Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: trên cơ sở nhận diện, phân tích thực trạng chất lượng hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại trường đại học Ngô Quyền để đưa ra
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SỸ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS NGUYỄN ĐỨC LỘC
BÌNH DƯƠNG – 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện Mọi nguồn thông tin tham khảo trong luận văn đều được trích dẫn nguồn gốc rõ ràng
Các số liệu và kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn chưa từng được công bố ở các nghiên cứu khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Đặng Xuân Tùng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới thầy
PGS TS Nguyễn Đức Lộc, người không chỉ tận tình chỉ bảo, hướng dẫn giúp đỡ,
động viên tôi hoàn thành luận văn này, mà còn chỉ dạy cho tôi biết phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại, tác phong làm việc chuyên nghiệp, nghiêm túc và lối sống giản dị, chan hòa với mọi người
Tôi cũng chân thành cảm ơn các thầy cô đã giảng dạy tôi trong thời gian học Cao học Quản lý Giáo dục khóa 1 tại trường ĐH Thủ Dầu Một, mỗi thầy cô đều là những tấm gương sáng về giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới thầy, cô Phòng Sau ĐH – ĐH Thủ Dầu Một, các anh chị trong lớp CH15QL01 – những người đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn
Trang 5TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu trong luận văn được xây dựng trên cơ sở lí luận về quản
lý, nội dung quản lý hoạt động dạy học và đòi hỏi thực tiễn đối với nhiệm vụ giáo dục đào tạo của trường đại học Ngô Quyền trong giai đoạn hiện nay
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: trên cơ sở nhận diện, phân tích thực trạng chất lượng hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại trường đại học Ngô Quyền để đưa ra các biện pháp quản lý hoạt động dạy học có tính khả thi cao, giúp nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Anh nói riêng, chất lượng giáo dục trong toàn trường nói chung
Phương pháp nghiên cứu: Để tiến hành thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý luận, nghiên cứu hồ sơ làm cơ sở lí luận thực hiện đề tài Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu thực tiễn thông qua quan sát, điều tra bằng bảng hỏi, kết hợp sử dụng phương pháp thống kê mô
tả, thống kê suy diễn để làm sáng tỏ thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại Nhà trường
Kết quả nghiên cứu: Công tác quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại trường đại học Ngô Quyền đã có những nét nổi bật phù hợp với yêu cầu đào tạo của Nhà trường Tuy nhiên, học viên vẫn chưa đánh giá được tầm quan trọng của việc học tiếng Anh, mục tiêu học tập chưa đúng đắn Công tác quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh còn nhiều bất cập, đặc biệt, công tác quản lý kết quả dạy học của GV và HV chưa đánh giá một cách toàn diện trình độ của HV Qua phân tích thực trạng, luận văn đưa ra biện pháp quản lý chất lượng dạy học môn tiếng Anh và khảo sát về tính cần thiết và khả thi của từng biện pháp
Tóm lại, công tác quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại trường đại học Ngô Quyền đảm bảo sát với thực tế giảng dạy tại Nhà trường Tuy nhiên để nâng cao chất lượng hoạt động dạy học môn tiếng Anh, Nhà trường cần đầu tư hơn nữa cho đào tạo, phát triển GV tiếng Anh và hiện đại hóa TBDH, nhằm phát huy tối đa mọi nguồn lực nâng cao chất lượng giáo dục dào tạo của Nhà trường
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
TÓM TẮT
MỤC LỤC
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Giả thuyết nghiên cứu 3
6 Phạm vị nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Ý nghĩa của đề tài 6
9 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHÔNG CHUYÊN NGỮ 7
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề 7
1.2 Các khái niệm cơ bản của luận văn 13
1.3 Đặc điểm dạy học tiếng Anh tại trường đại học không chuyên ngữ 17
1.4 Đặc điểm dạy học tiếng Anh trong trường đại học quân sự 22
1.5 Nội dung quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh trong trường đại học 25
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÔ QUYỀN 32
2.1 Tổng quan về trường đại học Ngô Quyền 32
2.1.1 Sơ lược khái quát về nhà trường 32
2.1.2 Bộ môn Ngoại ngữ của Nhà trường 34
Trang 72.2 Thực trạng học tiếng Anh của học viên đào tạo sĩ quan phân đội đại học tại
trường đại học Ngô Quyền 36
2.2.1 Trình độ tiếng Anh đầu vào của học viên 36
2.2.2 Thái độ và mục đích học tiếng Anh 37
2.3 Thực trạng hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền 39
2.3.1 Thực trạng thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung dạy học tiếng Anh 40
2.3.2 Thực trạng thực hiện phương pháp, hình thức dạy học 46
2.3.3 Kết quả dạy học môn tiếng Anh 54
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở trường đại học Ngô Quyền 57
2.4.1 Thực trạng quản lý hoạt động dạy tiếng Anh của giảng viên 57
2.4.2 Thực trạng quản lý hoạt động học tiếng Anh của học viên 60
2.4.3 Thực trạng quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy học tiếng Anh 67
2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền 69
2.5.1 Ưu điểm 69
2.5.2 Hạn chế 70
2.5.3 Nguyên nhân hạn chế 72
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÔ QUYỀN 75
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 75
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 75
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 75
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 76
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 76
3.2 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy môn tiếng Anh tại trường Đại học Ngô Quyền 76
Trang 83.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giảng viên, học
viên về dạy học tiếng Anh trong giai đoạn hiện nay 76
3.2.2 Biện pháp 2: Đào tạo và phát triển đội ngũ giảng viên tiếng Anh phù hợp với yêu cầu đào tạo của Nhà trường 80
3.2.3 Biện pháp 3: Đẩy mạnh quản lý hoạt động dạy tiếng Anh của giảng viên đáp ứng yêu cầu đổi mới của xã hội 81
3.2.4 Biện pháp 4: Đẩy mạnh quản lý hoạt động học tiếng Anh, nâng cao khả năng thực hành của học viên 87
3.2.5 Biện pháp 5: Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học tiếng Anh 90
3.2.6 Biện pháp 6: Đảm bảo tốt các điều kiện phục vụ cho dạy học tiếng Anh 92
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp được đề xuất 94
3.4 Khảo sát tính khả thi và tính cần thiết của các biện pháp 95
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
1 Kết luận 99
2 Kiến nghị 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC 1 106
PHỤ LỤC 2 109
PHỤ LỤC 3 112
PHỤ LỤC 4 113
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Đội ngũ giảng viên Bộ môn Ngoại ngữ 34
Bảng 2.2: Mục đích học tiếng Anh của HV chia theo mức độ cần thiết 38
Bảng 2.3: Các học phần chương trình tiếng Anh tổng quát 40
Bảng 2.4: Ý kiến đánh giá của HV về chương trình và giáo trình TATQ 41
Bảng 2.5: Ý kiến của HV về thời gian bố trí học phần TACN phân chia theo nội dung kiến thức 44
Bảng 2.6: Ý kiến HV về phương pháp tự học phân chia theo thời gian học 49
Bảng 2.7: Kết quả môn tiếng Anh của học viên 54
Bảng 2.8: Kết quả môn học phân theo chuyên ngành 56
Bảng 2.9: Kết quả môn học phân theo trình độ đầu vào 57
Bảng 2.10: Hình thức kiểm tra phân theo mức độ nội dung 65
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Trình độ tiếng Anh đầu vào của học viên 37
Biểu đồ 2.2: Ý kiến đánh giá của học viên về giáo trình TACN 46
Biểu đồ 2.3: Khó khăn của học viên khi tự học 51
Biểu đồ 2.4: Khó khăn của HV khi học trên lớp 52
Biểu đồ 2.5: Ý kiến của học viên về việc phân chia lớp học 53
Biểu đồ 2.6: Ý kiến của HV về thông tin GV cung cấp trước khi dạy 62
Biểu đồ 2.7: Ý kiến của HV về nội dung GV kiểm tra bài cũ 63
Biểu đồ 2.8: Thông tin GV cung cấp cho HV trước khi kiểm tra, đánh giá 66
Biểu đồ 2.9: Tình hình phát triển đội ngũ giảng viên tiếng Anh 67
Biểu đồ 3.1 Khảo sát về tính cần thiết của các biện pháp đề xuất 95
Biểu đồ 3.2 Khảo sát về tính khả thi của các biện pháp đề xuất 96
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trước những biến đổi, xu thế phát triển hiện nay, không chỉ có Việt Nam mà rất nhiều nước trên thế giới đã thực hiện việc đổi mới nội dung, chương trình, PPDH để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh
tế, xã hội của đất nước Trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực thì đào tạo ngoại ngữ được coi là vấn đề quan trọng nhằm tạo ra lực lượng lao động có trình
độ chuyên môn, có kỹ năng lao động, kiến thức ngoại ngữ và thái độ nghề nghiệp phù hợp yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, đáp ứng sự biến đổi cơ cấu lao động, nhu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động, hội nhập quốc tế Nghị quyết Đại hội lần thứ
XI của Đảng nhấn mạnh: “Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học Mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ” [11, tr.131 -132]
Quân đội cũng không nằm ngoài xu thế hội nhập quốc tế Vì vậy, việc nâng cao trình độ ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng cho HV đào tạo sĩ quan trong các Nhà trường trong quân đội là điều vô cùng quan trọng, trang bị công cụ hội nhập cần thiết cho đội ngũ sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam tương lai Thực hiện Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 4/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đào tạo, Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong Quân đội giai đoạn 2011-2020, Quyết định số 1400/QĐ-TTg ngày 30/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Dạy
và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020 và Đề án
“Đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ trong quân đội giai đoạn 2015-2020 và những năm tiếp theo” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 547/QĐ-TTg ngày 25/4/2015 Công tác dạy và học Ngoại ngữ của các Nhà trường Quân đội đã
có nhiều cố gắng, đạt được kết quả nhất định, HV đã nắm được những kiến thức
cơ bản về ngoại ngữ, làm cơ sở để phục vụ công tác chuyên môn sau khi tốt nghiệp
ra trường Tuy vậy đứng trước yêu cầu hiện đại hóa Quân đội, tăng cường hợp tác
và tham gia thực hiện nhiệm vụ quốc tế, “coi hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng là một định hướng chiến lược, và phải nhận thức đây là kế sách bảo vệ Tổ
Trang 12quốc từ xa” Theo Trung tướng, GS.TS Trần Hữu Phúc, Cục trưởng Cục Nhà trường, công tác dạy và học ngoại ngữ vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập Trong đó, chất lượng dạy và học ngoại ngữ chưa đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ của Quân đội trong tình hình mới; chương trình, tài liệu dạy và học chưa gắn với chuyên môn, chuyên ngành; người học chưa nhận thức đúng vai trò quan trọng của ngoại ngữ; đội ngũ GV còn thiếu, chưa đổi mới phương pháp dạy và học; công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các trường chưa quyết liệt [3]
Trường ĐH Ngô Quyền là một ngôi trường với lịch sử hơn 60 năm, có nhiệm
vụ chính là đào tạo Sĩ quan chuyên ngành Chỉ huy Công binh cho Quân đội nhân dân Việt Nam Tiếng Anh là Ngoại ngữ duy nhất đang được giảng dạy trong trường theo khung chương trình của Bộ GD&ĐT cho đối tượng SV ĐH không chuyên ngữ Là một môn học cơ bản và bắt buộc, tuy nhiên, trong QL và thực hiện nhiệm
vụ dạy học môn tiếng Anh, một số GV và HV chưa nhận thức đầy đủ vai trò, tầm quan trọng của môn ngoại ngữ đối với hoạt động nghề nghiệp sau này của HV, dẫn đến trong dạy học ngoại ngữ, chưa tích cực bổ sung, cập nhật kiến thức để nâng cao chất lượng dạy học, làm cho sản phẩm đào tạo có mặt còn yếu, chưa được xã hội đánh giá cao CTQL dạy học môn tiếng Anh của cơ quan chức năng và một số CBQL chưa thật chặt chẽ và khoa học, xác định nội dung chương trình, mục tiêu đào tạo của cả môn học và cụ thể của từng học phần chưa rõ ràng; QL quá trình giảng dạy, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HV có nội dung còn đơn giản Một trong những nguyên nhân cơ bản của hiện tượng trên là Nhà trường chưa
có biện pháp hữu hiệu trong việc QL HĐDH môn tiếng Anh Về mặt lý luận, hiện tại chưa có đề tài nghiên cứu khoa học nào về công tác quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại trường đại học Ngô Quyền
Từ đó, tôi chọn: “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại trường đại học Ngô Quyền” làm đề tài cho luận văn của mình
Trang 13nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục đào tạo tại trường đại học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp QL HĐDH môn tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về dạy học tiếng Anh, QL HĐDH môn tiếng Anh cho SV ở các trường ĐH không chuyên ngữ
Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng dạy học môn tiếng Anh và QL HĐDH môn tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền
Đề xuất biện pháp QL HĐDH môn tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền
5 Giả thuyết nghiên cứu
QL HĐDH môn tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng vẫn còn tồn tại một số bất cập trong CTQL HĐD của GV, HĐH của HV và QL các điều kiện đảm bảo cho QTDH Nếu trong quá trình QL HĐDH môn tiếng Anh, Khoa KHCB, BMNN và các cơ quan chức năng làm tốt công tác giáo dục nhận thức cho cán bộ, HV về tầm quan trọng của việc dạy và học tiếng Anh trong thời đại mới; QL tốt việc thực hiện mục tiêu, nội dung CTMH, sát với thực tế và các chuyên ngành đào tạo; phát huy sức mạnh tổng hợp của các
tổ chức trong Nhà trường, tạo phong trào học tập tiếng Anh sâu rộng; phát huy vai trò tích cực, chủ động của HV; đảm bảo tốt các điều kiện về vật chất và tinh thần cho QTDH tiếng Anh tại Nhà trường; thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả dạy
và học môn tiếng Anh sát với mục tiêu, nội dung CTMH đã xây dựng thì kết quả dạy học môn tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền sẽ được nâng lên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của Nhà trường
6 Phạm vị nghiên cứu
6.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu
Đề tài giới hạn trong nghiên cứu QL HĐDH môn tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền của trưởng BMNN, khoa KHCB phòng Đào tạo, ban KT & BĐCLGD,
Trang 14ban KHQS trên cơ sở thực hiện các nội dung quản lý: QL HĐD của GV, QL HĐH của HV, và QL các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy học môn tiếng Anh trong Nhà trường
6.2 Phạm vi thời gian nghiên cứu
Đề tài khảo sát thực trạng công tác QL HĐDH môn tiếng Anh từ thời điểm Nhà trường bắt đầu đổi mới giáo trình giảng dạy các học phần tiếng Anh (từ năm
2014 tới nay)
6.3 Phạm vi đối tượng khảo sát
Đề tài nghiên cứu tập trung khảo sát các đối tượng sau: Trưởng phòng và các phó trưởng phòng Đào tạo, Trưởng Ban KT&BĐCLGD, các thành viên Hội đồng Khoa học Khoa KHCB, Giảng viên BMNN, CBQL HV, HV sĩ quan phân đội bậc
ĐH trường ĐH Ngô Quyền
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Tác giả sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích, phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài tài liệu lý luận, văn bản, Chỉ thị Nghị quyết của Đảng và Nhà nước, các tư tưởng của các tác giả trong các luận văn thạc sĩ về quản lý giáo dục, các bài báo khoa học có liên quan tới CTQL HĐDH nói chung, dạy học môn tiếng Anh nói riêng để xây dựng cơ sở lý luận cho luận văn
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp nghiên cứu hồ sơ quản lý: Tác giả thu thập các văn bản kế
hoạch có liên quan tới CTQL HĐDH môn tiếng Anh, các văn bản chỉ đạo, kiểm tra, báo cáo sơ, tổng kết, biên bản rút kinh nghiệm chuyên môn của BMNN, Ban KT&KĐCL, Hội đồng Khoa học Khoa KHCB làm cở sở làm rõ thực trạng HĐDH
và CTQL HĐDH môn tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Tác giả tiến hành thu thập thông tin
bằng phiếu hỏi đối với đối tượng là HV đào tạo sĩ quan phân đội trình độ ĐH nhằm tăng tính đầy đủ và khách quan của luận văn Tác giả đã tiến hành khảo sát 170 phiếu định lượng, qua phân tích sàng lọc một số phiếu trả lời không đẩy đủ và không đúng với nội dung câu hỏi còn lại 165 phiếu Với tiêu chí là đối tượng đào
Trang 15tạo bậc ĐH mang tính chất đặc trưng của Nhà trường, đã học xong toàn bộ chương trình tiếng Anh đổi mới (từ năm 2014), tác giả đã tiến hành khảo sát toàn bộ HV khóa 22 đào tạo sĩ quan bậc ĐH của trường ĐH Ngô Quyền ở 4 chuyên ngành: Công trình, Vượt Sông, Xe- Máy và Cầu đường Qua khảo sát tác giả muốn làm
rõ hơn về việc học tiếng Anh của HV thông qua tìm hiểu về đánh giá của HV với chương trình học, ý thức, thái độ và mục đích của HV với môn học, tìm hiểu về những khó khăn của HV khi học tập trên lớp cũng như tự học ở nhà, qua đó tìm hiểu mong muốn của HV khi học môn tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Để thu thập thông tin từ những đối tượng
nghiên cứu, tác giả đã tiến hành các cuộc phỏng vấn có chủ đích Tác giả tiến hành phỏng vấn đối tượng là GV tiếng Anh đang giảng dạy tại BMNN, trường ĐH Ngô Quyền để tìm hiểu về thực trạng việc thực hiện chương trình giảng dạy, phương pháp và hình thức giảng dạy, những khó khăn trong việc giảng dạy, đổi mới PPDH,
và đánh giá kết quả học tập của HV, qua đó cũng tìm hiểu ý kiến của GV về CTQL HĐDH tại Nhà trường trên cương vị là người thực hiện nhiệm vụ và quan sát Tác giả cũng tiến hành các chủ thể QL là trưởng BMNN, trưởng khoa KHCB, trưởng phòng Đào tạo, Ban KHQS, ban KT&BĐCLGD, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 4 để tìm hiểu về thực trạng QL chương trình, nề nếp dạy học, công tác kiểm tra đánh giá, phát triển đội ngũ GV tiếng Anh và các điều kiện bảo đảm cho việc dạy và học môn tiếng Anh tại nhà trường Ngoài ra, trong quá trình điều tra thực trạng tác giả cũng kết hợp phương pháp nghiên cứu quan sát thông qua HHGD trên lớp, trò chuyện phỏng vấn HV để làm rõ hơn một số vấn đề trong phiếu khảo sát
7.3 Phương pháp xử lý dữ liệu thu thập
- Đối với dữ liệu định lượng: Tác giả sử dụng các phương pháp thống kê mô
tả đối với mẫu khảo sát với sự hỗ trợ của phần mềm Microssoft Word và Excel, thực hiện các phép kiểm định Chi – Square với phần mềm SPSS để kiểm định mối liên hệ giữa đặc điểm nhân khẩu mẫu khảo sát và kết quả dạy học môn tiếng Anh
- Đối với dữ liệu định tính: Các cuộc phỏng vấn được ghi chép, phân tích, trích lọc theo các nhóm chủ đề, kết hợp với dữ liệu định lượng để làm sáng tỏ thực trạng nghiên cứu
Trang 168 Ý nghĩa của đề tài
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại các trường đại học không chuyên ngữ
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở trường đại học Ngô Quyền
Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh tại trường đại học Ngô Quyền
Trang 17CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHÔNG CHUYÊN NGỮ 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục, đào tạo và quản lý dạy học nói chung
Bàn về vấn đề quản lý giáo dục đào tạo ở các cơ sở giáo dục nói chung, ở các trường đại học, cao đẳng nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, với những cách tiếp cận vấn đề khác nhau Các nghiên cứu về quản lý không chỉ đề cập đến quản lý nội dung chương trình, quản lý phương pháp giảng dạy, mà còn phải chú trọng đến nhiều yếu tố khác, vì chúng có mối liên hệ tương
hỗ với nhau
Tác giả Ngô Quý Ty và Lê Văn Chung (theo [42], tr.18) nghiên cứu đề tài:
“Một số vấn đề chung về quản lý giáo dục, đào tạo trong quân đội” và đề tài: “Nâng cao chất lượng quản lý giáo dục - đào tạo trong các học viện, trường sĩ quan quân đội đáp ứng yêu cầu mới” của tác giả Vũ Quang Lộc (2005) (chủ nhiệm đề tài) [19] Nội dung của các đề tài nghiên cứu đã tập trung khái quát, làm rõ vị trí, vai trò, bản chất, chức năng, nguyên tắc, phương pháp và công cụ quản lý giáo dục, đào tạo và quản lý trường học Đồng thời tập trung luận giải những vấn đề về quản lý học viên và hệ thống các biện pháp quản lý hoạt động học tập của học viên ở một
số học viện, nhà trường trong quân đội và đề ra các giải pháp trong đánh giá hoạt động học tập của học viên Đây là những nội dung có giá trị giúp tác giả tiếp cận cách thức quản lý giáo dục, đào tạo, quản lý hoạt động học tập của học viên đang được đào tạo ở nhà trường quân đội
Tác giả Nguyễn Văn Tuấn (2013) [42] lại đề cập tới việc quản lý các hoạt động học tập của học viên quân đội nói chung với đề tài “Quản lý hoạt động học
tập của học viên Trường Trung cấp 24 Biên phòng hiện nay” Trong đề tài tác giả
đã đưa ra một số yếu tố ảnh hưởng tới việc học tập của học viên quân sự tại trường trung cấp Biên phòng 24 và đưa ra những biện pháp trong quản lý hoạt động học tập tại trường Những yếu tố này phần nào có đặc điểm tương đồng với những khó khăn của học viên tại trường đại học Ngô Quyền, là cơ sở để tác giả tham khảo
Trang 18trong việc đưa ra biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại trường đại học Ngô Quyền
Tuy nhiên, các đề tài luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu quản lý quá trình giảng dạy, hoạt động giảng dạy nói chung và ở các trường đại học, cao đẳng
cụ thể, chưa có tác giả nào nghiên cứu, xem xét, giải quyết vấn đề về quản lý dạy học tiếng Anh cho học viên quân sự tại trường đại học ngô Quyền
Cùng với các đề tài, luận văn thạc sĩ, còn nhiều bài báo khoa học viết về dạy học, quản lý dạy học, đổi mới phương pháp học tập cũng như vai trò của các
tổ chức, lực lượng trong quản lý hoạt động học tập của học viên ở nhà trường quân đội như: tác giả Nguyễn Ngọc Phú (1990), với bài báo “Dân chủ hóa dạy và học các môn khoa học xã hội và nhân văn trong các nhà trường quân sự” [31], đã đề xuất biện pháp, đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy của giảng viên và học tập của học viên, cũng như quản lý dạy học, phát huy vai trò các
tổ chức, lực lượng trong việc quản lý chất lượng học tập của sinh viên ở nhà trường quân đội
Các tác giả Karen Seashore Louis, Kenneth Leithwood, Kyla L Wahlstrom
và Stephen E Anderson [46], với nghiên cứu “Learning from Leadership: Investigating the Links to Improved Student Learning” đã đưa ra một cái nhìn mới
mẻ về việc lãnh đạo và quản lý dạy học trong trường học, đó chính là sự hợp tác của tất cả các bộ phận trong nhà trường, tạo mối liên kết chặt chẽ giữa người quản
lý, giảng viên và người học trong tất cả các khâu của của việc tổ chức dạy học Phân quyền và chuyên môn hóa cao giữa các lực lượng trong nhà trường nhưng đều có quyền tham gia vào mọi hoạt động quản lý Quan điểm trong báo cáo của các tác giả trên giúp tác giả luận văn có một các nhìn mới trong việc định hướng các biện pháp quản lý hoạt động dạy học tại trường đại học Ngô Quyền
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về dạy và học ngoại ngữ và quản lý dạy học ngoại ngữ
Đối với vấn đề về dạy học ngoại ngữ, quản lý dạy học ngoại ngữ, tác giả Catherine Cheehy Skeffington, trong bài viết “Giúp học sinh sử dụng tiếng Anh
Trang 19trong lớp học”1 đã nêu ra vì sao học sinh gặp khó khăn khi nói tiếng Anh trong lớp
và đưa ra một số gợi ý để vượt qua khó khăn đó Theo người viết, những khó khăn
mà người học gặp phải là khả năng ghi nhớ một cách lâu dài, việc sử dụng từ ngữ chính xác, không biết cách dùng từ và sự hạn chế về từ vựng làm cho người học không tự tin khi nói Thêm vào đó, người học chịu áp lực về việc không theo kịp bạn bè, thiếu động lực học tập và không có đủ sự hỗ trợ cần thiết Tác giả đã đưa
ra một số phương pháp kích thích khả năng nói trong lớp của người học, chẳng hạn như, cần tạo cho người học một mục tiêu học tập rõ ràng, có những biện pháp giúp người học tự tin vào khả năng của mình khi nói và đặt ra cho người học những mục tiêu cụ thể trong học tập [45]
Tác giả Dương Thị Hoàng Oanh (2011) với đề tài “Kiểm tra đánh giá kĩ năng nói tiếng Anh cấp đại học” [27] đã nhấn mạnh vào mục đích của việc dạy học tiếng Anh chính là các kĩ năng sản xuất đầu ra (Nói và Viết), trong đó nhấn mạnh kĩ năng nói, giao tiếp Tác giả đã đưa ra thực trạng trình độ kĩ năng nói tiếng Anh của sinh viên Việt Nam nói chung và chỉ ra một số nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do thói quen học của từng cá nhân và trọng tâm giảng dạy của nền giáo dục nước ta Tác giả đã đưa ra giải pháp để cải thiện kĩ năng nói tiếng Anh là đưa KTĐG bằng hình thức nói vào chương trình dạy ngay từ đầu theo chuẩn và kiểm tra một cách có hệ thống và đúng tiêu chuẩn theo yêu cầu quốc tế
Bên cạnh đó, vấn đề quản lý hoạt động dạy học ở các học viện, trường đại học, cao đẳng, đã có nhiều đề tài, luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục nghiên cứu, như: Nguyễn Đức Thạch (2012), với đề tài nghiên cứu “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh tại trường trung cấp Cảnh sát nhân dân 1” [34] đã tập trung luận giải, làm rõ tầm quan trọng của quản lý giáo dục, đào tạo, quản lý hoạt động dạy của giảng viên, hoạt động học của sinh viên theo cách tiếp cận của từng chuyên ngành Qua đó đề cập một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại trường trung cấp Cảnh sát nhân dân 1
Tác giả Đỗ Thị Bích Thuận (2013) [39] với đề tài thạc sĩ quản lý giáo dục
1 Nguyên văn tiếng Anh: Getting teenagers talking
Trang 20“Biện pháp quản lý chất lượng hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại trường Cao đẳng Thương mại Đà Nẵng” đã nhẫn mạnh vào quản lý chất lượng của công tác quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh theo các nội dung quản lý như quản lý chất lượng dạy, quản lý chất lượng học và các điều kiện bảo đảm Luận văn đã đưa
ra một cách nhìn mới trong công tác quản lý chất lượng dạy học khi không nhấn mạnh vào các quy trình thuộc các mô hình quản lý mà nhìn nhận theo vai trò của người quản lý thực hiện các chức năng quản lý
Tóm lại, các công trình nghiên cứu tuy khác nhau về đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu, song các tác giả đã tập trung phân tích, làm rõ vị trí, vai trò tầm quan trọng của hoạt động dạy và hoạt động học tập, nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học, đánh giá thực trạng dạy học, quản lý dạy học; đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học của giảng viên và sinh viên trong quá trình đào tạo ở nhà trường; trong đó quản lý dạy học được đề cập đến như là một giải pháp, một khâu quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng nói chung, các nhà trường trong quân đội nói riêng Kết quả nghiên cứu của các đề tài, công trình trên là cơ sở trực tiếp để tác giả kế thừa và phát triển vấn đề nghiên cứu quản lý dạy học ngoại ngữ cho học viên dưới góc độ của khoa học quản lý giáo dục
Cùng với các đề tài, luận văn, còn có các bài báo khoa học viết về dạy học ngoại ngữ, quản lý dạy học ngoại ngữ như:
Tác giả Lê Văn Canh (1998) [9], trong bài viết “Lựa chọn phương pháp giảng dạy ngoại ngữ theo hướng nào?” đã chỉ rõ người dạy giữ vai trò trung tâm trong quá trình tìm kiếm những chiến lược dạy hiệu quả,… người dạy vừa là người nghiên cứu, người đưa ra các giả thuyết, tái hiện có phê phán các giả thuyết đó trong quá trình giảng dạy thông qua quá trình quan sát và tìm hiểu lớp học Thay
vì đi tìm một phương pháp tối ưu trong giảng dạy, người dạy cần quan tâm hơn đến người học và môi trường dạy và học để xây dựng cho mình một phương pháp dạy ngày càng trở nên thích hợp giúp cho hoạt động dạy trở nên có hiệu quả hơn Tác giả Trịnh Văn Minh (2005) [22], với bài báo: “Dạy - học ngoại ngữ trong
cơ chế thị trường”, nhấn mạnh vào vai trò của việc học ngoại ngữ trong thời đại
Trang 21ngày nay Tác giả khẳng định ngoại ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp, mà còn là phương tiện nâng cao dân trí, mở rộng vốn văn hóa chung, điều kiện cần cho giao lưu và hội nhập quốc tế Chính vì vậy việc học ngoại ngữ là vô cùng quan trọng, đặc biệt là học tiếng Anh, ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong các hoạt động giao dịch quốc tế Muốn có một lực lượng lao động sẵn sàng tham gia tích cực vào mọi hoạt động giao lưu kinh thế trong cơ chế thị trường, việc giảng dạy tiếng Anh nói riêng và ngoại ngự nói chung trong các trường đại học là việc làm cấp thiết
Bài viết “Dạy ngoại ngữ không chuyên ở bậc đại học” của ThS Lê Văn Ân, Trường CĐSP Quảng Trị, đăng trên Tạp chí Giáo dục số 133 (kỳ 1- 3/2006) [1] đã nêu lên sự ảnh hưởng của trình độ tiếng Anh đầu và kết quả học tập môn tiếng Anh của sinh viên Tác giả cho rằng những bất cập về phương pháp dạy ngoại ngữ, thái
độ học tập của sinh viên, trình độ ngoại ngữ chênh lệch của học sinh từ các cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông là những nguyên nhân dẫn đến khả năng sử dụng tiếng Anh để giao tiếp của sinh viên còn kém
Tác giả Hồ Minh Thu (2012) [37] , báo cáo khoa học “Làm thế nào để cải thiện kĩ năng nói tiếng Anh cho sinh viên” Theo thống kê của Hồ Minh Thu (Trường ĐH Ngoại ngữ - ĐH Đà Nẵng) thì hai trường ĐH Bách khoa và ĐH Kinh
tế là nơi có số lượng sinh viên học tiếng Anh đông nhất so với các trường thành viên khác của ĐH Đà Nẵng Hai trường này có khoảng 70% sinh viên đã được học tiếng Anh 7 năm trở lên, 26% sinh viên đã học tiếng Anh hệ 3 năm; chỉ có khoảng 4% sinh viên chưa biết tiếng Anh Trong số những sinh viên đã biết tiếng Anh thì
số sinh viên đã có chứng chỉ tiếng Anh ở các trình độ A, B, C, đạt 30 - 40% Tuy nhiên, các cuộc khảo sát tiếng Anh đầu năm đối với sinh viên hai trường ĐH Bách khoa và ĐH Kinh tế hai năm trở lại đây cho thấy một thực trạng là lượng kiến thức sinh viên tích lũy được không tương xứng với thời lượng tiếng Anh mà sinh viên
đã được học ở phổ thông hay ở các trung tâm ngoại ngữ Lỗ hổng kiến thức của sinh viên là tương đối lớn (ngoại trừ một số ít sinh viên khoảng 32% có kiến thức tiếng Anh vững vàng), các kỹ năng ngôn ngữ của sinh viên còn rất hạn chế, đặc biệt là các kỹ năng nghe và nói: khả năng nghe và để nắm bắt thông tin của phần
Trang 22lớn sinh viên là dưới mức trung bình; nhiều sinh viên thậm chí không hiểu được
cả những khẩu lệnh đơn giản và thông thường của giáo viên, đại bộ phận sinh viên (67%) không có thói quen hoặc không thể giao tiếp với nhau bằng tiếng Anh Đồng thời cũng nêu lên thực trạng của sinh viên tại trường theo động cơ, thái độ và chiến lược học tập của sinh viên, qua đó đưa ra một số kiến nghị với sinh viên, giáo viên
và nhà trường để nâng cao khả năng nói tiếng Anh cho sinh viên
Nghiên cứu trên đối tượng là sinh viên không chuyên ngữ ngành kinh tế, nhưng những thống kê ở trên cho thấy phần nào đặc điểm của sinh viên không chuyên ngữ nói chung, học viên ĐH Ngô Quyền nói riêng
Tác giả Nguyễn Thị Hồng (2014) [47], trường ĐH Giáo dục, ĐH RMIT, Melbourne, Australia có bài viết “ Những yếu tố ảnh hưởng tới việc dạy học tiếng Anh cho sinh viên” với mục đích tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả của việc dạy và học tiếng Anh của sinh viên không chuyên ngữ tại Việt Nam thông qua các hoạt động thực hành trên lớp học Nghiên cứ được tiến hành khảo sát tại
ĐH Công nghệ HUTEC, Hồ Chí Minh “Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra một số yếu
tố ảnh hưởng tới chất lượng dạy học tiếng Anh như: phong cách dạy không lôi cuốn, không đủ thời gian cho các hoạt động thực hành, phương pháp dạy thiên về ngữ pháp, quản lý thời gian không hợp lý, hướng dẫn không rõ ràng; lớp học đông, khả năng tổ chức lớp học của GV còn hạn chế; trình độ sinh viên không đồng đều, việc chuẩn bị bải chưa chu đáo; khả năng sử dụng học cụ và công nghệ dạy hoc của GV còn hạn chế; và SV không tự tin trong các hoạt động nói trên lớp.”2
Qua tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề, các nghiên cứu được các tác giả đầu tư nghiêm túc, công phu, nghiên cứu về kỹ năng sử dụng tiếng Anh của người học; Từ đó, phân tích và đưa ra một số giải pháp, phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy và học tiếng Anh hiện nay Tuy nhiên, nội
2 Nguyên văn tiếng Anh: Factors Affecting English Language Teaching and Learning in Higher Education:
“…The study’s findings show that many factors hinder the quality of English teaching and learning: uninteresting teaching style; insufficient time for communicative activities; grammar-driven teaching; unreasonable time-management; unclear instructions; large class sizes; teachers’ limited ability in classroom organization; unequal students’ English levels; inadequate lesson preparation; teachers’ limited use of teaching aids and technology; and students’ lack of confidence in using oral English in class activities.”
Trang 23dung về QL HĐDH môn tiếng Anh chưa được thống nhất giữa các tác giả Bên cạnh đó, thực tế dạy và học ở mỗi trường đều khác nhau như môi trường giảng dạy, trình độ người dạy, trình độ người học, giáo trình giảng dạy và CSVC nên biện pháp QL cụ thể cũng khác nhau Hiện nay, chưa có đề tài, bài viết nào đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền
1.2 Các khái niệm cơ bản của luận văn
1.2.1 Dạy học và dạy học tiếng Anh
1.2.1.1 Dạy học
Dạy học là quá trình tập hợp những hành động liên tiếp, thâm nhập vào nhau của người dạy và người học dưới sự hướng dẫn của người dạy làm cho người học nắm vững hệ thống tri thức khoa học, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, hình thành thế giới quan và nhân sinh quan đúng đắn [14, tr 31]
Quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của hai yếu tố cơ bản trong quá trình dạy học – hoạt động dạy và hoạt động học [29, tr 134]
Hoạt động dạy: Là tổ chức, điều khiển tối ưu quá trình học sinh lĩnh hội kiến
thức, hoàn thiện và phát triển nhân cách học sinh Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy được biểu hiện ra với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển sự học tập của học sinh giúp cho họ nắm được kiến thức, hình thành kỹ năng, thái độ Hoạt động dạy tuân theo chương trình quy định
Hoạt động học: Là quá trình tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh khái niệm
khoa học, bằng cách đó hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách toàn diện Nội dung của HĐH bao gồm toàn bộ hệ thống khái niệm của các môn học, bằng phương pháp đặc trưng của môn học, của khoa học đó đối với phương pháp nhận thức, phương pháp chiếm lĩnh khoa học để biến kiến thức của nhân loại thành học vấn của chính bản thân
Dạy và học là hai hoạt động tác động và phối hợp với nhau, nếu thiếu một trong hai hoạt động thì quá trình dạy học không diễn ra Chẳng hạn nếu thiếu HĐD của giáo viên thì quá trình chuyển thành quá trình tự học của người học, Còn thiếu HĐH của người học thì hoạt động dạy không diễn ra, do đó không diễn ra quá trình dạy học Quá trình dạy và học liên hệ mật thiết với nhau, diễn ra đồng thời và phối
Trang 24hợp chặt chẽ tạo nên sự cộng hưởng của hoạt động dạy và hoạt động học, từ đó sẽ tạo nên hiệu quả cho quá trình dạy học [29, tr 135]
QTDH là một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người
GV, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức – học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học [29, tr 139] Giáo trình Giáo dục học quân sự: “DH là một bộ phận của quá trình sư phạm quân sự tổng thể, là sự phối hợp thống nhất giữa hoạt động của người dạy và hoạt động của người học nhằm trang bị kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng, phát triển khả năng sáng tạo, phát triển các phẩm chất nhân cách cần thiết cho quân nhân” [36, tr 9]
Từ những quan niệm về dạy học được trình bày ở trên, tác giá cho rằng: “Dạy
học là một bộ phận của quá trình sư phạm, là sự phối hợp thống nhất giữa hoạt động của người dạy và hoạt động của người học nhằm truyền thụ và lĩnh hội những tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát triển khả năng tư duy sáng tạo, giáo dục những phẩm chất nhân cách cần thiết cho người học”
1.2.1.2 Dạy học tiếng Anh
Ngoại ngữ, theo cách hiểu thông thường là tiếng nước ngoài Hiện nay, Việt Nam, không có khái niệm ngôn ngữ thứ hai như ở các nước Pháp, Đức, Anh Ở Việt Nam, ngoại ngữ chủ yếu được dạy ở các cấp học, bậc học chủ yếu là tiếng Anh, Trung Quốc, tiếng Pháp, tiếng Nhật, tiếng Hàn Quốc, tiếng Tây Ban Nha
Theo ý 3, điều 7 Luật Giáo dục năm 2005 (sửa đổi bổ sung 2009), quy định ngôn ngữ dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác; dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số; dạy ngoại ngữ, như sau: “Ngoại ngữ quy định trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong giao dịch quốc tế Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong nhà trường cũng như các cơ sở giáo dục khác cần bảo đảm để người học được học liên tục và có hiệu quả” [33, tr.36]
Từ những cách tiếp cận về hoạt động dạy học và ngoại ngữ ngoại ngữ, tác
giả cho rằng: “Hoạt động dạy học môn tiếng Anh là quá trình tác động qua lại
giữa giảng viên tiếng Anh và người học nhằm truyền thụ và lĩnh hội kiến thức môn tiếng Anh, hình thành kỹ năng, kỹ xảo về ngoại ngữ chuyên môn, để thực hiện nhiệm vụ tại trường và sau khi tốt nghiệp ra trường”
Trang 251.2.2 Quản lý và quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh
1.2.2.1 Quản lý
Trong bộ Tư bản K Marx đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất Một người chơi vĩ cầm thì
tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [21, tr.3] Marry Parker Follet đưa ra định nghĩa khá nổi tiếng về quản lý được trích dẫn khá nhiều là “nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác” Một định nghĩa khác được chấp nhận rộng rãi là “ Quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và sử dụng mọi nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt được những mục tiêu của
tổ chức (Stoner, 1995) [18,tr 12]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng tối ưu các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra” [10, tr 21]
Như vậy, Quản lý chính là quá trình tác động của chủ thể quản lý vào các đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu của tổ chức bằng cách tận dụng mọi nguồn lực
và vận dụng các chức năng lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, và kiểm tra
Người quản lý thực hiện rất nhiều hoạt động Những hoạt động này có thể khác nhau tùy theo tổ chức, hay theo cấp bậc của người quản lý Tuy nhiên, có một
số nhiệm vụ cơ bản, phổ biến cho mọi nhà quản lý ở tất cả các tổ chức Người ta gọi những nhiệm vụ chung nhất này là chức năng quản lý Tuy theo cách phân chia
mà ta có thể có số lượng các chức năng khác nhau Cho tới nay, nhiều chuyên gia quản lý nhất trí cho rằng có bốn chức năng quản lý cơ bản: Lập kế hoạch là việc
ra các quyết định, tổ chức (bố trí về nhân sự), lãnh đạo/ điều phối (chỉ đạo) (chức năng thúc đẩy và động viên), kiểm tra [18, tr 17-18]
1.2.2.2 Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh
Từ những khái niệm về “dạy học” và “quản lý” Tác giả cho rằng, quản lý hoạt động dạy học là công việc rất phức tạp liên quan đến nhiều vấn đề và yếu tố như: mục tiêu, nội dung dạy học, giảng viên, sinh viên, phương pháp, phương tiện
Trang 26dạy học, hình thức tổ chức dạy học, kết quả dạy học Chính vì vậy, muốn quản lý dạy học ngoại ngữ tốt phải tiếp cận trên quan điểm hệ thống trong mối quan hệ giữa các yếu tố kể trên
Quản lý hoạt động dạy học được hiểu là quá trình thiết kế mục tiêu, nội dung, lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức, xây dựng các tiêu chuẩn và duy trì các
cơ chế đảm bảo cho hoạt động dạy học để đạt được kết quả theo mục tiêu dự kiến Như vậy, Quản lý dạy học ngoại ngữ là một loại hình quản lý trong đó chủ thể đề ra những chủ trương, biện pháp kế hoạch phải thực hiện, lựa chọn nhân sự, thời gian, huy động và sử dụng nhân lực, vật lực và tài lực (nguồn nhân lực giáo dục của nhà trường), để tổ chức và điều hành bộ máy hoạt động có hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra
Quản lý dạy học ngoại ngữ hướng vào thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường là đào tạo ngoại ngữ có chất lượng cao Vì vậy, quản lý hoạt động dạy của giảng viên, hoạt động học tập của sinh viên, diễn ra suốt trong quá trình dạy học
Do đó, quản lý dạy học ngoại ngữ về thực chất là những tác động của chủ thể quản
lý vào quá trình dạy học (được tiến hành bởi tập thể giảng viên) nhằm hình thành, phát triển toàn diện năng lực chuyên môn và nhân cách cho sinh viên theo mục tiêu đào tạo của nhà trường đã xác định
Từ những quan niệm trên, tác giả cho rằng: Quản lý dạy học môn tiếng Anh
là quá trình tổ chức thực hiện có hệ thống các giải pháp của chủ thể quản lý đối với toàn bộ quá trình giảng dạy tiếng Anh của giảng viên và học tiếng Anh của học viên, nhằm nâng cao hiệu quả dạy học ngoại ngữ, đáp ứng mục tiêu đào tạo
đã đề ra
1.2.3 Biện pháp và biện pháp quản lý
Theo từ điển Tiếng Việt, biện pháp là các hành động lựa chọn sao cho phù hợp với mục đích Biện pháp tích cực là phòng bệnh, bất đắc dĩ mới chữa bệnh; Hành động có cơ sở pháp lý hay dựa trên một quyền lực
Biện pháp QL là cách giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó của chủ thể QL Trong QL giáo dục, biện pháp QL là tổ hợp các cách thức tiến hành của chủ thể
QL nhằm tác động đến đối tượng QL để giải quyết những vấn đề trong CTQL, làm
Trang 27cho hệ QL vận hành đạt mục tiêu đề ra và phù hợp với quy luật khách quan Trong nhà trường, biện pháp quản lý dạy học là những cách thức tổ chức, điều hành, kiểm tra, đánh giá HĐDH của GV và học sinh mà người CBQL tiến hành để tác động vào đội ngũ GV, nhân viên và học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy học đồng thời đạt được mục tiêu nhà trường đề ra
Như vậy, Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh là tổ hợp
các cách thức tổ chức, lập kế hoạch, chỉ đạo điều hành, kiểm tra đánh giá hoạt động dạy và học môn tiếng Anh của người dạy và người học mà người CBQL tiến hành để tác động vào đội ngũ GV tiếng Anh, HV và các điều kiện liên quan tới hoạt động dạy và học tiếng Anh nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn tiếng Anh đồng thời đáp ứng mục tiêu đào tạo của nhà trường
1.3 Đặc điểm dạy học tiếng Anh tại trường đại học không chuyên ngữ
1.3.1 Mục đích, nội dung chương trình dạy học tiếng Anh
1.3.1 1 Mục đích dạy học tiếng Anh
Việc nắm được mục đích dạy học ngoại ngữ là điều quan trọng đối với người dạy và người học để hình thành con đường đạt được mục đích đó Mục đích học ngoại ngữ là phát triển khả năng giao tiếp của người học.3 “ Khi lựa chọn HĐH chúng ta phải luôn nhớ rằng, mục đích học học ngoại ngữ là tạo cho SV có thể tự
do tương tác với nhau: Hiểu được ý của người khác muốn nói gì và bày tỏ được quan điểm của mình”4 Mục đích cuối cùng của việc dạy ngôn ngữ là cung cấp cho người học khả năng sử dụng ngôn ngữ trong việc giao tiếp Điều này giải thích việc bốn kĩ năng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết) chia làm hai thể loại: Giao tiếp bằng lời nói và giao tiếp sử dụng chữ viết Nghe và nói là hình thức giao tiếp sử dụng lời nói quan trọng nhất, đọc và viết là hình thức giao tiếp bằng chữ viết quan trọng nhất5 [23, tr 94]
3 Liu, 2003; River, 1978
4 River (1978), A practical guide to the teaching of English as a second or foreign language New York:
Oxford University Press “when selecting learning activities, we must always remember that our goal is for the students to be able to interact freely with others: to understand what others wish to communicate in the broadest sense, and to be able to convey to others what they themselves wish to share” (pp 3-4)
5 Liu, L (2003) A New Perspective on the Goals of TEFL in China The internet TESL Journal, IX (11)
…the ultimate goal of language instruction is to equip learners with the ability to use the language for their communication This reasonably explains why the four macro language skills (listening, speaking, reading,
Trang 28Do vậy, ta có thể hiểu, mục tiêu dạy tiếng Anh là nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách của con người hiện đại, biết tiếp thu những tinh hoa văn hoá của nhân loại làm giàu kiến thức cho bản thân, có kỹ năng, kỹ xảo, năng lực giao tiếp bằng tiếng Anh Giao tiếp được hiểu như một hoạt động đặc biệt bao gồm các kỹ năng thu, phát và xử lý thông tin (nghe, nói, đọc, viết) Tiếng Anh thực sự được sử dụng như công cụ trong giao tiếp, người học dựa trên cơ sở đó có thể tự học suốt đời, nâng cao trình độ tư duy
1.3.1 1 Nội dung chương trình dạy học tiếng Anh
Chương trình tiếng Anh giảng dạy cho sinh viên tại các trường ĐH không chuyên ngữ là chương trình giáo dục thường xuyên về tiếng Anh thực hành (mức
độ trung cấp) theo quyết định số 66/2008/QĐ-BGDĐT ngày 2-12-2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo [5] Nội dung cơ bản chú trọng đến 4 kỹ năng:
- Kỹ năng Nói - Cấp độ B1S: Tham gia các cuộc trao đổi xã giao về những chủ đề quen thuộc và công việc thường nhật một cách khá tự tin; Cung cấp tương đối chi tiết thông tin, ý kiến, miêu tả, báo cáo và kể lại một sự kiện/tình huống; Sử dụng những từ thông dụng hàng ngày và thành ngữ quen thuộc; Giao tiếp mặt đối mặt, hoặc qua điện thoại những vấn đề quen thuộc, thông thường; Giao tiếp thông thường hoặc có thể mang tính nghi thức
- Kỹ năng Nghe - Cấp độ B1L: Nghe các đoạn độc thoại, hội thoại tương đối ngắn, các chương trình phát thanh trong các tình huống giao tiếp lễ nghi hoặc thông thường, về các chủ đề hàng ngày với tốc độ nói chậm đến trung bình; Các hội thoại hàng ngày liên quan đến công việc/nghề nghiệp
- Kỹ năng Đọc - Cấp độ B1R: Kiến thức về ngữ cảnh, bao gồm kiến thức về văn hóa, xã hội và kiến thức chung về giao tiếp xã hội, kinh doanh/dịch vụ; Thông tin về các chủ điểm quen thuộc từ các bài đọc có bố cục rõ ràng, đọc hiểu các ý chính, các từ/cụm từ chủ yếu và các chi tiết quan trọng trong các lời nhắn, thư, bài báo, tài liệu văn xuôi đơn giản (từ ba đến năm đoạn văn) hoặc không theo hình
writing) fall into the two categories: vocal and written communication Listening and speaking are the most important forms of vocal communication, whereas reading and writing are the most important forms of written communication
Trang 29thức văn xuôi trong ngữ cảnh sử dụng ngôn ngữ có yêu cầu khá cao
Kỹ năng Viết - Cấp độ B1W: Điền mẫu khai xin việc, làm báo cáo, viết thư
cá nhân, thư giao dịch thông dụng; Viết về các chủ đề thông dụng liên quan đến các hoạt động sinh hoạt thường ngày; Viết lại các thông tin đơn giản nhận được dưới dạng nói hoặc hiển thị, có thể ghi chép khi nghe các bài trình bày ngắn hoặc
từ các tài liệu tham khảo
1.3.2 Phương pháp và hình thức dạy học tiếng Anh
1.3.2.1 Phương pháp dạy học tiếng Anh
Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu và các nhiệm vụ dạy học [28, tr 204]
Trong dạy học ngoại ngữ nói chung, dạy học tiếng Anh nói riêng, việc lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp cần căn cứ vào mục tiêu, nội dung dạy học, điều kiện giảng viên và sinh viên, phương tiện đảm bảo cho dạy học Tuy nhiên, phương pháp dạy học ngoại ngữ hiện nay đang được sử dụng phổ biến là: [39]
- Phương pháp Ngữ pháp - Dịch: Phương pháp này cung cấp cho người học những loại bài tập rèn luyện về trí tuệ, giúp họ mở rộng kiến thức và phát triển tư duy của mình Khi giảng dạy, giáo viên thường chú trọng đến việc diễn giải các quy tắc khó, phức tạp của ngữ pháp tiếng nước ngoài và hay sử dụng tiếng mẹ đẻ của người học trong quá trình giảng dạy để khai thác ý nghĩa của ngữ liệu Phương pháp này chỉ chú trọng đến 2 kỹ năng đọc và dịch, chủ yếu là những bài văn cổ điển chứ không phải ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày, dẫn đến người học không phát triển được 2 kỹ năng nghe và nói
- Phương pháp Nghe - Nói: Phương pháp này giúp cho người học thực hành giao tiếp một cách máy móc và tự động hóa Người học bắt chước và nhắc lại từng từ, từng câu trong bài theo thầy cô giảng và học thuộc lòng bài học Phương pháp này chú trọng đến phát âm vì nó đòi hỏi sự chính xác Đối với phương pháp này, dạy kỹ năng nghe - nói - đọc - viết phải theo trật tự nhất định
- Phương pháp giao tiếp: Trong phương pháp này, 4 kỹ năng giao tiếp kết hợp cùng một lúc, không cần tuân theo thứ tự như trong phương pháp Nghe - Nói
Trang 30Đối với phương pháp giao tiếp, nếu có mắc lỗi, sai về phát âm hay về ngữ pháp một chút không sao mà cần chú trọng đến giao tiếp Trong phương pháp này, giảng viên bằng mọi cách tạo điều kiện tối đa để động viên, giúp sinh viên tích cực sử dụng tiếng Anh Phương pháp giao tiếp là phương pháp dạy ngoại ngữ có hiệu quả nhất, giúp cho người học sử dụng ngôn ngữ để thực hành giao tiếp trong nhiều tình huống khác nhau
Các phương pháp dạy ngoại ngữ hiện đại: học dựa vào nhiệm vụ based learning) và dạy ngoại ngữ theo đường hướng giao tiếp và đường hướng lấy người học làm trung tâm (learner based) đang được vận dụng trong giảng dạy tiếng Anh ở một số trường ĐH, cao đẳng và trung tâm ngoại ngữ Để áp dụng được phương pháp này, giáo viên cần phải chuẩn bị kỹ các bước lên lớp, các thủ thuật trong giảng dạy, cần phải có sự hợp tác từ phía sinh viên cùng với sự hỗ trợ của trang thiết bị hiện đại và cuối cùng là số lượng SV, học viên trong mỗi lớp không quá 30.[44]
(task-1.3.2.2 Hình thức dạy học tiếng Anh
Hình thức tổ chức dạy học là hình thức vận động của nội dung dạy học cụ thể trong không gian, địa điểm và những điều kiện xác định nhằm thực hiện nhiệm vụ
và mục tiêu dạy học [28, tr 245] Các hình thức dạy học tiếng Anh thường xuyên được sử dụng hiện nay như:
- Hình thức tổ chức hoạt động Cá nhân: Nhằm phát huy tính tích cực, độc
lập của học sinh, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh hoạt động cá nhân Hình thức tổ chức này có thể áp dụng với những dạng kiến thức ngôn ngữ như dạng câu mẫu có sẵn, tình huống cụ thể
- Hình thức tổ chức hoạt động Nhóm: Áp dụng cho những phần nội dung kiến
thức yêu cầu có sự tổng hợp, khái quát nên cần sự hợp tác, đóng góp ý kiến của nhiều thành viên Đặc biệt hình thức tổ chức nhóm mang tính hiệu quả trong những giờ học thực hành tiếng, thảo luận hoặc ngoại khóa
- Hình thức tổ chức hoạt động Cặp đôi: Mang tính hợp tác nhỏ để tìm kiến
thức, luyện tập đàm thoại, trao đổi thông tin
- Hình thức tổ chức dạy học toàn lớp: Là hình thức tổ chức dạy học trong đó
Trang 31giáo viên lãnh đạo hoạt động của tất cả học sinh, tích cực điều khiển việc lĩnh hội tri thức, ôn tập và củng cố tri thức, rèn luyện kỹ năng cho cả lớp Hình thức này áp dụng cho những phần nội dung kiến thức yêu cầu có thu thập thông tin, giải thích một vấn đề kiến thức
Để phát huy được hiệu quả của các hình thức dạy học, người GV vần phải biết kết hợp linh hoạt các hình thức khác nhau căn cứ vào nội dung, đối tượng, điều kiện giảng dạy nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy học
1.3.3 Đánh giá kết quả học tập môn tiếng Anh
Kết quả mà học sinh đạt được trong quá trình dạy học là cơ sở quan trọng nhất để đánh giá kết quả hoạt động dạy học Kết quả học tập được thể hiện ở mức
độ mà người học đạt được so với các mục tiêu đã xác định hay ở mức độ mà người học đạt được trong tương quan chung với những người cùng học khác.[28, tr 277]
Dù hiểu theo nghĩa nào thì đánh giá kết quả học tập cũng phản ánh kết quả mà học sinh đạt được sau một giai đoạn học tập
Như vậy, đánh giá kết quả học tập của học sinh là đánh giá mức độ hoàn thành các mục tiêu đề ra cho học sinh sau một giai đoạn học tập, các mục tiêu này được thể hiện ở từng môn học cụ thể Đánh giá kết quả học tập là xác định mức độ nắm được kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh so với yêu cầu của chương trình
đề ra Kiểm tra là quá trình giáo viên thu thập thông tin về kết quả học tập của học sinh Các thông tin này giúp giáo viên kiểm soát được quá trình dạy học, phân loại
và giúp đỡ học sinh Những thông tin thu thập được so sánh với tiêu chuẩn nhất định.[28, tr 277-278]
Kiểm tra và đánh giá là hai quá trình có quan hệ chặt chẽ với nhau Kiểm tra
là để đánh giá, đánh giá dựa trên cơ sở của kiểm tra
Căn cứ vào khái niệm về kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học và nội dung dạy học môn tiếng Anh, tác giả cho rằng, việc đánh giá kết quả dạy học tiếng Anh của
SV phải tập trung vào mức độ kiến thức tiếp thu được, kỹ năng, thái độ và hệ thống giá trị của họ Đánh giá đầu ra không chỉ nhằm xác định mức độ chất lượng mà cần xác định sự tiến bộ về các mặt từ khi SV vào trường đến khi ra trường Cụ thể:
- Kiến thức: Cung cấp kiến thức tiếng Anh tổng quát và tiếng Anh theo
Trang 32chuyên ngành nhằm giúp cho SV có thể truy cập Internet, tham khảo sách báo, tài liệu chuyên ngành bằng tiếng Anh trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Kỹ năng: SV phát triển được các kỹ năng giao tiếp: nghe, nói, đọc, viết bằng tiếng Anh trong lĩnh vực chuyên môn, đặc biệt là kỹ năng đọc hiểu các tài liệu liên quan tới chuyên ngành được đào tạo; kỹ năng sáng tạo; kỹ năng giải quyết các vấn
đề không chỉ trong chuyên môn mà cả trong các tình huống xã hội nhất định
- Thái độ: Định hướng và giáo dục nhận thức cho SV nhằm:
+ Hình thành được ý thức học tập và sử dụng tiếng Anh như một công cụ hỗ trợ cho việc phát triển tư duy, cho việc học tập các môn khác, cho nghiên cứu và phát triển chuyên môn sau này, góp phần bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đạo đức, tác phong của người lao động mới
+ Có thái độ đúng đắn trong việc sử dụng tiếng Anh như một công cụ nhằm nâng cao hiểu biết, tiếp thu có chọn lọc các tinh hoa văn hóa của thế giới phục vụ cho việc xây dựng đất nước, làm cho các dân tộc khác trên thế giới hiểu rõ hơn về văn hóa, lịch sử, con người Việt Nam, từ đó tăng cường tình hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc, giữ gìn hòa bình thế giới
+ Có ý thức sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả thông qua việc tiếp thu các tri thức ngôn ngữ, hình thành các kỹ năng giao tiếp và phương pháp học tiếng Anh như khả năng tìm kiếm và phát hiện thông tin, khả năng tự học, tự đánh giá
1.4 Đặc điểm dạy học tiếng Anh trong trường đại học quân sự
1.4.1 Tính chất, đặc trưng của trường đại học quân sự
Trường ĐH quân sự thực hiện nhiệm vụ đào tạo, huấn luyện và nghiên cứu khoa học cho các đối tượng HV sĩ quan, theo chương trình, kế hoạch của Bộ quốc phòng và Bộ GD&ĐT; thực hiện kế hoạch thời gian năm học theo hướng dẫn của
Bộ GD&ĐT, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng ngành đào tạo
Nội dung chương trình giảng dạy trên cơ sở đào tạo kĩ, chiến thuật, chỉ huy
và định hướng nghiên cứu khoa học
Trình độ chuẩn của đội ngũ giảng viên là ĐH và sau ĐH, ở một số trường, tỉ
lệ giáo sư và phó giáo sư tương đối cao, hỗ trợ tốt cho việc triển khai công tác quản
lý của các cấp lãnh đạo
Trang 33Hoạt động Bộ GD&ĐT bao gồm hoạt động trên giảng đường, tại thao trường, nơi ăn ở sinh hoạt v.v phù hợp với đặc thù đào tạo sĩ quan cho quân đội
Học viên đào tạo trong các nhà trường đại học quân sự ngoài việc học theo nội dung chương trình đào tạo theo chuẩn của Bộ GD&ĐT còn phải học tập và thực hiện các nhiệm vụ theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng Chính vì vậy, thời gian học tập và huấn luyện ngoài giờ lên lớp có ảnh hưởng nhiều tới việc học tập nói chung và học tiếng Anh của của học viên
Tiếng Anh là môn học bắt buộc trong tất cả trường đại học quân sự Tuy nhiên, thời gian để học viên tự trau dồi các kĩ năng thực hành ít Hơn nữa, môi trường để sử dụng tiếng Anh của học viên không nhiều, 100% học viên quân sự phải ở nội trú trong đơn vị, các điều kiện phục vụ cho việc tự học tiếng Anh không được đảm bảo tốt Thêm vào đó, do quy định của Bộ Quốc phòng, việc học viên không được giao tiếp với người nước ngoài khi chưa được phép đã hạn chế khả năng thực hành giao tiếp tiếng Anh với người bản ngữ của học viên
1.4.2 Yêu cầu đổi mới nâng cao chất lượng dạy, học ngoại ngữ của hệ thống nhà trường Quân đội 6
- Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong Quân đội phù hợp với các đối tượng đào tạo, trình độ đào tạo, nâng cao năng lực sử dụng ngoại ngữ của đội ngũ nhà giáo, học viên, sinh viên ở các cơ sở đào tạo Tạo nền tảng để cán bộ,
sĩ quan sau khỉ ra trường có thể khai thác, làm chủ vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật; thực hiện tốt công tác quân sự quốc phòng và có khả năng tự nghiên cứu học tập, phát triển trong môi trường hội nhập quốc tế
Đổi mới nội dung, chương trinh giảng dạy ngoại ngữ theo hướng năm chắc ngữ pháp gắn liền với phát triên kỹ năng giao tiếp, khai thác làm chủ vũ khỉ trang
bị Xác định tiếng Anh là ngoại ngữ chỉnh sẽ được giảng dạy cho tẩt cả các đối tượng đào tạo, đổng thời lựa chọn ngoại ngữ thứ hai phù hợp với đặc thù của các chuyên ngành đang đào tạo của nhà trường
- Tập trung biên soạn hệ thống giáo trình, tài liệu ngoại ngữ phần chuyên
6 Theo dự thảo chỉ thị về “một số nhiệm vụ cấp bách nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống nhà trường Quân đội”, Bộ Quốc phòng, 2016
Trang 34ngành gắn liền với hệ thống giáo trình, tài liệu dạy, học ngoại ngữ của quốc gia Năm 2017 các trường biên soạn tài liệu phần ngoại ngữ chuyên ngành đưa vào sử dụng, năm 2019 rút kinh nghiệm, bổ sung, nâng cấp thành giáo trình giảng dạy
Đổi mới phương pháp dạy và học ngoại ngữ, vận dụng phương pháp dạy học tích cực và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin Kết hợp chặt chẽ giữa dạy, học ngoại ngữ với nâng cao năng lực chuyên môn, đảm bảo người học có dủ năng lực ngoại ngữ để phục vụ công tác quân sự quốc phòng, đối ngoại quân sự quốc phòng và khai thác vũ khi trang bị
- Kiện toàn tổ chức biên chế, hoàn chỉnh tiêu chuẩn chức danh đối với giảng viên, giáo viên ngoại ngữ Có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích giảng viên, giáo viên ngoại ngữ nâng cao trình độ ngôn ngữ, năng lực sư phạm Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, tạo điều kiện để giảng viên, giáo viên đi nghiên cứu thực tế và
bổ sung kiến thức quân sự quốc phòng, kiến thức ngoại ngữ
- Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học thiết yếu, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ đổi mới dạy và học ngoại ngữ; tồ chức các hoạt động ngoại khóa, giao lưu trong nước và quốc tế nhằm tạo môi trường học tập và
Xác định ngoại ngữ thành tiêu chí bắt buộc cho các đối tượng đào tạo: + Cấp phân đội trình độ ĐH: Bậc 2/6
+ Thạc sĩ: Bậc 3/6, Tiến sĩ: Bậc 4/6
+ Chỉ huy trung - sư đoàn: Bậc 2/6
Từ năm 2019 trở đi, chuẩn đầu ra về ngoại ngữ sẽ được áp dụng với các đối tượng đào tạo, đồng thời chuẩn ngoại ngữ sẽ được nâng lên để đáp ứng sự phát triển cùa hệ thống giáo dục quốc dân trong những năm sau
Trang 35Bổ sung tiêu chuẩn ngoại ngữ vào tiêu chí xét phong quân hàm cho học viên tốt nghiệp từ năm 2018 Khuyến khích những học viên xuất sắc, có trình độ ngoại ngữ từ bậc 4 trở lên có thể phong quân hàm ở mức cao hơn
1.5 Nội dung quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh trong trường đại học
Từ những khái niệm về việc dạy học, dạy học môn tiếng Anh, hình thức, nội dung, phương pháp dạy học tiếng Anh; các khái niệm về quản lý, quản lý dạy học ngoại ngữ nói chung, dạy học môn tiếng Anh nói riêng, tác giả đưa ra một số quan điểm về nội dung của công tác quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh bao gồm những hoạt động sau:
1.5.1 Quản lý hoạt động dạy tiếng Anh của giảng viên
1.5.1.1 Quản lý việc thực hiện chương trình và kế hoạch dạy học tiếng Anh
- Quản lý chương trình giảng dạy: Người quản lý phải nắm được những vấn
đề như nguyên tắc cấu tạo chương trình môn học của các học phần thuộc bộ môn phụ trách và giảng dạy ở từng năm học; chương trình của từng học phần, nội dung, kiến thức của từng học phần; phương pháp dạy học đặc trưng của từng học phần
và các hình thức dạy học; kế hoạch dạy học, khối lớp (thời lượng giảng dạy từng học phần, bài học, hình thức dạy học, kiểm tra, đánh giá, )
- Quản lý việc thực hiện chương trình và kế hoạch giảng dạy của GV: GV
phải dạy đúng theo khung chương trình qui định, đảm bảo thời lượng cho từng học phần, khối lớp Người cán bộ quản lý muốn thực hiện được yêu cầu này cần phải chú ý một số việc sau:
+ Kế hoạch giảng dạy học phần của từng GV: Kế hoạch này phải được trưởng
BM xây dựng, họp BM trao đổi và lấy ý kiến từ phía GV đồng thời được thông qua Hội đồng Đào tạo nhà trường xét duyệt kế hoạch giảng dạy của GV hàng năm + Tiến độ thực hiện chương trình: Thông qua thời khoá biểu, sổ theo dõi giảng dạy và học tập, dự giờ… để kịp thời xử lý những trường hợp xảy ra ảnh hưởng đến việc thực hiện chương trình giảng dạy, đảm bảo thời gian thực hiện chương trình dạy học và nội dung chương trình
+ Các báo cáo về theo dõi thi đua của GV: Các loại hồ sơ, sổ sách liên quan đến hoạt động chuyên môn của GV
Trang 361.5.1.2 Quản lý giờ lên lớp của đội ngũ GV
Giờ lên lớp đóng vai trò hết sức quan trọng, nó quyết định chất lượng giảng dạy Vì vậy cả GV và CBQL đều phải cố gắng để chất lượng giờ lên lớp được nâng cao một cách toàn diện CBQL phải có những biện pháp tạo khả năng, điều kiện cho GV lên lớp có hiệu quả:
- Xây dựng chuẩn đánh giá giờ lên lớp: Đây là nhiệm vụ chung của tập thể
GV bộ môn và của nhà trường; Tiêu chuẩn này được xây dựng dựa trên lý thuyết
lý luận dạy học Người quản lý dựa vào các tiêu chuẩn này để kiểm tra, đánh giá, hướng tới mục tiêu ngày càng nâng cao chất lượng giờ lên lớp
- Quản lý giờ lên lớp qua thời khoá biểu: Thời khoá biểu giúp duy trì nề nếp
dạy học, tạo sự nhịp nhàng trong dạy học hàng ngày, kiểm soát được tiến độ thực hiện CTDH các môn thông qua việc GV làm lịch trình giảng dạy hàng tuần; Giờ lên lớp của GV được QL bộ môn theo dõi, kiểm tra kết hợp cùng với Phòng Đào tạo và bộ phận Khảo thí-Kiểm định chất lượng
- Các báo cáo của các bộ phận chuyên môn có liên quan về tình hình giảng dạy trên lớp: làm lịch trình, thực hiện chương trình, nề nếp, số tiết, điểm kiểm tra 1.5.1.3 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả giảng dạy tiếng Anh
- Để tạo điều kiện cho GV đầu tư chuyên môn, nâng cao chất lượng giảng dạy, CBQL phải có kế hoạch dự giờ giảng của các GV Việc làm này có thể báo trước hoặc đột xuất để nắm rõ thực tế tình hình giảng dạy của GV trên lớp như thế nào và phải tổ chức góp ý, rút kinh nghiệm ngay sau giờ giảng trên tinh thần thẳng thắng đóng góp ý kiến xây dựng nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy
- Việc kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học tiếng Anh dựa trên các tiêu chí: + Việc chuẩn bị bài giảng: giáo án, đồ dùng dạy học…
+ Nội dung bài giảng có khối lượng kiến thức vừa phải, chuẩn xác không? + Việc trình bày có logic, có khoa học không?
+ Phương pháp giảng dạy có phù hợp không, có thu hút SV tích cực tham gia bài giảng không?
+ Hoạt động tương tác giữa GV và SV
+ Mức độ hiểu bài và vận dụng trong thực tế
Trang 371.5.2 Quản lý hoạt động học tiếng Anh của sinh viên
Quản lý hoạt động học tiếng Anh của SV là quản lý một bộ phận cấu thành chủ yếu của toàn bộ hệ thống quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh trong nhà trường, quản lý việc chấp hành những qui định, qui chế về hoạt động học tập của
SV Quản lý hoạt động học tiếng Anh của SV bao gồm quản lý hoạt động học trên lớp và quản lý hoạt động tự học ngoài giờ học trên lớp
Căn cứ vào tình hình thực tế của nhà trường, người quản lý thống nhất yêu cầu và triển khai biện pháp giáo dục tinh thần, thái độ, động cơ học tập cho SV trong tất cả các GV của bộ môn Giáo dục tinh thần, thái độ học tập cho SV từ các giờ học trên lớp, tự học ở nhà đến các hoạt động giáo dục khác trong trường và phải được cụ thể hoá trong nội quy học tập, nội dung thi đua để SV rèn luyện thường xuyên thành những thói quen tự giác Trong quản lý hoạt động học của SV, cần chú ý đến những vấn đề sau:
- Quy định về tinh thần, thái độ học tập: Chăm chỉ, chuyên cần, tinh thần thái
độ học tập, học bài, làm bài đầy đủ, tham gia các hoạt động khác
- Phương pháp tổ chức học tập ở trường, học ở nhà
- Quy định về sử dụng, bảo vệ và chuẩn bị đồ dùng, thiết bị học tập
- Hình thức động viên khen thưởng kịp thời đối với những SV có nhiều cố gắng, đạt kết quả cao trong học tập, thường xuyên nhắc nhở những SV lười học, lực học yếu, ngại nói tiếng Anh, từ đó có biện pháp khắc phục, chấn chỉnh kịp thời
- Quản lý kết quả học tiếng Anh của sinh viên
Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của SV đóng vai trò quan trọng trong việc xác định chất lượng đào tạo, giúp cho việc điều chỉnh nội dung chương trình, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp, đáp ứng mục tiêu đào tạo
GV cần tăng cường kiểm tra việc tự học, tự nghiên cứu tài liệu trong các giờ học bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau
Mỗi học phần phải tổ chức 02 lần kiểm tra: 01 lần kiểm tra điều kiện và 01 lần kiểm tra kết thúc học phần (SV phải đảm bảo dự kiểm tra điều kiện và không được vắng quá số tiết qui định mới được dự thi kết thúc học phần)
Trang 38Phối hợp nhiều hình thức kiểm tra vấn đáp, kiểm tra trắc nghiệm, kiểm tra viết… để việc đánh giá được khách quan
Cần coi trọng giờ luyện tập, giờ thảo luận và đó là cách đánh giá chính xác chất lượng học tập của SV
Cần tăng cường cho SV làm các bài tập lớn, tiểu luận để giúp SV làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, nghiên cứu chuyên sâu về những nội dung học Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của SV được tiến hành một cách khách quan có ý nghĩa thiết thực thúc đẩy, khích lệ SV học tập tốt hơn Đồng thời, việc kiểm tra, đánh giá còn góp phần điều chỉnh nội dung, chương trình đào tạo, phương pháp dạy học của GV, phương pháp học tập của SV nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường
1.5.3 Quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy học môn tiếng Anh trong nhà trường đại học
1.5.3.1 Quản lý phát triển đội ngũ GV dạy tiếng Anh
Quản lý đội ngũ GV dạy tiếng Anh là một trong những yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến tính hiệu quả của quản lý việc dạy học ở nhà trường nói chung và dạy học môn tiếng Anh nói riêng Đó là cách thức lập kế hoạch phát triển đội ngũ,
bố trí, sắp xếp, sử dụng một cách tối ưu đội ngũ GV dạy tiếng Anh cũng như kiểm tra đánh giá, sàng lọc đội ngũ và làm tốt công tác thi đua khen thưởng
Chú trọng, quan tâm đến mục tiêu phát triển đội ngũ GV giảng dạy tiếng Anh, đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất lượng đáp ứng nhu cầu vừa tăng quy mô vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy tiếng Anh trong nhà trường Công tác lập kế hoạch phát triển đội ngũ GV giảng dạy tiếng Anh và phân bổ nguồn lực là một tiêu chí thể hiện sự quản lý và tổ chức chặt chẽ của trường để đảm bảo từng bước thực hiện được mục tiêu đào tạo do trường đề ra Nhà trường cần có đủ số lượng GV giảng dạy tiếng Anh tương ứng với số lượng
SV và chương trình đào tạo của trường theo tỷ lệ quy định Việc triển khai kế hoạch phát triển, bố trí, sắp xếp, sử dụng một cách tối ưu đội ngũ GV dạy tiếng Anh dụng tạo được động lực để phát triển và tạo biến đổi tích cực nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Anh trong nhà trường
Trang 39Đảm bảo đội ngũ GV dạy tiếng Anh có trình độ chuyên môn được đào tạo tại các trường ĐH chuyên ngữ, có năng lực và kinh nghiệm giảng dạy là điều kiện tiên quyết để đảm bảo chất lượng giảng dạy tiếng Anh GV dạy tiếng Anh của trường có trách nhiệm chính là tham gia giảng dạy, biên soạn các chương trình và tài liệu giảng dạy tiếng Anh theo đúng quy chuẩn của Bộ GD& ĐT, đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo GV được bố trí giảng dạy theo đúng chuyên môn, cường độ hợp lý sẽ tạo điều kiện cho giáo viên có thời gian nghiên cứu, có nguồn lực cải tiến và nâng cao chất lượng chuyên môn nghiệp vụ của mình, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
Duy trì các hoạt động đảm bảo chất lượng đào tạo, định kỳ đánh giá các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo và đưa ra những khuyến nghị kịp thời để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy trong trường Bồi dưỡng và nâng cao chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng và năng lực của đội ngũ GV trong nhà trường Chế độ chính sách phù hợp để phát huy nội lực của đội ngũ GV dạy tiếng Anh trong nhà trường cần được chú trọng, quan tâm Nhà trường cần thường xuyên tạo điều kiện cho đội ngũ GV học tập nâng cao chuyên môn và nghiệp vụ, có chính sách hỗ trợ, khuyến khích GV bồi dưỡng chuyên môn nghiệp
vụ Đây là tiêu chí để thực hiện tốt yêu cầu về nâng cao chất lượng đội ngũ GV dạy tiếng Anh
Đánh giá thường xuyên đội ngũ GV dạy tiếng Anh và làm tốt công tác thi đua khen thưởng nhằm quản lý nguồn nhân lực hiệu quả vì kết quả đánh giá là cơ
sở để điều chỉnh đội ngũ GV, đáp ứng yêu cầu về chất lượng đội ngũ GV tạo tiền
đề để nhà trường thực hiện tốt mục tiêu đà tạo và sứ mạng của mình
1.5.3.2 Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài liệu, giáo trình
Theo PGS TS Trần Thị Hương (2016) [15], cơ sở vật chất được hiểu là hệ thống đối tượng vật chất được sử dụng để thực hiện hoạt động dạy học và giáo dục của nhà trường CSVC bao gồm trường sở, thiết bị dạy học – giáo dục, và thư viện
Ở góc độ lý luận quản lý, CSVC là phương tiện thực hiện mục đích quản lý CSVC
là bộ phận không thể thiếu được để thực hiện nội dung và các phương pháp dạy học và là phương tiện để kết nối các hoạt động trong nhà trường với nhau bởi vì
Trang 40CSVC là yếu tố tác động trực tiếp tới HĐGD, một trong những yếu tố quyết định chất lượng giáo dục, là điều kiện vật chất cần thiết của các hoạt động sư phạm, là phương tiện tác động tới thế giới tâm hồn của học sinh Hiệu quả của hoạt động sư phạm phụ thuộc một phần quan trọng vào trình độ CSVC của lao động sư phạm Quản lý CSVC đòi hỏi chủ thể quản lý phải nắm được các yêu cầu sau: Thông hiểu về các chế định của ngành và liên ngành đối với lĩnh vực CSVC; Nắm vững
cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý lĩnh vực CSVC, luôn có ý tưởng thực hiện đổi mới, chuẩn hoá và hiện đại hoá CSVC và thiết bị dạy học và tìm cách biến ý tưởng
đó thành hiện thực; Am hiểu mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục
và biết chính xác tính năng, tác dụng, nguyên tắc vận hành, tuổi thọ, cách phối hợp từng loại CSVC, để tổ chức và điều hành các lực lượng giáo dục thực hiện được nội dung, chương trình và kế hoạch đó nhằm đạt tới mục đích giáo dục đồng thời
đề ra những biện pháp xây dựng, mua sắm, trang bị, sử dụng, bảo quản CSVC; Tập trung mọi tiềm năng của nhà trường, cộng đồng và xã hội vào việc tăng cường CSVC và thiết bị dạy học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục
Nguyên tắc quản lý CSVC bao gồm: Trang bị đầy đủ và đồng bộ các yếu tố CSVC: giữa trường sở và phương tiện tổ chức dạy học – giáo dục, chương trình sách giáo khoa và thiết bị giáo dục, thiết bị, phương tiện dạy học và điều kiện sử dụng, trang bị và bảo quản, và giữa các thiết bị với nhau