1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất tỉnh bình dương

85 34 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 3,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian gần đây tại tỉnh Bình Dương đã tổ chức các Hội thảo, Tọa đàm khoa học liên quan đến vấn đề ĐTH của tỉnh trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, cụ thể: Hội thảo khoa h

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất và văn minh tinh thần đều được xây dựng trên cơ sở của việc sử dụng đất, đất đai đóng vai trò rất quan trọng trong mọi ngành sản xuất và mọi hoạt động xã hội Do đó, sử dụng đất đai có hiệu quả và đúng hướng cũng chính là một cơ sở vô cùng quan trọng cho quá trình phát triển

Từ năm 1990 các đô thị Việt Nam bắt đầu phát triển mạnh, trước đó cả nước mới có khoảng 500 đô thị (tỷ lệ đô thị hoá vào khoảng 18%), đến năm

2013 cả nước có khoảng 726 đô thị, trong đó có 5 thành phố trực thuộc Trung ương, 63 thành phố trực thuộc tỉnh, 47 thị xã và 615 thị trấn Tỷ lệ đô thị hóa (ĐTH) đạt khoảng 32% Trong những năm qua, rất nhiều thị xã được nâng cấp lên thành phố, nhiều thị trấn nâng cấp thành thị xã và nhiều thành phố được mở rộng diện tích Bên cạnh những đô thị có bề dày lịch sử tiếp tục được mở rộng, nâng cấp, đáng chú ý là sự xuất hiện ngày càng nhiều các khu đô thị mới tập trung, trong đó hệ thống các thị trấn, thị tứ ngày càng tỏa rộng, tạo những nét mới ở nông thôn Bên cạnh những tích cực do quá trình ĐTH mang lại như tạo việc làm, nâng cao phúc lợi xã hội, tăng năng suất lao động… thì ĐTH nhanh còn làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất Do đó, vấn đề quản lý, sử dụng tiết kiệm

và hiệu quả đất trong phát triển nói chung, trong phát triển đô thị nói riêng có ý nghĩa chiến lược

Bình Dương là tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, là một cực quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, sau gần 20 năm tái lập tỉnh, mặc dù trãi qua nhiều khó khăn, từ một tỉnh thuần nông đã trở thành một tỉnh có nền kinh

tế công nghiệp phát triển, đời sống người dân được cải thiện Với chủ trương

“trải chiếu hoa mời gọi đầu tƣ, trải thảm đỏ thu hút nhân tài”, Bình Dương đã

tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều người nhập cư gặt hái thành công, trở thành tỉnh thu hút lực lượng lao động nhập cư lớn so với cả nước, đặc biệt là vào các vùng đô thị, các vùng có nhiều khu công nghiệp tập trung, do đó đã làm cho gia

Trang 2

tăng nhanh mức độ ĐTH, và hiện nay trở thành tỉnh có mức độ ĐTH cao nhất vùng Đông Nam Bộ

Dân số đô thị tăng nhanh là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất (CDCCSDĐ) của tỉnh Do đó, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) cần phải định hướng và đề ra các giải pháp về quy hoạch, phát triển đô thị; giải pháp quy hoạch, quản lý đất hiệu quả nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho quá trình phát triển KTXH của tỉnh

Xuất phát từ những lí do trên, tác giả chọn đề tài “Ảnh hưởng của đô

thị hóa đến quá trình chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất tỉnh Bình Dương” để

nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tổng quan về cơ sở lý luận về ĐTH và CDCCSDĐ tỉnh Bình Dương

- Phân tích ảnh hưởng của quá trình ĐTH ảnh hưởng đến CDCCSDĐ tỉnh Bình Dương

- Trên cơ sở định hướng đưa ra các giải pháp góp phần thúc đẩy vào quá trình quy hoạch, phát triển đô thị; quá trình quy hoạch, quản lý và nâng cao

hiệu quả sử dụng đất tỉnh Bình Dương trong các giai đoạn tiếp theo

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận án sẽ tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Tổng quan về vấn đề lý luận và thực tiễn về ĐTH và CCSDĐ, làm cơ

sở khoa học cho việc nghiên cứu hiện trạng ĐTH và ảnh hưởng của ĐTH đến CDCCSDĐ tỉnh Bình Dương

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ĐTH tỉnh Bình Dương

- Phân tích hiện trạng ĐTH Bình Dương giai đoạn 2000-2013

3.2 Phạm vi nghiên cứu

* Không gian: Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Bình Dương

* Thời gian: Số liệu thống kê phục vụ nghiên cứu đề tài bao gồm các số

liệu, tài liệu về quá trình ĐTH, CDCCSDĐ từ năm 2000 đến năm 2013

Trang 3

* Về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung phân tích, đánh giá hiện

trạng ĐTH tỉnh Bình Dương và ảnh hưởng của ĐTH đến CDCCSDĐ tỉnh Bình Dương Từ đó đưa ra những định hướng, giải pháp có liên quan đến nội dung

đề tài nghiên cứu

4 Các quan điểm nghiên cứu

4.1 Quan điểm hệ thống

Đô thị hóa và CDCCSDĐ là một bộ phận cấu thành của hệ thống KTXH Sự thay đổi của quá trình ĐTH như dân số, cơ sở hạ tầng (CSHT) đi kèm… sẽ ảnh hưởng đến CCSDĐ, do đó dễ tác động đến hiệu quả kinh tế của địa phương, của vùng Vì vậy, phải coi vấn đề ĐTH và CDCCSDĐ như là một

hệ thống nằm trong hệ thống KTXH hoàn chỉnh, luôn vận động và phát triển không ngừng

4.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Quá trình ĐTH và ảnh hưởng của nó đến CDCCSDĐ trong quá khứ, hiện tại và tương lai tác động rất lớn đến quá trình phát triển KTXH của địa phương Vì vậy nghiên cứu vấn đề ảnh hưởng của ĐTH đến CDCCSDĐ trong mối quan hệ quá khứ - hiện tại - tương lai sẽ làm rõ được bản chất của vấn đề theo một chuỗi thời gian, đảm bảo được tính logic, khoa học và chính xác khi

nghiên cứu

4.4 Quan điểm phát triển bền vững

Nghiên cứu ảnh hưởng của ĐTH đến CDCCSDĐ phải dựa trên quan điểm phát triển bền vững Quá trình ĐTH và CDCCSDĐ phải đi đôi với việc

sử dụng hợp lý đất đai, bảo vệ và tái tạo tài nguyên nhằm phát huy hiệu quả kinh tế cao nhất; tránh gây ô nhiễm môi trường; kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế, tiến tới công bằng xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người dân

Trang 4

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

5.1 Phương pháp thu thập tài liệu, thông tin

Các tài liệu, thông tin sử dụng trong đề tài được thu thập từ Niên giám

Thống kê cả nước, Niên giám Thồng kê tỉnh Bình Dương, từ tư liệu trên cơ sở các sách, bài báo chuyên khảo đã được công bố, tài liệu của Bộ tài nguyên Môi trường… từ đó phân loại và hình thành hệ thống thư mục các tài liệu nghiên cứu để thấy được những đặc điểm chung cũng như đặc điểm riêng của quá trình ĐTH tỉnh Bình Dương

Ngoài ra đề tài còn sử dụng một số các tài liệu từ bài viết trên tạp chí, và các nghiên cứu trước đây có liên quan đến các vấn đề của đề tài

Riêng phần số liệu, thông tin về đất đai, đề tài trực tiếp sử dụng các số liệu thống kê của Chi Cục Quản lý Đất đai (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương) Nguồn dữ liệu sử dụng là thống kê đất đai các năm 2000, 2005,

2010, 2013

Ngoài ra, phần dự báo về xu hướng ĐTH và CDCCSDĐ, đề tài đã căn

cứ vào những kế hoạch, quy hoạch, định hướng của Tỉnh, một số các địa phương và của cả nước nhằm đưa ra những số liệu dự báo và đề xuất

5.2 Phương pháp xã hội học lịch sử

Được sử dụng trong nghiên cứu quá trình hình thành, vận động và phát triển của Bình Dương từ trước tới nay, đặt nghiên cứu gắn với hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể Phương pháp logic được thể hiện xuyên suốt quá trình nghiên cứu, chi phối đến lựa chọn nội dung, kết cấu tổng quan cũng như xử lý từng vấn đề cụ thể của đối tượng nghiên cứu để rút ra bản chất, hiện tượng và các quy luật hình thành và phát triển của ĐTH

5.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý thông tin

Phương pháp phân tích, tổng hợp từ các tài liệu thu thập được lấy từ các nguồn số liệu thống kê của các cơ quan ban ngành liên quan, các tạp chí, sách, báo, trang web chuyên ngành… tác giả sắp xếp, phân loại và phân tích các thông tin, so sánh, đối chiếu nhằm tìm ra mối liên hệ giữa ĐTH với CDCCSDĐ, từ đó đánh giá những tác động tích cực và tiêu cực của quá trình ĐTH đối với CDCCSDĐ

Trang 5

5.4 Phương pháp bản đồ - biểu đồ

Phương pháp bản đồ, biểu đồ nhằm chứng minh làm sáng tỏ ảnh hưởng của ĐTH đối với CDCCSDĐ, ngoài các số liệu tương đối và tuyệt đối để chứng minh, tác giả còn cụ thể hóa bằng các biểu đồ, bản đồ phù hợp Bản đồ, biểu đồ là phương pháp đặc trưng của khoa học Địa lý, việc sử dụng phương pháp này giúp cho các vấn đề nghiên cứu được cụ thể, trực quan và toàn diện hơn Một số bản đồ trong đề tài được sử dụng phần mềm Mapinfo 7.5 dựa trên các dữ liệu đã thu thập và xử lý

Ngoài ra, đề tài sẽ còn sử dụng các phương pháp diễn dịch, quy nạp, hệ thống – cấu trúc và các phương pháp khác trong quá trình nghiên cứu

6 Đóng góp của đề tài

6.1 Về mặt giáo dục đào tạo:

- Là tư liệu sử dụng cho giảng viên, sinh viên: ngành Sư phạm Địa lý, ngành Môi trường, ngành Quản lý đất đai, ngành Đô thị học

- Tài liệu phục vụ nghiên cứu địa lý địa phương tỉnh Bình Dương

6.2 Về mặt kinh tế - xã hội:

Cung cấp các thông tin cơ bản về hiện trạng đô thị hóa và chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Thông qua kết quả nghiên cứu đề tài, tác giả mong muốn giúp người đọc

có cái nhìn toàn diện về thực trạng và những yếu tố tác động của ĐTH đến vấn

đề sử dụng đất tỉnh Bình Dương Giúp các nhà hoạch định chính sách về quy hoạch đô thị, quản lý đất đai có thêm tài liệu tham khảo về thực trạng ĐTH và CDCCSDĐ hiện nay, qua đó có hướng phát triển hài hòa và bền vững

Trang 6

Kelly nghiên cứu về ĐTH và chính sách đất đai của vùng Manila Tác giả Preston, Samuel nghiên cứu sự phát triển đô thị ở các quốc gia đang phát triển…

Trong nước:

Đô thị hóa và CCSDĐ là vần đề quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhiều nhà nghiên cứu hiện nay Trong những năm gần đây, công việc này đã thu hút nhiều công sức của các nhà địa lý, các chuyên gia đô thị học, các chuyên gia quản lý đất đất, các chuyên gia kinh tế cũng như các Bộ, Ngành

Cuốn sách “Địa lý đô thị” của tác giả Phạm Thị Xuân Thọ đề cập đến

một số vấn đề như cơ sở lí luận chung về đô thị; đô thị hóa Những ảnh hưởng của ĐTH đối với kinh tế, xã hội và môi trường; quá trình phát triển của đô thị Việt Nam và các dự báo về ĐTH

Cuốn sách “Quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị” của tác giả

Nguyễn Thế Bá đề cập về ĐTH; quá trình hình thành và phát triển các đô thị trên thế giới và Việt Nam; những xu thế và quan điểm về quy hoạch và phát triển đô thị

Cuốn sách “Quản lý phát triển đô thị ý tưởng và trải nghiệm” của tác giả

Võ Kim Cương đề cập về quy hoạch đô thị và quản lý phát triển đô thị

Ngoài ra còn rất nhiều các tài liệu khác nghiên cứu về đô thị hóa

Công trình nghiên cứu của tác giả nhóm Nguyễn Phương Anh với công

trình “ Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình chuyển dịch đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp trên địa bàn thành phố Huế, giai đoạn 2006-2010”

Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Sửu “Tác động của công nghiệp hóa và đô thị hóa đến sinh kế nông dân Việt Nam: trường hợp một làng ven đô Hà Nội”

…………

Ở Bình Dương:

Liên quan đến vấn đề nghiên cứu có một số công trình sau:

Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Kim Nhật Thư (2009), “Biến động dân cư tỉnh Bình Dương trong quá trình đô thị hóa từ năm 1997 đến năm 2009”,

Đại học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh Tác giả đề cập đến sự biến động dân cư trong quá tình ĐTH, tác giả không đi sâu vào quá trình ĐTH tỉnh Bình Dương Nội dung

Trang 7

của công trình tác giả không đề cập đến bất cứ vấn đề gì liên quan đến đất đai tỉnh Bình Dương

Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hiển (2009), “Dân số và phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương”, Đại học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh Tác giả

đề cập đến dân số ảnh hưởng đến đến các yếu tố như dân số đô thị, cơ cấu kinh tế, tốc độ tăng trưởng dân số, nghề nghiệp… nhưng tác giả không đề cập đến vấn đề đất đai Vấn đề đô thị hóa tác giả chỉ đề cập sơ qua

Ngoài các công trình của các tác giả trên, còn có nhiều bài viết liên quan đăng trên các tạp chí hoặc các báo cáo hội thảo khoa học Các công trình nghiên cứu trên

đã đề cập ít nhiều đến vấn đề đô thị hóa, tuy nhiên chưa có công trình nào đề cập cụ thể, sâu sắc về mối quan hệ giữa ĐTH và CDCCSDĐ tỉnh Bình Dương Trong thời gian gần đây tại tỉnh Bình Dương đã tổ chức các Hội thảo, Tọa đàm khoa học liên quan đến vấn đề ĐTH của tỉnh trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, cụ thể:

Hội thảo khoa học ngày 25/11/2014 với chủ đề “20 năm đô thị hóa Nam

bộ - Lý luận và thực tiễn” do Trung tâm nghiên cứu đô thị và phát triển (trường

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG TPHCM) phối hợp với Trung tâm dự báo và nghiên cứu đô thị (trường Đại học Thủ Dầu Một) phối hợp tổ chức, hội thảo đề cập những thành tựu trong 20 năm ĐTH Nam Bộ và những định hướng phát triển đô thị, thay đổi các vấn đề lý luận từ các bài học thực tiễn của quá trình ĐTH, hội thảo hy vọng xây dựng được mạng lưới nghiên cứu

đô thị và chia sẻ thông tin, kinh nghiệm giúp cho Bình Dương cũng như các đô thị của các tỉnh thành khác phát triển, tiến đến một tương lai bền vững

Tọa đàm khoa học “ Chiến lược đô thị hóa gắn liền với phát triển bền vững” diễn ra ngày 24/6/2015 do Tỉnh ủy Bình Dương phối hợp với trường Đại

học Kinh tế Quốc dân tổ chức, thảo luận các vấn đề về thực trạng, định hướng phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng và đô thị tỉnh Bình Dương trong vùng kinh

tế trọng điểm phía Nam

Hội thảo “Công nghiệp hóa - đô thị hóa qua thực tiễn ở Bình Dương”

ngày 11/3/2015 do Hội đồng lý luận Trung ương và Tỉnh ủy Bình Dương tổ chức Nội dung của hội thảo đề cập đến những thành tựu kinh tế, xã hội mà

Trang 8

Bình Dương đạt được gần 20 năm, trong đó nhấn mạnh công nghiệp hóa chính

là nền tảng quan trọng góp phần thúc đẩy đô thị phát triển và ngược lại Trong tương lai cần có những giải pháp quy hoạch đô thị theo xu hướng hiện đại, bắt nhịp với xu hướng của thế giới để đến năm 2020 Bình Dương trở thành đô thị loại I trực thuộc Trung ương

Ngoài các công trình của các tác giả trên, còn có nhiều bài viết liên quan đăng trên các tạp chí hoặc các báo cáo hội thảo khoa học Các công trình nghiên cứu trên

đã đề cập ít nhiều đến vấn đề ĐTH, tuy nhiên chưa có công trình nào đề cập cụ thể, sâu sắc về mối quan hệ giữa đô thị hóa và vấn đề cơ cấu sử dụng đất tỉnh Bình

Dương, do đó đề tài này được xem là công trình đầu tiên đề cập đến vấn đề này

8 Phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và địa chỉ ứng dụng

Lưu trữ tại thư viện Trường, làm tư liệu tham khảo cho giảng viên và sinh viên khi dạy và nghiên cứu địa lý địa phương, địa lý đô thị, quản lý đất đai, quản lý và quy hoạch đô thị

Tư liệu tham khảo cho các Sở, Ban, Ngành… liên quan đến vấn đề quy

hoạch, xây dựng quản lý đô thị và đất đai

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương chính:

Chương 1: Cơ sở lý luận về đô thị hóa và chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất (từ trang 9 đến trang 30)

Chương 2: Ảnh hưởng của ĐTH đến CDCCSDĐ tỉnh Bình Dương (từ trang 31 đến trng 58)

Chương 3: Định hướng và đề xuất các giải pháp về đô thị hóa và chuyển dịch

cơ cấu sử dụng đất tỉnh Bình Dương (từ trang 59 đến trang 76)

Trang 9

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ CHUYỂN DỊCH

CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT 1.1 Tổng quan về đô thị hóa

Đô thị hóa là hiện tượng kinh tế - xã hội liên quan đến các dịch chuyển

về mặt kinh tế - xã hội, văn hóa, không gian môi trường sâu sắc gắn liền với những tiến bộ về khoa học kĩ thuật (KHKT), tạo đà thúc đẩy sự phân công lao động, chuyển đổi nghề nghiệp, hình thành các nghề nghiệp mới, thúc đẩy sự dịch cư vào trung tâm các đô thị và thúc đẩy phát triển kinh tế làm thay đổi đời sống xã hội và văn hóa, nâng cao mức sống người dân và làm thay đổi cả lối sống và hình thức giao tiếp xã hội… [6]

Bắt đầu từ thế kỷ 20, quá trình phát triển của nhân loại đã chuyển sang hướng mới, tạo cơ hội cho các quốc gia đang phát triển, nhất là các quốc gia châu Á có những bước phát triển mang tính nhảy vọt Quá trình hiện đại hóa trên cơ sở công nghiệp hóa đã làm cho quá trình ĐTH trở thành một xu hướng nổi bậc của các quốc gia đang phát triển vào thập kỷ 50, 60 Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, cũng không nằm ngoài xu thế đó

- Theo nghĩa rộng: ĐTH được hiểu như một quá trình phát triển toàn diện kinh tế và xã hội, liên hệ mật thiết với sự phát triển của lực lượng sản xuất, các hệ thống xã hội và tổ chức môi trường sống của cộng đồng

- Theo nghĩa hẹp: ĐTH là quá trình chuyển cư từ lĩnh vực sản xuất nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp với tất cả các hệ quả của nó như sự tăng trưởng dân số đô thị, sự nâng cao mức độ trang bị kỹ thuật của thành phố, sự xuất hiện các thành phố mới…

- Quá trình ĐTH mang tính phức tạp, địa phương, địa điểm, bối cảnh… ĐTH và phát triển có mối quan hệ biện chứng rõ rệt ĐTH mang tính quy luật tất yếu, là động lực phát triển, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao chất lượng lao động và phát triển kinh tế Ngược lại, ĐTH cũng chính là hệ quả của sự phát triển, bản thân nó lại tạo ra sức ép cho phát triển trên mọi mặt kinh

tế, xã hội và môi trường

Trang 10

- ĐTH làm thay đổi sự phân bố dân cư, từ dạng phân tán ở các vùng nông thôn sang dạng tập trung ở các đô thị, gắn với các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp do đó tỉ lệ lao động phi nông nghiệp và vai trò của các ngành dịch

vụ tăng lên

- Nhờ cuộc cách mạng công nghiệp và cách mạng KHKT, tỉ lệ dân cư sống trong các đô thị ngày càng tăng lên Nhịp độ ĐTH cũng diễn ra nhanh chóng: dân nhập cư tăng nhanh, cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật phát triển và ảnh hưởng đến CDCCSDĐ

- ĐTH không ngừng làm thay đổi cách ứng xử và thái độ của con người đối với thiên nhiên, đồng thời làm thay đổi lối sống, cách thức sinh hoạt của con người trong đô thị

1.1.1 Phân loại đô thị

Theo quyết định số 42/2009/ NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ nước ta về việc phân loại và phân cấp quản lý đô thị được chia thành đô thị loại

6 loại: đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị loại III, đô thị loại

IV, đô thị loại V, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định công nhận Các đô thị phân loại dựa trên sự khác biệt về chức năng kinh tế, qui mô dân số, mật độ dân số, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp, hệ thống công trình hạ tầng đô thị và kiến trúc cảnh quan đô thị Trong đó, các chỉ tiêu về dân số là cơ sở chủ yếu để phân loại đô thị

Phân theo chức năng

Đô thị loại đặc biệt

Là đô thị có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc Chức năng đô thị là Thủ đô hoặc đô thị có chức năng là trung tâm kinh

tế, tài chính, hành chính, khoa học – kỹ thuật, giáo dục – đào tạo, du lịch, y tế, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Quy mô dân số toàn đô thị từ 5 triệu người trở lên Mật độ dân số khu vực nội thành từ 15.000 người/km2

trở lên Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu đạt 90% so với tổng số lao động Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ

Đô thị loại I

Trang 11

Là đô thị rất lớn, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, khoa học kỹ thuật, du lịch dịch vụ, trung tâm sản xuất công nghiệp, đầu mối giao thông vận tải, giao dịch quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của cả nước Dân số đô thị có trên 1 triệu người, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trên 90% tổng số lao động của thành phố Mật độ dân cư bình quân trên 15.000 người/km2

Loại đô thị này có tỷ suất hàng hóa cao, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng xây dựng đồng bộ

Đô thị loại II

Là đô thị lớn, là trung tâm kinh tế, văn hóa xã hội, sản xuất công nghiệp,

du lịch, dịch vụ, giao thông, giao dịch quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một vùng lãnh thổ Dân số có từ 35 vạn đến dưới 1 triệu, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp lớn hơn hoặc bằng 90% trong tổng số lao động Mật độ dân cư bình quân trên 12.000 người/km2, sản xuất hàng hóa phát triển, cơ sở hạ tầng

kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng nhiều mặt tiến đến đồng bộ

Đô thị loại III

Là đô thị trung bình lớn, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,

là nơi sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp tập trung, dịch vụ - du lịch, có vai trò thúc đẩy phát triển của một tỉnh hoặc từng lĩnh vực đối với vùng lãnh thổ Dân số từ 10 vạn đến 35 vạn Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trên 80% trong tổng lao động Mật độ dân cư trung bình trên 10.000 người/km2

(vùng núi có thể thấp hơn) Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng từng mặt

Đô thị loại IV

Là đô thị trung bình nhỏ, là trung tâm tổng hợp chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội hoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một tỉnh hay một vùng trong tỉnh Dân cư có từ 3 vạn đến 10 vạn (miền núi có thể thấp hơn) Tỷ

lệ lao động phi nông nghiệp lớn hơn hoặc bằng 70% trong tổng số lao động Mật độ dân cư trên 8.000 người/km2 (vùng núi có thể thấp hơn) Các đô thị này

Trang 12

đã và đang đầu tư xây dựng từng phần hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng

Đô thị loại V

Là đô thị loại nhỏ, là trung tâm tổng hợp kinh tế - xã hội hoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp… có vai trò thúc đẩy sự phát triển của huyện hay một vùng trong huyện Bước đầu xây dựng được một số công trình công cộng và hạ tầng kỹ thuật Dân số từ 4.000 đến 30.000 người (miền núi có thể thấp hơn) Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp lớn hơn hoặc bằng 60% Mật độ dân cư bình quân 6.000 người/km2

(vùng núi có thể thấp hơn), đang bắt đầu xây dựng một số công trình công cộng và cơ sở hạ tầng kỹ thuật

Phân theo cấp quản lý

Phân cấp quản lý đô thị về mặt hành chính Nhà nước được cụ thể hoá như sau:

- Thành phố trực thuộc Trung ương tương đương cấp tỉnh phải là đô thị loại 1 hoặc loại 2 và chủ yếu do Trung ương quản lý

- Các thành phố thuộc tỉnh, các thị xã tương đương với cấp huyện đa số thuộc đô thị loại 3 và loại 4, một số ít có thể thuộc loại 5 và do tỉnh quản lý

1.1.2 Các chỉ tiêu xác định mức độ đô thị hóa

1.1.2.1 Tỉ lệ dân thành thị

Tỉ lệ dân thành thị là chỉ tiêu cơ bản xác định mức độ ĐTH Tỉ lệ dân thành thị cao và tăng nhanh càng phản ánh mức độ ĐTH hiệu quả ĐTH tạo lực hút dân cư từ các khu vực khác đến, đặc biệt là từ khu vực nông thôn tạo ra quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ hoạt động nông nghiệp sang hoạt động phi nông nghiêp, thúc đẩy – nâng cao hiệu quả quá trình sản xuất

Tỉ lệ dân thành thị được tính bằng công thức: U

Trang 13

Tỉ lệ dân số đô thị nước ta liên tục tăng từ 24,2% năm 2000 tăng lên 32,2% năm 2013 Tuy nhiên tỉ lệ này vẫn thấp hơn mức trung bình chung của thế giới (52% năm 2013)

(Nguồn: Tổng cục Thống kê và tính toán của tác giả)

Tuy nhiên, tỉ lệ dân đô thị chưa phản ánh đúng mức độ ĐTH cũng như hiệu quả của quá trình ĐTH Một số quốc gia có nền kinh tế đang phát triển nhưng mức độ ĐTH rất cao như Mêhicô 77%, Tây Sahara 82%, Chilê 87%, Áchentina 91% Sự gia tăng dân số đô thị quá nhanh ở các quốc gia này gây

áp lực rất lớn đến vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường

1.1.2.2 Tăng tỉ lệ lao động phi nông nghiệp

Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp gia tăng là một trong những chỉ tiêu quan trọng xác định mức độ ĐTH Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp tăng do công nghiệp và dịch vụ phát triển mạnh làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế: tỉ trọng ngành nông nghiệp giảm, còn tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng lên Lao động trong khu vực nông nghiệp ngày càng tăng chứng tỏ mức độ ĐTH diễn ra ngày càng nhanh Năm 2000, nước ta tỉ lệ lao động phi nông nghiệp là 32%, năm 2013 tỉ lệ này tăng lên 53,2% [33]

1.1.2.3 Mật độ dân số tập trung cao ở các đô thị lớn

Mật độ dân số của đô thị phản ánh tốc độ phát triển của đô thị Những

đô thị có mật độ dân số đô thị cao phản ánh tốc độ ĐTH ở khu vực đó diễn ra mạnh mẽ

Mật độ dân số đô thị được tính bằng công thức: M

S

Pu

Trang 14

, của thành phố Hồ Chí Minh là 3731 người/km2

, của thủ đô Hà Nội là 2087 người/km2

Điều này chứng tỏ ĐTH hóa ở hai thành phố lớn của nước ta hiệu quả hơn so với các tỉnh thành khác Tuy nhiên, mật độ dân số đô thị chưa phản ánh đầy đủ trình độ ĐTH của một nước, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển

1.1.2.4 Nhịp độ đô thị hóa

Nhịp độ ĐTH được tính bằng công thức: T

Trong đó: T: nhịp độ ĐTH

U2: tỉ lệ dân số đô thị năm sau (%)

U1: tỉ lệ dân số đô thị năm trước (%) t: khoảng cách giữa năm sau và năm trước

Bảng 1.2 Tỷ lệ dân số đô thị Đông Nam Bộ và cả nước

(đơn vị: nghìn người)

(Nguồn: Niên giám Thống kê và tính toán của tác giả)

Từ công thức trên ta tính được nhịp độ ĐTH nước ta từ năm 2000 đến năm 2013 là 0,62; nhịp độ ĐTH vùng Đông Nam Bộ là 0,68, cao hơn so với cả nước

Nhịp độ ĐTH còn được biểu hiện qua tốc độ tăng dân số đô thị Dân số

đô thị nước ta tăng từ 18725,4 nghìn người năm 2000 tăng lên 28875 nghìn người năm 2013 Tốc độ tăng dân số đô thị tăng 154,2% so với năm 2000

Trang 15

Bảng 1.3 Tốc độ tăng dân số đô thị nước ta

(Nguồn: tính toán của tác giả từ NGTK, Tổng cục Thống kê)

Nhịp độ ĐTH ảnh hưởng nhiều đến quá trình CDCCSDĐ: diện tích đất nông nghiệp giảm, đất phi nông nghiệp tăng lên

ĐTH có thể phát triển nhanh hay chậm phụ thuộc tốc độ của ĐTH ĐTH nhanh hay chậm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quá trình phát triển kinh tế, quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu, đường lối chủ trương chính sách của từng quốc gia Tốc độ ĐTH có 3 mức độ: nhanh, vừa và chậm Trước khi chủ nghĩa

tư bản ra đời, ĐTH diễn ra với tốc độ chậm mất hàng trăm năm, thậm chí mấy trăm năm để chuyển từ xã hội nông nghiệp truyền thống sang xã hội công nghiệp và thị trường tư bản chủ nghĩa Hiện nay ĐTH diễn ra với tốc độ vừa và nhanh, nguyên nhân do sức ép toàn cầu và hội nhập nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển kinh của các nước đang phát triển

1.2 Một số biểu hiện quá trình đô thị hóa

1.2.1 Dân số ngày càng tập trung đông ở các đô thị lớn

Dân cư thế giới ngày càng tập trung đông vào các đô thị, đặc biệt là các

đô thị lớn và cực lớn làm cho số lượng đô thị trên thế giới tăng lên ngày càng mạnh mẽ

Đầu thế kỉ XX, toàn thế giới có 13 đô thị có số dân hơn 1 triệu dân, đến năm 1990 tăng lên 275 đô thị, năm 2013 đã có 498 đô thị với quy mô hơn 1 triệu dân [46]

Đầu thế kỉ XX, trên thế giới không có đô thị nào có dân số trên 10 triệu dân Năm 1999, thành phố New York là khu đô thị duy nhất có dân số hơn 10 triệu dân.Năm 2013 số đô thị có dân số từ 10 - 15 triệu dân tăng lên 14 đô thị [46]

Trang 16

Bảng 1.4 Số lƣợng đô thị trên 10 triệu dân năm 2013

Trang 17

(Nguồn: http://en.wikipedia.org)

Số siêu đô thị trên 15 triệu dân là 19 đô thị, trong đó có 12 đô thị thuộc

các nhóm nước đang phát triển (Mumbai-Ấn Độ, Sao Paolo-Brazin,

Manila-Philipin, Thượng Hải - Trung Quốc, Calcutta - Ấn Độ, Karadi - Pakistan,

Jakata - Inđônêsia, Cairô - Ai Cập, Mêxicô - Mêhicô, Lagos - Nigiêria,

Dhaka - Bănglađét, New Deli - Ấn Độ) Sự gia tăng dân số đô thị tại các

thành phố lớn và cực lớn là một đặc điểm nổi bật của quá trình ĐTH hiện

nay

Cùng với sự phát triển của đô thị hóa là sự di dân của dân số từ nông

thôn ra đô thị Ở các nước kém phát triển, sản xuất nông nghiệp đóng vai trò

chủ yếu (xã hội nông thôn) thì dân số nông thôn chiếm chủ yếu Ở các nước

đang phát triển đã có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công

nghiệp (xã hội đô thị) thì dân số nông thôn đã chuyển lên các khu đô thị làm

việc và sinh sống Ngoài ra còn một nguyên nhân nữa đối với các nước đang

phát triển có tỷ lệ gia tăng dân số đô thị là do tốc độ gia tăng dân số tự nhiên

cao Đối với các nước phát triển có công nghiệp và dịch vụ phát triển mạnh,

người dân được sử dụng các dịch vụ tốt nhất thì dân số chủ yếu là dân số đô

Trang 18

Từ năm 1950 đến 2013 tỷ lệ đô thị toàn thế giới tăng từ 29,7% lên 52% (tăng 1,75 lần), khu vực các nước đang phát triển tăng từ 17,8% lên 43,7% (tăng 2,46 lần), khu vực các nước kém phát triển tăng từ 7,1% lên 27,6% (tăng 3,89 lần), khu vực các nước phát triển tăng từ 55% lên 79,9% (tăng 1,45 lần) Rõ ràng mức độ gia tăng dân số đô thị diễn ra nhanh nhất ở các khu vực các nước đang và kém phát triển trên thế giới

Bảng 1.6 Mức độ đô thị hóa của một số quốc gia trên thế giới năm 2013

(Nguồn: Niên giám Thống kê, Tổng cục Thống kê)

Xét về mức độ ĐTH một vài quốc gia thuộc các nhóm nước trên để thấy

rõ hơn: nhóm nước có nền kinh tế phát triển thường có tỷ lệ dân số thành thị cao (thường tập trung trên 70% dân số cả nước) như Hoa Kỳ, Nhật Bản các nước châu Âu…, ngược lại các quốc gia đang phát triển thường có tỷ lệ dân

số thành thị thấp (thường dưới 50% dân số cả nước) như Việt Nam, Thái Lan,

Ai Cập, Xômali

Sự gia tăng dân số đô thị ở các nước đang phát triển chưa phản ánh đúng tốc độ CNH như các nước phát triển Quá trình di cư từ nông thôn lên thành thị ở các nước phát triển là không đáng kể, sự gia tăng dân số đô thị chủ yếu

là tăng tự nhiên và nhập cư quốc tế Còn ở các nước đang phát triển là do sự chênh lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn, dân cư nông thôn di cư

về thành thị để kiếm việc làm, tìm cuộc sống tốt đẹp hơn

Trang 19

1.2.2 Tỉ lệ dân thành thị cao và tăng nhanh

Đô thị trên thế giới gia tăng nhanh cả về số lượng đô thị, dân số đô thị

và tỷ lệ thị dân Các nước phát triển có tỷ lệ dân số thành thị cao như Hoa Kỳ 81%, Canada 80%, Anh 80%, Bỉ 99%, Pháp 78%, Nhật Bản 86% , một số các nước NICs có tỷ lệ dân số thành thị cao như Đài Loan 78%, Singapo 100%, Mônacô 100%, Hàn Quốc, Mêhicô 77% …Ngược lại, các nước đang phát triển

và kém phát triển có tỷ lệ dân thành thị thấp như Việt Nam 31%, Lào 27%, Trung Quốc 51%, Ấn Độ 31%

Mức độ ĐTH của Việt Nam thấp hơn mức trung bình chung của thế giới, thậm chí còn thấp hơn cả mức của các nhóm nước đang - kém phát triển Năm 2013, tỷ lệ dân đô thị của thế giới là 52%, các nước đang - kém phát triển

là 35,7%, trong khi đó Việt Nam là 32% Theo dự báo của The United Nations Population Fund (UNFPA), dân số đô thị thế giới sẽ tăng lên 60% vào năm

2030 (khoảng 4,9 tỉ người)

1.2.3 Ranh giới hành chính đô thị không ngừng mở rộng

Những năm qua, hệ thống đô thị Việt Nam đang ngày càng phát triển Tính đến năm 2013, cả nước có 770 điểm cư dân đô thị, tăng 11% so với năm

2007 (năm 2007 nước ta có 700 điểm dân cư đô thị) Bên cạnh những đô thị

có bề dày lịch sử tiếp tục được mở rộng, nâng cấp, đáng chú ý là sự xuất hiện ngày càng nhiều các khu đô thị mới tập trung, trong đó hệ thống các thị trấn, thị tứ ngày càng tỏa rộng, tạo thành những nét mới ở nông thôn

Với sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, đặc biệt ở khu vực nông thôn – kết cấu hạ tầng xưa nay vốn yếu kém, đã có sự cải thiện đáng kể, các làng nghề được chấn hưng, mở mang góp phần làm sôi động thêm quá trình CNH ở nông thôn Làng sóng ĐTH cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI đã thổi luồng sinh khí mới vào nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam

Đô thị hóa gắn với CNH - HĐH đã trực tiếp góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng giá trị nông, lâm, ngư nghiệp trong tổng thu nhập quốc dân (GDP) và tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ trong GDP Phát triển công nghiệp góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn theo hướng HĐH, và kéo theo sự phát triển của các khu đô thị

Trang 20

mới Cơ sở hạ tầng, dịch vụ được nâng cấp để đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển của công nghiệp đồng thời tạo cho đô thị phát triển Các KCN được quy hoạch gắn liền với các khu đô thị mới để đáp ứng được yêu cầu về dịch vụ phụ trợ xung quanh KCN, nhà ở cho công nhân viên, tận dụng được tài nguyên cũng như lực lượng lao động tại chỗ

1.2.4 Lối sống thành thị phổ biến rộng rãi

Quá trình ĐTH nông thôn nước ta trong những năm gần đây diễn ra với tốc độ khá nhanh, làm biến đổi bộ mặt kinh tế, văn hóa, xã hội và kiến trúc trên

cả nước Nguyên nhân là do sự chuyên môn hóa lao động Mặc dù nông nghiệp

là một hoạt động cơ bản của cư dân nông thôn nhưng tỉ trọng công việc đồng

án nhìn chung giảm xuống Dưới chế độ phong kiến giữa nông thôn và thành thị là một khoảng cách quá xa Trong thời gian gần đây, đặc biệt là trong quá trình CNH - HĐH, chúng ta thấy nông thôn đang xích lại gần thành thị hơn Quá trình ĐTH nông thôn đã biến nền sản xuất nông nghiệp độc canh trở thành nền sản xuất hàng hóa đa ngành nghề Lối sống thành phố du nhập vào nông thôn rất nhanh, tác động lớn tới cuộc sống, phong tục tập quán thôn quê Việt Nam và những giá trị văn hóa truyền thống lâu đời

Nếu như ở nông thôn trước kia còn nhiều hủ tục, mê tín dị đoan thì nay

đã bớt đi nhiều Quá trình ĐTH nông thôn đã đem lại rất nhiều thành tựu cho đất nước Những gì tốt đẹp mà đời sống vật chất đem lại cho con người đã nảy sinh dần dần trong nông thôn Đời sống ngày được nâng cao, nhu cầu phải xây dựng lại nhà đẹp, khang trang hơn, đường sá nông thôn được trải nhựa, bê tông sạch sẽ, đi lại thuận tiện Sự truyền bá các sản phẩm văn hóa, các loại hình văn học, nghệ thuật có giá trị; sự du nhập lối sống, phong cách giao tiếp, ứng xử văn minh, tiến bộ làm cho văn hóa làng quê có những sắc thái mới Đời sống văn hóa, trình độ hưởng thụ và tham gia sáng tạo văn hóa của nông dân các vùng ĐTH nhìn trên tổng thể được nâng lên

Người dân nông thôn trước kia chỉ quanh quẩn trong thôn làng, giờ mở rộng quan hệ ra bên ngoài Tuy nhiên, những nét đẹp truyền thống trong gia đình, họ hàng, làng xóm láng giềng cũng có phần bị xấu đi, đối lập với thuần phong mĩ tục, bào mòn và làm rạn nứt quan hệ tương thân, tương ái Một bộ

Trang 21

phận thanh niên ăn chơi, đua đòi, quan hệ con cái với cha mẹ trong một số gia đình ngày càng xa dần, thế hệ trẻ tiếp thu nhanh xu thế hiện đại, ngược lại với

đa phần người cao tuổi cố giữ những giá trị truyền thống, dẫn tới những mâu thuẫn mới

Các phương tiện thông tin, báo chí, truyền hình, internet thời gian qua

đã phản ánh nhiều hình ảnh phản cảm về cách cư xử, ăn mặc lố lăng của thanh thiếu niên “ngắn trước, rách sau” “siêu mỏng”, rồi các “hot girl, hot boy”; truy cập các trang Web độc hại, chát Nude, đua xe, quan hệ tình dục, tội phạm… ở lứa tuổi thanh thiếu niên đang có chiều hướng gia tăng và trẻ hóa

1.2.5 Sự thay đổi cơ cấu lao động

Quá trình ĐTH làm chuyển đổi mạnh cơ cấu lao động theo khu vực, đó chính là sự chuyển dịch lao động xã hội từ khối kinh tế này sang khối kinh tế khác:

- Ở lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp: lực lượng lao động chiếm tỷ lệ cao

trong thời kì tiền công nghiệp và giảm dần ở các giai đoạn sau;

- Ở lĩnh vực công nghiệp: lực lượng lao động phát triển rất nhanh ở giai

đoạn CNH, đỉnh cao là giai đoạn hậu công nghiệp, sau đó giảm dần do sự thay thế trong lao động công nghiệp bằng tự động hóa;

- Ở lĩnh vực dịch vụ: thời kì tiền công nghiệp, lực lượng công nghiệp

chiếm tỉ lệ rất thấp nhưng sau đó tăng dần và chiếm tỉ lệ cao nhất trong nền văn minh khoa học kĩ thuật (nền kinh tế tri thức)

Bảng 1.7 Cơ cấu lao động các nhóm ngành kinh tế nước ta giai

(Nguồn: Niên giám Thống kê các năm)

Có thể thấy sự gia tăng của lực lượng lao động nước ta giai đoạn

2000-2013 trong nhóm ngành công nghiệp - xây dựng vẫn còn chậm (tăng 9,1%) Số lao động trong nhóm ngành dịch vụ tăng nhanh hơn nhiều so với tốc độ tăng của nhóm ngành công nghiệp (tăng 12,1%) Số lao động trong nhóm ngành

Trang 22

nông – lâm – ngư nghiệp giảm (giảm 21,2%) nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu lao động theo ngành

1.3 Tổng quan về đất đai

1.3.1 Phân loại đất đai [3]

1.3.1.1 Phân loại theo diện tích đất

Tổng diện tích đất tự nhiên của đơn vị hành chính là toàn bộ diện tích các loại đất thuộc phạm vi quản lý của đơn vị hành chính đó trong đường địa giới hành chính xác định, được lấy theo số liệu do cơ quan địa chính có thẩm quyền đo đạc và công bố Đối với các đơn vị hành chính có biển thì diện tích tự nhiên của đơn vị hành chính đó bao gồm diện tích các loại đất của phần đất liền

và các đảo, quần đảo trên biển tính đến đường mép nước biển triều kiệt trung bình trong nhiều năm Tổng diện tích đất tự nhiên bao gồm nhiều loại đất khác nhau tùy theo tiêu thức phân loại Thông thường diện tích đất được phân theo mục đích sử dụng và đối tượng sử dụng

+ Đất sản xuất nông nghiệp: Là đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm

+ Đất lâm nghiệp: Là đất có rừng tự nhiên hoặc có rừng trồng đạt tiêu chuẩn rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, đất khoanh nuôi phục hồi rừng (đất đã giao, cho thuê để khoanh nuôi, bảo vệ nhằm phục hồi rừng bằng hình thức tự nhiên là chính), đất để trồng rừng mới (đất đã giao, cho

thuê để trồng rừng và đất có cây rừng mới trồng chưa đạt tiêu chuẩn rừng) Đất

lâm nghiệp bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng

Trang 23

+ Đất nuôi trồng thuỷ sản: Là đất được sử dụng chuyên cho mục đích nuôi, trồng thuỷ sản, bao gồm đất nuôi trồng nước lợ, nước mặn và đất chuyên

cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp

- Đất phi nông nghiệp: Là đất được sử dụng không thuộc nhóm đất nông nghiệp; bao gồm đất ở, đất chuyên dùng, đất tôn giáo, tín ngưỡng, đất nghĩa trang, nghĩa địa, đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng, đất phi nông nghiệp khác

+ Đất ở: Là đất để xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình phục vụ cho đời sống; đất vườn, ao gắn liền với nhà ở trong cùng một thửa đất thuộc khu dân cư (kể cả trường hợp vườn, ao gắn liền với nhà ở riêng lẻ) đã được công nhận là đất ở; bao gồm đất ở tại nông thôn và đất ở tại đô thị

+ Đất chuyên dùng: Là đất dùng để xây dựng trụ sở cơ quan, công trình

sự nghiệp; đất quốc phòng, an ninh; đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; đất dùng cho mục đích công cộng khác

+ Đất tôn giáo, tín ngưỡng: Là đất do cơ sở tôn giáo sử dụng và đất có

cơ sở tín ngưỡng dân gian

+ Đất nghĩa trang, nghĩa địa: Là đất để làm nơi mai táng tập trung

+ Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng: Là đất có mặt nước không sử dụng chuyên vào các mục đích nuôi trồng thủy sản, thuỷ điện, thuỷ lợi Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng bao gồm: đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối

và đất có mặt nước chuyên dùng

Trang 24

+ Đất phi nông nghiệp khác: Là đất làm nhà nghỉ, lán trại, nhà tạm (không phải là nhà ở) để người lao động sử dụng tại các trang trại ở nông thôn; đất để xây dựng cơ sở sản xuất dịch vụ nông, lâm ngư nghiệp tại đô thị như xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt (kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất), xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép, xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, xây dựng

cơ sở ươm tạo cây giống, con giống, xây dựng kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp

- Nhóm đất chưa sử dụng: Là đất chưa xác định mục đích sử dụng; bao gồm đất bằng chưa sử dụng, đất đồi núi chưa sử dụng, núi đá không có rừng cây

+ Đất bằng chưa sử dụng: Là đất bằng phẳng ở đồng bằng, thung lũng, cao nguyên chưa sử dụng

+ Đất đồi núi chưa sử dụng: Là đất chưa sử dụng trên vùng đồi, núi

+ Núi đá không có rừng cây: Là đất chưa sử dụng ở dạng núi đá, trên đó không có rừng cây

(b) Diện tích đất theo tiêu thức người sử dụng, quản lý đất

- Người sử dụng đất: Là người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; bao gồm hộ dân cư, cá nhân; cộng đồng dân cư;

tổ chức (trong nước), cơ sở tôn giáo; tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài

- Người quản lý đất: Là tổ chức trong nước, cộng đồng dân cư, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được Nhà nước giao đất để quản lý; bao gồm tổ chức được giao quản lý đất, cộng đồng dân cư được giao quản lý đất

1.3.1.2 Phân loại theo cơ cấu đất

(a) Cơ cấu đất theo tiêu thức mục đích sử dụng

Là tỷ trọng diện tích của phần đất có cùng mục đích sử dụng trong tổng diện tích tự nhiên của đơn vị hành chính, bao gồm tỷ trọng đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng chiếm trong tổng diện tích tự nhiên

Trang 25

(b) Cơ cấu đất theo tiêu thức người sử dụng, quản lý đất:

Là tỷ trọng diện tích của phần đất có cùng đối tượng sử dụng hoặc đối tượng được giao để quản lý trong tổng diện tích đất của đơn vị hành chính, bao gồm tỷ trọng đất của các đơn vị, cá nhân, tổ chức… quản lý hoặc sử dụng chiếm trong tổng diện tích tự nhiên

1.3.2 Khái niệm cơ cấu sử dụng đất (CCSDĐ)

Đất đai là nguồn tài nguyên quý giá của tất cả các quốc gia Có một lượng tài nguyên đất đai dồi dào không chỉ là điều mơ ước của mọi gia đình mà

ở bất cứ đất nước nào Tuy nhiên, không chỉ có số lượng mà còn phải phân bố sao cho hợp lý trong các ngành, các lĩnh vực nhằm đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu sử dụng đất cũng như thúc đẩy, hỗ trợ cho các ngành kinh tế phát triển

Việc phân bổ, sử dụng đất trong các ngành khác nhau hình thành CCSDĐ Một CCSDĐ hợp lý là điều kiện không thể thiếu trong quá trình phát triển đất nước Để thực hiện các điều này cần phải xác định việc phân bổ các loại đất vào mỗi mục đích sử dụng và mối quan hệ của chúng hợp thành toàn

bộ quỹ đất của từng vùng lãnh thổ, từng địa phương Do đó, có thể hiểu CCSDĐ là mối quan hệ tỷ lệ giữa các loại đất đai được sử dụng vào các mục đích sử dụng khác nhau so với toàn bộ quỹ đất trong quá trình phát triển KTXH Các bộ phận này chính là số lượng các loại đất được sử dụng cho các mụch đích khác nhau trong tổng diện tích đất theo địa giới hành chính của địa phương Do đất đai bị giới hạn bởi diện tích bề mặt nên tổng quỹ đất có số lượng cố định, chỉ có số lượng các loại đất sử dụng cho các mục đích khác nhau có mối quan hệ tỷ lệ về số lượng, tương quan về chất lượng, tác động qua lại lẫn nhau, làm tiền đề cho nhau phát triển trong những phạm vi không gian

và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện KTXH nhất định nhằm đạt hiệu quả KTXH cao nhất Với các vị trí cố định của đất đai, CCSDĐ bao giờ cũng gắn với điều kiện không gian và thời gian cụ thể; những điều kiện tự nhiên, KTXH cụ thể và thích hợp của từng quốc gia, từng vùng, từng địa phương

CCSDĐ phản ánh hiện trạng sử dụng đất phục vụ việc quy hoạch và xây dựng kế hoạch sử dụng đất một cách hiệu quả, là căn cứ để nghiên cứu hoàn

Trang 26

chỉnh chính sách pháp luật về đất đai, là yếu tố để tính các chỉ tiêu thống kê có liên quan như: mật độ dân số, thu nhập bình quân trên một đơn vị diện tích, hiệu quả trên một đơn vị đất…

CCSDĐ không phải là bất biến mà luôn ở trạng thái vận động, biến đổi không ngừng theo sự thay đổi của cơ cấu kinh tế trong quá trình phát triển KTXH Sự thay đổi nhanh chóng hay duy trì quá lâu của CCSDĐ nếu không phù hợp với điều kiện tự nhiên, KTXH của địa phương, cơ cấu kinh tế sẽ gây ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của xã hội CCSDĐ thay đổi không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của cá nhân hay lợi ích nhóm nào đó mà nó phải chuyển dịch theo những mục tiêu, định hướng cụ thể

Vấn đề quan trọng của việc sử dụng hợp lý quỹ đất vào phát triển kinh tế

là xây dựng CCSDĐ hợp lý để sử dụng vào các mục đích khác nhau Một CCSDĐ hợp lý phải đảm bảo các tiêu chí sau:

- Đáp ứng được yêu cầu phát triển các ngành kinh tế

- Phù hợp với điều kiện tự nhiên, KTXH, môi trường từng địa phương, từng vùng

- Đem lại hiệu quả KTXH cao, chuyển dịch theo hướng tiến bộ để khai thác các lợi thế và tiềm năng kinh tế của địa phương

Sự phát triển kinh tế của địa phương phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nếu cơ cấu kinh tế chuyển biến mạnh sẽ ảnh hưởng nhiều đến chuyển dịch CCSDĐ

Do đó, để xây dựng một CCSDĐ hợp lý phù hợp với những mục tiêu chiến lược trong quá trình phát triển KTXH ở từng địa phương, từng thời điểm cụ thể

là cực kì quan trọng, do đó điều cần thiết là phải nghiên cứu, tìm ra quy luật vận động của sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, sự thay đổi của cơ cấu kinh tế

Một CCSDĐ hợp lý phải có sự kết hợp các bộ phận liên quan một cách hài hòa, hợp lý, khai thác được tối đa lợi ích đất đai cho các hoạt động phát triển kinh tế, đồng thời đảm bảo vấn đề sinh thái môi trường, phát triển bền vững

1.3.3 Chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất

Trang 27

Kinh tế xã hội luôn thay đổi, do đó CCSDĐ luôn vận động, chuyển dịch

Sự dịch chuyển này theo quy luật tất yếu khách quan phụ thuộc vào sự thay đổi KTXH, tuy nhiên cũng thể hiện sự chủ động có ý thức của quá trình vận động này Các thuật ngữ như quy hoạch, điều chỉnh mang nhiều ý nghĩa chủ quan, tác động trực tiếp có chủ ý của con người

CDCCSDĐ là quá trình vận động, biến đổi các loại đất khác nhau làm thay đổi vị trí, tương quan tỷ lệ và mối quan hệ, tương quan giữa các loại đất dưới tác động của những yếu tố KTXH và các điều kiện khách quan khác CDCCSDĐ là một quá trình vận động của các bộ phận cấu thành nên CCSDĐ Trong quá trình chuyển dịch CCSDĐ sẽ vận động và phát triển từ một cơ cấu

cũ sang một cơ cấu mới Quá trình chuyển dịch này đòi hỏi phải tốn một khoảng thời gian và trãi qua các bước tuần tự khác nhau để đạt đến mục đích cuối cùng là một tổng thể được kết hợp hợp lý, hài hòa từ các bộ phận cấu thành

CDCCSDĐ không chỉ diễn ra một cách khách quan mà còn chuyển dịch dưới tác động chủ quan của con người, quá trình này không phải diễn ra trong một thời gian ngắn mà là quá trình mang tính chất biến đổi theo định hướng đã được đặt ra làm thay đổi từ một CCSDĐ cũ sang một CCSDĐ mới phù hợp hơn, hiệu quả cao hơn Đây là một quá trình tất yếu của sự phát triển KTXH Mỗi lĩnh vực có sự phát triển khác nhau, tất yếu đòi hỏi diện tích đất cũng khác nhau từ đó dẫn đến CDCCSDĐ Từ đó cho thấy có thể hiểu cụ thể hơn về CCSDĐ là mối quan hệ và tỷ lệ giữa các loại diện tích đất đai sử dụng cho các ngành trong nền kinh tế, mối quan hệ giữa các loại diện tích đất sử dụng cho các địa phương, các vùng khác nhau và giữa các loại diện tích đất đai sử dụng cho các thành phần kinh tế

Do đó, quan niệm CDCCSDĐ được hiểu là sự chuyển dịch, sự thay đổi

tỷ trọng tương đối của diện tích đất sử dụng cho các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế CDCCSDĐ là sự thay đổi cấu trúc nội tại và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành của CCSDĐ có hướng đến mục tiêu đã được xác định CCSDĐ được hình thành và biến động theo đặc trưng của cơ cấu kinh tế nhưng cũng đồng thời biến động theo những đặc trưng riêng của mình CCSDĐ hình

Trang 28

thành và phát triển mang tính khách quan Sự vận động biến đổi của cơ cấu kinh tế phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội CCSDĐ là một thành phần của lực lượng sản xuất do đó cũng vận động biến đổi cho phù hợp với sự biến đổi của cơ cấu kinh tế Điều này có nghĩa không thể thúc ép hoặc kìm hãm sự CDCCSDĐ theo một cơ chế không phù hợp với yêu cầu và khả năng khách quan của điều kiện tự nhiên, KTXH

Với sự tiến bộ của khoa học công nghệ đã làm thay đổi nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực trồng trọt đã tạo ra nhiều giống cây trồng mới với năng suất

và chất lượng cao, đem lại hiệu quả cho nền kinh tế Điều này mang lại nhiều ý nghĩa và sự thay đổi đáng kể cho việc sử dụng đất với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu và trực tiếp trong ngành trồng trọt Lượng sản phẩm tăng lên nhanh chóng làm cho nhu cầu sử dụng đất trong nông nghiệp giảm xuống Phần đất đai dư thừa của ngành nông nghiệp được cung cấp cho ngành công nghiệp

và dịch vụ Thực tế khách quan này đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế nói chung, CCSDĐ cho các hoạt động kinh tế nói riêng tạo ra một cơ cấu mới phù hợp hơn, hiệu quả hơn

CCSDĐ thay đổi như thế nào là tùy thuộc vào sự vận động của quy luật khách quan mà trước hết là vận động của quy luật kinh tế Do đó, để xây dựng một CCSDĐ hợp lý, hiệu quả thì con người cần phải nhận thức được một cách

rõ ràng và đầy đủ tất cả các quy luật khách quan nhất là quy luật kinh tế để từ

đó xây dựng, điều chỉnh và chuyển đổi CCSDĐ sao cho phù hợp với các điều kiện tự nhiên, KTXH để đem lại hiệu quả cao

CCSDĐ mang tính lịch sử, xã hội luôn luôn gắn với một giai đoạn nhất định, chịu sự chi phối của các điều kiện tự nhiên, KTXH của giai đoạn đó Đất đai là một bộ phận không thể thiếu trong cuộc sống con người, tham gia vào tất

cả các hoạt động xã hội Chính vì sự vận động, hình thành và phát triển của địa phương đã tác động, ảnh hưởng đến sự hình thành, vận động của CCSDĐ Khi

xã hội nông nghiệp chuyển sang xã hội công nghiệp thì CCSDĐ cũ không còn phù hợp đã đòi hỏi CCSDĐ cũ phải chuyển đổi để thay vào đó là một CCSDĐ mới phù hợp hơn, hiệu quả hơn

Trang 29

CCSDĐ không phải là một hệ thống tùy tiện và cứng nhắc, mà là một hệ thống của các bộ phân được ghép nối một cách hợp lý, uyển chuyển và luôn vận động, thay đổi tùy thuộc vào sự thay đổi của các điều kiện tự nhiên, KTXH

và tiến bộ của khoa học công nghệ Các bộ phận trong CCSDĐ có mối quan hệ hữu cơ với nhau, không thể tách rời Do tổng đất đai là một hằng số nên sự tăng lên và phát triển của bộ phận này là sự giảm đi của bộ phận khác Giữa các bộ phận liên kết với nhau theo một cơ chế vững chắc qua các mối quan hệ giữa các ngành kinh tế, các vùng kinh tế và các thành phần kinh tế sử dụng đất

Sự vận động, chuyển dịch của CCSDĐ là sự vận động khách quan, tuy nhiên không phải sự vận động nào cũng tạo ra một CCSDĐ mới cũng đem lại hiệu quả hơn so với cơ cấu đất cũ Có những cơ cấu đất mới hình thành đã mang lại những hạn chế và hiệu quả không như mong đợi Mặt khác, nếu CCSDĐ vận động thường xuyên, liên tục sẽ gây ra không ổn định cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành kinh tế vì mỗi một CCSDĐ có một cơ

sở vật chất, trang thiết bị đặc trưng cho cơ cấu đó Việc vận động liên tục CCSDĐ sẽ tạo nên yêu cầu thay đổi liên tục cơ sở vật chất, trang thiết bị đi kèm theo đó dẫn đến tình trạng chưa khai thác hết hiệu quả của cơ sở vật chất, trang thiết bị cũ gây lãng phí, tổn thất về mặt kinh tế Cho nên, CCSDĐ phù hợp là cơ cấu đòi hỏi có sự ổn định tương đối trong một khoảng thời gian hợp

lý để có thể phát huy hết hiệu quả của các yếu tố vật chất kỹ thuật phục vụ CCSDĐ

Trong thời đại ngày nay, việc phát triển KTXH chỉ dựa trên những điều kiện nội tại của quốc gia đang có đã trở nên lạc hậu Một CCSDĐ hợp lý là một

cơ cấu chuyển dịch phù hợp với sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho cho các mục tiêu đã đề ra Một nền kinh tế mở cửa, phân công lao động vượt khỏi quốc gia là một xu thế thời kì hiện đại Do đó, lựa chọn một CCSDĐ hợp lý, đáp ứng tốt các điều kiện phát triển của các ngành kinh tế thì phải phát huy tối đa nguồn lực bên trong và bên ngoài để có thể khai thác tốt hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế của quốc gia

Trang 30

CCSDĐ hình thành và hoàn thiện trong mối quan hệ hợp tác, cạnh tranh

theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Một CCSDĐ hợp lý là một

cơ cấu mà các thành tố của nó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trên phương

tiện bổ trợ hỗ trợ cho nhau cùng phát triển trên nhiều yếu tố như áp dụng khoa

học công nghệ vào sản xuất Tuy nhiên, do tổng diện tích đất là một hằng số

nên việc sử dụng đất cho mục đích này thì hạn chế hoặc không có đất sử dụng

cho mục đích khác nên giữa các các thành tố trong CCSDĐ có mối quan hệ và

cạnh tranh nhau cho các mục đích phát triển

1.3.4 Mối quan hệ giữa quá trình ĐTH và CDCCSDĐ

Sự gia tăng dân số đặc biệt ở các đô thị sẽ kéo theo quá trình chuyển đổi

cơ cấu sử dụng các loại đất, trong đó đất nông nghiệp được xem là chịu nhiều

ảnh hưởng nhất Hàng loạt KCN, khu đô thị mọc lên, không thể phủ nhận

những lợi ích lớn lao, lâu dài của việc triển khai các dự án mà quá trình ĐTH

mang lại Các trung tâm thành phố và khu vực lân cận mới được quy hoạch lên

thành phố đã làm tăng dân số và nhu cầu sử dụng đất đai, điều này làm ảnh

hưởng rất lớn đến CDCCSDĐ

Quá trình ĐTH nhanh cùng với sự thay đổi điều kiện sống đã làm cho

một bộ phận dân cư ở nông thôn di cư mạnh ra các đô thị dẫn đến mật độ dân

số ở thành thị tăng cao, gây mất cân đối giữa thành thị và nông thôn, bên cạnh

đó dân cư tại các đô thị với mức sống ngày càng cao, nhu cầu đất ở càng lớn do

đó đã đặt ra những vấn đề nan giải về giải quyết công ăn việc làm, thất nghiệp

tại chỗ, nhà ở và tệ nạn xã hội, làm cho trật tự xã hội ngày càng thêm phức tạp

Trước những thực trạng này, đòi hỏi đô thị cần nhiều quỹ đất để giải quyết các

vấn đề khó khăn trên như quỹ đất dành cho nhà ở, quỹ đất dành cho giao thông,

công viên…

Trang 31

CHƯƠNG 2

ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU

SỬ DỤNG ĐẤT TỈNH BÌNH DƯƠNG 2.1 Quá trình đô thị hóa tỉnh Bình Dương

2.1.1 Dân cư tập trung đông

Mật độ dân số tỉnh Bình Dương năm 2013 là 669 người/km2

, thấp hơn TPHCM (3666 người/km2

) nhưng cao hơn tỉnh Đồng Nai (461 người/km2

) và

Bà Rịa – Vũng Tàu (522 người/km2) Vị trí này có sự thay đổi so với mốc năm

2000 theo thứ tự từ cao xuống thấp là TPHCM, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai

và Bình Dương Năm 2000, mật độ dân số tỉnh Bình Dương thấp nhất trong 4 tỉnh có kinh tế phát triển nhất của VKTTĐPN nhưng đến năm 2013, Bình Dương có mật độ dân số xếp thứ 2 sau TPHCM, nguyên nhân chính là do chính sách phát triển công nghiệp và chính sách thu hút nhân tài tỉnh Bình Dương đã hấp dẫn lao động từ các tỉnh khác đến làm việc và sinh sống Đây cũng chính là điều kiện thuận lợi thu hút nguồn nhân lực cho quá trình phát triển kinh tế tỉnh Bình Dương

(Nguồn: Niên giám Thống kê, Nxb Thống kê)

Mật độ dân số (MĐDS) các huyện trong tỉnh cũng có sự chênh lệch lớn: năm 2000, MĐDS cao nhất là TP.TDM với 1753 người/km2

, cao hơn 15 lần so với huyện thấp nhất là Phú Giáo với 114 người/km2

; năm 2013 MĐDS cao nhất

là thị xã Dĩ An với 6236 người/km2, cao hơn 38 lần so với huyện thấp nhất là Dầu Tiếng với 162 người/km2

Trang 32

Bảng 2.2 Mật độ dân số các huyện tỉnh Bình Dương

(Nguồn: Niên giám Thống kê Bình Dương)

Hình 2.1 Biểu đồ MĐDS theo huyện tỉnh Bình Dương

Như vậy dân số của tỉnh tập trung chủ yếu ở các huyện phía Nam như thị xã Thuận An, thị xã Dĩ An do hoạt động sản xuất công nghiệp diễn ra mạnh

mẽ, có vị trí địa lý và giao thông vận tải thuận lợi Ngược lại những huyện còn nhiều sản xuất nông nghiệp thì mật độ dân số thấp hơn như huyện Bến Cát, Dầu Tiếng, Phú Giáo Hiện nay, hai huyện Bến Cát và Tân Uyên dân số cũng tăng lên khá nhanh, nguyên nhân là do sự mở rộng sản xuất công nghiệp sang hai huyện này với sự ra đời ngày càng nhiều KCN.

Huyện Phú Giáo

Huyện Tân Uyên

Thị xã Dĩ

An

Thị xã Thuận An

2000 2005 2010 2013

Các huyện người/km2

Trang 33

Nguồn: Phan Văn Trung

Trang 35

2.1.2 Quy mô dân số đô thị và tỷ lệ dân số đô thị

ĐTH tỉnh Bình Dương diễn ra do sự hình thành các khu công nghiệp và khu đô thị chủ yếu từ việc thu hồi diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn Mức

độ ĐTH tỉnh Bình Dương hầu như diễn ra trên khắp các địa bàn tỉnh

Bảng 2.3 Dân số đô thị và tỷ lệ dân số đô thị

Mức độ tập trung dân cư tại đô thị từ 2000 – 2010 ít có sự biến động, tỷ

lệ ĐTH dao động 30%, nhưng vẫn cao hơn tỷ lệ ĐTH bình quân cả nước (trung bình cả nước trong giai đoạn này khoảng 28%) Tuy nhiên, mức đột biến là giai đoạn 2010 - 2013 tăng hơn gấp 2 lần trước đó (tăng gần 65%) (bảng 2.3) Nguyên nhân chính, ngoài sự phát triển của công nghiệp đã thu hút một lực lượng lao động nhập cư, còn do quá trình chuyển đổi từ xã lên phường, làm dân

cư nông thôn trở thành dân cư thành thị

0 200000 400000 600000 800000 1000000 1200000 1400000

Trang 36

Bảng 2.4 Dân số thành thị trung bình phân theo huyện

(đơn vị: người)

Đơn vị cấp huyện 2000 2005 2010 2013 Tỉ lệ gia tăng

2013/2000 (lần) Tổng 241406 333756 512908 1162749 4,82

(Nguồn: Niên giám Thống kê Bình Dương và tính toán của tác giả)

Tỉ lệ gia tăng dân số đô thị ở các đơn vị hành chính của tỉnh cũng rất không đồng đều Năm 2013 so với năm 2000, ở 7 đơn vị hành chính cấp huyện thì thị xã Thuận An có tỉ lệ gia tăng cao nhất - tăng gần 20 lần, thị xã Dĩ An tăng hơn 7 lần, đến huyện Bến Cát và huyện Tân Uyên tăng hơn 3 lần, cao hơn

cả TP.TDM, duy nhất chỉ có huyện Dầu Tiếng là giảm Nguyên nhân ngoài sự phát triển công nghiệp, dịch vụ đô thị làm dân nhập cư tăng còn do thị xã Thuận An và Dĩ An thực hiện chuyển đổi từ xã lên phường nên tỉ lệ dân đô thị

tăng lên đột biến

2.1.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

2.1.3.1 Chuyển dịch cơ cấu ngành

Cơ cấu kinh tế tỉnh Bình Dương chuyển dịch khá nhanh theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng

và dịch vụ Tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng thấp nhất và ngày càng giảm tỷ trọng Năm 2000, tỷ trọng nông nghiệp đạt 16,7% giá trị sản xuất, đến năm 2013 giảm xuống còn 3,3%

Ngành công nghiệp - xây dựng: tăng từ 58,1% (năm 2000) lên 61,4% (năm 2013), đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế tỉnh Bình Dương

Ngành dịch vụ có tỷ trọng thấp hơn ngành công nghiệp - xây dựng nhưng có xu hướng tăng lên khá nhanh từ 25,2% (năm 2000) lên 35,3% (năm 2013) Tỷ trọng ngành này tăng nhanh hơn ngành công nghiệp vì trong quá trình phát triển, tỉnh Bình Dương có chiến lược điều chỉnh phát triển kinh tế

Trang 37

theo hướng công nghiệp - dịch vụ - đô thị, để phù hợp hơn với chiến lược phát triển hội nhập kinh tế trong nước và khu vực

Bảng 2.5 Giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất kinh tế Bình Dương theo

giá hiện hành

Giá trị (triệu đồng) Cơ cấu (%)

Giá trị (tỷ đồng) Cơ cấu (%)

(Nguồn: Niên giám Thống kê Bình Dương và tính toán của tác giả)

Hình 2.5 Cơ cấu kinh tế theo ngành tỉnh Bình Dương năm 2000, 2013

ĐTH thường diễn ra song song với quá trình CNH-HĐH, biến một bộ phận dân cư nông thôn trở thành dân cư đô thị Quá trình chuyển dịch này thúc đẩy sự phát triển ngành công nghiệp và dịch vụ làm tăng giá trị sản xuất, thúc đẩy kinh tế tỉnh Bình Dương phát triển

2.1.3.2 Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế

Cơ cấu kinh tế theo thành phần có sự thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế có vốn đầu tự nước ngoài Năm 2000, khu vực này chỉ chiếm 29,9% tổng thu nhập quốc dân của tỉnh, đến năm 2013 trở thành thành phần dẫn đầu với tỷ trọng 51,4%

16.7

58.1 25.2

Trang 38

Khu vực kinh tế nhà nước tăng khá nhanh, gần gấp 2 lần (39,6% năm

2013 so với 21,2% năm 2000); riêng khu vực kinh tế tư nhân giảm đáng kể, giảm 5,4 lần (9% năm 2013 so với 48,9% năm 2013)

Hình 2.6 Cơ cấu kinh tế theo thành phần tỉnh BD năm 2000, 2013

2.1.3.3 Chuyển dịch cơ cấu theo lãnh thổ

Các cơ sở công nghiệp là một trong những động lực phát triển đô thị chính tại Bình Dương Trong thời gian qua, công nghiệp phát triển rất mạnh trên địa bàn tỉnh nhưng mức độ phân bố chủ yếu tập trung chủ yếu ở khu vực phía Nam như dọc tuyến quốc lộ 1A, 1K, dọc quốc lộ 13, thị xã Thuận An, thị

xã Dĩ An, TP.TDM Sự phân bố công nghiệp có sự khác biệt giữa khu vực phía Nam và phía Bắc Hiện nay, các hoạt động công nghiệp của tỉnh đã mở rộng sang các huyện như Bắc Tân Uyên, Nam Bến Cát đã làm thay đổi cơ cấu kinh

tế của các huyện này: giảm tỷ trọng các ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp Các huyện khu vực phía Nam tăng cường phát triển các hoạt động dịch vụ - đô thị, không phát triển các hoạt động công nghiệp

Trong khi đó các hoạt động nông nghiệp tập trung chủ yếu ở phía Bắc (huyện Dầu Tiếng và Phú Giáo), làm ảnh hưởng đến sự phân bố dân cư trên địa bàn tỉnh Các huyện phía Nam do hoạt động công nghiệp, dịch vụ phát triển nên dân số, lao động tập trung đông; còn các huyện phía Bắc chủ yếu hoạt động nông nghiệp nên dân số và lao động tập trung thấp

Xu thế chuyển dịch các KCN phát triển đúng hướng với mục tiêu là:

9

39.6 51.4

Trang 39

- Từng bước chuyển dần công nghiệp ra khỏi khu vực Dĩ An, Thuận An, dành đất tại khu vực này cho phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch

- Hình thành các KCN lên phía Bắc góp phần cân bằng phát triển đô thị, tránh tình trạng tập trung quá nhiều về phía Nam

Trang 40

(Nguồn: Trung tâm ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công nghệ tỉnh BD)

Hình 2.7 Bản đồ quy hoạch các KCN, CCN đến năm 2020

Ngày đăng: 19/07/2021, 22:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Tỉnh ủy Bình Dương (2003), Lịch sử Đảng bộ Bình Dương (1930 – 1975), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Bình Dương (1930 – 1975)
Tác giả: Tỉnh ủy Bình Dương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
4. Nghị định 88-CP ngày 17/8/1994, Quản lý và sử dụng đất đô thị, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và sử dụng đất đô thị
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
5. Tỉnh Ủy Bình Dương, Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu lần thứ X. TIẾNG VIỆT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu lần thứ X
6. Nguyễn Thế Bá (2011), Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị, Nxb Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị
Tác giả: Nguyễn Thế Bá
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 2011
7. Nguyễn Công Bình (2002), Nghiên cứu lý luận và thực tiễn các giải pháp quản lý văn hóa – xã hội trong quá trình đô thị hóa ở Vĩnh Long, Vĩnh Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu lý luận và thực tiễn các giải pháp quản lý văn hóa – xã hội trong quá trình đô thị hóa ở Vĩnh Long
Tác giả: Nguyễn Công Bình
Năm: 2002
8. Phạm Trọng Côn (1999), Kinh tế học đô thị, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học đô thị
Tác giả: Phạm Trọng Côn
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1999
9. Võ Kim Cương (2004), Quản lý đô thị thời kì chuyển đổi, Nxb Xây dựng Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý đô thị thời kì chuyển đổi
Tác giả: Võ Kim Cương
Nhà XB: Nxb Xây dựng Hà Nội
Năm: 2004
10. Võ Kim Cương (2013), Chính sách đô thị - Tầm nhìn bao quát và hệ thống của nhà quản lý đô thị, Nxb Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đô thị - Tầm nhìn bao quát và hệ thống của nhà quản lý đô thị
Tác giả: Võ Kim Cương
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 2013
11. Trần Ngọc Chính (2004), Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam, Phiên họp toàn thể 2: Phát triển đô thị ở Việt Nam, tháng 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Chính
Năm: 2004
12. Lưu đức Hải (2006), Định hướng chiến lược phát triển đô thị và đô thị hóa bền vững tại Việt Nam, Diễn đàn phát triển bền vững đô thị, tháng 5/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng chiến lược phát triển đô thị và đô thị hóa bền vững tại Việt Nam
Tác giả: Lưu đức Hải
Năm: 2006
13. Trần Trọng Hanh (2008), Công tác thực hiện quy hoạch xây dựng đô thị, Nxb Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác thực hiện quy hoạch xây dựng đô thị
Tác giả: Trần Trọng Hanh
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 2008
14. Đỗ Hậu, Nguyễn Đình Bổng (2005), Quản lý đất đai và bất động sản đô thị, Nxb Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý đất đai và bất động sản đô thị
Tác giả: Đỗ Hậu, Nguyễn Đình Bổng
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 2005
15. Lê Như Hoa (1996), Lối sống trong đời sống đô thị hiện nay, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lối sống trong đời sống đô thị hiện nay
Tác giả: Lê Như Hoa
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1996
16. Lê Thư Hoa (2003), Bản sắc dân tộc trong lối sống hiện đại, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc dân tộc trong lối sống hiện đại
Tác giả: Lê Thư Hoa
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2003
17. Đào Thị Thanh Lam (2014), Nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc quản lý và sử dụng đất, Viện Nghiên cứu quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc quản lý và sử dụng đất
Tác giả: Đào Thị Thanh Lam
Năm: 2014
18. Ngô Thắng Lợi (2010), Đô thị hóa ở Hà Nội nhìn từ góc độ phát triển bền vững, Hội thảo “phát triển thủ đô Hà Nội, anh hùng, vì hòa bình” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị hóa ở Hà Nội nhìn từ góc độ phát triển bền vững", Hội thảo “phát triển thủ đô Hà Nội, anh hùng, vì hòa bình
Tác giả: Ngô Thắng Lợi
Năm: 2010
19. Lê Văn Mạnh (2011), Nghiên cứu tác động của quá trình chuyển dịch đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh giai đoạn 2006-2010, Luận văn thạc sỹ trường Đại học Nông lâm, Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác động của quá trình chuyển dịch đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh giai đoạn 2006-2010
Tác giả: Lê Văn Mạnh
Năm: 2011
22. Phùng Ngọc Phương (2011), Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả đấu giá quyền sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa, Văn phòng Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả đấu giá quyền sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa
Tác giả: Phùng Ngọc Phương
Năm: 2011
23. Đàm Trung Phường (2005), Đô thị Việt Nam, Nxb Xây dựng Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị Việt Nam
Tác giả: Đàm Trung Phường
Nhà XB: Nxb Xây dựng Hà Nội
Năm: 2005
26. Trương Quang Thao (2003), Đô thị học, Nxb Xây dựng, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị học
Tác giả: Trương Quang Thao
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w