1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản ở việt nam

98 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 707,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài (8)
  • 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn (10)
  • 3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn (12)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn (13)
  • 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn (13)
  • 6. Ý nghĩa của luận văn (14)
  • 7. Kết cấu của luận văn (14)
  • Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHAI THÁC TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN (15)
    • 1.1. Tài nguyên khoáng sản (15)
      • 1.1.1. Các khái niệm (15)
      • 1.1.2. Những đặc điểm của tài nguyên khoáng sản (16)
      • 1.1.3. Quyền sở hữu về tài nguyên khoáng sản (19)
      • 1.1.4. Vai trò của khai thác tài nguyên khoáng sản đối với phát triển (21)
    • 1.2. Quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản (23)
      • 1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản (23)
      • 1.2.2. Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản (24)
      • 1.2.3. Yêu cầu và nguyên tắc quản lý nhà nước đối với khai thác tài nguyên khoáng sản (24)
      • 1.2.4. Nội dung quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản (25)
      • 1.2.5. Phương pháp quản lý nhà nước đối với khai thác tài nguyên khoáng sản (28)
    • 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản (30)
      • 1.3.1. Các yếu tố khách quan (31)
      • 1.3.2. Các yếu tố chủ quan (33)
    • 1.4. Kinh nghiệm quốc tế về quản lý khai thác tài nguyên khoáng sản (34)
    • 2.1. Tổng quát về hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản (45)
    • 2.2. Tình hình thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản (49)
    • 2.3. Đánh giá hoạt động quản lý nhà nước đối với khai thác tài nguyên khoáng sản (62)
      • 2.3.1. Những kết quả đạt được (63)
      • 2.3.2. Những hạn chế trong quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản (65)
      • 2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế (72)
  • Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN VIỆT NAM (45)
    • 3.1. Bối cảnh sắp tới (80)
    • 3.2. Quan điểm, mục tiêu (81)
      • 3.2.1. Các quan điểm cơ bản (82)
      • 3.2.2. Các mục tiêu (83)
      • 3.2.3. Mục tiêu cụ thể (84)
      • 3.2.4. Yêu cầu công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực khai thác khoáng sản trong điều kiện hiện nay (85)
    • 3.3. Các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản (85)
      • 3.3.1. Nhóm giải pháp về thể chế chính sách (86)
      • 3.3.2. Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện (88)
      • 3.3.3. Nhóm giải pháp về nguồn lực (90)
      • 3.3.4. Tham gia sáng kiến minh bạch công nghiệp khai thác khoáng sản (gọi tắt là EITI) (91)
      • 3.3.5. Giải pháp khác (93)
  • KẾT LUẬN (95)

Nội dung

Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Theo Điều 53 Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam, tài nguyên khoáng sản được coi là "tài sản công" thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện và quản lý thống nhất Tài nguyên khoáng sản không chỉ là tài sản hữu hình mà còn là nguồn lực thiết yếu cho sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Nhà nước, với vai trò đại diện chủ sở hữu, cần tổ chức quản lý, bảo vệ và khai thác tài nguyên khoáng sản một cách hiệu quả nhằm phục vụ cho sự phát triển bền vững của đất nước trong từng giai đoạn.

Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú với hơn 5.000 mỏ và điểm quặng của hơn 60 loại khoáng sản khác nhau, trong đó bôxít, titan và đá nguyên liệu xi măng có trữ lượng lớn Tuy nhiên, vì khoáng sản là hữu hạn và hầu hết không tái tạo, nên việc khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản cần phải tiết kiệm và hiệu quả để phát huy tối đa nguồn lực này cho sự phát triển bền vững.

Công tác quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản đã đạt được một số kết quả đáng kể, nhưng vẫn còn nhiều tồn tại và hạn chế Mặc dù hệ thống văn bản pháp luật về khoáng sản đã khá đầy đủ, việc thực hiện vẫn gặp nhiều khó khăn Các cơ quan quản lý từ Trung ương đến địa phương chưa hoàn thiện và hiệu quả hoạt động chưa cao Lực lượng cán bộ quản lý nhà nước về khoáng sản chưa đáp ứng đủ về số lượng và chuyên môn Thông tin về nguồn lực khoáng sản, đặc biệt là kiểm kê trữ lượng và sản lượng khai thác, chưa được quản lý chặt chẽ Ngoài ra, các tổ chức và cá nhân tham gia khai thác khoáng sản chưa nhận thức đầy đủ và thực hiện trách nhiệm trong quản lý tài nguyên này.

Khai thác khoáng sản đang đối mặt với nhiều thách thức kinh tế xã hội từ cộng đồng địa phương, bao gồm việc doanh nghiệp không trung thực trong báo cáo trữ lượng Hơn nữa, tình trạng khai thác bừa bãi dẫn đến ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên nhanh chóng Việc gia tăng khai thác khoáng sản không có giấy phép cũng gây ra sự bức xúc trong dư luận xã hội.

Sản phẩm khai thác chế biến khoáng sản ở Việt Nam chủ yếu là sản phẩm thô để xuất khẩu, dẫn đến giá trị và hiệu quả sử dụng thấp, không tương xứng với tiềm năng tài nguyên Hoạt động này gây ra nhiều tác hại cho môi trường như chất thải lớn, ô nhiễm không khí và nguồn nước, phá vỡ chu kỳ thủy văn, giảm đa dạng sinh học và tàn phá cảnh quan Những vấn đề này cũng dẫn đến mâu thuẫn xã hội như tranh chấp tài nguyên và đất đai Để phát triển bền vững, Việt Nam cần có chính sách quản lý nhà nước hợp lý, điều chỉnh khung pháp lý và tổ chức ngành khai khoáng theo hướng sử dụng tài nguyên hiệu quả, bảo vệ môi trường và giải quyết mâu thuẫn phát triển Do đó, tác giả đã chọn nghiên cứu về "Quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam".

Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản đang thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả, với nhiều công trình nghiên cứu đa dạng về nội dung và khía cạnh Các nghiên cứu này được trình bày dưới dạng chuyên đề, báo cáo đăng tải trên các tạp chí, báo chí, cùng với các luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ.

Cuốn sách "Bàn về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong thời kỳ mới" (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2007) nhấn mạnh vai trò quan trọng của nhà nước trong việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế-xã hội Các chuyên gia cho rằng nhà nước cần xây dựng hệ thống pháp luật rõ ràng, tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi và bình đẳng cho các thành phần kinh tế Sự lựa chọn các chính sách và hiệu quả kinh tế-xã hội phụ thuộc vào năng lực của các thể chế chính trị Do đó, nhà nước cần đảm bảo môi trường dân chủ trong quá trình lựa chọn, hoạch định và thực hiện các chính sách.

Luận án tiến sĩ kinh tế của Trần Anh Tài (1996) mang tên “Vai trò quản lý của nhà nước trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” đã phân tích đặc thù của quá trình chuyển đổi này Tác giả nghiên cứu vai trò của nhà nước trong việc thiết lập cơ chế quản lý, ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cũng như xây dựng hạ tầng kỹ thuật Đồng thời, luận án đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế thị trường tại Việt Nam.

Đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất cơ chế nâng cao hiệu quả quản trị tài nguyên khoảng sản” (2014) của Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam đã tiến hành khảo sát và đánh giá tình hình quản trị tài nguyên khoáng sản Nhóm tác giả đã làm rõ những thành tựu, tồn tại và hạn chế trong công tác này, đồng thời phân tích nguyên nhân gây ra các vấn đề hiện tại Bài nghiên cứu cũng nhấn mạnh các quy định pháp luật liên quan đến quản lý khoáng sản, nhằm đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị tài nguyên.

Quản trị tài nguyên kinh tế xã hội (TNKS) cần được cải thiện để nâng cao hiệu quả hoạt động Bài viết phân tích các khía cạnh cần hoàn thiện trong quản trị TNKS và đề xuất các cơ chế hợp lý, hiệu quả nhằm tối ưu hóa quản lý TNKS tại Việt Nam trong thời gian tới.

- Báo cáo nghiên cứu “Thực trạng và cơ hội nâng cao hiệu quả quản lý nguồn thu từ khai thác khoáng sản tại Việt Nam (2015) của nhóm tác giả:

Nghiên cứu của TS Lê Quang Thuận, PGS TS Lê Xuân Trường và Th.S Trần Thanh Thủ thuộc Trung tâm Con người và Thiên Nhiên tập trung vào việc rà soát chính sách thu hiện hành và quản lý thu liên quan đến tài nguyên tại Việt Nam Nghiên cứu đánh giá những điểm mạnh và hạn chế trong quản lý thu, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế để đề xuất các cải cách chính sách nhằm khuyến khích khai thác tài nguyên bền vững Báo cáo cũng phân tích sự khác biệt của hệ thống chính sách thu trong lĩnh vực khai thác khoáng sản ở Việt Nam so với các quốc gia trong khu vực, cũng như đánh giá mức thu và hiệu quả ngân sách từ khai thác khoáng sản Cuối cùng, nghiên cứu chỉ ra các lỗ hổng trong chính sách và quản lý thu, đồng thời đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thu và quản lý ngân sách từ khai thác tài nguyên.

Báo cáo của Tiến sĩ Lại Hồng Thanh, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường (2013) đã tiến hành rà soát hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến tính minh bạch trong hoạt động khai thác khoáng sản tại Việt Nam Nghiên cứu này tập trung vào Luật Khoáng sản và các quy định liên quan từ khâu điều tra cơ bản đến thăm dò và khai thác khoáng sản Dựa trên kết quả rà soát, báo cáo đề xuất những nội dung cần bổ sung, điều chỉnh và quy định mới để hoàn thiện pháp luật về khoáng sản trong tương lai.

Mặc dù nhiều công trình đã phân tích các khía cạnh khác nhau của quản lý nhà nước trong lĩnh vực khoáng sản và khai thác tài nguyên khoáng sản, vẫn cần có những nghiên cứu sâu hơn để hiểu rõ hơn về hiệu quả và thách thức trong quản lý.

Cho đến nay, chưa có nhiều nghiên cứu hệ thống về "Quản lý nhà nước đối với khai thác tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam" từ góc độ quản lý công Điều này dẫn đến việc các giải pháp đề xuất vẫn chưa khắc phục triệt để những hạn chế và tồn tại hiện tại trong lĩnh vực này.

Tác giả luận văn đã chọn đề tài “Quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam” nhằm đưa ra một góc nhìn độc đáo và mới mẻ, không trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã được công bố trước đó.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Dựa trên việc đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản trong thời gian qua, luận văn đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý khai thác tài nguyên khoáng sản tại Việt Nam.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu nói trên, đề tài xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cần phải thực hiện là:

- Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề chung về quản lý nhà nước đối với khai thác tài nguyên khoáng sản

Trong giai đoạn 2002-2016, quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam đã bộc lộ nhiều vấn đề, bao gồm sự thiếu đồng bộ trong các quy định pháp lý và quản lý, dẫn đến tình trạng khai thác không bền vững Những hạn chế này chủ yếu xuất phát từ việc thiếu sự giám sát chặt chẽ, cơ sở hạ tầng yếu kém và sự phối hợp chưa hiệu quả giữa các cơ quan chức năng Điều này không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn làm giảm giá trị tài nguyên quốc gia.

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Bài luận văn này áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản, bao gồm cả việc khai thác tài nguyên khoáng sản một cách cụ thể.

Tác giả đã khai thác dữ liệu từ các nguồn số liệu thứ cấp, bao gồm kết quả khảo sát và báo cáo của Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam cùng Bộ Tài nguyên và Môi trường.

5.3 Phương pháp xử lý số liệu

Tác giả đã sử dụng các phương pháp xử lý số liệu cụ thể như sau:

Nghiên cứu tài liệu thứ cấp là một phương pháp quan trọng trong việc phân tích các tài liệu chính thức và không chính thức liên quan đến quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản Việc khai thác thông tin từ các báo cáo, thống kê của Tổng cục Địa chất Khoáng sản Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường, cùng với các bài viết trên báo, tạp chí chuyên ngành và các trang web liên quan, giúp cung cấp cái nhìn toàn diện về vấn đề này.

Tác giả đã tiến hành thống kê và phân tích số liệu, văn bản liên quan đến hoạt động khoáng sản và quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản của Chính phủ, Bộ Tài nguyên Môi trường, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, cùng với một số bài viết và báo cáo khoa học khác Qua đó, tác giả đã đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với lĩnh vực khai thác tài nguyên khoáng sản trên toàn quốc.

Tác giả đã tiến hành so sánh và tổng hợp các thông tin, số liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, nhằm làm nổi bật sự thay đổi trong công tác quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam trong thời gian qua.

Ý nghĩa của luận văn

Luận văn này có ý nghĩa thực tiễn khi đánh giá hiện trạng quản lý nhà nước trong khai thác tài nguyên khoáng sản, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này tại Việt Nam.

Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cầu thành 03 chương như sau:

Chương 1 Cơ sở khoa học về quản lý nhà nước đối với khai thác tài nguyên khoáng sản

Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam

Chương 3 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản Việt Nam.

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHAI THÁC TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN

Tài nguyên khoáng sản

* Khái niệm “Tài nguyên khoáng sản”

Theo từ điển tiếng Việt định nghĩa “Tài nguyên là nguồn của cải thiên nhiên chưa khai thác hoặc đang tiến hành khai thác”

Tài nguyên khoáng sản là sự tích tụ các hợp chất hoặc nguyên tố trong vỏ trái đất, mà con người hiện nay có khả năng khai thác để thu được các nguyên tố có ích hoặc sử dụng trực tiếp trong cuộc sống hàng ngày.

Tài nguyên khoáng sản tập trung tại các mỏ khoáng sản, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của con người Việc khai thác tài nguyên này cung cấp vật chất cần thiết cho sự phát triển, nhưng cũng gây ra ô nhiễm môi trường như bụi, kim loại nặng, hóa chất độc hại và khí thải độc.

Tài nguyên khoáng sản được phân loại theo nhiều cách:

- Theo dạng tồn tại: Rắn, khí (khí đốt, Acgon, He), lỏng (Hg, dầu, nước khoáng)

- Theo nguồn gốc: Nội sinh (sinh ra trong lòng trái đất), ngoại sinh (sinh ra trên bề mặt trái đất)

Khoáng sản được phân loại theo thành phần hóa học thành ba nhóm chính: khoáng sản kim loại, bao gồm kim loại đen, kim loại màu và kim loại quý hiếm; khoáng sản phi kim, gồm vật liệu khoáng, đá quý và vật liệu xây dựng; và khoáng sản cháy, bao gồm than, dầu, khí đốt và đá cháy.

* Khái niệm “Khai thác tài nguyên khoáng sản”

Theo khoản 7 Điều 2 của Luật Khoáng sản năm 2010, "khai thác khoáng sản" được định nghĩa là hoạt động thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động liên quan khác.

Khai thác khoáng sản là hoạt động liên quan đến Nhà nước, người dân và doanh nghiệp, nhằm chuyển hóa khoáng sản từ dạng tiềm năng thành hàng hóa Hoạt động này không chỉ tạo ra giá trị thực tế cho nền kinh tế - xã hội mà còn mang lại lợi ích cho doanh nghiệp và cộng đồng Để đảm bảo tài nguyên thiên nhiên được khai thác và sử dụng hiệu quả, cần có sự quản lý và giám sát chặt chẽ trong quá trình này.

1.1.2 Những đặc điểm của tài nguyên khoáng sản Để làm rõ vấn đề QLNN về khai thác tài nguyên khoáng sản cũng cần đánh giá đầy đủ những đặc điểm chung cũng như đặc điểm riêng của tài sản

“khoáng sản”, các đặc điểm này đó là:

Khoáng sản có tính hữu hạn và không tái tạo, được hình thành qua hàng triệu năm trong quá trình địa chất Hầu hết khoáng sản, ngoại trừ một số như nước khoáng và nước nóng thiên nhiên, khi đã khai thác sẽ không thể tái tạo Do đó, việc khai thác và sử dụng khoáng sản cần được cân nhắc kỹ lưỡng để tối đa hóa lợi ích cho phát triển kinh tế - xã hội, cả trước mắt lẫn lâu dài Điều này đòi hỏi khoáng sản phải được khai thác và sử dụng một cách triệt để, hợp lý và tiết kiệm nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

Khi đầu tư vào lĩnh vực khoáng sản, nhà đầu tư phải đối mặt với rủi ro địa chất cao hơn so với các lĩnh vực khác Mỏ khoáng sản là thực tại khách quan, không nằm trong kiểm soát của con người, và mặc dù đã có những hoạt động thăm dò kỹ lưỡng, vẫn có những khu vực chưa được khảo sát có thể không chứa quặng hoặc có sự thay đổi về hàm lượng và chất lượng Tính rủi ro này không đồng nhất giữa các loại khoáng sản; khoáng sản quý hiếm thường có rủi ro cao hơn, trong khi khoáng sản thông thường như vật liệu xây dựng lại có độ rủi ro thấp hơn Do đó, mức độ đầu tư cho hoạt động tìm kiếm và thăm dò cũng tỷ lệ thuận với mức độ rủi ro địa chất của khoáng sản, đây là yếu tố quan trọng mà nhà đầu tư cần lưu ý.

Lợi thế so sánh, hay còn gọi là "địa tô chênh lệch", xuất hiện khi các mỏ khoáng sản có vị trí và điều kiện địa chất thuận lợi hơn, dẫn đến chi phí sản xuất thấp hơn và lợi nhuận cao hơn so với các mỏ có điều kiện khó khăn Tương tự như trong nông nghiệp, nơi sản xuất trên các mảnh đất với điều kiện tự nhiên khác nhau cũng tạo ra sự khác biệt về năng suất và lợi nhuận.

Lợi thế so sánh trong khai thác khoáng sản, hay còn gọi là "địa tô chênh lệch", phụ thuộc vào đặc điểm của mỏ khoáng sản và có thể thay đổi theo thời gian, không gian cũng như sự phát triển của công nghệ khai thác và chế biến Cùng một loại khoáng sản và điều kiện địa chất, mỏ có vị trí địa lý thuận lợi, như gần đường giao thông chính và các nguồn tài nguyên cần thiết, sẽ có chi phí thấp hơn và mang lại lợi nhuận cao hơn so với mỏ ở vị trí khó khăn, xa xôi và hạ tầng kém.

Khoáng sản có mối quan hệ hữu cơ với tài nguyên đất, vì việc khai thác khoáng sản luôn yêu cầu sử dụng một diện tích đất nhất định, ngay cả khi áp dụng phương pháp hầm lò Do đó, trong quá trình giải quyết vấn đề sở hữu khoáng sản và đưa ra các giải pháp quản lý, bảo vệ khoáng sản chưa khai thác, cần phải xem xét mối liên hệ giữa quyền quản lý, bảo vệ và khai thác khoáng sản với quyền sử dụng đất đai, cũng như các lợi ích liên quan khác.

Quan hệ giữa khoáng sản và tài nguyên nước là rất chặt chẽ, tương tự như mối liên hệ với tài nguyên đất Việc khai thác khoáng sản thường yêu cầu sử dụng nước mặt và nước ngầm cho các hoạt động như sinh hoạt và khai thác Trong nhiều trường hợp, khoáng sản có sự liên kết mật thiết với nguồn tài nguyên nước, dẫn đến việc khai thác có thể ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước trong khu vực Do đó, cần phải xem xét các vấn đề pháp lý liên quan đến việc sử dụng và tác động đến tài nguyên nước trong quá trình khai thác.

Khoáng sản có tính đa dụng và đa mục đích, giá trị sử dụng thay đổi theo thời gian và sự phát triển của khoa học công nghệ Tùy vào nhu cầu của nền kinh tế, khoáng sản được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau; ví dụ, đá vôi có thể dùng để rải đường, xây dựng công trình hoặc làm nguyên liệu sản xuất xi măng Đá hoa trắng chất lượng cao được chế biến thành bột hoặc hạt để làm phụ gia trong sản xuất giấy, cao su, và sơn Khoáng sản, đặc biệt là khoáng sản kim loại, thường là khoáng sản đa khoáng, đòi hỏi việc sử dụng tổng hợp và hợp lý các thành phần có ích đi kèm Một khoáng sản có thể được coi là chính khi độc lập, nhưng lại trở thành đất đá thải khi khai thác cùng với khoáng sản khác.

Khi khai thác các loại khoáng sản như than lộ thiên, đá vôi hay đá vật liệu xây dựng, những chất thải này có thể trở thành nguyên liệu quý giá nếu được sử dụng hợp lý, chẳng hạn như để rải đường hoặc sản xuất xi măng Hơn nữa, sự tiến bộ trong công nghệ tuyển khoáng đã làm giảm hàm lượng biên của quặng titan sa khoáng từ 10-15 kg/m3 vào năm 1993 xuống còn khoảng 5 kg/m3 vào năm 2011, cho thấy sự phát triển của ngành công nghiệp này.

Hoạt động khai thác khoáng sản có tác động tiêu cực và trực tiếp đến môi trường, gây hủy hoại đất, thủy sinh, và ô nhiễm không khí Những tác động này không chỉ giới hạn trong khu vực khai thác mà còn lan rộng ra xung quanh Do đó, việc xây dựng các chế định pháp lý quản lý khoáng sản cần chú trọng đến các vấn đề pháp lý liên quan đến bảo vệ môi trường trong quá trình khai thác.

1.1.3 Quyền sở hữu về tài nguyên khoáng sản

Quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản

Quản lý là một khái niệm xuất hiện trước khi có nhà nước, mang tính chất lao động xã hội quy mô lớn Nó liên quan đến việc tác động lên một hệ thống nhằm đạt được trạng thái mong muốn Quản lý nhà nước (QLNN) là hoạt động quản lý xã hội, xuất phát từ sự phân công lao động để liên kết và phối hợp các đối tượng bị quản lý Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, nhưng cách hiểu chung nhất là quản lý là sự tác động có tổ chức và có mục tiêu từ chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý để đạt được những mục tiêu đã đề ra.

Quản lý xã hội là quá trình tổ chức và thực thi pháp luật của nhà nước, kết hợp với sự tham gia của các chủ thể xã hội khác, nhằm duy trì và phát triển xã hội theo các đặc trưng và mục tiêu đã được xác định.

Quản lý nhà nước là một hình thức quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân và tổ chức trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội Hoạt động này do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển xã hội Nội hàm của quản lý nhà nước đã xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước, phản ánh quản lý toàn xã hội Sự thay đổi của quản lý nhà nước phụ thuộc vào chế độ chính trị, lịch sử, văn hóa và trình độ phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử Tóm lại, quản lý nhà nước bao gồm tất cả các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp do cơ quan nhà nước thực hiện.

Quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản là quá trình tổ chức và điều phối của các cơ quan nhà nước nhằm hướng dẫn cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức trong việc khai thác tài nguyên khoáng sản Mục tiêu chính là đảm bảo hoạt động khai thác diễn ra một cách bền vững, phù hợp với các nguyên tắc và phương pháp quản lý hiện hành.

1.2.2 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản

Việt Nam sở hữu nguồn khoáng sản phong phú với hơn 60 loại đã được phát hiện và đánh giá, trong đó nhiều loại có quy mô lớn và phân bố tập trung Tuy nhiên, công tác điều tra, thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản vẫn còn nhiều hạn chế Để phát triển kinh tế xã hội bền vững, việc quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản là cần thiết nhằm đảm bảo việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả Điều này giúp hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan, bảo tồn nguồn tài nguyên cho tương lai và đáp ứng các mục tiêu về môi trường và xã hội.

1.2.3 Yêu cầu và nguyên tắc quản lý nhà nước đối với khai thác tài nguyên khoáng sản

* Yêu cầu QLNN đối với khai thác tài nguyên khoáng sản

Công tác quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản yêu cầu quy hoạch và thăm dò khoáng sản, bảo vệ khoáng sản chưa khai thác, và thực hiện điều tra cơ bản Cần phê duyệt trữ lượng khoáng sản, cấp phép thăm dò và khai thác, đồng thời tiến hành thanh tra, kiểm tra và giám sát theo quy định pháp luật tại từng địa phương Bảo vệ quyền sở hữu nhà nước và quyền lợi hợp pháp của người dân vùng có khai thác khoáng sản là rất quan trọng Đảm bảo sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản quốc gia, tăng cường hiệu quả sử dụng, bảo vệ tài nguyên và môi trường, cũng như phục hồi môi trường trong quá trình khai thác là những nhiệm vụ cần thiết.

* Nguyên tắc QLNN đối với khai thác tài nguyên khoáng sản

Hoạt động khai thác khoáng sản cần tuân thủ chiến lược và quy hoạch khoáng sản, đồng thời bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh và các tài nguyên thiên nhiên khác Điều này cũng nhằm đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự và an toàn xã hội.

- Chỉ được tiến hành hoạt động khai thác khoáng sản khi được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép

- Thăm dò khoáng sản phải đánh giá đầy đủ trữ lượng, chất lượng các loại khoáng sản có trong khu vực thăm dò

Khai thác khoáng sản cần dựa trên hiệu quả kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường làm tiêu chí chính trong quyết định đầu tư Việc áp dụng công nghệ khai thác tiên tiến, phù hợp với quy mô và đặc điểm của từng mỏ, cũng như loại khoáng sản, sẽ giúp tối ưu hóa việc thu hồi tài nguyên khoáng sản.

1.2.4 Nội dung quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản

Quản lý tài nguyên khoáng sản là một yếu tố quan trọng trong quá trình khai thác và chế biến, vì chúng là nguyên liệu đầu vào cho nhiều ngành công nghiệp Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật cụ thể để quy định về quản lý khai thác tài nguyên khoáng sản, nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan.

Điều tra và đánh giá nguồn khoáng sản quốc gia là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, giúp xác định vị trí, phân bố, trữ lượng và giá trị kinh tế của tài nguyên Việc xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch khai thác tài nguyên sẽ tạo điều kiện cho nhà nước hướng dẫn nhân dân trong công tác thăm dò và khai thác hiệu quả.

Điều tra khoáng sản cần tuân thủ quy trình từ sơ bộ đến chi tiết, bắt đầu từ diện rộng đến điểm cụ thể, và từ bề mặt đến độ sâu Quá trình này đòi hỏi nguồn kinh phí lớn nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro Vì vậy, việc điều tra cần được thực hiện từng bước, lựa chọn đối tượng và diện tích hợp lý, đồng thời xác định mức độ đầu tư một cách hợp lý.

Điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản bao gồm việc lập bản đồ địa chất với các tỉ lệ khác nhau và đánh giá tiềm năng khoáng sản tại những diện tích cụ thể.

Điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản nhằm nhận thức cấu trúc địa chất của vỏ trái đất nơi chúng ta sinh sống, từ đó đánh giá tiềm năng khoáng sản ở các khu vực cụ thể và phát hiện các mỏ khoáng.

Sau khi tiến hành điều tra cơ bản, nhà nước sẽ giao nhiệm vụ cho các cơ quan chuyên môn trong và ngoài nước thực hiện thăm dò, điều tra hoặc tổ chức lực lượng để khai thác tài nguyên khoáng sản, đồng thời đảm bảo quản lý trực tiếp Các hoạt động khoáng sản bao gồm khảo sát, thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản.

Khảo sát khoáng sản là quá trình nghiên cứu tài liệu địa chất và thực địa nhằm xác định khu vực có tiềm năng để thăm dò khoáng sản Đây là bước đầu tiên trước khi tiến hành thăm dò, không bao gồm các công trình địa chất như đào hào hay khoan giếng Thay vào đó, hoạt động này tập trung vào việc phân tích tài liệu và thực hiện các công việc khác ngoài thực địa Kết quả của giai đoạn khảo sát sẽ là cơ sở quan trọng cho giai đoạn thăm dò khoáng sản tiếp theo.

Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản

Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước trong khai thác tài nguyên khoáng sản bao gồm cả yếu tố khách quan và chủ quan Những yếu tố này có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt động quản lý nhà nước, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả và bền vững của việc khai thác tài nguyên khoáng sản.

Quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố, bao gồm yếu tố khách quan như điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa-xã hội, trình độ dân trí, phong tục tập quán, cũng như sự tham gia của các tổ chức và cá nhân trong lĩnh vực này Ngoài ra, môi trường quốc tế và xu hướng quản lý khoáng sản toàn cầu cũng đóng vai trò quan trọng Bên cạnh đó, yếu tố chủ quan từ phía các nhà quản lý và hoạch định chính sách có tác động trực tiếp đến hoạt động quản lý khai thác tài nguyên khoáng sản.

1.3.1 Các yếu tố khách quan

Điều kiện tự nhiên và môi trường văn hóa-xã hội, bao gồm trình độ dân trí và phong tục tập quán, đóng vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động khai thác, có thể mang lại tác động tích cực hoặc tiêu cực Mỗi vùng miền, với đặc thù về địa lý, địa hình và khí hậu khác nhau, sở hữu các loại tài nguyên khoáng sản riêng biệt Do đó, các nhà quản lý cần nắm vững những đặc điểm này để xây dựng các chính sách, chiến lược và quy hoạch phù hợp cho hoạt động khai thác khoáng sản.

Vị trí các mỏ khoáng sản thường nằm ở những khu vực có giao thông thuận lợi, cơ sở hạ tầng phát triển, gần nguồn nước và điện, điều này không chỉ thuận tiện cho hoạt động khai thác mà còn nâng cao hiệu quả trong ngành khai khoáng.

Môi trường văn hóa-xã hội, trình độ dân trí và ý thức cộng đồng ảnh hưởng trực tiếp đến việc bảo tồn và phát huy tiềm năng tài nguyên khoáng sản Khi người dân hiểu biết về pháp luật, họ sẽ biết cách bảo vệ và khai thác tài nguyên một cách tiết kiệm, hạn chế tình trạng khai thác trái phép, bảo vệ cơ sở hạ tầng và môi trường sinh thái Sự am hiểu này cũng giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực khoáng sản và thúc đẩy tinh thần đấu tranh chống lại các hành vi vi phạm pháp luật.

Các tổ chức và cá nhân tham gia khai thác khoáng sản, bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức, là những chủ thể thực hiện hoạt động này và chịu sự quản lý của nhà nước Họ được giao nhiệm vụ quản lý, tổ chức thăm dò, khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản Tiềm lực tài chính, khoa học-công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực mỏ, địa chất, trắc địa của các tổ chức này có ảnh hưởng lớn đến quy mô khai thác và sự đầu tư vào công nghệ, thiết bị nhằm thu hồi tối đa tài nguyên, hạn chế tổn thất trong quá trình khai thác.

Môi trường quốc tế và xu hướng quản lý tài nguyên khoáng sản đang chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Sự hội nhập này không chỉ diễn ra trong lĩnh vực thương mại mà còn lan tỏa đến sản xuất, dịch vụ, tài chính, đầu tư, văn hóa, xã hội và tài nguyên môi trường Do đó, chính sách quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản của Việt Nam cần được xây dựng dựa trên nguyên tắc hợp tác và hội nhập toàn cầu.

Hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực khai thác tài nguyên khoáng sản là chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa Chính sách và pháp luật về khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng bởi các quy định của các nước thành viên khác, từ đó định hướng cho chính sách điều tiết của Việt Nam ngày càng phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế Cần thiết phải điều chỉnh cơ chế pháp lý để đáp ứng yêu cầu của các hiệp định môi trường đa phương mà Việt Nam tham gia Đồng thời, nghiên cứu kinh nghiệm để hiểu rõ các rào cản thương mại từ tiêu chuẩn môi trường nước ngoài là cần thiết Việt Nam cần áp dụng nguyên tắc phát triển bền vững trong chính sách và pháp luật, đặc biệt trong khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nhằm bảo vệ môi trường.

Hợp tác quốc tế trong quản lý tài nguyên khoáng sản là cần thiết để tận dụng các cơ hội hỗ trợ tài chính và công nghệ từ các hoạt động hợp tác đa phương và song phương Điều này góp phần giải quyết các thách thức về cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm và suy thoái môi trường Đồng thời, việc thực hiện hiệu quả các điều ước và thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam đã ký kết sẽ nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.

1.3.2 Các yếu tố chủ quan

Các quan điểm và chủ trương của Đảng cùng hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước về quản lý khai thác tài nguyên khoáng sản đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và giải quyết các mục tiêu phát triển Chính sách này không chỉ thể hiện qua việc xây dựng chiến lược và quy hoạch cho ngành công nghiệp khai khoáng, mà còn nhằm kiểm soát các tác động tiêu cực và phát huy các lợi ích tích cực, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững trong lĩnh vực khai thác tài nguyên.

Cán bộ công chức trong các cơ quan quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và điều chỉnh các hoạt động khai thác Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ này, yêu cầu về số lượng, chất lượng, trình độ và năng lực của họ cần được nâng cao, bao gồm đạo đức nghề nghiệp, tính chuyên nghiệp và khả năng thích ứng với sự thay đổi Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản cần đẩy mạnh cải cách hành chính một cách đồng bộ, nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, từ đó tháo gỡ khó khăn cho người dân và doanh nghiệp trong lĩnh vực khai thác tài nguyên khoáng sản.

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị và trình độ khoa học công nghệ là những yếu tố quyết định cho sự thành công trong lĩnh vực khai thác khoáng sản và các lĩnh vực khác Hoạt động khai khoáng chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi được hỗ trợ bởi cơ sở hạ tầng hiện đại và công nghệ tiên tiến Ngược lại, nếu không đảm bảo các điều kiện này, việc khai thác tài nguyên khoáng sản và quản lý nhà nước sẽ gặp nhiều khó khăn và kém hiệu quả.

Kinh nghiệm quốc tế về quản lý khai thác tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, vì vậy việc quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên này là cần thiết Tác giả đã nghiên cứu kinh nghiệm quản lý khai thác khoáng sản của một số quốc gia trên thế giới nhằm rút ra bài học và đề xuất giải pháp cải thiện quản lý nhà nước tại Việt Nam.

Trong những thập niên qua, Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong khai thác tài nguyên khoáng sản, với nhiều mỏ quy mô lớn và giá trị được xác định Hệ thống cung ứng khoáng sản đã được hình thành, giúp ngành công nghiệp khai thác khoáng sản của Trung Quốc tự đáp ứng khoảng 92% nhu cầu về khoáng sản năng lượng, 80% cho công nghiệp và 70% cho sản xuất vật tư nông nghiệp.

Trong 20 năm đầu thế kỷ 21, Trung Quốc chủ trương khai thác tài nguyên khoáng sản nội địa để đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa, đồng thời chú trọng phát triển bền vững và bảo vệ tài nguyên Mục tiêu của Trung Quốc là xây dựng một xã hội toàn diện, phụ thuộc vào tài nguyên khoáng sản nội địa để phục vụ cho chương trình hiện đại hóa Chính phủ khuyến khích thăm dò và khai thác tài nguyên, đặc biệt ở các vùng phía tây, nhằm tăng cường cung cấp tài nguyên trong nước Đồng thời, chính sách quan trọng của chính phủ là thu hút đầu tư nước ngoài và công nghệ để khai thác tài nguyên, sử dụng hiệu quả thị trường quốc tế và giúp sản phẩm khoáng sản của Trung Quốc thâm nhập vào thị trường toàn cầu Trung Quốc tin rằng việc các công ty khai thác mỏ nước ngoài vào quốc gia này và các doanh nghiệp khai thác mỏ của Trung Quốc ra nước ngoài sẽ góp phần vào sự thịnh vượng chung và phát triển bền vững của nguồn tài nguyên khoáng sản toàn cầu.

Mục tiêu bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản của Trung Quốc trong đầu thế kỷ 21 bao gồm việc tối ưu hóa quản lý tài nguyên, giảm thiểu tác động môi trường và đảm bảo phát triển bền vững Nguyên tắc chính là bảo vệ tài nguyên khoáng sản, nâng cao hiệu quả sử dụng và khuyến khích các phương pháp khai thác thân thiện với môi trường.

Tăng cường khả năng khai thác và bảo vệ tài nguyên khoáng sản là cần thiết để xây dựng một xã hội toàn diện Trung Quốc sẽ nâng cao hiệu quả thăm dò và khai thác, mở rộng hợp tác quốc tế và thiết lập hệ thống dự trữ cho các nguồn tài nguyên chiến lược Điều này nhằm đảm bảo cung cấp bền vững và an toàn cho các khoáng sản quan trọng, phục vụ cho nền kinh tế quốc gia và đời sống nhân dân.

Trung Quốc đang đẩy mạnh cải thiện môi trường sinh thái tại các mỏ bằng cách giảm thiểu ô nhiễm và thiệt hại từ hoạt động khai thác khoáng sản, đồng thời nâng cao pháp luật và quy định bảo vệ môi trường Quốc gia này thực hiện kiểm tra và giám sát chặt chẽ việc tuân thủ các quy định về môi trường, đồng thời nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và cộng đồng về tầm quan trọng của bảo vệ tài nguyên Để tạo ra môi trường phát triển cạnh tranh bình đẳng, Trung Quốc thiết lập hệ thống kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, cải thiện các luật và quy định liên quan đến quản lý tài nguyên khoáng sản, hoàn thiện chính sách và đầu tư môi trường, cung cấp dịch vụ thông tin tốt và tạo ra thị trường mở, trật tự và thống nhất.

- Tăng cường năng lực cung cấp tài nguyên khoáng sản trong nước

Trung Quốc chủ yếu phát triển kinh tế dựa vào tài nguyên khoáng sản và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác Để xây dựng một xã hội toàn diện, nước này sẽ tập trung vào việc tăng cường khả năng cung cấp tài nguyên khoáng sản trong nước, đồng thời khai thác tiềm năng lớn từ các nguồn tài nguyên khoáng sản chưa được khám phá.

Chính phủ Trung Quốc khuyến khích khảo sát thương mại để đáp ứng nhu cầu thị trường và tập trung vào kết quả kinh tế, đặc biệt tại các khu vực trung tâm, phía tây, vùng biên giới và nơi sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số Nước này cũng khuyến khích các doanh nghiệp khai thác mỏ thực hiện khảo sát địa chất tại những khu vực xa trung tâm và các mỏ cũ, nhằm tìm kiếm tài nguyên mới và tiềm năng thị trường Để thúc đẩy đầu tư, Trung Quốc khuyến khích các nhà đầu tư cạnh tranh để có quyền thăm dò và khai thác mỏ, với sự hỗ trợ của chính phủ cho các dự án khoáng sản Ngoài ra, Trung Quốc cũng khuyến khích thương mại trong lĩnh vực dầu khí, than và các kim loại quý như vàng, bạc, và đồng, đồng thời phát triển tài nguyên nước ngầm và nước địa nhiệt một cách khoa học, hợp lý, nhằm kiểm soát ô nhiễm và sử dụng nước chất lượng tốt hơn.

- Mở rộng hợp tác quốc tế trong Thăm dò và Khai thác Khoáng sản

Trung Quốc đang thực hiện chính sách mở cửa với thế giới, tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tài nguyên khoáng sản Chính sách này nhằm tăng cường trao đổi nguồn lực, vốn, thông tin, công nghệ và thị trường, dựa trên nguyên tắc hợp tác có đi có lại và cùng có lợi.

Trung Quốc khuyến khích đầu tư nước ngoài vào tài nguyên khoáng sản, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khai thác trong nước hợp tác với các công ty quốc tế Từ năm 1982, Trung Quốc đã mở cửa ngành công nghiệp dầu mỏ bằng cách sử dụng vốn và công nghệ nước ngoài, dẫn đến việc mở rộng khai thác và tăng sản lượng dầu thô Hiện nay, Trung Quốc cũng tham gia khai thác tài nguyên dầu khí ở nước ngoài Chính phủ đang thực hiện các biện pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư, mở rộng sự hợp tác quốc tế và tăng cường mở cửa thị trường.

- Cải thiện quản lý tài nguyên khoáng sản

Trung Quốc đã cải thiện quản lý tài nguyên khoáng sản thông qua việc ban hành và hoàn thiện các luật pháp, quy định và tiêu chuẩn hóa Hệ thống pháp luật về tài nguyên khoáng sản bao gồm Luật Tài nguyên Khoáng sản, Luật Quản lý Đất đai, Luật Than và Luật An toàn trong hầm mỏ, tất cả đều được xây dựng dựa trên Hiến pháp Kể từ năm 1982, Trung Quốc đã liên tục cập nhật và phát triển các quy định liên quan đến quản lý tài nguyên khoáng sản.

Luật Bảo vệ môi trường và Luật Sử dụng và quản lý vùng biển của Trung Quốc đã được củng cố bằng hơn 20 quy chế và quy định bổ sung Những quy định này bao gồm việc thực hiện Luật Tài nguyên khoáng sản, khai thác tài nguyên dầu ngoài khơi và trên đất liền bởi các doanh nghiệp nước ngoài, cùng với các biện pháp quản lý và điều chỉnh liên quan đến khảo sát và khai thác tài nguyên khoáng sản Các tỉnh, khu tự trị và thành phố trực thuộc Trung ương cũng đã xây dựng các quy chế địa phương Hệ thống pháp luật này cung cấp cơ sở pháp lý vững chắc cho việc quản lý tài nguyên khoáng sản và đảm bảo rằng các hoạt động khai thác diễn ra theo quy định của pháp luật.

Úc có hệ thống liên bang, trong đó quản lý tài nguyên thiên nhiên thuộc thẩm quyền cấp bang Để đảm bảo phát triển bền vững trong ngành khai khoáng, nước này đã triển khai Chương trình phát triển bền vững, do Ban chỉ đạo quản lý thuộc Bộ Công nghiệp, Du lịch và Tài nguyên chính phủ Úc thực hiện Chương trình này được xây dựng bởi các nhóm công tác với sự tham gia của đại diện từ chính phủ, ngành, nghiên cứu, giáo dục đào tạo và cộng đồng Chương trình tập trung vào các lĩnh vực môi trường, kinh tế và xã hội trong tất cả các giai đoạn của quá trình khai thác khoáng sản, từ thăm dò đến xây dựng, vận hành và đóng cửa khu khai thác.

Các công ty khai thác cần đảm bảo sự hỗ trợ và chấp nhận từ cộng đồng để bảo vệ "giấy phép xã hội để hoạt động." Khái niệm này nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hợp tác giữa doanh nghiệp và cộng đồng, đồng thời khẳng định rằng việc đóng góp vào sự phát triển cộng đồng không chỉ là nghĩa vụ mà còn là một phần của ý thức kinh doanh đúng đắn.

Chương trình này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý hiệu quả trong khai thác và sử dụng tài nguyên, đồng thời đề cập đến sự cần thiết phải cân bằng giữa phát triển kinh tế, tác động môi trường và trách nhiệm xã hội Để đạt được điều này, cần thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa chính phủ, ngành và các bên liên quan nhằm tối đa hóa kết quả và hiệu suất hoạt động, đồng thời cải thiện quản lý các tác động môi trường và xã hội, cũng như khai thác tốt hơn các lợi ích tiềm tàng trong quá trình sản xuất và sử dụng.

Tổng quát về hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản

Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2008, cả nước có khoảng 350 mỏ khoáng sản và 68 điểm nước khoáng, nước nóng đang khai thác, với 10/12 nhóm khoáng sản được cấp phép Trong đó, khoáng sản vật liệu xây dựng chiếm 36,96%, khoáng sản nhiên liệu chiếm 22,11%, và khoáng sản nguyên liệu cho sứ, gốm, thủy tinh chiếm 15,84% Khoáng sản kim loại cơ bản chiếm 4,29%, khoáng sản sắt và hợp kim của sắt chiếm 5,61%, trong khi khoáng sản kim loại nhẹ chiếm 7,59% Các nhóm khoáng sản nguyên liệu kỹ thuật chiếm 4,29%, khoáng sản quý hiếm chiếm 0,66%, khoáng sản hóa chất và phân bón chiếm 1,65%, và khoáng sản kim loại quý chiếm 0,99%.

Đến tháng 6 năm 2009, có 3.882 giấy phép khai thác khoáng sản còn hiệu lực do ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp Trong số đó, 82% là giấy phép khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường và than bùn, trong khi 16% còn lại thuộc các loại khoáng sản khác và giấy phép khai thác tận thu.

Kể từ khi Luật Khoáng sản được ban hành, nhiều loại hình doanh nghiệp như doanh nghiệp nhà nước, tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và hợp tác xã đã tham gia vào hoạt động khai thác khoáng sản Theo thống kê, số lượng doanh nghiệp trong ngành khai thác mỏ đã tăng nhanh từ 427 doanh nghiệp vào năm 2000 lên hơn 1.400 doanh nghiệp hiện nay Đặc biệt, gần 1.200 doanh nghiệp trong số đó chuyên khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, chủ yếu là các doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa.

Chỉ tính riêng các doanh nghiệp khai thác theo giấy phép do cơ quan Trung ương cấp đã có khoảng 150 doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn của

Tại 37 tỉnh, thành phố, doanh nghiệp nhà nước chiếm ưu thế với tỷ lệ 54,41%, không bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên và công ty cổ phần chuyển hóa từ doanh nghiệp nhà nước Các loại hình doanh nghiệp khác bao gồm công ty cổ phần chiếm 22,79%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 8,82%, công ty trách nhiệm hữu hạn 5,88%, công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên 3,68%, doanh nghiệp tư nhân 2,94%, và hợp tác xã cùng doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chỉ chiếm 1,47% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động.

Số lượng doanh nghiệp tham gia khai thác khoáng sản rắn quy mô công nghiệp do cơ quan Trung ương cấp phép chỉ chiếm khoảng 10% tổng số doanh nghiệp trong lĩnh vực này Phần lớn trong số đó là các doanh nghiệp lớn thuộc Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh quy mô lớn Những doanh nghiệp này thường đầu tư vào thăm dò và khai thác khoáng sản cần vốn lớn, thiết bị công nghệ hiện đại, và đối mặt với rủi ro cao hơn khi đầu tư vào khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường.

Theo thống kê, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực khai thác khoáng sản phục vụ cho ngành sản xuất xi măng, với các công ty tiêu biểu như Xi măng Nghi Sơn và Xi măng Chinfon.

Xi măng Lusk Việt Nam và Công ty Xi măng Holcim là những đơn vị sản xuất xi măng lớn, trong khi Công ty liên doanh Latina An Giang cung cấp đá ốp lát Các nguồn tài nguyên khác như đá vôi trắng được khai thác bởi Công ty Yabashi và Công ty liên doanh cacbonat canxi YBB Nước khoáng được sản xuất bởi Công ty Lavie, trong khi vàng được khai thác bởi Công ty trách nhiệm hữu hạn vàng Bồng Miêu và Công ty trách nhiệm hữu hạn vàng Phước Sơn Niken và titan sa khoáng lần lượt do Công ty trách nhiệm hữu hạn Niken Bản Phúc và Công ty khoáng sản Bình Định Việt Nam - Malaysia đảm nhận Ngoài ra, đá phiến lợp được cung cấp bởi Công ty liên doanh đá phiến Lai Châu, và quặng sắt do Công ty trách nhiệm hữu hạn Khoáng sản và luyện kim Việt - Trung khai thác Tuy nhiên, một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như Xí nghiệp liên doanh vàng Việt - Nga và Công ty liên doanh Đá quý Việt - Thái đã phải giải thể do hoạt động không hiệu quả từ những năm cuối thế kỷ 20.

Việt Nam có nhiều mỏ khoáng sản phong phú về chủng loại, nhưng phần lớn là các mỏ nhỏ và vừa Hạn chế về vốn đầu tư và công nghệ khai thác dẫn đến việc các mỏ hiện tại chủ yếu có quy mô nhỏ, hoặc các mỏ lớn được chia thành nhiều khu vực khai thác nhỏ hơn Các mỏ khai thác lớn chủ yếu tập trung vào một số loại khoáng sản như than, với 5 mỏ lộ thiên có công suất từ 2-3 triệu tấn/năm và 8 mỏ than hầm lò từ 0,9-1,5 triệu tấn/năm; đá vôi nguyên liệu xi măng với 15 mỏ có công suất từ 1,5-3 triệu tấn/năm; apatit với trên 500.000 tấn quặng/năm; và đồng với công suất trên 1 triệu tấn/năm Tuy nhiên, số lượng mỏ có công suất trung bình (> 400.000 tấn/năm) vẫn không nhiều, trong khi phần lớn là các mỏ khai thác quy mô nhỏ.

Mặc dù số lượng mỏ khoáng sản rắn quy mô công nghiệp chỉ chiếm hơn 10% tổng số mỏ khoáng sản đang hoạt động tại Việt Nam, nhưng chúng lại có giá trị tổng sản lượng cao trong ngành khai thác mỏ (không bao gồm dầu khí) Cụ thể, ngành khai thác than đóng góp khoảng 60% tổng giá trị sản lượng toàn ngành, đồng thời tạo ra việc làm cho khoảng 100.000 lao động.

Trong những năm gần đây, sản lượng khai thác các khoáng sản như than, quặng sắt, titan sa khoáng, chì - kẽm, apatit, nước khoáng, đá vôi, đá sét sản xuất xi măng và đá xây dựng đã tăng trưởng nhanh chóng, đóng góp đáng kể vào sự phát triển của ngành công nghiệp Nhiều Tập đoàn kinh tế lớn và doanh nghiệp nhà nước như Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, Tổng công ty Thép Việt Nam và Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam đã chiếm tỷ trọng lớn trong ngành khai thác khoáng sản Các doanh nghiệp trong nước như Tổng công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh, Công ty cổ phần đá Hóa An, và Công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên vật liệu xây dựng Biên Hòa cũng đã ổn định và phát triển trong lĩnh vực này.

Tình hình thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản

a) Hệ thống thể chế, chính sách liên quan đến quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản hiện nay

* Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật

Luật Khoáng sản năm 1996, được ban hành lần đầu tiên, đã thiết lập một khung pháp lý cao nhất để quản lý tài nguyên khoáng sản tại Việt Nam Sự ra đời của luật này đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về khoáng sản, có hiệu lực từ tháng 9 năm 1996.

Từ năm 1996 đến nay, thể chế quản lý khoáng sản tại Việt Nam đã được hoàn thiện, tạo ra hành lang pháp lý quan trọng cho việc quản lý, bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên này nhằm phát triển kinh tế - xã hội Luật khoáng sản năm 2010 đã thay thế Luật khoáng sản năm 1996 và Luật sửa đổi năm 2005, cùng với việc thi hành Luật khoáng sản và Luật bảo vệ môi trường, Chính phủ và các Bộ liên quan đã ban hành tổng cộng 143 văn bản quy phạm pháp luật Các văn bản này bao gồm 02 Nghị quyết, 06 Nghị định của Chính phủ, 08 Chỉ thị, 05 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, và 120 văn bản quy định, thông tư từ các Bộ ngành Đặc biệt, có 32 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản, trong đó có 01 Nghị quyết và 10 Nghị định của Chính phủ.

Luật khoáng sản năm 2010, được Quốc hội khóa XII thông qua vào ngày 17 tháng 11 năm 2010, đã tạo ra một khung pháp lý hoàn chỉnh cho quản lý khoáng sản tại Việt Nam Đến nay, Chính phủ đã ban hành 06 Nghị định, 03 Quyết định của Thủ tướng và 20 Thông tư, cùng nhiều văn bản liên quan khác, tạo nên hành lang pháp lý vững chắc cho công tác quản lý nhà nước về khoáng sản và khai thác tài nguyên khoáng sản.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì soạn thảo và trình Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành tổng cộng 26 văn bản, bao gồm 01 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Khoáng sản, 03 Nghị định của Chính phủ, 01 Quyết định và 03 Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ Ngoài ra, Bộ cũng đã ban hành 01 Thông tư, 11 Quyết định của Bộ trưởng và phối hợp ban hành 06 Thông tư liên tịch liên quan đến quản lý nhà nước về khoáng sản.

* Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên và khoáng sản

Theo Luật Khoáng sản năm 2010, hệ thống quản lý nhà nước về khoáng sản bao gồm Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, các bộ và cơ quan ngang bộ, cùng với Ủy ban nhân dân các cấp Mỗi cơ quan có trách nhiệm cụ thể trong việc quản lý và giám sát tài nguyên khoáng sản.

- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về khoáng sản;

- Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về khoáng sản trong phạm vi cả nước, có trách nhiệm:

Cơ quan có thẩm quyền chịu trách nhiệm ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến khoáng sản, bao gồm việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật, định mức và đơn giá trong công tác điều tra địa chất cơ bản và thăm dò khoáng sản.

Lập và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược khoáng sản, đồng thời thực hiện quy hoạch khoáng sản theo phân công của Chính phủ.

Khoanh định và công bố các khu vực khoáng sản theo thẩm quyền là một bước quan trọng trong quản lý tài nguyên Đồng thời, việc trình Thủ tướng Chính phủ quyết định khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản cũng cần được thực hiện để đảm bảo sự phát triển bền vững.

Tuyên truyền và phổ biến kiến thức pháp luật về khoáng sản là rất quan trọng, đồng thời cần chú trọng đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực cho công tác điều tra cơ bản địa chất cũng như hoạt động khai thác khoáng sản.

Cấp, gia hạn và thu hồi Giấy phép thăm dò và khai thác khoáng sản là những hoạt động quan trọng trong quản lý tài nguyên khoáng sản Đồng thời, việc chấp thuận trả lại Giấy phép thăm dò và khai thác, cũng như trả lại một phần diện tích khu vực thăm dò và khai thác khoáng sản, cần được thực hiện theo quy định Ngoài ra, tổ chức đấu giá quyền khai thác khoáng sản thuộc thẩm quyền cũng là một phần không thể thiếu trong quá trình này.

+ Hướng dẫn, tổ chức thực hiện việc đăng ký hoạt động điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản; thống kê, kiểm kê trữ lượng khoáng sản;

+ Tổng hợp kết quả điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản, tình hình hoạt động khoáng sản; quản lý thông tin, mẫu vật địa chất, khoáng sản;

+ Công bố, xuất bản các tài liệu, thông tin điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản;

+ Thường trực Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia;

+ Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về khoáng sản theo thẩm quyền

Bộ Công Thương và Bộ Xây dựng có trách nhiệm lập và trình phê duyệt quy hoạch khoáng sản theo phân công của Chính phủ, theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 15/2012/NĐ-CP ngày 09 tháng 3 năm 2012 Đồng thời, hai bộ này cần phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường trong công tác quản lý nhà nước về khoáng sản.

Bộ Công thương có trách nhiệm chính trong quản lý khoáng sản, bao gồm việc lập và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch khoáng sản (trừ quy hoạch do Bộ Xây dựng và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện) Bộ cũng tổ chức và kiểm tra việc thực hiện quy hoạch khoáng sản, quy định điều kiện xuất khẩu khoáng sản và ban hành quy chuẩn kỹ thuật cho khai thác, chế biến khoáng sản.

Khoản 2 Điều 15 Luật khoáng sản năm 2010 quy định, trong phạm vi trách nhiệm của mình, sau khi quy hoạch khoáng sản thuộc thẩm quyền lập đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, trong vòng 30 ngày Bộ Công thương phải tổ chức công bố công khai quy hoạch khoáng sản

Bộ Xây dựng có trách nhiệm chủ trì lập và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch liên quan đến thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản phục vụ cho vật liệu xây dựng và sản xuất xi măng Bộ cũng tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện quy hoạch sau khi được phê duyệt Ngoài ra, Bộ quy định điều kiện xuất khẩu khoáng sản và ban hành các quy chuẩn kỹ thuật trong khai thác, chế biến khoáng sản thuộc thẩm quyền.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Luật Khoáng sản năm 2010, Bộ Xây dựng có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch khoáng sản đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong vòng 30 ngày.

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN VIỆT NAM

Ngày đăng: 19/07/2021, 21:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 25/4/2011 về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến 203, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến 203
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011), Tài nguyên Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên Địa chất và Khoáng sản Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2011
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Báo cáo số 110/BC-BTNMT ngày 15/6/2012 về việc thực hiện chính sách pháp luật về quản lý, khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: về việc thực hiện chính sách pháp luật về quản lý, khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường
8. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam (2008), Địa chất và tài nguyên Việt Nam, Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất và tài nguyên Việt Nam
Tác giả: Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2008
9. Các Quyết định phê duyệt Quy hoạch thăm dò khai thác, chế biến khoáng sản của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Công thương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Quyết định phê duyệt Quy hoạch thăm dò khai thác, chế biến khoáng sản của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Công thương
10. Học viện Hành chính Quốc gia (2006), Hành chính công, Nxb Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành chính công
Tác giả: Học viện Hành chính Quốc gia
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2006
11. Học viện Hành chính Quốc gia (2012), Giáo trình quản lý nhà nước về khoa học công nghệ và tài nguyên môi trường, Nxb Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý nhà nước về khoa học công nghệ và tài nguyên môi trường
Tác giả: Học viện Hành chính Quốc gia
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2012
12. Nguyễn Hữu Hải (chủ biên) (2010), Giáo trình Lý luận hành chính nhà nước, Học Viện Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận hành chính nhà nước
Tác giả: Nguyễn Hữu Hải (chủ biên)
Năm: 2010
13. Vũ Cao Đàm (2008), Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
14. Nguyễn Thành Sơn (2009), Tổng quan về khoáng sản Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về khoáng sản Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thành Sơn
Năm: 2009
15. Lại Hồng Thanh (2009), Quản lý nhà nước về khoáng sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về khoáng sản
Tác giả: Lại Hồng Thanh
Năm: 2009
18. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 2427/QĐ-TTg ngày 22 tháng 12 năm 2011 về việc phê duyệt Chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: về việc phê duyệt Chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
19. Tổng cục Địa chất Khoảng sản Việt Nam, Báo cáo tổng kết các năm, Lưu trữ tại Tổng cục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết các năm
20. Trần Xuân Hòa (2009), Cân đối cung cầu, triển vọng và thách thức phát triển bền vững ngành than Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cân đối cung cầu, triển vọng và thách thức phát triển bền vững ngành than Việt Nam
Tác giả: Trần Xuân Hòa
Năm: 2009
21. Viện tư vấn và phát triển (2010), Thực trạng quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản trong bối cảnh phát triển bền vững ở Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản trong bối cảnh phát triển bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Viện tư vấn và phát triển
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2010
4. Chính phủ, Nghị định số 95/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2012 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công thương Khác
5. Chính phủ, Nghị định số 62/2013/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2013 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng Khác
6. Chính phủ, Nghị định số 21/2013/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2013 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường Khác
7. Chính phủ (2010), Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản Khác
17. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 16/2014/QĐ-TTg 19 tháng 02 năm 2014 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w