Tuy nhiên việc áp dụng luật bảo vệ môi trường vào các cơ sở sản xuất trong làng nghề còn gặp nhiều khó khăn, do thiếu sự quan tâm của chính quyền, khó khăn về điều kiện kinh tế cũng như
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC PHỤ LỤC viii
MỞ ĐẦU 1
1.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 3
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 3
1.1.2 Tình hình phát triển và đặc điểm làng nghề ở Việt Nam 4
1.1.2.1 Tình hình phát triển các làng nghề ở Việt Nam 4
1.1.2.2 Đặc điểm của các làng nghề ở Việt Nam 5
1.1.3 Hiện trạng môi trường làng nghề ở Việt Nam 5
1.1.3.1 Ô nhiễm nguồn nước 6
1.1.3.2 Ô nhiễm môi trường đất 7
1.1.3.3 Ô nhiễm không khí 8
1.1.3.4 Ô nhiễm tiếng ồn 9
1.1.4 Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường đối với làng nghề 9
1.1.4.1 Các quy định pháp luật liên quan 9
1.1.4.2 Các yếu tố đảm bảo thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ở làng nghề 11
1.1.4.3 Những khó khăn trong áp dụng luật bảo vệ môi trường ở các làng nghề Việt Nam 13
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 14
1.2.1 Các nghiên cứu trong nước 14
1.2.2 Các nghiên cứu ngoài nước 15
1.3 Tổng quan về làng nghề Gốm Chòm Sao 16
1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển 16
1.3.2 Vị trí và điều kiện tự nhiên 17
1.3.2.1 Vị trí địa lý 17
1.3.2.2 Điều kiện tự nhiên 18
1.3.3 Các cơ sở hoạt động ở làng nghề 19
1.4 tổng quan về Quy trình sản xuất gốm sứ 20
1.4.1 Nhu cầu nguyên liệu và máy móc – thiết bị 20
1.4.1.1 Cơ sở Phước Xuân Long 20
1.4.1.2 Cơ sở Thân Phát 21
1.4.1.3 Cơ sở Chánh Vương Kiết 21
Trang 21.4.2 Quy trình sản xuất gốm sứ 22
1.5 CÁC VẤN ĐỀ môi trường PHÁT SINH ở làng nghề GỐM Chòm Sao 25
1.5.1 Môi trường không khí 25
1.5.2 Môi trường nước 26
1.5.3 Tiếng ồn 27
1.5.4 Chất thải rắn 28
1.5.5 An toàn vệ sinh lao động 29
PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Nội dung nghiên cứu 31
2.2 Phương pháp nghiên cứu 31
2.2.1 Phương pháp tham khảo tài liệu liên quan 31
2.2.2 Phương pháp thực địa 31
2.2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu 32
2.2.4 Phương pháp phỏng vấn trực tiếp 32
2.2.5 Phương pháp toán học 33
2.2.6 Phương đo đạc các thông số vi khí hậu và tiếng ồn 34
2.2.7 Phương pháp phân tích – tổng hợp 35
PHẦN 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 Hiện trạng môi trường tại ở làng nghề gốm Chòm Sao 36
3.1.1 Môi trường không khí 36
3.1.2 Môi trường nước 49
3.1.3 Vi khí hậu và tiếng ồn 52
3.1.4 Chất thải rắn 54
3.1.5 An toàn vệ sinh lao động 55
3.2 Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường ở làng nghề GỐM Chòm Sao 56
3.2.1 Mức độ tuân thủ pháp luật bảo vệ môi trường của các cơ sở trong làng nghề 56
3.2.2 Mức độ ảnh hưởng từ các hoạt động sản xuất của các cơ sở đến người dân 58
3.2.3 Mức độ quản lý của cơ quan địa phương đối với các cơ sở trong làng nghề 60
3.3 Thực trạng áp dụng luật bảo vệ môi trường ở làng nghề Chòm Sao 62
3.4 Đề xuất giải pháp KHẮC PHỤC cho làng nghề Chòm Sao 68
3.4.1 Giải pháp nâng cao chất lượng môi trường làng nghề 68
3.4.1.1 Môi trường không khí 68
3.4.1.2 Môi trường nước 69
3.4.1.3 Các điều kiện vi khí hậu và tiếng ồn 69
3.4.1.4 Chất thải rắn 69
3.4.2 Giải pháp đảm bảo tuân thủ pháp luật bảo vệ môi trường ở làng nghề Chòm Sao 70
Trang 33.4.2.1 Giải pháp về chính sách 70
3.4.2.2 Giải pháp về kinh tế 70
3.4.2.3 Giải pháp hỗ trợ 70
PHẦN 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
4.1 Kết luận 71
4.2 Kiến nghị 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 74
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Đặc trưng nước thải một số làng nghề chế biến nông sản thực phẩm 7
Bảng 1.2 Đặc điểm các cơ sở tại làng nghề gốm Chòm Sao 19
Bảng 1.3 Nhu cầu nguyên vật liệu, máy móc thiết bị của cơ sở Phước Xuân Long 20
Bảng 1.4 Nhu cầu nguyên vật liệu và máy móc thiết bị của cơ sở Lý Quang 21
Bảng 1.5 Nhu cầu nguyên vật liệu, máy móc thiết bị của cơ sở Vương Chánh Kiết 21
Bảng 1.6 Các vấn đề môi trường không khí phát sinh tại làng nghề 25
Bảng 1.7 Các vấn đề môi trường nước phát sinh tại làng nghề 26
Bảng 1.8 Các nguồn phát sinh tiếng ồn tại làng nghề 27
Bảng 1.9 Các nguồn phát sinh chất thải rắn tại làng nghề 28
Bảng 1.10 Các vấn đề về an toàn vệ sinh lao động phát sinh tại làng nghề 29
Bảng 3.1 Tổng hợp về lượt xe và quãng đường di chuyển của các phương tiện ra vào các cơ sở 36
Bảng 3.2 Hệ số tải lượng ô nhiễm của các phương tiện giao thông 37
Bảng 3.3 Tải lượng các chất ô nhiễm phát thải của các phương tiện giao thông tại cơ sở Phước Xuân Long 38
Bảng 3.4 Công suất phát thải chất ô nhiễm của nguồn đường tại cơ sở Phước Xuân Long 38
Bảng 3.5 Tải lượng các chất ô nhiễm phát thải của các phương tiện giao thông tại cơ sở Thân Phát 39
Bảng 3.6 Công suất phát thải chất ô nhiễm của nguồn đường tại cơ sở Thân Phát 40
Bảng 3.7 Tải lượng các chất ô nhiễm phát thải của các phương tiện giao thông tại cơ sở Chánh Vương Kiết 40
Bảng 3.8 Công suất phát thải chất ô nhiễm của nguồn đường tại cơ sở Chánh Vương Kiết 41
Bảng 3.9 Hệ số các chất ô nhiễm trong quá trình sản xuất các sản phẩm đất sét 42
Bảng 3.10 Khối lượng nguyên liệu và tải lượng của bụi tương ứng với từng công đoạn tại mỗi cơ sở 42 Bảng 3.11 Hệ số phát tán và tải lượng các chất ô nhiễm khi đốt củi, gỗ vụn tại lò nung của cơ sở Phước Xuân Long 43
Bảng 3.12 Nồng độ các chất ô nhiễm đặc trưng trong khí thải lò nung đốt củi tại cơ sở Phước Xuân Long 44
Bảng 3.13 Hệ số phát tán và tải lượng các chất ô nhiễm khi đốt củi, gỗ vụn tại lò nung của cơ sở Thân Phát 45
Bảng 3.14 Nồng độ các chất ô nhiễm trong khí thải lò nung đốt củi tại cơ sở Thân Phát 45
Bảng 3.15 Hệ số phát tán và tải lượng các chất ô nhiễm khi đốt củi, gỗ vụn tại lò nung của cơ sở Chánh Vương Kiết 46
Bảng 3.16 Nồng độ một số chỉ tiêu đặc trưng trong khí thải lò nung đốt củi tại cơ sở Chánh Vương Kiết 46
Bảng 3.17 Hệ số tải lượng khí thải từ máy phát điện 47
Bảng 3.18 Nồng độ khí thải của máy phát điện tại cơ sở Phước Xuân Long 48
Bảng 3.19 Hệ số phát thải nước thải theo giá trị sản xuất của ngành sản xuất gốm 49
Trang 5Bảng 3.20 Giá trị sản xuất của mỗi cơ sở trong làng nghề 50
Bảng 3.21 Lượng nước thải sản xuất phát sinh của mỗi cơ sở 50
Bảng 3.22 Lượng nước thải sinh hoạt phát sinh tại mỗi cơ sở 51
Bảng 3.23 Kết quả phân tích mẫu nước thải tại cơ sở Phước Xuân Long 51
Bảng 3.24 Kết quả đo đạc vi khí hậu và độ ồn cơ sở Phước Xuân Long 52
Bảng 3.25 Kết quả đo đạc vi khí hậu và tiếng ồn cơ sở Thân Phát 53
Bảng 3.26 Kết quả đo đạc vi khí hậu và tiếng ồn cơ sở Chánh Vương Kiết 53
Bảng 3.27 Kết quả khảo sát thực địa khối lượng chất thải rắn sản xuất phát sinh 55
Bảng 3.28 Kết quả thực hiện các quy định bảo vệ môi trường của các cơ sở trong làng nghề 56
Bảng 3.29 Kết quả khảo sát người dân về các vấn đề môi trường tại làng nghề 58
Bảng 3.30 Kết quả khảo sát cơ quan địa phương về mức độ quản lý đối với các vấn đề môi trường tại các cơ sở 60
Bảng 3.31 Thực trạng áp dụng luật bảo vệ môi trường của các cơ sở trong làng nghề 62
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ quy trình sản xuất gốm 23
Trang 8DANH MỤC PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1 – BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT 74 PHỤC LỤC 3 – KẾT QUẢ PHÂN TÍCH MẪU NƯỚC THẢI 82 PHỤ LỤC 2 – HÌNH ẢNH THỰC NGHIỆM 83
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự phát triển khoa học
kỹ thuật thì nền kinh tế nước ta đã có những bước tiến lớn Từ đó, đời sống người dân được cải thiện và nâng cao, để đáp ứng nhu cầu con người ngày càng nhiều cơ sở sản xuất, nhà máy được thành lập và đi vào hoạt động Bên cạnh các tác động tích cực thì việc gia tăng sản xuất cũng đặt ra vấn đề về môi trường, ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng
Đặc biệt là các làng nghề truyền thống với việc sử dụng các công nghệ sản xuất lâu đời, các cơ sở thường ở quy mô nhỏ lẻ, không có hệ thống xử lý các chất thải sau sản xuất nên nó trở thành mối lo cho môi trường sống khu vực Do đó đã có hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường được xây dựng cho các làng nghề để kiểm soát vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề Tuy nhiên việc áp dụng luật bảo vệ môi trường vào các
cơ sở sản xuất trong làng nghề còn gặp nhiều khó khăn, do thiếu sự quan tâm của chính quyền, khó khăn về điều kiện kinh tế cũng như chưa nắm được các quy định pháp luật liên quan
Nghề làm gốm là một nghề truyền thống, có từ lâu đời của nước ta, các cơ sở thường sản xuất ở quy mô nhỏ lẻ, phân tán nên chất thải phát sinh từ quá trình sản xuất chưa được thu gom tốt Bên canh đó, việc sản xuất theo phương thức quy trình thủ công, sử dụng các hóa chất, phẩm màu và nhiên liệu cho quá trình nung sản phẩm tạo
ra nhiều khói, bụi, hơi dung môi, gây ảnh hưởng đến môi trường cũng như sức khỏe của người lao động Đó cũng là một trong những lý do số lượng các làng nghề làm gồm ngày càng giảm, bởi việc gây ô nhiễm môi trường nên nhiều nơi bị buộc ngừng hoạt động
Làng nghề gốm Chòm Sao là một trong những làng nghề gốm cổ hiện còn hoạt động tại Bình Dương Để đảm bảo làng nghề được tiếp tục duy trì hoạt động và giải
quyết các vấn đề về môi trường và sức khỏe cho người lao động thì đề tài “Đánh giá
thực trạng áp dụng Luật Bảo vệ Môi trường tại làng nghề gốm Chòm Sao ở thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương” là rất cần thiết
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
➢ Đối tượng nghiên cứu
- Các vấn đề môi trường phát sinh tại làng nghề gốm Chòm Sao
Trang 10- Các quy định pháp luật bảo vệ môi trường áp dụng cho làng nghề gốm Chòm Sao
➢ Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Nghiên cứu tại làng nghề gốm Chòm Sao thuộc thị xã Thuận An,
tỉnh Bình Dương
- Thời gian: Từ tháng 09/2017 đến tháng 03/2018
4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Đánh giá được hiệu quả của việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ở làng nghề gốm Chòm Sao, từ đó đề xuất biện pháp chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường cho làng nghề
Mở ra hướng phát triển mới cho các làng nghề theo hướng bền vững Trên cơ sở đó giúp nhà nước quản lý tốt hơn các vấn đề môi trường tại các làng nghề
Trang 11PHẦN 1 TỔNG QUAN
1.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Theo định nghĩa của Thông tư số 46/2011/TT-BTNMT ngày 26/12/2011 của Bộ TNMT Quy định về BVMT làng nghề:
Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc
hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, phường, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất tiểu thủ công nghiệp sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản
phẩm khác nhau
Theo định nghĩa của Luật bảo vệ môi trường 2014:
Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối
với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật
Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác
động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành
Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng
môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường
Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi
trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường
Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc
hoạt động khác
Quản lý chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu
gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải
Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp
với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật
Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần
môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật
Kiểm soát ô nhiễm là quá trình phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô
nhiễm
Trang 12Theo định nghĩa của Tiêu chuẩn quốc tế ISO 14001:2015
ISO 14001 là tiêu chuẩn quy định các yêu cầu đối với hệ thống quản lý môitrường
cho phép một tổ chức thiết lập, thực hiện chính sách và các mục tiêu về môi trường của mình, có xem xét đến các yêu cầu của pháp luật và yêu cầu khác mà tổ chức tuân thủ, cũng như có xét đến các khía cạnh môi trường có ý nghĩa liên quan đến hoạt động, sản phẩm, dịch vụ mà tổ chức đó có thể kiểm soát và có ảnh hưởng
1.1.2 Tình hình phát triển và đặc điểm làng nghề ở Việt Nam
1.1.2.1 Tình hình phát triển các làng nghề ở Việt Nam
Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tới thế giới đã có nhiều nhà cửa, khu công nghiệp, đường xá, các tiện ích khác nhau được xây dựng nhằm đáp ứng cho nhu cầu của con ngưởi Cùng với sự phát triển đó, các làng nghề truyền thống thủ công dần dần bị thay thế bởi những nhà máy và bàn tay của người thợ lại thay bằng những máy móc - thiết bị hiện đại Tuy nhiên làng quê Việt Nam vẫn còn lưu giữ được nhiều làng nghề truyền thống góp phần tô điểm thêm cho nền văn hóa phong phú, đa dạng của nước ta
Làng nghề là một tài sản quý báo của dân tộc ta Theo lịch sử đã ghi lại, nhiều ngành nghề thủ công đã xuất hiện ở nước ta từ hàng trăm năm nay, có nghề từ hàng nghìn năm nay; từ đó, cũng đã hình thành các làng nghề; mỗi làng nghề mang đặc trưng của nghề ấy Tiêu biểu là những làng nghề Lụa Vạn Phúc, Gốm sứ Bát Tràng, chạm khảm Chuôn Ngọ, gò đồng Đại Bái, vàng bạc Châu Khê ở miền Bắc; làng thêu Huế, đồ gỗ và đúc đồng Phước Kiều, thổ cẩm Mỹ Nghiệp, gốm Bàu Trúc ở miền Trung, dệt thổ cẩm Châu Phong, đường thốt nốt An Giang; gốm Đồng Nai; gốm sứ Bình Dương; kẹo dừa Bến Tre ở miền Nam…,và còn rất nhiều làng nghề nổi tiếng, không thể kể hết
Một đặc thù điển hình của các làng nghề là tự phát, nên con số làng nghề cũng luôn biến động và phụ thuộc vào nhu cầu xã hội với một loại hình sản phẩm nhất định (khả năng cân đối giữa cung – cầu) Mặt khác trong báo cáo của một số địa phương thì thuật ngữ “làng nghề” còn được sử dụng rất tuỳ tiện, đôi khi dùng cho một làng nhưng
là đại diện cho một số làng trong một xã hoặc đó là xã nghề, phố nghề Nhiều địa phương không quan tâm tới tính chất về số lượng hoặc chất lượng của làng nghề, ví dụ như một làng nghề phải có bao nhiêu phần trăm số hộ tham gia hoặc có liên quan tới nghề, và giá trị sản lượng của nghề chiếm bao nhiêu phần trăm tổng giá trị sản lượng của cả làng Một số làng vẫn được coi như là các làng thủ công truyền thống, tuy nhiên lại có rất ít hộ làm nghề này
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến 31-12-2014 số làng nghề và làng có nghề ở nước ta là 5.096 làng nghề Số làng nghề truyền thống được công nhận theo tiêu chí làng nghề hiện nay của Chính phủ là 1.748 làng nghề, thu hút khoảng 10 triệu lao động (trong đó Hà Nội có 1.350 làng nghề và làng có nghề, trong đó 286 làng nghề đã được UBND thành phố công nhận là làng nghề truyền thống) Nhiều làng nghề truyền thống ở nước ta đã tồn tại từ 500 đến 1.000 năm trước,
Trang 13trở thành những làng nghề tiêu biểu, được cả nước và thế giới biết đến, như lụa Vạn Phúc, tranh Đông Hồ, gốm sứ Bát Tràng,…
1.1.2.2 Đặc điểm của các làng nghề ở Việt Nam
Quy mô sản xuất nghề rất nhỏ (hộ gia đình, thôn, xóm) Các làng nghề thường có mật độ dân cư đông đúc, vì vậy thiếu mặt bằng sản xuất, các xưởng sản xuất thường xen kẽ với khu dân cư Theo lẽ thường, các làng nghề càng phát triển mạnh thì càng thu hút nhiều lao động Trước hết là lao động tại chỗ, con em các gia đình không phải
ly hương tìm đường kiếm sống, thứ đến là làng nghề phát triển mạnh sẽ thu hút thêm lao động ở các vùng lân cận, làm cho mật độ dân cư của làng nghề đã lớn lại càng lớn hơn, trình độ quản lý yếu kém, thiết bị chắp vá lạc hậu, hoạt động thủ công là chủ yếu Lực lượng lao động không phân biệt tuổi tác, giới tính, phần lớn có quan hệ gia đình dòng họ, được đào tạo theo kiểu kinh nghiệm “cha truyền con nối” Do đó bên cạnh một số ít nghệ nhân và những người thợ có tay nghề cao, thì có đến 55% lao động tại các làng nghề chưa qua đào tạo, khoảng 36% không có chuyên môn kỹ thuật Đối với các hộn kiêm (vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm nghề), có tới 79% lao động không có chuyên môn kỹ thuật
Phát triển không theo quy hoạch, không ổn định, có tính thời vụ, thăng trầm phụ thuộc vào nhu cầu thị trường trong và ngoài nước và đặc điểm sản xuất
Làng nghề từ Bắc đến Nam có nhiều tính chất tương đồng về nghề, về sản phẩm, tính văn hóa nghệ thuật do hiện tượng di dân, di nghề và sự bành trướng tự nhiên của hiện tượng kinh tế - xã hội làng nghề
Trình độ công nghệ và các phương tiện sản xuất tại các làng nghề ở nông thôn còn lạc hậu, hạ tầng kỹ thuật rất thấp, nhiều cơ sở chưa có nhà xưởng kiên cố, phần lớn còn làm việc bằng tay Hầu hết các hộ, cơ sở ngành nghề nông thôn còn sử dụng các loại công cụ thủ công truyền thống hoặc có cải tiến một phần Trừ một số cơ sở mới xây dựng có công nghệ tiên tiến, đa số còn lại nhất là ở khu vực hộ gia đình, trình độ công nghệ lạc hậu, trình độ cơ khí còn rất thấp, thiết bị phần lớn là đơn giản không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, an toàn và do đó, nảy sinh nhiều vấn đề về vệ sinh môi trường
1.1.3 Hiện trạng môi trường làng nghề ở Việt Nam
Bên cạnh những dấu hiệu đáng mừng trong phát triển nghề thủ công truyền thống ở nông thôn Việt Nam, thì có một nỗi lo lắng và day dứt không kém là nguy cơ ô nhiễm môi trường từ các làng nghề
Hiện nay, các chất thải phát sinh từ nhiều làng nghề đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tác động trực tiếp tới sức khoẻ người dân và ngày càng trở thành vấn đề bức xúc
Nguy cơ này phát sinh chính từ đặc thù của hoạt động làng nghề, như quy mô nhỏ, manh mún, công nghệ thủ công, lạc hậu, không đồng bộ, phát triển tự phát, chủ yếu phát triển theo nhu cầu của thị trường Và một thực tế đáng buồn nữa là do sự thiếu
Trang 14hiểu biết của những người dân về tác hại của hoạt động sản xuất đến sức khoẻ của chính bản thân mình và những người xung quanh
1.1.3.1 Ô nhiễm nguồn nước
Hiện nay, tình trạng phổ biến của các hộ, cơ sở sản xuất nghề ở nông thôn là sử dụng ngay diện tích ở làm nơi sản xuất Khi quy mô sản xuất tăng lên hoặc sử dụng thiết bị, hóa chất đã làm cho môi trường sống bị ô nhiễm nặng nề, nhất là ở các làng nghề tái chế phế liệu và chế biến thực phẩm Cho đến nay, phần lớn nước thải tại các làng nghề đều thải thẳng ra ngoài không qua bất kỳ khâu xử lý nào Đây chính là nguyên nhân khiến cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước tại các làng nghề ngày càng tồi
tệ hơn
Theo như một khảo sát mới đây của Viện Khoa học và Công nghệ môi trường (Đại học Bách khoa Hà Nội) và Bộ Khoa học Công nghệ cho thấy, 100% mẫu nước thải ở các làng nghề đều cho thông số ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép Hầu như toàn bộ hệ thống nước mặt, nước ngầm đều có dấu hiệu ô nhiễm
Cũng theo khảo sát của Viện Khoa học và Công nghệ môi trường (Đại học Bách khoa Hà Nội) tại 40 xã ở Hà Nội cho thấy khoảng 60% số xã bị ô nhiễm nặng từ các hoạt động sản xuất Xã Hữu Hòa thuộc huyện Thanh Trì có hơn 30 hộ làm nghề miến dong, bánh đa với công suất từ 30 đến 40 tấn mỗi ngày Toàn bộ nước thải từ ngâm, tẩy trắng bột, cùng với nước thải trong chăn nuôi và sinh hoạt hằng ngày đều chảy trực tiếp vào hệ thống cống rãnh của địa phương, rồi đổ xuống dòng sông Nhuệ Hai xã Phú Diễn và Thượng Cát của huyện Từ Liêm có nghề sản xuất đậu phụ và tình trạng nước thải từ sản xuất đậu phụ đến nước thải từ các chuồng lợn cũng đổ ra hệ thống cống chung của xã bốc mùi hôi và ô nhiễm môi trường Ở huyện Từ Liêm còn một số làng nghề sản xuất bánh kẹo, mứt, ô mai, nghề làm dây ni-lon, sản xuất nhựa tái chế, nghề dệt vải cũng trong tình trạng nước thải từ quá trình sản xuất các sản phẩm đó đều thải trực tiếp vào hệ thống cống thoát nước chung, hay các ao hồ của xã rồi đổ ra các sông
Vấn đề ô nhiễm nước tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm ngày càng trầm trọng Chế biến nông sản thực phẩm là loại hình sản xuất có nhu cầu lớn về sử dụng nước và đồng thời cũng thải ra một lượng nước không nhỏ Nước thải của các làng nghề này có đặc tính chung là rất giàu chất hữu cơ, dễ phân huỷ sinh học Đặc trưng nước thải của một số làng nghề chế biến nông sản thực phẩm cho thấy chất lượng môi trường nước tại các làng nghề là rất đáng lo ngại Cho đến nay, phần lớn nước thải tại các làng nghề đều thải thẳng ra ngoài không qua bất kỳ khâu xử lý nào Nước thải này tồn đọng ở cống rãnh thường bị phân huỷ yếm khí gây ô nhiễm không khí và ngấm xuống lòng đất gây ô nhiễm môi trường đất và suy giảm chất lượng nước ngầm
Trang 15Bảng 1.1 Đặc trưng nước thải một số làng nghề chế biến nông sản thực phẩm Chỉ tiêu
TCCP 5945-
1995
Tinh bột Bình Minh
Bún Phú
Đô
Nước mắm Hải Thanh
Nấu rượu Tân Đô
Đậu phụ Quang Bình
(Nguồn: Báo cáo của Đề tài KC 2008-2009)
Hầu hết nước thải tại các làng nghề ở Hoài Ðức không được xử lý và xả thẳng vào sông Nhuệ, sông Ðáy, gây ô nhiễm cho vùng hạ lưu như Chương Mỹ, Thanh Oai Chất thải rắn cũng chỉ được xử lý đơn giản rồi thu gom chôn lấp tạm thời Một số làng nghề ở xã Dục Tú (Ðông Anh), xã Xuân Ðỉnh (Từ Liêm) chất thải được thu gom rất thủ công, rồi đem chôn lấp qua quýt ở các bãi chôn lấp hở, thậm chí bị thải bỏ và đốt bừa bãi ngay trên các con đê làng hoặc đổ xuống dòng sông Cùng với đó là nguồn nước thải kéo theo nhiều dầu mỡ và các chất hóa học không qua xử lý, khiến chất lượng nước ngầm bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Tại các làng nghề tái chế chất thải phế liệu như làng tái chế kim loại tuy lượng nước thải phát sinh không lớn nhưng lại chứa nhiều kim loại nặng (Zn, Fe, Cr, Ni, Hg, Pb ) và dầu mỡ công nghiệp Theo Báo cáo môi trường Quốc gia 2014 – Môi trường nông thôn của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy nước thải tại làng nghề Đa Hội
và Trịnh Xá (Châu Khê, Bắc Ninh) có nhiều thành phần nguy hại gây ONMT nghiêm trọng: nồng độ Fe vượt TCCP đến 93 lần; nồng độ Zn vượt TCCP 4,7 lần,… Các thông số khác như COD, BOD, SS, độ màu và một số kim loại nặng khác đều vượt quá TCCP Các làng nghề tái chế giấy thì nước thải chứa nhiều hóa chất như xút, nước giaven, phèn, nhựa thông, phẩm màu, xơ sợi, bột giấy, lượng cặn có thể lên tới 300 -
600 mg/l Điển hình như làng nghề tái chế giấy Minh Khai, Hà Nội, hàng năm thải ra khoảng 455.000 m3 nước thải có thành phần rất phức tạp, chứa nhiều loại hợp chất vô
cơ, hữu cơ, vi sinh vật gây bệnh Tại điểm tiếp nhận nguồn nước thải (sông Ngũ Huyện Khê), độ màu vượt TCCP 3,3 đến 4,22 lần; SS vượt TCCP từ 1,4 đến 1,6 lần tại thời điểm phân tích
1.1.3.2 Ô nhiễm môi trường đất
Môi trường đất ở các làng nghề cũng bị suy giảm nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng Diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm do chuyển đổi sang sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Từ khi xây dựng đến lúc đi vào của các làng nghề đều gây ra nhiều tác động đến môi trường Nhiều vùng đất bị ô nhiễm không thể tiếp tục sản xuất
Trang 16Quá trình xây dựng các cơ sở hạ tầng với việc đào xới, san lấp mặt bằng, xây dựng,… tại các làng nghề ảnh hưởng đến cấu trúc đất Đặc biệt, hoạt động của các cơ
sở sản xuất trong làng nghề phát sinh lượng lớn chất thải không qua xử lý mà thải trực tiếp ra môi trường gây tác động đến môi trường đất Nước thải chứa các chất ô nhiễm khi thải ra môi trường sẽ thấm xuống các tầng đất làm suy giảm chất lượng đất, tiêu diệt các sinh vật sống trong đất Việc chôn lấp rác thải nhất là rác thải nguy hại làm các chất ô nhiễm xâm nhập vào đất cũng như xáo trộn cấu tạo đất, giảm độ liên kết giữa các lớp đất Khí thải từ quá trình sản xuất cũng có khả năng làm suy thoái đất khi chúng theo nước mưa lắng đọng xuống đất Hậu quả dẫn đến là đất tại các khu vực trên bị suy thoái, mất khả năng sản xuất, giảm năng suất cây trồng, ảnh hưởng đến đời sống sinh vật và sức khỏe con người
1.1.3.3 Ô nhiễm không khí
Một trong những vấn đề đáng quan tâm tại các làng nghề hiện nay đó chính là ô nhiễm không khí Hầu hết các làng nghề đều sản xuất thủ công nên đều sử dụng than củi và than đá gây ra ô nhiễm không khí như bụi và hơi nước, SO2, CO2, CO va NOx là hết sức phổ biến Trong đó, các khí CO2 và NOx là các tác nhân gây hiệu ứng nhà kính Ngoài ra, các khí độc hại này còn được sinh ra trong quá trình phân hủy yếm khí các hợp chất hữu cơ có trong nước thải, chất thải hữu cơ dạng rắn như H2S, NH3,
CH4…
Đặc biệt là các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng Đây là loại hình làng nghề gây ô nhiễm môi trường lớn nhất về cả chất thải khí, chất thải rắn và nước thải Bụi phát sinh do các hoạt động vận chuyển, chế biến nguyên nhiên vật liệu (đất, đá, cao lanh, xi măng, than, ) và bụi xỉ than tỏa ra từ khói lò Khí thải của các lò nung gạch, ngói, gốm, sứ có chứa các loại khí có hại như CO, SO2, NOx, HF , gây ô nhiễm môi trường không khí rất lớn
Mức độ ô nhiễm không khí tại các làng nghề tái chế kim loại cũng không nhỏ Bụi trong không khí phát sinh từ khâu phân loại, gia công sơ bộ, tẩy gỉ, nấu, cán, kéo, đặc biệt là khu vực bên cạnh các lò đúc thép, hàm lượng bụi thường rất lớn Theo số liệu từ Báo cáo môi trường Quốc gia 2013 – Môi trường không khí của Bộ Tài nguyên và Môi trường, kết quả phân tích không khí tại làng nghề Đa Hội (Bắc Ninh) cho thấy hàm lượng của CO trung bình trong 24h vượt quá tiêu chuẩn cho phép 2-3 lần Tại làng nghề cơ khí Phùng Xá (Hà Nội) nồng độ As vượt giới hạn QCCP 1,5-1,9 lần, nồng độ NO2 và SO2 cũng vượt quá TCCP, nhiệt độ không khí vượt quá nhiệt độ của môi trường từ 4-5°C, gần khu vực làm việc, nhiệt độ lên tới 42°C, cao hơn tiêu chuẩn cho phép trên 10°C, rất có hại đối với người và các hộ sinh hoạt gần đó
Một trong những điểm nóng về khói, bụi là tại các cơ sở sản xuất thép ở Châu Khê (Từ Sơn) Khói bụi từ hàng trăm lò đúc, cán thép không qua bất kỳ một biện pháp xử
lý nào được xả trực tiếp vào môi trường, làm cho bầu không khí ở đây trở nên ôi nồng, ngột ngạt Đã nhiều năm nay, ô nhiễm môi trường là một bài toán khó giải ở Châu Khê
Trang 171.1.3.4 Ô nhiễm tiếng ồn
Không chỉ có nguồn nước và không khí tại các làng nghề bị ô nhiễm, mà tại đây những vấn đề tiếng ồn Đây là ô nhiễm đặc trưng cho các làng nghề mộc và chạm khắc Tiếng ồn phát sinh từ các máy xẻ gỗ, máy cưa, máy tiện, máy bào, máy phun sơn, máy chuốt, xẻ mây song Tại các vị trí này, tiếng ồn đo đều vượt 85dB, cá biệt tại khu vực làm việc bên cạnh các máy xẻ gỗ, chuốt, xẻ mây song tiếng ồn vượt 95dB
Do đặc thù là làng nghề nên nơi sản xuất và nhà ở liền kề nhau, điều này làm cho người công - nôngdân và gia đình họ phải chịu đựng tiếng ồn lớn cả những lúc nghỉ ngơi Có nhiều gia đình mức tiếng ồn đo được trong phòng khách, phòng ngủ lên tới 78dB, vượt quá TCCP tiếng ồn trong khu dân cư (Tiêu chuẩn TCXD 175: 1990, mức tiếng ồn tương đương cho phép là: từ 22h - 6h: 40dB; Từ 6h - 22h: 55 dB) Do không gian chật hẹp, không có vùng đệm nên tiếng ồn mà các cơ sở sản xuất này gây ra cho khu vực xung quanh là khá cao, tại nhiều vị trí trước cửa nhà, mức tiếng ồn lên tới 80-
82 dB
Ở Bình Dương tuy số lượng làng nghề và các cơ sở hoạt động không nhiều như một số địa phương khác chủ yếu là các cơ sở sản xuất về gốm sứ nhưng cũng nảy sinh nhiều vấn đề môi trường Theo báo cáo số 1603/BC-STNMT-CCBVMT ngày 02 tháng 06 năm 2011 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương về việc thực hiện chính sách pháp luật về môi trường tại các làng nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương cho thấy chất thải từ các làng nghề cùng với chất thải của dân cư đã làm cho các kênh rạch chảy qua các làng nghề trên địa bàn tỉnh hiện nay bị ô nhiễm hữu cơ (hàm lượng COD vượt quy chuẩn cho phép từ 1,5 – 3 lần, hàm lượng NH3-N vượt quy chuẩn từ 2 – 4 lần) Môi trường không khí tại các làng nghề này vượt quy chuẩn QCVN 05:2009/BTNMT từ 1,5 – 2 lần Mặc dù các cơ sở, nhà máy gốm sứ trên địa bàn tỉnh Bình Dương có mức độ ô nhiễm môi trường không lớn nhưng do nằm xen kẽ trong khu dân cư, không tập trung thành điểm, cụm như các địa phương khác nên hoạt động của các làng nghề này gây những tác động không nhỏ đến cuộc sống của cộng đồng dân cư trong khu vực
1.1.4 Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường đối với làng nghề
1.1.4.1 Các quy định pháp luật liên quan
Trang 18- Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của Chính phủ về việc quản lý chất thải và phế liệu
* Các quy chuẩn môi trường:
- QCVN 20:2009-MT/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với một số chất hữu cơ;
- QCVN 19:2009-MT/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công
nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ;
- QCVN 05:2013-MT/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh;
- QCVN 06:2009-MT/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về một số chất độc hại trong không khí xung quanh;
- QCVN 08:2015-MT/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước
Trang 191.1.4.2 Các yếu tố đảm bảo thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ở làng nghề
Vấn đề bảo vệ môi trường làng nghề từ lâu đã nhận được nhiều sự quan tâm của Nhà nước và được cụ thể hóa bằng việc xây dựng và ban hành nhiều văn bản pháp luật
để giải quyết các vấn đề môi trường phát sinh từ các hoạt động của làng nghề Thực tiễn cho thấy có nhiều văn bản pháp luật phát huy tác dụng, đem lại hiệu quả thiết thực trong công tác quản lý, nhưng vẫn không còn ít văn bản luật chưa phát huy được hiệu lực thi hành, không mang lại hiệu quả như mong muốn Một trong những nguyên nhân
là do chưa tổ chức tốt việc thực hiện pháp luật.Vì vậy, thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở làng nghề đòi hỏi phải thực hiện nhiều biện pháp bảo đảm pháp luật được thực thi trong đời sống thực tiễn
Theo nội dung được trình bày trong luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Kim Nguyệt [2] thì việc áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường vào thực tiễn ở làng nghề có hiệu đòi hỏi phải đảm bảo các yếu tố sau:
➢ Hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường
Hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường hoàn thiện thống nhất sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện pháp luật ở các khu các làng nghề có hiệu quả Bởi
vì, hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, tạo cơ sở về mặt pháp lý cho việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các làng nghề
Thực tế cho thấy việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các làng nghề khó có thể đạt như kết quả mong muốn, nếu như không có một cơ sở pháp lý vững chắc, cơ sở pháp lý cho việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ở các làng nghề là
hệ thống pháp luật văn bản quy phạm pháp luật bảo vệ môi trường được xây dựng thống nhất từ trên xuống dưới từ Hiến pháp đến luật, đặc biệt là Luật bảo vệ môi trường và những văn bản có liên quan đến hoạt động của các cơ sở trong các làng nghề, kể cả văn bản của UBND các cấp về bảo vệ môi trường Hệ thống pháp luật hoàn thiện đồng bộ và hiện đại là bảo đảm về mặt pháp lý cho việc thực hiện pháp luật
về bảo vệ môi trường ở các làng nghề Sau khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật bảo vệ môi trường phải có các hoạt động tuyên truyền, giáo dục trên nhiều phương tiện khác nhau khác nhau để nội dung của các quy phạm này đến được với tất cả các
cơ sở
Tuy nhiên thực tế cho thấy hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập Nhiều quy định còn thiếu hoặc một số vấn đề chưa được quy định cụ thể như: Hệ thống tiêu chuẩn môi trường quốc gia chưa đầy đủ, Việt Nam chưa có tiêu chuẩn giới hạn tối đa cho phép về ô nhiễm mùi Các quy định về kiểm soát ô nhiễm không khí hiện nay, còn thiếu, chưa tập trung và hiệu quả điều chỉnh chưa cao
Hiện nay nước ta chưa ban hành thuế bảo vệ môi trường, kiểm toán môi trường, chưa quy định cụ thể chi tiết chế định bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi trường
Trang 20➢ Ý thức pháp luật của các chủ thể thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường
ở làng nghề
Ý thức pháp luật cũng là một yếu tố bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo
vệ môi trường ở các làng nghề Bởi ý thức pháp luật là sự phản ánh đời sống pháp luật không đồng nhất với pháp luật, đời sống pháp luật là tổng thể các hiện tượng pháp luật như hệ thống các văn bản pháp luật, tình trạng pháp chế, văn hoá pháp lý, hoạt động tổ chức thi hành và áp dụng pháp luật, thái độ của người dân đối với pháp luật, các tài liệu, sách báo về pháp luật
Thực tế đã chứng minh cho chúng ta thấy ở nơi nào, ý thức pháp luật của chủ thể pháp luật cao thì hiệu quả thực hiện pháp luật nói chung rất cao và ngược lại ở những địa phương trong những thời kỳ mà ý thức pháp luật của những cá nhân, tổ chức chưa được nâng cao thì hiệu quả thực hiện pháp luật rất thấp Việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các làng nghề cũng như vậy, khi ý thức pháp luật của các cơ sở về pháp luật bảo vệ môi trường chưa đầy đủ thì hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường xảy ra nhiều hơn với mức độ nghiêm trọng hơn Đối với các cơ sở ý thức pháp luật của họ được thể hiện ở chỗ họ nhận thức được đúng quyền và nghĩa vụ của mình
Họ có quyền tác động, được sử dụng một hoặc nhiều thành phần môi trường Ví dụ:
Sử dụng nước để xây dựng nhà xưởng, nước để phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất… đồng thời họ phải thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường, không được thực hiện những hành vi bị pháp luật cấm như: không được thải chất thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường, các chất độc, chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào đất, nguồn nước, thải khói, bụi khí có chất hoặc mùi độc hại vào không khí, phán tán bức xạ, phóng xạ, các chất ion hoá vượt quá tiêu chuẩn môi trường cho phép…
Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc quản lý, thanh tra, kiểm tra, điều tra và xử lý trong lĩnh vực môi trường cũng được pháp luật quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể
Đối với việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các làng nghề thì việc các
cơ sở nắm được các thông tin, hiểu biết về các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường để có được thái độ đúng đắn trong việc khai thác, sử dụng các thành phần môi trường và trách nhiệm trong việc thu gom, xử lý chất thải là yếu tố đảm bảo quan trọng cho việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường có hiệu quả
➢ Trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý môi trường và cơ sở vật chất
kỹ thuật cho việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở làng nghề
Một trong những yếu tố bảo đảm quan trọng để thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các làng nghề đó là trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức có chức năng quản lý, kiểm tra, điều tra và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường Mặc dù trong những năm gần đây đội ngũ cán bộ, công chức trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cũng được quan tâm và trình độ ngày càng nâng cao, song chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn về bảo vệ môi trường
Hiện nay, do các cơ sở sản xuất trong các làng nghề đều ở quy mô nhỏ, lẻ và nằm rải rác nên việc quản lý, giám sát các vấn đề môi trường ở đây khá khó khăn Bên cạnh
đó, đội ngũ cán bộ chuyên trách về môi trường ở các làng nghề còn ít và thiếu cơ sở hạ
Trang 21tầng, kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động quan trắc môi trường và đánh giá hiện trạng môi trường – đòi hỏi đầu tư chi phí rất lớn vượt quá khả năng của các cơ sở
ở làng nghề
1.1.4.3 Những khó khăn trong áp dụng luật bảo vệ môi trường ở các làng nghề Việt Nam
* Tập trung nhiều cơ sở sản xuất với đa dạng về loại hình
Các làng nghề là nơi tập trung của nhiều cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, phát triển với nhiều loại hình đa dạng như chế biến thực phẩm, tái chế, dệt nhuộm, thủ công
mỹ nghệ,… Do đó nguồn chất thải phát sinh cũng rất đa dạng gây ô nhiễm môi trường, khó khăn trong tìm công nghệ - phương pháp có thể giải quyết tất cả chất thải của làng nghề Đặc biệt một số nghành nghề như dệt nhuộm, xi mạ hay các làng tái chế còn tạo ra một lượng chất thải có độ độc hại cao gây nguy hiểm cho con người và
là vấn đề lớn về môi trường tại các địa phương
* Các cơ sở sản xuất chủ yếu ở quy mô nhỏ, thiếu mặt bằng sản xuất
Các làng nghề ở nước ta hiện nay phần lớn hoạt động ở quy mô nhỏ chủ yếu là quy
mô hộ gia đình, phân tán nên khó kiểm soát việc phát thải tại các cơ sở Nhiều cơ sở lại nằm xen kẽ trong các khu dân cư gây ảnh hưởng lớn đến đời sống và sức khỏe người dân xung quanh và khó khăn cho việc bố trí xử lý chất thải Diện tích của các nhà xưởng thường rất hạn chế, không gian chật hẹp không đảm bảo điều kiện làm việc cho người lao động
* Công nghệ sản xuất lạc hậu, trình độ lao động thấp
Đa phần các cơ sở tại làng nghề đều sản xuất theo phương thức thủ công, truyền thống nên phát thải nhiều chất thải và tiêu hao năng lượng, tài nguyên ở mức cao Chủ
cơ sở chưa quan tâm đến các vấn đề môi trường phát sinh từ quá trình sản xuất tại cơ
sở của mình Các lao động làm việc tại đây phần lớn có trình độ thấp, chủ yếu dùng sức người là chính, năng suất lao động không cao
* Phần lớn chất thải chưa qua xử lý đã thải vào môi trường, công tác thu gom chất thải rắn chưa triệt để
Các cơ sở sản xuất trong làng nghề hầu như đều không xây dựng hệ thống xử lý, các chất thải (nước thải, khí thải, chất thải rắn) thường được thải trực tiếp ra môi trường với hàm lượng chất ô nhiễm cao gây suy thoái môi trường Bên cạnh đó, công tác thu gom rác thải tại các làng nghề chưa thực sự hiệu quả, một phần do các làng nghề phần lớn tập trung ở vùng nông thôn với điều kiện còn hạn chế, đồng thời nhận được sự quan tâm của các cơ quan liên quan
* Hầu hết các địa phương chưa chú trọng trong việc quản lý và bảo vệ môi trường làng nghề
Do sự thờ ơ của các cơ quan quản lý môi trường tại cấp cơ sở (phường, xã) dẫn đến thực trạng phần lớn các cơ sở trong làng nghề không có hồ sơ, thủ tục về môi trường; không có hạng mục công trình xử lý nước thải, khí thải đạt tiêu chuẩn và chây ỳ trong thi hành quyết định xử lý vi phạm Bên cạnh đó, chính sách di dời các cơ sở gây ô
Trang 22nhiễm ra khỏi khu dân cư đã được thực hiện, tuy nhiên phần lớn các khu, cụm công nghiệp tập trung tại các làng nghề cũng chưa được đầu tư những công nghệ đạt chuẩn
để xử lý môi trường
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
Chủ đề về môi trường ngày nay luôn nhận được nhiều sự quan tâm từ các chuyên gia và cả cộng đồng Từ đó, nhiều văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường được ban hành nhằm đảm bảo các hoạt động của con người không gây tác động quá lớn đến môi trường Tuy nhiên việc đưa các quy định pháp luật áp dụng vào thực tiễn vẫn còn gặp nhiều khó khăn và hiệu quả mang lại chưa cao Vì vậy, các đề tài nghiên cứu về thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ở các nước trên thế giới nói chung và ở các địa phương, các nghành trong nước nói riêng đã ra đời và ngày càng được nghiên cứu sâu hơn
1.2.1 Các nghiên cứu trong nước
Hiện nay có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, các luận án, luận văn hay các bài viết được công bố trên các trang báo, báo điện tử, các tạp chí hay các phương tiện thông tin đại chúng, về vấn đề thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ở làng nghề do các hoạt động của làng nghề ngày càng gây ô nhiễm môi trường Có thể nhận thấy các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này rất phong phú và đa dạng, liên quan đến đề tài có các công trình tiêu biểu sau:
Luận văn thạc sĩ “Thực trạng thực thi pháp luật bảo vệ môi trường tại các làng nghề ở Việt Nam”, Lê Kim Nguyệt, 2012, Đại học Quốc gia Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy do tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề ngày càng nghiêm trọng nên nhiều văn bản quy phạm pháp luật về BVMT làng nghề đã được ban hành và một số nội dung được đổi mới phù hợp với tình hình thực tế Tuy nhiên các văn bản pháp luật trên vẫn còn nhiều điểm hạn chế, việc thực thi tại các làng nghề ở Việt Nam rất khó khăn đòi hỏi phải kết hợp đồng bộ nhiều yếu tố như: tuyên truyền giáo dục; thực hiện chức năng, vai trò quản lý nhà nước trong việc triển khai giám sát thực thi pháp luật bảo vệ môi trường tại các làng nghề; việc xác định mức độ vi phạm và các
chế tài xử phạt, v.v (Lê Kim Nguyệt, 2012, Đại học Quốc gia Hà Nội)
Luận văn thạc sĩ “Thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ở cấp phường”, Nguyễn Thị Hải Hạnh, 2007, Đại học Luật Hà Nội Tác giả đã tiến hành nghiên cứu thực trạng thực thi pháp luật bảo vệ môi trường cấp phường trên cơ sở Luật BVMT năm 1993 được sửa đổi bổ sung năm 2005 Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những bất cập của việc thực thi pháp luật BVMT hiện nay và đưa ra mô hình thực hiện pháp luật BVMT cấp
phường với sự tham gia của cộng đồng ờ nhiều góc độ (Nguyễn Thị Hải Hạnh, 2007,
Đại học Luật Hà Nội)
Luận văn thạc sĩ “Thực hiện pháp luật môi trường ở tỉnh Nam Định”, Nguyễn Thị
Thu Hường, 2008, Học Viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Bước đầu, nghiên cứu đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của THPL môi trường, những yếu tố tác động đến THPL môi trường góp phần ngăn ngừa hạn chế các vi phạm pháp luật môi
Trang 23trường ở tỉnh Nam Định; đánh giá thực trạng, việc THPL môi trường và đưa ra một số
giải pháp ở tỉnh Nam Định (Nguyễn Thị Thu Hường, 2008, Học Viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh)
Luận văn thạc sĩ “Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp
tỉnh Hải Dương”, Phạm Thị Thanh Xuân, 2009, Học Viện Chính trị - Hành chính quốc
gia Hồ Chí Minh Kết quả nghiên cứu đã phân tích, đưa ra khái niệm về pháp luật và THPL về BVMT ở các khu công nghiệp Đánh giá thực trạng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm THPL về BVMT ở các khu công nghiệp tỉnh Hải Dương và đưa ra một số
giải pháp (Phạm Thị Thanh Xuân, 2009, Học Viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ
Chí Minh)
Luận án tiến sĩ “Pháp luật kiểm soát ONMT do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam hiện nay”, Lê Kim Nguyệt, 2014, Đại học Luật Hà Nội Tác giả đã đi sâu nghiên cứu về kiểm soát ONMT làng nghề, một khía cạnh trong THPL về BVMT làng nghề Luận án đã nêu lên những nội dung cơ bản của pháp luật kiểm soát ONMT do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam; các nhân tố tác động đến pháp luật kiểm soát ONMT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; phân tích những điểm đã đạt được cũng như những hạn chế, vướng mắc của thực trạng pháp luật kiểm soát ONMT do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam, chỉ ra nguyên nhân của những ưu khuyết điểm đó; phân tích và đưa ra những bình luận về một số quan điểm hoàn thiện pháp luật kiểm soát ONMT do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam Cuối cùng tác giả phân tích những quan điểm đề xuất và những giải pháp hoàn thiện pháp luật kiểm soát
ONMT do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam (Lê Kim Nguyệt, 2014, Đại
học Luật Hà Nội)
1.2.2 Các nghiên cứu ngoài nước
“Environment Pollution Control in Janpan-Development and Characteristics”, Tsumor Ushiyama, 1981, Waseda Bulletin of Comparative Law, Vol 1 Nghiên cứu đã chỉ ra vai trò của chính quyền tự quản địa phương và hoạt động phong trào của người dân địa phương trong việc hình thành và thực hiện Luật kiểm soát ONMT ở Nhật Bản Pháp luật BVMT áp dụng cho các quận của Tokyo có quy định: người dân được tham gia vào công tác quản lý hành chính, bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành của mình; các nhà lãnh đạo phải có nhiệm vụ điều tra, giám sát nguồn gốc, nguyên nhân, tình trạng ONMT và các vấn đề khác, phải công khai cho người dân các quận, huyện biết về tình trạng ô nhiễm như đã điều tra Bên cạnh đó, một hội đồng giám sát ONMT (có sự tham gia của người dân) được thành lập để điều tra và cân nhắc các biện pháp giám sát các nguồn gây ONMT (được thực hiện bởi nhà quản lý và các cơ quan hành chính) Có thể thấy công trình nghiên cứu này rất có giá trị tham khảo khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật kiểm soát ONMT do các hoạt động của làng nghề gây ra ở
Trang 24các tỉnh ĐBSH (Tsumor Ushiyama, 1981, Waseda Bulletin of Comparative Law, Vol 1)
“The experience of Singapore in the control of pollution", Loh Ah Tuan, 1998, The experience of Singapore in the control of pollution, Singapore Journal of International
& Comparative Law, 2: 507 – 510 Nghiên cứu đã đề cập tới kinh nghiệm kiểm soát ONMT biển ở Sigapore Bài viết đã chỉ ra rằng hơn ba phần tư tổng lượng ô nhiễm mà các đại dương và vùng biển trong khu vực Đông Á phải hứng chịu là đến từ các nguồn trên đất liền Các nguồn chính gây ô nhiễm bao gồm chất thải sinh hoạt từ các thành phố, chất thải công nghiệp và nông nghiệp Ngoài ra, tàu xả chất thải ra biển từ một quốc gia này sẽ nhanh chóng tìm đường vào vùng biển và những bãi biển của các nước láng giềng Do đó mỗi quốc gia đều đóng một vai trò quan trọng trong việc kiểm soát chất
thải gây ô nhiễm vào vùng biển ven bờ (Loh Ah Tuan, 1998, The experience of
Singapore in the control of pollution, Singapore Journal of International & Comparative Law, 2: 507 – 510)
“An assessment of paper mill wastewater impacts and treatment options in Vientiane Capital City, Lao", T Kaisorn, D Phousavanh, K Somphone, 2009, An assessment of
paper mill wastewater impacts and treatment options in Vientiane Capital City, Lao
Report in ’Economy and Environment Program for Southeast Asia’ (EEPSEA) Nghiên cứu đã chỉ ra rằng chi phí phòng ngừa rủi ro do ONMT ở các làng nghề chế biến bột
giấy tại Viêng Chăn, Lào là từ 60 đến 90 USD/kilogam độc chất ô nhiễm BOD (T
Kaisorn, D Phousavanh, K Somphone, 2009, An assessment of paper mill wastewater impacts and treatment options in Vientiane Capital City, Lao Report in ’Economy and Environment Program for Southeast Asia’ (EEPSEA))
“Marginal Opportunity Cost Pricing for Wastewater Disposal: A case study of Wuxi, China", Z Fan, 2011, Marginal Opportunity Cost Pricing for Wastewater Disposal: A
case study of Wuxi, China EAPSEA, Manila Nghiên cứu đã được trình bày tại hội nghị
các báo cáo khoa học của tổ chức EEPSEA, tác giả đã ước tính tổng lượng nước tiêu tốn cho hoạt động sản xuất làng nghề và tiểu thủ công nghiệp là khoảng 59,04 ngàn km3
nước/ngày và thải ra môi trường khoảng 34,09 km3 nước thải/ngày, gây thiệt hại kinh tế
cho Trung Quốc khoảng 27,7 triệu đô la/ngày, tương đương 8,8 tỷ đô la/năm (Z Fan,
2011, Marginal Opportunity Cost Pricing for Wastewater Disposal: A case study of Wuxi, China EAPSEA, Manila)
1.3 TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ GỐM CHÒM SAO
1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Làng nghề gốm Chòm Sao thuộc phường Hưng Định xưa - một phường thuộc thị
xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, nằm giữa hai vùng gốm cổ ở thế kỉ 19-20 là Lái Thiêu
và Thủ Dầu Một Nơi đây có sông Búng chảy qua là một nhánh của Sông Sài Gòn và một hệ thống kênh rạch chằng chịt là mạng lưới thông thương quan trọng Khoảng thế
kỉ 18, nơi đây bắt đầu có cư dân đến định cư và lập nghiệp Đến đầu thế kỉ 19, Hưng Định được nhà Nguyễn cho phép lập làng Hưng Định ngày nay bao gồm ba khu phố
Trang 25Hưng Lộc, Hưng Thọ và Hưng Phước, nơi đây nổi tiếng với các lò gốm cổ mà tập trung nhiều nhất là ở Hưng Lộc Hưng Lộc nổi tiếng với lò gốm Chòm Sao (người dân
ở đây gọi là lò chén Chòm Sao) do các thợ gốm Triều Châu dựng lên Nơi đây chuyên sản xuất các loại bát, đĩa men trắng tráng men và vẽ hoa văn rồng, phượng, gà, hoa…
Lý giải cái tên gốm Chòm Sao, một thợ gốm xưa của lò gốm Hai Ca cho biết:
“Ngày xưa ở đây có cây sao cổ thụ to lắm, từ đời ông cố bác đã có rồi, đến đời bác chỉ còn gốc cây chẻ ba mà cũng phải vài ba người ôm mới hết, lò gốm lập ra trên vùng đất này đều lấy tên chung là gốm Chòm Sao, chỉ phân biệt dựa vào tên hiệu của người chủ
lò gốm" Gốm Chòm Sao có hai lò gốm cổ nổi tiếng là lò của ông Hai Ca và Ba Sành, chuyên sản xuất các loại chén, dĩa, tô, thạp và các mặt hàng mĩ nghệ hình các con vật như voi, ếch, lân, cá …cung cấp cho các thương lái đưa đi các nơi buôn bán Cho đến hôm nay thì hai lò gốm nổi tiếng này đã không còn giữ được, lò gốm Hai Ca chỉ còn lại một đống phế tích đổ nát, còn lò gốm Ba Sành đã bị phá bỏ để xây dựng phòng trọ, nhà ở
Hiện nay, gốm Hưng Định chỉ còn sót lại vài ba hộ còn theo nghề, tự cứu mình bằng cách bỏ vốn trang bị máy móc hiện đại như lò gốm Tân Trường Sinh, lò gốm Kiến Xuân, chuyển từ làm chén, dĩa… sang làm thạp, bình hoa, chậu, lư hương, bóng ,các con vật trang trí như voi, ếch, lân… Một số khác chuyển sang làm chén mủ cao
su như lò gốm Cuội của ông Lý Thành Một số lò vẫn giữ lại sản xuất một phần nhỏ các loại chén , dĩa cổ như lò Bình Lị, Ba Tây
Ngày xưa, các thành phẩm sau khi được tráng men sẽ đem vào lò nung, chất đốt chủ yếu là củi, bây giờ chuyển sang nung bằng ga, để chất lượng sản phẩm được cao hơn, lớp men bóng hơn Tuy nhiên, ở lò Cuội của ông Lý Thành vẫn giữ được lò nung bằng củi có lịch sử trên 150 năm tuổi Tuy bị cuốn vào vòng xoay công nghiệp hóa nhưng các thợ làm gốm ở Hưng Định vẫn luôn giữ được cái tâm của người theo nghề
Họ một lòng mong muốn giữ lại cái nghề của cha ông
Làng nghề gốm cổ Chòm Sao – Hưng Định là một làng nghề thủ công mang đậm nét truyền thống của làng thủ công nghiệp xưa từ thời mở cõi tiến vào Nam Để gìn giữ và bảo tồn làng nghề cổ truyền thống này, các cơ quan chức năng phải có một kế hoạch cụ thể, cấp thiết giúp đỡ các lò gốm phát triển, tìm kiếm thị trường, mở rộng quy mô.Việc bảo tồn và gìn giữ làng nghề này sẽ giúp giữ gìn một nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc trong quá trình dựng nước và giữ nước
1.3.2 Vị trí và điều kiện tự nhiên
1.3.2.1 Vị trí địa lý
- Phía Đông giáp phường An Phú, thị xã Thuận An
- Phía Tây giáp phường Bình Nhâm, thị xã Thuận An
- Phía Bắc giáp phường Bình Chuẩn, thị xã Thuận An
- Phía Nam giáp phường Bình Hòa, thị xã Thuận An
Trang 261.3.2.2 Điều kiện tự nhiên
Thuận An là một thị xã thuộc tỉnh Bình Dương, nằm giữa thành phố Thủ Dầu Một và Thành phố Hồ Chí Minh Thị xã Thuận An được thành lập vào ngày 13 tháng
1 năm 2011, hiện được xếp là đô thị loại III theo tiêu chuẩn đô thị tại Việt Nam Thị xã Thuận An có 10 đơn vị hành chính trong đó bao gồm 9 phường: An Phú, An
Thạnh, Bình Chuẩn, Bình Hòa, Bình Nhâm, Hưng Định, Lái Thiêu, Thuận Giao, Vĩnh Phú và 1 xã An Sơn Trong đó 2 phường Lái Thiêu và An Thạnh được xem là 2 trung
tâm dân cư và thương mại lâu đời nhất tại Thuận An từ đời vua Minh Mạng
➢ Khí hậu
Khí hậu ở Thuận An mang tính chất chung như chế độ khí hậu của Bình Dương: nắng nóng và mưa nhiều, độ ẩm khá cao Đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa ổn định, trong năm phân chia thành hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 kéo dài đến cuối tháng 10 dương lịch
Vào những tháng đầu mùa mưa, thường xuất hiện những cơn mưa rào lớn, rồi sau
đó dứt hẳn Những tháng 7,8,9, thường là những tháng mưa dầm Có những trận mưa dầm kéo dài 1-2 ngày đêm liên tục Đặc biệt ở Bình Dương hầu như không có bão, mà chỉ bị ảnh hưởng bởi những cơn bão gần
Nhiệt độ trung bình hàng năm ở Bình Dương từ 26oC-27oC Nhiệt độ cao nhất có lúc lên tới 39,3oC và thấp nhất từ 16oC-17oC (ban đêm) và 18oC vào sáng sớm Vào mùa nắng, độ ẩm trung bình hàng năm từ 76%-80%, cao nhất là 86% (vào tháng 9) và thấp nhất là 66% (vào tháng 2) Lượng nước mưa trung bình hàng năm từ 1.800-2.000mm
- Đất dốc tụ phân bổ trong các dạng hợp thủy xen kẽ với nhóm đất đỏ vàng hoặc đất xám, thường là ở nơi có địa hình thấp, bằng phẳng, cách khoảng giữa những đồi phù sa cổ
➢ Thủy văn, sông ngòi
Chế độ thủy văn của các con sông chảy qua khu vực thay đổi theo mùa: mùa mưa nước lớn từ tháng 5 đến tháng 11 (dương lịch) và mùa khô (mùa kiệt) từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau, tương ứng với 2 mùa mưa, nắng Thị xã Thuận An có sông lớn, nhiều rạch ở các địa bàn ven sông và nhiều suối nhỏ khác
Sông Sài Gòn dài 256 km, bắt nguồn từ vùng đồi cao huyện Lộc Ninh (tỉnh Bình Phước) Sông Sài Gòn có nhiều chi lưu, phụ lưu, rạch, ngòi và suối Sông Sài Gòn
Trang 27chảy qua Bình Dương, từ huyện Dầu Tiếng đến thị xã Thuận An, dài 143 km, độ dốc nhỏ nên thuận lợi về giao thông vận tải, sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản
Ở thượng lưu, sông hẹp (khoảng 20m) uốn khúc quanh co, từ Dầu Tiếng được mở rộng dần đến thành phố Thủ Dầu Một và thị xã Thuận An rộng khoảng 200m
1.3.3 Các cơ sở hoạt động ở làng nghề
Làng nghề Chòm Sao trước đây vốn có nhiều cơ sở sản xuất gốm nhưng nay số lượng hộ theo nghề rất ít Bởi khó khăn cho đầu ra của sản xuất, giá bán lại thấp nên không đảm bảo được kinh tế cho đời sống, nhiều hộ chỉ nhận gia công 1 công đoạn trong quy trình hoặc đã chuyển sang sản xuất các mặt hàng khác Hiện còn 3 cơ sở sản xuất gốm với quy trình đầy đủ còn hoạt động ở làng nghề gốm Chòm Sao, trong đó có
1 cơ sở đã nâng lên thành cơ sở kinh doanh và 2 cơ sở sản xuất theo hộ gia đình Đây đều là các cơ sở truyền thống, hoạt động từ nhiều đời, đời sau nối nghiệp đời trước
Ba cơ sở hiện còn hoạt động tại làng nghề có vị trí gần nhau, mỗi cơ sở cách nhau vài chục mét, tạo thành một cụm cơ sở sản xuất gốm Các cơ sở trong làng nghề tuy cùng ngành nghề là sản xuất gốm nhưng khác nhau về quy mô sản xuất, sản phẩm
Bảng 1.2 Đặc điểm các cơ sở tại làng nghề gốm Chòm Sao
Kiết
Địa chỉ
3/2B ấp Bình Giao, phường Thuận Giao,
TX Thuận An, tỉnh Bình Dương
257 Ấp Hưng Lộc, Phường Hưng Định, Thị xã Thuận
An, Bình Dương
299A Phường Hưng Định, Thị xã Thuận An, Bình Dương
Thời gian hoạt
Số lượng công
Sản phẩm chính Các loại chậu sứ Các loại chén và
+ Khu vực nung:
Gồm 2 lò nung củi được xây dựng bằng
Gồm 3 khu vực:
+ Xưởng sản xuất:
nơi thực hiện các công đoạn nghiền đất, đổ khuôn, tráng men – trang trí + Khu vực sấy: nơi đặt lò sấy hoạt động bằng điện
+ Khu vực nung:
Gồm 1 lò nung củi
Gồm 3 khu vực: + Xưởng 1: nơi thực hiện công đoạn nghiền đất và
đổ khuôn + Xưởng 2: nơi thực hiện công đoạn tráng men – trang trí và có các
kệ để phơi sản phẩm
Trang 28gạch, một phần diện tích dùng để chứa củi được xây dựng bằng gạch
+ Khu vực nung: Gồm 2 lò nung củi được xây dựng bằng gạch, một phần diện tích dùng
để chứa củi
(Nguồn: Tác giả thực hiện ngày 17/10/2017)
1.4 TỔNG QUAN VỀ QUY TRÌNH SẢN XUẤT GỐM SỨ
1.4.1 Nhu cầu nguyên liệu và máy móc – thiết bị
1.4.1.1 Cơ sở Phước Xuân Long
Bảng 1.3 Nhu cầu nguyên vật liệu, máy móc thiết bị của cơ sở Phước Xuân Long
2 Máy tạo hình chậu Cái 4
5 Quạt công nghiệp Cái 6
6 Xe kéo loại lớn Cái 4
8 Máy nghiền đất Cái 1
9 Thiết bị phun men Cái 2
(Nguồn: Tác giả thực hiện ngày 17/10/2017)
Trang 291.4.1.2 Cơ sở Thân Phát
Bảng 1.4 Nhu cầu nguyên vật liệu và máy móc thiết bị của cơ sở Lý Quang
III Máy móc – thiết bị
2 Quạt công nghiệp Cái 5
6 Khuôn tạo hình Cái 5
(Nguồn: Tác giả thực hiện ngày 17/10/2017)
1.4.1.3 Cơ sở Chánh Vương Kiết
Bảng 1.5 Nhu cầu nguyên vật liệu, máy móc thiết bị của cơ sở Vương Chánh Kiết
III Máy móc – thiết bị
1 Lò nung củi Cái 2
Trang 302 Quạt công nghiệp Cái 2
5 Khuôn tạo hình Cái 3
(Nguồn: Tác giả thực hiện ngày 17/10/2017)
1.4.2 Quy trình sản xuất gốm sứ
Ba cơ sở trong làng nghề hiện đều sản xuất theo phương pháp thủ công là chính Mặc dù, các cơ sở khác nhau về quy mô, máy móc – thiết bị, sản phẩm nhưng đều thực hiện sản xuất theo cùng một quy trình sản xuất
Quy trình sản xuất chung của ba cơ sở trong làng nghề:
Trang 31Hình 1.1 Sơ đồ quy trình sản xuất gốm Thuyết minh quy trình:
Nhập nguyên liệu: Các cơ sở sản xuất gốm sẽ mua các nguyên liệu gồm sét, cao
lanh đã qua sơ chế để làm nguyên liệu đầu vào
Ngâm ủ đất: Đất nguyên được bổ sung nước và ngâm trong bể 24 giờ trước khi đưa
vào sản xuất để loại các tạp chất, tăng chất lượng đất
Nước thải
Đá sỏi, ồn Nước rỉ
Ồn Nhiệt độ Sản phẩm rơi vỡ Ván hỏng
Ồn, nhiệt độ thừa Sản phẩm hư hỏng Mùi dung môi, men rơi vãi Nước thải rửa dụng cụ, CTR Khói thải, nhiệt thừa Sản phẩm hỏng Sản phẩm lỗi Bao bì thải
Trang 32Cán đất: Sau khi ngâm ủ, hỗn hợp nguyên liệu sẽ được nghiền để đạt độ mịn phù
hợp cũng như loại bỏ đá, sỏi bị lẫn trong hỗn hợp, sau đó được bổ sung nước và nhào trộn để đạt độ dẻo
Tạo hình sản phẩm: Đất sét sau khi ủ đạt độ dẻo thích hợp sẽ được đưa lên máy
cán, cán thành từng khối nhỏ, sau đó cho vào khuôn thạch cao để tạo hình hoặc dùng bàn quay để tạo hình bằng tay Việc tạo bằng khuôn sẽ cho ra nhiều sản phẩm với những kiểu dáng đơn giản, còn những sản phẩm có hình dáng cầu kì thường được các nghệ nhân tạo ra bằng tay và tốn nhiều thời gian
Phơi: Sản phẩm sau khi tạo hình sẽ được đem đi phơi dưới ánh nắng mặt trời trong
thời gian từ 03 đến 05 ngày để làm khô sản phẩm
Sấy: Sau khi sản phẩm được làm khô, tiếp theo là tiến hành sấy trên lò ở nhiệt độ
8000C Tùy từng cơ sở mà công đoạn sấy có thể được thực hiện trong lò sấy riêng hoặc tận dụng nhiệt tỏa ra từ lò nung để sấy
Tráng men, trang trí:
Men ở dạng lỏng sẽ được tráng lên toàn bộ bề mặt sản phẩm và để khô trong thời gian vài phút Đối với các sản phẩm có hoa văn thì công nhân sẽ dùng cọ vẽ nhúng men màu tô, chấm lên sản phẩm
Quá trình vẽ trang trí trên các sản phẩm gốm sứ gồm:
+ Vẽ dưới men: vẽ họa tiết lên sản phẩm, sau đó phủ loại men trong suốt
+ Vẽ trên men: phủ men lên sản phẩm, sau đó mới vẽ họa tiết Men màu cho gốm
sứ rất đa dạng, có thể kể đến các loại phổ biến nhất như men thủy tinh, men ngọc, men celadon, men nâu gốm, men đá, men ngà, men rạn, men kết tinh Mỗi loại men lại có những nhiệt độ nung và môi trường nung rất khác nhau Sau đó là quá trình tráng men phun men lên bề mặt sản phẩm gốm có kích thước lớn Nhúng men, quét men đối với loại sản phẩm gốm có kích thước nhỏ
Nung: Sản phẩm sau khi tráng men sẽ được nung ở nhiệt độ 1.2000C – 1.3000C, nhiệt độ này sẽ làm men nóng chảy tạo thành một lớp bóng bao quanh sản phẩm Để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh thì các sản phẩm cần được nung trong khoảng thời gian là
3 ngày đêm
Kiểm tra và đóng gói: Sản phẩm sau khi nung sẽ được để nguội từ từ trong lò
nung, sau 24 giờ sẽ tiến hành mở lò và đưa sản phẩm ra ngoài Lúc này sẽ kiểm tra lại chất lượng sản phẩm để loại các sản phẩm lỗi Tỷ lệ sản phẩm lỗi thường là 3% Cuối cùng, các sản phẩm sẽ được đóng gói cẩn thận để đảm bảo quá trình vận chuyển đến nơi tiêu thụ không gây hư hỏng sản phẩm
Trang 331.5 CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG PHÁT SINH Ở LÀNG NGHỀ GỐM CHÒM SAO
Để xác định các vấn đề môi trường phát sinh từ hoạt động của các cơ sở trong làng nghề gốm Chòm Sao, nhóm đã tiến hành các công việc sau:
+ Khảo sát thực tế các hoạt động trong mỗi công đoạn tại mỗi cơ sở;
+ Phỏng vấn trực tiếp chủ cơ sở, nhân viên và các hộ dân khu vực xung quanh làng nghề;
Tổng hợp các kết quả thu thập được nhóm đã xác định các vấn đề môi trường đặc trưng phát sinh tại mỗi công đoạn của quy trình sản xuất Kết quả các vấn đề môi trường tại làng nghề được trình bày trong các bảng bên dưới
Ghi chú:
X : Cơ sở có phát sinh vấn đề môi trường
O : Cơ sở không phát sinh vấn đề môi trường
1.5.1 Môi trường không khí
Bảng 1.6 Các vấn đề môi trường không khí phát sinh tại làng nghề
Kết quả khảo sát thực tế
CS Phước Xuân Long
CS Thân Phát
CS Chánh Vương Kiết
Trang 342 Sấy Lò sấy Phát sinh nhiệt thừa lúc
(Nguồn: Tác giả thực hiện)
* Nhận xét chung: Kết quả cho thấy chất lượng môi trường không khí tại làng nghề Chòm Sao đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng
bởi hoạt động của các cơ sở Môi trường không khí bị ô nhiễm chủ yếu bởi khói, bụi của phương tiện vận chuyển, khói thải từ lò nung đốt củi và hơi của dung môi ở công đoạn tráng men Các cơ sở cần có các biện pháp giảm thiểu các nguồn gây ô nhiễm để cải thiện chất lượng môi trường không khí tại cơ sở cũng như khu vực xung quanh
1.5.2 Môi trường nước
Bảng 1.7 Các vấn đề môi trường nước phát sinh tại làng nghề STT
Kết quả khảo sát thực tế
CS Phước Xuân Long CS Thân Phát
CS Chánh Vương Kiết
1 Ngâm ủ Nước sau ngâm ủ
Nước thải chứa nhiều chất rắn
lơ lửng, đục với lưu lượng lớn được thải trực tiếp ra môi trường
2 Cán đất Nước còn dư trong đất nguyên liệu
Nước thải chứa nhiều chất rắn
lơ lửng, đục với lưu lượng nhỏ được thải trực tiếp ra môi trường
3 Tráng men, Vệ sinh dụng cụ, thiết Nước thải có lẫn hóa chất, cặn X X X
Trang 35trang trí bị thải trực tiếp ra môi trường
(Nguồn: Tác giả thực hiện)
* Nhận xét chung: Kết quả cho thấy nước thải phát sinh từ hoạt động sản xuất tại các cơ sở có lưu lượng không đáng kể, chủ yếu
từ công đoạn ngâm ủ và vệ sinh các dụng cụ, thiết bị, máy móc Tuy nhiên, nước thải thường chứa nhiều chất rắn lơ lửng, màu đục, có mùi khó chịu và chứa các hóa chất do đó nếu không có biện pháp xử lý kịp thời sẽ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường nơi tiếp nhận nguồn thải
CS Chánh Vương Kiết
1 Nhập
nguyên liệu
Hoạt động của phương tiện vận chuyển
Phương tiện không tắt máy trong thời gian lưu dài tại cơ
(Nguồn: Tác giả thực hiện)
* Nhận xét chung: Kết quả cho thấy tiếng ồn phát sinh tại các cơ sở chủ yếu từ hoạt động của máy móc, phương tiện vận chuyển
Người lao động không được trang bị các thiết bị bảo hộ tai (nút chống ồn) nên bị ảnh hưởng đến sức khỏe
Trang 361 Cán đất Đá, sỏi được loại ra sau khi
Vật liệu đệm thải bỏ O O X
(Nguồn: Tác giả thực hiện)
* Nhận xét chung: Kết quả cho thấy lượng chất thải rắn phát sinh từ quá trình sản xuất khá lớn Tuy nhiên hiện tại cơ sở
không có biện pháp xử lý, chủ yếu chất thành đóng trong khuôn viên, gây cản trở đi lại
Trang 371.5.5 An toàn vệ sinh lao động
Bảng 1.10 Các vấn đề về an toàn vệ sinh lao động phát sinh tại làng nghề
Kết quả khảo sát thực tế
CS Phước Xuân Long
CS Thân Phát
CS Chánh Vương Kiết
1 Ngâm ủ Vận chuyển nguyên
Tiếng ồn từ máy đổ khuôn
có thể gây bệnh ù tai X X X
4 Phơi Vận chuyển sản phẩm đến nơi phơi
Rơi, vỡ sản phẩm trong quá
Tráng men Mùi của dung dịch men X X X
Bụi từ việc tạo hoa văn nổi X O O
Trang 38(Nguồn: Tác giả thực hiện)
* Nhận xét chung: Kết quả cho thấy chất lượng môi trường lao động tại làng nghề gốm Chòm Sao có nhiều nguy cơ về tai nạn lao
động và bệnh nghề nghiệp, do phải làm việc với nhiều máy móc mà chưa được trang bị các thiết bị bảo hộ lao động
7 Nung
Đưa sản phẩm vào lò nung
Vận chuyển sản phẩm sau khi nung
Trang 39PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu các hoạt động tại 3 cơ sở ở làng nghề gốm Chòm Sao
- Tìm hiểu về hiện trạng môi trường và công tác quản lý môi trường tại từng cơ sở trong làng nghề gốm Chòm Sao
- Xác định các vấn đề môi trường và các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp tham khảo tài liệu liên quan
- Tham khảo các quy định pháp luật bảo vệ môi trường liên quan đến làng nghề: Luật bảo vệ môi trường 2014, các văn dưới luật liên quan và các tiêu chuẩn – quy chuẩn môi trường Từ đó, xác định các nội dung, điều khoản được áp dụng cho làng nghề, làm cơ sở để đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường của làng nghề gốm Chòm Sao
- Kế thừa các bài khóa luận, nghiên cứu khoa học và các tài liệu chuyên ngành
có liên quan Xem xét các lý thuyết liên quan, phương pháp thực hiện, các kết quả đạt được và những vấn đề còn tồn tại của những nghiên cứu trước làm nền tảng để phát triển đề tài
- Tìm hiểu các bài viết trên báo, tạp chí, Internet liên quan đề tài
2.2.2 Phương pháp thực địa
Phương pháp này dùng để quan sát, nhận xét, đánh giá tình hình phát thải, thu gom,
xử lý các chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất, từ đó xác định các vấn đề tiêu cực
về môi trường cần giải quyết để đảm bảo hoạt động sản xuất của làng nghề đáp ứng các yêu cầu pháp luật về bảo vệ môi trường và không gây ảnh hưởng đến người dân khu vực xung quanh
Nhóm tiến hành khảo sát thực địa tại 3 cơ sở với các nội dung chính sau:
- Tìm hiểu các thông tin của cơ sở, bao gồm: Tên chủ cơ sở, số lượng công nhân, thời gian hoạt động của cơ sở, quy trình sản xuất, nhu cầu nguyên – nhiên liệu sử dụng, các loại và số lượng máy móc thiết bị
- Tìm hiểu các loại chất thải phát sinh từ quá trình sản xuất:
+ Nước thải: công đoạn phát sinh, lưu lượng, tần suất, đặc điểm của nước thải (màu sắc, mùi, thành phần các chất ô nhiễm,…), nơi tiếp nhận nguồn thải, biện pháp xử lý
Trang 40của cơ sở
+ Khí thải: công đoạn phát sinh, đặc điểm của khí thải (mùi, tốc độ, tần suất phát sinh,…), nơi tiếp nhận nguồn thải, biện pháp xử lý của cơ sở
+ Chất thải rắn: công đoạn phát sinh, thành phần - khối lượng chất thải rắn phát
sinh, đơn vị thu gom
2.2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu
Thu thập thông tin về 3 cơ sở đang hoạt động trong làng nghề gồm:
- Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng
- Quá trình hình thành và phát triển của làng nghề
- Tình hình phát thải, thu gom, xử lý chất thải ở 3 cơ sở
- Các hoạt động quản lý môi trường tại 3 cơ sở
2.2.4 Phương pháp phỏng vấn trực tiếp
Tiến hành phỏng vấn trực tiếp chủ cơ sở, nhân viên tại các cơ sở và cán bộ môi trường tại địa phương nhằm xác định các vấn để môi trường, các biện pháp phòng ngừa (nếu có), hiện trạng thực hiện luật BVMT ở mỗi cơ sở Nhóm sẽ tiến hành lập phiếu khảo sát về các vấn đề liên quan với nội dung:
+ Chủ cơ sở (1 phiếu/cơ sở):
Hiện trạng môi trường, các biện pháp BVMT tại mỗi cơ sở
Các hồ sơ, giấy phép môi trường mà cơ sở đã có theo quy định của luật BVMT + Công nhân viên (3 phiếu/cơ sở)
Nhìn chung, không gian của ba cơ sở trong làng nghề đều được chia thành 3 khu vực với các hoạt động đặc trưng Do đó, tại mỗi khu vực của mỗi cơ sở sẽ phát sinh những vấn đề môi trường đặc trưng riêng Vì vậy, nhóm tiến hành phỏng vấn 1 nhân viên/ khu vực để tìm hiểu các nội dung sau:
Các vấn đề môi trường phát sinh tại mỗi công đoạn;
Các giải pháp bảo vệ môi trường mà cơ sở đã thực hiện;
Người lao động có được trang bị thiết bị bảo hộ lao động;
Ảnh hưởng của các chất ô nhiễm từ hoạt động sản xuất dến sức khỏe người lao động
+ Người dân trong khu vực bán kính 1 km xung quanh 3 cơ sở (46 phiếu/tổng 46
hộ dân)
Ba cơ sở trong làng nghề nằm liền kề nhau nên tạo thành cụm sản xuất Theo Tổ chức y tế WHO thì trong vòng bán kính 100 m dân cư chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các nguồn khí thải phát sinh Do trong bán kính 100 m tính từ ba cơ sở có ít hộ dân sinh sống nên nhóm tăng bán kính lên 1 km để thu được số mẫu đại diện Từ vành đai của
ba cơ sở nhóm mở rộng vành đai ảnh hưởng ra 1 km, sau khi khảo sát thực tế xác định được trong bán kính 1 km tính từ các cơ sở có tổng cộng 46 hộ dân sinh sống Nhóm tiến hành phỏng vấn trực tiếp với cả 46 hộ dân theo các nội dung chính sau: