1. Trang chủ
  2. » Tất cả

CHUYÊN ĐỀ CHI TIẾT GIỌT NƯỚC MẮT TRONG ST CỦA NAM CAO VÀ KIM LÂN

12 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 81,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHUYÊN ĐỀ CHI TIẾT GIỌT NƯỚC MẮT VÀ TIẾNG KHÓC QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA NAM CAO, KIM LÂN 1.. Đặt vấn đề Tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật độc đáo bao gồm nhiều yếu tố như: tư t

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ CHI TIẾT GIỌT NƯỚC MẮT VÀ TIẾNG KHÓC QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA NAM CAO, KIM LÂN

1 Đặt vấn đề

Tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật độc đáo bao gồm nhiều yếu tố như: tư tưởng, chủ đề, kết cấu, hình tượng, ngôn ngữ, nhân vật, cốt truyện, tình tiết truyện, chi tiết,…Với những tác phẩm văn học có giá trị bao giờ cũng có sự kết hợp hài hòa và có sự tác động qua lại giữa các yếu tố đó khiến chỉnh thể nghệ thuật mang tính thống nhất hữu cơ, biện chứng giữa nội dung thẩm mĩ và hình thức nghệ thuật Nếu tác phẩm văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng nghệ thuật thì hình tượng nghệ thuật lại được dệt bởi chi tiết Nhà văn xây dựng nên hình tượng nghệ thuật để thể hiện tiếng nói của mình về cuộc đời, về con người được nói tới trong tác phẩm văn học Nhưng hình tượng nghệ thuật vẫn mãi mãi chỉ là ý đồ nghệ thuật của nhà văn, hoặc là những ý tưởng nằm ngay đơ trên trang giấy nếu thiếu đi các chi tiết nghệ thuật Tuy nhiên, trong nghiên cứu văn học, đặc biệt là trong giảng dạy, chi tiết và vai trò của chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm văn học chưa có một

vị trí xứng đáng Chuyên đề “ Về chi tiết giọt nước mắt qua một số tác phẩm của Nam Cao và Kim Lân trong chương trình Ngữ văn trung học” sẽ phần nào làm rõ những vấn đề cơ bản về chi tiết, vai trò của chi tiết trong việc thể hiện tư tưởng chủ

đề của tác phẩm văn học, quan niệm nghệ thuật về con người từ một số truyện ngắn của Nam Cao và Kim Lân

2 Giải quyết vấn đề

2.1 Khái niệm chi tiết

Theo Từ điển văn học, chi tiết là “các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về tư tưởng và cảm xúc”.

Nhà văn Nguyễn Công Hoan xem “Chi tiết nghệ thuật là những hòn gạch để

xây nên truyện, không có chi tiết, không có truyện sinh động gây nên cảm xúc Nó

là cảnh, là người là tiếng nói, giọng nói, việc làm của nhân vật”.

Tác giả Lê Tiến Dũng trong Giáo trình lý luận văn học lại cho rằng “ Chi

tiết nghệ thuật là bộ phận nhỏ nhất có ý nghĩa của tác phẩm mà nhờ bộ phận này

thế giới nghệ thuật của tác phẩm mới hiện ra một cách cụ thể, sinh động”.

Trong ba khái niệm trên, khái niệm trong từ điển thật ngữ văn học nhấn mạnh đến vai trò của chi tiết nghệ thuật trong việc thể hiện tư tưởng chủ đề của tác

Trang 2

phẩm văn học Cách định nghĩa của nhà văn Nguyễn Công Hoan nhấn mạnh đến khả năng xây dựng tác phẩm văn học, tính gợi cảm, gợi hình của các chi tiết nghệ thuật Còn tác giả Lê Tiến Dũng lại nhấn mạnh đến khả năng tái hiện hiện thực sinh

động của chi tiết trong tác phẩm văn học.

Cần phân biệt Chi tiết với tình tiết trong truyện Tình tiết là các sự kiện, các biến cố, các biến cố thúc đẩy sự phát triển của nhân vật và cốt truyện Xét theo ý nghĩa này thì tình tiết chủ yếu tồn tại trong tác phẩm có truyện Một tình tiết có thể bao gồm nhiều chi tiết, nhưng trong nhiều trường hợp có nhiều chi tiết mang ý nghĩa như một tình tiết Ví dụ: chi tiết ông Hai (Làng – Kim Lân) nghe tin làng theo Tây và tin cải chính “sai sự mục đích cả”.

2.2 Các loại chi tiết

Theo Từ điển Văn học có 2 loại chi tiết sau :

- Chi tiết thuộc về nghệ thuật, ví dụ: các chi tiết chỉ đóng vai trò làm vật liệu xây dựng, làm tiền đề cho cốt truyện phát triển thuận lợi và hợp lý như các chi tiết

về kinh tế, vật giá,…trong tiểu thuyết của Ban dắc; hoặc các chi tiết có chức năng

kể tả thông thường như các chi tiết về nguồn gốc, lai lịch của các nhân vật trong truyện ngắn trung đại.

- Chi tiết có tính nghệ thuật, ví dụ : các chi tiết thể hiện tập trung cho cấu tứ của tác phẩm Các chi tiết này thường được tác giả nhấn mạnh, tô đậm, hoặc lặp lại bằng nhiều biện pháp khác nhau như chi tiết “cái bóng” (Chuyện người con gái Nam Xương – Nguyễn Dữ), chi tiết ánh sáng và bóng tối (Hai đứa trẻ- Thạch Lam), chi tiết “căn buồng Mị nằm”, “giọt nước mắt của A Phủ” ( Vợ chồng A Phủ

- Tô Hoài), chi tiết chiếc xe tăng hỏng, chiếc xe rà phá mìn của công binh Mĩ

(Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu).

Trong tác phẩm nghệ thuật, việc lựa chọn loại chi tiết nào phụ thuộc vào yêu

cầu của từng loại sáng tác, mục đích sáng tác của từng nhà văn

2.3 Vai trò của chi tiết

a) Chi tiết nghệ thuật làm hình tượng nghệ thuật thêm sống động

Hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm trở nên sống động, gợi cảm là nhờ các chi tiết về môi trường, phong cảnh, chân dung, cử chỉ, nội tâm, hành vi, lời nói,… của nhân vật Hình tượng Bá Kiến trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao là một

ví dụ Nhân vật bá Kiến trở thành một điển hình nghệ thuật sống động cho giai cấp địa chủ phong kiến ở làng Vũ Đại qua chi tiết “Cụ bá cười nhạt nhưng tiếng cười

Trang 3

giòn giã lắm”, giọng nói “thân mật” và cái nhìn “thoáng qua” của bá Kiến Chỉ cần vài chi tiết ngoại hình, Nam Cao đã khắc họa sinh động bản chất của một tên địa chủ khôn ngoan, nham hiểm “ta phụ người chứ không để người phụ ta” của cụ tiên chỉ làng Vũ Đại Đặc biệt là qua chi tiết độc thoại nội tâm của nhân vật “cụ chỉ muốn cho tất cả những thằng trai trẻ đi ở tù”, nhà văn đã bóc trần bản chất của một tên cường hào cáo già háo sắc Nhân vật Tnú trong Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành cũng vậy Tính cách sử thi của Tnú được nhà văn khắc họa bằng chi tiết đôi bàn tay của anh Lúc còn nhỏ, đôi bàn tay của Tnú là đôi bàn tay trung thực - bàn tay chỉ vào bụng mình mà nói “cộng sản đây nè”, đôi bàn tay nóng nảy - tự lấy đá đập vào đầu mình để tự trừng phạt mình vì tội ngu không học được chữ Ở tuổi trưởng thành, đôi bàn tay của Tnú là đôi bàn tay chung thủy, yêu thương “như hai cánh lim ôm chặt lấy mẹ con Mai”, đôi bàn tay kiên cường, bất khuất khi bị kẻ thù

dùng cực hình tra tấn “Anh không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa Anh

nghe lửa cháy trong lồng ngực, chạy ở bụng Máu ánh mặn chát ở đầu lưỡi Răng anh đã cắn nát môi anh rồi Anh không kêu lên… Người cộng sản không thèm kêu

van”… Rõ ràng, chi tiết nghệ thuật làm cho hình tượng trở nên sống động, gợi cảm

b) Chi tiết nghệ thuật có khả năng thể hiện, giải thích làm minh xác cấu tứ nghệ thuật của nhà văn

Trong truyện ngắn, chi tiết không chỉ làm hình tượng nghệ thuật trở nên sống động

mà còn có khả năng giải thích, làm minh xác cấu tứ nghệ thuật của nhà văn Chi tiết Mị uống rượu (Vợ chồng A Phủ -Tô Hoài) :“Mị uống ừng ực từng bát Rồi say,

Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng và hát nhưng lòng Mị đang sống về ngày trước” Chi tiết này mời gọi chi tiết “âm thanh tiếng sáo”, giải thích cho chi tiết “Mị muốn đi chơi Mị sắp đi chơi” và hành động cởi trói cho A Phủ của Mị Hay chi tiết “cái bóng” (Chuyện người con gái Nam Xương – Nương,… Xây dựng hình tượng nghệ thuật, nhà văn không thể miêu tả đầy đủ thế giới nghệ thuật được Thế giới ấy chỉ có thể thể hiện qua những chi tiết nhất định Do vậy, các chi tiết nghệ thuật bao giờ cũng được lựa chọn, không có chi tiết thừa Song các chi tiết trong tác phẩm được liên kết với nhau, soi sáng lẫn nhau trong một chỉnh thể thống nhất

c) Chi tiết nghệ thuật gắn với quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người, gắn với truyền thống văn hóa nghệ thuật nhất định

Trong truyện ngắn, bên cạnh những chi tiết có chức năng kể tả, còn có những chi tiết gắn với quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người của nhà văn Tức là

sự lí giải về thế giới và con người qua các chi tiết nghệ thuật Loại chi tiết nghệ

Trang 4

thuật này không nhiều, nhưng một truyện ngắn hay thường có vài ba chi tiết như vậy Thạch Lam lí giải bức tranh đời sống của xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám ở một phố huyện nghèo chỉ cần ba chi tiết: một buổi chiều tàn, cái chợ tàn và những kiếp người tàn tạ Nam Cao lí giải bộ mặt giai cấp địa chủ phong kiến

ở làng Vũ Đại từ lời phán của một ông thầy địa lí “Đất làng này vào cái thế quần ngư tranh thực, vì thế mà bọn đàn anh chỉ chỉ là một đàn cá tranh mồi Mồi thì

ngon đấy nhưng năm bè bảy bối, bè nào cũng muốn mồi ăn”

Cùng với những lí giải về đời sống là những lí giải của nhà văn về, con người Từ một chi tiết về sự hoài nghi của ông giáo khi nghe Binh Tư kể chuyện Lão Hạc xin bả chó hay chi tiết ông giáo chứng kiến cái chết vật vã của Lão Hạc (Lão Hạc), Nam Cao đã cho ta thấy quan niệm của nhà văn về con người, về cuộc đời Cuộc đời “chưa hẳn đã đáng buồn, nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác”

Và con người trong văn Nam Cao là con người xã hội Ở họ vừa có mặt tiêu cực (hoài nghi về những điều tốt đẹp), vừa có mặt tích cực (ngộ ra những điều nghịch

lý buộc người ta phải chấp nhận- Lão Hạc chấp nhận cái chết đau đớn chứ không chịu bán đi một sào vườn của con trai) Chi tiết Chí Phèo “tỏ tình ” với thị Nở “Hay

là mình với sang ở một nhà cho vui” cũng vậy Chỉ cần một chi tiết, Nam Cao đã thấy được ẩn bên trong con người quỹ dữ của Chí là khát vọng hạnh phúc bình dị K.Pauxtovxki gọi đó là những chi tiết “vàng ròng”

2.4 Chi tiết thể hiện tập trung tư tưởng và tình cảm của tác giả

Chi tiết dệt nên hình tượng nghệ thuật Vì thế, hình tượng nghệ thuật có sống động hay không là nhờ các chi tiết Nhưng chi tiết không chỉ làm hình tượng nghệ thuật trở nên lung linh trước mặt người đọc mà còn có khả năng thể hiện thái độ, tình cảm của nhà văn đối với cuộc đời, với con người Đọc truyện ngắn Bến quê của Nguyễn Minh Châu, hẳn người đọc không quên chi tiết tấm áo vá của Liên, bậc cầu thang mòn lõm mà sau bao nhiêu năm bôn ba Nhĩ mới nhận ra đức hi sinh, sự tần tảo của người vợ- nơi nương tựa của anh trong những ngày cuối cùng của cuộc đời Cũng sau bao nhiêu năm bôn ba, Nhĩ mới nhận ra vẻ đẹp của bãi bồi bên kia sông, cây hoa bằng lăng trước khung cửa sổ nhà Nhĩ và những vòng vèo chùng chình trong cuộc đời Từ những chi tiết tưởng như nhỏ nhặt, Nguyễn Minh Châu muốn nhắn gửi tới người đọc những triết lí nhân sinh giản dị mà sâu sắc : trong cuộc đời của mỗi con người khó tránh khỏi những vòng vèo, chùng chình, điều cốt yếu phải nỗ lực để vượt qua được những vòng vèo, chùng chình ấy Và điểm tựa vững chắc nhất của mỗi người trong cuộc sống là gia đình- hãy biết trân trọng, giữ gìn, nâng niu tổ ấm gia đình Trong hành trình tìm kiếm cái đẹp của nghệ thuật,

Trang 5

Nguyễn Minh Châu luôn quan tâm tới con người trong cuộc sống mưu sinh Từ chi tiết người đàn ông đánh vợ một cách tàn nhẫn, nghị luận đàn bà cam chịu, nhẫn nhục, đứa con vị thương mẹ mà có hành vi thô bạo với bố (Chiếc thuyền ngoài xa), Nguyễn Minh Châu đã bày tỏ thái độ lo âu về tình trạng bạo lực gia đình và băn khoăn trẻ em sẽ sống ra sao khi bạo lực gia đình xảy ra Ý kiến của chi tiết là ở chỗ

đó Nó làm cho những cái vặt vãnh trở nên có ý nghĩa đối với người đọc

2.5.Chi tiết giọt nước mắt và tiếng khóc trong sáng tác của Nam Cao và Kim Lân

Điểm lại sáng tác của Nam Cao và Kim Lân trong chương trình Ngữ văn trung học, ta thấy truyện nào cũng đầy ắp chi tiết Có chi tiết về cảnh, có chi tiết về người, chi tiết nào cũng cựa quậy, sống động Chúng vừa có khả năng làm cho hình tượng nghệ thuật thêm sinh động, vừa có khả năng biểu hiện quan niệm tư tưởng, tình cảm của nhà văn Giọt nước mắt là một trong những chi tiết như thế

Nước mắt là một sản phẩm cụ thể của tình cảm, khi người ta rơi vào cảnh huống, trạng thái nào đó dễ nảy sinh tâm trạng, mà đỉnh cao trạng thái tâm hồn tình cảm của con người thường biểu lộ bằng những giọt nước mắt Có giọt nước mắt đau đớn, có giọt nước mắt xót xa, ân hận, có giọt nước mắt âm thầm tủi hổ, có tiếng khóc đau đớn, có tiếng khóc uất hận Vậy giọt nước mắt và tiếng khóc trong sáng tác của Kim Lân và Nam Cao có ý nghĩa gì ? Vì sao nhân vật của Nam Cao và Kim Lân khóc ? Nam Cao và Kim Lân đã dẫn giải vấn đề ấy một cách hợp lí

Là nhà văn của những người nông dân, nặng lòng với đất, đi về với đất, hơn

ai hết, Kim Lân thấu hiểu được tình cảm của những người nông dân trong kháng chiến Họ yêu làng, gắn bó với làng bằng những tình cảm mộc mạc, chân thành, bình dị của những con người thuần phác Ấy là niềm tự hào về cái làng Chợ Dầu của ông Hai- nhân vật chính trong Làng Mỗi khi nói về làng Chợ Dầu, đôi mắt ông sáng lên, đi đâu ông cũng khoe về cái làng Chợ Dầu của mình Nào là làng Chợ Dầu

có cái chòi phát thanh cao bằng ngọn tre; nào là đường đi lát toàn đá xanh, ngày mùa phơi rơm rạ, ngày mưa đi không dính bùn; ông còn khoe cả cái sinh phần của viên tổng đốc trong làng

Những ngày đầu ở nơi tản cư, do mới lên lạ đất, lạ người lại không có việc gì

để làm nên ông nhớ làng da diết, cháy bỏng, ông nhớ những ngày làm việc cùng với anh em, ông cảm thấy như mình được trẻ ra Niềm vui của ông là được nghe tin tức thời sự kháng chiến và khoe cái làng chợ Dầu của ông đánh Tây Ở phòng thông tin, ông nghe được rất nhiều tin chiến thắng khiến “ruột gan ông cứ múa cả lên, vui quá” Đang tràn ngập trong niềm vui, bất ngờ, ông Hai nhận được tin làng chợ Dầu

Trang 6

theo Tây Cái tin ấy chẳng những làm sụp đổ niềm tự hào về làng của ông mà còn khiến ông tủi khổ, nhục nhã “cổ ông lão nghẹn ắng lại, da mắt tê rân rân Ông lão lặng đi tưởng chừng như không thở được” Nghe mọi người xì xào, bàn tán về cái làng Chợ Dầu ông vờ lảng sang chuyện khác rồi đi thẳng để trốn tránh những lời mỉa mai cay độc

Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường Nhìn lũ con, nước mắt ông lão cứ giàn ra Chi tiết nước mắt được đan cài khéo léo Một người nông dân đã từng gắn

bó với làng, luôn tự hào về cái làng Chợ Dầu, không muốn đi tản cư vì sợ phải xa làng, nhưng được vợ con động viên ông bằng lòng tản cư với một suy nghĩ giản dị

“tản cư âu cũng là kháng chiến”, giờ đây, nghe tin làng theo Tây, thử hỏi còn điều

gì cực nhục bằng? Kim Lân miêu tả “nước mắt ông lão cứ giàn ra”- một chi tiết giản dị mà giàu tính tạo hình Đọc chi tiết này, người đọc có thể hình dung được dòng nước mắt của ông Hai cứ tràn ra không thể ngăn lại được Đó là giọt nước mắt phản ánh nỗi tủi thân của một con người yêu làng, gắn bó với làng của mình mà bị mọi người coi thường, khinh rẻ, hắt hủi; thương mình ông Hai càng thương những đứa con mình cũng là “trẻ con làng Việt gian”, cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi

Lần thứ hai, nước mắt ông Hai lại “giàn ra” sau những ngày sống trong bầu không khí nặng nề Bởi mụ chủ nhà xấu tính bóng gió đuổi gia đình, ông Hai đã nghĩ đến chuyện quay về làng Thoáng trong đầu có ý nghĩ “Hay là quay về làng ?”, ông Hai đã lập tức phản đối ngay “Về làm gì cái làng ấy nữa Chúng nó theo Tây cả rồi Về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ Đến đây “nước mắt ông giàn ra” Chi tiết nước mắt tưởng như lặp lại nhưng kỳ thực nó đã phản ánh một cuộc đấu tranh nội tâm căng thẳng của ông Hai qua những dòng suy nghĩ mộc mạc: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù ”

Trong truyện ngắn Làng, Kim Lân không chỉ miêu tả dòng nước mắt của ông Hai mà còn miêu tả dòng nước mắt của bà Hai, đứa con gái của ông Hai Nếu dòng nước mắt của ông Hai “cứ giàn ra” thì bà Hai “rân rấn nước mắt”, còn con bé lớn

“nước mắt ròng ròng” sau những lời từ chối ngọt xớt không cho gia đình ông Hai ở của mụ chủ nhà: “Ông bà cũng là người làm ăn tử tế tế cả Nhưng mà có lệnh biết làm thế nào Đành nhẽ là ông bà kiếm chỗ khác vậy…” Hình như, bà Hai là người từng trải, hiểu rõ hơn căn nguyên thái độ của mụ chủ nhà nên dòng nước mắt của bà Hai chỉ ứa ra nơi khóe mắt, nghĩa là nỗi tủi thân như lặn vào trong, còn con bé lớn nhạy cảm hơn, dễ xúc động hơn nên nước mắt tuôn thành từng dòng không ngớt

“ròng ròng”

Trang 7

Cũng là nước mắt, nhưng sắc thái ý nghĩa biểu cảm lại không hoàn toàn giống nhau Nếu dòng nước mắt của bà Hai và cô con gái lớn diễn tả nỗi tủi thân khi bị người ta xua đuổi, ghẻ lạnh thì dòng nước mắt của ông Hai còn có thêm nỗi đau, sự tủi nhục, hổ thẹn khi nghe tin làng theo Tây Tự hào về cái làng Chợ dầu, khoe làng, đau đớn, tủi hổ vì nhận được tin xấu về làng đều là những biểu hiện của tình yêu làng và nói rộng hơn đó là lòng yêu quê hương, đất nước của ông Hai Kim Lân đã lý giải tình cảm yêu làng yêu nước của người nông dân bằng những chi tiết giản dị mà lấp lánh ý nghĩa như vậy

Đến với truyện ngắn Vợ nhặt, chi tiết nước mắt không còn lặp lại nhiều lần nữa Có lẽ vì vui hơn? Mà vui hơn thật Bởi, Tràng - nhân vật chính trong truyện là một người đàn ông vừa nghèo, vừa xấu xí, vừa ế vợ, dân ngụ cư bỗng dưng lại lấy được vợ vào giữa mùa đói năm 1945 Vui vì bà cụ Tứ - mẹ Tràng đã mở lòng đón nhận nàng dâu mới không cần một lễ nghi, một hình thức xã giao nào! Vui vì sự sẻ chia của những người dân xóm ngụ cư trước hạnh phúc của vợ chồng Tràng Nhưng trong niềm vui ấy vẫn thoáng một nỗi buồn, một sự lo âu của bà cụ Tứ, của Tràng và những người dân xóm ngụ cư cho tương lai của vợ chồng Tràng khi Tràng dắt người đàn bà lủi thủi về nhà trong bóng chiều, trong một không khí ảm đạm của những ngày đói năm 1945 Ai cũng lo Tràng lấy vợ liệu có nuôi nổi nhau qua cái mùa đói không? Người lo lắng hơn cả là bà cụ Tứ Giữa nỗi buồn lo ấy, Kim Lân để cho chi tiết nước mắt xuất hiện Đó là giọt nước mắt của bà cụ Tứ Bà

cụ Tứ đã khóc sau những lời thưa chuyện của Tràng “ Nhà tôi nó mới về làm bạn

với tôi đấy u ạ! Chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau…Chẳng qua nó cũng là

cái số cả” Nhà văn mô tả “Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt” Hai dòng nước mắt hiếm hoi của người mẹ nghèo vừa ai oán, vừa xót thương cho số kiếp của đứa con trai mình, vừa tủi cho phận mình không làm tròn bổn phận, trách nhiệm của người mẹ đối với con Và vì quá thương con, thương dâu, người mẹ ấy lại khóc trong nước mắt “Kể ra có được dăm ba mâm thì phải đấy,

nhưng nhà mình nghèo, cũng chả ai người ta chấp nhặt chi cái lúc này Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là mừng rồi Năm nay thì đói to đấy Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…Bà cụ nghẹn lời không nói được nữa, nước mắt cứ chảy xuống

ròng ròng” Hai lần bà cụ Tứ khóc, nhưng mỗi lần sắc thái ý nghĩa của giọt nước mắt lại khác nhau Dòng nước mắt rỉ trong kẽ mắt kèm nhèm là dòng nước mắt của một người mẹ nghèo từng trải, từng hiểu lẽ đời “ có đói thế thế này người ta mới lấy con mình mà con mình mới có được vợ”, còn dòng nước mắt “ròng ròng” nghẹn ngào trong tiếng nói lại là dòng nước mắt của tình thương Thương con, thương nàng dâu! Hai chi tiết nhỏ nhưng lại có khả năng khắc họa vẻ đẹp trong

Trang 8

tâm hồn của người mẹ nghèo : từng trải, hiểu đời, giàu tình thương, giàu tấm lòng

độ lượng bao dung!

Một dạng thức khác của nước mắt là tiếng khóc Trong truyện ngắn Vợ nhặt, người đọc rất dễ bỏ qua chi tiết này Đó là “tiếng hờ khóc” vẳng đến từ gia đình có người chết đói Chi tiết “tiếng hờ khóc” vây riết hạnh phúc của vợ chồng Tràng vừa có ý nghĩa phản ánh hiện thực vừa giàu giá trị nhân văn Âm thanh của tiếng

hờ khóc người chết đói, cùng âm thanh tiếng qua kêu thê thiết, những bóng người đói đi lại dật dờ như những bóng ma, hai bên dãy phố úp súp, tối om, không nhà nào có ánh đèn…đã tạo dựng nên khung cảnh mùa đói năm 1945 Do vậy, không cần có tiếng súng, không cần có cảnh bắt bớ, giết chóc nhưng tiếng hờ khóc vẫn có giá trị tố cáo sâu sắc tội ác của thực dân Pháp và phát xít Nhật đã đẩy người dân Việt Nam vào mùa đói năm 1945 Mặt khác, âm thanh của tiếng hờ khóc còn ghi nhận cái nhìn đầy yêu thương của nhà văn đối với người lao động “trong cái đói họ

không hề nghĩ đến cái đói mà vẫn mở lòng ra để cưu mang lẫn nhau, yêu thương

nhau, đùm bọc nhau, để mà vươn lên mà vui, mà hi vọng” ( Kim Lân nói về truyện ngắn Vợ nhặt).

Kim Lân đã từng nói “Truyện ngắn của tôi đầy ắp chi tiết” Quả đúng vậy, truyện của nhà văn nhiều chi tiết, nhưng không có chi tiết nào thừa, các chi tiết đều

hỗ trợ, bổ sung cho nhau để dựng người, dựng cảnh, dựng tâm trạng Và điều quan trọng hơn, chúng làm cho tư tưởng của nhà văn không nằm ngay đơ trên trang giấy

mà cựa quậy, sống động, có khả năng neo đậu lâu dài đối với người đọc

Nam Cao cũng viết về nước mắt Nhân vật của Nam Cao hay khóc Vì sao họ khóc, tiếng khóc của họ có ý nghĩa gì? Đến với những truyện ngắn của Nam Cao trong chương trình Ngữ văn trung học ta sẽ thấy biệt tài của Nam Cao trong việc diễn tả tình cảm của con người

Nếu Kim Lân dùng chi tiết giọt nước mắt để lí giải tình yêu làng, yêu nước sâu sắc của nhân vật ông Hai; tấm lòng giàu tình yêu thương vị tha của người mẹ nghèo trong mùa đói 1945 thì Nam Cao dùng nước mắt để diễn tả bi kịch tinh thần của nhân vật

Nguyên nhân nào dẫn đến bi kịch tinh thần ấy? Nam Cao đã diễn giải một cách khéo léo, tinh tế.

Tiếng khóc của Hộ và Chí Phèo là nỗi đau đớn xót xa hay niềm hạnh phúc ?

Nguyên nhân nào dẫn đến tiếng khóc ấy của hai nhân vật ? Nam Cao đã dẫn giải một cách hợp lí Với Hộ, tiếng khóc của anh bật ra sau hai tấn bi kịch lớn trong

Trang 9

cuộc đời : bi kịch sống thừa và bi kịch tình thương Hộ đã từng là một nhà văn say

mê lí tưởng nghề nghiệp, có ước mơ hoài bão cao đẹp, Hộ khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất, Hộ chỉ chăm lo vun trồng cho cái tài năng của Hộ ngày một nảy

nở Nhưng ước mơ hoài bão của Hộ không thực hiện được vì một lực cản tầm thường song ghê gớm, gánh nặng cơm áo gia đình Để chăm lo cho cuộc sống gia đình, Hộ phải viết những cuốn sách vội vàng khiến người ta đọc rồi lại quên ngay sau khi đọc, còn bản thân Hộ mỗi lần đọc lại anh cũng tự thấy xấu hổ, dằn vặt mình Anh không đem đến cho văn chương được cái gì mới mẻ, cũng không thay đổi được cuộc sống gia đình, như thế, anh là một kẻ vô ích, một đời thừa Trước mắt Hộ có một con đường giải thoát, thoát li vợ con để thực hiện giấc mộng văn chương, nhưng Hộ không thể bỏ được tình thương, vì anh vẫn là người Không thể thoát li vợ con, song Hộ lại đau khổ ngấm ngầm Hộ điên người lên vì con khóc, điên người lên vì phải xoay tiền Trong lúc bế tắc, Hộ đã tìm đến rượu Nhưng rượu không giúp anh tháo gỡ được tình trạng bi kịch còn dấn anh lấn sâu vào bi kịch thứ hai : vi phạm lẽ sống tình thương Trong lúc say, Hộ đã đánh vợ, đuổi vợ ra khỏi nhà Tỉnh rượu, Hộ đã khóc “ Nước mắt hắn bật ra như nước một quả chanh mà người ta bóp mạnh Và hắn khóc…Ôi chao ! Hắn khóc ! Hắn khóc nức nở, khóc như thể không ra tiếng khóc”

Với Chí Phèo, tiếng khóc của Chí bật ra sau một bi kịch lớn của cuộc đời: bi kịch bị

từ chối quyền làm người Trước khi gặp thị Nở, Chí đã từng là con quỷ dữ của làng

Vũ Đại Chí ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, chửi trong lúc say Trên mặt Chí lằn ngang lằn dọc bao nhiêu vết sẹo, kết quả của những lần rạch mặt ăn vạ; cái mặt của Chí vàng vàng mà lại sạm màu gio, cái mặt của một con quỷ dữ Chí trở thành nỗi kinh hoàng, sự ám ảnh của dân làng Vũ Đại Cả làng Vũ Đại không ai dám giao tiếp với Chí, họ từ chối Chí Thế nhưng từ chỗ khuất lấp của cuộc đời, có một người đàn bà “ma chê quỷ hờn” đã sưởi ấm tâm hồn giá lạnh của Chí bằng chút tình thương mộc mạc, chân thành Cuộc gặp gỡ kì diệu, đặc biệt là sự chăm sóc đầy

ân tình của thị Nở đã đánh thức nhân tính và khát vọng lương thiện đã bị ngủ quên

từ lâu của Chí Phèo Chí và thị sẽ làm thành một cặp xứng đôi nếu như thị là một người bình thường Nhưng thị lại là người đàn bà dở hơi, thị đã từ chối Chí Sự từ chối của thị Nở đã đẩy Chí rơi vào một nỗi đau sâu thẳm trong cuộc đời Như một thông lệ, Chí đã tìm đến với rượu, Chí muốn uống cho thật say để quên đi nỗi đau trong đời Nhưng Chí càng uống càng tỉnh, càng tỉnh, Chí lại thấy hơi cháo hành thoang thoảng, Chí “ôm mặt khóc rưng rức”

Hai tiếng khóc của hai con người, ở hai hoàn cảnh khác nhau nhưng đều biểu hiện thấm thía nỗi đau thân phận khi trải qua những tấn bi kịch trong cuộc đời Hộ

Trang 10

khóc sau khi đã có hành vi thô bạo với vợ con; Chí Phèo khóc sau khi bị thị Nở từ chối Nhưng sắc thái ý nghĩa của mỗi tiếng khóc không hoàn toàn giống nhau Tiếng khóc của Hộ là tiếng khóc của một người trí thức tiểu tư sản có ý thức sâu sắc về sự sống, muốn cống hiến bằng sự lao động sáng tạo của chính mình mà phải sống “đời thừa”, một người coi tình thương là nguyên tắc xác định tư cách làm người nhưng lại vi phạm vào lẽ sống tình thương Bao nhiêu đau đớn, bao nhiêu hối hận dồn nén lại ở Hộ để rồi bật lên thành tiếng khóc Tiếng khóc nức nở, tiếng khóc bật ra như quả chanh người ta bóp mạnh của Hộ cho ta thấy sự hối hận và đau khổ lên đến tột cùng của người trí thức tiểu tư sản nghèo có nhân cách Giọt nước mắt ấy đã nâng đỡ Hộ, thanh lọc tâm hồn anh, giúp anh đứng vững trên bờ vực thẳm của sự tha hoá Còn nhớ, nhân vật Sinh trong truyện Đói của Thạch Lam đã từng hất tất cả đồ ăn do Mai vợ anh vừa mua về xuống đất và đuổi cô ra khỏi nhà khi anh biết, Mai đã phải bán mình để có tiền nuôi chồng Nhưng sau cảm giác đau đớn và chán nản là sự giày vò của cái đói Bất chấp sự chống cự của Sinh, cảm giác đói cứ lan khắp cả người anh Và rồi, trước mùi thơm quyến rũ của đồ ăn, trước sự hành hạ của cái đói, Sinh đã đầu hàng một cách thảm hại Anh ăn vụng trộm những miếng bánh và thịt ướp mà trước đó chính anh đã hất đi và nguyền rủa Khác với

Hộ, Sinh đã đặt sự tồn tại lên trên nhân cách Đó là dấu hiệu đầu tiên của quá trình tha hoá, biến đổi nhân cách con người trước hoàn cảnh Rõ ràng, người trí thức trong sáng tác của Thạch Lam chưa có ý thức sâu sắc về căn nguyên của nỗi khổ, chưa có sự ân hận như Hộ của Nam Cao Sự ân hận của Hộ gợi cho ta nhớ đến nhân vật Hưng trong truyện ngắn “Miếng bánh ” của Nguyên Hồng Hưng đã từng

ăn giấu vợ miếng bánh trong lúc đói, nhưng khi ăn, anh cảm thấy ân hận, nhục nhã đến độ “ cổ họng, ruột gan xoắn lại Miếng bánh nhai nhỏ ra càng như miếng thuỷ tinh tẩm mật cá” Hộ cũng ân hận, song lớn hơn sự ân hận ấy là sự thành thực trước lỗi lầm của mình “Anh…anh…chỉ là …một thằng…khốn nạn ! ” Sự thành thực với chính mình là một nhân cách rất đáng trân trọng ở người trí thức tiểu tư sản trong sáng tác của Nam Cao

Nếu tiếng khóc của Hộ là tiếng khóc của một người trí thức ân hận về những hành

vi thô bạo của mình đối với vợ con thì tiếng khóc của Chí Phèo là tiếng khóc của một người cố nông nghèo bị tha hoá, bị tước đoạt quyền làm người Nam Cao gói gọn nỗi đau trong tâm hồn Chí bằng ba chữ “khóc rưng rức” Bao nhiêu tủi hờn dồn nén lại để rồi bật lên thành tiếng khóc cho sự oan trái, sự thua thiệt của một người sinh ra là người mà lại không có quyền sống của một con người Tiếng khóc của Chí chính là sự ý thức đầy đủ nhất về bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của anh Có hiểu ước mơ hạnh phúc chân thành của Chí “Hay là mình sang ở mới tớ

Ngày đăng: 19/07/2021, 15:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w