1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Dau an tu tuong thien phai truc lam yen tu trong van hoc Phat giao Viet Nam

26 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 153,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với nét độc lập riêng, tư tưởng Thiền phái Trúc Lâm Yên tử để lạidấu ấn quan trọng trong văn học Phật giáo Việt Nam.. Nghiên cứu vấn đề “Dấu ấn tư tưởng Thiền phái Trúc lâm Yên tử t

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Mục đích nghiên cơus 3

3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3

4 Kết cấu của tiểu luận 3

PHẦN NỘI DUNG 4

I Thiền phái Trúc lâm Yên tử và tư tưởng của Thiền phái Trúc lâm Yên tử .4

1.1 Thiền phái Trúc lâm Yên tử 4

1.2 Tư tưởng Thiền phái Trúc lâm Yên tử 5

II Dấu ấn tư tưởng Thiền phái Trúc lâm Yên Tử trong văn học Phật giáo Việt Nam 7

2.1 Luận thuyết tôn giáo 7

2.2 Kệ và thơ Thiền 10

2.3 Ngữ lục 14

2.4 Niệm tụng kệ, tụng cổ 17

2.5 Tự 19

2.6 Ca, ngâm 21

2.7 Phú 23

PHẦN KẾT LUẬN 26

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, dân tộc Việt Nam tựhào đã xây dựng cho riêng mình một Thiền phái tôn giáo mang đặc trưngriêng có của con người Việt Nam Đó chính là Thiền phái Trúc Lâm Yên

tử, một thiền phái nhân văn và gần gũi với cuộc sống của người dân Đó làmột thiền phái mang tên Việt Nam, với ông Tổ người Việt Nam, lại là một

vị vua anh hùng của dân tộc Đây là một chấm son trên lịch sử dân tộc nóichung và Phật giáo Việt Nam nói riêng Ðặt trong tương quan giữa Phậtgiáo và văn học Phật giáo, dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử có một vị trí đặc

biệt Sự ra đời Thiền phái đã góp phần cổ vũ tinh thần người dân nước Việt

về khả năng phát triển những giá trị văn hóa bản địa, nội sinh trong lòngdân tộc Nhưng đồng thời cũng có thể tu chứng trên cơ sở nền tảng giáogiáo Pháp của Phật

Với nét độc lập riêng, tư tưởng Thiền phái Trúc Lâm Yên tử để lạidấu ấn quan trọng trong văn học Phật giáo Việt Nam Trong suốt quá trìnhhình thành và phát triển của nền văn học Phật giáo Việt Nam, tư tưởngThiền phái Trúc Lâm Yên tử là xương sống, là nền móng hình thành cáctác phẩm văn học Phật giáo Trong tất cả các thể tài văn học Phật giáo ViệtNam, chúng ta đều nhận thấy dấu ấn rõ ràng, đặc trưng của Thiền phái Trúclâm Yên tử

Nghiên cứu vấn đề “Dấu ấn tư tưởng Thiền phái Trúc lâm Yên tử trong văn học Phật giáo Việt Nam” cung cấp góc nhìn khái quát, sâu sắc

hơn về tư tưởng Thiền phái Trúc Lâm Yên tử cũng như giá trị của nó đốivới văn học Phật giáo nước nhà

2 Mục đích nghiên cứu

Trang 3

Làm rõ những dấu ấn, sự ảnh hưởng của Thiền phái Trúc lâm Yên tử

trong sự văn học Phật giáo Việt Nam

3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, tiểu luận tập trung nghiên cứu tưtưởng của Thiền phái Trúc lâm Yên tử và dấu ấn của nó trong nền văn họcPhật giáo Việt Nam

4 Kết cấu của tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, tiểuluận gồm 2 phần:

Phần I: Thiền phái Trúc lâm Yên tử và Tư tưởng Thiền phái Trúclâm Yên tử

Phần II: Dấu ấn tư tưởng Thiền phái Trúc lâm Yên tử trong văn họcPhật giáo Việt Nam

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG

I Tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

I.1 Thiền phái Trúc lâm Yên tử

Trên phương diện lịch sử, Trúc lâm Yên Tử là một phái Thiền màngười mở đường chính là Trần Thái Tông Một người vừa là Thiền sư, vừa

là một bật đế vương, nắm giữ vận mệnh của đất nước, thực là một sự kiện

hy hữu trong lịch sử Thiền học mà ta phải thấy bằng tất cả sự nghiêm cẩn.Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, người đời xem Trần Thái Tông như mộtngọn đuốc Thiền học, với tác phẩm Khóa hư lục, viết khi lui về làm Tháithượng hoàng Trong phả hệ của Thiền Trúc Lâm, không ghi vua Trần TháiTông Nhưng không phải vì vậy mà địa vị của vua kém quan trọng Chínhvua là người đã chuyển hướng Phật giáo Thiền tông sang một con đườngmới, với đường lối hành trì mới mẻ

Đặt trong tương quan giữa Phật giáo và văn hóa dân tộc, dòngThiền Trúc Lâm Yên Tử có một vị trí đặc biệt Trước hết cần đánh giá caovai trò Hoàng đế - Thiền sư – thi sĩ Trần Nhân Tông (1258 – 1308) trên tưcách bậc Sư Tổ với đạo hiệu Trúc Lâm Đại Đà, người đặt nền móng choThiền phái Trúc Lâm

Vua Trần Nhân Tông là một vị vua Việt Nam đi tu đắc đạo thành Tổ.Cuối đời Lý đầu đời Trần có thiền sư Hiện Quang tu đắc đạo trên núi Yên

Tử, dưới Ngài có thiền sư Đạo Viên hay là Viên Chứng đắc đạo; dưới đónữa có thiền sư Đại Đăng Những vị đó đều là quốc sư hai triều, triều vuaTrần Thái Tông triều vua Trần Thánh Tông Sau đó có những vị tiếp nốinhưng không được rõ ràng Hơn nữa, khi vua Trần Nhân Tông đi tu đắcđạo ở đó rồi mới lập ra phái Trúc Lâm Yên Tử, tiếp ngài Pháp Loa ngàiHuyền Quang cũng đều đắc đạo trên núi Yên Tử Như vậy thì cái quý báu,

Trang 5

cái linh thiêng của Yên Tử là nhờ người tu đắc đạo trên đó, cho nên có câu

ca dao:

“Dù ai quyết chí tu hành

Có lên Yên Tử mới đành lòng tu”.

Như thế, núi Yên Tử vốn là một danh sơn đáng kể Các vua đời Trần

đã lấy núi nầy để lập am tu hành, tham cứu Phật pháp và chính ở đây cácThiền sư đời Trần như Pháp Loa Huyền Quang vv… đã đắc pháp, truyền ybát Trong lịch sử Việt Nam, đời Trần là một triều đại nổi bật về nhiều lĩnhvực, nhất là trào lưu Thiền học, mang nhiều sắc thái độc đáo nhất của Phậtgiáo Việt Nam Sắc thái độc đáo đó được gói trọn trong Trúc Lâm Yên Tử

1.2 Tư tưởng Thiền phái Trúc lâm Yên tử

Khác với các Thiền phái khác, Trúc Lâm Yên Tử mang đậm tinh thầnnhập thế, muốn tìm con đường giác ngộ không phải từ bỏ thế gian này mớigiác ngộ được Với tinh thần đạo pháp thì người con Phật càng phải dấn thânvào cuộc sống, vui với niềm vui của đất nước, đau với nỗi đau của dân tộc,nhưng khi thanh bình thì vẫn trở về với cuộc sống tu hành thoát tục

Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã mang đầy đủ những đặc điểm ấy.Bằng sự chứng ngộ Thiền lý sâu xa, tôn chỉ: “Bất lập văn tự, Giáo ngoạibiệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”[5,tr 1] làm chủ đạo,kết hợp giảng kinh thuyết pháp, giúp cho người học Phật hiểu sâu kinhđiển, chuyển lời kinh chết trong sách thành những bài kinh sống nơi conngười Thực tế, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã lấy tinh thần Phật giáonhập thế, “từ bi hỉ xả” cứu độ chúng sinh bằng cách phát triển đạo pháp,dân tộc cùng hoà hợp, từ vua những người sang lập là Trần Thái Tông đếncác vua Thánh Tông…tạo nên mạch truyền thống và sự phát triển bền vữngcủa đạo Phật, tính gắn kết mật thiết giữa dân tộc và tôn giáo, giữa chínhquyền và thần quyền, tạo nền tảng bền vững cho sự phát triển xã hội

Trang 6

Thiền phái Trúc Lâm đã thể hiện tinh thần nhập thế Điều đó thể hiện

ở tư tưởng sau khi đánh đuổi quân xâm lược ở thời Trần, đất nước thái bìnhthì các Thiền sư trở về với việc tu hành và nghiên cứu để đưa hiểu biết củamình đến với người dân Đây là tinh thần nhập thế mà các thiền phái trướcchưa thực hiện được, chính tinh thần này đã tạo nên sức mạnh của dân tộcViệt và đã đưa Phật giáo phát triển đạt tới đỉnh cao trong lịch sử Việt Nam.Thiền phái Trúc Lâm đã kết hợp khéo léo giữa lý tưởng Quốc gia và Phậtđạo, vốn là khía cạnh của lý tưởng tôn giáo đại đồng

Tư tưởng Tam giáo đồng quy thực sự cũng được hỗ trợ bởi một lýtưởng tôn giáo như thế Thiền phái tích cực dấn thân vào xã hội, xây dựngđất nước hưng vượng bằng từ bi, trí tuệ và đạo đức của Phật giáo Sự kếthợp giữa triết học siêu nhiên của Phật giáo với nhân sinh quan của Nhogiáo và vũ trụ quan của Lão giáo; lấy lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia và lợiích chúng sinh là yếu tố cơ bản trong quá trình tu tập của mỗi người

Sáng được tâm là đạt yếu chỉ thiền, vì vậy người tu thiền cốt phải sángđược tâm của chính mình Chính tư tưởng này của Thiền phái vừa giải quyếtvấn đề giải thoát của con người vừa giải quyết các vấn đề của quốc gia, xãhội Như vậy, tông chỉ Thiền phái rất thực tế và gần gũi với con người, lấy

“Chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”, nhằm đánh thức mỗi người tựsống vươn lên Phật tức tâm, ai có tâm đều có Phật, không phân biệt nam nữ,trẻ già, người trong đạo hay ngoài đạo, là chân lý bình đẳng với tất cả ThànhPhật là thành ngay trong tâm mình, không phải thành ở trên núi cao, trên cõitrời xa xôi Đó là lấy con người làm gốc, là tôn trọng người, nâng cao giá trịcon người, nâng cao sức mạnh của dân tộc

Có thể nói, tư tưởng Thiền phái Trúc lâm chính là tư tưởng, tình cảmcủa người con Việt, lấy vận mệnh đạo pháp và dân tộc hoà chung trong mộtbản trường ca là Phật giáo Nhập thế Phật giáo là giáo lý giác ngộ chân thật,

đó là một lẽ thật bình đẳng không phân chia ranh giới Việt Nam hay Nhật

Trang 7

Bản, Ấn Độ vì "tất cả chúng sinh đều có Phật tánh" Chúng ta thấy nổi bậtnhững nét đặc trưng của Thiền phái Trúc lâm mang đậm đà bản sắc của nềnvăn hoá dân tộc Việt Nam, không bị phụ thuộc, lai căng từ bên ngoài

II Dấu ấn tư tưởng Thiền phái Trúc lâm Yên tử trong văn học Phật giáo Việt Nam

Nhìn từ góc độ thể loại để đánh giá thì tư tưởng Thiền phái Trúc lâmYên tử đã xuyên suốt và góp phần tạo nên thành tựu lớn về sự phát triểnphong phú và sự ảnh hưởng đến tất cả các thể loại của dòng văn học Phậtgiáo Đây là sự phát triển của các thể loại văn học Phật giáo có giá trị vềmặt học thuật lẫn nghệ thuật văn chương trong dòng chảy văn học ViệtNam nói chung

1 Luận thuyết tôn giáo

Các nhà nghiên cứu trước đây chia thể loại luận thuyết thành hai loại:Luận thuyết chính trị và luận thuyết tôn giáo Ở luận thuyết chính trị, chúng

ta thường gặp trong các bộ sử khi các sử gia ghi lại những lời bàn, lời bình

về việc trị nước; còn thể loại luận thuyết tôn giáo là những lời bình luận vềtriết lý tôn giáo nói chung Riêng thể loại luận thuyết tôn giáo (Phật giáo)bắt nguồn từ thể loại giải thuyết được đức Phật Thích Ca xác lập trong các

bản Kinh A Hàm hay Nikaya, nhằm luận giải những nghĩa lý sâu xa của

giáo lý Phật đà

Có thể nói, người tiên phong dùng thể loại luận thuyết tôn giáo là

Trần Thái Tông với Khóa hư lục và Thiền tông chỉ nam (tác phẩm này đã mất, chỉ còn bài tựa) Kế đến là Trần Nhân Tông với Tăng già toái sự (đã mất), sau đó là Pháp Loa với Đoạn sách lục và Tham Thiền chỉ yếu (đã

mất), chỉ còn vài đoạn… Điều cần lưu ý là những tác phẩm nói trên khôngchỉ là thành tựu về thể loại mà còn thể hiện tư tưởng Phật – Thiền, thông

qua phương thức biểu đạt giàu hình tượng nghệ thuật Khóa hư lục là một

Trang 8

luận thuyết tôn giáo được viết kết hợp ba lối văn: tản văn, biền văn, vậnvăn mà hình thức tản văn và biền văn là chính Trong tác phẩm luận thuyếtnày thì tiểu loại phổ thuyết được Trần Thái Tông sử dụng nhiều hơn cả.Phổ thuyết chỉ là một tiểu thể loại của thể loại luận thuyết tôn giáo, mụcđích vận dụng tiểu thể loại này là để thuyết pháp, tức bàn về các nội dungThiền – Phật, nó ra đời từ thời Đại Tuệ Tông Cảo (1089 – 1163) ở TrungHoa Nếu trước đây, việc truyền giảng Phật pháp chủ yếu thường chỉ diễn

ra giữa thầy và trò theo tinh thần “dĩ tâm truyền tâm” thì đến đến thời Đại

Tuệ Tông Cảo, bằng hình thức phổ thuyết, tư tưởng – triết lý Phật – Thiền

đã được truyền giảng rộng rãi trong tăng chúng và trong tín đồ Phật giáo

Ở Việt Nam, vào đời Trần, Thiền được chọn là tông pháp có thể đápứng một nhu cầu đời sống tâm linh của con người, cho nên dùng tiểu loạiphổ thuyết là cách tốt nhất để có thể thuyết pháp rộng rãi, phổ cập cho cácđối tượng khác nhau để quần chúng hiểu rõ áo nghĩa giáo lý Thiền

Trong các sách Phật học thời này, ngoài kệ và thơ, các bài viết bàn

về giáo lý Thiền đã được viết bằng lối văn biền ngẫu bóng bẩy, mang vẻđẹp cổ kính trang trọng Cấu trúc bài thuyết pháp được các tác giả Thiềnphái viết thường chia làm hai phần, phần trên là hình thức phổ thuyết đượcviết theo lối biền văn, ngôn ngữ giàu hình tượng sống động, có sức cuốnhút người đọc, với giọng văn vừa thiết tha mời gọi, vừa thôi thúc con ngườitỉnh thức; phần dưới là một bài kệ được viết theo thể thơ Đường luật thấtngôn bát cú hoặc tứ tuyệt, nhằm tóm tắt nội dung tư tưởng đã giảng giải ởphần trên, giúp người học đạo dễ dàng tiếp nhận chân lý Có thể nói, tiểuthể loại này là sự kết hợp giữa hai thể tài văn học Phật giáo truyền thống có

từ thời đức Phật: Ứng tụng, Truyền tụng theo lối tản văn và Kệ tụng theo

thể thơ Trần Thái Tông, người đại diện cho Thiền phái Trúc lâm đã viết

các bài Phổ thuyết Tứ sơn, Phổ thuyết Sắc thân, Phổ khuyến phát Bồ Đề tâm văn, Phổ thuyết Hướng thượng nhất lộ Kế đến là Pháp Loa có các

Trang 9

bài Khuyến xuất gia tiến đạo ngôn, Trúc Lâm đại Tôn giả thượng toà thính

sư thị chúng, Thượng thừa tam học khuyến chúng phổ thuyết, Yếu minh học thuật Như vậy là trong tác phẩm của Thiền phái Trúc Lâm có đến 8 văn

bản của 2 tác giả viết theo tiểu thể loại phổ thuyết

Bốn bài Phổ thuyết của Thiền phái Trúc Lâm với mục đích là nhắm

đến quảng đại quần chúng, hướng mọi người hiểu rõ các vấn đề cốt lõi củaThiền để có thái độ sống phù hợp tâm nguyện giải thoát Cụ thể là Thiềnphái tập trung giải quyết các vấn đề lớn xoay xung quanh con người, tứcsắc thân và sinh lão bệnh tử thông qua biểu tượng bốn núi tương ứng vớibốn mùa nhằm khơi gợi người học đạo phát lòng Bồ Đề, hướng đến giảithoát Niết bàn

Đối với vấn đề sắc thân, Thiền phái Trúc Lâm chỉ ra sự trói buộc củacái sắc thân giả huyễn Chính sự hệ lụy trước các trần mà con người nhưcon thiêu thân lao vào vòng xoáy cuộc đời và trôi lăn trong dòng sinh tử.Từng câu văn, con chữ giọng điệu cất lên như là tiếng nói con tim thổnthức để tự thân ý thức vượt thoát sinh già bệnh chết của một kiếp người:

“Các người, nào khác gì con rối; đều nhờ tơ sợi kéo lôi Đùa qua giỡn lại,giống sống mà thôi; buông thả, thu hồi, thực là xác chết Bắt chước nhaulấy muôn nghìn mưu chước; đều duyên do sáu giặc tranh giành Không logià bệnh chế đến gần; tham tiếc rượu, sắc, tài đi mất…”[6, tr 55]

Tương tự bốn bài Phổ thuyết của Pháp Loa: Khuyến xuất gia tiến đạo ngôn, Trúc Lâm đại Tôn giả thượng toà thính sư thị chúng, Thượng thừa tam học khuyến chúng phổ thuyết, Yếu minh học thuật, bằng trái tim

Thiền định, khối óc tuệ giác, sử dụng bút pháp vừa chính luận, tả thực hếtsức sống động, văn cú giàu hình ảnh so sánh, Tôn giả mời gọi mọi ngườihãy tỉnh thức, sống theo đạo lý Thiền tông mà an trú trong thế giới an lành,

hạnh phúc thật sự

Trang 10

2 Kệ và thơ Thiền

Hiện có nhiều ý kiến khác nhau khi đề cập đến tên gọi thể loại này

Sách Văn học Phật giáo thời Lý – Trần: Diện mạo và đặc điểm đã tổng kết

các ý kiến của các nhà nghiên cứu về thể loại này, từ đó giới thuyết kệ và

thơ Thiền gồm các loại như sau: “Loại thứ nhất là kệ (kệ tán, kệ tụng, kệ

ngộ giả) Những bài kệ này trực tiếp trình bày giáo lý, tư tưởng nhà Phậtbằng hình thức ngắn gọn, cô đọng, chuyển tải những nội dung súc tích,những tư tưởng uyên áo của Thiền học, Phật học Về nguồn gốc kệ lànhững bài văn vần (thơ thường là bốn câu, có khi tám câu với nhiệm vụthâu tóm một cách cô đọng lời kinh bằng văn xuôi đã giảng thuyết ở phầntrước Chính từ ghép “kinh kệ” đã nói lên mối quan hệ gắn bó đó Loại thứhai là kệ được thi vị hóa Có thể xem đây là thơ triết lý bởi lẽ về hình thức,các tác giả đã sử dụng ngũ ngôn hoặc thất ngôn, với ngôn ngữ lung linh,đầy hình ảnh đẹp và gợi cảm, giàu chất thơ nhưng đằng sau cái vỏ hìnhthức ngôn ngữ ấy ẩn tàng triết lý nhiệm mầu của nhà Phật Loại thứ ba làthơ mang cảm hứng Thiền học Đây là những bài thơ cảm xúc trữ tìnhnhưng nội dung có đề cập đến tâm, Phật, sinh, tử, Niết bàn, chân như, sắckhông; Loại thứ tư là thơ tức cảnh sinh tình, bộc lộ cảm xúc tâm trạng củathiền sư đối với cái lung linh, mỹ lệ của ngoại cảnh thông qua cảm quanThiền học”

Các ý kiến nói trên, chỉ là sự phân loại mang tính chất tương đối.Chúng ta cũng khó mà phân chia rạch ròi, chính xác chuyên biệt về cácdạng thơ Thiền Sự phân loại ấy nhằm để so sánh với các thể loại kháctrong văn học Phật giáo Tuy vậy, thể loại kệ và thơ Thiền được các tác giả

sử dụng nhiều trong văn học Phật giáo Lý – Trần Như Khóa hư lục là tác phẩm của Trần Thái Tông đã sử dụng thể loại kệ và thơ khá rõ nét Thượng

sĩ ngữ lục của Trần Tung, Thiền uyển tập anh của nhiều tác giả cũng đều có

sự kết hợp các thể loại này Những tác phẩm vừa nêu trên đã sử dụng ba lối

Trang 11

văn: tản văn, biền văn và vận văn, trong đó thể kệ và thơ Thiền (thuộc vậnvăn) là thể loại được sử dụng nhiều nhất.

Các bài kệ và thơ Thiền xuất hiện khá nhiều trong Khóa hư lục, không kể phần Kệ trong Niêm tụng kệ, đã có 21 bài kệ Cuối mỗi bài Phổ thuyết đều có bài kệ thơ nhằm đúc kết nội dung cốt lõi của Thiền vừa được

giảng bằng một thể thơ Đường luật, mà thể thơ này vốn rất nghiêm ngặt vềniêm, luật, vần, đối, nhịp; với ngôn ngữ khúc triết, ý tại ngôn ngoại, gợinhiều hơn tả, nhờ thế mới đáp ứng hết diệu lý nhiệm mầu của giáo điểnThiền tông mà người viết muốn truyền đạt Vì vậy, những bài kệ thơ này cómột ngôn ngữ diễn đạt riêng, người đọc phải có chìa khóa để giải mã thì

mới thấu đạt Các bài kệ khác của các bài văn như Giới sát sinh văn, Giới thâu đạo văn, Giới sắc văn, Giới vọng ngữ văn, Giới tử văn…nhất là các bài kệ của các bài văn thuộc Lục thời sám hối khoa nghi đã đưa tác giả trở

thành nhà thơ sám hối Một giọng thơ lạ độc đáo giữa dòng thơ Thiền, vốnrất thiên về sự khai phóng hòa quang đồng trần, tuỳ duyên tùy tục

Những bài kệ của các nhà trước tác Thiền phái vào đời Trần đều cómột nội dung và hình thức diễn đạt về việc răn dạy đệ tử trước khi tịch diệthay sách tấn đồ chúng tu hành Ở đó, thế giới nội tâm của các thiền sư được

giãi bày qua các bài thi kệ ngập tràn cảm xúc, thi hứng Đọc bài Dần thì cảnh sách kệ Hiến hương kệ, Hiến hoa kệ… của Trần Thái Tông, mỗi bài

có một nét đẹp của thế giới thẩm mỹ riêng biệt, đôi khi tách ra khỏi vườnThiền thì có thể hoà nhập vào vườn thơ chung của dân tộc

Thơ hay kệ khó mà phân biệt Bằng sự trực cảm tâm linh, tác giả đãhòa nhập giữa trời đất bao la có giông tố bão bùng, mây đen phủ kín, gió

xô sóng vỗ lớp lớp cuộn ghềnh, phút chốc trời xanh, trăng sáng, sóng lặng.Tĩnh hay động, ai biết? Duy chỉ ngư ông an nhiên tự tại giữa dòng đời Rõràng, đằng sau lớp vỏ ngôn từ giàu hình ảnh, hết sức gợi cảm, được sángtác bằng thể thơ ngũ ngôn, thất ngôn, lại ẩn chứa triết lý Phật giáo, tất cả đã

Trang 12

khiến người đọc dễ dàng tiếp nhận để thực nghiệm tâm linh Trong Sư đệ vấn đáp của Trần Nhân Tông, ta bắt gặp hình ảnh đệ tử hỏi “Thế nào là gia

phong của Phật hiện tại” được Trúc Lâm trả lời: “Bạch thuỷ gia phong mêhiểu yến, Hồng đào tiên uyển tuý xuân phong.”(19) tức “Nước trắng mênhmông chim én bạc, Vườn tiên đào thắm gió xuân say”

Các tác phẩm Thiền phái có những câu thơ, bài thơ đúng nghĩa thơ

trong Ngữ lục vấn đáp, Niêm tụng kệ, Lục thời sám hối khoa nghi của Trần Thái Tông; Chân tâm chi dụng, Sinh tử… của Trần Thánh Tông; Vạn sự quy như, Thế thái hư huyễn, Nhập trần, Sinh tử nhàn nhi dĩ, Đối cơ Tụng cổ…của Tuệ Trung; Đề cổ Châu Hương thôn tự, Đại Lãm Thần Quang tự…của Trần Nhân Tông; Nhập tục luyến thanh sơn của Pháp Loa; Tặng sĩ

đồ tử đệ, Diên Hựu tự…của Huyền Quang.

Bên cạnh đó, còn có nhiều bài thơ mang cảm hứng Thiền học chiếm

một số lượng khá lớn trong thơ kệ của Thiền phái Nội dung trình bày đến

bản thể giải thoát, các vấn đề sinh tử Niết bàn, chân như, sắc không, hữu

vô… Chúng ta có thể thấy một vài bài thơ ở đời Lý như Ngôn hoài của Không Lộ; Hưu hướng Như Lai của Quảng Nghiêm; Hoa điệp của Giác

Hải… phát biểu về đề tài này Như là sự tiếp nối “truyền đăng tục diệm”,các thiền sư của Thiền phái cũng trình bày sở đắc chứng ngộ qua sự minhgiải các vấn đề thuộc bản thể giải thoát nói trên Tuệ Trung trước tác một

loạt bài: Thủ nê ngưu, Phỏng Tăng Điền đại sư, Vấn Phúc Đườg đại sư, Ngẫu tác…; Trần Thánh Tông sáng tác các bài như Độc Đại Tuệ ngữ lục hữu cảm, Tự thuật, Độc Phật Đại minh lục hữu cảm; Trần Nhân Tông có các bài như Sơn phòng mạn hứng, Đại Lãm Thần Quang tự, Hữu cú vô cú…; Pháp Loa với bài Thị tịch; Huyền Quang có các bài như Yên Tử sơn

am cư Thạch Thất, Đề Động Hiên đàn việt giả sơn… Mỗi bài của mỗi tác

giả có một cách diễn đạt riêng biệt khi thì trực tiếp, lúc thì gián tiếp trình

Trang 13

bày cảm hứng Thiền học về sở đắc, sở chứng nhưng đều xuất phát từ điểmnhìn của sự chứng ngộ thực tại duyên sinh vô ngã, vô thường.

Các bài thơ Thiền bộc lộ cảm xúc tâm trạng thực chứng giác ngộđược giải trình thông qua vẻ đẹp thiên nhiên đẹp đẽ, huyền ảo bằng mộtcảm quan Thiền học Nguồn cảm hứng sáng tạo trước cảnh vật hữu tình,thiên nhiên hoá cảnh Phật là sở trường sáng tác của các thiền sư từ đời Lýđến đời Trần mà các nhà nghiên cứu gọi là thơ tức cảnh sinh tình Nhưngdấu ấn lớn về loại thơ này vẫn là các tác giả thiền sư ở đời Trần thuộc phái

Thiền Trúc Lâm như bài Ký Thanh Phong am tăng Đức Sơn của Trần Thái Tông; Đề Huyền Thiên động, Hạnh Thiên Trường hành cung của Trần Thánh Tông; Họa Hưng Trí thượng vị hầu, Giang hồ tự thích… của Tuệ Trung; Xuân hiểu, Động Thiên hồ thượng, Xuân cảnh… của Trần Nhân

Tông; và nhiều bài thơ khác của Huyền Quang đạt đến đỉnh cao của thi ca

như Cúc hoa (6 bài), Chu trung, Phiếm chu, Trúc miên, Ngọ thụy, Nhân sự

đề Cứu Lan tự, Địa lô tức sự…

Bài Chu trung, Phiếm chu là một thí dụ điển hình Cả hai bài đều lấy

hình ảnh con thuyền làm nguồn cảm hứng để diễn đạt thế giới thực tại hiệnhữu cùng song hành với thế giới siêu nghiệm trong một không gian biểntrời bao la, một thời gian vô biên để đến nơi cùng tận Con thuyền củaHuyền Quang là con thuyền vượt thoát khổ đau mà kinh điển nhà Phật gọi

là thuyền Bát Nhã Người đọc sẽ cảm nhận sự thanh thoát, sự huyền diệugiữa biển trời mênh mông, có sự hiện hữu của một chiếc thuyền con lướtqua bể đời trầm luân, xa xa chỉ một cánh chim hải âu trắng để mở lối chocuộc hành trình về miền giải thoát “Giang thủy liên thiên nhất âu bạch”

(Chim âu một cánh trắng phau (Chu trung)(6, tr684) Đến bài Phiếm chu thì người đọc không chỉ cảm nhận bằng ngôn ngữ thi ca mà còn tiếp

cận được thế giới chứng thực nội tâm luôn hòa quyện giữa cuộc đời xao

Ngày đăng: 19/07/2021, 13:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w