Một trong những ứng dụng xử lý nước của bùn đỏ là làm chất hấp phụ để loại bỏ phẩm nhuộm và ion kim loại nặng khỏi dung dịch nước.. Năm 2005, Wang và cộng sự [43] đã nghiên cứu xử lí bùn
Trang 1MỞ ĐẦU
Bauxite có chứa hàm lượng nhôm cao và thường được dùng để điều chế alumina theo qui trình Bayer [44] Theo qui trình này, các dạng oxit nhôm trong bauxite được hòa tan bằng xút và còn một phần pha rắn không tan gọi là bùn đỏ (red mud) (để điều chế 1 tấn alumina thì thải ra khoảng 0,3 đến 2,5 tấn bùn đỏ) Đặc trưng lớn nhất của bùn đỏ là có tính kiềm cao (pH = 10 - 12,5) Thành phần hóa học của bùn
đỏ thay đổi theo nguồn bauxite chủ yếu bao gồm hematite (Fe2O3), goethite FeOOH), boehmite (-AlOOH), quartz (SiO2), sodalite (Na4Al3Si3O12Cl), gypsum (CaSO4.2H2O) và gibbsite (Al(OH)3) Bùn đỏ tích luỹ và tạo thành một lượng lớn gây
(α-ô nhiễm m(α-ôi trường và các sinh vật sống xung quanh Việc tích luỹ tạo thành một lượng lớn bùn đỏ có thể gây ra thảm họa lụt bùn đỏ như đã xảy ra tại nhà máy khai thác bauxite ở Hungari năm 2010 là một trong nhiều ví dụ Hàng năm lượng bùn đỏ trên thế giới được tạo ra khoảng 90 triệu tấn [44] Ở Việt Nam, nhà máy khai thác bauxite Tân Rai (ở huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng) đã bắt đầu hoạt động và nhà máy khai thác bauxite Nhân Cơ (ở huyện Đăk R’Lấp, tỉnh Đăk Nông) đang triển khai xây dựng, lượng bùn đỏ tạo ra chưa được đánh giá chi tiết, tuy nhiên đây là vấn đề gây tranh cãi nhiều trong những năm qua
Vấn đề nghiên cứu sử dụng bùn đỏ đã được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu nhiều Người ta đã nghiên cứu sử dụng làm chất xúc tác [22], làm chất tạo màu trong gốm [13], phụ gia xi măng [27], làm chất hấp phụ xử lý môi trường [40, 36],
Mặc dù bùn đỏ đã được quan tâm nghiên cứu sử dụng nhiều, tuy nhiên vẫn không thể tiêu thụ hết một lượng rất lớn bùn đỏ tạo ra Một trong những hướng đi mới
để sử dụng được lượng lớn bùn đỏ là làm vật liệu hấp phụ
Bùn đỏ là một chất hấp phụ rẻ tiền và có khả năng hấp phụ cao Người ta đã nghiên cứu biến tính bùn đỏ tạo ra các vật liệu có dung lượng hấp phụ cao để hấp phụ kim loại nặng [40, 29], các chất hữu cơ [43] và các anion vô cơ [36, 14] Tuy nhiên, ở Việt Nam mới chỉ có một vài công trình nghiên cứu về vấn đề này [2 - 5]
Các nhà máy alumina ở Tây Nguyên (Việt Nam) đã bắt đầu hoạt động, nguy cơ
ô nhiễm bùn đỏ có thể thành hiện thực, nên việc nghiên cứu sử dụng hợp lý bùn đỏ tạo
Trang 2ra các sản phẩm có thể sử dụng được và làm giảm nguy cơ ô nhiễm bùn đỏ ở các nhà máy alumina có ý nghĩa cấp thiết về phương diện lý thuyết cũng như thực hành
Sự ô nhiễm do các loại phẩm nhuộm trong công nghiệp trở thành vấn đề môi trường và vệ sinh nghiêm trọng trong những năm gần đây Việc sử dụng rộng rãi các loại phẩm nhuộm và các sản phẩm của chúng sẽ gây ra ô nhiễm nguồn nước ảnh hưởng tới môi trường và con người [34]
Bên cạnh đó, sự ô nhiễm kim loại nặng cũng là một trong những vấn đề ô nhiễm phổ biến gây nguy hiểm cho sức khỏe con người và hệ sinh thái Các kim loại nặng có mặt trong nước, đất, qua nhiều giai đoạn khác nhau và cuối cùng đi vào chuỗi thức ăn của con người Khi đã vào cơ thể, kim loại nặng có thể tích tụ lại trong các mô Với sự gia tăng tình trạng ô nhiễm môi trường, một yêu cầu được đặt ra là phát triển chất hấp phụ mới để tách các ion kim loại nặng ra khỏi môi trường nước với năng suất hấp phụ cao hơn và giá thành thấp hơn so với các phương pháp thương mại có thể dùng
Gần đây, bùn đỏ được cho là có thể được sử dụng như một phương pháp mới để
xử lý nước [36] Một trong những ứng dụng xử lý nước của bùn đỏ là làm chất hấp phụ để loại bỏ phẩm nhuộm và ion kim loại nặng khỏi dung dịch nước Xuất phát từ
thực tiễn đó, chúng tôi thực hiện đề tài: Nghiên cứu loại bỏ ion Pb(II) và xanh
metylen trong môi trường nước bằng vật liệu thải từ qui trình khai thác bauxite
Đề tài này được trình bày theo các mục chính sau:
- Mở đầu
- Chương 1: Tổng quan
- Chương 2: Nội dung, phương pháp nghiên cứu và thực nghiệm
- Chương 3: Kết quả và thảo luận
- Kết luận và kiến nghị
Trang 3Trên thế giới có hơn 40 nước có tài nguyên bauxite Trong đó, Việt Nam là một trong những nước có nguồn tài nguyên bauxite lớn nhất (đứng thứ 3 sau Guinea và Australia (xem hình 1.1)) Tuy Việt Nam có ưu việt về tài nguyên bauxite nhưng việc khai thác bauxite, sản xuất alumina và nhôm kim loại chỉ mới bắt đầu triển khai trong những năm gần đây
Hình 1.1 Nguồn tài nguyên bauxite của một số quốc gia trên thế giới [38]
Ở các quốc gia khác nhau phương pháp tinh luyện alumina cũng khác nhau phụ thuộc vào thành phần của bauxite Tuy nhiên, qui trình Bayer là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất, đến 95% sản phẩm alumina được tinh luyện theo qui trình này Qui trình Bayer truyền thống được tóm tắt ở sơ đồ hình 1.2
Qui trình Bayer thường sử dụng đối với các quặng bauxite tốt và quặng alunite, đặc biệt là đối với bauxite có chứa hàm lượng oxit silic thấp Nói chung, hỗn hợp bauxite và dung dịch xút được trộn với một lượng nhỏ vôi và giữ ở nhiệt độ gần 100oC trước khi đề silicat Sau đó, bauxite được phân ra bằng cách rửa với dung dịch NaOH
Trang 4nóng Quá trình này dùng để chuyển đổi nhôm oxit (alumina) thành nhôm hydroxit (Al(OH)3) Các thành phần khác của bauxite không hoà tan và tạo thành bùn đỏ (red mud) sau khi lọc bỏ phần dung dịch
Hình 1.2 Qui trình Bayer truyền thống để sản xuất alumina [28]
Thành phần của bùn đỏ phụ thuộc vào loại quặng bauxite và qui trình tinh luyện được sử dụng Kết quả phân tích hoá học cho thấy bùn đỏ có chứa silic, nhôm, sắt, canxi, titan,… Thành phần chính của bùn đỏ thải từ một số nhà máy alumina trên thế giới được trình bày ở bảng 1.1
Bùn đỏ có kích thước hạt trung bình < 10 µm, diện tích bề mặt riêng (BET) của bùn đỏ nằm trong khoảng từ 7,4 đến 34,5 m2/g [39] và có thể tăng lên đáng kể bằng cách sử dụng một số phương pháp xử lí thích hợp Trong môi trường bazơ, các hạt bùn
đỏ mang điện tích âm, điều này có lẽ là do sự hiện diện của các nhóm hydroxyl trên bề mặt [25] Một tính chất hoá lý khác của bùn đỏ cần được xử lí, đó là tính kiềm cao (pH
= 10 - 12,5 [44]) Do đó, người ta phải nghiên cứu xử lí bùn đỏ để tạo thành vật liệu có thể sử dụng được
1.2 Một số ứng dụng của bùn đỏ
Bauxite có chứa hàm lượng nhôm cao và thường được dùng để điều chế alumina theo qui trình Bayer [44] Theo qui trình này, các dạng oxit nhôm trong bauxite được hòa tan bằng xút và còn một phần pha rắn không tan gọi là bùn đỏ (red mud) (để điều chế 1 tấn alumina thì thải ra khoảng 0,3 đến 2,5 tấn bùn đỏ) Đặc trưng
Trang 5lớn nhất của bùn đỏ là có tính kiềm cao (pH = 10 - 12,5) Thành phần hóa học của bùn
đỏ thay đổi theo nguồn bauxite, chủ yếu bao gồm hematite (Fe2O3), goethite FeOOH), boehmite (-AlOOH), quartz (SiO2), sodalite (Na4Al3Si3O12Cl), gypsum (CaSO4.2H2O) và gibbsite (Al(OH)3) Bùn đỏ tích luỹ và tạo thành một lượng lớn gây
(α-ô nhiễm m(α-ôi trường và các sinh vật sống xung quanh Hàng năm lượng bùn đỏ trên thế giới được tạo ra khoảng 90 triệu tấn [44]
Bảng 1.1 Thành phần chính của bùn đỏ thải từ các nhà máy khai thác bauxite khác
nhau trên thế giới [28]
pháp
SiO2 Al2O3 TiO2 Fe2O3 Na2O Australia 19,90 27,70 3,50 40,50 1-2 Bayer
Mobile
11,14 16,20 10,11 30,40 2
Arkansas 4,50 12,15 4,5 55,6 1,5-5,0 Bayer Sherwon 2,56 11,13 Lượng
vết
50,54 9,00 Bayer
Indian Al Corp 6,74 19,60 28,00 20,26 8,09
MALCO 5,70 27,00 5,12 45,17 3,64 Bayer HINDALCO 5,00 23,00 17,20 35,46 4,85
BALCO 6,84 15,58 22,50 33,80 5,20 Bayer NALCO 8,44 14,73 3,30 52,39 4,00 Nung
Sơ đồ hình 1.3 trình bày một số khả năng ứng dụng của bùn đỏ Tuy nhiên, trong số những ứng dụng này vẫn chưa có ứng nào có hiệu quả về kinh tế ở mức độ công nghiệp
Trang 6Bùn đỏ
Lấy kim loại
Fe, Al, Ti, Ga, V, Sc
Năm 2012, Pulford và cộng sự [36] đã sử dụng bùn đỏ được xử lí bằng axit và bằng phương pháp carbonate để hấp phụ CrO42, Cu2+ và Pb2+ Kết quả cho thấy bùn
đỏ được xử lí bằng phương pháp carbonate không có khả năng hấp phụ CrO42 , nhưng khả năng hấp phụ Cu2+ và Pb2+ cao hơn nhiều so với việc xử lí bùn đỏ bằng axit Năm
2011, Luo và cộng sự [29] đã xử lí bùn đỏ (từ nhà máy alumina Shandong, Trung Quốc) bằng axit HCl và ứng dụng làm chất hấp phụ Cd, dung lượng hấp phụ Cd cực đại trên bùn đỏ ban đầu, bùn đỏ đã được xử lí bằng axit và bùn đỏ có kích thước hạt nano ở pH = 6,5 tương ứng là 0,16; 0,19 và 0,21 mol/kg Năm 2005, Wang và cộng sự [43] đã nghiên cứu xử lí bùn đỏ (Worsley Alumina, Australia) và tro bay (Western Power, Australia) bằng phương pháp nhiệt và bằng HNO3 để hấp phụ metylen xanh trong dung dịch nước Kết quả cho thấy rằng dung lượng hấp phụ của cả bùn đỏ và tro bay được xử lí bằng phương pháp nhiệt đều tăng so với các vật liệu ban đầu, nhưng đối với phương pháp xử lí bằng HNO3 thì khác, dung lượng hấp phụ của tro bay thì tăng, trong khi đó dung lượng hấp phụ của bùn đỏ thì giảm
Bên cạnh việc sử dụng bùn đỏ làm chất hấp phụ, nhiều tác giả cũng đã sử dụng bùn đỏ làm chất xúc tác, gạch xây dựng,… Năm 2012, Karimi và cộng sự [22] đã sử
Trang 7dụng bùn đỏ làm chất xúc tác cho phản ứng xeton hoá axit formic và axit axetic bằng
H2 ở nhiệt độ > 350oC, cũng như làm xúc tác cho phản ứng chuyển hoá axit levulinic thành ankan và anken bằng H2 với hiệu suất đạt 76% Năm 2013, Kumar và cộng sự [24] đã nghiên cứu chế tạo gạch lát từ tro bay và bùn đỏ, sản phẩm thu được đạt tiêu chuẩn cho phép với hàm lượng bùn đỏ chiếm 10 - 20%
Trong nước, Việc sử dụng bùn đỏ làm chất hấp phụ để xử lí nước ô nhiễm cũng
có một vài nghiên cứu Năm 2013, Phạm Xuân Cường và cộng sự [2, 3] đã trộn bùn đỏ
đã được nghiền nhỏ với thuỷ tinh lỏng (Na2SiO3), sau đó dùng máy ép thành hạt đường kính 2,5 mm và tiến hành khảo sát khả năng hấp phụ các kim loại nặng và asen Kết quả cho thấy rằng, vật liệu này có khả năng xử lí ô nhiễm kim loại nặng và asen trong nước, khả năng hấp phụ cao, giá thành rẻ, phù hợp với điều kiện, tiêu chí của hạt vật liệu hấp phụ, phù hợp với điều kiện Việt Nam Cũng trong năm 2013, Dương Phước Đạt và cộng sự [4] đã hoạt hoá bùn đỏ được lấy ở nhà máy hoá chất Tân Bình (Tp Hồ Chí Minh) và sử dụng làm chất xúc tác cho phản ứng Fenton phân huỷ phẩm màu Methyl Orange (MO), Reactive Orange 16 (RO16) và Congo Red (CR) Kết quả cho thấy, ở pH = 3, dung lượng xúc tác phân huỷ MO, RO16 và CR lần lượt là 93,0 mg/g, 304,4 mg/g và 342,1 mg/g Tống Thị Thanh Hương và cộng sự [5] cũng sử dụng bùn đỏ được lấy ở nhà máy hoá chất Tân Bình (Tp Hồ Chí Minh) để hấp phụ phenol trong dung dịch nước, và công bố ở Hội nghị Hoá học toàn quốc lần thứ 6 tại Hà Nội vào ngày 22/11/2013 Đầu tiên, các tác giả này tiến hành rửa bùn đỏ bằng nước cất đến khi đạt pH = 8 – 8,5 Sau đó mẫu được lọc, sấy khô ở 105oC và nghiền mịn thu được mẫu bùn đỏ thô Mẫu bùn đỏ thô được hoạt hoá ở các điều kiện nhiệt độ khác nhau (473, 673, 873 và 1073K) trong 4h Kết quả khảo sát khả năng hấp phụ phenol trong môi trường nước cho thấy rằng bùn đỏ thô có khả năng hấp phụ tốt hơn bùn đỏ hoạt hoá bằng nhiệt độ Khả năng hấp phụ chủ yếu là do tương tác tĩnh điện giữa anion phenolat với các tâm mang điện tích dương trên bề mặt vật liệu
1.3 Sự ô nhiễm môi trường bởi phẩm nhuộm
Các loại phẩm nhuộm như Benzidin, Sudan, Atrazol Black FDL, Dianix Black [31]… được thải ra ngoài môi trường từ nước thải của các nhà máy dệt may, giấy, cao su, nhựa, da, mỹ phẩm, dược phẩm và các ngành công nghiệp thực phẩm Các chất thải này khi đi vào nguồn nước như sông, hồ,… với một nồng độ rất nhỏ cũng cho cảm giác xấu về màu sắc Màu đậm của nước thải cản trở sự hấp thụ oxy và ánh
Trang 8sáng mặt trời, gây bất lợi cho sự hô hấp, sinh trưởng của các loại thuỷ sinh vật Đối với con người, phẩm nhuộm có thể gây ra các bệnh về da, đường hô hấp, phổi Ngoài ra, một số phẩm nhuộm hoặc chất chuyển hoá của chúng rất độc hại có thể gây ung thư (như phẩm nhuộm Benzidin, Sudan) [31] Các phương pháp hóa lý truyền thống để xử lý phẩm nhuộm có trong nước thải là sự đông tụ và sự kết bông [33], oxi hóa hoặc ozon hóa [30] và hấp phụ [46]…
Một vài thập kỉ trước đây, việc chọn lựa, ứng dụng và sử dụng phẩm nhuộm không gây quan ngại lớn xét về tác động môi trường Ngay các thành phần hoá học của hơn phân nửa số phẩm nhuộm trong công nghiệp là không được biết Từ những năm 80 của thế kỉ trước con người đã bắt đầu đề cập đến nước thải phẩm nhuộm Trong một vài năm trở lại đây, các thông tin về tác động nguy hiểm đối với môi trường của nước thải phẩm nhuộm đã trở nên rõ ràng Vì thế, chính phủ, doanh nghiệp và người dân đã cùng nhau xử lí các nước thải chứa phẩm nhuộm Từ chỗ ban đầu không
có giới hạn lượng nước thải, việc xử lí nước thải phẩm nhuộm bắt đầu với một vài phương pháp sơ cấp như sa lắng, điều chỉnh để duy trì pH, chất rắn không hoà tan tổng (total dissolved solids, TDS) và chất rắn lơ lững tổng (total suspended solids, TSS) của nước thải ra Sau này, sự xử lí thứ cấp như dùng buồng lọc để phân huỷ sinh học và gần đây bùn hoạt tính cũng đã được đưa vào sử dụng
Thông thường các quá trình xử lí nước thải công nghiệp bao gồm các bước sau [16]:
i) Tiền xử lí: dòng nước thải công nghiệp trước khi đưa vào hệ thống cống trung tâm công nghiệp cần phải được xử lí bằng cách trung hoà, rồi trải qua xử lí sơ cấp, ở đây nước thải được loại bỏ các chất gây ô nhiễm Chất rắn lơ lững được loại bỏ bằng phương pháp hoá học hay vật lý
ii) Sau đó, nước thải được đưa vào xử lí thứ cấp, thường sử dụng phương pháp
vi sinh, trước hết vi khuẩn ổn định các cấu tử ô nhiễm
iii) Bước thứ ba là xử lí hoá lý: quá trình này bao gồm hấp phụ, trao đổi ion, oxi hoá hoá học, phân tách bằng màng Tất cả các phương pháp này đều đắt tiền hơn xử lí
vi sinh nhưng vẫn được sử dụng để loại bỏ những chất ô nhiễm không loại bỏ được bằng phương pháp vi sinh
iv) Cuối cùng xử lí các bùn thải
Trang 9Nước thải dệt nhuộm cũng được xử lí một cách tương tự Chưa có một phương pháp tiêu chuẩn nào để xử lí cho tất cả các loại nước thải
Cũng như việc xử lí ô nhiễm kim loại nặng, để xử lí nước thải có lẫn chất hữu
cơ khó phân huỷ nói chung phương pháp hấp phụ là một trong những phương pháp được sử dụng nhiều trong thực tế do giá thành rẻ và hiệu năng cao của phương pháp này Cùng một nỗ lực như vậy, chúng tôi nghiên cứu biến tính bùn đỏ bằng axit và nhiệt nhằm tăng cường hoạt tính hấp phụ để hấp phụ xanh metylen trong môi trường nước
1.4 Sự ô nhiễm môi trường bởi các kim loại nặng
Hiện nay, sự ô nhiễm kim loại nặng là một trong những vấn đề ô nhiễm phổ biến gây nguy hiểm cho sức khỏe con người và hệ sinh thái Xử lý ô nhiễm kim loại nặng trong đất và trong nước thải đã trở thành chủ đề nóng của khoa học môi trường
và công nghệ Cd, Cu, Pb, Hg, Ni và Zn được Cơ Quan Bảo Vệ Môi Trường US xem như là các kim loại nguy hiểm nhất trong các chất ô nhiễm [35] Nguồn gốc phát thải của kim loại nặng có thể là tự nhiên ( như asen As), hoặc từ hoạt động của con người, chủ yếu là từ công nghiệp (các chất thải công nghiệp) và từ nông nghiệp, hàng hải (các chế phẩm phục vụ nông nghiệp, hàng hải ) Các kim loại nặng như Cd, Ni và Pb là những kim loại nặng thường được phát hiện trong các nhánh sông ở các khu công nghiệp Cd được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp như hợp kim, mạ kim loại, khai mỏ, gốm và một số ngành công nghiệp khác Nhiều bệnh như: chức năng thận, tăng huyết áp, tổn hại gan, ảnh hưởng phổi và gây quái thai có thể là kết quả của nhiễm độc Cd Ô nhiễm Pb do kết quả của công nghiệp dệt nhuộm, công nghiệp gốm và thuỷ tinh, công nghiệp lọc dầu, sản xuất pin, sản xuất và khai thác mỏ Nhiễm Pb có thể gây ra các bệnh rối loạn tâm thần, chậm phát triển và ảnh hưởng đến não
Các kim loại nặng có mặt trong nước, đất qua nhiều giai đoạn khác nhau và cuối cùng đi vào chuỗi thức ăn của con người Khi đã nhiễm vào cơ thể, kim loại nặng
có thể tích tụ lại trong các mô Đồng thời với quá trình đó cơ thể lại đào thải dần kim loại nặng Nhưng các nghiên cứu cho thấy tốc độ tích tụ kim loại nặng thường nhanh hơn tốc độ đào thải rất nhiều
Một số công nghệ như: trao đổi ion, kết tủa, hấp phụ, phương pháp màng, thẩm thấu ngược, đóng cặn, thẩm tách… đã được sử dụng để xử lý nguồn nước thải chứa
Trang 10các ion kim loại nặng [35] Với sự gia tăng tình trạng ô nhiễm môi trường, một yêu cầu được đặt ra là phát triển chất hấp phụ mới để tách các ion kim loại nặng ra khỏi môi trường nước với năng suất hấp phụ cao hơn và giá thành thấp hơn so với các phương pháp thương mại có thể dùng
Do đó, việc nghiên cứu xử lí nước thải bằng các loại vật liệu có giá thành thấp
và hiệu quả cao là thách thức đối với các nhà khoa học Trong đề tài này, chúng tôi nghiên cứu sử dụng bùn đỏ (một sản phẩm thải từ các nhà máy alumina ở Tây Nguyên, Việt Nam) để hấp phụ ion Pb2+ trong dung dịch nước
1.5 Giới thiệu hệ oxi hóa Fenton
Hệ oxi hóa Fenton đồng thể, bao gồm hydroperoxit trong sự có mặt của ion Fe(III), đã được sử dụng như một nguồn các gốc oxi hóa mạnh [32]:
có độ ổn định cao và cho phép sử dụng hữu hiệu hydroperoxit vì giá thành tương đối cao của nó
Nhiều báo cáo đã sử dụng các vật liệu vô cơ và hữu cơ khác nhau để hỗ trợ cho việc gắn các dạng ion sắt hoạt tính trong quá trình Fenton dị thể, như carbon [21],
Trang 11kaolin [17], MCM-41 [23], SBA-15 [32], Hạt nano oxit sắt cũng được sử dụng làm xúc tác trong các hệ Fenton dị thể đối với quá trình làm giảm màu và khoáng hóa nhiều loại phẩm nhuộm hay các chất hữu cơ khác nhau [15, 26]
Bùn đỏ Lâm Đồng với các hạt kích thước cỡ nano và thành phần chính là sắt oxit hứa hẹn sẽ là một hệ Fenton dị thể hữu hiệu Các thuộc tính của bùn đỏ như hàm lượng sắt tồn tại dưới dạng oxit sắt (Fe2O3) cao, diện tích bề mặt cao, và giá thành thấp làm cho nó trở thành một chất xúc tác tiềm năng, hấp dẫn cho nhiều phản ứng [41]
Trong đề tài này, bùn đỏ đã hoạt hóa được sử dụng làm chất xúc tác trong phản ứng Fenton dị thể để phân hủy xanh metylen Động học phản ứng xúc tác oxi hóa ướt xanh metylen bằng hydroperoxit được khảo sát theo phương pháp tốc độ đầu
1.6 Giới thiệu về xanh metylen
Xanh metylen (Methylene blue, C16H18ClN3S.3H2O), kí hiệu MB, là loại phẩm nhuộm được sử dụng trong công nghệ nhuộm và cũng là cấu tử gây ô nhiễm trong nước thải dệt nhuộm Khi thải ra môi trường nước một lượng lớn với nồng độ xấp xỉ 1 ppm thì sẽ làm cho nước có màu xanh rất bẩn làm hạn chế khả năng quang hợp của các loài thủy sinh dẫn đến đe dọa hệ thủy sinh
Ở dạng rắn, xanh metylen là các tinh thể màu xanh lá cây thẫm có ánh đồng đỏ hoặc là bột nhỏ màu xanh lá cây thẫm Khó tan trong nước lạnh và rượu etylic Khi đun nóng thì tan dễ hơn Các dung dịch có màu xanh Không tan trong ete, benzen và clorofom Hoà tan trong H2SO4 đậm đặc cho dung dịch màu vàng nhạt-xanh lá cây mà khi pha loãng bằng nước thì chuyển sang xanh lam [1] Xanh metylen có kích thước phân tử khá lớn (>15 Å), công thức cấu tạo trình bày ở hình 1.4
Trang 12Phương trình đẳng nhiệt Langmuir có dạng:
1
m L e e
L e
q K C q
Lưu ý: g biểu diễn cho chất hấp phụ, mg biểu diễn cho chất bị hấp phụ
1.7.2 Mô hình Freundlich [19]
Mô hình đẳng nhiệt Freundlich dựa trên giả thiết cho rằng bề mặt chất hấp phụ
là không đồng nhất với các tâm hấp phụ về số lượng và năng lượng hấp phụ
Phương trình đẳng nhiệt Freundlich có dạng:
1/ n
Ở đây, n là hệ số dị thể và K F là hằng số Freundlich (mg(1-1/n).L1/n.g-1) n và K F phụ
thuộc nhiệt độ n có thể xem là thông số đặc trưng cho hệ dị thể n thường lớn hơn đơn
vị, khi giá trị của nó càng lớn thì quá trình hấp phụ càng trở nên không tuyến tính và
hệ càng trở nên phức tạp
1.7.3 Mô hình Sips [20]
Theo phương trình Freundlich (1.2) ta thấy khi nồng độ tăng thì lượng chất hấp phụ càng tăng, điều này sẽ không hợp lí khi nồng độ của dung dịch quá cao Do đó, Sips đã đưa ra một phương trình tương tự phương trình Freundlich, nhưng có giới hạn hạn chế khi nồng độ quá cao:
1/
1/
1
S S
Trang 13CHƯƠNG 2 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ
Nghiên cứu hấp phụ xanh metylen trong môi trường nước của bùn đỏ
Nghiên cứu phản ứng oxi hoá xanh metylen bằng H2O2 với bùn đỏ làm chất xúc tác
Nghiên cứu hấp phụ ion Pb(II) trong dung dịch nước bằng bùn đỏ
2.2 Phương pháp nghiên cứu và thực nghiệm
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1.1 Nhiễu xạ tia X (X-Ray Diffraction, XRD) [6]
Theo lí thuyết cấu tạo tinh thể, mạng tinh thể được xây dựng từ các nguyên tử hay ion phân bố điều trong không gian theo một trật tự nhất định Khi chùm tia X tới
bề mặt tinh thể và đi sâu vào bên trong mạng lưới tinh thể thì mạng lưới này đóng vai trò như một cách tử nhiễu xạ đặc biệt Các nguyên tử, ion bị kích thích bởi chùm tia X
sẽ thành các tâm phát ra các tia phản xạ Hình 2.1 miêu tả mối liên hệ giữa khoảng
cách hai mặt song song (dkhông gian)
Hình 2.1 Sơ đồ tia tới và tia phản xạ trên mạng tinh thể
Trang 14Mối liên hệ giữa độ dài khoảng cách hai mặt phẳng song song (d), góc giữa chùm tia X với mặt phản xạ () và bước sóng () được biểu thị bằng phương trình Vulf-Bragg:
2d hkl sin = n (2.1) Phương trình Vulf-Bragg là phương trình cơ bản để nghiên cứu cấu trúc tinh
thể Căn cứ vào cực đại nhiễu xạ trên giản đồ (giá trị 2 ) có thể suy ra d theo công thức trên Ứng với mỗi hệ kết tinh cụ thể sẽ cho một bộ các giá trị d phản xạ ở các góc
quét khác nhau xác định
Trong đề tài này, thành phần khoáng và pha tinh thể của các mẫu bùn đỏ phân tích bằng phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD) được ghi bằng máy 8D Advance Bruker (Đức) dùng tia bức xạ CuK ở vùng quét góc 2 từ 10 – 70o
2.2.1.2 Hiển vi điện tử quét và phân tích năng lượng tán xạ tia X [6]
Người ta sử dụng chùm tia điện tử để tạo ảnh mẫu nghiên cứu Ảnh đó đến màn huỳnh quang có thể đạt độ phóng đại theo yêu cầu Chùm tia điện tử được tạo ra từ catot (súng điện tử) qua 2 tụ quang điện tử sẽ được hội tụ lên mẫu nghiên cứu Khi chùm điện tử đập vào mẫu nghiên cứu sẽ phát ra các chùm điện tử phản xạ và điện tử truyền qua Các điện tử phản xạ và truyền qua này được đi qua điện thế gia tốc vào phần thu và biến đổi thành tín hiệu ánh sáng, tín hiệu được khuếch đại đưa vào mạng lưới điều khiển tạo độ sáng trên màn ảnh Mỗi điểm trên mẫu cho một điểm tương ứng trên màn ảnh Độ sáng tối trên màn ảnh phụ thuộc vào lượng điện tử phát ra tới bộ thu và phụ thuộc vào hình dạng mẫu nghiên cứu
Phổ tán xạ tia X (Energy Dispersive X-ray, EDX) được sử dụng kết hợp với hiển vi điện tử quét (Scanning Electron Microscopy, SEM) để phân tích vi cấu trúc cung cấp thông tin về thành phần các nguyên tố của điểm đang quan sát SEM Kỹ thuật này không phá hủy mẫu và có độ nhạy 0,1% đối với các nguyên tố nặng hơn C Người ta đặt mẫu dưới chùm tia electron, chùm tia electron này sẽ kích thích những nguyên tử ở trong mẫu làm cho mẫu phát ra tia X để giải phóng năng lượng dư Chính năng lượng của tia X là đặc trưng của nguyên tử phát ra nó dẫn đến sự hình thành một pic trên phổ đồ EDX
Trong đề tài này, hình thái của bùn đỏ quan sát bằng phương pháp hiển vi điện
tử quét (SEM) được ghi trên máy SEM IMS-NKL (Nhật) và phổ EDX được ghi trên máy JED-2300 JEOL
Trang 152.2.1.3 Hiển vi điện tử truyền qua [6]
Thiết bị hiển vi điện tử truyền qua (Transmission Electron Microscopy, TEM) chủ yếu bao gồm một cột kín được hút chân không gần 10-3 mmHg hoặc cao hơn, chứa nguồn electron và tổ hợp thấu kính hội tụ, kính vật và kính phóng Chùm tia electron được tạo ra từ catot qua hai tụ quang electron sẽ hội tụ lên mẫu nghiên cứu Khi chùm electron đập vào mẫu, một phần chùm electron sẽ truyền qua Các electron truyền qua này được đi qua điện thế gia tốc vào phần thu và biến đổi thành một tín hiệu ánh sáng, tín hiệu được khuếch đại đưa vào mạng lưới điều khiển tạo độ sáng trên màn ảnh Độ sáng tối trên màn ảnh phụ thuộc vào lượng electron phát ra tới bộ thu và phụ thuộc vào hình dạng mẫu nghiên cứu
Trong đề tài này, kích thước hạt của bùn đỏ quan sát bằng phương pháp hiển vi điện tử truyền qua (TEM) được ghi trên máy EMLab-NIHE
2.2.1.4 Đẳng nhiệt hấp phụ - khử hấp phụ nitơ [7]
Lượng khí bị hấp phụ được biểu diễn thông qua thể tích V là đại lượng đặc trưng cho số phân tử bị hấp phụ Nó phụ thuộc vào áp suất cân bằng P, nhiệt độ, bản chất của chất khí và bản chất của vật liệu rắn V là một hàm đồng biến với áp suất cân
bằng Khi áp suất tăng đến áp suất hơi bão hòa của chất khí bị hấp phụ tại một nhiệt độ
đã cho thì mối quan hệ giữa V - P được gọi là đẳng nhiệt hấp phụ Khi áp suất đạt đến
áp suất hơi bão hòa P o, người ta đo các giá trị thể tích khí hấp phụ ở các áp suất tương
đối (P/P o) giảm dần và nhận được đường “đẳng nhiệt khử hấp phụ” Đối với vật liệu
có mao quản, đường đẳng nhiệt hấp phụ - khử hấp phụ không trùng nhau, được gọi là hiện tượng trễ Từ hiện tượng trễ đó, người ta xác định được dạng mao quản của vật liệu Các nhà khoa học đã phân loại các đường đẳng nhiệt hấp phụ - khử hấp phụ và đã được quy định chuẩn hóa bởi IUPAC
Từ lượng khí bị hấp phụ ở các áp suất tương đối khác nhau Brunauer, Emmett
và Teller đã thiết lập ra phương trình BET, được áp dụng để xác định diện tích bề mặt
riêng của các loại vật liệu
Phương trình BET được biểu diễn như sau:
Trang 16P o: áp suất hơi bão hòa của chất khí bị hấp phụ ở nhiệt độ thực nghiệm
hằng số C
Hình 2.2 Đồ thị biểu diễn sự biến thiên của P/[V(P o – P)] theo P/P o
Trong trường hợp hấp phụ N2 ở 77 K, tiết diện ngang của một phân tử nitơ chiếm chỗ trên bề mặt chất hấp phụ là 0,162 nm2 Nếu V m biểu diễn qua đơn vị cm3/g
thì diện tích bề mặt riêng S BET (m2/g) của chất hấp phụ được tính theo phương trình:
Trang 17pha (bay hơi, nóng chảy,…) thì sự biến đổi này bị gián đoạn hoặc đột ngột Các quá trình biến đổi này có thể ghi nhận bằng phương pháp phân tích nhiệt
Phép phân tích nhiệt bao gồm nhiều phương pháp khác nhau Ở đây chúng tôi chỉ sử dụng phương pháp TG (Thermogravimetry) để đo sự biến đổi khối lượng khi gia nhiệt và phép phân tích nhiệt vi sai quét (Differential Thermal Analysis, DTA) xác định sự biến đổi của nhiệt lượng truyền qua mẫu Trong đề tài này, phép phân tích nhiệt được thực hiện trên máy TG/DTA trong môi trường không khí với tốc độ gia nhiệt 10oC/phút
2.2.1.6 Phương pháp huỳnh quang tia X (X-ray fluorescence, XRF) [9, 12]
Khi chùm tia X sơ cấp được chiếu vào mẫu phân tích, nguyên tố có trong mẫu
bị kích thích và phát ra các tia đặc trưng Chùm tia X thứ cấp này đi qua tinh thể phân tích, phát ra tia nhiễu xạ đi đến phim ảnh, ghi lại ảnh nhiễu xạ tia X Thiết bị này gọi là phổ kế huỳnh quang tia X tán sắc chiều dài sóng
Theo phương trình Bragg: n = 2d.sin
vì khoảng cách d giữa các mặt của tinh thể phân tích đã biết, góc đo được trên máy cho nên có thể tính được chiều dài sóng của các nguyên tố mẫu phát ra
Để phân tích nguyên tố cần chụp phổ huỳnh quang tia X mẫu chất, sau đó đối chiếu các vạch có cường độ K (ghi phổ với góc trượt 2 từ 10o đến 140o) trước, sau
đó xem thêm các vạch có cường độ yếu với phổ chuẩn của các nguyên tố tinh khiết
Trong đề tài này, phương pháp huỳnh quang tia X thực hiện trên máy Spectro X-Lab (Italy) được sử dụng để xác định thành phần hoá học của bùn đỏ
2.2.1.7 Phổ hấp thụ nguyên tử [10]
Trong điều kiện bình thường nguyên tử không thu và cũng không phát ra năng lượng dưới dạng các bức xạ, nghĩa là, nguyên tử tồn tại ở trạng thái cơ bản Đó là trạng thái bền vững và năng lượng của nguyên tử nhận giá trị thấp nhất Nhưng khi nguyên
tử ở trạng thái hơi, nếu ta chiếu một chùm tia sáng có những bước sóng (tần số) xác định vào đám hơi nguyên tử đó, thì các nguyên tử tự do đó sẽ hấp thụ các bức xạ có bước sóng nhất định ứng đúng với những tia bức xạ mà nó có thể phát ra được trong quá trình phát xạ của nó Lúc này nguyên tử đã nhận năng lượng của các tia bức xạ chiếu vào nó và nó chuyển lên trạng thái kích thích có năng lượng cao hơn trạng thái
cơ bản Đó là tính chất đặc trưng của nguyên tử ở trạng thái hơi Quá trình đó được gọi
Trang 18là quá trình hấp thụ năng lượng của nguyên tử tự do ở trạng thái hơi và tạo ra phổ nguyên tử của nguyên tố đó Phổ sinh ra trong quá trình này được gọi là phổ hấp thụ nguyên tử (Atomic Absorption Spectroscopy, AAS)
Cơ sở phân tích định lượng dựa vào phổ hấp thụ nguyên tử là đo cường độ ở giá trị tần số xác định đối với loại nguyên tố cần đo với giả định cường độ hấp thụ tỉ lệ với nồng độ nguyên tử Giá trị cường độ tương đối chuẩn tương đương được sử dụng để xác định hàm lượng nguyên tố
Trong đề tài này, phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) được sử dụng để xác định nồng
độ ion Pb(II) trong dung dịch nước bằng máy Shimadzu AA-6800 (Singapore) theo phương pháp SMEWW 3500 : 2005
2.2.1.8 Phổ tử ngoại và khả kiến [10]
Phương pháp phổ tử ngoại và khả kiến, viết tắt là UV-Vis (Utraviolet-Visible),
có ý nghĩa quan trọng trong lĩnh vực phân tích định tính, phân tích cấu trúc phân tử và phân tích định lượng Nguyên tắc của phương pháp phân tích định lượng là dựa vào mối quan hệ giữa mật độ quang và nồng độ dung dịch theo định luật Lambert-Beer
Định luật Lambert-Beer:
Khi chiếu một chùm tia sáng đơn sắc đi qua một môi trường vật chất thì cường
độ của tia sáng ban đầu (Io) sẽ bị giảm đi chỉ còn là I (hình 2.3)
I được gọi là % truyền qua (Transmittance)
Trang 19o λ
Phương trình (2.4) là biểu thức toán học của định luật Lambert-Beer
Định luật Lambert-Beer là cơ sở cho phép phân tích định lượng được gọi là phương pháp trắc quang Trong phân tích định lượng bằng phương pháp trắc quang người ta phải chọn một bước sóng nhất định, đối với một chất xác định tại một bước sóng xác định thì là một hằng số, một chiều dày cuvet d nhất định và lập phương trình phụ thuộc của mật độ quang D vào nồng độ C:
Ưu điểm của phương pháp tử ngoại và khả kiến trong phân tích định lượng là
có độ nhạy cao, có thể phát hiện được một lượng nhỏ chất hữu cơ hoặc ion vô cơ trong dung dịch (đến 10-7M), sai số tương đối nhỏ (chỉ 1-3%)
Trong đề tài này, phương pháp phổ tử ngoại và khả kiến được sử dụng để xác định hàm lượng xanh metylen trong dung dịch nước và được thực hiện trên máy UVD-
Trang 20Ngoài ra, bột bùn đỏ thô cũng được xử lý bằng cách rửa 2 lần với axit HCl (0,1 mol/L trong 4 giờ với tỉ lệ 1:25 (g/mL) về khối lượng bùn đỏ/thể tích dung dịch), cuối cùng bùn đỏ được rửa với nước cất và sấy khô ở 105oC ta thu được bùn đỏ đã được axit hoá (kí hiệu: BĐA) Sau đó, mẫu BĐA được nung ở 500 và 700oC trong 4 giờ, kí hiệu tương ứng là BĐA-500 và BĐA-700
Giá trị pH của bùn đỏ được đo lường theo phương pháp mô tả trong tài liệu [40] Đầu tiên bột bùn đỏ được khuấy mạnh với nước cất trong 5 phút, sau đó để lắng trong 15 phút rồi tiến hành đo pH bằng máy pH meter F-51 (Horiba, Nhật) Giá trị pH của bùn đỏ được đo ở các tỉ lệ rắn/dung dịch khác nhau từ 1:1 đến 1:200 (5 – 1000 g/L)
Các hoá chất sử dụng chủ yếu trong đề tài này được trình bày ở bảng 2.1
Bảng 2.1 Các loại hóa chất sử dụng chính trong đề tài
1 Methylene blue (MB): C16H18ClN3S.3H2O QuangZou, Trung Quốc
6 Sodium acetate anhydrous: CH3COONa (Ac-) QuangZou, Trung Quốc
7 Sodium oxalate: Na2C2O4 (Ox2-) QuangZou, Trung Quốc
8 Trisodium citrate dihydrate: C6H5Na3O7.2H2O
9 Ethylenediamine tetraacetic acid disodium salt:
C10H14N2O8Na2.2H2O (EDTA) QuangZou, Trung Quốc
2.2.2.2 Khảo sát hoạt tính hấp phụ của bùn đỏ
Quá trình hấp phụ ion Pb(II) hay xanh metylen trong dung dịch nước của bùn
đỏ được tiến hành trong bình cầu hai cổ (dung tích 250 mL) có gắn sinh hàn hồi lưu và đặt trên máy khuấy từ điều nhiệt (Heidolph MR Hei-Tec, Đức) (xem hình 2.4)
Trang 21Dung lượng hấp phụ q t (mg ion Pb(II) hay xanh metylen/g chất hấp phụ) được tính theo công thức:
Trong đó: C o và C t (mg/L) là nồng độ ion Pb(II) hay xanh metylen ở thời điểm
ban đầu và thời điểm t; V (L) và m (g) lần lượt là thể tích dung dịch có chứa ion Pb(II)
hay xanh metylen và khối lượng bùn đỏ dùng cho mỗi lần hấp phụ Giá trị dung lượng
hấp phụ cân bằng (q e ) được tính như q t ở thời điểm cân bằng
4
5
6
3 2
Các điều kiện nghiên cứu đẳng nhiệt bao gồm nồng độ ban đầu, nhiệt độ hấp phụ, khối lượng chất hấp phụ, thời gian khuấy, pH của dung dịch xanh metylen được trình bày ở bảng 2.2 và 2.3
Trang 22Bảng 2.2 Điều kiện nghiên cứu đẳng nhiệt hấp phụ xanh metylen trên bùn đỏ khi thay
đổi nồng độ dung dịch xanh metylen ban đầu
MB (mL)
pH của dung dịch
MB
Khối lượng chất hấp phụ (g)
Thời gian khuấy (h)
Nhiệt độ (oC)
MB
Khối lượng chất hấp phụ (g)
Thời gian khuấy (h)
Nhiệt độ (oC)
Nồng độ
MB cân bằng (Ce, mg/L)
Trang 23b) Hấp phụ ion Pb(II)
- Ảnh hưởng của pH đến hiệu suất hấp phụ ion Pb(II) của bùn đỏ được thực hiện bằng cách lấy 100 mL dung dịch Pb(II) có nồng độ xác định, giá trị pH của dung dịch được điều chỉnh bằng HCl 0,1 M hay NaOH 0,1 M, thêm vào 0,2 g bùn đỏ, rồi tiến hành khuấy từ với tốc độ 500 vòng/phút từ trong 3 giờ ở 30oC Sau đó lấy một ít dung dịch li tâm (3000 vòng/phút, 10 phút) và lọc để loại bỏ chất hấp phụ Nồng độ ion Pb(II) còn lại được xác định bằng phương pháp AAS
- Đẳng nhiệt hấp phụ ion Pb(II) trong dung dịch nước của bùn đỏ được thực hiện ở 30oC Lấy 0,2 g bùn đỏ cho vào bình phản ứng có chứa 100 mL dung dịch ion Pb(II) ở các nồng độ khác nhau (pH dung dịch bằng 4), tiến hành khuấy từ với tốc độ
500 vòng/phút trong 3 giờ để đạt được cân bằng hấp phụ Sau đó li tâm (3000 vòng/phút, 10 phút), lọc, lấy dung dịch đem xác định hàm lượng Pb(II) còn lại
- Ảnh hưởng của một số anion đến hiệu suất hấp phụ Pb(II) của bùn đỏ: Lấy 50
mL dung dịch Pb(II) có nồng độ 80,4 mg/L thêm vào 50 mL dung dịch có nồng độ 0,1 mol/L của một trong các chất sau, bao gồm EDTA, NO3-, Cit3-, Ac-, Ox2-, hoặc 50 mL nước cất Sau đó điều chỉnh dung dịch đến pH bằng 4 rồi thêm vào 0,2 g bùn đỏ, khuấy từ (tốc độ 500 vòng/phút trong 3 giờ ở nhiệt độ 30oC), li tâm, lọc, lấy dung dịch xác định hàm lượng Pb(II) còn lại
- Quá trình hoàn nguyên bùn đỏ: Bùn đỏ sau khi hấp phụ Pb(II) được thu hồi và sấy khô, sau đó ngâm trong HNO3 0,1 mol/L trong 4 giờ với tỉ lệ 1:25 (g/mL) về khối lượng bùn đỏ/thể tích dung dịch, cuối cùng bùn đỏ được rửa với nước cất và sấy khô ở
105oC ta thu được bùn đỏ đã hoàn nguyên Bùn đỏ sau khi hoàn nguyên được tái sử dụng để hấp phụ Pb(II) và được kiểm tra bằng phương pháp EDX
2.2.2.3 Khảo sát hoạt tính xúc tác
Hoạt tính xúc tác của mẫu BĐA-700 được khảo sát đối với phản ứng oxi hóa xanh metylen (MB) trong dung dịch nước bằng hydroperoxit ở nhiệt độ 30oC trong bình cầu hai cổ dung tích 500 mL 0,1 g xúc tác được khuấy trộn với 100 mL dung dịch MB có nồng độ, pH xác định (pH được điều chỉnh bằng dung dịch HCl 0,2M hoặc NaOH 0,2M) và một hàm lượng hydroperoxit nhất định Sau mỗi khoảng thời gian xác định, 5 mL dung dịch được lấy ra, li tâm để loại bỏ chất xúc tác, nồng độ của
MB còn lại trong dung dịch được xác định bằng phương pháp UV-Vis trên máy
UVD-3000 (Labomed, Mỹ)
Trang 24Khả năng hoàn nguyên của chất xúc tác cũng được khảo sát bằng cách thu hồi mẫu BĐA-700 sau khi đã tham gia xúc tác, rồi tiến hành nung ở 700oC trong 4 giờ để hoạt hóa lại, sản phẩm kí hiệu là BĐA-700(r)
Hiệu suất phân hủy MB được đánh giá thông qua tỉ lệ (với Ct là nồng độ của MB trong dung dịch tại thời điểm t, và Co là nồng độ của MB tại thời điểm ban đầu) Tỉ lệ Ct/Co càng thấp thì hiệu suất phân hủy MB càng cao, và ngược lại
Trang 25CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Một số đặc trưng hoá lý của bùn đỏ Lâm Đồng
Hình 3.1 trình bày giá trị pH của bùn đỏ Lâm Đồng ở các tỉ lệ rắn/dung dịch khác nhau Ta thấy giá trị pH của mẫu BĐL nằm trong khoảng 10,02 – 11,78 ở các tỉ
lệ rắn/dung dịch khác nhau từ 5 g/L đến 1000 g/L pH tăng khi tỉ lệ rắn/dung dịch tăng
và thay đổi không đáng kể ở tỉ lệ >1:2 (500 g/L) Kết quả này cho thấy giá trị pH của bùn đỏ Lâm Đồng cũng tương đồng với các mẫu bùn đỏ khác trên thế giới Giá trị pH của các mẫu bùn đỏ khác nhau thường nằm trong khoảng 10 – 12,5 [44] Việc axit hoá làm cho pH của mẫu BĐA giảm đáng kể và gần như không thay đổi ở các tỉ lệ rắn/dung dịch nằm trong khoảng từ 5 g/L đến 1000 g/L, với giá trị pH trung bình là
8,49 (sai số chuẩn SE = 0,03)
0 100 200 300 400 500 600 700 800 900 1000 8.0
8.5 9.0 9.5 10.0 10.5 11.0 11.5 12.0
Hình 3.1 Giá trị pH của mẫu BĐL và BĐA ở các tỉ lệ rắn/dung dịch khác nhau
Giản đồ XRD của các mẫu bùn đỏ được chỉ ra ở hình 3.2 Các pha khoáng xác định được trong bùn đỏ Lâm Đồng (mẫu BĐL) được chỉ ra ở hình 3.2.a là hematit (Fe2O3), Fe2TiO5, goethit (FeO(OH)) và silic oxit (SiO2) Các pha khoáng xác định được trong mẫu BĐA (hình 3.2.a) là hematit (Fe2O3) và cristobalit (SiO2) Tương tự mẫu BĐA, mẫu BĐN-200 cũng quan sát thấy có hai pha khoáng là hematit và cristobalit (hình 3.2.c) Việc xử lý ở nhiệt độ cao (500 – 1000oC) làm cho các hạt bùn
đỏ kết tinh lại, và do đó, pic nhiễu xạ đặc trưng cho cấu trúc tinh thể rõ ràng hơn (hình 3.2.b và c) Nhiễu xạ XRD của mẫu BĐA-500, BĐA-700, BĐN-600 và BĐN-1000 chỉ
Trang 26quan sát thấy có pha tinh thể hematit trong mẫu, điều đó cũng chứng tỏ thành phần khoáng chủ yếu của bùn đỏ Lâm Đồng là sắt oxit
(a)
B§A B§L
2
2 2 2 2
2 1 1 11
là nhôm oxit Điều này chứng tỏ qui trình tinh luyện nhôm ở nhà máy alumina Tân Rai (Bảo Lâm, Lâm Đồng) rất hiệu quả, các khoáng chất của nhôm đã được phân tách gần như hoàn toàn
Bảng 3.1 Thành phần hóa học của bùn đỏ Lâm Đồng (Việt Nam) và một số bùn đỏ
Bùn đỏ Aughinish,
Ireland
Bùn đỏ Jamaica
Bùn đỏ Thổ Nhĩ Kỳ
MKN: mất khi nung (MKN của bùn đỏ Lâm Đồng được phân tích bằng phương pháp
mất trọng lượng khi nung đến 800 o C)