Đặc biệt trong bối cảnh giáo dục đại học đang phải đối mặt với những thách thức lớn về hiệu quả đào tạo so với nhu cầu; về tính linh hoạt và liên thông trong các quá trình và phương thức
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TẠ THỊ BÍCH NGỌC
XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI, 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TẠ THỊ BÍCH NGỌC
XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 9 34 04 03
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 PGS TS Trương Quốc Chính
2 PGS TS Đặng Khắc Ánh
HÀ NỘI, 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu, số liệu trích dẫn trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả luận án
Tạ Thị Bích Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 6
6 Điểm mới của Luận án 7
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án 8
8 Cấu trúc của Luận án 9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC VÀ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 10
1.1 Các công trình ngoài nước 10
1.2 Các công trình trong nước 15
1.3 Nhận xét kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan và vấn đề đặt ra đối với luận án 31
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC 34
ĐẠI HỌC 34
2.1 Các khái niệm liên quan 34
2.1.1 Khái niệm “xã hội hóa” 34
2.1.2 Khái niệm “giáo dục đại học” 40
2.1.3 Khái niệm “xã hội hóa giáo dục đại học” 41
2.2 Nội dung, đặc điểm và vai trò của xã hội hóa giáo dục đại học 42
2.2.1 Nội dung của xã hội hóa giáo dục đại học 42
2.2.2 Đặc điểm của xã hội hóa giáo dục đại học 50
2.2.3 Vai trò của xã hội hóa giáo dục đại học 56
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến xã hội hóa giáo dục đại học 59
2.3.1 Truyền thống văn hóa về giáo dục 59
2.3.2 Trình độ phát triển kinh tế - xã hội 59
2.3.3 Chính sách và pháp luật của nhà nước về xã hội hóa giáo dục đại học 60
2.3.4 Nhận thức, sự đồng thuận và năng lực thực hiện xã hội hóa của các cơ sở giáo dục đại học và cộng đồng 61
2.3.5 Thực tiễn hội nhập quốc tế sâu rộng và sự tham gia đầu tư vào giáo dục đại học của đối tác ngoài nước 63
2.3.6 Thực trạng giáo dục đại học và kết quả triển khai xã hội hóa giáo dục đại học giai đoạn đầu 63
2.4 Kinh nghiệm quốc tế về xã hội hóa giáo dục đại học và bài học cho Việt Nam 64
2.4.1 Chia sẻ chi phí giáo dục đại học 65
2.4.2 Mở rộng quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học 67
2.4.3 Phát triển mô hình đại học doanh nghiệp 69
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM 72
3.1 Khái quát về giáo dục đại học Việt Nam 72
3.1.1 Về mạng lưới 72
3.1.2 Về quy mô 73
3.1.3 Về giảng viên 74
Trang 53.2 Cơ sở chính trị và pháp lý của xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam 75
3.2.1 Cơ sở chính trị của xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam 75
3.2.2 Pháp luật về xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam 79
3.3 Phân tích và đánh giá kết quả xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam 85
3.3.1 Về phát triển giáo dục đại học ngoài công lập 85
3.3.2 Về thu hút tài chính ngoài ngân sách cho giáo dục đại học 90
3.3.3 Về tiếp nhận các nguồn lực phi tài chính cho giáo dục đại học 99
3.3.4 Về thực hiện quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học 108
3.3.5 Về hợp tác quốc tế về giáo dục đại học 113
3.3.6 Đánh giá chung về kết quả xã hội hóa giáo dục đại học 116
CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM 120
4.1 Bối cảnh và xu hướng xã hội hóa giáo dục đại học hiện nay 120
4.1.1 Bối cảnh đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học hiện nay 120
4.1.2 Xu hướng xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay 123
4.2 Quan điểm đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam 128
4.2.1 Xã hội hóa giáo dục đại học là nhằm hướng tới nâng cao chất lượng và hiệu quả của giáo dục đại học 128
4.2.2 Tăng cường xã hội hóa giáo dục đại học không tách rời việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục đại học 129
4.2.3 Thực hiện xã hội hóa giáo dục đại học phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội 129
4.2.4 Mở rộng và đa dạng hóa toàn hệ thống giáo dục đại học song hành với đầu tư trọng điểm một số lĩnh vực mũi nhọn trong các trường đại học nghiên cứu 130
4.2.5 Quyền tự chủ luôn gắn liền với trách nhiệm giải trình và năng lực tự chủ của trường đại học 130
4.3 Giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam 131
4.3.1 Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của xã hội hóa giáo dục đại học 131
4.3.2 Hoàn thiện chính sách, pháp luật xã hội hóa giáo dục đại học 134
4.3.3 Tổ chức thực hiện có hiệu quả xã hội hóa giáo dục đại học 140
4.3.4 Bảo đảm các điều kiện đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học 142
KẾT LUẬN 149
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC 163
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NN Nhà nước Nxb Nhà xuất bản
QL Quản lý QLNN Quản lý nhà nước
SV Sinh viên TTCP Thủ tướng chính phủ UBND Ủy ban nhân dân
XH Xã hội XHH Xã hội hóa
Trang 7Biểu đồ 3.3: Số lượng SV từ năm học 1999-2000 đến năm học 2018-2019
Biểu đồ 3.4: Số lượng SV CL và NCL từ năm học 1999-2000 đến năm học
2018-2019
Biểu đồ 3.5: Số lượng GV từ năm học 1999-2000 đến năm học 2018-2019
Biểu đồ 3.6: Số lượng GV đạt trình độ Tiến sỹ và Thạc sỹ từ năm học 1999-2000
đến năm học 2018-2019
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dưới góc độ quản lý công, xã hội hóa được hiểu là một phương thức đa dạng hóa chủ thể cung ứng dịch vụ công Trong các học thuyết kinh tế phương Tây, xã hội hóa được xem là một giải pháp của Nhà nước trong việc giải quyết các thất bại của thị trường Với vai trò điều hành xã hội, Nhà nước trực tiếp tiến hành cung ứng một số dịch vụ công thông qua các tổ chức của mình để xử lý tình trạng thiếu hụt những dịch vụ công mà tư nhân không muốn hoặc không thể cung ứng Như vậy, xã hội hóa dịch vụ công trong quan niệm của phương Tây là việc Nhà nước cung cấp dịch vụ công dựa trên việc sử dụng các nguồn lực công Tại Việt Nam, xã hội hóa dịch vụ công lại được hiểu theo nghĩa hoàn toàn trái ngược Do đặc thù của mô hình quản lý và thực tiễn lịch sử xây dựng đất nước, các dịch vụ công ở Việt Nam đều được cung cấp bởi Nhà nước Trải qua nhiều biến động của lịch sử, giữa bối cảnh các nguồn lực công ngày càng bị thu hẹp nhưng yêu cầu của xã hội về số lượng và chất lượng dịch vụ công ngày càng tăng cao, Nhà nước phải giảm dần hoạt động trực tiếp cung ứng Thay vì tự cung ứng, Nhà nước chuyển giao một số nhiệm vụ cho các chủ thể ngoài Nhà nước nhưng vẫn giữ quyền quản lý tổng thể Việc huy động và tổ chức cho các thành phần trong xã hội tham gia vào cung ứng dịch vụ công được gọi là xã hội hóa Như thế, hoạt động xã hội hóa dịch vụ công tại Việt Nam là hoàn toàn khác với hoạt động xã hội hóa dịch vụ công ở phương Tây
Tuy khác biệt về nội hàm khái niệm, song từ góc độ quản lý công, có thể khẳng định sự tham gia của khu vực ngoài Nhà nước vào việc thực hiện các nhiệm
vụ công là một xu thế tất yếu trong xã hội hiện đại Thay vì trực tiếp thực hiện mọi nhiệm vụ công, Nhà nước tập trung giữ vai trò quản lý và trao quyền thực hiện một
số nhiệm vụ cụ thể cho các chủ thể ngoài Nhà nước Cách làm này đang ngày càng cho thấy nhiều ưu điểm, bởi nó vừa phát huy được tính hiệu quả và năng động của khu vực ngoài Nhà nước, vừa hạn chế được sự chậm chạp và kém thích ứng của bộ máy công quyền Hiện nay, khu vực tư nhân đang ngày càng phát triển mạnh mẽ và bộc lộ rõ rệt năng lực vượt trội trong thực thi các mục tiêu định sẵn Trong khi đó, hàng loạt những vấn đề xã hội có tính toàn cầu xuất hiện đã đặt ra những thách thức
Trang 9không nhỏ đối với hoạt động quản lý và điều hành của các quốc gia Sự tăng thêm
cả về lượng và về chất của nhu cầu xã hội đang đặt ra những thách thức không nhỏ đối với Nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng cai trị cũng như chức năng phục vụ Tiếp cận từ góc độ quản lý công, việc tận dụng năng lực của khu vực ngoài Nhà nước trong thực thi các nhiệm vụ công là hướng đi thích hợp để giải quyết đòi hỏi này Từ giữa những năm 1990, ở Việt Nam, sự tham gia của các thành phần ngoài Nhà nước vào việc cung ứng một số loại hình dịch vụ công cộng đã được thể chế hoá Theo Nghị quyết số 90/CP của Chính phủ ngày 21/8/1997 về phương
hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa: “Xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hóa và sự phát triển về thể chất và tinh thần của nhân dân…”
Giáo dục đại học là hoạt động giáo dục sau trung học phổ thông nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cho người học về một ngành, lĩnh vực cụ thể Trong xu thế phát triển chung của giáo dục đại học trên thế giới, để phát huy tối đa vai trò của giáo dục đại học trong công cuộc phát triển đất nước, xã hội hóa giáo dục đại học là một việc làm mang tính tất yếu Đặc biệt trong bối cảnh giáo dục đại học đang phải đối mặt với những thách thức lớn về hiệu quả đào tạo so với nhu cầu;
về tính linh hoạt và liên thông trong các quá trình và phương thức đào tạo; về kỹ năng nghề nghiệp và đạo đức làm việc của nhân lực được đào tạo; về khả năng thích ứng của chương trình đào tạo đối với thực tiễn xã hội; về sự thiết gắn kết giữa nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; về
sự lạc hậu trong phương pháp giáo dục; sự kém thực chất trong việc thi, kiểm tra và đánh giá; về những yếu kém trong quản lý giáo dục; về chất lượng, số lượng và cơ cấu của đội ngũ nhà giáo… Để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu bức thiết của sự phát triển, cần:
“Đẩy mạnh việc thực hiện cơ chế tự chủ, xã hội hoá, trước hết là các cơ sở giáo dục đại học” như Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ sáu Ban
chấp hành Trung ương khoá XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý,
Trang 10nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập đã
nêu, đồng thời “Hoàn thiện cơ chế, chính sách để đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo đúng hướng, hiệu quả” [15, 139] như Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ XIII đã xác định Xã hội hóa giáo dục đại học, với bản chất là việc Nhà nước huy động và quản lý sự tham gia bằng nhiều hình thức của toàn xã hội vào việc nâng cao chất lượng giáo dục, là phương thức hữu hiệu để thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Cần đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục để phát huy những ý nghĩa xã hội của hoạt động này, đồng thời nhân rộng những tác động tích cực của
nó đối với công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay
Trong những năm qua, các hoạt động chủ yếu của xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam đã diễn ra rất sôi nổi Giáo dục đại học ngoài công lập được trao cơ hội, song phát triển chưa đồng đều và cho thấy không ít hạn chế Các hoạt động thu hút tài chính ngoài ngân sách được thực hiện dè dặt, thiếu chiến lược Việc tiếp nhận các nguồn lực phi tài chính đang bị thả nổi tùy vào năng lực tự thân của từng
cơ sở giáo dục đại học Việc thực hiện quyền tự chủ đang được triển khai mạnh mẽ, song còn thiếu cơ chế và động lực để trở nên phổ biến Hợp tác quốc tế về giáo dục đại học đã được thực hiện nhưng chưa tương xứng với tiềm năng… Với mong muốn khắc họa hiện trạng xã hội hóa giáo dục đại học, chỉ rõ nguyên nhân của hiện trạng, từ đó đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam dưới góc độ quản lý công, phát huy tối đa đóng góp của bậc học này đối với công cuộc phát triển đất nước, tôi chọn “Xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản và đánh giá thực trạng xã hội hóa giáo dục đại học ở nước ta, luận án đề xuất quan điểm và giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến xã hội hóa giáo dục đại học
- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận về xã hội hóa giáo dục đại học
Trang 11- Đánh giá thực trạng xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam, chỉ ra những kết quả, hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất quan điểm và các giải pháp nhằm đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu năm hoạt động chủ yếu của xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam bao gồm: phát triển giáo dục đại học ngoài công lập; thu hút tài chính ngoài ngân sách cho giáo dục đại học; tiếp nhận các nguồn lực phi tài chính cho giáo dục đại học; thực hiện quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học; và hợp tác quốc tế về giáo dục đại học
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tiếp cận các văn bản thể hiện chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước về xã hội hóa giáo dục đại học từ năm 1986 đến năm 2020 và đề xuất quan điểm, giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học giai đoạn 2021-2030
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tiếp cận 06 trường đại học được lựa chọn trên cơ sở đảm bảo tính đại diện về vị trí địa lý, loại hình trường và việc áp dụng thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động theo Nghị quyết số 77/NQ-CP (gọi tắt là thí điểm tự chủ), gồm: Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), Đại học Luật Thành phố
Hồ Chí Minh, Đại học Nội vụ, Đại học Thương Mại và Đại học Phương Đông
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Luận án được tiến hành nghiên cứu trên cơ sở hệ thống quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và hệ thống quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quản lý Nhà nước đối với giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 12Nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ đã xác định, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Luận án tập trung phân tích các sách chuyên khảo, các bài nghiên cứu để xây dựng tổng quan tình hình nghiên cứu (chương 1) và cơ sở khoa học của đề tài (chương 2) Các văn kiện và nghị quyết của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật, các chính sách hiện hành về xã hội hóa giáo dục và xã hội hóa giáo dục đại học được sử dụng làm cơ sở để phân tích cơ sở chính trị và pháp lý của xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam (tiết 3.2 chương 3) Dữ liệu thống kê thường niên của Bộ Giáo dục và Đào tạo (đăng tải trên trang thông tin điện tử www.moet.gov.vn) được sử dụng để khái quát về giáo dục đại học Việt Nam (tiết 3.1 chương 3) và một phần của thực trạng xã hội hóa giáo dục đại học (tiết 3.3 chương 3) Các bài viết trên các trang thông tin điện tử về các vấn đề liên quan tới xã hội hóa giáo dục đại học được sử dụng để phân tích và đánh giá kết quả xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam (tiết 3.3 chương 3)
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Để thu thập thông tin nhằm đánh giá thực trạng xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam (tiết 3.3 chương 3) Bảng hỏi được phát tới giảng viên và sinh viên theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên với mục tiêu thu về 50 phiếu trả lời của sinh viên và 10 phiếu trả lời của giảng viên Đối với các trường sử dụng khảo sát trực tiếp, kết quả thu về cơ bản đạt đúng mục tiêu Đối với các trường sử dụng bảng hỏi trực tuyến, số lượng phiếu thu về đều đạt vượt
dự kiến Để đảm bảo tính xác thực của nghiên cứu, số phiếu thu về được giữ nguyên
và được xử lý theo hướng đánh giá tương quan chéo giữa các cặp tiêu chí Các số liệu thu thập được sử lý bằng phần mềm Statistical Package for the Social Sciences (IBM SPSS Statistics Version 20)
- Phương pháp phỏng vấn sâu được sử dụng để thu thập thông tin từ các đối tượng liên quan nhằm đánh giá hoạt động xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay và góp phần xây dựng các giải pháp tăng cường hoạt động này trong thời gian tới Trong nghiên cứu này, phương pháp phỏng vấn sâu được tiến hành trên hai nhóm đối tượng Thứ nhất là cán bộ quản lý trong các cơ quan thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo có chức năng quản lý các vấn đề liên quan tới nội dung nghiên cứu, gồm:
Trang 13Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Trưởng Phòng kiểm định chất lượng giáo dục (Cục quản lý chất lượng), và Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học Thứ hai là cán bộ quản lý đương nhiệm cấp trường/khoa/bộ môn tại sáu trường đại học đã lựa chọn làm mẫu khảo sát, gồm: Phó Hiệu trưởng trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, Trưởng Phòng Truyền thông và Tổ chức sự kiện và Trưởng Khoa Đông phương học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), Phó trưởng Khoa Quản trị trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Phó trưởng Phòng Đào tạo và Phó trưởng Phòng Quản
lý Đào tạo Sau Đại học trường Đại học Nội vụ, Trưởng Khoa Công nghệ thông tin và Truyền thông và Trưởng Khoa Điện-Cơ điện tử trường Đại học Phương Đông, Phó trưởng bộ môn Quản trị chiến lược và Phó trưởng bộ môn Quản trị tác nghiệp kinh doanh trường Đại học Thương Mại
5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam là gì?
- Tại sao phải đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam?
- Thực trạng xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam đang như thế nào?
- Cần thực hiện những giải pháp nào để đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam là quá trình huy động sự tham gia của toàn xã hội vào việc thúc đẩy sự phát triển của giáo dục đại học dưới sự quản lý của Nhà nước
- Cần đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam vì xã hội hóa giáo dục đại học làm giảm nhẹ gánh nặng ngân sách đồng thời đảm bảo nguồn cung đào tạo nhân lực trình độ đại học; tạo ra nhiều cơ hội học tập, góp phần xây dựng xã hội học tập, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời; tạo nên động lực cạnh tranh trong toàn
hệ thống và đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực quản lý của Nhà nước về giáo dục đại học; và làm phát huy các tiềm lực của xã hội, khích lệ tính chủ động của các bên liên quan nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học
Trang 14- Các phương diện biểu hiện chủ yếu của xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam đều đang được triển khai ở các mức độ khác nhau, trong đó: Phát triển giáo dục đại học ngoài công lập là hoạt động được triển khai sớm nhất, có tốc độ phát triển nhanh nhất, song hiệu quả thu được chưa đạt tới mục tiêu đã đề ra; Tiếp nhận các nguồn lực phi tài chính cho giáo dục đại học là hoạt động được diễn ra thường xuyên và rộng khắp, tuy nhiên các bên liên quan vẫn đang đóng vai trò thiếu chủ động và chưa phát huy hết tiềm lực của mình trong quá trình thực hiện; Hoạt động thực hiện quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học đã từng bước được thí điểm ở phạm vi nhỏ và song mới ở giai đoạn đầu áp dụng nên hiệu quả chưa rõ rệt; Hoạt động thu hút tài chính ngoài ngân sách cho giáo dục đại học và hoạt động hợp tác quốc tế về giáo dục đại học chưa được triển khai tương xứng với tiềm năng
- Để đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam, cần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của xã hội hóa giáo dục đại học; hoàn thiện chính sách, pháp luật xã hội hóa giáo dục đại học; tổ chức thực hiện có hiệu quả xã hội hóa giáo dục đại học; bảo đảm các điều kiện đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học Mặc dù còn một số hạn chế, vướng mắc, song nếu thực hiện tốt các giải pháp này, xã hội hóa giáo dục đại học sẽ phát huy được tốt vai trò của mình đối với xã hội
6 Điểm mới của Luận án
Thứ nhất, luận án sử dụng cách tiếp cận của quản lý công để nghiên cứu xã hội hóa giáo dục đại học với tư cách một hoạt động xã hội hóa đối với một dịch vụ công cụ thể Xã hội hóa giáo dục đại học được xem xét một cách hệ thống thông qua biểu hiện cụ thể trên các phương diện: phát triển giáo dục đại học ngoài công lập, thu hút tài chính ngoài ngân sách cho giáo dục đại học, tiếp nhận các nguồn lực phi tài chính cho giáo dục đại học, thực hiện quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học, và hợp tác quốc tế về giáo dục đại học Điều này góp phần hình thành cách tiếp cận hệ thống về xã hội hóa giáo dục đại học, khác biệt với các nghiên cứu hiện
có đang chủ yếu xem xét từng hoạt động kể trên một cách riêng lẻ
Thứ hai, về mặt lý luận, trên cơ sở phân tích và biện luận, luận án đã xây dựng định nghĩa xã hội hóa giáo dục đại học, xác định nội dung, phân tích đặc điểm, đánh giá vai trò của xã hội hóa giáo dục đại học và chỉ ra các yếu tố ảnh
Trang 15hưởng tới hoạt động xã hội hóa giáo dục đại học Điều này góp phần hình thành lý thuyết về xã hội hóa giáo dục đại học
Thứ ba, về mặt thực tiễn, căn cứ vào kết quả tiến hành các phương pháp nghiên cứu đã xác định, luận án đưa ra đánh giá cụ thể về thực trạng xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam Đây là những kết luận nghiêm túc, có căn cứ xác thực, góp phần mô tả diện mạo hoạt động xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam và nguyên nhân dẫn tới hiện trạng đó Từ góc độ quản lý công, luận án xây dựng quan điểm và
đề ra các giải pháp cụ thể để đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam Các giải pháp được đề xuất trên cơ sở các nguyên nhân của thực trạng nên đảm bảo tính
cụ thể, có căn cứ và có khác biệt so với các nghiên cứu đã có trên từng phương diện của xã hội hóa giáo dục đại học
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án
7.1 Ý nghĩa khoa học
Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết của quản lý công về xã hội hóa dịch vụ công để tiếp cận vấn đề nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung thêm những bằng chứng về xã hội hóa một loại hình dịch vụ công cụ thể, từ đó tiếp tục khẳng định và phát triển thêm các luận điểm về xã hội hóa dịch vụ công, xã hội hóa giáo dục và xã hội hóa giáo dục đại học Luận án góp thêm cái nhìn tổng quan
về xã hội hóa giáo dục đại học ở trong nước và quốc tế, làm cơ sở nghiên cứu cho luận án, đồng thời có thể hữu ích cho những nghiên cứu tiếp theo về chủ đề xã hội hóa, xã hội hóa giáo dục và xã hội hóa giáo dục đại học
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án bổ sung thêm một góc nhìn về thực trạng xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam trên năm nội dung chủ đạo gồm: Phát triển giáo dục đại học ngoài công lập; Thu hút tài chính ngoài ngân sách cho giáo dục đại học; Tiếp nhận các nguồn lực phi tài chính cho giáo dục đại học; Thực hiện quyền
tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học; và Hợp tác quốc tế về giáo dục đại học Luận
án cũng khuyến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam nói chung, cũng như thúc đẩy sự chủ động của các cơ sở giáo dục đại học trong việc tiến hành xã hội hóa giáo dục đại học tại mỗi nhà trường
Trang 168 Cấu trúc của Luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận
án được tổ chức thành 04 chương và 13 tiết
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về xã hội hóa giáo dục và xã hội hóa giáo dục đại học
Chương 2 Cơ sở khoa học của xã hội hóa giáo dục đại học
Chương 3 Thực trạng xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam
Chương 4 Quan điểm và giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam
Trang 17CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ XÃ HỘI HÓA GIÁO
DỤC VÀ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1.1 Các công trình ngoài nước
Giáo dục theo gốc Latinh (educare) là nuôi nấng, dạy dỗ; theo gốc Hán Việt là chỉ bảo, dạy dỗ, chăm sóc Trong ngôn ngữ hiện đại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, GD được dùng để chỉ hệ thống GD từ phổ thông tới ĐH với ý nghĩa là sự bồi dưỡng của thế hệ trước đối với thế hệ sau nhằm duy trì và phát triển XH Trình độ của nền GD có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của mọi quốc gia, nhất là trong các bối cảnh biến động và khủng hoảng Điều này lý giải vì sao hầu hết các công cuộc cải cách và đổi mới GD đều gắn với những biến đổi lớn về kinh tế-XH trong các thời kỳ Với vai trò là một phương thức hữu hiệu để đổi mới GDĐH, XHH GDĐH và các nội dung của nó đã được nghiên cứu tại nhiều quốc gia
Tại Hoa Kỳ, dẫn theo bài viết “Market in higher education: Can we still learm from economics’ founding fathers?” của Pedro NunoTeixeira (2006), tác giả
Vũ Thị Phương Anh khẳng định GDĐH ở đây chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tư tưởng của bốn nhà kinh tế học là Adam Smith (1723-1790), John Stuart Mill (1806-1873), Alfred Marshall (1842-1924) và Milton Friedman (1912-2006) Theo đó, Adam Smith được cho là người đầu tiên đưa yếu tố thị trường vào trong lý luận GD khi
cho rằng: “phải giải phóng các lực lượng thị trường (market forces), khuyến khích các sáng kiến tư nhân trong GD và tận dụng cơ chế cạnh tranh giữa các lực lượng này NN không nên can thiệp quá sâu vào GDĐH ” John Stuart Mill ủng hộ GDĐH tư và cơ chế cạnh tranh, song khẳng định “Thị trường GDĐH phải được NN kiểm soát chặt chẽ, chứ không thể để cho “người tiêu dùng” tự kiểm soát thông qua quyền lựa chọn của mình” Alfred Marshall chỉ ra hai đặc điểm quan trọng nhất của thị trường GDĐH so với các loại thị trường khác là “Sự đầu tư rất dài khiến cho mục tiêu cần đạt chỉ có thể xác định được một cách khá mơ hồ” và “Tồn tại một sự đứt khúc giữa một bên là những cá nhân trả chi phí đầu tư cho GD (thông thường
là các bậc phụ huynh) và một bên là những người được hưởng lợi ích từ việc học tập (là những người đi học)” và cho rằng NN cần can thiệp vào thị trường GD [89]
Thừa nhận sự tồn tại của thị trường GD và tin rằng cần có sự can thiệp của
Trang 18NN đối với thị trường này là quan điểm tồn tại suốt thế kỷ XX và chỉ thay đổi khi Milton Friedman công bố những quan điểm của mình về vai trò của thị trường trong
GD Theo đó, để GDĐH phát triển thì cần sự cân bằng giữa vai trò của NN và thị
trường: “NN chỉ nên bao cấp những lãnh vực nào đem lại lợi ích công, hoặc những con người nào thuộc diện cần bao cấp (VD: các diện chính sách) và không phân biệt trường công trường tư, chứ không phải bao cấp khu vực công và loại trừ khu vực tư” [89] NN giữ vai trò giám sát và chỉ can thiệp trong một số trường hợp đặc
biệt, còn lại trao quyền tự chủ cho nhà trường Chịu ảnh hưởng bởi các lý thuyết này, GDĐH ở Hoa Kỳ có tính tự quản rất cao Các trường ĐH ở Hoa Kỳ hoàn toàn không chịu sự QL của CP, của chính quyền liên bang hay chính quyền tiểu bang về chương trình ĐT, nội dung ĐT, tuyển sinh và bổ nhiệm giáo sư Các trường CL chỉ chịu sự bổ nhiệm hội đồng quản trị của cấp tài trợ Các trường ĐH tư thục ở Hoa
Kỳ không dựa vào sự hỗ trợ tài chính của chính quyền liên bang, mà chủ yếu huy động nguồn lực từ các cựu SV, tổ chức XH Ngoài nguồn lực tài chính, các ĐH tư thục còn tiếp nhận hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, về học bổng và về giảng dạy Xu thế này đang được mở rộng tại các ĐHCL Hoa Kỳ
Thực tế này dẫn tới hướng nghiên cứu về tự do học thuật và tự chủ ĐH (cả trong và ngoài nước) là hướng nghiên cứu được quan tâm chủ yếu nhất trong số các vấn đề về XHH GDĐH tại quốc gia này Có thể chỉ ra một số nghiên cứu như: Patrick D Pauken, Bowling Green State University, “Academic freedom and Institutional autonomy in American and Australian Universities: A twenty-first century dialogue and a call to leaders”, 1327-7634 Vol 12, No 1, pp 7-27 Australia
& New Zealand Journal of Law & Education (Tự do học thuật và tự chủ ĐH ở Mỹ
và Úc: Đối thoại thế kỷ XXI và thông điệp tới các nhà lãnh đạo) nghiên cứu những đối thoại giữa các tổ chức và cá nhân có liên quan tới tự chủ ĐH và tự do học thuật,
để tìm kiếm, sửa đổi và công bố các thông điệp về vấn đề này trong bối cảnh vị trí các trường ĐH đang thay đổi; Luigi Einaudi, Harvard College Ph.D Candidate, Harvard University, “University autonomy and academic freedom in Latin America” (Tự chủ ĐH và tự do học thuật ở Mỹ Latinh) giới thiệu về ĐH ở Mỹ Latinh trong bối cảnh lịch sử Mỹ Latinh hiện đại, cũng như nguồn gốc và diễn tiến
Trang 19của tự chủ ĐH và tự do học thuật tại khu vực này…
Tại Châu Âu, năm 1973, cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới kéo theo nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính và tiền tệ đã gây nên những tác động nặng nề tới các quốc gia Tây Âu Hàng loạt những vấn đề XH có tính toàn cầu xuất hiện đã đặt ra những thách thức không nhỏ đối với hoạt động điều hành đất nước Tại châu Âu, xu thế giảm chi ngân sách, tăng cường sự tham gia của khu vực tư vào cung ứng cách dịch vụ công cộng nói chung và GDĐH nói riêng được mở rộng hơn bao giờ hết Đầu những năm 2000, cộng đồng chung châu Âu đã đề nghị các nước thành viên nghiên cứu trao quyền tự chủ cho ĐH nhằm tăng sức cạnh tranh trên tầm quốc tế, nhằm đổi mới GD và tăng vai trò trong nền kinh tế Bước sang thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, châu Âu đối mặt với những thách thức to lớn tới mức không quốc gia nào có thể tự mình giải quyết được (khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, sự cạnh tranh của các nền kinh tế đang phát triển, sự già hóa dân số ) Nhận thức được vai trò nền tảng của GD đối với sự phát triển, trong khi tiến hành phân bố ngân sách châu Âu giai đoạn 2014-2020, các CP EU đã quyết định gia tăng đầu tư cho GD và nghiên cứu với kỳ vọng thúc đẩy được sự phục hồi về kinh tế và XH
Nếu như chương trình Erasmus (Chương trình hành động của Cộng đồng châu
Âu về trao đổi SV) giai đoạn 2014-2020 là một thí dụ điển hình cho mở rộng hợp tác quốc tế về GDĐH; thì MOOCs (Massive Open Online Courses-Các khóa học trực tuyến mở qui mô lớn) là cách thức chuyển giao kiến thức mới trong tiến trình đa dạng hóa các hình thức học tập ĐH hướng tới nhu cầu người học Cùng với vấn đề tự chủ
ĐH, đây là các hướng nghiên cứu chính về XHH GDĐH mà châu Âu đang quan tâm Điển hình như: Thorsten Nybom1 Örebro University, SE-701 82, Örebro, Sweden,
“University autonomy: a matter of political rhetoric?” (Tự chủ ĐH, một vấn đề hùng biện chính trị); Robert Berdahl, “Academic Freedom, Autonomy and Accountability
in British Universities” (Tự do học thuật, tự chủ và trách nhiệm ở ĐH Anh quốc);
Prof Luc WEBER Rector Emeritus University of Geneva Vice-President IAU (IAU/IAUP Presidents’ Symposium Chiang Mai, T hailand, 8-9 December 2006),
“University autonomy, a necessary, but not sufficient condition for excellence” (Tự chủ ĐH, điều kiện cần nhưng chưa đủ); Gönül Oǧuz, Department of Economics,
Trang 20Faculty of Economics and Administrative Sciences, Giresun University, Turkey,
“Attracting European academics to Turkey under the Erasmus programme” (Thu hút các học giả châu Âu đến Thổ Nhĩ Kỳ theo chương trình Erasmus); René F Kizilcec, Chris Piech, Emily Schneider: “Deconstructing Disengagement: Analyzing Learner Subpopulations in Massive Open Online Courses” (Phân tích thống kê các thông số của người học trong các khóa học trực tuyến mở quy mô lớn)
Tại Trung Quốc, khái niệm XHH GD lần đầu tiên xuất hiện năm 1985 trong
“Quyết định cải cách chế độ GD” của NN Trung Quốc “với nội hàm ý nghĩa là chuyển đổi từ chế độ NN bao cấp toàn bộ về mặt tài chính sang chế độ NN và nhân dân cùng nhau đóng góp trong GD” [18, tr.13] Quan niệm XHH GDĐH là đưa cơ
chế kinh tế thị trường vào GDĐH, các học giả Trung Quốc chủ yếu xem xét XHH
GD trên các nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường, điển hình như: Trương Kim Phúc (2001), “XHH ĐH: Động lực, ảnh hưởng và xu thế”, Tạp chí Học viện Sư phạm Ngọc Lâm, Nxb, Triết học XH [18, tr.13]; Hoàng Đản, Vương Chí Vũ (2006),
“Chế độ học tập quyên góp-Con đường cải cách XHH GDĐH nước ta”, Tạp chí Khoa học XH Trùng Khánh, kỳ 2 [18, tr.4]; Dương Minh, Dư Đức Long (2005),
“Luận về phương thức XHH trong đầu tư kinh phí đối với GDĐH dân lập Trung Quốc”, Nghiên cứu phát triển GD [18, tr.5]; Ngoài các nghiên cứu tập trung vào khía cạnh tài chính và nguồn vốn của XHH GD, đã có một số công trình đề cập tới các tác động của XHH GDĐH đối với văn hóa ĐH và với GV ĐH [18, tr.5] Từ sau Đại hội lần thứ XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc, chủ trương xây dựng XH học tập được xác định Hiện đại hóa GD được coi là động lực của sự nghiệp hiện đại hóa
XH Trong cuốn sách “Hiện đại hóa GD” (2014), tác giả Vương Bân Thái đã phân tích nhiều khía cạnh về mục tiêu, còn đường hiện đại hóa GD của Trung Quốc Mặc
dù không trực tiếp sử dụng thuật ngữ XHH GD, song những phân tích về đặc trưng
và nội hàm của hiện đại hóa GD cho thấy có rất nhiều điểm giao thoa với GD đại
chúng và XHH GD: “Hiện đại hóa GD có các đặc tính chủ yếu là tính toàn dân, tính suốt đời, tính sáng tạo, quốc tế hóa và thông tin hóa” [68, tr.22] Tính đa dạng
về yêu cầu phát triển con người trong XH hiện đại được cho là căn nguyên góp
phần phá vỡ khung GD cứng nhắc trong trường học “thể hiện sự song song tồn tại
Trang 21của nhiều hình thức GD chính quy và phi chính quy, GD chính thức và GD không chính thức” [68, tr.19] Đây là biểu hiện rất căn bản của XHH GDĐH
Bên cạnh các công trình nghiên cứu tại từng quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế cũng nhận thức được tầm quan trọng của XHH GDĐH trong xu thế đổi mới GDĐH trên toàn cầu và đã có những đóng góp thiết thực theo những cách khác nhau
Năm 1992, UNESCO tổ chức Hội nghị quốc tế về tự do học thuật và tự chủ
ĐH tại Sinaia (Romania) Với khẳng định: “Lịch sử đã chỉ ra rằng việc vi phạm tự
do học thuật và quyền tự chủ của các trường sẽ gây ra những thiệt hại lớn vì sự tụt hậu về trí tuệ, sự tha hóa về XH và sự trì trệ về kinh tế Trước những thay đổi XH sâu sắc và trước các yêu cầu mới đặt trên vai các trường ĐH, cần phải tạo sự hiểu biết mới giữa các trường ĐH và XH” [143], hội nghị đã mở ra nhiều hướng nghiên
cứu về có liên quan tới XH trong QL GDĐH
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD-Organization for Economic Cooperation and Development), có mục đích là để tìm ra các chính sách phát triển kinh tế cùng phúc lợi của người dân) đã xuất bản riêng một tạp chí mang tên Higher Education Management and Policy (QL và chính sách GDĐH) Tạp chí được xuất bản lần đầu vào năm 1977 dưới cái tên Tạp chí quốc tế về QL thể chế trong GDĐH
và đổi tên thành Tạp chí QL GDĐH trong giai đoạn 1989-2001 Tạp chí được xuất bản ba số/năm với ngôn ngữ là tiếng Anh Nhằm thực hiện các mục tiêu trong khuôn khổ Chương trình GDĐH của OECD, hầu hết các bài nghiên cứu trên tạp chí đều tập trung nghiên cứu về thực tiễn và giải pháp đổi mới GDĐH ở các quốc gia Có thể nêu một số bài viết điển hình trong tuyển tập 13 phần 1 năm 2001: Futao Huang (Hiroshima University, Japan): “Diversifying Sources of Funding in Chinese Higher Education” (Đa dạng hoá các nguồn tài trợ trong GDĐH Trung Quốc) nghiên cứu cuộc cải cách và những thay đổi trong chính sách tài chính đối với GDĐH CL từ sau năm 1992; Ian Dodson (Monash University, Australia): “Go Forth and Diversify! The Rise and Fall of Government Contributions to Australian Higher Education” (Tiến bộ và đa dạng hóa! Sự thăng trầm của những đóng góp của CP đối với GDĐH Úc) xem xét những thay đổi về tỷ lệ chi ngân sách cho GDĐH từ khi các ĐH đầu tiên được thành lập cho tới năm 1998 Tỷ lệ này đã thay đổi từ 90%
Trang 22xuống còn dưới 52% chỉ trong vòng 25 năm; Herbert S Yee (Hong Kong Baptist
University, China), Mei Kou (University of Bath, United Kingdom): “Government
Intervention in Higher Education in Macau” (Sự can thiệp của CP vào GDĐH ở Macao) chỉ ra những tác động tiêu cực của sự kiểm soát quá chặt chẽ đối với GDĐH của chính quyền Macao, đặc biệt là những tác động đối với quá trình tự chủ
ĐH ở đặc khu này Các tuyển tập khác của tạp chí có thể truy cập tại http://db.lic.vnu.edu.vn:2194/ theo Chương trình phối hợp khai thác cơ sở dữ liệu điện tử OECD-iLibrary của ĐH Quốc gia Hà Nội tháng 6&7 năm 2015
Như vậy, huy động sự tham gia của XH vào việc nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của GDĐH là mối quan tâm của nhiều học giả trên thế giới Vì điều kiện lịch sử cụ thể và bối cảnh XH khác nhau nên các phương diện biểu hiện của việc làm này ở các quốc gia có sự khác biệt Nếu như ở Hoa Kỳ, tự chủ ĐH là triết lý chủ đạo và sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống GDCL đem lại thực tiễn phong phú cho các nhà nghiên cứu; thì ở châu Âu, cùng với tự chủ ĐH, cách thức triển khai phương thức trao đổi giảng dạy và học tập (Erasmus) và hiệu quả của hình thức học tập trực tuyến quy mô lớn (MOOCs) đang là mối quan tâm của các nhà nghiên cứu Trong khi đó, tại Trung Quốc, XHH GDĐH gắn liền với các vấn đề về đóng góp tài chính và đang chuyển mình trong tổng thể công cuộc hiện đại hóa GD
1.2 Các công trình trong nước
Tại Việt Nam, cùng với khoa học và công nghệ, GD&ĐT được xác định là quốc sách hàng đầu Quan tâm phát triển GD và đẩy mạnh đầu tư cho GD không chỉ
là chủ trương của Đảng và chính sách của NN, mà còn là hành vi mang tính truyền thống trong từng gia đình Việt Nam Vì thế, XHH GD có một nền tảng tốt để hình thành và phát triển một cách phong phú Trên bình diện chung này, các nghiên cứu
về XHH GD được triển khai rất đa dạng và đã thu được những thành tựu đáng kể
1.2.1 Các công trình nghiên cứu chung về xã hội hóa giáo dục
Trực tiếp đề cập tới XHH GD là cuốn sách “XHH công tác GD” của nhóm tác giả Phạm Minh Hạc (Tổng chủ biên), Nguyễn Mậu Bành, Phạm Tất Dong, Nguyễn Trọng Bảo, Nguyễn Văn Bảy, Võ Tấn Quang (Nxb GD, Hà Nội, 1997) Trong cuốn này, các tác giả đã trích giới thiệu một số lời dạy, phát biểu của lãnh tụ
Trang 23và lãnh đạo Đảng, NN và văn bản pháp quy; đồng thời trình bày cơ sở lí luận và thực tiễn của công tác XHH GD cũng như kinh nghiệm thực hiện XHH GD ở một
số địa phương Đây là tài liệu đề cập sớm nhất về vấn đề XHH GD tại Việt Nam, đặt nền móng cho nhận thức ban đầu về hoạt động thu hút sự tham gia của XH trong việc nâng cao chất lượng GD ở Việt Nam
Luận giải về thuật ngữ và căn cứ lý thuyết, nhiều bài viết đi sâu phân tích và nghiên cứu lý luận về XHH GD nói chung Đó là: Nguyễn Thế Long (2005), “Có nên dùng từ "XHH GD"”, Tạp chí Đông Nam Á, (7), tr.56; Trần Hữu Trù (2005),
“XHH GD có cơ sở lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Phát triển GD, (4), tr.25; Phạm Minh Hạc (2009), “XHH không thương mại hoá GD”, Tạp chí Khoa học GD, (51), tr.10-11, 28; Nguyễn Hữu Khiển (2014), “XHH GD những lợi ích và rào cản”, Tạp chí Khoa học XH Việt Nam, Số 2 (75) tr 72-76 Các bài viết này cho thấy quá trình phát triển của nhận thức về các vấn đề lý luận của XHH GD, đặc biệt là về nội hàm khái niệm Đến nay, mặc dù việc sử dụng thuật ngữ XHH ở Việt Nam đã phổ biến và thống nhất, nhưng những bài viết này giúp người nghiên cứu đi sau hiểu được lịch sử vấn đề một cách sâu sắc hơn, đồng thời thấy rõ được tính biện chứng của quá trình nhận thức
Đề cập tới vai trò của NN đối với hoạt động XHH GD, năm 2004, Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ Quảng Nam tổ chức hội thảo XHH GD “Kỷ yếu hội thảo XHH GD” (Phan Văn Phờ, Trần Hường, Ngô Đức Trung) bao gồm các bài tham luận tham gia hội thảo bàn về XHH GD, thực trạng ngành GD tỉnh Quảng Nam và công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng tỉnh Quảng Nam đối với ngành GD Cũng năm 2004, một hội thảo tương tự được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh tập hợp được nhiều ý kiến về XHH GD&ĐT, nêu những mục tiêu, cơ sở lí luận, chủ trương chính sách, những giải pháp chính cùng những cơ hội, thách thức đối với XHH
GD Việt Nam Các bài viết của hội thảo được công bố trong cuốn “Hội thảo khoa học XHH GDĐT” (Trịnh Quang Phú, Vũ Tuyên Hoàng, Lê Thanh Hải, Nghiêm Đình Vỳ, Trần Ngọc Hiên) Các bài viết của hai hội thảo này đã đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau của XHH GD, đặc biệt đã cung cấp nhiều thông tin có giá trị
về sự đa dạng trong thực tiễn hoạt động QLNN về XHH GD ở các địa phương trong
Trang 24cả nước Cùng bàn về vấn đề này, tác giả Trương Thị Thanh Quý (2017) đã phân tích 05 trách nhiệm chủ yếu của NN trong bài viết “Trách nhiệm của NN và XHH GD” (Tạp chí Khoa học XH Việt Nam, Số 8, tr 26-31) gồm: NN cần đảm bảo cho mọi công dân được hưởng quyền học văn hóa và học nghề bằng nhiều hình thức; đầu tư các nguồn lực để phát triển GD; hỗ trợ việc ĐT, bồi dưỡng đội ngũ công chức, viên chức và nhân viên hoạt động trong lĩnh vực GD; tạo môi trường phát triển cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực GD; giám sát, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực GD Có thể thấy, các trách nhiệm này được xác định căn cứ vào những hạn chế hiện có trong QLNN về XHH GD hiện nay
Nghiên cứu XHH GD với tư cách là một trong số các dịch vụ công nổi trội ở Việt Nam, năm 2005, Tạp chí Kinh tế và dự báo đã tổng hợp thực trạng XHH GD trong bài viết “Tình hình thực hiện XHH các hoạt động GD, y tế, văn hoá và thể dục thể thao” ((8), tr.19-21) Giới thiệu thực tiễn hoạt động XHH GD, y tế, văn hoá, thể dục - thể thao tại một địa phương cụ thể, tác giả Trần Trung Dũng (2009) đã giới thiệu bài viết “XHH GD, y tế, văn hoá, thể dục - thể thao ở tỉnh Vĩnh Long” (Tạp chí QLNN, Số 159, tr 62-65) Năm 2013, tác giả Nguyễn Minh Phương công
bố cuốn sách “Đẩy mạnh XHH GD, y tế ở Việt Nam” (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội) Cuốn sách nêu bật một số vấn đề lý luận về XHH GD, y tế; kinh nghiệm của một số nước trong việc huy động các nguồn lực XH cung ứng dịch vụ y tế, GD và các qui định hiện hành về XHH GD, y tế ở nước ta Bên cạnh đó, cuốn sách còn đề cập tới thực trạng XHH GD, y tế và quan điểm, giải pháp đẩy mạnh XHH GD, y tế
ở Việt Nam hiện nay Cũng đặt XHH GD trong mối liên hệ mật thiết với XHH y tế, tác giả Cao Thu Hằng (2016) đã giới thiệu một số vấn đề lý luận về chính sách XHH GD và y tế ở Việt Nam hiện nay, đồng thời nêu thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách XHH GD và y tế ở Việt Nam trong cuốn “Chính sách XHH GD và y tế ở Việt Nam hiện nay - Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn” (Nxb Khoa học XH, Hà Nội)
Trực tiếp luận giải và đề xuất giải pháp XHH GD, nhiều tác giả đã có tiếp cận tổng thể như: Vũ Ngọc Hải (2004), “XHH GDĐT những giải pháp chính ở nước ta”, Tạp chí Phát triển GD, (1), tr.5-8; Đặng Xuân Hoan (2007), “Các giải
Trang 25pháp đẩy mạnh XHH GD ở Việt Nam”, Tạp chí QLNN, (142), tr.26-30; Phạm Văn Thanh (2008), “Đẩy mạnh XHH GD trong tình hình mới”, Tạp chí GD, (190), tr.51-53; Phạm Thị Thu Hương (2017), “XHH GD ở Việt Nam - Một số vấn đề đặt ra cần giải quyết trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, Số 899, tr 74-80) Tiếp cận bằng phân tích chuyên sâu một giải pháp cụ thể, nhiều gợi ý về các hướng phát triển
đã được đề xuất như: đa dạng hóa các hình thức ĐT (Đàm Hữu Đắc (2004), “XHH
GD, đa dạng hoá các loại hình ĐT liên thông là lộ trình khoa học đảm bảo sự phát triển bền vững của nguồn nhân lực Việt Nam”, Tạp chí Lao động và XH, (239), Tr.35-38), đẩy mạnh hình thức ĐT từ xa (Trần Thái Hoàng (2004), “ĐT từ xa - một loại hình thực hiện XHH GD cần được nhân rộng”, Tạp chí Cộng sản, Số 17, Tr 59-61, 69), phát triển GD NCL (Bùi Tiến Hanh (2004), “Phát triển GD NCL - thực hiện chủ trương XHH GD”, Tạp chí Tài chính, Số 12, tr.16-18), nhận thức đúng vai trò của ĐT tại chức (Võ Công Nam (2005), “ĐT tại chức một phương thức XHH GD”, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, Số 8, Tr 29-31), thiết lập chế độ học phí phù hợp (Bùi Tiến Hanh (2005), “XHH GD: cần có chế độ học phí phù hợp”, Tạp chí Tài chính, Số 5, tr.19-21), tăng cường vai trò của ngân hàng chính sách XH (Nguyễn Thị Thu Thảo (2005), “Ngân hàng chính sách XH với sự nghiệp XHH GD ĐT”, Tạp chí Ngân hàng, Số 9, tr.56-59), nhấn mạnh vai trò của người QL tại các cơ sở
GD (Nguyễn Xuân Thành (2013), “Vai trò của cán bộ quản lí nhà trường trong công tác XHH GD”, Tạp chí GD, (309), tr.10-12) Ở mỗi bài viết, các nhà nghiên cứu đều phân tích căn cứ thực tiễn và chỉ ra sự cần thiết phải áp dụng các giải pháp đề xuất để đẩy mạnh XHH GD Đây là những tiền đề quan trọng trong việc định hình căn cứ và xây dựng giải pháp đối với những người nghiên cứu đi sau
Gắn mối quan hệ giữa XHH GD và xây dựng XH học tập, tác giả Giang Thị Huyền (2008) giới thiệu bài viết “Đẩy mạnh XHH GD, xây dựng XH học tập, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân” (Tạp chí GD Lý luận, (9), tr.30-34) Tác giả Hà Quế Lâm (2005) tiếp tục chỉ ra sự cần thiết của XHH trong bài viết “XHH học tập trong nhân dân”, Tạp chí Dân tộc và thời đại, Số 83, tr.33 Cũng nói về vai trò của XHH GD nhưng gắn vai trò đó với nâng cao chất lượng GD nói chung, tác giả Phạm Thị Thu Hương (2014) giới thiệu bài viết “Đẩy mạnh XHH
Trang 26GD để nâng cao chất lượng GDĐT” (Tạp chí GD Lý luận, (215), tr.91-94) Mặc dù tiếp cận từ hai góc độ khác nhau, song điểm chung của những bài viết này là khẳng định vai trò to lớn của XHH GD và xây dựng XH học tập ở Việt Nam
Giới thiệu thực tiễn hoạt động XHH GD tại một địa phương cụ thể, nhiều bài viết đã cho thấy đặc thù và kết quả của quá trình XHH tại từng nơi như: Vũ Lan Hương (2004), “Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác XHH GD ở quận 2 thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Phát triển GD, Số 3, tr.28-30; Khổng Quang Trường (2004), “Phòng GD Yên Lạc, Vĩnh Phúc làm tốt công tác XHH GD trong
sự nghiệp trồng người”, Tạp chí Đông Nam Á, Số 11, tr.60; Minh Phương (2007),
“Phòng GD huyện Hải Hậu: Làm tốt công tác XHH GD”, Tạp chí Đông Nam Á, Số
2, tr.27, 32; Nguyễn Tuế (2007), “Công tác XHH GD vùng công giáo Tân Phú, Đồng Nai”, Tạp chí GD, Số 158, Tr.44-45; Phạm Xuân Tài (2008), “Tìm hiểu quá trình thực hiện XHH GD ở thành phố Hà Nội”, Tạp chí Lịch sử Đảng, Số 6, tr.56-60; Phan Quốc Lâm (2014) cũng nêu nhiều thực tiễn đặc thù về hoạt động XHH tại các địa phương nghèo trong bài viết “Một số vấn đề về công tác XHH GD ở các huyện nghèo bắc miền Trung” (Tạp chí GD, Tháng 9, tr 33-35)… Gần đây nhất, tác giả Nguyễn Hữu Hạnh (2020) chủ biên của cuốn “XHH GD Kiên Giang - Nhìn từ thực tiễn” (Nxb ĐH Cần Thơ, Cần Thơ) đã giới thiệu quan điểm của Đảng, NN về XHH GD, đồng thời tóm lược những thành tựu bước đầu của hoạt động XHH GD Kiên Giang, trong đó nhấn mạnh hoạt động của Hội Khuyến học của tỉnh
Mô tả và đánh giá hoạt động XHH GD đối với từng bậc học cũng là một tiếp cận phổ biến GD mầm non là bậc học được nghiên cứu nhiều nhất về XHH, điển hình như: Cù Thị Thuỷ (2004), “Tăng cường công tác XHH GD mầm non ở tỉnh Sơn La trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí GD, Số 77, Tr.43-45; Cù Thị Thuỷ (2004), “XHH GD, phương thức có hiệu quả cao để phát triển GD mầm non”, Tạp chí GD, Số 94, Tr.24-25; Đặng Thị Minh (2005), “Tăng cường vai trò của NN đối với XHH GD mầm non và phổ thông NCL”, Tạp chí QLNN, Số 11, Tr 24-27… Do đặc thù của bậc học, giáo viên mầm non phải kiêm nhiệm nhiều công việc, lại chủ yếu là nữ, số lượng đang còn thiếu và chế độ chính sách còn nhiều bất cập nên XHH được coi là giải pháp quan trọng để thúc đẩy sự phát triển đáp ứng nhu cầu XH của
Trang 27bậc học này Sau GD mầm non, XHH GD phổ thông cũng rất được quan tâm nghiên cứu: Hoàng Đức Minh (2009), “Một số mô hình trường trung học phổ thông thực hiện chủ trương XHH GD ở tỉnh Quảng Ninh”, Tạp chí GD, Số 214, tr 9-10; Lương Thị Việt Hà (2013), “Một số vấn đề lí luận về QL hoạt động tham gia XHH
GD của trường trung học phổ thông Việt Nam” (Tạp chí GD, Số 312, tr 14-17; Nguyễn Thị Tố Nga (2014) trong bài viết “Biện pháp quản lí XHH GD tiểu học ở quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội” (Tạp chí GD, Tháng 9, tr 36-37, 42);… Hầu hết các giải pháp được nêu ra đều gắn với việc nâng cao năng lực QL của người đứng đầu nhà trường, tăng cường trao đổi thông tin giữa nhà trường và các lực lượng tham gia XHH, đẩy mạnh tuyên truyền để thay đổi nhận thức của các bên…
GDĐH là bậc GD cao nhất trong hệ thống GD quốc dân Trong khi hoạt động XHH đối với các loại hình và bậc học còn lại được nghiên cứu khá cụ thể, thì XHH GDĐH lại là vấn đề còn đang để ngỏ Có thể khẳng định chưa có một nghiên cứu nào xem xét XHH GDĐH như một đối tượng nghiên cứu Đây là khoảng trống
lý thuyết để nghiên cứu sinh tiến hành thực hiện luận án này
1.2.2 Các công trình nghiên cứu về từng nội dung của xã hội hóa giáo dục đại học
Tiếp cận XHH GDĐH như một chuỗi các hoạt động và trên cơ sở năm nội dung chủ yếu của hoạt động XHH GDĐH ở Việt Nam, có thể sắp xếp các nghiên cứu về từng khía cạnh cụ thể của XHH GDĐH dưới góc độ từng nội dung độc lập theo các nhóm cơ bản sau:
a/ Phát triển cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập
Sự tồn tại và phát triển của các cơ sở GDĐH NCL là một trong những biểu hiện dễ nhận thấy nhất của XHH GD nói chung và XHH GDĐH nói riêng Tuy nhiên, để các cơ sở GD NCL vận hành tốt và thực sự phát huy được vai trò đối với
hệ thống GD quốc dân, NN cần phải QL được tốt các cơ sở này Cùng chung mối quan tâm nghiên cứu đó, có thể kể tới nhiều bài viết Là một nhà QL có nhiều công sức đối với sự nghiệp GD của nước nhà, tác giả Nguyễn Thị Bình (2009) trong bài viết “Đảm bảo sự phát triển ổn định cho hệ thống ĐHCĐ NCL ở nước ta” (Tạp chí
GD, (213), tr.1-4,10) đã điểm lại những nét chính của sự phát triển hệ thống ĐHCĐ NCL, đồng thời nêu một số vấn đề tồn tại và kiến nghị các biện pháp giải quyết
Trang 28Dưới giác độ của một nhà QL GDĐH, tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (2009) trong bài viết “Một số giải pháp nhằm củng cố và phát triển các trường ĐHCĐ NCL” (Tạp chí GD, (214), tr.11-12,53) đã khái quát thực trạng của hệ thống các trường ĐHCĐ NCL, đồng thời chỉ ra một số điểm yếu của hệ thống này và đề ra các giải pháp nhằm củng cố và phát triển hệ thống Cùng đặt vấn đề về hoàn thiện chính sách để đẩy mạnh sự phát triển của GDĐH NCL, tác giả Đặng Thị Minh trong hai bài viết
là (2013), “Phát triển trường ĐH tư thục ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”, Tạp chí QLNN, Tháng 6, Số 209, tr 41-44 và (2014), “Hoàn thiện chính sách phát triển trường ĐH tư thục ở Việt Nam”, Tạp chí QLNN, Tháng 8, Số 223, tr 57-61 đã khuyến nghị nhiều giải pháp chính sách quan trọng về tài chính, về phát triển đội ngũ giảng viên và về quyền tự chủ trong công tác ĐT Bằng giác độ của một người trực tiếp công tác tại một cơ sở GDĐH NCL, tác giả Lê Tiến Tùng (2014) trong bài viết “GDĐH NCL-Thực trạng và giải pháp” (Tạp chí Khoa học GD, (108), tr.35-37,57) đã nghiên cứu những thành tích và hạn chế của GD NCL, từ đó nêu ra một
số giải pháp đối với Bộ GD&ĐT, đối với Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đối với chính các trường ĐHCĐ NCL Từ việc mô tả quá trình hình thành và phát triển của GDĐH NCL và tiêu chí xác định mức độ hoàn thiện của pháp luật về GDĐH NCL, tác giả Lê Tiến Tùng (2014) trong bài viết “Hoàn thiện pháp luật về GDĐH NCL ở Việt Nam” (Tạp chí QLGD, (63), tr.6-9) đã xem xét những hạn chế của hệ thống pháp luật về GDĐH NCL ở nước ta hiện nay và chỉ
ra hai nhóm giải pháp về hình thức pháp luật và nội dung pháp luật Tác giả Đào Trọng Thi (2014) trong bài viết “Đổi mới căn bản, toàn diện GDĐH NCL ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, Tháng 8, Số 862, tr 52-56 đã chỉ ra những việc cần làm ngay để thực hiện mục tiêu phát triển GDĐH NCL
Trước việc chất lượng của hệ thống GDĐH NCL luôn được XH rất quan tâm, các nhà nghiên cứu đã có nhiều phân tích xác đáng về chất lượng hiện trạng của hệ thống Tác giả Đoàn Thị Thanh Thuỷ (2009) trong bài viết “Vấn đề chất lượng ĐT ở các trường ĐH NCL”, Tạp chí GD, Tháng 9, Số 222, tr 6-7 đã chỉ ra những hạn chế trong chất lượng ĐT tại các trường ĐH NCL Phân tích về thực trạng hiệu quả công tác ĐT của hệ thống NCL, tác giả Hoàng Xuân Lâm (2014)
Trang 29“Về chất lượng ĐT tại các trường ĐH NCL”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, Tháng 4,
Số 8, tr 42-43 đã đưa ra nhiều số liệu cụ thể để cho thấy sự cần thiết phải xây dựng chiến lược phát triển đúng đắn cho toàn hệ thống
QL tài chính tại các cơ sở GDĐH NCL cũng là chủ đề được quan tâm nghiên cứu Trên cơ sở mô tả thực trạng, các nghiên cứu đề đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm hoàn thiện công tác này: Nguyễn Anh Thái (2007), “Hoàn thiện QL tài chính với các trường ĐH NCL ở Việt Nam”, Tạp chí Thương mại, Số 33, Tr.11-12, 15; Hoàng Đình Hương (2015), “Hoàn thiện hệ thống dự toán chi phí trong các trường ĐH NCL”, Tạp chí Kinh tế và dự báo, Tháng 3, Số 5, tr 35-37; Nguyễn Hoản (2015), “Quản trị chi phí tại các trường ĐH NCL”, Tạp chí Tài chính, Số 3 (605), tr 139-143
Nhiều khía cạnh khác trong trong hoạt động của cơ sở GDĐH NCL cũng được nghiên cứu như vấn đề tự chủ ĐH trong bà viết của tác giả Ngô Xuân Hà (2005), “Một số vấn đề về quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trường ĐH
tư thục”, Tạp chí phát triển GD, Số 4, tr.26-27; hoạt động kết nạp Đảng trong bài viết của Thu Huyền (2008), “Kết nạp đảng viên ở các trường ĐH NCL”, Tạp chí Xây dựng Đảng, Số 5, Tr.33-35; bài học kinh nghiệm quốc tế trong bài viết của Hoàng Thị Phương Lan (2014), “Phát triển GDĐH NCL ở Malaysia: Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam”, Tạp chí Công thương, Số 10, tr 86-87; vấn đề phát triển nhân lực trong bài viết của Nguyễn Trọng Đặng (2018), “Phát triển nguồn nhân lực trong các trường ĐH NCL trên địa bản thành phố Hà Nội”, Nxb Khoa học XH
b/ Thu hút tài chính ngoài ngân sách cho giáo dục đại học
Huy động các nguồn đầu tư cho GDĐH được hiểu là song song với việc giữ vai trò chủ đạo, NN khuyến khích các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước có các hình thức khuyến học và hỗ trợ chi phí học tập cho người học Đề cập tới nội dung này, tác giả Nguyễn Thị Thu Thảo (2005) trong bài viết “Ngân hàng chính sách XH với sự nghiệp XHH GDĐT” (Tạp chí Ngân hàng, (9), tr.56-59) nhận định
“Chương trình cho vay đối với học sinh, SV là vấn đề mang tính XH và chính sách cao…” Việc học sinh, SV sử dụng nguồn vốn vay giúp đạt ba mục tiêu: 1/ Giảm
bớt gánh nặng nghèo khó cho gia đình; 2/ Đảm bảo cơ hội tiếp cận ĐT và nâng cao
Trang 30chất lượng ĐT; 3/ Làm quen với các giao dịch tài chính qua ngân hàng và việc tự
QL tài chính Từ việc chỉ ra năm khó khăn trở ngại căn bản của việc thực hành chính sách, tác giả đã đề xuất bốn giải pháp về năng lực tài chính, về nguồn vốn, về chương trình và về tổ chức thực hiện nhằm phát huy tối đa những lợi ích XH mà hoạt động này mang lại
Đi sâu vào QL học phí, tác giả Bùi Tiến Hanh (2005) trong bài viết “XHH GD: cần có chế độ học phí phù hợp”, Tạp chí Tài chính ((5), tr.19-21) đã thể hiện quan điểm cá nhân trong việc xây dựng chế độ học phí cho các đối tượng khác nhau Tác giả đã hoàn thiện những quan điểm này trong Luận án Tiến sĩ Kinh tế Hoàn thiện cơ chế QL tài chính nhằm thúc đẩy XHH GD ở Việt Nam (2007, Luận
án, Học viện Tài chính, Hà Nội) với những lý luận cơ bản về XHH GD và cơ chế quản lí tài chính XHH GD cũng như mục tiêu, quan điểm định hướng XHH GD và giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lí tài chính Cho phép các trường lập cơ sở sản xuất và dịch vụ khoa học đúng với ngành nghề ĐT cũng là một cách để thúc đẩy việc tự tăng nguồn thu cho các trường Tuy không nhằm chỉ ra mối liên hệ giữa việc làm này với XHH GD, nhưng tác giả Nguyễn Thị Tơ (2001) trong Hoàn thiện chính sách và giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động lao động sản xuất trong các trường ĐH Việt Nam (Luận án Tiến sĩ Kinh tế, ĐH Kinh tế Quốc dân, Hà Nội) đã chỉ ra những vấn đề cơ bản về chính sách hoạt động sản xuất trong trường ĐH, thực trạng và giải pháp hoàn thiện chính sách đó Cũng nghiên cứu về giải pháp, song nhiều tác giả lại tiếp cận từ kinh nghiệm thực tiễn việc QL tài chính tại một số cơ sở GDĐH cụ thể như Đỗ Văn Nhân (2012), “QL tài chính ở ĐH Đà Nẵng”, LATS Kinh tế; Nguyễn Thị Hương (2015), “QL tài chính tại ĐH quốc gia trong bối cảnh đổi mới”, LATS Kinh tế; Ngô Văn Hiền (2017), “QL tài chính ĐH tại Ấn Độ, châu Âu và gợi ý chính sách cho Việt Nam”, Tạp chí Tài chính, Tháng 8, Số 663, tr 47-49
Trực tiếp chỉ ra các giải pháp nhằm thực hiện tự chủ tài chính đối với các cơ
sở GDĐH là hướng nghiên cứu được rất nhiều tác giả sử dụng Cho rằng tài chính
là một trong những nguyên nhân quan trọng tạo nên thực trạng GDĐH còn nhiều bất cập, tác giả Nguyễn Hữu Hiểu (2015) đã nêu “Năm giải pháp tài chính đối với GDĐH Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, Tháng 11, Số 22 (606), tr 9-11
Trang 31Cùng nghiên cứu về giải pháp tài chính song tập trung vào đối tượng nghiên cứu là các trường CL, tác giả Lê Thị Minh Ngọc (2016) đã nêu các “Giải pháp tự chủ tài chính tại các trường ĐH CL”, Tạp chí Tài chính, Tháng 12, Số 647, tr 36-38 Cũng tập trung vào các trường ĐH CL, tác giả Phạm Ngọc Trường (2016) đã phân tích những vấn đề mấu chốt trong bài viết “Tự chủ tài chính đối với GDĐH CL: Những vấn đề cần tháo gỡ”, Tạp chí Tài Chính, Số 639, tr 7-9 Chung mối quan tâm về tài chính của GDĐH CL còn có các bài viết Lê Hồng Việt (2014), “Chính sách tăng cường nguồn tài chính ngoài ngân sách NN ở các trường ĐH CL - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Tháng 2, Số 200,
tr 88-93; Lê Thị Mai Liên (2017), “Đổi mới cơ chế tài chính đối với cơ sở GDĐH CL”, Tạp chí Tài chính, Tháng 5 (656), tr 36-39 Nghiên cứu cơ sở GDĐH với tư cách của đơn vị sự nghiệp CL, tác giả Nguyễn Thị Hồng Mến (2016) đã gắn kết vấn
đề nghiên cứu với việc răng cường tự chủ ĐH trong bài viết “Quản lí tài chính trong
cơ sở GDĐH và đơn vị sự nghiệp GD theo định hướng tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm và trách nhiệm đối với XH”, Tạp chí GD, Số 373 , tr 21-23 Tác giả Phạm Thị Vân Anh (2017) trong bài viết “Cơ sở pháp lý về tự chủ tài chính với GDĐH và những vấn đề đặt ra”, Tạp chí Tài chính, Tháng 5 (656), tr 10-13 đã mô
tả cơ sở pháp lý của tự chủ tài chính trong GDĐH, chỉ ra những hạn chế do sự chưa hoàn thiện của cơ sở pháp lý tạo ra và đề xuất các giải pháp về giảm bớt rào cản, tăng quyền tự quyết nguồn thu của cơ sở GDĐH, chuyển cấp phát ngân sách sang đặt hàng, giao nhiệm vụ…
Tập trung nghiên cứu về các nguồn tài chính ngoài ngân sách cho GDĐH, tác giả Đoàn Thị Thu Hà (2014) trong bài viết “Yếu tố ảnh hưởng đến nguồn tài chính ngoài ngân sách của các trường ĐH”, Tạp chí Tài chính, Số 5 (595), tr 102-
104 đã chỉ ra những yếu tố quan trọng cần xem xét khi đẩy mạnh các nguồn thu này Cũng nghiên cứu về tài chính ngoài ngân sách nhưng cụ thể với các trường ĐH
CL, tác giả Trần Trọng Hưng (2015) trong luận án tiến sĩ Kinh tế “Huy động nguồn tài chính ngoài ngân sách NN cho GDĐH CL ở Việt Nam” đã kiến giải sâu sắc về hiện trạng và giải pháp của vấn đề nghiên cứu Cùng vấn đề này nhưng tập trung vào phân tích và đánh giá chính sách là tác giả Lê Hồng Việt (2018) trong luận án
Trang 32tiến sĩ Kinh tế “Chính sách thu hút nguồn tài chính ngoài ngân sách NN cho các trường ĐH CL tại Việt Nam (Nghiên cứu tại các trường thuộc Bộ GD&ĐT)
c/ Tiếp nhận các nguồn lực phi tài chính cho giáo dục đại học
Tiếp nhận các nguồn lực phi tài chính cho GDĐH là việc gắn kết toàn bộ quá trình ĐT của nhà trường với sự tham gia của các bên có quyền và lợi ích liên quan,
từ xây dựng chương trình, tổ chức ĐT, trực tiếp đứng lớp và đánh giá kết quả ĐT Biểu hiện dễ nhận thấy nhất của chuỗi các hoạt động này là mối quan hệ giữa trường ĐH với các viện nghiên cứu trong các hoạt động khoa học và công nghệ Tác giả Thanh Hà (2005) trong bài viết “Quan hệ giữa Viện Nghiên cứu, Trường
ĐH và Doanh nghiệp: vẫn chỉ để hài lòng nhau” (Tạp chí Tia sáng, (4), tr.17-19) đã chỉ rõ những bất cập trong quá trình liên kết giữa hai hệ thống khoa học này ở nước
ta trên cơ sở tổng lược các ý kiến tham luận tại hội thảo khoa học “Gắn kết NCKH với ĐT và sản xuất” 3/2005 do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức Tác giả Hoàng Văn Hoa (2009) trong bài viết “Đổi mới cơ chế QL hoạt động khoa học-công nghệ trong các trường ĐH” (Tạp chí Kinh tế và Phát triển, (143), tr.44-48) đã nêu lên một
số giải pháp nhằm đổi mới cơ chế QL hoạt động khoa học công nghệ trong các trường ĐH như: tiếp tục đổi mới nhận thức về vai trò của hoạt động khoa học trong các trường ĐH, đổi mới chính sách khoa học-công nghệ đối với các trường ĐH, đổi mới và hoàn thiện cơ chế QL khoa học trong các trường ĐH, và đổi mới cơ chế QL, phân bổ kinh phí và sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính đối với hoạt động khoa học các trường ĐH Cùng quan tâm tới vấn đề này còn phải kết tới: Nguyễn Minh Hiển, Nguyễn Hoàng Lan (2014), “Liên kết trường đại học - doanh nghiệp ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp phá rỡ các rào cản”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số
202 tháng 4/2014, tr 75-84; Đinh Văn Toàn (2016), “Hợp tác đại học – doanh nghiệp trên thế giới và một số gợi ý cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 32, Số 4 (2016) 69-80; Lê Hiếu Học (2017), “Những vấn đề đặt ra trong hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp”, Tạp chí Tài chính, Tháng 5 (657), tr 64-66… Đáng chú ý là tác giả Nguyễn Ngọc Trung (2018) trong bài viết “Về hiệu quả mối liên kết giữa doanh nghiệp và các cơ sở GDĐH”, Tạp chí Tài chính, Tháng 5, Số 681, tr 99-101 đã giới thiệu mô hình liên kết của
Trang 33các trường ĐH thuộc Bộ Công Thương gồm ĐH Công nghiệp Hà Nội, ĐH Điện lực
Hà Nội, ĐH Sao Đỏ về đề xuất các giải pháp đối với NN, nhà trường và doanh nghiệp Cũng nghiên cứu trường hợp, tác giả Lê Công Cơ (chủ biên) (2018) trong cuốn sách “Mô hình gắn kết giữa trường ĐH với doanh nghiệp trong ĐT ĐH tại khu vực miền Trung - Việt Nam”, Nxb Thông tin và Truyền thông đã trình bày cơ sở lý luận về hoạt động gắn kết, kinh nghiệm trong và ngoài nước, thực trạng hoạt động gắn kết và đề xuất mô hình gắn kết giữa các trường ĐH với doanh nghiệp trong đạo tạo ĐH tại khu vực miền Trung Việt Nam Trong luận án tiến sỹ QL công nghiệp
“Các yếu tố ảnh hưởng tới liên kết giữa trường đại học kỹ thuật với doanh nghiệp tại Việt Nam” (2018), tác giả Nguyễn Đức Trọng đã định danh và phân tích rất cụ thể về các nhân tố ảnh hưởng đến mối liên kết này ở nước ta hiện nay Từ thực tiễn, cuốn sách “Mô hình giáo dục đại học liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực thời kỳ hội nhập” (Nxb Khoa học và Kỹ thuật, 2020)
đã tổng hợp thực tiễn và chỉ ra mô hình liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp tại Việt Nam
Nhìn ra thế giới để tham khảo và học hỏi, tác giả Vũ Anh Tuấn (2006) trong bài viết “Hoạt động của Viện nghiên cứu trong các trường ĐH của Đức” (Tạp chí Tia sáng, (10), tr.48-50) đã khẳng định trong cơ cấu của các trường ĐH Đức đều có các viện nghiên cứu với chức năng chính là nghiên cứu và giảng dạy Bằng việc sơ
đồ hoá cơ cấu tổ chức của trường và viện, bài viết đã giúp người đọc hiểu về hoạt động của các viện này, cách phân bố hai nhiệm vụ nghiên cứu và giảng dạy của các viện, cũng như các xu hướng nghiên cứu mới đang được các viện quan tâm Cũng với tiếp cận này, Trung Dũng (lược dịch) (2006) trong bài viết “Nghiên cứu tại các trường ĐH Hoa Kỳ” (Tạp chí Tia sáng, (12), tr.30-33) đã giới thiệu lịch sử phân tách giữa giảng dạy và nghiên cứu trong nội bộ các trường, đồng thời khẳng định vai trò to lớn của CP trong việc hỗ trợ phát triển nghiên cứu song song với đưa các nghiên cứu vào nền công nghiệp mà không tổn hại tới tính hàn lâm của khoa học
Đề cập riêng tới vấn đề phát triển doanh nghiệp trong trường ĐH phải kể tới cuốn chuyên khảo “Phát triển doanh nghiệp trong các cơ sở giáo dục đại học: Từ kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn Việt Nam” do Đinh Văn Toàn chủ biên (Nxb Đại học
Trang 34Quốc gia Hà Nội, 2019) Cuốn sách xuất phát từ khung lý thuyết về doanh nhân, doanh nghiệp và nền tảng phát triển kinh doanh, để kết nối với các yêu cầu của quản trị đại học và xu hướng đổi mới tổ chức quản lý, và giới thiệu một số kinh nghiệm thực tiễn về phát triển doanh nghiệp trong các trường ĐH ở một số quốc gia trên thế giới Từ đó, các tác giả mô tả thực tiễn hình thành và phát triển doanh nghiệp trong các cơ sở GDĐH ở Việt Nam, đồng thời đề xuất chính sách để phát triển các doanh nghiệp này trên thực tế Đây là một tài liệu tổng quan, mang tính hệ thống, xuất phát từ lý thuyết và hàm chứa nhiều thông tin thực tiễn đa dạng, phong phú
d/ Thực hiện quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học
Trao quyền tự chủ cho các cơ sở GDĐH là một trong những nội dung được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Đặt trong bối cảnh toàn cầu hoá, tác giả Vương Thanh Hương (2005) trong bài viết “Quyền tự chủ của các trường ĐH trong bối
cảnh toàn cầu hoá” (Tạp chí GD, (117), tr.48,22) cho rằng “Quyền tự chủ của các trường ĐH được hiểu đơn giản là “quyền tự QL” và “hoạt động độc lập” của các
cơ sở GDĐH mà không có sự can thiệp từ bên ngoài…” Bài viết đã cho nhiều hiểu
biết về thực trạng tự chủ ĐH tại nhiều quốc gia trên thế giới và xu hướng mở rộng trao quyền tự chủ trong bối cảnh hiện nay
Nói riêng về quyền tự chủ của các trường NCL, tác giả Ngô Xuân Hà (2005) trong bài viết “Một số vấn đề về quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trường
ĐH Tư thục” (Tạp chí Phát triển GD, (4), tr.26-27,40) đã chỉ ra ba vấn đề về đầu tư
và chế độ tài chính, về tổ chức nhân sự, và về công tác ĐT Từ những phân tích cụ
thể, tác giả khẳng định “giao quyền tự chủ kèm theo đó là đề cao trách nhiệm XH cho các trường ĐH sẽ tác động lớn đến hệ thống GD cả nước” Tác giả Vũ Ngọc
Hải (2007) trong bài viết “Về quyền tự chủ và tính trách nhiệm XH của các trường
ĐH ở nước ta” (Tạp chí Cộng sản, (781), tr.91-94) xác định trao quyền tự chủ là biểu hiện cơ bản của phân cấp QLNN về GDĐH Từ đây, tác giả chỉ ra ba yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới quyền tự chủ và tính trách nhiệm XH của các trường ĐH bao gồm: vai trò của NN, vai trò của thị trường định hướng XH chủ nghĩa, và vai trò của XHH GD Đây là bài viết hiếm hoi chỉ ra mối quan hệ giữa trao quyền tự chủ và XHH GDĐH ở Việt Nam hiện nay Coi trao quyền tự chủ và trách nhiệm XH là
Trang 35“khoán 10” đối với phát triển GDĐH, tác giả nhận định: “… các trường ĐH nước ta
sẽ nhanh chóng chuyển mình tự mình tạo ra cơ hội và đường đi ngắn nhất, hiệu quả nhất trong ĐT nguồn nhân lực trình độ cao, chất lượng cao…” Tác giả Đỗ Thiết
Thạch (2008) trong bài viết “Vài suy nghĩ về vấn đề dân chủ hoá và thực hiện
quyền tự chủ trong trường học” (Tạp chí GD, (191), tr.8-10) xác định “Muốn thực hiện chất lượng GD, biện pháp chiến lược là đổi mới QLGD; để nâng cao chất lượng QLGD, con đường tối ưu là dân chủ hoá QL nhà trường, tăng cường quyền
tự chủ và tự chịu trách nhiệm của nhà trường” Bài viết đi theo lối tư duy lý luận,
xuất phát từ những cơ sở để định hướng tư duy về dân chủ hoá và thực hiện quyền
tự chủ trong nhà trường, rồi chỉ ra điều kiện để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho nhà trường thành công
Xuất phát từ thực tiễn hoạt động của mình, tác giả Nguyễn Hải Long (2008) trong bài viết “Trao quyền tự chủ về nhân sự cho trường học một cách thức để nâng cao hiệu quả quản lí GD” (Tạp chí GD, (191), Tr.5-7) đã đi sâu phân tích riêng khía cạnh tự chủ về nhân sự trong trường học nói chung Từ những phân tích thực tế về những bất cập trong QL nhân sự tại các trường học hiện nay, tác giả cho rằng
“Quyền quyết định nhân sự được trao cho các trường phải gắn với quyền quyết định về số lượng học sinh, SV được tuyển hàng năm… Nếu không có những quyền
đó, quyền tự chủ về nhân sự thực sự không đem lại kết quả mong muốn” Bài viết
“Tự chủ, dân chủ và phân cấp trong đổi mới QLNN về GDĐH” (Tạp chí QLGD, (56), tr.1-4, 40) của nhóm tác giả Đặng Ứng Vận, Nguyễn Thị Huyền Trang, Đào Thị Hoà (2014) phân tích cơ hội và thách thức đối với đổi mới GDĐH, từ đó đề
xuất “nên trao quyền tự chủ cho các trường ĐH kể cả tự chủ về tài chính và nhân
sự, đồng thời đòi hỏi trường ĐH phải có nghĩa vụ báo cáo giải trình công khai minh bạch về các hành động và quyết định của họ, phải chịu trách nhiệm cuối cùng
về các hành động và quyết định đó… ”
Để có được cái nhìn bao quát về vấn đề trao quyền tự chủ, bên cạnh các bài viết về thực tiễn trong nước, nhiều tác giả đã giới thiệu kinh nghiệm của hoạt động này ở các quốc gia trên thế giới Đó là các bài viết: Tác giả Vương Thanh Hương (2005) trong bài viết “Tìm hiểu về công ty ĐH quốc gia Nhật Bản trong xu thế đổi
Trang 36mới GDĐH” (Tạp chí Phát triển GD, (1), tr.38-40) đã tìm hiểu về mô hình Công ty
ĐH quốc gia và một số vấn đề nảy sinh trong thực tiễn khi chuyển từ ĐH quốc gia
sang Công ty ĐH quốc gia của Nhật Bản “Cấu trúc QL của mô hình Công ty ĐH quốc gia Nhật Bản khác với mô hình trường tư thục… cũng khác với mô hình các trường ĐHCL ở Hoa Kỳ… Trong tiến trình đổi mới mạnh mẽ GDĐH Việt Nam theo
xu hướng hội nhập, nâng cao chất lượng, tăng quyền tự chủ và trách nhiệm… đây
là những thông tin cần thiết có thể tham khảo”; Tác giả Lương Xuân Hà (2007)
trong bài viết “ĐH Pháp đối diện trước quyền tự chủ” (Tạp chí Tia sáng, (22), 23,66) đã giới thiệu sự bất đồng thuận giữa nhà cầm quyền và giới SV Pháp trong quá trình điều chỉnh quyền tự chủ bởi đạo luật Valéry Pécresse; Tác giả Nguyễn Xuân Hải (2009) trong bài viết “Vấn đề tự chủ, tham gia và trách nhiệm trong QL dựa vào nhà trường ở các nước trên thế giới” (Tạp chí Khoa học GD, (51), tr.49-53)
tr.22-đã “khái quát các vấn đề về sự tự chủ, sự tham gia và trách nhiệm của các liên đới trong xu hướng QL dựa vào nhà trường hiện nay trên thế giới”, từ đó đặt mục tiêu
“giúp cho quá trình phân cấp QLGD ở nước ta có được bài học lý luận và thực tiễn quý báu, tận dụng được những thành tựu và tránh những bước đi không cần thiết nhằm đẩy nhanh tiến trình tất yếu này”; Các tác giả Bùi Minh Hiền và Nguyễn Vũ
Bích Hiền (2009) trong bài viết “GD Phần Lan và mô hình nhà trường tự chủ” (Tạp chí GD, (211), tr.55-57, 40) đã giới thiệu những nét căn bản nhất của hệ thống GD
và mô hình nhà trường tự chủ tại Phần Lan với rất nhiều khác biệt về triết lý GD, các thức QLGD và những thành tựu đáng kể có được từ hệ thống đó; Tác giả Võ Thành Đạt (2014) trong bài viết “Kinh nghiệm quốc tế về vấn đề tự chủ ở các trường ĐH” (Tạp chí GD và XH, (4), tr.55-58) đã khái lược các vấn đề về tự chủ
ĐH ở Malaysia, Thái Lan, Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc; đồng thời chỉ ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về các vấn đề như: tăng cường mối quan hệ giữa CP và GDĐH; tăng cường liên minh giữa công nghiệp
và học thuật; sử dụng hiệu quả các quỹ nghiên cứu từ CP; và mô hình tập đoàn ĐH Quốc gia… Như vậy, trao quyền tự chủ cho các cơ sở GDĐH là vấn đề lớn không chỉ đối với Việt Nam Mặc dù đặc thù văn hoá và lịch sử XH khiến cho việc trao quyền tự chủ tại Việt Nam sẽ có nhiều khác biệt, song, việc nghiên cứu kinh nghiệm
Trang 37quốc tế để xây dựng một lộ trình thích hợp là hết sức cần thiết để thực sự phát huy được tác dụng của tự chủ ĐH tại Việt Nam Các bài viết này là nguồn tham khảo
cần thiết cho những người nghiên cứu tiếp sau
đ/ Hợp tác quốc tế về giáo dục đại học
Hợp tác quốc tế về GDĐH bao gồm nhiều hoạt động cụ thể như: ĐT nước ngoài bằng các nguồn trong và ngoài ngân sách NN; các hoạt động trao đổi nghiên cứu, ĐT; các hoạt động QL lưu học sinh… Các bài nghiên cứu hiện có chưa phủ hết các hoạt động này, mà chủ yếu được viết theo hướng giới thiệu kinh nghiệm hợp tác quốc tế của một cơ sở GDĐH cụ thể Đó là: Hoàng Long (2006), “Trường ĐH Giao thông vận tải TP.Hồ Chí Minh chủ động hợp tác quốc tế”, Tạp chí Giao thông vận tải, (11), tr.14, 7; Trần Đức Thanh (2006), “Hợp tác trong ĐT ĐH du lịch”, Tạp chí
Du lịch Việt Nam, (11), tr.14-15; Nguyễn Tương Lai (2007), “Về mối quan hệ và hợp tác giảng dạy giữa trường ĐH Khoa học XH và nhân văn với các trường ĐH ở Thái Lan”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, (3), tr.74-77; Đặng Văn Uy (2008),
“Trường ĐH hàng hải Việt Nam đi đầu trong công tác quan hệ hợp tác quốc tế nâng cao chất lượng ĐT nhân lực”, Tạp chí Giao thông vận tải, (5), tr.15-18,28; Phan Thuỷ Chi (2008), “ĐT và phát triển nguồn nhân lực trong các trường ĐH khối kinh
tế của Việt Nam thông qua các chương trình hợp tác ĐT quốc tế”, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, ĐH Kinh tế Quốc dân, Hà Nội; Phùng Hồ Hải (2009), “Một số yêu cầu đối với hợp tác quốc tế trong GDĐH”, Tạp chí Tia sáng, Số 19, tr 23-24; Phùng Thị Thu Trang (2013), “Quốc tế hoá GDĐH tại Việt Nam- từ góc nhìn toàn cầu hóa”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, Số 11 (547), tr 33-35; Trần Thị Bảo Khanh (2014),
“Phát triển GDĐH ở Việt Nam trong hội nhập quốc tế”, Tạp chí Khoa học XH Việt Nam, Số 10 (83), tr 76-83; Phạm Công Nhất (2014), “Đổi mới GDĐH theo hướng hội nhập quốc tế”, Tạp chí Lý luận chính trị, Số 10, tr 53-57; Hoàng Thị Hương (2014), “Một số vấn đề lí luận, thực tiễn về nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác quốc tế GD&ĐT ở các trường ĐH nước ta hiện nay”, Tạp chí GD, Số 339 - tr 9-12
Về các nội dung còn lại của hoạt động này, số lượng bài nghiên cứu là rất ít
Cá biệt có tác giả Nguyễn Lộc (2009) trong bài viết “Phân loại và QL các trường có yếu tố quốc tế” (Tạp chí Khoa học GD, (46), tr.17-21) đã đưa ra các quan điểm cá
Trang 38nhân về cách phân loại các trường có yếu tố quốc tế, từ đó đề xuất các biện pháp
QL thích hợp đối với loại hình này Tác giả Phùng Hồ Hải (2009) trong bài viết
“Một số yêu cầu đối với hợp tác quốc tế trong GDĐH” (Tạp chí Tia sáng, (19), tr.23-24) thì tập trung làm rõ các yêu cầu căn bản của hợp tác quốc tế về GDĐH Tổng hợp về chính sách nhưng chỉ nói về ĐT sau ĐH, Luận án Tiến sĩ Quản lí GD
“Chính sách hợp tác với nước ngoài về ĐT sau ĐH của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế” của tác giả Chu Trí Thắng (2011) đã nghiên cứu chính sách hợp tác với nước ngoài về ĐT sau ĐH của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế, góp phần hoàn thiện chính sách hợp tác quốc tế về ĐT nhân lực sau ĐH, xây dựng đội ngũ nhân lực trình độ cao…
1.3 Nhận xét kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan và vấn đề đặt ra đối với luận án
Qua nghiên cứu tổng quan về các công trình khoa học trong và ngoài nước
có liên quan tới XHH GD, có thể thấy các công trình chủ yếu được công bố dưới dạng bài báo khoa học, sách tham khảo và Luận án tiến sỹ, chủ yếu nghiên cứu về XHH GD nói chung Các nghiên cứu lý luận về XHH GD chủ yếu giới thiệu thể chế
NN về XHH và chỉ ra các giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế NN về XHH GD nói chung và XHH GD đối với GD mầm non và GD phổ thông, chưa có nghiên cứu nào tập trung xem xét và làm rõ các vấn đề lý luận và phân tích thực tiễn về XHH GD đối với bậc ĐH Đây là một khoảng trống trong nghiên cứu tại Việt Nam hiện nay
Các nghiên cứu được giới thiệu trong tổng quan được nhìn nhận dưới góc độ các nghiên cứu về từng biểu hiện cụ thể của XHH GDĐH theo quan điểm lý thuyết của luận án gồm: phát triển GDĐH NCL; thu hút tài chính ngoài ngân sách cho GDĐH; tiếp nhận các nguồn lực phi tài chính cho GDĐH; thực hiện quyền tự chủ của các cơ sở GDĐH; và hợp tác quốc tế về GDĐH Các nghiên cứu về GDĐH NCL đã làm sáng tỏ quá trình hình thành, phát triển, phân tích những ưu điểm và hạn chế của GDĐH NCL ở Việt Nam hiện nay, đồng thời chỉ ra các giải pháp từ thực tiễn QL Các nghiên cứu về thu hút tài chính ngoài ngân sách cho GDĐH chủ yếu tiến hành trên đối tượng nghiên cứu là các trường ĐH CL và được xem xét trong vai trò của yếu tố tiên quyết giúp thực hiện tự chủ ĐH Các nghiên cứu về tiếp
Trang 39nhận nguồn lực phi tài chính cho GDĐH chủ yếu tập trung vào vấn đề “nóng” và
“khó” do lịch sử để lại là mối quan hệ giữa viện nghiên cứu và trường ĐH và bước đầu đề cập tới vai trò của các doanh nghiệp đối với trường ĐH, còn nhiều bên liên quan khác chưa được làm rõ khả năng đóng góp cho GDĐH Các nghiên cứu về tự chủ ĐH chủ yếu thiên về nghiên cứu lý luận nhằm chỉ ra nội hàm khái niệm và phạm vi của tự chủ cần trao cho các nhà trường trên cơ sở bài học kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới Các nghiên cứu về hợp tác quốc tế về GDĐH còn ít về số lượng và chủ yếu là những nghiên cứu trường hợp với các khuyến nghị có tính cụ thể trong phạm vi nghiên cứu Về cơ bản, các nghiên cứu này thực hiện mục đích phân tích từng vấn đề cụ thể của GDĐH với tư cách từng vấn đề độc lập, từng nội dung riêng rẽ, chưa có nghiên cứu nào phân tích và luận giải các khía cạnh này với
tư cách là các phương diện biểu hiện của hoạt động XHH GDĐH Đây là khoảng trống để luận án tiến hành nghiên cứu tổng thể hoạt động XHH GDĐH trên cơ sở kết nối các phương diện biểu hiện cụ thể này
Trên cơ sở tình hình nghiên cứu, có thể khẳng định hiện đang tồn tại khoảng trống trong nghiên cứu về XHH GDĐH ở Việt Nam Luận án được thực hiện với mong muốn làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của XHH GDĐH, đánh giá thực trạng XHH GDĐH ở nước ta, chỉ ra thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của hiện trạng, từ đó xây dựng quan điểm và giải pháp đẩy mạnh XHH GDĐH ở Việt Nam trong thời gian tới Sử dụng tiếp cận từ góc độ QL công để nghiên cứu về XHH GDĐH ở Việt Nam, luận án tập trung nghiên cứu năm hoạt động chủ yếu của XHH GDĐH bao gồm: phát triển GDĐH NCL; thu hút tài chính ngoài ngân sách cho GDĐH; tiếp nhận các nguồn lực phi tài chính cho GDĐH; thực hiện quyền tự chủ của các cơ sở GDĐH; và hợp tác quốc tế về GDĐH Thực tiễn của năm hoạt động này được nghiên cứu với tư cách các nội dung biểu hiện của thực tế XHH GDĐH ở Việt Nam
Trang 40XHH GD, có thể thấy rằng việc huy động sự tham gia của XH vào việc nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của GD là một xu thế tất yếu và phổ biến trên thế giới Tại Việt Nam, XHH GD đã sớm được nghiên cứu lý luận và được triển khai trên thực tế ở bậc học mầm non và các bậc học phổ thông, song chưa có nghiên cứu nào tập trung vào vấn đề XHH đối với các cơ sở GDĐH Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu tiếp cận từng phương diện của XHH GDĐH với tư cách từng nội dung riêng lẻ, song việc xem xét tổng thể hoạt động XHH GDĐH ở Việt Nam vẫn còn đang bị bỏ ngỏ Để góp phần khỏa lấp khoảng trống này, luận án được thực hiện trên cơ sở kết nối các thực tiễn trên từng phương diện của XHH GDĐH gồm phát triển GDĐH NCL, thu hút tài chính ngoài ngân sách cho GDĐH, tiếp nhận các nguồn lực phi tài chính cho GDĐH, thực hiện quyền tự chủ của các cơ sở GDĐH và hợp tác quốc tế
về GDĐH, để hoàn thiện lý luận về XHH GDĐH, và đề ra giải pháp nhằm đẩy mạnh XHH GDĐH ở Việt Nam