nuôi gia súc;
+ Đánh giá đất đai cho sự phát triển (land evaluation for development, 1990); nội dung là đánh giá đất đai phục vụ cho việc lựa chọn phương án
sử dụng đất đáp ứng các yêu cầu phát triển ở một địa bàn;
+ Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác phục vụ quy hoạch sử dụng đất (land evaluation and farming system analysis for land-use planning, 1992); nội dung là đánh giá đất đai và phân tích các hệ thống
Trang 22canh tác để lựa chọn phương án sử dụng đất phục vụ quản lý tài nguyên đất
và phát triển kinh tế xã hội Hướng dẫn này hiện được Việt Nam và nhiều nước ứng dụng, phát triển để đánh giá đất đai phục vụ quy hoạch nông nghiệp và QHSDĐ
Thực chất, đây là một tập hợp các hướng dẫn về phương pháp luận, có thể ứng dụng trong bất kỳ dự án nào và ở bất kỳ tỷ lệ nào Bên cạnh việc đánh giá tiềm năng đất đai, đánh giá thích nghi đất đai còn đề cập đến các thông tin về kinh
tế - xã hội và kỹ thuật canh tác của từng loại hình sử dụng đất cụ thể, cung cấp thông tin cho nhà quy hoạch lựa chọn phương án sử dụng đất hợp lý
Ngay từ khi được công bố, hướng dẫn của FAO đã được áp dụng trong một
số dự án phát triển của FAO Hầu hết các nhà đánh giá đều công nhận tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển của chuyên ngành đánh giá đất đai (Van Diepen
et al, 1991) Hiện nay, công tác đánh giá đất đai được thực hiện ở nhiều quốc gia
và trở thành một khâu quan trọng trong công tác lập quy họach sử dụng đất vùng lãnh thổ
2.1.3 Công tác quy hoạch sử dụng đất
Trên thế giới, công tác quy hoạch sử dụng đất đai đã được thực hiện từ những năm 1950 Tuy nhiên do mỗi khu vực và mỗi nước phát triển hệ thống và phương pháp quy hoạch đất đai riêng của mình Điều này làm cho việc trao đổi thông tin và tích hợp lại trên phạm vi lớn hơn gặp rất nhiều khó khăn và cần thiết phải có sự hợp tác quốc tế nhằm đạt được một số tiêu chuẩn hoá
Xuất phát từ yêu cầu trên, năm 1970 hai ủy ban nghiên cứu được thành lập, một ở Hà Lan và một ở FAO để tiến hành công việc chuẩn bị Kết quả là một dự thảo đầu tiên ra đời (FAO, 1972) Theo phương pháp của FAO, quy họach sử dụng đất của một vùng lãnh thổ bao gồm có 10 bước như sau:
Trang 23Hình 1 : Các bước quy hoạch sử dụng đất
(Nguồn: Guideline for land use planning, FAO, 1993)
2.2 Tổng quan về đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam 2.2.1 Các nghiên cứu về đất ở Việt Nam
Lịch sử nghiên cứu đất ở Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển nông nghiệp Những nghiên cứu về tài nguyên đất đã được trình bày trong các văn bản quốc gia từ thế kỷ XV của Nguyễn Trãi (Dư địa chí), Lê Quý Đôn, Lê Tắc,… đến đầu thế kỷ XIX, công tác nghiên cứu đất đã được người Pháp quan tâm nhằm phục vụ công cuộc khai thác tài nguyên tại các nước thuộc địa Viện nghiên cứu Nông - Lâm nghiệp Đông Dương (Institute of Research on Agriculture and Forestry in Indochina) đã thực hiện một số nghiên cứu về đất trên toàn lãnh thổ Đông Dương, trong đó tập trung vào các vùng đất mới nhằm thiết lập các đồn điền sản xuất nông nghiệp
Cuối thế kỷ XIX, nghiên cứu đất ở Việt Nam bắt đầu đi sâu vào phân tích các chỉ tiêu lý hoá của đất như: thành phần cơ giới, chất hữu cơ, mùn, đạm, lân, kali,… Morange (1902) lần đầu tiên đã trình bày báo cáo khoa học về thành phần
lý hoá của đất lúa Nam kỳ; trong đó, đất Nam kỳ được chia làm 3 loại: (1) Đất
(1) XÂY DỰNG MỤC TIÊU
VÀ ĐỀ CƯƠNG
(3) PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ
(2)
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
(4) XÁC ĐỊNH
CƠ HỘI THAY ĐỔI
(5) ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THÍCH NGHI ĐẤT ĐAI
(7) LỰA CHỌN GIẢI PHÁP TỐT NHẤT
(6) ĐÁNH GIÁ CÁC PHƯƠNG ÁN
Trang 24phù sa đồng bằng; (2) Đất cát nhẹ miền Đông và (3) Các loại đất trung gian (lầy thụt, thung lũng) Sau đó, Achard đã có nghiên cứu tổng hợp hơn cho các loại đất
ở Nam Trung kỳ, đã gắn đất đai với các điều kiện thủy văn, giao thông,… và quy
- Castagnol là người có nhiều công trình nghiên cứu, trong đó một số công trình chuyên sâu như:
+ Nghiên cứu các loại đá ong chính ở Đông Dương (cùng Phạm Gia Tu, 1940);
+ Nghiên cứu các đặc tính cơ bản của đất Bắc kỳ và Bắc trung kỳ, Bản đồ đất đồng bằng sông Hồng;
+ Các nghiên cứu chuyên đề về các loại đất và sử dụng đất như: đất phèn (1934), đất đỏ phát triển trên đá Bazan và đá Đaxit ở Tây Nguyên (1952); + Những vấn đề thổ nhưỡng và sử dụng đất ở Đông Dương (cùng Hồ Đắc
Vi, 1951)
Nhìn chung, những nghiên cứu đất trong nửa đầu thế kỷ XX ở Việt Nam đã được tiến hành khá bài bản, có cơ sở khoa học và mục tiêu thực tiễn Tuy nhiên, cũng còn một số hạn chế nhất định trong nghiên cứu phát sinh, phân loại, đánh giá đất chưa có hệ thống và đặc biệt còn thiếu những nghiên cứu về nông hoá và phân bón
Giai đoạn 1958-1975, công tác nghiên cứu đất được tiến hành với quy mô lớn trên toàn quốc, tập trung vào các vấn đề về phân loại đất và xây dựng các bản
Trang 25đồ đất ở quy mô vùng Đặc biệt là công trình điều tra xây dựng “Sơ đồ thổ nhưỡng tỷ lệ 1/1.000.000 và bảng phân loại đất miền Bắc Việt Nam” (Fridland,
Vũ Ngọc Tuyên, Tôn Thất Chiểu, Đỗ Anh,…), trong đó có sự hợp tác của chuyên gia Liên Xô, đây là công trình nghiên cứu đất đầu tiên ở Việt Nam có cơ sở khoa học tổng quát, góp phần nâng cao phương pháp điều tra nghiên cứu đất ở tầm lãnh thổ
Trên cơ sở sơ đồ thổ nhưỡng miền Bắc Việt Nam 1/1.000.000, những vùng
cụ thể được nghiên cứu tiếp về sự hình thành và phát triển các loại đất theo phân loại phát sinh ở cấp bản đồ tỷ lệ lớn hơn, phục vụ cho công tác lập kế hoạch sản xuất, xác định cơ cấu cây trồng và thâm canh tăng năng suất
Trong thời gian này, ở miền Nam cũng tiến hành phân loại và xây dựng bản đồ đất tổng quát miền Nam tỷ lệ 1/1.000.000 (Moorman, 1958-1960); các sơ
đồ đất tỷ lệ 1/100.000, 1/200.000 do Sở Địa học Sài Gòn ấn hành và được thuyết minh trong “Đất đai miền châu thổ sông Cửu Long” (Thái Công Tụng, 1972), đây
là tài liệu đất chính thức đầu tiên của vùng ĐBSCL Ngoài ra, còn có các nghiên cứu đất của Trương Đình Phú (1967) cũng minh hoạ thêm một số đặc trưng của đất ở vùng ĐBSCL Các nghiên cứu trên đều xem xét đất theo quan điểm định lượng của Mỹ (USDA Soil Taxonomy), trong đó se-ri đất (soil series) được sử dụng như cấp phân vị thấp nhất trong chú giải bản đồ
Năm 1974, lần đầu tiên tài nguyên đất đai ở ĐBSCL được nghiên cứu theo quan điểm tổng hợp, đã xây dựng bản đồ tài nguyên đất đai vùng ĐBSCL tỷ lệ 1/250.000 của đoàn chuyên gia Hà Lan Trong đó, lớp phủ thổ nhưỡng ở ĐBSCL
đã được đánh giá và phân loại có sự kết hợp của các yếu tố thủy văn và khí hậu Nghiên cứu này đã cung cấp thông tin tương đối đầy đủ về tài nguyên đất đai ở vùng ĐBSCL
Sau năm 1975, cùng với việc hoàn thành bảng phân loại và bản đồ đất Việt Nam tỷ lệ 1/1.000.000, trọng tâm nghiên cứu nhằm xây dựng các bảng phân loại
Trang 26phục vụ cho xây dựng bản đồ đất ở các tỷ lệ khác nhau, nghiên cứu quy phạm điều tra đất phục vụ phát triển trên địa bàn cả nước và thực hiện các chương trình nghiên cứu điều tra cơ bản tổng hợp ở các vùng lãnh thổ Các đợt điều tra cơ bản được tổ chức với quy mô lớn như: Điều tra xây dựng bản đồ đất tỷ lệ 1/25.000 cho các huyện đồng bằng và 1/50.000 cho các huyện miền núi Trên cơ sở bản đồ đất cấp huyện, xây dựng bản đồ đất cấp tỉnh 1/100.000 Các năm tiếp theo, bản đồ đất một số tỉnh được điều tra bổ sung nâng cấp theo những phương pháp mới: Quảng Ngãi (Viện Quy hoạch – TKNN, 1980), Sông Bé (Phan Liêu, 1987; Phạm Quang Khánh và ctg, 1993), Bà Rịa – Vũng Tàu (Phạm Quang Khánh và ctg, 1992), Tây Ninh (Phan Liêu, 1990), TP HCM (Lê Văn Tự và ctg, 1987), Đồng Nai (Vũ Cao Thái, Phạm Quang Khánh và ctg, 1995), Minh Hải (Phạm Quang Khánh, Nguyễn Văn Nhân và ctg, 1990) và một số tỉnh như Long An, An Giang, Kiên Giang… đã được điều tra bổ sung, xây dựng bản đồ đất theo phân loại Taxonomy (Mỹ) do Trường Đại học Cần Thơ thực hiện (1980-1990)
Nhìn chung bản đồ đất các tỉnh rất phong phú, theo các quan điểm phân loại khác nhau và và cập nhật được những thông tin mới về thổ nhưỡng học, nhưng rất ít tài liệu được xuất bản chính thức Các nghiên cứu nêu trên bước đầu
đã hỗ trợ tích cực cho công tác thống kê tài nguyên đất để hoạch định chiến lược phát triển, quy hoạch và tổ chức lãnh thổ các cấp huyện, tỉnh và cả nước
2.2.2 Công tác đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam
Ở Việt Nam khái niệm về phân hạng đất đã có từ lâu đời qua việc phân chia “tứ hạng điền, lục hạng thổ” để thu thuế Công tác đánh giá đất, phân hạng đất đã được nhiều cơ quan khoa học nghiên cứu và thực hiện như: Viện Thổ Nhưỡng - Nông Hoá, Viện Quy Hoạch – TKNN, Tổng Cục Địa Chính và Các Trường Đại học: Nông Nghiệp I, Nông Lâm, Cần Thơ Thuế sử dụng đất của Nhà nước cũng được dựa trên cơ sở đánh giá phân hạng đất Đặc biệt Viện Quy hoạch – TKNN trong nhiều năm qua đã thực hiện nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về
Trang 27đánh giá, phân hạng đất đai Công tác được triển khai rộng rãi trên toàn quốc, từ phân hạng đất tổng quan của toàn quốc (Tôn Thất Chiểu, Hoàng Ngọc Toàn, 1980-1985) đến các tỉnh, thành và các địa phương, với nhiều đối tượng cây trồng, nhiều vùng chuyên canh và các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài
- Từ những năm 1970, Bùi Quang Toản cùng nhiều nhà khoa học của Viện Nông hoá Thổ nhưỡng (Vũ Cao Thái, Nguyễn Văn Thân, Đinh văn Tỉnh…) đã tiến hành công tác đánh giá phân hạng đất đai ở 23 huyện, 286 hợp tác xã và 9 vùng chuyên canh Kết quả bước đầu đã phục vụ cho công tác tổ chức lại sản xuất
và làm cơ sở để đề ra quy trình kỹ thuật phân hạng đất đai cho các HTX và các vùng chuyên canh Quy trình này bao gồm 4 bước: (1) Thu thập tài liệu, (2) Vạch khoanh đất, (3) Đánh giá và phân hạng chất lượng đất đai và (4) Xây dựng bản đồ phân hạng đất Các yếu tố được sử dụng trong đánh giá, phân hạng đất đai vùng đồng bằng bao gồm: Loại đất, độ dày tầng đất, độ chặt, xốp, hạn, úng, mưa, mặn, chua… Các yếu tố đó được chia thành 4 mức độ thích hợp là rất tốt, tốt, trung bình và kém
Về phân hạng đất: Đất được chia thành 4 hạng từ I đến IV theo thứ tự từ tốt đến xấu Quy trình này đã được áp dụng trong một thời gian dài Tuy nhiên, vấn
đề kinh tế và môi trường chưa được nghiên cứu sâu
- Thực hiện chỉ thị 299TTg của Thủ tướng Chính phủ về đo đạc bản đồ giải thửa, kê khai đăng ký đất đai; Tổng cục quản lý ruộng đất đã ban hành dự thảo phương pháp phân hạng đất năm 1981, việc phân hạng phải dựa trên các cơ sở: (i) Vùng địa lý thổ nhưỡng, (ii) Loại và nhóm cây trồng, (iii) Đặc thù của địa phương, (iv) Trình độ thâm canh và (v) Mối tương quan với năng suất cây trồng Đây là tài liệu hướng dẫn vừa mang tính khoa học vừa mang tính thực tiễn, có thể
áp dụng trên diện rộng nhưng không tránh khỏi tính chủ quan
- Phân loại khả năng thích hợp đất đai (land suitablity classification) của FAO đã được áp dụng đầu tiên trong nghiên cứu “Đánh giá và QHSDĐ hoang
Trang 28Việt Nam” (Bùi Quang Toản và ctg, 1985) Tuy nhiên, trong nghiên cứu này việc đánh giá chỉ dựa vào các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, thủy văn, khả năng tưới tiêu và khí hậu nông nghiệp) và việc phân cấp dừng lại ở cấp phân vị Lớp thích nghi (Suitable-class)
- Đánh giá phân hạng đất khái quát toàn quốc (Tôn Thất Chiểu và ctg, 1986) được thực hiện ở tỷ lệ 1/500.000 dựa trên Phân loại khả năng đất đai (land capability classification) của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, chỉ tiêu sử dụng là đặc điểm thổ nhưỡng và địa hình Mục tiêu nhằm sử dụng đất đai tổng hợp Có 7 nhóm đất được theo mức độ hạn chế, trong đó 4 nhóm đầu có thể sử dụng cho nông nghiệp, nhóm kế tiếp có khả năng cho lâm nghiệp và nhóm cuối cùng có thể
4 cấp: (i) S1: Rất thích hợp, (ii) S2: Thích hợp, (iii) S3: Ít thích hợp, (iv) N: Không thích hợp
Kết quả nghiên cứu đã đưa ra được những chỉ tiêu và tiêu chuẩn đánh giá, phân hạng đất cho từng loại cây trồng, nhưng các chỉ tiêu đó đơn thuần thiên về thổ nhưỡng, chưa đề cập đến vấn đề khí hậu, thủy văn và các điều kiện kinh tế xã hội cũng như tác động môi trường
- Năm 1990, Viện Kinh Tế Kỹ Thuật Cao Su thuộc Tổng Cục Cao Su Việt Nam đã thực hiện đề tài “Đất trồng cao su” mã số 40A-02.01 do Võ Văn An chủ trì (1990) Trong đề tài này tác giả đã ứng dụng nguyên tắc phân hạng của FAO
để đánh giá và phân hạng đất trồng cao su ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ
Trang 29- Ở ĐBSCL, một số nghiên cứu chuyên đề (case study) ở khu vực nhỏ đã bước đầu ứng dụng phương pháp đánh giá đất đai định lượng của FAO (Lê Quang Trí, 1989; Trần Kim Tính, 1986)
- Dự thảo Nghị định của Chính phủ về phân hạng đất tính thuế (1993) với
sự tham gia của các cơ quan chức năng và nhiều nhà khoa học đã đề ra chỉ tiêu và tiêu chuẩn phân hạng đất trồng lúa, nuôi trồng thủy sản, cây công nghiệp lâu năm
và cây ăn quả Căn cứ để phân hạng đất gồm 5 yếu tố là: chất đất, vị trí, địa hình, điều kiện khí hậu thời tiết và điều kiện tưới tiêu Các yếu tố trên được cho điểm theo mức độ thích hợp hoặc hạn chế và hạng đất được tính theo tổng số điểm của
cả 5 yếu tố theo thang bậc đã quy định sẵn Ngoài ra có tham khảo năng suất đạt được trong điều kiện canh tác bình thường của 5 năm (1986-1990) Dự thảo đề ra mang tính khái quát, vì vậy khi áp dụng vào thực tế từng địa phương đã có nhiều thay đổi
- Từ năm 1992, phương pháp đánh giá đất đai của FAO và các hướng dẫn tiếp theo (1983, 1985, 1987, 1992) được Viện Quy hoạch – TKNN áp dụng rộng rãi trong các dự án quy hoạch phát triển ở các huyện và tỉnh ĐBSCL Bước đầu cho thấy tính khả thi rất cao và đã được Bộ Nông nghiệp – PTNT xác nhận như một tiến bộ khoa học kỹ thuật, có thể áp dụng rộng rãi trong toàn quốc (Hội nghị đánh giá đất đai cho việc QHSDĐ trên quan điểm sinh thái bền vững); một số kết quả cụ thể như sau:
+ 07 vùng kinh tế của toàn quốc (Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Tây Nguyên, Duyên Hải Trung Bộ, Đông Nam Bộ và ĐBSCL) đã được đánh giá đất đai trên bản đồ tỷ lệ 1/250.000 (Trần An Phong, Phạm Quang Khánh, Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng và ctg, 1993-1994);
+ Một số tỉnh đã có bản đồ đánh giá đất đai theo phương pháp của FAO, tỷ
lệ 1/50.000 và 1/100.000 như: Hà Tây (Phạm Dương Ưng và ctg, 1994);
Trang 30Bình Định (Trần An Phong, Nguyễn Chiến Thắng, 1994); Gia Lai – Kon Tum (Nguyễn Ngọc Tuyển, 1994); Bình Phước (Phạm Quang Khánh và ctg, 1999); Bà Rịa – Vũng Tàu (Phạm Quang Khánh, Phan Xuân Sơn, 2000); Bạc Liêu (Nguyễn Văn Nhân và ctg, 2000); Cà Mau (Phạm Quang Khánh và ctg, 2001)
Ngoài ra một số huyện, nông trường, trạm trại, các vùng chuyên canh cũng
đã được đánh giá đất đai theo phương pháp này Đặc biệt là 3 tài liệu đã được
công bố chính thức về những kết quả nghiên cứu áp dụng phương pháp điều tra
và đánh giá đất của FAO trong điều kiện Việt Nam, đó là:
+ Đánh giá đất toàn quốc được trình bày trong tài liệu: Đánh giá hiện trạng
sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững (Trần An Phong, sách chuyên khảo, nhà xuất bản Nông nghiệp, 1995);
+ Đánh giá đất đai cho một vùng được trình bày trong tài liệu: Tài nguyên đất vùng Đông Nam Bộ, hiện trạng và tiềm năng (Phạm Quang Khánh, sách chuyên khảo, nhà xuất bản Nông nghiệp, 1995);
+ Đánh giá đất đai cho một tỉnh được trình bày trong tài liệu: Điều tra, đánh giá tài nguyên đất theo phương pháp FAO/UNESCO và QHSDĐ trên địa bàn một tỉnh, lấy tỉnh Đồng Nai làm ví dụ (Vũ Cao Thái, Phạm Quang Khánh, Nguyễn Văn Khiêm; sách chuyên khảo, nhà xuất bản Nông nghiệp, 1997)
- Trong những năm gần đây (2003-2004), Viện Quy hoạch – TKNN đã thực hiện Chương trình điều tra bổ sung, chỉnh lý bản đồ đất cấp tỉnh tỷ lệ 1/50.000 – 1/100.000 cho 64 tỉnh thành trong cả nước và được Cục bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa Thông tin) cấp bản quyền tác giả Bản đồ đất của các tỉnh thành được chỉnh lý theo bảng phân loại Việt Nam với hệ thống phân vị, danh pháp và
ký hiệu thống nhất, kế thừa hệ thống phân loại năm 1976 và hệ thống danh pháp quốc tế FAO-UNESCO; theo bảng phân loại chung, các đơn vị chú dẫn bản đồ
Trang 31cấp tỉnh (1/50.000) được chia thành 10 nhóm chính với 40 đơn vị chú dẫn, cụ thể như sau: (bảng 2.1)
Bảng 2.1 : Phân loại sử dụng cho bản đồ đất tỉnh Hậu Giang tỷ lệ 1/50.000
23 Đất phù sa không được bồi thường xuyên, trung tính ít chua Pe
Trang 32X ĐẤT XÓI MÒN TRƠ SỎI ĐÁ
Nguồn: Chương trình điều tra, chỉnh lý BĐ đất cấp tỉnh, 2004 (Viện QH-TKNN)
Ở Việt Nam việc lập QHSDĐ được các chuyên gia nghiên cứu và tiến hành vào những năm 1990; từ việc tham khảo phương pháp QHSDĐ của các nước và của FAO, Việt Nam đã xây dựng lên quy trình lập QHSDĐ theo quy trình chung thống nhất trên cả nước và phân cấp cho các cấp quản lý hành chính theo trình tự:
cả nước-tỉnh-huyện-xã (Quyết định số 657/QĐ-ĐC ngày 28/10/1995 Tổng Cục Địa Chính) về ban hành tạm thời định mức lao động và giá điều tra lập quy họach
Trang 33đã được phê duyệt, đến năm 2010 diện tích nhóm đất nông nghiệp là 25.627 ngàn
ha (77,84% DTTN), nhóm đất phi nông nghiệp 3.925 ngàn ha (chiếm 11,92%) và nhóm đất chưa sử dụng còn 3.371 ngàn ha (10,24% DTTN)
Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, hiện có 60/64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoàn thành QHSDĐ đến năm 2010 và đã được Chính phủ phê duyệt
Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, có 369 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, hoàn thành QHSDĐ (chiếm 59,1% số đơn vị cấp huyện), trong đó chủ
CÔNG TÁC CHUẨN BỊ
ĐIỀU TRA THU THẬP THÔNG TIN VÀ ĐÁNH GIÁ BỔ SUNG
VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIN, KINH TẾ - XÃ HỘI
ĐÁNH GIÁ BỔ SUNG VỀ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT, KẾT QUẢ THỰC HIỆN QH, KH SỬ DỤNG ĐẤT
XÂY DỰNG VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN ĐIỀU CHỈNH QUY
Trang 34yếu mới lập QHSDĐ của các huyện, còn QHSDĐ đô thị (quận, thị xã) hầu hết chưa được lập
Quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã, có 3.597 xã, phường, thị trấn của 36 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoàn thành QHSDĐ (chiếm 34,2% tổng số đơn vị cấp xã); 903 xã, phường, thị trấn khác của 25 tỉnh, thành phố đang triển khai (chiếm 8,6% tổng số đơn vị cấp xã), trong đó chủ yếu mới lập QHSDĐ của các xã, còn quy hoạch sử dụng đất đô thị của hầu hết các phường chưa được lập
Ngày nay sự phát triển của khoa học kỹ thuật cho phép chúng ta sử dụng những công nghệ tiên tiến vào quá trình QHSDĐ, điển hình là công nghệ GIS và các phần mềm hỗ trợ như ACCESS, EXCEL,… để nâng cao hiệu quả của quá trình QHSDĐ Trong thời gian qua đã có nhiều tỉnh, thành trong cả nước ứng dụng các công nghệ tiên tiến này vào công tác quy hoạch và quản lý tài nguyên đất đai Tuy nhiên, do đầu tư về máy móc, phần mềm và nhân lực khá tốn kém nên công nghệ này chưa được áp dụng phổ biến
2.2.3 Công tác đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất ở tỉnh Hậu Giang
Đối với tỉnh Hậu Giang, tài nguyên đất đai cũng được đề cập trong một số tài liệu, tuy nhiên những nghiên cứu chỉ mang tính tổng quan của vùng và tỉnh Cần Thơ cũ; đồng thời những tài liệu này cũng xây dựng từ khá lâu (năm 1990 về trước):
- Bản đồ đất miền Nam Việt Nam, tỷ lệ 1/1.000.000 do Moorman - chuyên viên thổ nhưỡng của FAO tiến hành khảo sát và xây dựng (1958-1961), mở đầu một quan điểm hệ thống vận dụng đặc điểm phát sinh như khí hậu, đá mẹ, địa hình và tính chất của đất, chia đất toàn miền Nam Việt Nam thành 26 đơn vị chú dẫn bản đồ
- Đất đai miền châu thổ sông Cửu Long, tài liệu thuyết minh cho các bản
đồ đất tỷ lệ 1/200.000 và 1/100.000 của các tỉnh miền Tây (Thái Công Tụng, 1972), lập lại và chi tiết hoá một phần bản đồ đất tổng quát của Moorman Toàn
Trang 35ĐBSCL được chia 6 đơn vị tự nhiên với 9 nhóm đất chính và nhiều biểu loại (series)
- Các bản đồ đất có liên quan trực tiếp đến tài nguyên đất tỉnh Hậu Giang hiện nay gồm có:
+ Bản đồ đất ĐBSCL, 1/250.000 (Tôn Thất Chiểu và ctv, 1989, CT 60-B) + Bản đồ đất tỉnh Hậu Giang (TP Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang và tỉnh Sóc Trăng hiện nay), tỷ lệ 1/100.000 (Phân viện Quy hoạch - TKNN, 1986-1989);
+ Bản đồ đất tỉnh Cần Thơ (TP Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang hiện nay), tỷ
lệ 1/50.000, theo chương trình chỉnh lý bản đồ đất của 64 tỉnh thành (Viện Quy hoạch -TKNN, 2003-2004)
Nhìn chung, các tài liệu và kết quả nghiên cứu nói trên có giá trị cao về mặt khoa học và thực tiễn, làm cơ sở quan trọng cho những nghiên cứu về đất tiếp theo, đã có những đóng góp thiết thực cho việc bố trí sử dụng đất
Phương án QHSDĐ của tỉnh Hậu Giang đã được xây dựng năm 1998 lúc còn là tỉnh Cần Thơ cũ; theo quy định của Luật Đất đai 2003, khi có sự điều chỉnh địa giới hành chính của địa phương hoặc có sự điều chỉnh QHSDĐ của cấp trên trực tiếp làm ảnh hưởng tới QHSDĐ của cấp mình thì cần phải điều chỉnh, bổ sung QH-KH SDĐ cho phù hợp với điều kiện thực tế và phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương
2.3 Tổng quan về ứng dụng công nghệ trong nghiên cứu tài nguyên đất 2.3.1 Ứng dụng công nghệ thông tin trong nghiên cứu tài nguyên đất trên Thế giới
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, việc ứng dụng công nghệ tin học, mà cụ thể là hệ thống thông tin địa lý (GIS) đã bắt đầu xuất hiện vào cuối năm 1960 và đến nay đã phát triển hoàn chỉnh với khả năng thu nhận, lưu trữ, truy cập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin cần thiết để hỗ trợ quá trình lập quyết
Trang 36định trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đặt biệt là trong lĩnh vực đánh giá đất đai phục vụ cho phát triển sản xuất nông lâm nghiệp
- GIS đã được ứng dụng khá rộng rãi trong đánh giá đất đai ở trong các trường đại học cũng như các cơ quan nghiên cứu tài nguyên đất đai tại Mỹ
- Trên quy mô toàn thế giới, FAO (1983) đã ứng dụng GIS trong mô hình phân vùng sinh thái nông nghiệp (Agro-Ecological Zone: AEZ) để đánh giá đất đai cả thế giới ở tỷ lệ 1/5.000.000
- GIS cũng được ứng dụng rất hiệu quả trong nghiên cứu tài nguyên đất đai của nhiều quốc gia: Nepal (Madan Pariyar và Gajendra Singh, 1994), Jordan (Madan Pariyar và Gajendra Singh, 1994), Tây Ban Nha (Navas và Machin, 1997), Phillipines (Badibas, 1998), …
Ngoài ra, còn có các nghiên cứu tích hợp GIS với Viễn thám, GPS và mạng Nơron nhân tạo (Artificial Neural Network-ANN) trong đánh giá đất đai theo phương pháp đánh giá đất của FAO
Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đều đã ứng dụng GIS trong nghiên cứu, quản lý tài nguyên đất đai Ứng dụng GIS trong lĩnh vực này đã đem lại hiệu quả vô cùng to lớn, giúp cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ và chính xác cho các nhà quản lý ra quyết định hợp lý phục vụ chiến lược phát triển KT-XH bền vững
- Chương trình đánh giá đất tự động ALES (Automated Land Evaluation System) được xây dựng năm 1987 bởi Nhóm đất quốc tế tại đại học Cornell-Mỹ, Rossiter là người thiết kế hệ thống và viết chương trình, mùa hè năm 1988 phát hành phiên bản đầu tiên ALES version 1.0, qua nhiều lần cập nhật ALES version 4.65 được phát hành vào 12/1996 (cho đến nay đây là phiên bản mới nhất)
ALES là chương trình máy tính cho phép các nhà đánh giá đất xây dựng
mô hình theo hệ chuyên gia để đánh giá khả năng thích nghi đất đai theo phương pháp FAO (framework for land evaluation, FAO) Mục đích của ALES là cho phép các nhà đánh giá đất có thể đối chiếu, giải thích các tương tác giữa yêu cầu
Trang 37sử dụng đất và tính chất đất đai ALES không chứa bất kỳ một nguồn thông tin nào mà nó được cấu trúc để tích hợp kiến thức chuyên gia, kinh nghiệm của nông dân nhằm mô hình hoá sự phát triển của loại hình sử dụng đất được lựa chọn ALES xây dựng phần khung chương trình, phần cơ sở dữ liệu tùy thuộc vào mục đích của người sử dụng
Cũng như GIS, chương trình ALES được ứng dụng rộng rãi trong công tác đánh giá đất ở nhiều quốc gia, hiện nay có khoảng 200 tổ chức (Bộ, Viện, Trường Đại học,…) ứng dụng ALES trong giảng dạy và nghiên cứu đánh giá đất đai theo phương pháp của FAO (ALES Homepage/ALES’ user, David Rossiter, 2004)
2.3.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong nghiên cứu tài nguyên đất ở Việt Nam
Ở Việt Nam, công nghệ GIS mới được biết đến vào đầu thập niên 90 Ứng dụng đầu tiên của GIS trong nghiên cứu tài nguyên đất đai ở Đồng bằng sông Hồng, kết quả đã xây dựng “Bản đồ sinh thái Đồng bằng sông Hồng, tỷ lệ 1/250.000” (Viện Quy hoạch - TKNN, 1990) Tiếp sau đó, GIS đã được ứng dụng rộng rãi trong việc xây dựng các lớp thông tin chuyên đề: thổ nhưỡng, sử dụng đất, thủy lợi… phục vụ cho nghiên cứu tài nguyên đất đai, quy hoạch sử dụng đất
Phân viện Quy hoạch - TKNN đã ứng dụng GIS để đánh giá đất đai cho tỉnh Đồng Nai (Phạm Quang Khánh và ctg, 1991-1993) theo phương pháp của FAO cho 7 loại hình sử dụng đất chính: chuyên lúa, lúa+màu, chuyên màu, cây công nghiệp, cây ăn quả, thủy sản, lâm nghiệp Trong đó, đã ứng dụng GIS để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai (LMU) với các tính chất: thổ nhưỡng, độ dốc, tầng dày, khả năng tưới, lượng mưa,… Đối chiếu giữa yêu cầu sử dụng đất với tính chất tự nhiên của từng LMU và xem xét thêm đến các vấn đề kinh tế-xã hội và môi trường của từng loại hình sử dụng đất, kết quả cho ra bảng thích nghi cây trồng, dùng GIS để biểu diễn kết quả bản đồ đánh giá thích nghi (tỷ lệ 1/250.000) Tương tự, GIS cũng được ứng dụng trong các nghiên cứu đánh giá đất đai ở tỷ lệ
Trang 38bản đồ 1/100.000-1/50.000: Phân vùng sinh thái nông nghiệp tỉnh Đắc Lắc (Vũ Năng Dũng, Nguyễn Văn Nhân và ctg, 1998); Đánh giá đất đai Bình Phước (Phạm Quang Khánh và ctg, 1999); Đánh giá đất đai tỉnh Bạc Liêu (Nguyễn Văn Nhân và ctg, 2000); Đánh giá đất đai 3 tỉnh Tây Nguyên: Đắc Lắc, Gia Lai, Kom Tum (NIAAP và Đại học Catholic-Leuven-Bỉ, 2000-2002); Đánh giá đất lúa phục
vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng tỉnh An Giang (Nguyễn Văn Nhân, 2003)
Ngoài ra, trong các chương trình QHSDĐ cấp tỉnh, huyện, xã ở các tỉnh: Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước, Long An, Cần Thơ, Bạc Liêu, Kiên Giang, Đồng Tháp, Cà Mau… Phân viện Quy hoạch - TKNN đã ứng dụng GIS trong đánh giá đất đai (theo phương pháp của FAO); tuy nhiên, việc đánh giá đất đai phục vụ cho QHSDĐ chủ yếu vẫn tập trung vào đánh giá thích nghi cây trồng theo yếu tố tự nhiên
Bên cạnh đó còn có các nghiên cứu tích hợp GIS và Viễn thám trong đánh giá đất đai, trong đó ứng dụng viễn thám để xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất, từ đó chọn các loại hình sử dụng đất đưa vào mô hình ứng dụng GIS để đánh giá đất đai, đáng kể nhất là 2 nghiên cứu sau: (1) Đánh giá đất đai tỉnh Lâm Đồng (Trần An Phong và ctg, 2001) và (2) Đánh giá khả năng thích nghi đất đai cây lúa vùng Tiền Giang, tác giả chỉ xây dựng mô hình đánh giá thích nghi tự nhiên (luận văn cao học, Trần Thị Vân, 2002)
Trong Chương trình điều tra bổ sung, chỉnh lý bản đồ đất cấp tỉnh tỷ lệ 1/50.000 – 1/100.000, Viện QH – TKNN thực hiện năm 2003–2004, GIS đã được ứng dụng phổ biến trong các đề án; trong đó, bản đồ đất của 12 tỉnh vùng ĐBSCL
đã sử dụng kỹ thuật GIS để số hóa, lưu trữ các lớp thông tin của bản đồ (địa hình,
loại đất, tầng dầy, mức độ glây,…) theo các "trường" với hệ thống "mã số"
(Coding system) thống nhất
Hiện nay, hầu hết các nghiên cứu về đánh giá đất đai ở nước ta đều ứng dụng GIS, bước đầu vận dụng có hiệu quả các tiện ích sẵn có của GIS Tuy nhiên,
Trang 39việc ứng dụng GIS chỉ mới dừng lại ở mức xây dựng bản đồ đơn vị đất đai (dùng chức năng OVERLAY của GIS) và biểu diễn kết quả đánh giá thích nghi (bản đồ khả năng thích nghi cây trồng) Các công đoạn đối chiếu giữa chất lượng hoặc tính chất đất đai (LQ/LC) và yêu cầu sử dụng đất (LUR) của cây trồng còn phải thực hiện bằng phương pháp cổ điển (bằng tay), sau đó nhập kết quả đánh giá thích nghi vào GIS để biểu diễn Các chỉ tiêu về kinh tế (đầu tư, tổng giá trị sản phẩm, lãi, thu nhập,…) của các loại hình sử dụng đất cũng được xử lý riêng bên ngoài (bằng phần mềm Lotus 123, Quatro, Microsoft Excel) Do đó, việc tự động hoá công đoạn đối chiếu giữa LQ/LC và LUR và tự động tính toán hiệu quả kinh
tế các loại hình sử dụng đất là yêu cầu khách quan và cấp thiết
Ở Việt Nam, ALES được ứng dụng vào đánh giá đất đai cho các tỉnh Tây Nguyên, kết quả tương đối phù hợp so với cách làm trước đây Ứng dụng ALES trong đánh giá đất đai đã đem lại hiệu quả đáng kể, tiết kiệm thời gian, nâng cao năng suất lao động và hạn chế sai sót (NIAPP và đại học Catholic–Leuven của Bỉ, 2000-2002)
Các nghiên cứu cho thấy ALES là một hệ thống hỗ trợ ra quyết định, kết quả đầu ra tùy thuộc vào hệ chuyên gia và số liệu đầu vào của vùng nghiên cứu,
do đó có thể ứng dụng ALES cho nghiên cứu đánh giá đất đai ở bất cứ địa phương nào và ở mọi quy mô, mọi tỷ lệ bản đồ
2.3.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong đánh giá đất đai ở địa bàn tỉnh Hậu Giang
Do tỉnh Hậu Giang mới được chia tách (tháng 1/2004) nên hầu hết các tài liệu về đất, thích nghi đất hiện có là của tỉnh Cần Thơ cũ (tỉnh Hậu Giang và TP Cần Thơ hiện nay); gần đây nhất, trong Chương trình “Điều tra bổ sung, lập bản
đồ đất cấp tỉnh” do Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp miền Nam thực hiện năm 2003-2004 đã ứng dụng công nghệ thông tin trong xây dựng bản đồ
Trang 40đất tỉnh Cần Thơ tỉ lệ 1/50.000 và đánh giá thích nghi đất đai phục vụ chuyển đổi
cơ cấu sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Cần Thơ
Trong đề tài này, chúng tôi ứng dụng GIS để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai, dùng ALES để đối chiếu yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất với chất lượng đất đai để đánh giá thích nghi Kết quả thích nghi đất đai được xuất sang GIS để biểu diễn dữ liệu ở dạng vector
2.4 Phương pháp đánh giá đất của FAO
2.4.1 Định nghĩa
Đánh giá khả năng thích nghi đất đai hay còn gọi là đánh giá đất đai (Land Evaluation) có thể được định nghĩa như sau: “Quá trình dự đoán tiềm năng đất đai khi sử dụng cho các mục đích cụ thể” Hay là dự đoán tác động của mỗi đơn vị đất đai đối với mỗi loại hình sử dụng đất
Quá trình đánh giá đất đai có liên quan đến 3 lĩnh vực chính: Tài nguyên đất đai (Land resources), sử dụng đất (Land use) và kinh tế - xã hội (Socio-economic)
Đất đai (Land): bao gồm tài nguyên đất (soil), nước, khí hậu và các điều kiện tự nhiên khác có liên quan đến sử dụng đất
Sử dụng đất: những thông tin về đặc điểm sinh thái và yêu cầu kỹ thuật của các loại hình sử dụng đất
Kinh tế xã hội: bao gồm những đặc điểm khái quát về kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quá trình sử dụng đất (giá trị sản xuất, thu nhập, đầu tư, tập quán canh tác…)
Có hai loại thích nghi trong hệ thống đánh giá đất đai của FAO: thích nghi
tự nhiên và thích nghi kinh tế
Đánh giá thích nghi tự nhiên: chỉ ra mức độ thích hợp của loại hình sử dụng đất đối với điều kiện tự nhiên không tính đến các điều kiện kinh tế