Tính mới và sáng tạo Đề tài: “Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị vào nâng cao chất lượng thực hiện dân chủ ở cơ sở tỉnh Bình Dương 2011-2015”, nghiên cứu Tư tưởng H
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA SỬ -
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA
CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2016 - 2017
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ TRONG CHÍNH TRỊ VÀO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TỈNH BÌNH DƯƠNG (2011-2015)
Bình Dương, tháng 4/2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA SỬ -
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA
CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2016 - 2017
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ
TRONG CHÍNH TRỊ VÀO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TỈNH BÌNH DƯƠNG (2011-2015)
Sinh viên thực hiện: Lê Minh Chiến Nam/Nữ: Nam
Dân tộc: Kinh
Lớp, khoa: D14LSD – Sử Năm thứ: 3 /Số năm đào tạo: 4Ngành học: Sư phạm Lịch sử
Người hướng dẫn: ThS, NCS Phạm Hồng Kiên
UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung
Tên đề tài: Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị vào nâng cao chất lượng thực hiện dân chủ ở cơ sở tỉnh Bình Dương (2011-2015)
Sinh viên thực hiện:
năm đào tạo
Người hướng dẫn: ThS, NCS Phạm Hồng Kiên
2 Mục tiêu đề tài
Đề tài tìm hiểu hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về dân chủ trong lĩnh vựcchính trị, chủ trương và quá trình thực hiện dân chủ cơ sở ở tỉnh Bình Dương Đồngthời, phân tích những nhân tố tác động đến quá trình thực hiện quyền làm chủ củangười dân tỉnh Bình Dương thông qua Quy chế dân chủ cơ sở Từ đó, đề xuất một sốgiải pháp nhằm nâng cao ý thức thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở tỉnh Bình Dương dướiánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
3 Tính mới và sáng tạo
Đề tài: “Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị vào nâng
cao chất lượng thực hiện dân chủ ở cơ sở tỉnh Bình Dương (2011-2015)”, nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị và tỉnh Bình Dương vận dụng tưtưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ vào thựchiện quyền làm chủ của nhân dân ở cấp cơ sở; Đồng thời, đánh giá thực trạng thựchiện quyền làm chủ của người dân tỉnh Bình Dương thông qua việc thực hiện Quy chếdân chủ cơ sở, từ đó đề ra những giải pháp nâng cao thực hiện quyền dân chủ thôngqua lăng kính Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị
Trang 44 Kết quả nghiên cứu
Đề tài tập trung làm rõ:
- Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị bao gồm:Quan niệm Hồ Chí Minh về quyền lực, địa vị và trách nhiệm của nhân dân trong xãhội; về một Nhà nước dân chủ pháp quyền của nhân dân, do dân nhân và vì nhân dân;
về phát huy vai trò của quần chúng nhân dân
- Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng vào thực hiện dân chủ
ở cấp cơ sở tỉnh Bình Dương (2011-2015) bao gồm: Quan điểm của Đảng và chủtrương của Đảng bộ Bình Dương về thực hiện quyền làm chủ của nhân dân chủ ở cấp
cơ sở; Kết quả của việc thực hiện dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn tỉnh BìnhDương (2011-2015)
- Đánh giá những thành tựu và hạn chế của việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở
ở địa bàn tỉnh Bình Dương trong giai đoạn (2011-2015) Nhận định những nhân tốthuận lợi và khó khăn trong việc tiếp tục thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở tỉnh BìnhDương và đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao ý thức thực hiện quyền làm chủcủa người dân cấp cơ sở ở Bình Dương theo Tư tưởng Hồ Chí Minh
5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài
Đề tài: “Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị vào nâng
cao chất lượng thực hiện dân chủ ở cơ sở tỉnh Bình Dương (2011-2015)”
Khẳng định những giá trị to lớn trong di sản Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
về vấn đề dân chủ đặc biệt trong lĩnh vực chính trị
Góp phần hệ thống hóa những quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật củaNhà nước về dân chủ ở cấp cơ sở và quan điểm chỉ đạo, cũng như quá trình tổ chứcthực hiện của Đảng bộ tỉnh Bình Dương Từ đó, góp phần xác định những cơ sở lýluận và thực tiễn cho Đảng bộ tỉnh Bình Dương nói chung và các cấp cơ sở xã,phường, thị trấn nói riêng trong việc nâng cao chất lượng thực hiện dân chủ ở cấp cơsở
Đề tài góp phần phục vụ quá trình học tập và nghiên cứu của sinh viên khi muốntìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân chủ trong chính trị và việc thực hiện dânchủ ở cấp cơ sở tỉnh Bình Dương (2011-2015)
Trang 56 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài
01 bài viết “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị vào
nâng cao ý thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân ở cấp cơ sở trong thời kỳ đổi
mới” Hội thảo khoa học cấp Trường “Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp đổi mới
và phát triển đất nước”, Đại học Thủ Dầu Một, 12/12/2016.
Thủ Dầu Một, ngày tháng năm 2017
Sinh viên thực hiện đề tài
Lê Minh Chiến
Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực
hiện đề tài:
Thủ Dầu Một, ngày tháng năm 2017
ThS Phạm Hồng Kiên
Trang 6UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: Lê Minh Chiến
Sinh ngày: 24 tháng 04 năm1996
Nơi sinh: Tây Ninh
Lớp: D14LSD Khóa: 2014 - 2018
Khoa:Sử
Địa chỉ liên hệ: Ấp Ninh Hiệp, xã Bàu Năng, huyện Dương Minh Châu, tỉnh TâyNinh
Điện thoại: 01693044293 Email: chienle96tayninh@gmail.com
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài 1
2 Lý do chọn đề tài 2
3 Mục tiêu đề tài 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Đối tượng nghiên cứu 4
6 Phạm vi nghiên cứu 4
NỘI DUNG 6
Chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ TRONG CHÍNH TRỊ 6
1.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về quyền lực, địa vị và trách nhiệm của nhân dân trong xã hội 6
1.2.Quan niệm của Hồ Chí Minh về Nhà nước dân chủ 8
1.2.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân và vì dân 8
1.2.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền 12
1.3 Quan niệm Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh phát huy vai trò của quần chúng nhân dân 16
Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CẤP CƠ SỞ TỈNH BÌNH DƯƠNG (2011-2015) 19
2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của cấp cơ sở 19
2.2 Thực hiện dân chủ cơ sở theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam 19
2.3 Chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bình Dương về thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở 24
2.3.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bình Dương về thực hiện dân chủ ở cơ sở 24
2.3.2 Kết quả đạt được 26
2.3.2.1 Về nhận thức của các cấp ủy Đảng và chính quyền cấp cơ sở 26
2.3.2.2 Về những nội dung được công khai 26
2.3.2.3 Về những nội dung nhân dân bàn và quyết định 28
2.3.2.4 Về hoạt động giám sát của Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát đầu tư của công đồng 29
2.3.2.5 Về nội dung nhân dân bàn tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định 30
Trang 82.3.2.6 Về công tác phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị
- xã hội ở cấp xã, phường, thị trấn trong thực hiện dân chủ ở cơ sở 31
Chương 3 NHẬN XÉT CHUNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TỈNH BÌNH DƯƠNG DƯỚI ÁNH SÁNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 32
3.1 Nhận xét chung 32
3.1.1 Những mặt đạt được 32
3.1.2 Một số tồn tại, hạn chế 34
3.2 Những nhân tố tác động đến thực hiện dân chủ ở cơ sở tỉnh Bình Dương 34
3.2.1 Nhân tố thuận lợi 34
3.2.2 Nhân tố khó khăn 37
3.3 Một số giải pháp nâng cao thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở tỉnh Bình Dương dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh 37
3.3.1 Tổ chức Đảng và Chính quyền cấp cơ sở phải tiếp tục đẩy mạnh việc thực hành dân chủ theo Tư tưởng Hồ Chí Minh 37
3.3.2 Nâng cao quyền làm chủ người dân bằng việc tham gia xây dựng bộ máy chính quyền cấp cơ sở 38
3.3.3 Nâng cao quyền làm chủ của người dân bằng việc thực hiện tốt các quy định của pháp luật về dân chủ ở cơ sở 40
3.3.4 Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở xã, phường, thị trấn 41
KẾT LUẬN 43
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài
Tác phẩm: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu mới – sự hình thành và
phát triển” của PGS.PTS Hoàng Văn Hảo xuất bản năm 1995: Trong tác phẩm của
mình tác giả có trình bày sự hình thành và phát triển Tư tưởng Hồ Chí Minh về xâydựng một nhà nước dân chủ pháp quyền, của dân, do dân và vì dân
Năm 2000, Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốcgia Hồ Chí Minh biên soạn sách Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh (hệ cao cấp lý luậnchính trị) nhằm phục vụ trong việc giảng dạy bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở cáctrường, gần đây nhất năm 2015 nhà xuất bản Chính trị Quốc gia tái bản có sửa chữaquyển giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh Cả trong hai quyển sách này đều có một phầnviết cho nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vìdân
Năm 2001 quyển sách của Nguyễn Tiến Phồn xuất bản với nhan đề “Dân chủ và
tập trung dân chủ: Lý luận và thực tiễn” Quyển sách tập hợp những chuyên luận
nghiên cứu của tác giả về dân chủ và tập trung dân chủ, tư tưởng Hồ Chí Minh về thựchiện dân chủ và nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động quản lý Nhà nước Vaitrò lãnh đạo chính trị của Đảng và chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân chủ - Phạm Hồng Chương, xuất bản năm
2004: trình bày lịch sử hình thành và phát triển của Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ;quan điểm cơ bản của Người về dân chủ; vấn đề hiện thực hóa Tư tưởng Hồ Chí Minh
và thực tiễn trong quyển “Quy chế thực hiện dân chủ cấp xã – Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn” Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; PGS.TS Nguyễn Cúc tập
trung làm sáng tỏ một số khía cạnh chủ yếu về lý luận và thực tiễn của việc thực hiên
1
Trang 10Quy chế dân chủ ở cở trong tình hình hiện nay của nước ta trong quyển “Thực hiện
Quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay Một số lý luận và thực tiễn” Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Trần Bạch Đằng: “Dân chủ ở cơ sở một
sức mạnh truyền thống của dân tộc Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 35 (12/2003), tác
giả khẳng định thực hiện dân chủ ở cơ sở là một khâu rất quan trọng nhằm hoàn thiện
cơ chế nhân dân làm chủ xã hội trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam Theo tác giả đâykhông những là một vấn đề mang ý nghĩa thời sự mà còn là một sự nối tiếp truyềnthống, phát huy sức mạnh của dân được hình thành trong lịch sử mấy nghìn năm đấutranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta
Báo cáo Tổng kết thi hành Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày20/04/2007 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa XI về thực hiện dân chủ ở xã,phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Bình Dương: Trình bày kết quả thực hiện Pháp lệnhdân chủ ở xã, phường, thị trấn, đánh giá chung tình hình thực hiện bao gồm nhữngthành tựu và hạn chế, những định hướng và nhiệm vụ trong thời gian tới nhằm tiếp tụcthực hiện tốt Pháp lệnh
Trong Di chúc để lại cho đời sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh có căn dặn: “Toàn
Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” Thực hiện Di chúc của Người, Đảng ta đã tiến hành một cuộc vận động
chính trị lớn, phát huy sức mạnh của nhân dân đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diệnđất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Quan điểm xuyên suốt quá trình cáchmạng nước ta là phát huy cao nhất là phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao độngtrên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Ngày nay, việc nghiên cứu Tư tưởng dân
chủ của Người càng trở nên cấp thiết, như cách nói của Người: “Đây là cái cần thiết
cho chúng ta” trong sự nghiệp đổi mới hôm nay.
2
Trang 11Trong giai đoạn hiện nay, khi các thế lực thù địch đang tìm mọi cách để xuyêntạc, chống phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta với các chiêu bài dânchủ, nhân quyền thì việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả các mặt củađời sống xã hội là hết sức cần thiết Đảng ta đã vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ ChíMinh về dân chủ trong việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở xã, phường, thị trấn.Đảng bộ tỉnh Bình Dương đã chỉ đạo tổ chức thực hiện quyền làm chủ của người dânthông qua thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở và đạt được một số thành tựu nổi bật,nhưng bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế cần khắc phục.
Trong khuôn khổ nghiên cứu khoa học sinh viên, đề tài góp phần hệ thống lại Tưtưởng Hồ Chí Minh về dân chủ đặc biệt trong lĩnh vực chính trị và thực trạng thựchiện quyền làm chủ của người dân thông qua Quy chế dân chủ cơ sở ở địa bàn tỉnhBình Dương, từ đó đề ra những giải pháp nâng cao thực hiện quyền làm chủ của người
dân dưới ánh sáng Tư tưởng của Người Bằng sự đam mê tôi chọn nội dung “Vận
dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ vào việc nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở tỉnh Bình Dương (2011-2015)” để thực hiện công trình nghiên
cứu khoa học sinh viên năm học 2016-2017
Do hạn chế về mặt thời gian, cũng như những hiểu biết của bản thân, công trìnhnghiên cứu này không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong nhận đượcnhững ý góp ý kiến của thầy cô, nhất là quý thầy cô trong Hội đồng khoa học Khoa Sử
và các bạn để tôi có thể hoàn thiện nội dung một cách tốt nhất
3 Mục tiêu đề tài
Đề tài: “Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị vào việc
nâng cao chất lượng thực hiện dân chủ ở cơ sở tỉnh Bình Dương (2011-2015)”,
nghiên cứu:
- Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề dân chủtrong chính trị, bao gồm:
quan niệm Hồ Chí Minh về quyền lực, địa vị và trách nhiệm của nhân dân trong xãhội; quan niệm của Hồ Chí Minh về một Nhà nước dân chủ pháp quyền của nhân dân,
do nhân dân và vì nhân dân; quan niệm Hồ Chí Minh về xây dựng một Đảng trongsạch, vững mạnh phát huy vai trò của quần chúng nhân dân
- Chủ trương và quá trình thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở tỉnh Bình Dương
(2011-2015) bao gồm: quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về thực hiện dân chủ cơ sở;chủ trương và quá trình thực hiện chủ ở cấp cơ sởcủa Đảng bộ Bình Dương; Kết quả
3
Trang 12của việc thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở xã, phường, thị trấn tỉnh Bình Dương, đánh giánhững thành tựu và hạn chế.
- Đánh giá những nhân tố thuận lợi và khó khăn trong việc đẩy mạnh thực hiện
dân chủ ở cấp cơ sở tỉnh Bình Dương trong giai đoạn tiếp theo và đề ra những giảipháp nâng cao thực hiện quyền làm chủ của người dân ở cơ sở tỉnh theo ánh sáng Tưtưởng Hồ Chí Minh
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử: Thông qua các tài liệu tiếp cận trình bày cơ sở lý luận vànội dung của Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị; những quan điểm củaĐảng và Nhà nước nói chung và chủ trương của Đảng bộ Bình Dương nói riêng về vấn
đề thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở; những thành tựu và hạn chế trong thực hiện nhữngchủ trương của Đảng, quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở xã, phường,thị trấn ở tỉnh Bình Dương trong giai đoạn (2011-2015)
- Phương pháp logic: Nghiên cứu quan điểm Hồ Chí Minh về dân chủ trong lĩnhvực chính trị và đánh giá kết quá kết quả thực hiện trong giai đoạn (2011-2015), từ đó
đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao thực hiện quyền làm chủ của người dân dướiánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Ngoài hai phương pháp nghiên cứu chính trên bài nghiên cứu còn sử dụng một sốphương pháp khác như: phân tích và tổng hợp; phương pháp hệ thống; phương phápquy nạp và diễn dịch; phương pháp so sánh
5 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: “Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân
chủ trong chính trị vào việc nâng cao chất lượng thực hiện dân chủ ở cơ sở tỉnh Bình Dương (2011-2015)”.
6 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt thời gian:
+ Giai đoạn (1920-1969): Nghiên cứu hệ thống những quan điểm của Chủ tịch
Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị
+ Giai đoạn (1986-2016): Nghiên cứu hệ thống quan điểm, chủ trương của ĐảngCộng sản Việt Nam và Nhà nước ta về vấn đề dân chủ ở cơ sở
+ Giai đoạn (2011-2015): Nghiên cứu chủ trương và quá trình thực hiện củaĐảng bộ tỉnh Bình Dương về vấn đề dân chủ ở cấp cơ sở
4
Trang 13- Về mặt không gian:
+ Đề tài tập trung nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trịgắn liền với những điều kiện lịch sử cụ thể gắn với Người
+ Tìm hiểu chủ trương của Đảng bộ Bình Dương về vấn đề thực hiện dân chủ ở
cơ sở và kết quả thực hiện trong giai đoạn (2011-2015), những giải pháp nâng cao thựchiện dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh, gắn liền với không gian là tỉnh BìnhDương
5
Trang 14NỘI DUNG Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ TRONG CHÍNH TRỊ
Hồ Chí Minh là một nhà dân chủ lớn của dân tộc Việt Nam từ thế kỉ XXđến nay Dưới sự lãnh đạo của Người, dân tộc Việt Nam từ thân phận là mộtnước thuộc địa nửa phong kiến đã đứng lên đấu tranh làm chủ đất nước, xã hội
và bản thân Hồ Chí Minh không chỉ xây dựng một hệ thống quan điểm dân chủ
mà còn ra sức thực hành dân chủ Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ là một hệthống hoàn chỉnh và bao quát trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như:chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…Trong đó, Tư tưởng Hồ Chí Minh về dânchủ trong chính trị là quan trọng nhất, nổi bật nhất
Dân chủ trong lĩnh vực chính trị thể hiện ở một số khía cạnh như: Hồ ChíMinh khẳng định quyền lực, địa vị của người dân trong xã hội, trong chế độ
chính trị: “dân là chủ” và khẳng định nghĩa vụ, trách nhiệm của nhân dân:
“dân làm chủ”; Nhiệm vụ “dân làm chủ”, trước hết phải thiết lập bộ máy nhà
nước “của dân, do dân, vì dân”, nhân dân thực hiện quyền làm chủ xã hội
thông qua cơ quan Nhà nước do nhân dân bầu ra hoặc trực tiếp tham gia vàoquản lý Nhà nước và xã hội, kiểm tra, giám sát các hoạt động của cơ quan Nhànước, bãi nhiệm những người không xứng đáng, kể cả những người làm việctrong Chính phủ; Nhà nước dân chủ theo Tư tưởng Hồ Chí Minh còn là phải làmột Nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ; Do đặc điểm chính trị ở nước ta làĐảng lãnh đạo toàn bộ đời sống xã hội, nên một trong những biện pháp pháthuy quyền làm chủ của nhân dân theo Tư tưởng Hồ Chí Minh là xây dựng Đảngvững mạnh, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân, đủ phẩm chất và nănglực để lãnh đạo đất nước
1.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về quyền lực, địa vị và trách nhiệm của nhân dân trong xã hội
Cội nguồn Tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh là truyền thốngtrọng dân, nhận thức đúng đắn, sâu sắc về vai trò và sức mạnh của nhân dân:
“dân là nước, nước có thể đẩy thuyền cũng có thể lật đổ thuyền” Nhìn lại lịch
sử dân tộc Việt Nam, hầu hết các triều đại phong kiến nào chăm lo đời sốngnhân dân, quan tâm đến tình hình lao động và sản xuất của người dân sẽ được
Trang 15lòng dân thì lúc ấy đất nước cực thịnh và ngược lại Chính vì lẽ đó, cách mạngViệt Nam phải biết dựa vào sức dân, lực lượng quần chúng, vì dân là cội nguồncủa sức mạnh, là gốc của nước, là căn cứ vững chắc của cách mạng Trải qua
thực tiễn cách mạng đã chứng minh rằng: “dân chúng có đồng lòng, việc gì
cũng làm được Dân chúng không ủng hộ việc gì làm cũng không xong” 1 Chính
lẽ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt những viên gạch xây dựng nên một nền dânchủ cho dân tộc Việt Nam
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “dân chủ” là:“dân làm chủ” và “dân là
chủ” Ở đây “dân là chủ” muốn nói đến vị thế, quyền lực của dân trong bộ máy
nhà nước; vai trò của nhân dân trong sự phát triển xã hội Dân phải ở địa vị cao
nhất của đất nước“nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là
chủ” 2 Còn“dân làm chủ” là Người đề cập nâng lực và trách nhiệm nhân dân:
“Chế độ ta là chế độ dân chủ Tức là nhân dân làm chủ” 3
Theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong khái niệm về dân chủ,
vấn đề nhất quán và sáng tỏ nhất là sự khẳng định “bao nhiêu lợi ích đều vì
dân”, “quyền hành”, “trách nhiệm, lực lượng” là “của dân”, “đều ở nơi dân”.
Hồ Chí Minh quan niệm “dân chủ” một cách nhất quán và có hệ thống qua các
bài nói và bài viết của Người về địa vị và quyền làm chủ của nhân dân Vớikhái niệm làm chủ, Hồ Chí Minh nhấn mạnh tính chủ động của quần chúngnhân dân trong việc quyết định vận mệnh và tương lai của mình Quan niệm đó
được Hồ Chí Minh lý giải một cách cô đọng trong tác phẩm “Dân vận”
(15-10-1949):
“Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích điều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.
Chính quyền từ xã đến chính phủ đều do dân cử ra.
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” 4
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.213.
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.515.
3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.66.
4 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.698.
Trang 16Hồ Chí Minh khẳng định: “Chế độ ta là chế độ dân chủ Nhân dân là
chủ” 5 Nền dân chủ mà Người đã dành cả cuộc đời để đấu tranh giành lấy lànền dân chủ của toàn bộ nhân dân lao động Nền dân chủ này không chỉ dànhriêng cho số ít bọn giai cấp thống trị như:Nhà nước chủ nô; vua và quan lại củaNhà nước phong kiến hay bọn tư sản của Nhà nước tư bản Nền dân chủ màNgười đề cập là nền dân chủ không phân biệt đẳng cấp thống trị hay bị trị, tầnglớp giàu hay nghèo, phụ nữ hay đàn ông… Trong chế độ này, nhân dân thực sự
là nhân tố chủ đạo, đặt ở vị trí trung tâm trong các chính sách phát triển.Nhândân trong Tư tưởng Hồ Chí Minh được đề cập là chủ thể sáng tạo của nền dânchủ, nhân dân là động lực, đồng thời là mục tiêu của nền dân chủ trong khi thựchiện những nhiệm vụ cách mạng nói chung và khi xây dựng, thực hành nền dânchủ nói riêng Với tinh thần thực sự cầu thị, từ tháng 10 năm 1947, trong tác
phẩm: “Sửa đổi lối làm việc” của mình, Hồ Chí Minh đã viết: “Dựa vào ý kiến
của dân chúng mà sửa chữa lối làm việc của cán bộ và tổ chức của ta” 6
Theo Tư tưởng của Hồ Chí Minh, “dân làm chủ” là quyền làm chủ của
nhân dân trong mọi hoạt động xã hội, trong đó quan trọng nhất là nhân dânđược bầu những đại diện của mình vào các cơ quan quyền lực Nhà nước, vàoviệc tổ chức bộ máy Nhà nước cũng như việc kiểm tra, giám sát các hoạt động
của chúng trên cơ sở thực tế về quyền làm chủ Hơn nữa “dân làm chủ”, không
những là quyền mà còn là nghĩa vụ của mỗi người dân trong một quốc gia, đó lànghĩa vụ trong việc bảo vệ chế độ, xây dựng đất nước Người dân có nghĩa vụtham gia vào xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước, đảm bảo sự giám sátcủa mình đối với toàn bộ hệ thống chính trị của quốc gia thông qua thực hiệncác quyền được ghi nhận trong Hiến pháp
Hai khái niệm “dân là chủ” và “dân làm chủ” đi đôi với nhau, có mối quan hệ mật thiết không thể tách rời nhau “Dân là chủ” là tiền đề, điều kiện để thực thi “dân làm chủ” và ngược lại
1.2.Quan niệm của Hồ Chí Minh về Nhà nước dân chủ
1.2.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân và vì dân
5Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.368.
6Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.223.
Trang 17Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Đảng và nhân dân ta xây dựng Nhà
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Nhà nước “của dân, do dân, vì dân”.
Người khẳng định: Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra Với Hồ Chí Minh
nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực Nhà nước, “Quyền lực của nhà nước
là của Nhân dân, Nhà nước là của dân, do dân và vì dân Trong tổ chức bộ máy Nhà nước có thang, bậc, quyền hạn khác nhau nhưng đều là một công cụ thể hiện quyền lực nhân dân Cán bộ từ trên xuống dưới làm đầy tớ cho nhân dân, phải xứng đáng là người công bộc trung thành của nhân dân” 7 Nhà nướccủa dân, do dân, vì dân có mối quan hệ mật thiết với nhau
Thứ nhất, “Nhà nước của dân” theo Tư tưởng Hồ Chí Minh là mọi quyền
lực của Nhà nước và xã hội đều thuộc về nhân dân
Điều này ta thấy thể hiện rõ nhất trong Bản Hiến pháp đầu tiên của nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 Chương 1, Điều thứ nhất của bản Hiến
pháp năm 1946 có viết: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa Tất cả
quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” 8 Nhằm phát huy tối đa tính dân
chủ của người dân, đặc biệt là dân chủ đại diện mà Điều 20 có viết: “Nhân dân
có quyền bãi nhiệm các đại biểu mình đã bầu ra” 9 “Nhân dân có quyền phúc huyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia” 10 (Điều 21).
Đến Hiến pháp năm 1959, một “Nhà nước của dân” tiếp tục được khẳng định tại Điều 4: “Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều thuộc
về nhân dân Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân” 11 Nhân dân có quyền làm chủ về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bầu raQuốc hội – cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, thể hiện quyền tối cao của
7Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.515.
8Hiếp pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (năm 1946 – 1959 – 1980 – 1992 – 2013 ) , Nxb.
Lao động Xã hội, Hà Nội, 2014, tr.8.
9Hiếp pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (năm 1946 – 1959 – 1980 – 1992 – 2013 ) , Nxb.
Lao động Xã hội, Hà Nội, 2014, tr.12.
10Hiếp pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (năm 1946 – 1959 – 1980 – 1992 – 2013 ) , Nxb.
Lao động Xã hội, Hà Nội, 2014, tr.12.
11Hiếp pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (năm 1946 – 1959 – 1980 – 1992 – 2013 ) , Nxb.
Lao động Xã hội, Hà Nội, 2014, tr.33.
Trang 18nhân dân Nhà nước của dân là xác định vị thế của dân “dân là chủ” và xác định vị thế của dân “dân làm chủ”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở, dân bầu mình ra để làm việc cho
dân chứ không phải để cậy thế với dân “vác mặt làm quan cách mạng, đè đầu
cưỡi cổ dân” Trong Nhà nước của dân địa vị cao nhất là dân, quyền lực của
nhân dân được đặt ở vị trí tối thượng Giá trị lớn nhất của thắng lợi Cách mạngTháng Tám năm 1945 là từ đây quyền lực tập trung toàn bộ vào nhân dân laođộng, trong đó là giai cấp công nhân và nông dân chứ không phải nằm trong taygiai cấp phong kiến, vua và quan lại hay bọn tư sản
Thứ hai, “Nhà nước do dân” theo Hồ Chí Minh là một Nhà nước do chính
nhân dân bầu ra: “Chính quyền từ xã đến chính phủ đều do dân cử ra”12
Nhân dân có quyền đóng góp sức người, sức của, trí tuệ để xây dựng Nhà
nước Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh: “Dễ mười lần không dân cũng chịu.
Khó trăm lần dân liệu cũng xong”13 “Nước lấy dân làm gốc Gốc có vững cây
mới bền Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” 14 Nhà nước do dân tức là dân
xây dựng Nhà nước, góp ý kiến phê bình Chính phủ để Chính phủ phục vụ dântốt hơn, tham gia quản lý Nhà nước nhu bầu ra Quốc hội – cơ quan quyền lựccao nhất của Nhà nước; Quốc hội bầu ra Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụQuốc hội và Hội đồng Chính phủ Hội đồng Chính phủ là cơ quan hành chínhcao nhất, thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội và chấp hành pháp luật Mọicông việc của bộ máy Nhà nước trong quản lý, điều hành xã hội đều thực hiện ýchí của dân thông qua Quốc hội do dân bầu ra
Theo Hồ Chí Minh một Nhà nước dân chủ là “Nhà nước mang bản chất
của giai cấp công nhân” 15 Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhà nước ta là Nhà
nước dân chủ nhân dân, dựa trên nền tảng liên minh công – nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo” 16 Có thể khẳng định Nhà nước dân chủ theo Hồ Chí Minh
được xây dựng theo các nguyên tắc phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin vềNhà nước chuyên chính vô sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa Nhà nước dân chủđặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản nói chung và ở Việt Nam đặt dưới sự
12 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.698.
13Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.212.
14Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.586.
15Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình trung cấp lý luận chính trị Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb
Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004, tr.104.
16Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.586.
Trang 19lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Cơ sở xã hội của Nhà nước là khối đạiđoàn kết dân tộc, mà nồng cốt chính là liên minh công – nông – trí thức Nhànước phải được tổ chức, hoạt động theo nguyên tắc thống nhất quyền lực Nhànước nhưng khi tổ chức thực hiện phải có sự phân công, phối hợp giữa các cơquan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền hành pháp, lập pháp, tư pháp.
Do bản chất của chế độ, của Nhà nước ta là dân chủ,nên Chủ tịch Hồ Chí
Minh coi trọng việc nhân dân tham gia vào quản lý Nhà nước “Thực chất của
dân chủ xã hội chủ nghĩa chính là sự tham gia một cách bình đẳng và ngày càng rộng rãi của nhân dân lao động vào quản lý công việc của nhà nước và của xã hội” 17 Người cho rằng: “Làm việc gì cũng phải có quần chúng Không
có quần chúng thì không thể làm được” 18 Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm,
Nhà nước phải dựa vào lực lượng nhân dân, bảo đảm phương châm “đưa mọi
vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết” 19 Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã tự đặt ra câu hỏi cho mình: “Chính phủ Cộng hòa Dân chủ là gì?” và Người tự trả lời: “Là đầy tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng.
Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ… Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân
có quyền đuổi Chính phủ” “Nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi” 20 Người viết: “Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân; nguyên tắc ấy bảo đảm quyền kiểm soát của nhân dân đối với đại biểu của mình” 21
Thứ ba, “Nhà nước vì dân” theo Hồ Chí Minh là một Nhà nước phục vụ
lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, không có đặc quyền đặc lợi,thực sự trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính
Trong nhà nước đó, cán bộ từ chủ tịch trở xuống đều là công bộc của dân.Mọi hoạt động của chính quyền phải nhằm mục tiêu mang lại quyền lợi chonhân dân và lấy con người làm mục tiêu phấn đấu lâu dài Trách nhiệm của Nhànước là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của nhân dân, mà trước hết là:
“Làm cho dân có ăn
17 Hoàng Văn Hảo: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu mới – sự hình thành và phát triển, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.62.
18Hồ Chí Minh: Bàn về nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.481.
19 Hồ Chí Minh: Bàn về nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.464.
20 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.60.
21 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 9, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.591.
Trang 20Làm cho dân có mặc Làm cho dân có chỗ ở Làm cho dân có học hành” 22
“Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, Việc gì có hại đến dân ta phải hết sức tránh” 23
Hồ Chí Minh chú ý mối quan hệ giữa người chủ nhà nước là nhân dân vớicán bộ nhà nước là công bộc của dân, do dân bầu ra, được nhân dân uỷ quyền
Là người phục vụ, nhưng cán bộ nhà nước đồng thời là người lãnh đạo, hướng
dẫn nhân dân “Nếu không có nhân dân thì chính phủ không đủ lực lượng Nếu
không có chính phủ thì nhân dân không ai dẫn đường” Cán bộ là đày tớ của
nhân dân là phải trung thành, tận tuỵ, cần, kiệm, liêm, chính ; là người lãnhđạo thì phải có trí tuệ hơn người, sáng suốt, nhìn xa trông rộng, gần gũi với dân,trọng dụng hiền tài Cán bộ phải vừa có đức vừa có tài, vừa hiền lại vừa minh
Hồ Chí Minh là người Chủ tịch suốt đời vì dân
Một Nhà nước vì dân theo Tư tưởng Hồ Chí Minh bên cạnh việc đảm bảo
mọi điều kiện cho việc phục vụ lợi ích của nhân dân thì có nhiệm vụ “phát
triển quyền dân chủ và các sinh hoạt chính trị của nhân dân” 24 Người cho
rằng: “Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của
toàn dân để phát huy tính tích cực và sức sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia quản lý công việc Nhà nước, ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà…” 25 1.2.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền
Quyền dân chủ của nhân dân chủ yếu được thực hiện thông qua Nhà nước
và hệ thống pháp luật của Nhà nước Quyền làm chủ đó được thể chế hóa bằngpháp luật Để đảm bảo dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống thì cầnphải xây dựng một Nhà nước pháp quyền Những đặc trưng quan trọng của Nhànước pháp quyền là: Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về tay nhân dân; Hiếnpháp và pháp luật của Nhà nước là chuẩn mực cao nhất cho hành vi của mọingười trong xã hội kể cả người đứng đầu Nhà nước; nội dung của Hiến pháp vàpháp luật phải ghi nhận đầy đủ quyền tự do dân chủ của nhân dân Từ góc độ
22 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.152.
23 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.48.
24Phạm Hồng Chương: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2004, tr.94.
25Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.590.
Trang 21dân chủ, có thể nói mục đích của Nhà nước pháp quyền là để bảo đảm quyền tự
do dân chủ của nhân dân được thực hiện trong thực tế cuộc sống, tất cả quyềnlực Nhà nước thuộc về tay nhân dân, còn Hiến pháp và pháp luật như là mộtphương tiện để đảm bảo thực hiện mục đích dân chủ
Nhà nước pháp quyền theo quan niệm của Hồ Chí Minh là một trongnhững phương thức để đạt đến nền dân chủ hoàn thiện Hồ Chí Minh quan niệmdân chủ biểu hiện không chỉ tất cả quyền lực, trước hết là quyền lực Nhà nướcthuộc về nhân dân, nhân dân được giải phóng khỏi sự áp bức, bóc lột, mọi côngdân đều bình đẳng trước pháp luật, có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong tất
cả các lĩnh vực đời sống Nhà nước và xã hội mà còn biểu hiện ở những nguyêntắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, ở nội dung các quy định củapháp luật Trong Nhà nước pháp quyền, nguyên tắc tất cả quyền lực, đặc biệt làquyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân luôn được pháp luật ghi nhận và đảmbảo thực hiện Nhân dân chính là những người sáng tạo ra lịch sử, là nguồn gốccủa mọi quyền lực, là chủ thể của quyền lực nhà nước Tuy nhiên, ở các kiểuNhà nước như: Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến hay Nhà nước tư bảnthì nhân dân không được hưởng đầy đủ và nguyên vẹn sứ mệnh lịch sử đó, ítnhiều họ đã bị tầng lớp thống trị tước đoạt đi quyền làm chủ của mình Nhànước mà Hồ Chí Minh xây dựng, nhân dân đã từng bước trực tiếp tham gia vàoquá trình tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, kiểm tra giám sát hoạt độngcủa bộ máy Nhà nước Pháp luật đã tạo cơ sở pháp lý để nhân dân thể hiệ ý chí,phát huy quyền làm chủ của mình, trực tiếp tham gia quản lý và quyết địnhnhững công việc trọng đại của Nhà nước và xã hội
Quan niệm của Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền bao gồmcác nội dung chủ yếu như:
Một là, Hồ Chí Minh quan tâm đến Nhà nước pháp quyền từ rất sớm khi
chưa phải là một người cộng sản
Năm 1919, trong bản Yêu sách của nhân dân An Nam do Người ký tênNguyễn Ái Quốc gửi tới Hội nghị Vécxây ở Pháp đã nêu yêu cầu cải cách nềnpháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng hưởng những bảođảm về mặt pháp luật như người Âu châu; xóa bỏ hoàn toàn những tòa án dùng
làm công cụ đặc biệt để khủng bố và áp bức… “Thay thế chế độ ra các sắc lệnh
Trang 22bằng ra các đạo luật” 26 Trong Việt Nam yêu cầu ca, một cách chuyển thể Yêu
sách của nhân dân An Nam thành văn vần, có đoạn:
“Một xin tha kẻ đồng bào,
Vì chưng chính trị mắc vào tù giam.
Hai xin phép luật sửa sang, Người Tây, người Việt hai phương cùng đồng.
Những tòa đặc biệt bất công, Giám xin bỏ dứt rộng dung dân lành.
Ba xin rộng phép học hành,
Mở mang kỹ nghệ lập thành công thương.
Bốn xin được phép hội hàng, Năm xin nghĩ ngợi nói bàn tự do.
Sáu xin được phép lịch du, Bốn phương mặc sức, năm châu mặc tình.
Bảy xin hiến pháp ban hành, Trăm đều phải có thần linh pháp quyền.
Tám xin được cử nghị viên, Qua Tây thay mặt giữ quyền thổ dân” 27
Hồ Chí Minh vốn là người am hiểu Nho giáo, song song đósự ảnh hưởngtôn giáo của Trung Quốc trong lịch sử Việt Nam cũng hết sức sức rõ rệt, đặcbiệt là Nho giáo Tuy nhiên, trong cách tiếp cận của Người không xuất phát từ
những quan điểm “nhân chi sơ, tính bản thiện” hay “nhân chi sơ, tính bản ác”
để đi đến quản lý một xã hội bằng “Đức trị” hay “Pháp trị” Hồ Chí Minh có
cách tiếp cận hoàn toàn mới Quản lý một xã hội theo Tư tưởng Hồ Chí Minhphải bằng pháp luật Người yêu cầu ở Việt Nam phải có Hiến pháp và pháp luậtcủa người bản xứ
Hai là, Hồ Chí Minh quan niệm phải xây dựng một Nhà nước hợp pháp,
hợp hiến
Chính vì quan tâm đến điều này ngay khi cách mạng Tháng Tám năm
1945 vừa thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã muốn dân tộc Việt Nam và toànthế giới biết và ghi nhận sự kiện này một cách chính đáng công khai Người đã
26Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.417.
27 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.438.
Trang 23chuẩn bị sớm cho việc dự thảo Tuyên ngôn độc lập Chỉ một ngày sau khi đến ởnhà số 48 Hàng Ngang, trong cuộc họp thường vụ Trung ương ngày 26-08-
1945, Người đề nghị chuẩn bị ra Tuyên ngôn độc lập và tổ chức míttinh lớn ở
Hà Nội để Chính phủ ra mắt nhân dân, ngày ra mắt của Chính phủ lâm thờicũng là ngày nước Việt Nam chính thức tuyên bố quyền độc lập và thiết lập chế
độ dân chủ cộng hòa Người nhấn mạnh những việc cần phải làm trước khiquân đội Tưởng vào Đông Dương tước vũ khí của quân đội Nhật Chỉ trongvòng khoảng 5 ngày, Người đã hoàn thành bản Tuyên ngôn độc lập Giây phút
Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập chính là giây phút khai sinh ra nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa, tuyên bố với thế giới rằng nước Việt Nam cóquyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập.Một ngày sau, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Hồ ChiMinh đã đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng tốt cuộc Tổng tuyển cử vớichế độ phổ thông đầu phiếu Tổng tuyển cử để bầu ra Quốc hội, có Quốc hội sẽlập ra Chính phủ và các cơ quan, bộ máy chính thức của Nhà nước mới CuộcTổng tuyển cử được tiến hành ngày 6-1-1946 đã thể hiện tinh thần dân chủ,bình đẳng; đã bầu ra được những đại biểu ưu tú vào Quốc hội Ngày 2-3-1946,Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã hợp phiên đầu tiên, lập
ra các tổ chức, bộ máy và các chức vụ chính thức của Nhà nước Đây là Chínhphủ hợp hiến đầu tiên do đại biểu nhân dân bầu ra, có đầy đủ tư cách và hiệulực trong việc giải quyết mọi vấn đề đối nội và đối ngoại của Nhà nước ViệtNam mới
Ba là, tăng cường tính nghiêm minh, hiệu quả của pháp luật và tăng cường
giáo dục đạo đức
Tính nghiêm minh và hiệu quả của pháp luật trước hết thể hiện ở khâusoạn thảo Hiến pháp Hồ Chí Minh đã có công lớn trong soạn thảo Hiến phápnăm 1946 và năm 1959 Nhưng một việc làm hết sức quan trọng là đưa Hiếnpháp và pháp luật vào cuộc sống của nhân dân Hồ Chí Minh chú ý xây dựngmột nền pháp chế xã hội chủ nghĩa bảo đảm quyền làm chủ thực sự của nhândân Nền pháp chế đó có hiệu lực với tất cả mọi cơ quan Nhà nước và cá nhân.Người là đại diện cho tấm gương sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật
Trang 24Nhà nước pháp quyền chứa dựng nội dung khoa học của pháp luật Vìvậy, Hồ Chí Minh quan tâm đến việc giáo dục pháp luật cho mọi người, pháthuy tính tích cực chính trị của công dân, khuyến khích nhân dân tham gia vàocác công việc của Nhà nước Nâng cao dân trí để nhân dân hiểu pháp luật, hiểuquyền lợi và làm tốt nghĩa vụ công dân Thực thi phát luật là dân chủ và dânchủ là một biểu hiện của pháp luật Người thường nhắc nhở làm sao cho mọingười biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân, có năng lực làm chủ,dám nói, dám làm
Trong quá trình chỉ đạo công tác xây dựng pháp luật, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã luôn coi trọng việc tổ chức lấy ý kiến của nhân dân Điều đó đượcminh chứng cụ thể và rõ ràng nhất khi Người chỉ đạo soạn thảo bản Hiến phápnước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1959 Ban soạn thảo Hiến pháp năm
1959 đã tổ chức hai đợt lấy ý kiến nhân dân với thời gian bốn tháng Người
đánh giá: “Hai đợt thảo luận dự thảo Hiến pháp trong nhân dân là những cuộc
sinh hoạt chính trị rất sôi nổi Nhân dân đã hăng hái sử dụng quyền dân chủ của mình” 28 Điều đó thể hiện qua mười đóng góp lớn được Ban sửa đổi Hiếnpháp tiếp thu, chỉnh sửa Ngoài những đề nghị mà Ban sửa đổi Hiến pháp đãđồng ý và căn cứ vào đó để chỉnh lý bản Dự thảo Hiến pháp, còn có nhiều ýkiến đóng góp về những vấn đề chi tiết khác thuộc phạm vi lập pháp hoặc phạm
vi hoạt động của các cơ quan Nhà nước
Bên cạnh việc chú trọng đến tính nghiêm minh của pháp luật Hồ Chí Minh
còn chú trọng đến giáo dục đạo đức Nói như tác giả Hoàng Văn Hảo: “Ở
Người, đạo đức và pháp luật gắn với nhau, đưa đạo đức truyền thống vào pháp luật, và pháp luật phải bảo vệ đạo đức” 29 Hồ Chí Minh luôn coi trọng phápluật trong quản lý xã hội, là người sáng lập ra nền pháp lý mới ở Việt Nam,Người trực tiếp tham gia xây dựng Hiến pháp và hệ thống pháp luật Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn chủ trương quản lý xã hội bằng pháp luật, nhưng lại chưa
bao giờ dùng khái niệm “pháp trị” với hàm nghĩa là một chế độ cai trị độc
nhất Người đã kết hợp chặt chẽ và nhuần nhuyễn giữa đạo đức và pháp luậttrong quá trình quản lý xã hội
28Hồ Chí Minh: Bàn về nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.72.
29Hoàng Văn Hảo: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu mới – sự hình thành và phát triển, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.82.
Trang 25Như vậy, theo Tư tưởng Hồ Chí Minh dân chủ trong chính trị là phải “xây
dựng được một Nhà nước của dân, do dân, vì dân có nhiệm vụ thực hiện và phát triển nền dân chủ, tạo ra những điều kiện đảm bảo quyền lực của nhân dân đối với cơ quan và viên chức Nhà nước, mặt khác nó thực hiện chuyên chính với kẻ thù của dân chủ” 30 Bên cạnh đó cần phải xây dựng một Nhà nước
pháp quyền “có trách nhiệm đảm bảo và tìm cách đảm bảo quyền bình đẳng và
nghĩa vụ của nhân dân trước pháp luật, chóng áp bức bóc lột và bất công trong
để đạt được mục tiêu cách mạng là: độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xãhội Muốn giữ được vai trò lãnh đạo, Đảng phải đảm bảo và phát huy rộng rãi
dân chủ trong Đảng, nói cách khác “Đảng phải là tấm gương thực hành dân
chủ” 32 Muốn là tấm gương cho toàn bộ nhân dân thì Đảng phải thật vữngmạnh, phải hội tụ đầy đủ phẩm chất và năng lực của một người lãnh đạo đấtnước Không chỉ quan tâm đến Đảng, Hồ Chí Minh còn quan tâm đến việc xâydựng các tổ chức chính trị, nghề nghiệp, xã hội khác nhau xem đây là một trongnhững lực lượng thúc đẩy nền dân chủ ở nước ta
Cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã giành đượcnhững thắng lợi vẻ vang và tiếp tục trên con đường xây dựng, phát triển đấtnước Với đặc thù đó, dân chủ trong chính trị theo Tư tưởng Hồ Chí Minh còn
là việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh đủ phẩm chất và năng lực đểlãnh đạo sự nghiệp cách mạng, muốn thực hiện được điều đó bắt buộc phát huyvai trò của quần chúng nhân dân
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tồn tại, hoạt động là vì lợi ích của giaicấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Đảng không có lợi ích nào khác
30 Phạm Hồng Chương: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2004, tr.107.
31 Phạm Hồng Chương: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2004, tr.111.
32 Phạm Hồng Chương: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004, tr.115.
Trang 26ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân Toàn Đảng và cán bộ, đảngviên đã phấn đấu vì lợi ích của nhân dân, biết bao cán bộ, đảng viên đã anhdũng hy sinh trong lao tù đế quốc, trên chiến trường chống ngoại xâm và trongnhững cuộc chiến đấu thầm lặng khác Nhân dân Việt Nam đã tin vào ĐảngCộng sản Việt Nam, đi theo Đảng, thừa nhận Đảng là của mình; đường lối,chính sách của Đảng đã đáp ứng yêu cầu, nguyên vọng chính đáng của nhân
dân, Đảng được nhân dân thừa nhận là “đứa con nòi của dân tộc” như Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã khẳng định Chính mối quan hệ mật thiết, gắn bó máu thịt giữaĐảng với nhân dân là cái bảo đảm cho sự tồn tại vững chắc của Đảng cũng nhưcủa chế độ xã hội chủ nghĩa
Nói về Đảng Cộng sản Việt Nam như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định
là đạo đức, văn minh, là lương tâm và trí tuệ của dân tộc Điều đó có nghĩaĐảng phải trong sạch, vững mạnh trong toàn Đảng và từng tổ chức đảng, vàmỗi đảng viên Muốn vậy, phải tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tưtưởng và tổ chức, cán bộ, về đạo đức và phong cách để nâng cao năng lực lãnhđạo và sức chiến đấu của Đảng
Xây dựng Đảng không chỉ là công việc của Đảng mà còn là công việc củanhân dân, trách nhiệm của nhân dân Nhân dân là đối tượng lãnh đạo của Đảng,đồng thời là chỗ dựa của Đảng, là nguồn sức mạnh của Đảng, phục vụ nhân dân
là lý do tồn tại của Đảng Đảng là con đẻ của nhân dân, sống trong lòng dân, vìvậy nhân dân có trọng trách to lớn là xây dựng Đảng của mình trong sạch, vữngmạnh Cần nắm vững và thực hiện nghiêm túc những lời dạy của Chủ tịch HồChí Minh Người chỉ rõ: bao nhiêu lợi ích là của dân, quyền hành và lực lượng
là ở nơi dân, đổi mới, kiến thiết là trách nhiệm của nhân dân Chính quyền từTrung ương đến xã là của nhân dân; cán bộ, đảng viên phải cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư, là công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân; “Việc gì
lợi cho dân, ta phải hết sức làm Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta” 33
Dân chủ trong chính trị theo Tư tưởng Hồ Chí Minh nét nổi bậc và trước
nhất là phải thực hiện dân chủ ngay trong Đảng: “phải thực sự mở rộng dân
chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình” 34 Có thể thấy, theo quan
33Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.48.
34 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.118.
Trang 27niệm này Hồ Chí Minh xem Đảng là một tấm gương cho quần chúng nhân dânnoi theo, muốn vậy trước hết đó phải là một tấm gương thật sáng Trong nhữngtác phẩm của Người như: Đường cách mạng (năm 1927); Sửa đổi lối làm việc(1947)… Người luôn nhắc nhở người cán bộ Đảng viên phải rèn luyện phẩmchất và đạo đức.
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng công tác dân vận để gắn ý Đảng vớilòng dân, tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, phát huy
vai trò của nhân dân để xây dựng Đảng Người viết: “Lực lượng của dân rất to.
Việc dân vận rất quan trọng Dân vận kém thì việc gì cũng kém Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” 35 Phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trongxây dựng Đảng là tăng cường lòng tin của dân đối với Đảng và Nhà nước, tăngcường mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, từ đó Đảng mới đủ tư cách
và năng lực lãnh đạo quần chúng trên con đường sự nghiệp xây dựng và pháttriển đất nước Trong Di chúc của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đảng tamột trong những việc phải làm sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
thắng lợi là: “Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng,
làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng đã giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi” 36
35Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.700.
36Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2014, tr.28.