1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước về dịch vụ công cộng trên địa bàn tỉnh xiêng khoảng, nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào

101 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các dịch vụ công đó thì dịch vụ công cộng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội, đặc biệt là các dịch vụ thiết yếu như văn hóa, giáo dục, y tế, vệ sinh môi trườn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

BOUNKEOMANYXAY KHAMSOUK

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ CÔNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH XIÊNG KHOẢNG, NƯỚC CỘNG HÒA

DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là Luận văn của riêng tôi, do tôi thực hiện Các

số liệu, thông tin đưa ra trong luận văn chính xác và trung thực, có nguồn gốc

rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Người viết luận văn

BounKeomanyxay KhamSouk

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập và nghiên cứu về khoa học hành chính ở Học viện Hành chính Quốc gia, trong chương trình học Thạc sĩ với chuyên ngành Quản lý công Để hoàn thành Luận văn của mình, với tình cảm chân thành,

tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS NGUYỄN HOÀNG HIỂN, người đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong thời gian qua, cảm ơn các

thầy giáo, cô giáo và cán bộ của Học viện Hành chính Quốc gia, Sở Nội vụ tỉnh Xiêng Khoảng và đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành luận văn này./

Người viết luận văn

BounKeomanyxay KhamSouk

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỊCH VỤ CÔNG CỘNG 8

1.1 Tổng quan về dịch vụ công cộng 8

1.1.1 Khái niệm dịch vụ công cộng 8

1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ công cộng 10

1.1.3 Phân loại dịch vụ công cộng 13

1.1.4 Vai trò của dịch vụ công cộng 15

1.2 Quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng 16

1.2.1 Khái niệm 16

1.2.2 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng 18

1.2.3 Mục tiêu quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng 19

1.2.4 Nguyên tắc cung ứng dịch vụ công cộng cho xã hội 21

1.2.5 Các công cụ quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng 23

1.2.6 Nội dung quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng 25

1.2.7 Bộ máy quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng 28

1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng ở một số tỉnh, thành phố và bài học cho tỉnh Xiêng Khoảng, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 29

Trang 5

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng ở Thành phố Hồ Chí Minh, nước CHXHCN Việt Nam 29 1.3.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng ở thủ đô Viên Chăn, nước CHDCND Lào 31 1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào

về quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng 32

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 34 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỊCH

VỤ CÔNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH XIÊNG KHOẢNG, NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 36

2.1 Khái quát chung về tỉnh Xiêng Khoảng 36 2.2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng ở tỉnh Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào 39 2.2.1 Bộ máy quản lý nhà nước của Xiêng Khoảng 39 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy QLNN về DVCC chung ở tỉnh Xiêng Khoảng 41 2.2.2 Khía cạnh pháp lý của quản lý nhà nước về dịch vụ công cộng của Xiêng Khoảng 42 2.2.3 Đội ngũ cán bộ quản lý 44 2.2.4 Các loại dịch vụ công cộng của Xiêng Khoảng 49 2.3 Đánh giá quản lý nhà nước về dịch vụ công cộng của Xiêng Khoảng 58 2.3.1 Những thành công và nguyên nhân 58 2.3.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 62

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 66 CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỊCH VỤ CÔNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH XIÊNG KHOẢNG, NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 68

Trang 6

3.1 Phương hướng của Đảng và Nhà nước đối với sự phát triển dịch vụ công

cộng 68

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng trên địa bàn tỉnh Xiêng Khoảng, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 72

3.2.1 Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước đối với các dịch vụ công cộng 72

3.2.2 Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý dịch vụ công cộng 75

3.2.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức quản lý về dịch vụ công cộng 76

3.2.4 Xã hội hóa dịch vụ công cộng trên các lĩnh vực 80

3.2.5 Đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng dịch vụ công cộng 83

3.2.6 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và tài chính cho các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về dịch vụ công cộng 85

3.2.7 Chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ công cộng trên địa bàn tỉnh 87

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 88

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhà nước với vai trò là chủ thể của quản lý đối với toàn bộ các mặt của đời sống xã hội trên phạm vi lãnh thổ Như vậy, Nhà nước với tư cách là chủ thể cung cấp các dịch vụ công cho xã hội, đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của quốc gia và với đời sống của người dân Các loại hình dịch vụ công do các cơ quan hành chính nhà nước được trao quyền tiến hành thực hiện để phục vụ các quyền và lợi ích cơ bản của công dân và tổ chức Xuất phát từ yêu cầu và vai trò của Nhà nước, Nhà nước đã ban hành hệ thống thể chế, các văn bản về quản lý nhà nước, về cải cách hành chính gắn với cung cấp các dịch vụ công cho toàn xã hội Trong các dịch vụ công đó thì dịch vụ công cộng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội, đặc biệt là các dịch vụ thiết yếu như văn hóa, giáo dục, y tế, vệ sinh môi trường,… chất lượng cung ứng dịch vụ này phụ thuộc rất nhiều vào hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước

Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong những năm qua, dịch vụ công cộng do nhà nước cung ứng cơ bản đáp ứng nhu cầu của xã hội Tuy nhiên, hoạt động này còn tồn tại nhiều bất cập như các loại dịch vụ chưa thực sự phong phú, chất lượng cung ứng chưa cao, công tác quản lý nhà nước còn mang nặng tính áp đặt đơn phương,… do đó đã gây ra những khó khăn cho người dân và tổ chức khi tiếp cận sử dụng dịch vụ Bên cạnh đó, do thiếu các chế tài, quy định trong quản lý nó cũng gây ra không ít khó khăn trong thực thi công vụ của cán bộ, công chức nhà nước Xuất phát từ thực tế đó, cần phải

có giải pháp phù hợp để tăng cường quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng cho xã hội trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường hướng tới

Trang 8

những giá trị thiết thực, đáp ứng tối đa những đòi hỏi của người dân trong nước và hướng đến một nền hành chính phục vụ

Tỉnh Xiêng Khoảng, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Trong những năm qua, Đảng bộ và chính quyền tỉnh có nhiều biện pháp, các thức tổ chức nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng cũng như các loại hình dịch vụ công cộng cho người dân và các tổ chức trên địa bàn tỉnh Chương trình về cải cách hành chính nhà nước được triển khai sâu rộng, tỉnh Xiêng Khoảng cũng là một trong số các tỉnh có những thành tựu đáng kể về nâng cao chất lượng cung ứng, quản lý dịch vụ công cộng, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức không ngừng nâng cao về chất lượng, trình độ, đẩy mạnh hoàn thiện các thủ tục trong xây dựng và ban hành văn bản,… Kết quả chung được đánh giá là các

cơ quan hành chính trên địa bàn đã có bước chuyển đáng kể trong điều hành

và cung ứng dịch vụ công cộng, góp phần ổn định kinh tế, xã hội trên địa bàn, nâng cao đời sống xã hội của người dân Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn tồn tại nhất định trong công tác quản lý nhà nước đối với cung cấp và

sử dụng dịch vụ công cộng, nhất là thể chế quản lý chưa đầy đủ, chưa đồng bộ; chất lượng quản lý, cung ứng dịch vụ công cộng của các đơn vị chưa đảm bảo; thái độ, trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức còn yếu kém…, điều này làm cho người dân chưa hài lòng, than phiền

Như vậy, để góp phần nâng tăng cường quản lý nhà nước về cung ứng

dịch vụ công cộng trên địa bàn tỉnh, em quyết định lựa chọn đề tài: “Quản lý

nhà nước về dịch vụ công cộng trên địa bàn tỉnh Xiêng Khoảng, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào”, làm đề tài tốt nghiệp cho mình, nhằm xây

dựng một số giải pháp tích cực phục vụ công tác quản lý nhà nước cũng như nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công cộng trên địa bàn tỉnh Xiêng

Khoảng, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong thời gian tới

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động cung ứng dịch vụ công, dịch vụ công cộng cũng như về quản lý nhà nước đối với loại hình dịch vụ này ở nhiều góc độ khác nhau

- Sách “Dịch vụ công cộng và khu vực quốc doanh” của Elie Cohen,

Claude Henry và Francois Morin, Paul Champsaur (2000), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia đã trình bày về cơ sở và các bước phát triển về dịch vụ công cộng ở Pháp và Liên minh châu Âu, trong đó chỉ rõ sự thay đổi của dịch

vụ công cả về phạm vi, cách thức cung cấp từ những năm sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến năm 2000

- Sách “Vai trò của Nhà nước trong cung ứng dịch vụ công - Nhận thức, thực trạng và giải pháp” của TS Nguyễn Ngọc Hiến (2002), Nhà xuất

bản Văn hoá - Thông tin đã tập hợp các bài viết của nhiều tác giả về vai trò của nhà nước trong cung ứng dịch vụ công, các mô hình cung ứng dịch vụ công, thực trạng và giải pháp

- Sách “Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam” của PGS.TS Lê Chi Mai

(2003), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia đã nghiên cứu khá toàn diện về dịch

vụ công dưới các góc độ kinh tế, quản lý Tác giả đã có sự so sánh giữa dịch

vụ công cộng, dịch vụ sự nghiệp công và dịch vụ hành chính công để từ đó đưa ra những đặc trưng riêng của từng nhóm dịch vụ công Tác giả cũng đánh giá thực trạng cung cấp dịch vụ hành chính công vào thời điểm bấy giờ, về những thành tựu đã đạt được

- Sách “Dịch vụ công – Đổi mới quản lý và tổ chức cung ứng ở Việt Nam hiện nay” của TS Chu Văn Thành (2007), Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội Ngoài những nội dung có tính chất lý luận về dịch vụ công thì tác giả tập trung nghiên cứu về cung ứng dịch vụ và quản lý dịch vụ công dưới góc nhìn đổi mới của cải cách hành chính Trong cuốn sách này tác giả trình bày

Trang 10

có hệ thống về các vấn đề có liên quan đến dịch vụ công, dịch vụ công cộng, dịch vụ hành chính công, mô hình cung cấp theo phương thức Quận hội hóa,

mô hình quản lý dịch vụ khi vừa có sự tham gia của cơ quan nhà nước, sự tham gia của cá nhân, tổ chức vào cung cấp dịch vụ

- Sách“Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công ở Thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu hội nhập” của GS.TS Nguyễn Đình Phan (2010), Nxb

Đại học Kinh tế Quốc dân đã tập trung làm rõ những vấn đề lý luận về dịch

vụ công, dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính, làm rõ về tổ chức thực hiện các dịch vụ hành chính công trong điều kiện thực tiễn của Hà Nội, bao gồm hoạt động của một số cơ quan hành chính cấp quận, phường trong giải quyết yêu cầu của nhân dân trên địa bàn

Nhìn chung các công trình nghiên đều tập trung làm rõ những nội dung, bản chất của dịch vụ công, dịch vụ công cộng và đưa ra cơ sở xác định nội dung, tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ Các tác giả cũng chỉ ra các phương hướng và giải pháp nhất nhằm nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ Tuy nhiên, các công trình chưa nghiên cứu cụ thể về tình hình, thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng trên địa bàn tỉnh nói riêng, đặc biệt là ở một tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển như ở tỉnh Xiêng Khoảng Chính vì vậy, Luận văn hy vọng sẽ làm rõ những khái niệm cơ bản

và các giải pháp thiết thực đóng góp cho công tác quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng ở tỉnh hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận quản lý nhà nước về dịch vụ công cộng; đánh giá sâu sắc, toàn diện thực trạng quản lý nhà nước trong việc cung ứng dịch vụ công cộng ở tỉnh Xiêng Khoảng; trên cơ sở đó, học viên

Trang 11

nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước đối với

dịch vụ công cộng ở Xiêng Khoảng trong thời gian tới

- Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng quan về dịch vụ công cộng và vấn đề quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng; Nghiên cứu lý luận chung về quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng;

- Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý dịch vụ công ở một số quốc gia để

có thể rút được những bài học kinh nghiệm cho tỉnh Xiêng Khoảng;

- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với dịch

vụ công cộng của tỉnh Xiêng Khoảng

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng của tỉnh Xiêng Khoảng trong những năm tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng thuộc Ủy ban Nhân dân tỉnh Xiêng Khoảng, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Đồng thời, nghiên cứu thực tế tiếp cận và sử

dụng dịch vụ công cộng của cá nhân, tổ chức trên địa bàn tỉnh

- Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng trên địa bàn tỉnh Xiêng Khoảng, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Về thời gian: Nghiên cứu tình hình quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng trên địa bàn tỉnh Xiêng Khoảng từ năm 2011 đến năm 2016

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Dựa trên cơ sở thế giới quan của chủ nghĩa Mác -

Lênin, quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để xem xét vấn đề Bên

Trang 12

cạnh đó, luận văn căn cứ vào đường lối chủ trương của Đảng nhân dân cách mạng Lào, chính sách, pháp luật của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và

sự chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh Xiêng Khoảng để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu

mà luận văn đề ra

- Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp để nghiên cứu các tài liệu, số liệu được thu thập, xử lý thông tin để từ đó tạo ra cơ sở khoa học, mang tính thuyết phục trong quá trình thực hiện đề tài

- Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này nhằm tham khảo ý kiến của các chuyên gia nghiên cứu, các nhà quản lý hành chính có kinh nghiệm thực tiễn cao trong lĩnh vực quản lý cung ứng dịch vụ công cộng

- Ngoài ra, luận văn sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp thống kê, khảo sát thực tế, so sánh,

6 Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu

- Về mặt lý luận: Luận văn đóng góp hoàn thiện thêm cơ sở lý luận về hoạt động quản lý nhà nước đối với các dịch vụ công cộng nói chung và quản

lý nhà nước của UBND tỉnh đối với dịch vụ công cộng ở nước nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay

- Về mặt thực tiễn: Luận văn cung cấp một số vấn đề về thực trạng công tác quản lý nhà nước về dịch vụ công cộng cho cán bộ, công chức của tỉnh để từng bước đổi mới cách thức điều hành, quản lý và cung ứng dịch vụ nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các dịch vụ công cộng của tỉnh Xiêng Khoảng

7 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được cấu trúc thành 3 chương:

Trang 13

- Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng

- Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng trên địa bàn tỉnh Xiêng Khoảng, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

- Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng trên địa bàn tỉnh Xiêng Khoảng, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

ĐỐI VỚI DỊCH VỤ CÔNG CỘNG

1.1 Tổng quan về dịch vụ công cộng

1.1.1 Khái niệm dịch vụ công cộng

Dịch vụ công công trong tiếng Việt thường được gọi là dịch vụ công Theo từ điển Tiếng Việt, dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những

nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công Như vậy: Dịch

vụ chính là sản phẩm hàng hóa giữa một bên cung ứng và một bên thụ hưởng thông qua các hoạt động nhất định và có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các bên

Từ quan niệm về dịch vụ như trên, tác giả cho rằng:“Dịch vụ công chính là dịch vụ do Nhà nước trực tiếp đảm nhận việc cung ứng hay ủy nhiệm cho các cơ sở ngoài nhà nước thực hiện nhằm đảm bảo trật tự và công bằng

xã hội, phục vụ các lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân”

Có nhiều cách tiếp cận và cách hiểu khác nhau về dịch vụ công cộng Mỗi cách tiếp cận khác nhau sẽ có những cách hiểu khác nhau Ở một số quốc gia phát triển, tốc độ đô thị hóa cao, khi tiếp cận khái niệm dịch vụ công cộng các nhà quản lý đô thị có định nghĩa về dịch vụ công cộng như sau: Dịch vụ công cộng là từ thường được dùng để chỉ các dịch vụ mà chính phủ cung ứng cho các công dân của mình, có thể là trực tiếp thông qua khu vực công hay là cấp tài chính cho khu vực tư nhân cung ứng Vấn đề này kết hợp với một sự đồng thuận xã hội rằng một số dịch vụ trong đó phải đến được với tất cả mọi người, bất kể thu nhập bao nhiêu Cho dù DVCC không phải do chính phủ cung ứng hay cấp tài chính đi nữa những các lý do xã hội và chính trị mà

Trang 15

chúng vẫn có khuôn khổ pháp lý khác với phần lớn các ngành kinh tế khác,…

và chúng có thể gắn liền với quyền cơ bản của con người, chẳng hạn như quyền được cung cấp nước sạch, ánh sáng,…

Trong khi đó ở các nước đang phát triển như ở Lào và Việt Nam thì khi nghiên cứu về DVCC, trong sách “Dịch vụ công và xã hội hóa dịch vụ công – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (Chu Văn Thành chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2004) định nghĩa là: “Những hoạt động của các tổ chức nhà nước hoặc của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân được Nhà nước ủy quyền để thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vụ trực tiếp những nhu cầu thiết yếu của cộng đồng, công dân; theo nguyên tắc không

vụ lợi; đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội”, và cho rằng: Dịch vụ công bao gồm dịch vụ sự nghiệp công (hoặc phúc lợi xã hội), dịch vụ công ích và dịch vụ hành chính công, đồng thời nhấn mạnh là không được lẫn lộn với hoạt

động công vụ (civil services) là hoạt động hàng ngày của bộ máy công quyền

Như vậy, với cách hiểu trên thì chúng ta thấy dịch vụ công cộng chính là một bộ phận nằm trong dịch vụ công

Dịch vụ công cộng là loại dịch vụ phục vụ các nhu cầu, lợi ích chung, thiết yếu của đa số hay của cả cộng đồng Có thể hiểu cụ thể hơn về dịch vụ công công, đó là các dịnh vụ có thu phí nhằm đáp ứng các nhu cầu bức thiết của công dân mang tính phi lợi nhuận do các cơ sở thực hiện theo yêu cầu của

cơ quan nhà nước (thông qua hợp đồng hoặc nhiệm vụ phân giao) như: Cung cấp nước sinh hoạt; thoát nước; vệ sinh môi trường (thu gom rác thái); cây xanh đô thị; hệ thống chiếu sáng; giao thông vận tải công cộng; tài chính; ngân hàng; kho bạc nhà nước; bảo hiểm (y tế, xã hội v.v ); nhà ở theo chính

sách xã hội v.v

Ở một khía cạnh khác các DVCC lại có thể hiểu là dịch vụ xã hội và dịch vụ kinh tế - kỹ thuật Dịch vụ xã hội liên quan đến những nhu cầu và

Trang 16

quyền lợi cơ bản đối với sự phát triển con người về thể lực và trí lực như y tế, giáo dục, văn hóa, thông tin, thể thao ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, cũng như ở Việt Nam, các dịch vụ này thường được gọi là hoạt động sự nghiệp

Dịch vụ kinh tế - kỹ thuật là loại dịch vụ gắn với các nhu cầu vật chất phục vụ lợi ích chung của xã hội, bao gồm cung ứng điện, nước, giao thông vận tải, vệ sinh mội trường, thủy lợi, xây dựng đường sá, giao thông, cầu cống, trường, trạm, Ở Lào các dịch vụ này do các doanh nghiệp công ích cung ứng và còn gọi “là dịch vụ công ích”

1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ công cộng

Khi đề cấp tới đặc điểm của dịch vụ công cộng, ta nhận thấy loại hình này có đầy đủ các đặc điểm của loại hình dịch vụ công, bên cạnh đó, nó cũng

có những điểm đặc thù, riêng biệt:

Thứ nhất, dịch vụ công cộng phục vụ trực tiếp cho nhu cầu, lợi ích cơ bản, thiết yếu của xã hội Một cá nhân, một cộng đồng, một tổ chức có thể

hưởng lợi ích do dịch vụ công cộng đem lại, nhưng nhà nước chỉ thực hiện cung ứng dịch vụ công cộng khi có nhu cầu của toàn xã hội Tức là khi phát sinh nhu cầu, nhất là nhu cầu của số đông trong xã hội, khi đó Nhà nước sẽ là đơn vị cung ứng, đáp ứng các nhu cầu, thoả mãn yêu cầu của nhân dân và tổ chức

Thứ hai, dịch vụ công cộng là hàng hóa, dịch vụ do nhà nước chịu trách nhiệm tổ chức cung ứng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức được ủy quyền Điều này cho thấy rằng các loại hình dịch vụ do

nhà nước cung ứng đáp ứng các nhu cầu cơ bản của người dân và tổ chức trong xã hội Dù muốn hay không thì nhà nước vẫn cung cấp bởi đó là chức năng của nhà nước nhằm quản lý toàn xã hội, cung ứng những gì mà xã hội cần

Trang 17

Thứ ba, dịch vụ công cộng được cung ứng trước hết là vì nghĩa vụ của Nhà nước và vì quyền lợi lợi được thụ hưởng của người dân Bên cạnh đó,

dịch vụ công cộng cũng mang lại những giá trị lợi nhuận nhất định cho đơn vị cung ứng và cho toàn xã hội Tuy nhiên, về cơ bản thì các dịch vụ này cũng giống như dịch vụ công, là không vì mục tiêu lợi nhuận, việc cung cấp DVCC không hoàn toàn diễn ra theo quan hệ của thị trường; mà hoạt động cung ứng mang tính chất phục vụ Thông thường, người sử dụng dịch vụ công cộng không trực tiếp trả tiền, hay nói đúng hơn là đã trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước Cũng có những dịch vụ mà người sử dụng vẫn phải trả một phần hoặc toàn bộ kinh phí Tuy nhiên, nhà nước vẫn phải có trách nhiệm bảo đảm cung ứng các dịch vụ này không nhằm vào mục tiêu lợi nhuận Nghĩa là các dịch vụ công cộng được cung ứng ra là cam kết của nhà nước đối với xã hội nhằm đảm bảo cho xã hội vận hành theo khuôn khổ nhất định

Thứ tư, cũng giống như dịch vụ công, dịch vụ công cộng không phân biệt đối tượng được thụ hưởng, điều đó cho thấy tính chất rộng lớn, hướng

đến toàn thể các đối tượng trong xã hội (dịch vụ công cộng mang tính xã hội) Mọi người dân đều có quyền bình đẳng trong việc tiếp nhận và sử dụng các dịch vụ công cộng do Nhà nước cung ứng Nhà nước cam kết cung ứng các loại hình dịch vụ công cộng cho xã hội dựa trên cơ sở những nhu cầu trong xã hội, mục tiêu hướng đến là toàn thể người dân, tổ chức có nhu cầu trên nguyên tắc công bằng, bình đẳng, không phân biệt đối tượng thụ hưởng dịch

vụ

Thứ năm, Nhà nước quản lý và bảo đảm tính công bằng, tính hiệu quả

trong cung ứng DVCC nhằm đáp ứng nhu cầu của dân Đây cũng chính là

đặc trưng cơ bản của việc cung ứng dịch vụ công cộng cho xã hội của Nhà nước Nhà nước với tư cách là đơn vị quản lý chung tất cả các lĩnh vực của

Trang 18

đời sống xã hội trên địa bàn lãnh thổ nhất định Và để quản lý có hiệu quả các lĩnh vực đó thì nhà nước phải cam kết với xã hội rằng các dịch vụ mà mình cung ứng đều là những dịch vụ tốt nhất, đáp ứng nhu cầu cơ bản của toàn xã hội và tất cả đều công bằng trong việc thụ hưởng các dịch vụ đó Nhà nước đảm bảo sự công bằng và hiệu quả thông qua bộ máy nhà nước và hệ thống văn bản pháp luật quy định

Căn cứ vào khái niệm và đặc điểm trên của DVCC, có thể thấy các hoạt động quản lý và cung ứng DVCC của các cơ quan HCNN ở Lào hiện nay bao gồm các loại hình cơ bản như sau: hoạt động lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao, nước sạch và vệ sinh môi trường, giao thông công cộng, hệ thống chiếu sáng đô thị, phát triển nông thôn,… Đều được chú trọng và đầu

tư phát triển

Như vậy, qua các đặc điểm kể trên, chúng ta nhận thấy DVCC có thể được cung cấp bởi cả các tổ chức thuộc khu vực công và khu vực tư nhân Tuy nhiên, dù các dịch vụ công cộng đó được cung ứng bởi chủ thể nào thì Nhà nước vẫn phải đứng ra chịu trách nhiệm về chất lượng của các dịch vụ

công cộng được cung úng Chẳng hạn, mặc dù các bậc phụ huynh cho con cái

học ở trường tư thục, nhưng khi chất lượng giảng dạy của trường không đảm bảo, phụ huynh có quyền đòi hỏi Nhà nước phải chịu trách nhiệm vì đã cấp phép cho trường hoạt động mà không kiểm soát được hoạt động giảng dạy thực tế của trường học đó Đối với các loại DVCC khác đã được chuyển giao cho tư nhân, vấn đề trách nhiệm của Nhà nước cũng được xác định trên cơ sở lập luận tương tự, đó chính là việc cấp phép và cho phép các đơn vị tư nhân không đủ năng lực cung ứng dịch vụ công cộng cho xã hội Chính vì vậy, vấn

đề quản lý nhà nước đối với các DVCC càng đặt ra những vấn đề cần giải quyết

Trang 19

1.1.3 Phân loại dịch vụ công cộng

Ở các quốc gia khác nhau có nhiều cách phân loại DVCC khác nhau Việc phân loại các loại hình dịch vụ này tùy thuộc vào tính chất và đặc điểm của từng loại hình dịch vụ Ở các nước phát triển, các loại hình dịch vụ phát triển ở mức độ chuyên nghiệp hóa cao, các lĩnh vực được cụ thể và khá chi tiết Trong những loài hình dịch vụ cụ thể lại có nhiều dịch vụ đi kèm để mang lại sự hài lòng cho người sử dụng Chẳng hạn như dịch vụ bưu chính, viễn thông thì tách nhỏ ra thành các dịch vụ chuyển phát, dịch vụ viễn thông, truyền thanh, truyền hình,… dịch vụ nước sạch và vệ sinh môi trường có dịch

vụ quản lý rác thải, dịch vụ cấp, thoát nước,… dịch vụ vận tải có giao thông công cộng, vận tải tư nhân, hệ thống chiếu sáng,… Tuy nhiên, sự phân loại này chỉ mang tính chất tương đối Trong những năm qua ở nước CHDCND Lào cũng như ở Việt Nam và một số nước đang phát triển khác thì cách phân loại này về cơ bản cũng giống như các nước trên thế giới, mặc dù vậy, nó vẫn

có những điểm khác biệt và sự phân loại này vẫn đang ở trong giai đoạn đầu của sự chuyên nghiệp, chuyên môn hóa chưa cao Về cơ bản DVCC được chia ra thành hai nhóm chính:

Thứ nhất, nhóm dịch vụ xã hội là các loại hình dịch vụ phục vụ lợi ích

công cộng tập trung ở các lĩnh vực như giáo dục, văn hóa, y tế, thể thao, truyền thanh, truyền hình, viễn thông, nhà ở xã hội,… các loại hình dịch vụ này đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển chung của toàn xã hội Hiện nay, các tổ chức tư nhân, các đơn vị ngoài nhà nước tham gia khá nhiều trong các lĩnh vực kể trên, bởi chủ trương xã hội hóa các dịch vụ công mà nhà nước đưa ra trong thời gian qua Sự phát triển mạnh mẽ của các loại hình này góp phần làm phong phú, đa dạng các hình thức, tổ chức cung ứng dịch vụ công Qua đó, có sự cạnh tranh mạnh mẽ, góp phần nâng cao chất lượng cung ứng các loại hình dịch vụ trong thời gian qua Đối với các loại hình này, vài trò

Trang 20

quản lý của Nhà nước ngày càng được thể hiện ở sự uốn nắn và định hướng các hoạt động trên bằng các tiêu chuẩn và yêu cầu cụ thể đối với từng loại hình, giảm tải gánh nặng cho các đơn vị sự nghiệp công

Thứ hai, nhóm dịch vụ công ích là các hoạt động phục vụ lợi ích chung,

thiết yếu của cộng đồng đa phần là về lợi ích vật chất, đa phần là có tính chất kinh tế hàng hóa do các doanh nghiệp công ích thực hiện theo yêu cầu của Nhà nước, không nhằm mục tiêu lợi nhuận để phục vụ nhân dân như cung cấp điện, nước, kết cấu hạ tầng, vệ sinh môi trường, vận tải công cộng, hệ thống chiếu sáng, phòng cháy,… Các loại hình dịch vụ này là những loại hình dịch

vụ thiết yếu và cơ bản đảm bảo duy trì cuộc sống của người dân và của toàn

xã hội Chất lượng cuộc sống được nâng cao, nhu cầu hưởng thụ của người dân được đáp ứng nhiều hay ít phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng cung ứng các loại hình dịch vụ công ích này Chính vì lẽ đó, mà Nhà nước với vai trò là người quản lý chung toàn bộ xã hội, để thúc đẩy xã hội phát triển, đáp ứng nhu cầu của nhân dân thì vấn đề quản lý, định hướng hoạt động này trở thành yêu cầu cấp thiết

Sơ đồ 1.1: Phân loại dịch vụ công cộng

(Nguồn: PGS.TS Lê Chi Mai “Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam” năm 2003)

DỊCH VỤ CÔNG CỘNG

DỊCH VỤ XÃ HỘI

Trường học, bệnh viện, thể thao,

truyền thanh, truyền hình, thư viện,

viễn thông,…

DỊCH VỤ CÔNG ÍCH

Cung cấp điện, nước sạch sinh hoạt, vệ sinh môi trường, giao thông vận tải, hệ thống chiếu sáng, phòng cháy,,

Trang 21

1.1.4 Vai trò của dịch vụ công cộng

Đối với người dân, cảm thụ tính ưu việt của xã hội chính là thông qua những gì họ được thụ hưởng từ dịch vụ công cộng mang lại Nền kinh tế xã hội của một quốc gia càng phát triển thì nhu cầu đối với dịch vụ công cộng ngày càng cao và đòi hỏi Nhà nước cần phải chú trọng nhiều hơn nhằm tạo ra

sự công bằng, ổn định và phát triển xã hội một cách bền vững Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó, mà vai trò của dịch vụ công cộng ngày càng được thể hiện

rõ rệt hơn Về nguyên tắc, Nhà nước phải chịu trách nhiệm cao nhất và cuối cùng đối với việc cung ứng kịp thời, đầy đủ, đảm bảo chất lượng, có hiệu quả các loại dịch vụ công cho người dân và xã hội Do đó, có thể thấy vai trò của DVCC trên một số khía cạnh sau :

Thứ nhất, dịch vụ công cộng ra đời để đáp ứng các nhu cầu của xã hội, của người dân Đây là những dịch vụ công do nhà nước cung ứng hoặc ủy

quyền cho đơn vị ngoài nhà nước cung ứng và có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước Với vai trò của mình đối với xã hội, Nhà nước có trách nhiệm cung ứng đầy đủ tất cả các loại hình dịch vụ và không ngừng nâng cao chất lượng dịch

vụ đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội Chính vì vậy, có thể thấy rằng DVCC có vai trò to lớn tỏng việc đảm bảo cho các hoạt động của người dân trên tất cả các lĩnh vực như văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, vệ sinh môi trường, nước sạch,…

Thứ hai, các loại hình DVCC phát triển sẽ mang lại sự thuận tiện, nhanh chóng và bảo đảm cho người dân, tổ chức trong việc thụ hưởng dịch

vụ Chúng ta đang sống trong xã hội có sự phát triển nhanh chóng và mạnh

mẽ của khoa hoc, công nghệ Sự giao lưu hợp tác giữa các quốc gia trở nên đơn giản và dễ dàng hơn nhờ công nghệ thông tin, hệ thống giao thông vận tải đường bộ, đường thủy, đường hàng không,… tất cả những ưu thế đó đã tạo nên một thế giới phẳng, thế giới đa sắc mầu và phát triển Các loại hình dịch

Trang 22

vụ công cộng phát triển mạnh mẽ, không chỉ Nhà nước cung ứng, mà một số

tổ chức tư nhân được Nhà nước ủy quyền cung ứng cũng đang hoạt động và mang lại kết quả khả quan

Thứ ba, dịch vụ công cộng mang tính linh hoạt, nhanh nhạy do đó nó

thuận lợi trong việc đổi phương thức và cách tiếp cận sử dụng được dễ dàng, phù hợp với sự thay đổi của xã hội ở những giai đoạn khác nhau Các loại hình dịch vụ phong phú và đa dạng, cho nên khi tiếp cận và sử dụng thì đặc tính này đóng vai trò quan trọng đối với người sử dụng DVCC

Thứ tư, vai trò của DVCC còn được thể hiện ở tính cộng đồng của nó

Điều đó cho thấy khi sử dụng các loại hình dịch vụ công cộng thì các cá nhân, công dân, tổ chức có sự gắn kết lại, tạo thành mối liên hệ trong tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ Trong lĩnh vực giáo dục, y tế, … điều này được thể hiện rõ nét, vì dụ: Các dịch vụ y tế là hướng tới toàn thể người dân, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người dân, cho cộng đồng và toàn xã hội

Thứ năm, DVCC có vai trò nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân Đây là những dịch vụ hướng tới số đông, toàn thể mọi người trong xã

hội, đáp ứng những nhu cầu cấp thiết, thiết yếu của người dân như sủ dụng nước sạch, vệ sinh môi trường, hệ thống đèn điện chiếu sáng, giáo dục, y tế,… chính vì vậy mà DVCC có vai trò rất lớn đối với xã hội

1.2 Quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng

1.2.1 Khái niệm

DVCC là dịch vụ do Nhà nước chịu trách nhiệm cung ứng về chất lượng, số lượng và loại hình Việc làm rõ những nội dung cụ thể của trách nhiệm quản lý Nhà nước đối với DVCC là rất cần thiết, giúp cho việc cung ứng DVCC có hiệu quả, đặc biệt là khi Nhà nước đang trong quá trình chuyển đổi về chức năng, nhiệm vụ và huy động sự tham gia của các chủ thể trong xã

Trang 23

hội đối với những công việc của Nhà nước nói chung và việc cung ứng DVCC nói riêng

Từ giác độ chủ thể quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu hành chính cho rằng dịch vụ công cộng là những hoạt động của cơ quan nhà nước trong việc thực thi chức năng quản lý nhà nước và đảm bảo cung ứng các hàng hóa công cộng phục vụ nhu cầu chung, thiết yếu của xã hội Cách hiểu này nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của nhà nước đối với những hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội và cộng đồng

Theo cách tiếp cận này có thể hiểu quản lý nhà nước về dịch vụ công cộng là sự tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước đến các chủ thể cung cấp và đối tượng thụ hưởng dịch vụ công trong xã hội

Trong đó chủ thể quản lý là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có chức năng sử dụng quyền lực và các công cụ vĩ mô để quản lý Đối tượng quản lý là các tổ chức, cá nhân có chức năng, nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công cộng, bao gồm cơ quan nhà nước và các tổ chức được nhà nước ủy quyền hay tham gia cung cấp dịch vụ theo chủ trương xã hội hóa các dịch vụ công cộng, cùng với các đối tượng thụ hưởng gồm các tổ chức và công dân trong xã hội

Tuy nhiên, xuất phát từ vai trò, chức năng của nhà nước và đặc điểm của dịch vụ công cộng, trên cơ sở kết quả của việc nghiên cứu về khoa học tổ

chức và quản lý, tác giả cho rằng: Quản lý nhà nước đổi vói dịch vụ công cộng là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực của bộ máy nhà nước lên đối tượng bị quản lý (các cơ quan chức năng quản lý cung cấp DVCC được

uỷ quyền và công dân sử dụng DVCC) trong việc đảm bảo các dịch vụ công cộng cho mọi người dân một cách công bằng, ổn định, hiệu qủa và phi lợi nhuận

Trang 24

1.2.2 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng

Sự cần thiết phải có sự quản lý nhà nước đối với DVCC trước hết do DVCC có vai trò quan trọng, liên quan đến sự tồn tại và phát triển của nhà nước, của toàn xã hội, góp phần vào việc thực hiện mục tiêu phát triển đất nước QLNN đối với DVCC có hiệu quả sẽ tạo ra được niềm tin, sẽ gắn kết mọi người dân với nhà nước và xã hội Từ thực tiễn phát triển DVCC, nhiều nước Phương Tây đã nêu lý luận rằng: Sự tăng trưởng kinh tế sẽ dẫn đến việc

đô thị hóa, sự cải thiện về công nghệ và cơ sở hạ tầng; sẽ dẫn đến sự gia tăng

số cá nhân có đủ thời gian, kiến thức, thông tin và tiền bạc để tham gia các hoạt động chính trị, thúc đẩy dân chủ hóa đòi hỏi phải có nền dân chủ cách mạng tự do

Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, là nhà nước pháp quyền, của dân, cho dân và vì dân thì việc quản lý nhà nước đối với DVCC sẽ tạo ra niềm tin, vừa gắn kết giữa công dân với nhà nước và chế độ là hết sức cần thiết

QLNN đối với DVCC có hiệu quả sẽ đã tạo thêm nhiều việc làm, phát triển mạng lưới y tế, giáo dục, giao thông vận tải, vệ sinh môi trường,… làm cho người dân có thêm động lực, tích cực góp phần bảo vệ, xây dựng đất nước, ổn định xã hội, nâng cao mức sống và sức cạnh tranh của nền kinh tế

Sự phát triển mạng lưới cơ sở hạ tầng (giao thông, điện lưới, giáo dục, y tế, phát thanh truyền hình, bưu chính, viễn thông…) đã giúp đưa các vùng lạc hậu, xa xôi, hẻo lánh của đất nước hội nhập với tiến trình phát triển chung, củng cố, tăng cường an ninh, quốc phòng QLNN đối với DVCC có hiệu quả còn tạo ra nguồn lực to lớn cho xã hội, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Đây chính là tài nguyên vô giá cho sự phát triển trong tương lai Như vậy, quản lý nhà nước đối với DVCC có hiệu quả sẽ góp phần điều chỉnh sự phát triển chênh lệch trong nước, tạo thế phát triển bền vũng

Trang 25

Quản lý nhà nước đối với DVCC có hiệu quả sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Việc tạo lập môi trường đầu tư an toàn, hiệu quả cho các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế ngoài nhà nước hoạt động Trong thời gian qua, các đơn vị này tham gia cung ứng nhiều loại hình dịch vụ công cộng, góp phần tạo lên sực cạnh tranh mạnh

mẽ đối với khu vực công, từ đó đã tạo ra lợi thế cho sự tăng trưởng kinh tế, khơi dậy mọi nguồn lực trong phát triển Tuy nhiên, chính sự đa dang và phong phú về chủ thể cung ứng và các hình thức DVCC được cung ứng, Nhà nước cần phải đảm bảo vai trò quản lý của mình một cách tốt nhất, có như vậy mới đảm bảo cho hoạt động cung ứng DVCC được hiệu quả và theo đúng hướng

QLNN đối với DVCC tốt chính là thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính mang tính phục vụ CCHC ở Lào đang được tiến hành mạnh mẽ, hướng tới các lĩnh vực và trên diện rộng, trong đó các lĩnh vực cung ứng các hoạt động, các dịch vụ công cộng góp phần thiết yếu và thể hiện rõ sự chuyển biến của cải cách hành chính trong thời gian qua Chính vì lẽ đó mà tăng cường QLNN đối với DVCC là một yêu cầu bức thiết của CCHC trong giai đoạn mới

1.2.3 Mục tiêu quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng

Mục tiêu của quản lý nhà nước đối với DVCC mang nhiều nét tương đồng với mục tiêu của QLNN đối với toàn xã hội Mục tiêu chung của QLNN đối với DVCC chính là trạng thái mong đợi, cần có của nhà nước trong việc thực hiện trách nhiệm cung ứng DVCC cho xã hội một cách hiệu quả nhất trong khả năng cho phép thông qua việc tạo ra các DVCC có chất lượng, đủ

về lượng, cơ cấu, chủng loại theo đúng yêu cầu của xã hội và với giá cả hợp

lý nhất; các DVCC được cung ứng một cách tốt nhất theo đúng các nguyên tắc và thể chế đã định; thu được sự cảm nhận hài lòng của người dân trong

Trang 26

việc sử dụng DVCC; góp phần tích cực nhất vào việc đạt được mục tiêu quản

lý chung của Nhà nước Các mục tiêu cơ bản trong quản lý DVCC của nhà nước phải hướng đến ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, tạo được lòng tin nhân dân đối với nhà nước nói riêng, với

chế độ xã hội nói chung Đây được xem là mục tiêu mang tính định tính, khá trừu tượng, thế nhưng đây lại chính là mục tiêu mang tính bền vững, tạo dựng lòng tin trong nhân dân và toàn xã hội

Thứ hai, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống mọi mặt cho nhân dân (dân trí, sức khỏe, việc làm, tổ chức đời sống, …) Các DVCC mà nhà

nước hướng tới đều là vì người dân, các biện pháp tổ chức triển khai, quản lý, cung ứng đều vì mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân

Thứ ba, góp phần thúc đẩy sức sản xuất phát triển, xây dựng đất nước

giàu có, văn minh (tạo môi trường kinh doanh sản xuất lành mạnh,…) Khi các DVCC được triển khai mạnh và sâu rộng, các chủ thể cung ứng tăng lên, các loại hình DVCC phong phú, người dân có nhiều sự lựa chọn, sức cạnh tranh của loại hàng hóa này tăng cao,… đây chính là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp, các đơn vị cung ứng phát triển

Thứ tư, tạo mọi cơ hội cho công dân phát triển (học hành, việc làm, sản

xuất kinh doanh, giao lưu quốc tế, phát triển tư duy sáng tạo,…) Bên cạnh việc thúc đẩy các doanh nghiệp, các đơn vị cung ứng phát triển thì công dân thụ hưởng cũng có nhiều điều kiện phát triển hơn, bởi chất lượng dịch vụ tốt,

đa dang và phong phú thì cơ hội học hành, giao lưu, sử dụng dịch vụ sẽ tốt hơn

Thứ năm, thu hút mọi nguồn lực, mọi mối quan hệ tích cực từ bên ngoài, từng bước nâng cao uy tín quốc gia trên trường quốc tế Bên cạnh đó

thì các doanh nghiệp, các tổ chức nước ngoài cũng có điều kiện phát triển,

Trang 27

mang lại vẻ tươi mới và sự phát triển mạnh mẽ trong quá trình hội nhập của đất nước

1.2.4 Nguyên tắc cung ứng dịch vụ công cộng cho xã hội

Xã hội có phát triển ở mức độ nào, dù ở chế độ xã hội nào thì Nhà nước cũng phải có trách nhiệm bảo đảm cung ứng DVCC cho người dân và toàn xã hội Trên thế giới hiện nay, xu hướng phổ biến là nhà nước chỉ trực tiếp cung ứng những DVCC mà các tổ chức xã hội không thể làm, hoặc không muốn làm Trong điều kiện ở nước CHDCND Lào hiện nay, Nhà nước đang đẩy mạnh xã hội hóa việc cung ứng các DVCC như dịch vụ trường học, bệnh viện, văn hóa, xã hội; đồng thời, phân cấp mạnh cho các cấp chính quyền địa phương trực tiếp quản lý và cung ứng các loại DVCC liên quan trực tiếp đến đời sống của người dân

Về nguyên tắc, Nhà nước phải chịu trách nhiệm cao nhất và cuối cùng đối với việc cung ứng kịp thời, đầy đủ, đảm bảo chất lượng, có hiệu quả các loại dịch vụ công cộng cho người dân và xã hội Vì vậy, Nhà nước là người quản lý, định hướng, giám sát và kiểm tra đối với tất cả các chủ thể cung ứng dịch vụ công cộng hiện nay Về cơ bản, các nguyên tắc trong cung ứng DVCC cũng giống như các nguyên tắc trong cung ứng DVC, vì DVCC chính

là một bộ phận nằm trong DVC, các nguyên trong cung ứng DVCC là :

Nguyên tắc công bằng: Đòi hỏi DVCC phải đảm bảo cung ứng cho xã

hội các hàng hoá công cộng với ý nghĩa và đặc trưng vốn có của các hàng hoá công cộng Đó chính là sự thụ hưởng của mọi đối tượng đều như nhau, các đơn vị cung ứng chất lượng phải theo những chuẩn mực nhất định và đảm bảo hướng đến mọi đối tượng đáp ứng mọi nhu cầu trong thụ hưởng và dựa trên

cơ sở công bằng

Nguyên tắc công khai, minh bạch: Đây là yêu cầu chính đáng của

người dân và xã hội, đòi hỏi Nhà nước và các tổ chức cung ứng DVCC cho

Trang 28

biết có việc tổ chức thực hiện cung cấp DVCC như thế thế nào? Quy trình cung ứng DVCC ra sao? Các khó khăn cung ứng? cách tiếp cận và sử dụng dịch vụ?,… Tất cả đều phải được công khai, minh bạch, trên nguyên tắc tổ chức của Nhà nước để dân biết, dân bàn, dân kiểm tra và cân nhắc trong việc

sử dụng

Nguyên tắc dân chủ: Đây là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt

động của các đơn vị cung ứng DVCC Cả Nhà nước và các đơn vị ngoài nhà nước khi tiến hành cung ứng dịch vụ đều phải lấy dân làm đối tượng và là mục tiêu hướng đến, tất cả là để phục vụ nhân dân Sự hài lòng của người dân

là thước đo cho sự phát triển của dịch vụ Ở đây người dân là chủ và người dân chính là khách hàng cần được cung ứng Đó cũng là nguyên tắc đảm bảo cho sự phát triển thực sự, hướng nền hành chính nước nhà theo hướng phục

vụ, chuyển sang nền hành chính phục vụ, đó là định hướng mà các nước phát triển luôn hướng tới

Nguyên tắc pháp chế: Đòi hỏi tổ chức và hoạt động cung ứng các

DVCC cho xã hội phải dựa trên cơ sở hiến pháp và các quy định của pháp luật, các cam kết mà Nhà nước đã hứa thực hiện trước dân chúng và các cam kết mà Nhà nước tham gia ký kết với quốc tế trong việc cung ứng DVCC trên toàn quốc

Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả: Đòi hỏi DVCC cung ứng cho xã hội

phải là nhwungx dịch vụ có chất lượng tốt, hiệu quả cao và là những dịch vụ tiết kiệm nhất Điều đó đòi hỏi các đơn vị cung ứng luôn tìm tòi, sáng tạo và luôn thay đổi để có được những dịch vụ tốt nhất với chi phí hợp lý nhất Hiệu quả tiết kiệm phải đạt được sự thống nhất của 3 yêu cầu: Kinh tế có nghĩa là cung cấp DVCC chất lượng tốt bằng chi phí hợp lý nhất; Hiệu quả, có nghĩa

là làm được nhiều việc trong phạm vi cho phép, mang lại nhiều lợi ích cho xã hội một cách công bằng và đúng đắn; Chất lượng, có nghĩa là thuận tiện cho

Trang 29

dân, công khai và làm cho người dân luôn luôn hài lòng về các sản phẩm và dịch vụ mình sử dụng

1.2.5 Các công cụ quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng

Công cụ quản lý của nhà nước đối với dịch vụ công cộng chính là các phương tiện hữu hình hoặc vô hình mà nhà nước sử dụng để tác động lên các đối tượng trong hoạt động quản lý cung ứng dịch vụ công cộng cho xã hội

Thứ nhất, đó là chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển về DVCC để thực hiện các cam kết của Nhà nước với xã hội Có thể nói

chiến lược phát triển của Nhà nước đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển của các loại hình DVCC Khi DVCC được định hướng, được quy hoạch phát triển thì đây sẽ là những dịch vụ hữu hiệu, trực tiếp đáp ứng yêu cầu của Nhà nước để quản lý xã hội Các kế hoạch phát triển trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn luôn là các giai đoạn phát triển cụ thể, mang tính đình lượng, định tính trong phát triển DVCC ở Lào

Thứ hai, đó chính là những cam kết của Nhà nước đối với toàn xã hội

Mỗi một Nhà nước khác nhau, chế độ khác nhau sẽ có những biện pháp, công

cụ quản lý nhà nước khác nhau Tuy nhiên, nhà nước nào cũng phải đảm bảo

và cam kết với người dân và xã hội rằng Nhà nước sẽ đảm bảo trên thực tế cung ứng đầy đủ các loại hình dịch vụ cho xã hội, trong đó có các dịch vụ công cộng để ổn định và đảm bảo sự phát triển của Nhà nước, của xã hội

Thứ ba, Nhà nước dựa vào hệ thống pháp luật để điều chỉnh các vấn đề

có liên quan đến hoạt động cung ứng và sử dụng DVCC trong xã hội Đây chính là các ràng buộc mang tính bắt buộc chung mà nhà nước đặt ra, bảo vệ, thực hiện nhằm đảm bảo cho các hoạt động được diễn ra trên thực tế theo định hướng Bên cạnh đó, Nhà nước còn sử dụng công cụ là các chính sách cụ thể để quản lý, thức đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của loại hình dịch vụ nào

đó đáp ứng yêu cầu của quản lý nhà nước đối với xã hội

Trang 30

Thứ tư, là bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong toàn hệ thống để bảo đảm cung ứng các DVCC Hiện nay, tổ chức bộ

máy nhà nước ở nước CHDCND Lào đang thực hiện chức năng quản lý hiệu quả và phát triển theo hướng tinh gọn, thực hiện tốt mọi nhiệm vụ của Nhà nước, trong đó có chức năng quản lý nhà nước về DVCC Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước không ngừng được nâng cao về trình độ và chất lượng Đây chính là công cụ quan trọng và mang tính quyết định trong mọi công việc của Nhà nước, có cả công tác QLNN về DVCC, bởi xét đến cùng thì con người vẫn là nhân tố quyết định mọi thắng lợi

Thứ năm, là phương thức thu hút các nguồn lực của nhân dân trong xã hội và của các quốc gia khác trong khả năng có thể Đây được xem là công

cụ mang tính sáng tạo và là bước đột phá trong công tác quản lý nhà nước về DVCC, để có được những nguồn lực tốt nhất thúc đẩy phát triển các loại hình dịch vụ

Thứ sáu, đó là tài sản của Nhà nước nắm trong tay (bao gồm: ngân

sách nhà nước, tài nguyên quốc gia, công khố, kết cấu hạ tầng xã hội, các tổ chức trực tiếp cung ứng DVCC của nhà nước v.v ) Đây được xem là đòn bẩy, nền tảng để tạo điều kiện cho DVCC phát triển

Thứ bảy, nhà nước phải sử dụng tới hệ thống thông tin trong quản lý

DVCC một cách thông suốt, minh bạch, hai chiêu, thuận tiện cho việc quản lý nhạy bén của nhà nước, loại bỏ được các ách tắc không đáng có và tiếp thu kịp thời nhũng ý kiến phản hồi của nhân dân, của các đối tượng quản lý và cả của những người, những tổ chức sử dụng dịch vụ

Như vậy, việc sử các công cụ quản lý nhà nước như trên theo hướng nào và cách nào nó còn phụ thuộc vào nhà quản lý, đặc biệt là nhà lý cấp cao Tuy nhiên, trên góc độ quản lý nhà nước, chúng ta có thể sử dụng công cụ nào, mức độ ra sao còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, song phổ biến hiện nay ở

Trang 31

các nhà nước, các chính quyền đều sử dụng đồng bộ các công cụ nói trên thành tổng thể các công cụ để điều chỉnh các loại hình DVCC

1.2.6 Nội dung quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng

DVCC là dịch vụ do Nhà nước chịu trách nhiệm về chất lượng cung ứng Việc làm rõ những nội dung cụ thể của trách nhiệm quản lý của Nhà nước đối với DVCC là rất cần thiết, giúp cho việc cung cấp DVCC có hiệu quả, đặc biệt là khi Nhà nước đang trong quá trình chuyển đổi về chức năng, nhiệm vụ và huy động sự tham gia của nhiều chủ thể trong xã hội đối với các công việc của Nhà nước nói chung và việc cung ứng DVCC nói riêng

- Hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của từng ngành, lĩnh vực cụ thể như giáo dục, y tế, văn hóa , làm cơ sở để định hướng hoạt động của các chủ thể khác nhau cùng tham gia cung ứng các DVCC

trong từng lĩnh vực đó Công tác hoạt định chiến lược đòi hỏi các cấp các ngành cần có những chủ trương, đề xuất hợp lý để có được định hướng phát triển tốt nhất Ngoài ra, nguồn nhân lực chính thực hiện công tác này phải là đội ngũ cán bộ có trình độ cao, am hiểu về lĩnh vực chuyên sâu Có như vậy mới có thể hoạch định được những kế hoạch phát triển trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn một cách hợp lý, khoa học, đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững Qua đó góp phần thiết thực trong quản lý nhà nước đối với DVCC

- Xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách trong việc cung ứng các loại DVCC: Hiện nay, có nhiều chủ thể khác nhau cùng tham gia cung ứng

DVCC: Nhà nước, thị trường, các tổ chức xã hội và cá nhân Việc cung ứng DVCC của các chủ thể này nhằm những mục đích khác nhau Chính vì vậy, Nhà nước cần phải xây dựng một hệ thống thể chế, chính sách đối với việc cung ứng DVCC, làm căn cứ để quản lý thống nhất; đồng thời, là cơ sở để các

tổ chức xã hội và công dân có thể lựa chọn và tham gia vào việc cung ửng các DVCC có hiệu quả

Trang 32

Với quyền lực của mình, Nhà nước đề ra các thể chế quy định cụ thể những vấn đề mà mọi tổ chức, cá nhân phải tuân theo (nghĩa vụ, trách nhiệm quyền lợi ) khi tham gia cung ứng và sử dụng các DVCC - trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh và hiệu quả về kinh tế và tính công bằng về xã hội

- Thống nhất chỉ đạo cung cấp DVCC trong toàn xã hội, theo từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương Mọi đối tượng xã hội đều có quyền

thụ hưởng DVCC một cách bình đẳng, không phân biệt điều kiện, hoàn cảnh, thành phần chính trị - xã hội Tuy nhiên, do hoàn cảnh phát triển của đất nước không đồng đều, các khu vực có sự phát triển khác nhau, đời sống kinh tế, văn hóa khác nhau, nên mức độ nhu cầu đối với các dịch vụ không giống nhau Do đó, để có sự bình đẳng trên thực tế, Nhà nước cần có sự chỉ đạo tập trung thống nhất để việc cung cấp DVCC thực sự đến với người hưởng thụ một cách có hiệu quả Đồng thời, dưới sự chỉ đạo tập trung thống nhất của Chính phủ, các ngành và các địa phương lại phải có những điều chỉnh trong việc cung ứng các DVCC về cả số lượng, loại hình và giá cả cho phù hợp với đặc thù của ngành hoặc của địa phương mình

- Nhà nước điều tiết cung cấp các dịch vụ công cộng

Nhà nước dùng quyền lực điều tiết việc cung ứng DVCC nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.Việc thụ hưởng các dịch vụ công cộng của Nhà nước luôn diễn ra theo hai chiều, giữa một bên cung ứng

và một bên thụ hưởng Đo đó, Nhà nước cần điều tiết làm sao cho quá trình

đó được diễn ra hài hòa, hợp lý đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức, cũng như nghĩa vụ của công dân và tổ chức đối với Nhà nước Theo đó thì việc không ngừng cải tiến chất lượng cung ứng dịch vụ công cộng; cung cấp thông tin, dự báo và kinh nghiệm trong nước và thế giới có liên quan đến cung ứng dịch vụ công cộng là đòi hỏi không thể thiếu trong hoạt động cung ứng dịch vụ của Nhà nước

Trang 33

Để các hoạt động cung cấp dịch vụ công cộng của nhà nước có hiệu quả, nhà nước phải không ngừng có những điều chỉnh, cải cách hoạt động cung cấp dịch vụ công cộng ở tầm vĩ mô; xác định rõ các loại dịch vụ công cộng nào thực sự là dịch vụ nhà nước phải cung cấp cho xã hội, mức độ can thiệp của nhà nước trực tiếp hay gián tiếp qua việc cấp tài chính hay chỉ đề ra các tiêu chuẩn về chất lượng, giá cả và mở rộng sự tham gia của các chủ thể khác trong xã hội trong khuôn khổ pháp luật cho phép Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đào tạo nguồn nhân lực, cung cấp thông tin, lập kế hoạch phát triển từng lĩnh vực trong cung ứng dịch vụ công cộng Dịch vụ công cộng là dịch vụ do Nhà nước chủ đạo và chịu trách nhiệm cung ứng, do vậy cần làm

rõ trách nhiệm cụ thể của nhà nước trong việc cung ứng dịch vụ công cộng, nhất là trong giai đoạn Nhà nước đang chuyển đổi theo hướng phục vụ, cần huy động các nguồn lực xã hội tham gia cung ứng dịch vụ công cộng hiện nay

- Tổ chức thực hiện xã hội hoá các dịch vụ công cộng

Chủ trương xã hội hóa các dịch vụ công cộng hiện nay đang là một chủ trương đúng đắn của Đảng nhân dân cách mạng Lào và Nhà nước Sự phát triển không ngừng của các loại hình dịch vụ trong xã hội đã và đang đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác quản lý của Nhà nước Hòa chung với xu hướng của thế giới, ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong những năm qua đã có nhiều thay đổi trong vấn đề xã hội hóa các dịch vụ công cộng, nhà nước khuyến khích và động viên, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tư nhân, các tổ chức ngoài Nhà nước có năng lực và đáp ứng yêu cầu trong việc cung ứng các dịch vụ công cộng cho xã hội, Nhà nước chỉ quản lý về chất lượng và đặt ra các tiêu chuẩn đạt chuẩn để quản lý các đối tượng này Chính

vì vậy, trong những năm qua các ngành, lĩnh vực như y tế, giáo dục, giao thông vân tải, vệ sinh môi trường nông thôn, đô thị,… đã có những thay đổi

Trang 34

đáng kể Đó chính là sự tham gia của thành phần kinh tế tư nhân, các trường học tư thục, các bệnh viện tư nhân, phòng khám tư nhân, các tổ chức giáo dục quốc tế, các công ty tư nhân đảm trách vệ sinh môi trường ngày càng nhiều,…

từ đó mà chất lượng cung ứng dịch vụ công cộng ngày càng tốt

- Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm để việc cung ứng DVCC đáp ứng yêu cầu của xã hội Việc khu vực tư và các tổ chức xã hội tham gia cung ứng

DVCC là một xu thế khách quan, làm cho các sản phẩm, dịch vụ đa dạng hơn, giá cả rẻ hơn và chất lượng được nâng cao Tuy nhiên, điều này lại đòi hỏi Nhà nước phải kiểm soát chặt chẽ hơn rất nhiều so với trước kia, khi Nhà nước là chủ thể duy nhất cung ứng DVCC cho xã hội, bởi mục tiêu mà các chủ thể ngoài Nhà nước hướng tới không chỉ là phục vụ, mà còn là lợi nhuận

1.2.7 Bộ máy quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng

Đề cập tới bộ máy quản lý nhà nước (QLNN) đối với DVCC cũng chính là bộ máy QLNN đối với dịch vụ công (DVC), bởi lẽ DVCC chính là một phần, một bộ phận nằm trong DVC Theo đó thì các cơ quan QLNN đối với DVC cũng chính là các cơ quan QLNN đối với DVCC Ở nhiều quốc gia, trong đó có CHDCND Lào hiện nay, chức năng này được giao cho các cơ quan hành pháp, hay đúng hơn là các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương Theo phân cấp quản lý đối với hoạt động cung ứng DVCC trên phạm vi toàn lãnh thổ

Công tác QLNN đối với các DVCC được phân cấp quản lý giữa trung ương và chính quyền địa phương Các cơ quan Trung ương chính là Chính phủ và các Bộ, ngành thực hiện quản lý các DVCC được phân cấp Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này tác giả chỉ đề cập đến phân cấp quản lý nhà nước đối với các DVCC ở cấp tỉnh, đó là các cơ quan trong bộ máy QLNN cấp tỉnh gồm UBND và các Sở, trong bộ máy QLNN cấp huyện gồm UBND và các phòng

Trang 35

Theo cách hiểu được nhiều người thừa nhận thì: Phân cấp là một phương pháp quản lý trong đó chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các tổ chức trong hệ thống các cơ quan thực thi quyền hành pháp được phân chia, phân công một cách cụ thể thông qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật theo nguyên tắc trao cho cơ quan cấp dưới nhiều quyền ra quyết định các vấn

đề có liên quan và tăng cường sự giám sát hoạt động của các cơ quan đó thông qua hệ thống trách nhiệm báo cáo Đồng thời, phân cấp là quá trình cải cách hành chỉnh nhằm xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và chịu trách nhiệm của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước từ trung ương đến tận cơ sở nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý hành chính nhà nước và cơ chế chuyển giao nhiệm vụ cho các tổ chức bên ngoài nhà nước

1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng ở một số tỉnh, thành phố và bài học cho tỉnh Xiêng Khoảng, nước Cộng hòa

dân chủ nhân dân Lào

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng ở Thành phố Hồ Chí Minh, nước CHXHCN Việt Nam

Thành phố Hồ Chí Minh được đánh giá là một trong những thành phố

có tốc độ phát triển kinh tế lớn trong khu vực Đông Nam Á, là một trong những thành phố phát triển bậc nhất ở Việt Nam, nơi đây trước kia được mệnh danh là “Hòn ngọc viễn đông” và hiện nay thành phố cũng là đơn vị đi đầu trong công tác QLNN về DVCC ở Việt Nam

Trong công tác QLNN về cung ứng DVC nói chung và DVCC nói riêng thì thành phố là đơn vị đi đầu với những cải cách mang tính đột phá cao

Là đơn vị đầu tiên ở Việt Nam xây dựng cổng thông tin “một cửa điện tử” từ 15/12/2008 tại địa chỉ www.hochiminhcity.gov.vn Thông qua hệ thống này, người dân và doanh nghiệp biết được tình trạng giải quyết hồ sơ của toàn

Trang 36

thành phố, của từng quận/huyện, từng sở, ngành “Một cửa điện tử” cung cấp thông tin một cách tự động và trực tuyến từ hệ thống CNTT tại các đơn vị Người dân có thể dùng phương tiện liên lạc thông dụng nhất hiện nay là điện thoại để được trả lời tự động về tình trạng hồ sơ bằng thoại, tin nhắn qua “một cửa điện tử” “Một cửa điện tử” là công cụ hữu hiệu để người dân và lãnh đạo giám sát các DVCC Các loại hình dịch vụ như văn hóa, giáo dục, y tế, hệ thống giao thông vận tải, đều được đăng tải và công khai về quy trình và lịch trình, các mẫu hồ sơ, đấu thầu trong giải quyết các công việc đều được minh bạch và công khai Điều này giúp choi người dân và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận và sử dụng dịch vụ, nó cũng góp phần xã hội hóa các dịch vụ công cộng nhanh và sâu rộng hơn

Đến nay đã có 24 quận/huyện và 7 sở, ngành tham gia hệ thống “một cửa điện tử” Ngoài việc truy cập website và sử dụng điện thoại qua hệ thống một cửa điện tử, người dân có thể tra cứu thông tin trực tiếp tại các quận/huyện, sở, ngành qua hệ thống mã vạch với màn hình cảm ứng Như vậy, người dân được cung cấp thông tin ở mọi nơi, mọi lúc 24/7 và không phụ thuộc vào tinh thần làm việc hay thái độ của cán bộ, công chức nhà nước

Không những thế thành phố Hồ Chí Minh còn là đơn vị đi đầu trong cấp phép trực tuyến Cấp giấy phép qua mạng đối với giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh, giấy chứng nhận đầu tư và giấy phép thành lập văn phòng đại diện Hàng năm có hàng chục ngàn doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và có trên 50% doanh nghiệp đăng ký trực tuyến Hình thức phục vụ này đã làm giảm thời gian chờ đợi, đi lại của người dân, giảm được áp lực lên cơ quan cấp phép, đồng thời cũng được giảm áp lực lên giao thông

Hiện nay, các quận, huyện cấp 52 loại giấy phép thì đã có 50 loại thuộc

6 lĩnh vực được ứng dụng CNTT Từ lúc nhận hồ sơ, chuyển qua xử lý và cấp giấy phép đều được thực hiện trên mạng máy tính

Trang 37

Tất cả những sự thay đổi đó hướng đến một nền hành chính phát triển, mang dáng vóc của một nền hành chính phục vụ nhân dân, lấy công dân và tổ chức làm trọng tâm, lấy chất lượng cung ứng dịch vụ làm thước đo cho hiệu quả công việc của các cơ quan công quyền

1.3.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng ở thủ

đô Viên Chăn, nước CHDCND Lào

Hiện nay, thủ đô Viên Chăn với các ngành thế mạnh là du lịch, thương mại, công nghiệp Những ngành nghề đặc biệt phát triển là công nghệ thực phẩm, dệt lụa, đóng đồ gỗ, làm thủ công mỹ nghệ, Nhờ có đường lối đổi mới nền kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý mà đã tạo ra luồng sinh khí mới cho kinh tế phát triển, trong đó có các loại hình dịch vụ công với các hàng hóa dịch vụ công cộng phát triển Cũng từ đó thủ đô Viên Chăn có một hệ thống

cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải phát triển ( đường xá, cầu cống, sân bay, nhà ga, ) và hệ thống thông tin liên lạc, các dịch vụ viễn thông không ngừng lớn mạnh và phát triển Vì vậy, đây sẽ là động lực rất quan trọng để phát triển các ngành dịch vụ, trong đó có các dịch vụ hàng hóa công cộng thúc đẩy phát triển kinh tế ở thủ đô Viên Chăn

Trong QLNN đối với dịch vụ công nói chung, đối với các dịch vụ công cộng nói riêng, thủ đô Viên Chăn giao cho các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thực hiện, các đơn vị cung ứng dịch vụ phải tuân thủ các quy định của pháp luật, của cơ quan quản lý cấp trên và tuân thủ các quy tắc, chuẩn mực của từng ngành, lĩnh vực cụ thể

Đối với QLNN về văn hóa, giáo dục thì việc thành lập hay đóng cửa một trường học do cơ quan quản lý và trách nhiệm thuộc về người đứng đầu quyết định Trách nhiệm cung cấp giáo dục bậc tiểu học và trung học thuộc về Chính phủ trung ương Ngoại trừ chuyển giao việc xây dựng và bảo dưỡng trường học cho các cơ quan ở thủ đô Viên Chăn

Trang 38

Đối với QLNN về y tế chính quyền ở thủ đô Viên Chăn chịu trách nhiệm về những chức năng y tế đơn giản và thiết thực đối với địa phương (ví dụ: dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản và ban đầu được giao cho cấp Phường, Bản); còn cấp cao hơn chịu trách nhiệm đối với những chức năng hoặc những vấn đề y tế có quy mô lớn hoặc có liên quan đến nhiều cấp thẩm quyền (ví dụ: các bệnh viện cấp ba và bệnh viện chuyên khoa chủ yếu thuộc trách nhiệm của Sở Y tế, Bộ Y tế, chính quyền trung ương) Đối với những nhu cầu thiết thân của người dân như chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, kế hoạch hóa gia đình, Chính phủ trung ương tiếp tục trực tiếp cung ứng với sự tham gia của chính quyền địa phương các cấp

Đối với chức năng QLNN về lĩnh vực thông tin liên lạc, giao thông vận tải,… giao cho các Sở ban ngành chuyên môn phụ trách theo đúng chức năng

và nhiệm vụ quyền hạn được giao, trên cơ sở báo cáo chính quyền thủ đô Viên Chăn mà trực tiếp là UBND thành phố để có sự chỉ đạo trực tiếp và sâu sát nhất

1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào về quản lý nhà nước đối với dịch vụ công cộng

Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, việc học tập kinh nghiệm từ các thành phố lớn, có nhiều thành tựu trong công tác QLNN đối với DVCC là điều cần thiết, không chỉ ở trong nước mà còn ở các thành phố ở nước ngoài

có nhiều điểm tương đồng như Việt Nam Thủ đô Viên chăn của nước Lào và thành phố Hồ Chí Minh của Việt Nam là hai thành phố có bước phát triển mạnh mẽ về các loại hình DVCC, điều đó cho thấy công tác QLNN đối với DVCC ở hai thành phố này thực hiện tốt và rất đáng học tập, noi theo Những bài học đúc kết từ quá trình cải cách, đổi mới trong quản lý và cung ứng dịch

vụ công cộng sẽ mở ra hướng đi tiếp theo cho công tác quản lý Nhà nước đối

Trang 39

với DVCC ở tỉnh Xiêng Khoảng Sau đây là một số bài học kinh nghiệm rút

ra từ thực tiễn học tập công tác QLNN về DVCC ở tỉnh Xiêng Khoảng:

Một là, xây dựng, đào tạo đội ngũ công chức nhà nước đủ năng lực,

trình độ, có khả năng đáp ứng được các yêu cầu ngày càng cao trong giai đoạn mới, có tinh thần thái độ, có trách nhiệm trong thực thi công vụ Đây là nhân tố quan trọng nhất, hàng đầu hiện nay, bởi vì xét cho cùng thì đây chính

là lực lượng nhất quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt động cung ứng DVCC Đồng thời, đội ngũ này cũng chính là những người quản lý các

DVCC theo định hướng

Hai là, tăng cường cơ sở pháp lý, tạo hành lang pháp lý cơ bản và hoàn thiện để điều chỉnh các quan hệ lên quan đến QLNN về DVCC ( ban

hành các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách chế độ thể lệ ) đảm bảo sự

ổn định và thúc đẩy sự phát triển của hệ thống cung ứng dịch vụ công cho toàn xã hội; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch định hướng phát triển mạng lưới cung ứng dịch vụ công cho toàn xã hội, đồng thời tổ chức chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển hệ thống cung ứng dịch vụ công

Ba là, cần phân định rõ những dịch vụ công cộng do các cơ quan, tổ chức nhà nước trực tiếp cung ứng và DVCC do các đơn vị, tổ chức tư nhân,

từ đó cơ cấu lại chi tiêu ngân sách theo hướng tập trung đầu tư thích đáng cho việc cung ứng các DVCC cơ bản, thiết yếu nhất còn dịch vụ nào có thể chuyển giao thì sẽ chuyển giao cho đơn vị tư nhân thực hiện để giảm tải cho ngân sách nhà nước

Bốn là, tăng cường đầu tư xây dựng, thiết lập quy trình và phát triển cơ

sở hạ tầng, CNTT đồng bộ trong việc cung ứng các DVCC; hiện đại hoá công

sở nhằm nâng hiệu quả làm việc của CBCC và chất lượng cung ứng DVCC Hiện nay, mạng internet phát triển, cùng với việc khoa học kỹ thuật phát triển không ngừng như hiện nay là xu thế hội nhập quốc tế thì việc tăng cường đầu

Trang 40

tư xây dựng, phát triển cơ sở kỹ thuật hạ tầng phục vụ nền hành chính cần được coi như một trong các giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng DVCC

Năm là, cải cách chất lượng cung ứng DVCC làm thay đổi nhận thức về

vai trò và chức năng của nhà nước từ quản lý sang hỗ trợ và phục vụ Mục tiêu của cải cách là lấy yêu cầu của người dân, cộng đồng và doanh nghiệp làm cơ sở cho những quyết sách của nhà nước với phương châm phục vụ là tiêu chí hàng đầu trong cải cách nền HCNN theo hướng phát triển

Sáu là, đẩy mạnh hơn nữa xã hội hóa dịch vụ công cộng Xã hội hóa

dịch vụ công cộng đem lại những lợi ích không hề nhỏ Việc thay đổi nhận thức về vai trò của Nhà nước đối với các DVCC - lĩnh vực mà trước đây chỉ

có Nhà nước đảm trách - thì hiện nay đã đã chuyển giao một phần cho các tổ chức ngoài nhà nước Có thể kể đến các DVCC như: dịch vụ sự nghiệp công, cung ứng dịch vụ về văn hóa, giáo dục, y tế, thể thao,… đã từng bước được thừa nhận hiệu quả Điều đó đã từng bước thể hiện tính đúng đắn của chủ trương xã hội hóa mạnh mẽ dịch vụ công trên phạm vi rộng khắp

Bảy là, tăng cường giám sát thường xuyên và nghiêm khắc quy trình xử

lý công việc và tinh thần, thái độ của CBCC trong quá trình thực thi công vụ, nêu cao trách nhiệm giải trình và sử dụng các chế tài pháp luật để xử lý vi phạm nhằm tạo ra một nền công vụ minh bạch

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Như vậy, trong chương 1 tác giả đã đi vào trình bày và chỉ ra những khái niệm cơ bản nhất về dịch vụ công, dịch vụ công cộng; bản chất và đặc trưng cũng như nét đặc thù trong công tác QLNN đối với loại hình dịch vụ này; lý do vì sao phải tăng cường QLNN đối với DVCC và sự bức thiết phải quản lý loại hình đặc thù này Trên cơ sở đó thấy rõ vài trò của nó đối với sự phát triển chung của ngành, lĩnh vực cũng như của địa phương, của mỗi quốc

Ngày đăng: 19/07/2021, 21:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w